dongcong.net
 
 


MẦU NHIỆM THEOTOKOS
Ngày mồng 1 tháng Giêng

_____________

MẦU NHIỆM THEOTOKOS
Đỗ Trân Duy
Có lẽ không ít Kitô hữu vẫn cảm thấy hoang mang với
‎‎khái niệm Đức Maria là mẹ Đức Chúa Trời. Có người còn nghĩ rằng nói như vậy là phạm thượng. Theo suy nghĩ thông thường, không thể nào một người phàm trần thụ tạo lại là mẹ sinh ra Thiên Chúa. Nếu ta nêu ra đoạn kinh Kính Mừng “thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời...” làm bằng chứng, người bạn hoang mang ấy không khỏi cảm thấy bối rối. Quả thật trong số hằng ngàn danh hiệu của thánh Maria, Theotokos (Mẹ Thiên Chúa) là danh hiệu gây ra nhiều tranh cãi nhiều hơn bao giờ hết. Danh hiệu này cũng tạo nên biết bao nhiêu nan đề thần học. Nhưng cũng từ những nan đề ấy mà thần học nhận ra Theotokos hàm chứa cả một kho tàng vĩ đại về mầu nhiệm Thiên Chúa.

Sơ Luợc Lịch Sử Của Tước Hiệu Theotokos
              Khởi đầu từ thế kỷ II với Giáo hội Đông Phương, đặc biệt là ở vùng Alexandria và những miền xung quanh. Kitô hữu ở những nơi đó đã tuyên xưng Đức Maria là đấng Theotokos. Theo tiếng Hylạp, ngôn ngữ chính của giáo hội Đông phương, Theotokos có nghĩa là “Người cưu mang Thiên Chúa”. Danh xưng này lan rộng tới giáo hội Tây Phương. Giáo hội Tây Phương đã dịch Theotokos là “Mater Dei” (Mẹ Thiên Chúa). Qua đến thế kỷ IV, Theotokos, với nghĩa Mẹ Thiên Chúa, từ Tây Phương được truyền ngược trở lại giáo hội Đông Phương. Tại đây danh xưng Mẹ Thiên Chúa được hân hoan chấp nhận. Tuy nhiên không phải tất cả các giáo phụ Chính Thống giáo đều hiểu như vậy. Người chống đối mạnh mẽ nhất là Nestorius, giám mục Constantinople. Ông cho rằng Đức Maria nên gọi là Christotokos, tức “đấng sinh ra Đức Kitô”, chứ không thể là Theotokos với nghĩa là “Mẹ Thiên Chúa”.

Cuộc tranh luận giữa giám mục Nestorius và các giám mục khác cuối cùng kết thúc bởi Công Đông Êphêsô vào năm 431. Tại đây tước hiệu Theotokos với nghĩa “Mẹ Thiên Chúa” trở thành tín điều với những khảng định hết sức cứng rắn: “Nếu ai không tin Đấng Emmanuel thật sự là Thiên Chúa, và do đó thánh nữ đồng trinh Maria là Mẹ Thiên Chúa, kẻ đó bị phạt vạ tuyệt thông”. Tước hiệu Theotokos được tái khẳng định lần thứ hai tại Công Đồng Chalcedon vào năm 451.

Những Mầu Nhiệm Tiếp Theo Tước Hiệu Theotokos
Thần học nhận ra ngay danh xưng “Mẹ Thiên Chúa” cần có những giải thích đi kèm. Cho đến ngày nay, nhiều Kitô hữu vẫn hiểu lầm rằng Công Giáo giảng dậy “Mẹ Thiên Chúa” là mẹ Đức Chúa Cha hằng hữu, vì vậy họ bị hoang mang. Thánh Athanasius thành Alexandria nói rõ hơn, "Khi nhập thế làm người, chỉ có Ngôi Lời được sinh ra bởi Đức Maria.” Sau đây là những mầu nhiệm được thần học khai mở theo thứ tự niên đại:

Đức Giêsu Với Hai Bản Tính Không Thể Tách Rời
Danh xưng Theotokos đã làm sáng tỏ tín l
‎‎ý Đức Giêsu có bản tính kép Thiên-Chúa-người không thể tách biệt. Theotokos không có nghĩa là Đức Maria sinh ra bản tính Thiên Chúa của Đức Giêsu. Nhưng tuy chỉ sinh ra thể xác Đức Giêsu, Người vẫn là Mẹ Thiên Chúa, vì hai bản tính của Đức Giêsu không tách rời. Nếu không chấp nhận Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa thì có khác gì nói Đức Giêsu không phải là Thiên Chúa.

