dongcong.net
 
   
 
 
 
 

 

 
Maria, Thành Nazaréth
 
     
<<<    


XVI. AI LÀ MẸ TA?

Những thực khách trong tiệc cưới thành Cana không tìm ra được tất cả vẻ phong phú thần học chứa đựng trong phép lạ nước biến thành rượu. Xét về phương diện vật chất thì đây chỉ là một việc vặt tìm được lối giải quyết thoả đáng nhờ Mẹ Maria can thiệp một cách tế nhị và bác ái.

Sở dĩ thánh tông đồ Gioan chọn phép lạ nước biến thành rượu là vì ngài thấy trong phép lạ này có một chuyện khác nữa. Ngài viết Phúc Âm thứ Tư nhiều năm sau ngày Chúa Kitô Phục sinh, và sau một thời gian dài sống trong tình thân mật Mẹ con với Mẹ Maria. Nhờ vậy ngài có thể khách quan mà cho rằng đây là một phép lạ thật ra không có gì quan trọng. Điều cốt yếu mà thánh Gioan muốn nhấn mạnh đến ở đây là đức tin của các môn đệ: các ông đã được thấy sự vinh hiển của Chúa Kitô.

Thánh Gioan không nói đến việc kêu gọi các tông đồ khác. Người ta không biết nhóm Mười hai có mặt ở Cana không, hay là chỉ có năm tông đồ được thánh Gioan nhắc đến tên. Thiết tưởng không hệ chi, vì nguyên tắc chung là: muốn tin tưởng vào Chúa Kitô và bước theo Ngài thì phải được trông thấy sự vinh hiển của Ngài trước đã. Ngay từ đầu Phúc Âm, thánh Gioan đã quả quyết: “Chúng tôi đã được nhìn ngắm vinh quang của Ngài, vinh quang như của Con Một từ nơi Cha tràn đầy ân nghĩa và chân lý” (Jn 1.14), và Chúa Giêsu đã tỏ sự vinh quang mình ra, và các môn đệ đã tin Ngài. Rồi thánh sử viết thêm: “Sau tiệc cước thành Cana, Chúa Giêsu cùng với Mẹ Ngài, anh em Ngài và các môn đệ xuống thành Caphanaum rồi ở lại đó ít lâu” (Jn 2.12). Chúa Giêsu không trở lại Nazareth vì Ngài bận bịu với sứ mệnh của Ngài; Mẹ Ngài đi với Ngài, các môn đệ đi theo các Ngài, dân chúng kéo đến nghe Ngài.

Nhưng đến lễ Phục Sinh Chúa Giêsu lên Giêrusalem. Ở Cana mọi sự đều tốt đẹp, thơ mộng và hân hoan. Ở Giêrusalem Chúa đã dùng cơn phẫn nộ để tỏ ra sự vinh quang của mình; Ngài đuổi những người buôn bán ra khỏi đền thờ. Ngài quả quyết rằng đền thờ thật không phải là đền thờ xây bằng đá, cho dầu đẹp đẽ đến đâu đi nữa, nhưng chính là thân thể Ngài. Thân xác Ngài, sinh ra bởi Mẹ Đồng Trinh Maria, “là đền thờ, nơi có tất cả sự sung mãn về bản tính Thiên Chúa một cách hữu hình” (Col 2.9).

Lần này ở xứ Galilêa, Chúa Giêsu đã lấy Caphanaum làm trung tâm giảng thuyết. Ngài đi khắp các thị xã và làng mạc để giảng giải và chữa lành các bệnh nhân. Ngài cũng về Nazareth, vào hội đường một ngày hưu lễ và bắt đầu giảng dạy. Trước hết, những người đồng hương với Ngài rất bỡ ngỡ. Họ hỏi nhau:

“Bởi đâu ông này được khôn ngoan và làm nhiều phép lạ thế này? Oâng không phải là con bác thợ mộc sao? Mẹ ông không phải là bà Maria sao? Các anh em ông không phải là Giacôbe, Giuse, Simon và Giuđa đó sao? Và các chị em ông không phải đang sống giữa chúng ta sao?” (Mt 13.54; Mc 6.1; Lc 4.22).

khắp Nazareth người ta ngờ vực Con Mẹ. Chắc hẳn nỗi ngờ vực này làm Mẹ Maria phải đau đớn nhiều trong lòng. Chúa Giêsu sẽ phàn nàn rằng Ngài chỉ có thể làm được ít phép lạ giúp những người đồng hương vì họ cứng lòng tin (Mt 15.58).

