dongcong.net
 
   
 
 
 
 

 

 
Maria, Thành Nazaréth
 
     
<<<    


X. MỘT CON TRẺ SINH RA CHO CHÚNG TA

Thánh Luca cho chúng ta biết Mẹ Maria lưu lại nhà bà chị họ độ ba tháng, rồi Mẹ trở về nhà (Lc 1.56). Sau đấy thánh sử nói dài dòng đến sinh nhật của thánh Gioan Tẩy Gỉa, nghi lễ cắt bì cho ngài, và bài ca tạ ơn của ông Zacharia, cha ngài, rồi đề cập đến việc ngài trưởng thành, thời kỳ ngài sống trong sa mạc cho đến khi ngài tỏ mình ra cho dân Israel (Lc 1.80). Rồi không có một câu nào chuyển tiếp, thánh sử nói thêm: “Hồi ấy, vua Casare Augustô truyền kiểm tra dân số khắp thiên hạ” (Lc 2.1).

Những chữ “hồi ấy” không có liên hệ gì đến những truyện đi trước, vì thế hiển nhiên thánh Gioan Tẩy Giả chưa sống trong sa mạc khi Chúa Giêsu sinh ra. Roma còn đang ở tuyệt đỉnh vinh quang. Đế quốc được hưởng an bình. Vua Augustô coi mình là chúa tể thế giới vì thế đã có hành động ngoạn mục là bắt khắp nơi phải kiểm tra dân số. Đây là một cách thu được nhiều tiền thuế cho ngân quỹ đến quốc. Đồng thời đây cũng là một vấn đề uy tín. Đối với người Dothái thì đây lại là một lăng nhục cho Thiên Chúa. Biết được tên gọi và gia đình người nào tức là nhận mình làm chủ người ấy. Chỉ mình Thiên Chúa mới biết được tên gọi của loài người. Xưa kia vua Đavít đã bị phạt nặng vì đã ra lệnh kiểm tra dân số.

Thánh Matthêu không nói đến việc kiểm tra này. Ngài chỉ xác quyết rằng Chúa Giêsu sinh ra ở Bethlem mà không nhắc gì đến Nazareth. Thánh Luca nhận thấy trong chiếu chỉ nhà vua một thời cơ Thiên Chúa sắp xếp để dắt đưa thánh Giuse và Mẹ Maria về Bethlem để Chúa Giêsu được sinh ra ở đấy. Điều quan hệ đối với thánh Giuse không phải là tuân phục mệnh lệnh quân chiếm đóng, nhưng là một cơ hội tốt để ngài chính thức làm chứng Chúa Giêsu thuộc dòng dõi Đavít, và đồng thời cũng để minh chứng quyền làm cha của mình đã được báo trước. Để kể lại cuộc hành trình đi Bethlem, thánh Luca dùng một kiểu nói đặc biệt trang trọng. Sau khi cho biết mỗi người phải về bản quán làm sổ kiểm tra, ngài xác định ngay: “Vì Giuse thuộc dòng dõi Đavít nên cũng bỏ thành Nazareth, xứ Galilêa, lên thành vua Đavít gọi là Bethlem để khai tên mình và Maria bạn mình đang mang thai” (Lc 2.4). Sau một câu mào đầu chính xác như thế, và hơn thế nữa, người ta sẽ rõ được trong hoàn cảnh nào Chúa Giêsu đã sinh ra.

Nhưng thật ra, thánh sử không nói một câu nào về cuộc kiểm tra, mà cũng không hề nói gì đến những tâm tình của thánh Giuse và Mẹ Maria. Việc Con Thiên Chúa sinh ra trong thế giới chúng ta chỉ được nhắc lại vỏn vẹn trong vài hàng sau đây: “Khi hai Đấng ở đấy, Maria đến ngày sinh. Bà sinh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc con và đặt trong máng cỏ, vì hai ông bà không có chỗ trọ trong lữ quán” (Lc 2.6).

Căn cứ vào đoạn Phúc Âm này, chúng ta đừng vội kết luận rằng không một ai ở Bêthlem muốn tiếp đón thánh Giuse và Đức Mẹ. Người Đông phương đặc biệt hiếu khách. Trong Thánh Kinh chúng ta thấy các tổ phụ chạy ra gặp khách và nài ép khách ở lại. Trong các thị xã có trạm trú chân, nơi đây lữ khách và xúc vật đều có thể ở được. Thánh sử nói đến lữ quán, nhưng thật ra đây chỉ là một căn phòng rộng lớn. Vì đang mùa kiểm tra hoặc vì những lý do nào khác, lữ quán này, hoặc căn phòng chung ấy chật chội và ngổn ngang không còn xứng hợp cho việc sinh nở. Thánh Giuse và Mẹ Maria cho rằng đây không phải là chỗ cho hai ngài trọ đêm. Hai ngài tìm chỗ thanh vắng hơn ở ngoài thị xã. Chính nơi ấy Chúa Cứu Thế được sinh ra, xa những con mắt tò mò dòm ngó.