Tín l ý “Mẹ Thiên Chúa” được xây dựng trên nền tảng Thánh Kinh. Đức Maria sinh ra đấng Emmanuel, nên Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Bà Êlizabét cũng đã nhận ra Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, trước khi Đấng Emmanuel được sanh ra, với lời chào, “Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến thăm tôi” (Luc 1:43). Quan điểm của Nestorius là sai vì ông cho rằng Đức Giêsu là hai người tách biệt với hai bản tính khác nhau. Nếu thế cuộc khổ nạn của Đức Giêsu sẽ trở thành vô nghĩa vì chỉ có người phàm Giêsu chịu nạn còn Chúa Giêsu không liên hệ gì đến cuộc hiến tế. Sự kiện vô can này này sẽ khiến mầu nhiệm nhập thế trở nên không cần thiết và ơn cứu độ trở nên huyền hoặc.

Đức Maria Là Đấng Trọn Đời Đồng Trinh
            Theo thánh Ambrose và thánh Augustine, Đấng Theotokos đã được Thiên Chúa đặt trong chương trình cứu độ từ thuở ban đầu. Trong vườn Eden Thiên Chúa đã mạc khải cho Adam biết điều này trước khi Ađam có con cái. Như vậy Đức Giêsu được sinh ra không do bởi con cái Ađam nhưng do bởi hoạch định của Thiên Chúa qua Mẹ Maria. Nền tảng thánh kinh của niềm tin này là dẫn chứng của thánh Matthêu và Luca cho biết Đức Maria chịu thai bởi phép Chúa thánh thần (Mat 118; Luc 1:35).

Theo luận cứ thần học, vì Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng tuyệt đối không có tội lỗi, vậy Người không thể là con của một nam nhân tội lỗi. Vì Đức Maria không mang thai qua kết hợp phàm nhân, vậy Người vẫn còn đồng trinh. Yếu tố đồng trinh được nhấn mạnh không phải vì những giá trị trần thế, nhưng để làm sáng tỏ công trình của Thiên Chúa. Đức Giêsu là Đấng đến từ Thiên Chúa để mặc lấy nhân tính. Để phần nào hình dung mầu nhiệm đồng trinh chúng ta có thể mường tượng Đức Giêsu đi vào cung lòng Đức Maria cũng như cách Người đi vào phòng họp của các Tông Đồ. Mặc dù cửa phòng vẫn đóng kín và khóa kỹ, Chúa Giêsu vẫn vào được mà cửa và tường vách không hề bị hư hại. Sâu xa hơn, thánh Anathasius đã dùng danh hiệu “trọn đời đồng trinh” (ever virgin) để biểu lộ sự sâu xa của mạc khải đồng trinh. Sau đó danh hiệu Đức Maria là Đấng trọn đời đồng trinh trở thành tín điều bởi Công Đồng Lateran vào năm 649.

Đức Maria Là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội
Nếu Đức Maria là Theotokos, tức Mẹ Đấng Cứu Chuộc, Người phải được hưởng thành quả đầu tiên của ơn cứu chuộc. Đức Maria không mắc nguyên tội. Không phải nguyên tội của Người được cất bỏ sau lễ rửa tội, nhưng được hoàn toàn miễn trừ ngay từ lúc Người tượng thai trong lòng mẹ. Hơn thế nữa thần học suy ra cả cuộc đời Đức Maria cũng không hề mắc một tội lỗi nào dù là tội nhỏ. Điều này không có nghĩa là Mẹ Maria không bị kẻ thù Satan đánh phá và hãm hại. Thực tế Người bị rất nhiều đau khổ bởi Satan. Bằng chứng về ơn vô nhiễm nguyên tội có thể tìm thấy trong sách Khởi Nguyên đoạn 3 câu 15. Thiên Chúa báo trước sẽ gửi Đấng cứu độ đến và Người đặt mối thù giữa Satan và người đàn bà, mẹ của Đấng cứu độ. Bà sẽ đạp đầu con rắn Satan dưới chân. Người mẹ của Đấng Cứu Độ chính là Mẹ Maria.

Luận cứ thần học bắt buộc phải nhận ra chỉ có Đấng vô nhiễm nguyên tội và cũng không hề mắc tội mới có quyền lực vượt trên Satan và diệt được Satan. Sách Diệu Ca cũng nói, “Toàn thân người mỹ miều, người yêu ơi, nơi người không chút tì vết” (DC 4:7). Đoạn này nói về Mẹ Thiên Chúa, Đấng vô cùng thanh sạch. Chỉ riêng Đức Maria mới có vị thế “đầy ơn phúc” đúng như vậy (Luc 1:28 ). Mầu nhiệm này Giáo Hội đã nghiệm ra từ lâu, bằng chứng là vào năm 1826 dòng tu Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội đã được thành lập. Tuy nhiên năm 1854 Giáo Hoàng Piô IX mới chính thức tuyên bố Đức Maria là Đấng vô nhiễm nguyên tội. Bốn năm sau, năm 1858, Đức Mẹ hiện ra tại Lourdes với Bernadette, Mẹ đã xưng “Ta là Nữ Vương Vô Nhiễm Nguyên Tội”.  Đây là một bằng chứng về Chúa Thánh Thần đã hướng dẫn Giáo Hội trong những nhận thức về Đức Mẹ.