Ở Caphanaum lại khác; dân chúng đứng vòng trong vòng ngoài quanh nhà đến độ Chúa Giêsu không còn thì giờ để dùng bữa. Dân chúng khao khát nghe lời Ngài giáo huấn và hưởng nhờ những phép lạ của Ngài. Những cũng có những người đố kỵ ghen tuông. Nếu Chúa Giêsu chúc lành cho một bệnh nhân hoặc xua đuổi ma quỷ trong ngày hưu lễ thì họ lại buộc tội Ngài là vi phạm luật Maisen.

Những tin tức xuyên tạc và phóng đại dồn về Nazareth; họ hàng Chúa Giêsu cũng nghe ngóng vì nếu Chúa Giêsu mất uy tín thì cả gia tộc đều phải xấu lây.

Thánh Marcô cho chúng ta những chi tiết xác thực nhất, ngài viết: “Họ hàng nghe thấy những tin đồn ấy liền đến bắt Ngài về. Vì họ nói: Ngài đã mất trí rồi” (Mc 3.21). Nói cách khác, những thân nhân cho rằng Ngài đã ra điên, và phải dùng sức mạnh bắt Ngài về. Bản văn của thánh Matthêu và của thánh Luca lại cho chúng ta hiểu rằng đây chỉ là cuộc thăm viếng vì xã giao hoặc vì tư lợi. Nhưng thánh Marcô đã biết được câu chuyện này do thánh Phêrô là người có mặt khi sự việc xảy ra. Thánh sử cho rằng đây là một âm mưu bắt Chúa Giêsu.

Ở Caphanaum Chúa Giêsu giảng dạy; Ngài vừa chữa lành một người bị quỷ ám. Những thầy Ký lục từ Giêrusalem đến đều ác cảm với Ngài và cho rằng quyền lực Ngài có là do quỷ. Khi họ hàng đến, Chúa Giêsu đang nói về tội phạm đến Chúa Thánh Thần, tội không thể được tha thứ, vì thế các đối thủ của Ngài có lòng tà cho rằng Ngài bị quỷ ám. Họ hàng đứng ở bên ngoài và cho người vào mời Ngài ra (Mc 3.31). Họ không có ý tìm cách gặp Ngài và đàm đạo với Ngài, họ chỉ muốn Ngài thôi giảng dạy, và chịu khó nghe họ là xong. Họ muốn Ngài ra ngoài gặp họ để họ có thể bắt Ngài như đã định.

Chúa Giêsu không mắc mưu họ, Ngài đưa cuộc tranh luận của Ngài lên một bình diện cao hơn, bình diện của sứ mạng Ngài. Thánh Marcô kể: “Dân chúng ngồi chung quanh Ngài, họ thưa Ngài rằng; thưa Thầy, Mẹ và anh em Thầy đứng ngoài kia muốn gặp Thầy. Bấy giờ Chúa Giêsu trả lời cho dân chúng: ai là mẹ Ta ai là anh em Ta? Rồi đưa mắt nhìn những người đang ngồi chung quanh nghe giảng Ngài nói: đây là mẹ Ta và anh em Ta” (Mc 3.32-35).

Thánh Matthêu thì viết: “Phải, ai làm theo ý Cha Ta trên trời người ấy là anh em, chị em và là mẹ Ta vậy” (Mt 12.50).

Thánh Luca viết: “Mẹ Ta và anh em Ta là những ai nghe và thực hành Lời Thiên Chúa” (Lc 8.21).

Chúa Giêsu không từ khước họ hàng, nhưng Ngài coi là họ hàng của Ngài là tất cả những ai đón nhận Lời Ngài như Lời Thiên Chúa. Ngài không phải làm theo ý Thiên Chúa nhưng họ hàng Ngài có nghĩa vụ phải làm theo Thánh ý Thiên Chúa. Mà trong trường hợp này, họ cản trở Ngài nên họ không làm theo thánh ý Thiên Chúa. Cũng như trong đền thờ, hồi Ngài mười hai tuổi, Ngài nói về “Cha ngài đang ngự trên trời”. Chính Ngài là Lời Thiên Chúa, Lời hằng sống và vĩnh cửu.