Cũng phải nói thêm rằng thánh Giuse, mà cũng không phải Mẹ Maria đã chọn nơi để Chúa Giêsu sinh ra. Chính Ngôi Lời đã xếp đặt mọi sự. Ngài muốn rằng thánh Giuse và Mẹ Maria là hai nhân chứng duy nhất cho việc Ngài sinh ra, và Ngài cũng muốn mọi việc xảy ra trong thân mật và trong thầm lặng.

Lời tiên tri Isaia sau cùng đã được ứng nghiệm: “Một người con đã được sinh ra cho chúng ta, một người con đã được ban tặng cho chúng ta” (Is 9.5).

Trước hết, người con ấy không thuộc về Mẹ Maria và thánh Giuse, Ngài thuộc về Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa đã nhờ Mẹ Maria ban Ngài cho chúng ta. Thật sự Người thuộc về chúng ta, Ngài hoàn toàn ở trong quyền xử dụng của chúng ta. Ngài ở kia, trong một máng cỏ để hiến mình cho thế giới. Thật ra, Thiên Chúa không sẻn so trong những tặng ân, Ngài không dè sẻn khi ban phát những ân huệ. Vì thế thánh Phaolo đã không sợ mà kêu lên.

“Vì Thiên Chúa ở với chúng ta, ai sẽ làm hại được chúng ta? Chính Chúa đã không miễn xá cho Con mình, nhưng đã phú thác Con mình cho tất cả chúng ta, Ngài lại chẳng ban mọi sự cho chúng ta cùng với Con mình đó sao?” (Rm 8.32).

Chúng ta thường thấy trong hang đá một con lừa và một con bò. Phúc Âm không nói đến hai con vật này. Rất có thể hang đá lúc ấy trống trơn. Chúng ta đã trang hoàng hang đá, chúng ta đã đặt vào hang đá vô số nhân vật và đồ vật. Tập tục rất có thể làm chúng ta làm chúng ta quên mất nhân vật chính yếu là Con Thiên Chúa. Mặc dầu thế, cảnh ngổn ngang và chật chội trong hang đá cũng có những vẻ đẹp riêng, và cũng dậy nhân loại một bài học. Bên cạnh máng cỏ, người ta thấy có chỗ cho mọi người, mỗi người đều có thể đếm máng cỏ tuỳ theo sở thích, và mang đến đấy tất cả những của cải giàu sang cũng như tất cả cảnh nghèo túng cùng cực.

Một Hài Nhi nằm trong máng cỏ mà tấm lòng ôm choàng cả thế giới. Ngài nằm ở đấy vì mọi người, và đặt mình dưới quyền sử dụng của mọi người. Sự diệu kỳ của Lễ Giáng Sinh là trên thế giới này hiện diện một tấm lòng Hài Nhi có thể yêu một cách thần linh, yêu không giới hạn và yêu mãi luôn. Thiên Chúa chỉ ban cho thế giới tình yêu, và Ngài cũng chỉ đòi thế giới có tình yêu. Mầu nhiệm Giáng sinh là mầu nhiệm Thiên Chúa làm người với một trái tim nhân loại. Trong đêm ấy, chung quanh Ngài chỉ có những tấm lòng yêu đương là Mẹ Maria và thánh Giuse.

Ngoài trời, Bethlem đang ngủ say. Trong đêm nay, đêm giống như mọi đêm khác, vừa xảy ra một biến cố sắp mang lại cho thị xã một vinh quang tuyệt vời. Tuy nhiên, dân thành Bethlem không phải là những người đầu tiên biết được tin vui mừng này, nhưng là những mục đồng, có lẽ là những người du mục thức đêm để canh giữ đàn xúc vật ngoài đồng. Thánh Luca viết:

“Trong vùng ấy có những mục đồng thức đêm canh giữ chiên. Bỗng một thiên thần của Chúa hiện đến bên họ, và sự sáng láng Thiên Chúa bao phủ họ khiến họ hết sức sợ hãi” (Lc 2.8).