Đức Maria Hồn Xác Lên Trời

Mầu nhiệm tổng hợp quan trọng nhất của tín điều Theotokos là mạc khải Đức Maria hồn xác lên trời. Mầu nhiệm này là dấu chỉ về ơn cứu độ mà Đức Maria là khuôn mẫu chính. Nếu Đức Maria vô nhiễm nguyên tội và vô tội, xác người không thể bị sự chết hủy hoại, vì sự chết chỉ đến cho những kẻ có tội (Rom 5:12). Năm 1950, Giáo Hoàng Piô XII công bố Đức Mẹ hồn xác lên trời là một tín diều. Trước biến cố này, giáo phái Tin Lành cho rằng Công Giáo đã đi đến mức tận cùng của lòng sùng kính Đức Maria, nhưng lại đào sâu hố chia rẽ giữa Công Giáo và Tin Lành.

Biến cố Đức Mẹ hồn xác lên trời không thấy ghi chú trong Thánh Kinh. Sự kiện vắng bóng sử liệu là yếu tố mà giáo hội Tin Lành vin vào để chống đối. Scott Hahn đặt vấn đề với tín hữu Tin Lành: nếu cho rằng không có sử liệu thì không có bằng cớ, vậy “trong lịch sử Giáo Hội đâu thấy nói đến ngôi mộ và việc tôn kính hài cốt Đức Maria”. (1) Dĩ nhiên câu nói của Hahn chỉ là một nhận xét chứ không thể coi là một bằng chứng xác thực, tuy nhiên luận cứ của ông cũng đáng để suy nghĩ.

Trong khi đó giáo hội Đông Phương đưa ra chứng cớ rằng Đức Maria được thánh Gioan rước về sống ở Êphêsô. Tại đây khi Đức Maria mãn phần, Người chìm vào giấc ngủ (dormition), rồi trong giấc ngủ Người được đưa về trời. Truyền thống đức tin này đã có từ các thánh Tông Đồ rồi truyền đến giáo dân. Thánh Gioan thành Damascus cho biết vào năm 451 Hoàng đế Marcian muốn lưu giữ xác của “Mẹ Thiên Chúa”. Thánh Juvenal, giám mục Jerusalem tâu với vua rằng Đức Maria đã chết trước sự chứng kiến của các Tông Đồ chỉ thiếu thánh Tôma. Khi thánh Tôma về tới ông yêu cầu mở nắp mồ ra để ông viếng xác. Khi mồ mở ra thì không thấy xác Đức Maria đâu nữa. Các thánh Tông Đồ tin rằng xác Đức Maria đã được cất về trời.

Lễ kính Đức Mẹ hồn xác lên trời đã được cử hành rất sớm từ năm 500 ở Palestine. Năm 1670, thánh nữ Maria Agreda đã thị kiến Đức Maria hồn xác lên trời ngự bên hữu Ngôi Con và được Thiên Chúa Ba Ngôi ban cho triều thiên Nữ Vương Thiên Đàng. Một truyền thống khác cho rằng hình ảnh nói trong sách Khải Huyền về “một bà phủ bởi mặt trời, chân trên mặt trăng, đầu đôi triều thiên mười hai sao” (KH 12:1-6) chính là  Đức Maria sau khi mãn phần. Đối với thần học, Đức Mẹ cả hồn lẫn xác lên Thiên Đàng là một công thức tự chứng. Có nghĩa là tín l ‎ý ‎ này có giá trị xác thực tự chính nó không cần bằng chứng hỗ trợ. Tuy nhiên ‎‎ý nghĩa của tín điều này chỉ có thể hiểu được khi liên kết tất cả các mầu nhiệm liên hệ với danh hiệu Theotokos.
 