Mẹ Maria cũng có mặt trong đám họ hàng âm mưu bắt Chúa Giêsu. Như vậy không có nghĩa là Mẹ cũng đồng loã với họ. Trong tiệc cưới thành Cana, chính Mẹ đã giục Chúa Giêsu tỏ mình ra; Mẹ hoàn toàn tin tưởng Chúa. Ngay từ ngày đầu tiên, Mẹ đã xưng mình là nữ tì Thiên Chúa. Mẹ không hề hối tiếc lời tuyên xưng này. Sống trong một bầu không khí ngờ vực bao vây Con Mẹ, Mẹ không hề quan tâm đến tất cả những gì có liên hệ đến Ngài. Có lẽ họ hàng đưa Mẹ đi theo để âm mưu của họ không có vẻ khác thường. Có lẽ chính Mẹ đi với họ để có dịp được sống bên Con. Và cũng có lẽ Mẹ đang ở với Con. Trường hợp nào đi nữa thì Mẹ cũng có mặt ở đấy.

Thái độ và lời nói của Chúa Giêsu rất được Mẹ tôn trọng. Không ai như Mẹ đã tiếp nhận Lời Chúa, và đã hoàn thành thánh ý Ngài một cách đại lượng đến thế. Đàng khác, mối dây nối kết Chúa Giêsu và Mẹ Maria cũng hiểu rộng ra là mối dây tình nghĩa thắm thiết buộc tất cả những ai đón nhận Chúa Giêsu. Họ hàng huyết nhục không là gì nếu so sánh với họ hàng thần linh loài người đã được do việc lành nhận Lời Chúa. Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta với cùng một tình yêu Chúa đã yêu Mẹ Ngài.

Cũng phải dựa theo ý nghĩa trên chúng ta mới hiểu được câu chuyện sau đây chỉ mình thánh Luca thuật lại. Chúa Giêsu nói đến quỷ khi bị trục xuất thì trở lại mạnh mẽ hơn trước. Một phụ nữ hứng khởi vì lời Ngài nói liền kêu lên: “Phúc thanh lòng dạ đã cưu mang Thần và vú đã cho Thầy bú!” Bấy giờ Chúa Giêsu đáp lại: “Những ai nghe Lời Thiên Chúa mà thực hành thì còn có phúc hơn!” (Lc 11.27). Cũng như thánh Gioan, thánh Luca dùng danh từ Logos, Ngôi Lời. Mẹ Maria đã nhận Ngôi Lời và duy trì Ngôi Lời cho chúng ta.

Một tấn thảm kịch bao giờ cũng xảy ra, vì hoặc là người ta đón tiếp Chúa Giêsu cũng với sứ điệp Ngài, hoặc là người ta cố chấp từ chối Ngài. Họ hàng của Ngài đã tiu nghỉu trở về Nazareth tay không. Họ càng bất mãn thêm. Chúa Giêsu không thèm tranh luận với họ; Ngài không muốn làm nô lệ cho gia tộc mình. Ngài sẽ trở về Nazareth khi nào Ngài muốn và lúc nào Ngài cho là tiện. Thật ra, Ngài đã về. Một vài người thiện chí đón tiếp Ngài và hưởng nhờ phép lạ Ngài làm. Những người khác lại nhất quyết chống đối Ngài. Chúa Giêsu cho người ta hiểu rằng ở Nazareth lời Ngài đã nên trọn: “Tiên tri nào cũng bị coi rẻ chính nơi quê hương và gia tộc mình” (Mt 13.57; Mc 6.4; Lc 4.24). Rồi Ngài kể thêm những ví dụ chứng tỏ tính cách phổ quát của sứ mạng Ngài: Tiên tri Elia làm phép lạ cho một phụ nữ ngoại giáo, tiên tri Elise chữa lành quan Naaman, người xứ Syria.

Những lời ấy như đổ thêm dầu vào lửa. Thính giả phản ứng gay gắt. Họ bắt Chúa Giêsu, trục xuất Ngài ra khỏi hội đường, lôi Ngài lên một chỏm núi ngoài thị xã để xô Ngài xuống. Nhưng Chúa Giêsu bình thản đi qua giữa họ mà thoát thân (Lc 4.30). Chúa không tự vệ, Ngài không cầu cứu ai, Ngài không muốn làm hại ai. Ngài đi qua giữa họ vì đã làm cho mình trở nên vô hình, hoặc vì đã bình tĩnh thuyết phục được đối thủ.