Các mục đồng đối diện với thiên thần Chúa và với ánh cao quang Thiên Chúa, vì thế người ta hiểu được rằng tại sao các mục đồng khiếp sợ. Thiên Thần trấn an họ như đã trấn an ông Zacharia, Mẹ Maria và thánh Giuse: “Đừng sợ!” Cũng cùng một lời nói, và có lẽ cũng là thiên thần Gabriel. Thiên thần nói thêm:

“Ta đem đến cho các ngươi một tin mừng rất vui cũng là cho toàn dân là hôm nay trong thành vua Đavít, một Đấng Cứu Thế đã được sinh ra các người, đấy là Chúa Giêsu Kitô. Và đây là dấu để các người nhận biết Người: các ngươi sẽ thấy một Hài Nhi sơ sinh quấn trong khăn và đặt nằm trong máng cỏ” (Lc 2.10).

Khăn tã và một máng ăn của loài vật là những dấu chỉ quá tầm thường để nhận ra một hoàng tử thừa kế ngai vàng, một vị cứu tinh dân tộc. Đường lối xử sự của Thiên Chúa không phải là cách xử trí của chúng ta. Khi thiên thần vừa cho dấu chỉ thì cả bầu trời đều mở hội. Trước sự ngỡ ngàng của bọn mục đồng vô số thiên sứ họp với thiên thần mà hát rằng: “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, bằng an dưới đất cho người thiện tâm”. Các thiên thần ở giữa các mục đồng, và các mục đồng chung đụng với các thiên thần. Con người và thiên thần thật sự đã hợp nhất với nhau hơn bao giờ hết trong đêm Giáng sinh này, thật là tình huynh đệ quá keo sơn.

Chúng ta không biết các thiên thần đã ca hát làm sao, và đã ở lại với các mục đồng trong bao lâu. Buổi hợp xướng này có lẽ đã kéo dài để đem lại niềm hân hoan cho cả đôi bên, vì thánh Luca cho chúng ta hiểu rằng phải khá lâu các thiên thần và các mục đồng mới từ giã được nhau vì cả hai bên đều bịn rịn không muốn chia tay nhau. Thay vì chỉ nói rằng các thiên thần bỏ đi hoặc biến đi thì thánh sử đã nói: “Nào chúng ta hãy đến Bethlem, và chúng ta hãy xem những gì đã xảy ra mà thiên thần đã cho chúng ta biết” (Lc 2.15).

Chính lúc ấy họ tìm ra được điều huyền diệu: “Và họ vội vàng đến đó, và họ thấy Maria, Giuse và Hài Nhi mới sinh nằm trong máng cỏ” (Lc 2.16). Việc dùng nhiều liên từ và trong câu văn diễn tả việc tìm ra Hài Nhi theo lối diễn tiến. Trước hết họ tìm ra Mẹ Maria vì chính Mẹ đã bọc Hài Nhi trong khăn và cũng chính Mẹ đã tiếp đón các mục đồng; sau đó họ mới thấy thánh Giuse rồi Hài Nhi nằm trong máng cỏ. Các mục đồng hơi sợ sệt và bỡ ngỡ, họ chỉ biết đứng nhìn. Không mấy chốc họ cảm thấy khoan khoái dễ chịu và họ bắt đầu hỏi chuyện: “Thấy vậy, họ kể lại tất cả những gì đã xảy ra, tất cả những gì đã được loan báo cho họ về Con Trẻ” (Lc 2.17).

Mẹ Maria và thánh Giuse nghe họ mà lòng hớn hở vui mừng. Hai Đấng chắc đã hỏi các mục đồng về gia đình họ, về công việc hằng ngày của họ, và về tất cả những gì có liên quan đến họ. Các mục đồng chắc cũng hỏi hai Đấng về nhiều truyện. Hai Đấng và đám mục đồng đã trao đổi nhau những tặng vật nho nhỏ, và tỏ tình thiết nghĩa thắm thiết với nhau; cuộc thăm viếng của các mục đồng hẳn là phải kéo dài, vì người Đông phương không bao giờ vỗi vã. “Còn Mẹ Maria, như thánh Luca kể, Mẹ giữ lại những sự kiện ấy mà suy niệm trong lòng” (Lc 2.19).

Sau các mục đồng, những hàng xóm láng giềng cũng đến thăm Hài Nhi, “Mọi người đều bỡ ngỡ về tất cả nhừng điều mà các mục đồng nói” (Lc 2.18). Các mục đồng là những sứ giả đầu tiên mang tin mừng. Họ hân hoan trở về “Ca tụng và ngợi khen Thiên Chúa và tất cả những điều họ đã được nghe và đã thấy hợp với những điều đã loan báo cho họ” (Lc 2.20).

 
<tiểu mục <trang nhà

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)