Sự kiện Đức Mẹ chết hay ngủ, Công Giáo Tây Phương bỏ ngỏ ẩn số này. Trong lịch sử đã có hai ông Enoch và Elijah được biết là không hề chết nhưng lên trời ngay khi còn đang sống (KN 5:18-24; 2V 2:1-12). Tuy nhiên Chúa Giêsu đã chết rồi mới sống lại. Công Giáo cẩn thận dùng thuật ngữ Assumption (Mông Triệu) để nói về Đức Maria được Thiên Chúa ban cho lên trời và thuật ngữ Ascension (Thăng Thiên) để nói về Đức Giêsu tự mình lên trời. (2)

Đức Maria Là Mẹ Giáo Hội Và Là Mẹ các Tín Hữu
Trên Thập Giá Đức Giêsu đã trối thánh Gioan cho Đức Mẹ, “Thưa Bà, đây là con Bà” (Gio 19:26-27). Thánh Gioan là đại diện của các thánh Tông Đồ vào lúc ấy. Như vậy Đức Giêsu đã thành lập mối liên hệ mẫu tử giữa Đức Maria và các Tông Đồ, tức Giáo Hội. Mầu nhiệm này đã được đúc kết bởi Giáo Hoàng Phaolô VI, vào cuối thời Công Đồng Vatican II năm 1964, ngài tuyên bố: “Đức Maria là mẹ Chúa Kitô và cũng là mẹ Giáo Hội.”

Thần học gia Alexis Kniazev luận rằng tự thân Đức Maria là dạng nguyên gốc về sự hiên hữu của Giáo Hội, vì Người là Mẹ Chúa Kitô mà Giáo Hội là nhiệm thể của Chúa Kitô, và là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Thánh Clement và thánh Ambrôsiô cũng nói có sự liên kết chặt chẽ giữa Mẹ và Chúa Thánh Thần trong việc nuôi dưỡng Giáo Hội. Vì Mẹ Maria là Mẹ Giáo Hội, nên cũng là mẹ các giáo hữu. (3)

Đức Maria Là Evà Mới Và Là Mẹ Nhân Loại
Khi danh xưng Theotokos được chính thức công nhận, các Kitô hữu sơ khai đã nhận ra sự liên hệ giữa Đức Maria và bà Eva. Giáo phụ đầu tiên so sánh Mẹ Maria với Evà là thánh Irenaenus, Giám Mục Lyons, vào năm 150. Thánh giảng rằng Evà thứ nhất mang lại sự chết cho con người, nhưng Mẹ Maria mang lại sự sống cho con người. Vì vậy Mẹ Maria là Evà mới vì Mẹ mang lại một kỷ nguyên giao ước mới. Từ đó các giáo phụ sơ khai đều chấp nhận lối nhìn của thánh Irenaenus. Giáo Hoàng Leo Cả (440-461) đã vắn tắt mầu nhiệm này như sau: “Đây là ơn vượt khỏi mọi ơn: Thiên Chúa gọi con người là con, và con người gọi Thiên Chúa là Cha”. Từ hướng nhìn của Irenaenus tín l ý Đức Mẹ là Eva mới, tức là mẹ nhân loại được thành hình.
  

Nếu phân tích kỹ hơn chúng ta sẽ thấy, Đức Giêsu là Ngôi Con của Ngôi Cha xuống thế làm người. Qua Ngôi Con chúng ta cũng được ban ơn trở thành con Thiên Chúa (GLCG 645). Một khuynh hướng thần học cho rằng Đức Maria là Mẹ của Ngôi Con và cũng là Mẹ của chúng ta nên Ngôi con là Anh của chúng ta. Những ai không quen với danh xưng Đức Giêsu là “Anh”, có lẽ sẽ dễ dàng chấp nhận lời giảng của thánh Phaolô và thánh Augustine: “Tất cả chúng ta là một trong Đức Giêsu” (Rom 12:5). Điều này xảy ra khi chúng ta nhận phép rửa (I Gio 3:1). Ngay lúc ấy Đức Maria là Mẹ của chúng ta và là Evà mới, nên cũng là mẹ loài người (GLCG 726). Năm 1532, Đức Mẹ hiện ra với thánh Juan Diego tại Guadalupe, Mẹ đã xác nhận như vậy khi Mẹ cho Diego biết “Ta là mẹ hết lòng tận tụy của con” (I am your most devoted mother) và gọi Diego là “con khiêm nhường nhất trong những con trai của ta” (the most hunble of my sons).

Lòng Sùng Kính Mẹ Maria
Bài này chỉ nói đến những mô thức liên hệ đế tín điều Theotokos. Trên thực tế dù Mẹ là Đấng “Alma mater” (Mẹ ẩn kín) Mẹ vẫn được nhận diện qua hằng ngàn danh xưng. Mỗi danh xưng là một mô thức riêng biệt về Mẹ và còn tiếp tục được tỏ lộ theo dòng thời gian. Thánh Louis De Montfort nói “về Mẹ Maria không bao giờ nói hết” (De Maria numquam satis).(4) Chúng ta hãy chiêm niệm một vài danh hiệu để thấy rõ điều này, Mẹ là “Đức Bà hằng cứu giúp”, Mẹ là “Nữ Vương các thánh tử đạo”, Mẹ là “Đấng đồng công cứu chuộc”… Duyệt xét từng danh hiệu, tất cả đều có nền tảng từ Kitô học (Christology). Nói cách khác, mọi mầu nhiệm của Mẹ Maria đều rút ra từ mầu nhiệm Chúa Giêsu. Thánh Maximiliano Kolbe nói, “Ở đâu có Mẹ thì có cả Chúa ba ngôi”.