Người ta đoán được Mẹ Maria đã phải đau đớn nhường bao trong những lúc ấy. Dân chúng bực tức có thể gây sự với Con và cũng có thể trút hết những căm thù trên Mẹ. Hàng xóm láng diềng cũng có những lời kháo láo hiểm độc, những câu châm chọc chua cay. Phụ nữ Đông phương có dồi dào từ ngữ để phát biểu khi muốn chúc phúc hay muốn nguyền rủa, thân mẫu một người mà họ sùng mộ hay họ ghét cay ghét đắng.

Sau vụ thăm lại quê hương suýt biến thành một thảm kịch, Chúa Giêsu không bao giờ trở về Nazareth nữa. Mẹ Maria có ở đấy không, hoặc có còn trở lại Nazareth nữa không? Chúng ta không biết. Phúc Âm cho chúng ta được toàn quyền tưởng tượng ra cuộc sống của Mẹ trong quãng thời gian Con Mẹ sống đời công khai. Mọi khi Phúc Âm nhắc đến Mẹ là nhắc đến Mẹ ở ngoài thị xã Nazareth.

Mẹ có mặt ở Cana và ở Caphanaum, Mẹ cũng hiện diện dưới chân thánh giá. Thánh sử Gioan đã cẩn thận cho chúng ta thấy Mẹ có mặt lúc khởi sự, và cũng hiện diện trong hồi kết thúc, cuộc đời tông đồ của Con Mẹ. Chúng ta có thể hiểu được rằng Mẹ Maria sống gần Con Mẹ. Nếu Chúa Giêsu đã ban cho người Galilêa niềm hân hoan được chu cấp cho Ngài những nhu cầu thì tại sao Ngài lại từ chối Mẹ niềm vui mừng ấy? Thánh Gioan không nhắc đến sự hiện diện của các phụ nữ thánh trong cuộc đời công khai của Chúa Giêsu, nhưng chỉ cho chúng ta thấy họ hiện diện trên đồi Calvariô và trong ngày Ngài Phục sinh.

Một lý do khác khiến chúng ta tin rằng Chúa Giêsu và Mẹ Maria đã dứt khoát bỏ Nazareth từ khi Chúa Giêsu bắt đầu sống đời công khai là Chúa không có nhà. Một thầy ký lục thưa Chúa: “Con sẽ theo Thầy bất cứ Thầy đi đâu”, Chúa liền trả lời: “Con chồn có hang, con chim có tổ, nhưng Con Người không có lấy nơi tựa đầu” (Mt 8.20; Lc 9.58). Nếu Chúa có nhà ở Nazareth thì chắc hẳn Ngài không dám quả quyết như thế.

Chúa Giêsu không có một nơi nào riêng cho Ngài. Người ta cũng phải nói như thế về Mẹ Maria; Mẹ không có chỗ nào là nhà của Mẹ. Những gì Chúa Cứu Thế xin các môn đệ thì trứơc tiên Ngài cũng xin với Mẹ. Muốn theo Chúa Kitô phải từ bỏ tất cả; tất nhiên từ bỏ như thế sẽ được chính Chúa Giêsu là sự phong phú thật, là người hạnh phúc thật.

Chúa Giêsu kết hợp Mẹ Maria với công cuộc cứu thế của mình, và Ngài luôn luôn quả quyết một cách bí mật rằng có một mối liên hệ gia tộc khác không giống với mối liên hệ gia tộc theo huyết nhục. Ngài không hề chối từ việc Ngài thuộc về dân Dothái, nhưng Ngài không bao giờ chấp nhận những ràng buộc mà dân Ngài và gia tộc Ngài bắt Ngài phải theo.

Dân tộc mới ấy của Thiên Chúa sinh ra trong ngày Nhập thể, cùng một lúc với Ngôi Lời Thiên Chúa trong lòng Mẹ Đồng Trinh Maria. Từ giây phút ấy thiên chức làm Mẹ huyền nhiệm của Mẹ Maria được khai mạc, thiên chức làm mẹ đau khổ và hiển vinh sẽ được Chúa Giêsu tuyên bố trên cây thánh giá. Lúc này đây, Mẹ Maria theo Con mình lên Giêrusalem.

 

<tiểu mục <trang nhà

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)