dongcong.net
 
   
 
 
 
 

 

 
Maria, Thành Nazaréth
 
     
<<<    


XIII. MARIA GIỮ LẠI TẤT CẢ SỰ ẤY TRONG LÒNG

Trong ca vịnh Magnificat Mẹ Maria đã nói: “Chúa hạ người quyền thế xuống khỏi vị cao và đã nâng người mọn hèn lên” (Lc 1.52). Vua Herode tự liệt mình vào hạng quyền hành, ông không mong đợi sự gì nơi Chúa Kitô; ông có đủ uy quyền, giầu sang và khoái lạc. Đối với Herode thì Chúa Kitô chỉ là một đối thủ phải tiêu diệt, một ánh sáng ông phải giập tắt. Những người thấp hèn, những người bé nhỏ và những người đói khát Thiên Chúa đã tin ánh sáng. Họ đã đi tìm và họ đã gặp được Chúa “cùng với Maria Mẹ Ngài” như các mục đồng, cụ già Simêon, nữ tiên tri Anna, các đạo sĩ và có lẽ nhiều người khác nữa ở Bethlem, Giêrusalem và bên Aicập.

Hêrode muốn giết Hài Nhi, ông muốn giập tắt ánh sáng. Oâng là cái chụp tắt đèn. Trong suốt các thế kỷ, nhiều chụp tắt đèn khác giả nhân giả nghĩa hay là đã dùng tàn bạo để huỷ diệt sự sống và ánh sáng. Một số người cho rằng hành động như vậy là đúng, nhưng họ đã lầm to. Các trẻ em bị Herode hoặc bị những người như Herode giết vẫn còn sống, và sẽ xét xử những ai đã giết mình, Chúa Kitô là sự sống và là ánh sáng tiếp tục chiếu sáng trên thế giới; nhờ Ngài sự sáng thắng được sự chết, sự sáng thần linh thắng vượt tất cả mọi bóng tối, mặc dầu bóng tối ấy dầy đặc đến đâu đi nữa.

Sau khi vua Herode băng hà, thiên thần lại hiện ra với Giuse mà bảo: “Hãy đem Hài Nhi và Mẹ Ngài trở về Nazareth” (Mt 2.20). Ở đây không nói đến đêm khuya, cũng không nói đến đào tẩu nữa; mọi chuyện đều xảy ra trong an bình và hân hoan. Mẹ Maria có thì giờ để sắp xếp lại công việc, để dự liệu những gì phải mang theo, và để đi từ giã hàng xóm láng diềng. Thiên thần không hề xác định thời gian lên đường và lộ trình phải theo. Thiên thần để cho thánh Giuse và Mẹ Maria được toàn quyền định đoạt những gì thích hợp với các Ngài hơn.

Suy ngắm Phúc Âm người ta sẽ dễ dàng nhận ra một trong những đức tính cao quý của Mẹ Maria và thánh Giuse là lòng hoàn toàn tuân phục những lệnh ban xuống từ trời cao, lòng tuân phục lại đi kèm theo một sự tự do hoạt động hoàn toàn. Các Ngài là mẫu gương về điểm này. Thiên Chúa đã cho chúng ta môt trí khôn để hiểu biết, một ý chí để hành động, những tài năng để thực hiện, và một tấm lòng để yêu mến. Ngoài những ân điển trên đây Chúa còn ban cho đời sống siêu nhiên chúng ta một ánh sáng mới, một năng lực hoạt động mới và một khả năng yêu mến.

Về đến quê cha đất tổ, Mẹ Maria và thánh Giuse biết được những biến cố đang xảy ra ở xứ Giudea. Archelaus lên kế vị Herode; vị tân vương cũng huỷ diệt và độc ác không kém gì phụ vương. Có lẽ thánh Giuse toan tính định cư ở Bethlem, hoặc ít ra ở xứ Giudea. Đấng Thiên Sai phải lớn lên ở trung tâm chính trị và tôn giáo của Israel thì mới phải. Những tin dữ đã làm cho thánh Giuse phải phân vân, Ngài lưỡng lự. Trời cao lại ban lệnh cho Ngài trong một giấc mộng, và Ngài lại lên đường đi Nazareth (Mt 2.23).

Thánh Matthêu không nói thêm chi tiết nào về tuổi thơ ấu của Chúa Giêsu, cũng như về đời sống của Mẹ Maria và thánh Giuse ở Nazareth. Thánh sử nói ngay đến việc thánh Gioan Tẩy Giả thuyết giảng trong sa mạc. Thánh Luca không hề đề cập đến việc các đạo sĩ viếng thăm, và những tháng ngày tạm cư bên Aicập, ngài chỉ nói thoáng qua đến tuổi thơ ấu của Chúa Giêsu Cứu thế ở Nazareth, ngài viết: “Còn Hài Nhi lớn dần và nên dũng mạnh, tràn đây khôn ngoan. Và ân sủng Thiên Chúa ở trên Ngài” (Lc 2.40). Con vĩnh cửu của Thiên Chúa Cha không giả vờ trở nên Con loài người, Ngài thực sự là Con loài người. Chúa Giêsu lớn dần và trở nên dũng mạnh, Ngài tỏ ra trí khôn và sự khôn ngoan của Ngài. Ngài có những bất lực và những nét đẹp riêng của tuổi thơ ấu. Ngài có một thân xác nhân loại, một cảm giác nhân loại, một tình yêu nhân loại, một ý chí và một tấm lòng.