Thần học thấy rằng bản tính nhân loại thường gắn bó với tình yêu của cha và của mẹ. Đức Maria là tượng về nhân tính tình mẹ của Thiên Chúa. Cho đến nay lòng sùng kính Mẹ đã là động lực phát sinh ra những dòng tư tưởng mới. Rất nhiều tu viện, trường đại học, Giáo Hoàng, hội đoàn, tu sĩ, và cá nhân đã nhận Mẹ làm đấng bảo trợ. Các cuộc hiện ra của Đức Mẹ từ thế kỷ XIII đến nay như những ấn dấu chứng thực những tín điều về mầu nhiệm Theotokos là chân l ý. Có thể nói ngắn gọn Theotokos là sức mạnh không thể thiếu của Giáo Hội Công Giáo và của đời sống các tín hữu.

Ghi chú

(1) Scott Hahn, Hail Holy Queen. Published by Doubleday, New York. 2001.

(2) Jaroslav Pelikan, Mary Through the Centuries. Yale University Press, 1996.

(3) Miri Rubin, Mother of God: A History of the Virgin Mary. Yale University Press, 2009.

(4) St. Louis De Monfort. True devotion to Mary. Bản dịch của linh mục Frederick Faber. Tan Books Publishers, INC. Rockford, Illinois, 1985.

 

Mẹ Hòa Bình
VietCatholic News (30 Dec 2009 09:56)

MẸ HÒA BÌNH

Hôm nay trần thế dâng lời
Ca khen Đức Mẹ Chúa Trời hiển vinh
Mẫu Nghi cao cả thiên đình
Cha phong tặng Mẹ: Hòa Bình Nữ Vương
Mẹ là giòng suối yêu thương
Chở chuyên ân phúc thiên đường nhân gian
Con Yêu, Mẹ đã tặng ban
Thành Ơn Cứu Chuộc cho đoàn nhân sinh
Mẹ là cánh cửa thiên đình
Mở cho nhân thế Bình Minh rạng ngời
Mẹ sinh ra chính Ngôi Lời
Mẹ là Mẹ của ngàn đời con dân
Thơ con không dệt nên vần
Nói sao cho hết lòng nhân Mẹ hiền
Hôm nay mồng một minh niên
Con dâng tràng hạt khẩn nguyền Mẹ thương
Bình an cuộc sống đời thường
Lời con xin mẹ: Nữ Vương Hòa Bình
Mic. Cao Danh viện

CHIẾN TRANH & HÒA BÌNH

Anh biết khi nào có chiến chinh
Làm nên nhân thế mất chữ tình
Từ lúc tổ tông nên trọng phạm
Đến khi con cháu mất Thường sinh
Giơ cao đánh khẽ Cha từ họ
Hạ thấp tình sâu Chúa hiến mình
Làm thân thơ bé trong lòng Mẹ
Để tặng nhân gian Mẹ Hòa bình

Lễ Mẹ Thiên Chúa 2010

Mr Cao Danh Viện

 

HIỆN THỰC HOÁ LỜI CHÚC BÌNH AN

(Lễ Thánh Maria, Mẹ Thiên Chúa – Ngày Thế giới Hoà bình - 2013)

JM. Lam Thy ĐVD.

Khi nói Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa cũng không ít người phủ nhận (như những bè rối, phản Ki-tô ở thế ký III, IV, Nes-tô-ri-ô thế kỷ V, kể cả trải dài theo lịch sử Giáo Hội cho tới hiện nay cũng vẫn còn). Họ lý luận: “Nếu đã nói Thiên Chúa dựng nên (tức là sinh ra) con người, thì làm sao con người có thể sinh ra Thiên Chúa được? Ấy là chưa kể Người Con do Đức Mẹ sinh ra lại là Con Thiên Chúa thì càng vô lý hơn.” Mới thoạt nghe thì thấy cũng có lý, vì xét trên triết lý nhân sinh, con người không thể nào sinh ra Thiên Chúa được. Đức Maria quả thật đã không sinh ra Thiên Chúa. Tuy nhiên, khi đưa ra lý luận phản bác như vậy, họ đã quên mất một điều: Nếu họ tin có một Ông Trời đã dựng nên cả vũ trụ và con người thì đối với Người, mọi sự “không thể” đều trở thành “có thể” ("Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được." – Mt 19, 23; “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được." – Lc 1, 37). Rõ ràng lập luận phản bác nêu trên phản ảnh thực chất tư tưởng loài người, mà như thế thì làm sao có thể “suy sự Đức Chúa Trời” cho được? Ấy cũng bởi vì “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta” (Is 55, 8). Vâng, "Xa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người." (Mt 16, 23).