Những phát triển về thể xác và tinh thần của Hài Nhi Giêsu là một nguồn vui bất tận cho Mẹ Maria và thánh Giuse, đồng thời cũng là một thử thách cho đức tin của các Ngài. Ngày lại ngày các Ngài tìm ra được nhiều duyên cớ để khen ngợi và biết ơn. Trong những công việc hằng ngày, lòng trí các Ngài luôn luôn sống với Chúa Giêsu. Thánh danh Giêsu, Yeshovah, để lại trên môi miệng các Ngài một hương vị thơm ngọt, và reo vang trong cõi lòng các Ngài một âm hưởng thanh tao.

Mẹ Maria là người đầu tiên đã nhận được thánh danh Giêsu từ miệng thiên thần; sau đó thánh Giuse cũng biết được thánh danh này do thiên thần. Các Ngài đã cho nhau biết trước khi đặt tên cho Hài Nhi. Bây giờ đợi Hài Nhi phản ứng lại tiếng nói của mình, các Ngài liền nhắc lại thánh danh Giêsu. Nếu đối với thánh Bernardo và đối với cả chúng ta nữa thánh danh Giêsu là “Mật ngọt trong miệng, là hoà điệu vui tai, và là niềm hân hoan trong lòng” (Cant. 15) thì thánh danh Giêsu đối với Mẹ Maria và thánh Giuse sẽ thế nào?

Ai tả xiết được niềm hân hoan của các Ngài khi Chúa Giêsu nhoẻn nụ cười đầu tiên, khi Ngài bập bẹ nói, khi Ngài chập chững bước đi, và khi Ngài theo Mẹ ra giếng nước. Rồi đến tuổi thanh xuân. Con Trẻ Giêsu đọc kinh trong gia đình, đi hội đường và kết nghĩa với các trẻ cùng tuổi.

Hạnh phúc của Mẹ Maria và thánh Giuse thật là hoàn hảo, quá hoàn hảo, hoàn hảo đến nỗi có thể làm cho các Ngài quên mất nhiệm vụ phải thi hành khi Con Thiên Chúa nhập thể: đột nhiên thông báo trước, Chúa Giêsu nhắc lại cho Mẹ Maria và thánh Giuse nhiệm vụ này bằng một cử chỉ tiên tri làm tan nát lòng các Ngài.

Hằng năn thánh Giuse và Mẹ Maria lên Giêrusalem để dự lễ Vượt qua. Khi còn nhỏ tuổi Chúa Giêsu đã phải đi theo các Ngài. Mẹ Maria bế Chúa Giêsu, hoặc thánh Giuse cõng Chúa bao lâu Chúa chưa thể đi bộ được. Năm Chúa được mười hai tuổi, Chúa lên đền thờ để mừng lễ theo tập tục. Lễ nghi kéo dài tám ngày trong vui mừng và đàn ca với những nghi thức phượng tự. Đây là dịp tốt để người ta gặp lại bạn bè quyến thuộc, và tổ chức những bữa ăn gia đình.

Khi lễ Vượt qua đã xong, người ta hợp thành từng nhóm và lên đường về xứ Galilêa. Mọi việc xem ra bình thường; cho đến lúc này Chúa Giêsu đi với họ hàng và bạn hữu. Thật ta Chúa không theo khách hành hương đi về Galilea; Ngài ở lại Giêrusalem mà không ai hay biết. Suốt một ngày có lẽ thánh Giuse và Mẹ Maria không biết Chúa vắng mặt. Các Ngài nghĩ Chúa nhập bọn với đám lữ hành.

Tối đến, không thấy Chúa đâu. Mẹ Maria lo lắng, rồi thánh Giuse cũng âu lo. Các Ngài đi tìm Chúa nơi họ hàng và bạn hữu. Không ai biết gì về Chúa. Nỗi lo sợ lại càng gia tăng. Những câu hỏi tại sao và thế nào không tìm được câu trả lời. Đêm ấy không ngủ, và khi trời vừa tảng sáng, thánh Giuse và Mẹ Maria lại lên đường trở lại Giêrusalem, vừa đi vừa tìm kiếm.