Còn vấn đề tại sao Đức Mẹ lại sinh Con Thiên Chúa, thì phải hiểu đây là một mạc khải mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa. Nếu để cứu độ loài người, mà Thiên Chúa bay vù một cái từ trời cao xuống, thì chắc chắn chẳng ai tin và sẽ cho đó chỉ là tà ma quỷ mị, và khi chết trên thập giá thì sẽ bị phỉ nhổ “chết như thế là đáng” (như đã thực sự xảy ra); còn nếu chỉ “phán một lời” là nhân loại sẽ được cứu rỗi, thì loài người với sự bất toàn và cứ đòi được “thực mục sở thị”, sẽ không nhận thức được và càng trở nên tự cao tự đại, rồi nhơn nhơn sa vòng tục luỵ mà cứ tưởng đó là Thiên đàng, là Niết bàn. Chính vì thế mới cần một người bằng xương bằng thịt như bao người khác nhưng có bản tính Thiên Chúa, để thi hành sứ vụ cứu độ nhân thế. Mà để người ấy hiện diện trên trái đất như loài người, thì lại phải cần có một bà mẹ mang thai và sinh đẻ như mọi bà mẹ khác. Người được chọn làm Mẹ đó chính là Đức Maria. Đức Giê-su là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, vâng phục thánh ý Chúa Cha đã “sinh làm con một người đàn bà và sống dưới lề luật, để chuộc những ai sống dưới lề luật” (Gl 4, 4-5). Như vậy thì quả nhiên Đức Mẹ đã sinh ra Thiên Chúa, nhưng phải xác tín đây là Thiên-Chúa-Làm-Người. Vậy thì còn tước hiệu nào xứng hợp hơn để nói về Ðức Maria trong hoàn cảnh này bằng tước hiệu “Mẹ Thiên Chúa”?

Nhiều người cứ cho rằng mãi về sau này Giáo Hội mới tôn xưng Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. Không đâu, ngay từ khi Đức Mẹ “xin vâng” đón nhận Người Con vào cung lòng, thì ngài đã được người chị họ (bà Ê-li-da-bet) chúc tụng: “Bởi đâu tôi được phúc này là Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi như vậy” (Lc 1, 43). Cũng cần nói thêm rằng, đến chính ngay Đức Maria khi được Sứ thần truyền tin, cũng bất ngờ và sửng sốt thốt lên: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!" (Lc 1, 34). Nhưng vì đây là việc làm của Thiên Chúa (“Sứ thần đáp: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được." – Mt 1, 35-37); nên Đức Maria mới “xin vâng” đón nhận đặc ân cao trọng đó.

Điều đó lại càng chứng tỏ Tình Yêu Thiên Chúa bao la khôn cùng, Người yêu thương đến độ còn muốn tôn vinh con người, cho dầu chẳng phải ai cũng được diễm phúc cưu mang và sinh hạ Thiên Chúa như Đức Maria. Người muốn dùng con người như những khí cụ hữu hiệu để Người luôn được sinh ra nơi lòng dạ con người mọi thời (“Thánh Am-brô-si-ô nhắc nhở ta rằng xét theo một phương diện nào đó, mọi tín hữu Ki-tô đều tượng thai và sinh hạ Lời Thiên Chúa: mặc dù chỉ có Mẹ Thiên Chúa là tượng thai bằng xương bằng thịt, còn chúng ta, Chúa Ki-tô là con cái của mọi người chúng ta trong đức tin. Như thế, điều xẩy ra cho Đức Maria cũng hàng ngày xẩy ra nơi mỗi người chúng ta, trong việc nghe Lời Chúa và trong việc cử hành các bí tích.” – T/H Lời Chúa, số 20).

Vì yêu thương nhân loại, Thiên Chúa đã tôn vinh con người qua mầu nhiệm Mẹ Thiên Chúa, Người còn muốn con cái mình được vui hưởng hạnh phúc trong an bình. Vì thế, Người đã dùng các Thiên thần (là những sứ giả thân tín của Người) đem Lời chúc thần thiêng xuống cho loài người “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Như vậy, Đức Giê-su Con của Ðức Maria đã thực hiện lời Thiên Chúa hứa cùng nhà Ða-vít (“Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận." – Lc 32-33). Đồng thời, cũng chính Người sẽ đem lại hòa bình cho nhân loại và vinh quang cho Chúa Trời. Còn Ðức Maria, Mẹ của Người thì luôn ghi nhớ những điều ấy và suy nghĩ trong lòng.

          Nhận rõ chân lý ấy, Ðức Thánh Cha Phao-lô VI đã thiết lập ngày Hoà bình Thế giới đầu tiên vào ngày 01/01/1968, nhằm khuyên mọi Ki-tô hữu hằng năm hãy dùng ngày Ðầu Năm để suy nghĩ và cầu nguyện cho hòa bình thế giới. Và kể từ đó đã thành truyền thống, cứ vào ngày đầu năm dương lịch, các vị Giáo hoàng lại gửi Sứ điệp Hòa Bình đến toàn thế giới, nhằm kêu gọi các tín hữu – và nói chung, toàn thể nhân loại – cùng chung tay góp sức, thêm lời cầu nguyện để kiến tạo một nền hoà bình đích thực cho loài người (“Ngày này là thành quả trực giác của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI theo sự quan phòng của Chúa, và được vị Tiền Nhiệm đáng kính của tôi là ĐGH Gioan Phaolô II tiếp tục với đầy xác tín, việc cử hành Ngày Hòa Bình này đã giúp Giáo Hội, qua dòng thời gian, với những Sứ Điệp được công bố nhân dịp này, phát triển một đạo lý sáng ngời bênh vực thiện ích căn bản của con người.” – Sứ điệp “Ngày Hoà bình Thế giới lần thứ 41 - năm 2008” của ĐTC Biển Đức XVI, số 15).

Ngày đầu năm (dương lịch, âm lịch, và nói chung là tất cả các loại lịch hiện hữu) là ngày sum họp gia đính, để cầu nguyện, cầu chúc cho nhau những điều tốt lành, an vui. Đêm Giáng sinh, Thiên Chúa đã ban tặng “món quà an bình” vô giá là chính Con Một xuống thế làm người trong cung lòng Đức Trinh nữ Maria. Chính Đức Mẹ đã cưu mang và sinh hạ ân sủng an bình cao quý vô song đó: Đức Vua Hoà Bình Giê-su Ki-tô. Cũng chính là từ nơi Trái Tim vẹn sạch Đức Mẹ đã hiện thực hoá lời chúc thần thiêng của Thiên Chúa đến cho nhân loại (“Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho người thiện tâm”). Như vậy, cùng với tước hiệu Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Giáo Hội, Đức Maria còn là Mẹ của các gia đình – Người Mẹ đã đem an vui thái hoà tới cho đàn con nơi trần thế. Thật vô cùng ý nghĩa khi Giáo Hội tôn vinh Mẹ là Nữ Vương Gia Đinh, Nữ Vương Hoà Bình, và chọn ngày đầu tiên của Năm Mới – trùng vào ngày lễ kính Đức Maria Mẹ Thiên Chúa – làm ngày cầu nguyện cho hoà bình thế giới, cũng gọi là NGÀY THẾ GIỚI HOÀ BÌNH.

Trong Sứ điệp “Ngày Hoà Bình Thế Giới lần thứ 46 – năm 2013” (số 1), ĐGH Biển Đức XVI đã viết: “Năm mới luôn mang lại cho chúng ta niềm hy vọng về một thế giới tốt đẹp hơn. Trong ánh sáng này, tôi nguyện xin Thiên Chúa, là Cha của nhân loại, ban cho tất cả chúng ta sự hoà thuận và bình an để những khao khát của chúng ta về một đời sống hạnh phúc và thịnh vượng có thể được thành tựu. Năm mươi năm sau ngày khai mạc Công Đồng Vatican II vốn là sự kiện giúp chúng ta đào sâu sứ mạng của Giáo hội trong thế giới, chúng ta phấn khởi nhận ra rằng những người Kitô hữu, như là Dân Thiên Chúa trong việc bước theo Người và sống giữa lòng thế giới, chúng ta dấn thân vào lịch sử để chia sẻ vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng, khi chúng ta công bố ơn cứu độ của Đức Ki-tô và thăng tiến hòa bình cho nhân loại.”