Thời gian càng đi qua, nỗi lo âu càng gia tăng. Truyện gì đây đã xảy ra cho Chúa? Tại sao Chúa không nói gì? Rồi thánh Giuse và Mẹ Maria nhận ra rằng Chúa Giêsu đã chiếm một chỗ rất lớn lao trong tâm hồn và trong đời sống mình. Không có Chúa các Ngài sẽ ra sao? Vắng bóng Chúa chỉ còn là đêm tăm tối, chỉ còn là hoàn toàn lẻ loi, chỉ còn là cơn hập hối về tinh thần mà nhiều người đã từng biết khi Chúa cho cảm thấy Chúa vắng mặt.

Sau cùng, ngày thứ ba, tấn thảm kịch đến hồi kết thúc: Chúa Giêsu đang ở trong đền thờ, ngồi giữa các tiến sĩ. Ngài hỏi các tiến sĩ và trả lời họ. Thánh Luca xác định thêm: “Tất cả những người nghe Ngài đều bỡ ngỡ về trí thông minh và những tư tưởng của Ngài” (Lc 2.47). Thánh Luca cho biết Mẹ Maria và thánh Giuse “rất xúc động”. Thánh Giuse không nói gì, còn Mẹ Maria không cầm được, Mẹ chỉ nghĩ đến nỗi sầu đau của Mẹ và niềm đau thương của thánh Giuse. Mẹ hỏi Chúa một câu. Câu hỏi của Mẹ chỉ là một lời trách yêu: “Con ơi, tại sao Con làm thế? Con không biết rằng cha và mẹ đây đã lo lắng tìm Con” (Lc 2.48). Chúa không trả lời cho câu Mẹ hỏi. Ngài lại hỏi một câu khác để đặt biến cố trên một bình diện cao hơn: “Tại sao cha mẹ tìm Con? Cha mẹ không biết rằng Con phải làm việc của Cha Con sao?” (Lc 2.49).

Chúa Giêsu không cho biết lý do nào đã khiến Chúa hành động như thế, nhưng Ngài hỏi nguyên nhân nào đã gây nên nỗi âu lo để các Đấng phải đi tìm Ngài. Mẹ Maria và thánh Giuse đã khiêm tốn thú nhận rằng mình không hiểu được câu trả lời của Chúa. Điều này an ủi chúng ta, vì không phải lúc nào chúng ta cũng thấy rõ những ý định của Chúa nơi chúng ta. Thiên Chúa muốn chúng ta tin tưởng Ngài: Ngài biết mọi sự, Ngài làm được tất cả và Ngài yêu chúng ta.

Chúa Giêsu biết rõ Mẹ Maria và thánh Giuse có nhiệm vụ đi tìm Chúa, ngoài ra còn cảm thấy nhu cầu phải có Chúa, và phải nói ra những đau khổ đang giằn vặt cõi lòng. Chúa Giêsu không nói với Mẹ Ngài mà thôi, nhưng Ngài nói với các tiến sĩ đang nghe Ngài và cũng nói với tất cả chúng ta nữa. Ngài cho biết Ngài từ đâu đến, và Ngài đến với sứ mạng nào. Ngài quả quyết siêu việt tính của Ngài khi Ngài nói đến Cha Ngài khác biệt với người cha mà Mẹ Maria đã đề cập tới khi nói với Ngài. Ngài xác định bao giờ Ngài cũng ở những nơi Cha Ngài muốn, và không ngừng làm những việc liên quan với Cha Ngài.

Chúa Giêsu phán xong, thánh Luca chỉ còn viết thêm như sau: “Nhưng hai ông bà không hiểu lời Ngài vừa nói với mình: rồi Ngài theo cha mẹ trở về Nazareth, và Ngài vâng phục hai ông bà” (Lc 2.50). Mẹ Maria cũng như thánh Giuse và các tiến sĩ luật không hiểu hết được sứ mạng của Chúa Giêsu. Vì vậy Chúa diễn tả lời Chúa bằng việc Ngài làm là “vâng phục cha mẹ”. Cũng vì thế mà Ngài phải làm việc của Cha Ngài. Đây không phải là sự luỵ phục suy nhược và giảm giá, nhưng là một việc lắng nghe thánh ý Chúa trong yêu mến. Như thế Ngài mời Mẹ mình và cũng mời mọi người chúng ta nữa hãy luôn luôn tỏ ra tin tưởng và dễ dàng vâng phục những mệnh lệnh của Thiên Chúa an bài.

Sau khi nói về đức tuân phục của Chúa Giêsu, thánh Luca nhắc lại những gì ngài đã nói về Mẹ Maria sau khi các mục đồng đến Bethlem thăm hang đá: “Còn Maria, bà ghi nhớ những sự việc ấy mà suy niệm trong lòng” (Lc 2.51). Đây không phải là một lời nhắc laị, nhưng là một lời xác quyết về thái độ căn bản của Mẹ Maria. Mẹ nhận lấy trong lòng Mẹ, Mẹ giữ laị trong lòng, Mẹ suy ngắm tất cả những gì có liên quan đến Con Mẹ. Thánh Luca đã kín đáo cho chúng ta biết nguồn tin mà ngài là người duy nhất kể lại cho chúng ta.

 
<tiểu mục <trang nhà

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)