Mục đích ngày thế giới hoà bình không chỉ là “hoà đồng tôn giáo”, mà còn là “hoà đồng nhân loại”. Thế giới này còn quá nhiều những chiến tranh khủng bố bằng bom đạn, bằng những vũ khí tối tân nhất. Khốc liệt hơn là những cuộc chiến tranh khủng bố bằng tinh thần, bằng tư tưởng vẫn đầy rẫy (“Thật đáng báo động khi chứng kiến sự lan tràn của những căng thẳng và xung đột gây ra bởi sự phát triển của sự bất bình đẳng giữa giàu và nghèo, sự lan tràn của não trạng cá nhân và ích kỷ vốn tìm thấy sự biểu hiện của nó trong chủ nghĩa tư bản tài chính thiếu sự kiểm soát. Bên cạnh những hình thức đa dạng của chủ nghĩa khủng bố và tội ác quốc tế, hoà bình cũng bị đe doạ bởi trào lưu chính thống và chủ nghĩa cuồng tín, bóp méo bản chất tôn giáo đích thực, vốn mời gọi cổ võ tình liên đới và sự hoà giải giữa mọi người.” (Sđ “Ngày Hoà bình Thế giới – năm 2013”, số 1).

Vì thế, nên vấn đề đặt ra là cả thế giới cần phải ngồi lại với nhau để tim kiếm một giải pháp chung xây dựng hoà bình. Một cách cụ thể là ngồi lại với nhau để trực diện đối thoại. Kể ra cũng khó khăn lắm để có thể thực hiện được mục tiêu đó. Thế giới đã chẳng có một Liên Hiệp Quốc từ trên nửa thế kỷ rồi đó sao? Vậy mà ngay trong nội bộ tổ chức này cũng vẫn còn không ít những bất đồng. Tuy nhiên “Thà thắp lên một ngọn đèn còn hơn ngồi nguyền rủa bóng tối”, nếu cứ ngồi nguyền rủa bóng tối thì liệu có sáng lên được không? Hoá cho nên dù khó khăn cách mấy cũng phải làm, kiên trì làm. Các tôn giáo nói chung – và cách riêng, những Ki-tô hữu – phải là những người đi tiên phong, thắp sáng lên ngọn đèn Hoà Bình bất diệt.

Những người có niềm tin tôn giáo thường được gọi là “tín đồ” (tín: niềm tin; đồ: học trò, môn đệ) hay “tín hữu” (hữu: bạn bè). Những người tin vào Ki-tô Giáo thì gọi là Ki-tô hữu (“bạn bè cùng tin vào Đức Ki-tô”, hay cụ thể hơn là “bạn của Đức Ki-tô” vì chính Người đã dạy “Thầy không gọi anh em là tôi tớ, mà là bạn hữu”). Đã là bạn bè thì tại sao lại không thể ngồi lại để nói chuyện (đối thoại) với nhau, hoặc cùng nhau đối thoại với Đấng Siêu Việt mà mình đã tin? Rộng ra hơn nữa thí người năm châu bốn biển vẫn là anh em với nhau (“tứ hải giai huynh đệ”). Đã là anh em bè bạn với nhau, thì khi có những mâu thuẫn, bất đồng, đối kháng; vẫn có thể ngồi lại với nhau để đối thoại, tìm ra những điểm tương đồng, những điểm chung; chớ không thể biến đối kháng thành đối nghịch và từ bạn bè trở thành thù địch.

ĐGH Biên Đức XVI đã viết trong Sứ điệp “Ngày Hoà bình Thế giới – năm 2013” (số 7), “Chính Đức Giê-su là hiện thân cho tất cả thái độ sống này trong đời sống của Ngài, thậm chí Ngài đã tự hiến mình, đến nỗi từ bỏ chính mạng sống mình (x. Mt 13, 39; Lc 17, 33; Ga 12, 25). Ngài đã hứa với các môn đệ rằng sớm muộn gì họ cũng khám phá ra những điều tuyệt diệu mà tôi đã nói ở trên, nghĩa là Thiên Chúa ở trong thế giới và Thiên Chúa của Đức Giê-su là Đấng luôn hiện diện với con người. Ở đây, tôi muốn nhắc lại lời cầu nguyện, lời nguyện xin Thiên Chúa biến chúng ta thành những khí cụ bình an của Ngài, để chúng ta có thể mang tình yêu đến nơi hận thù, đem tình thương đến với người đau khổ, chân lý đức tin vào chốn lỗi lầm. Về phần mình, chúng ta hãy cùng Chân phước Gio-an XXIII cầu xin Thiên Chúa soi sáng cho các vị lãnh đạo, để ngoài việc quan tâm đến lợi ích vật chất của dân tộc mình, họ còn biết đảm bảo cho người dân món quà quý giá là sự bình an, phá vỡ những bức tường chia cắt, đẩy mạnh mối dây yêu thương lẫn nhau, lớn lên trong sự hiểu biết và sẵn sàng thứ tha cho kẻ làm hại mình. Nhờ đó, ngang qua sức mạnh và thần hứng của Thiên Chúa, mọi người dân trên trái đất sẽ kinh nghiệm được tình huynh đệ, và sự hòa bình mà họ hằng mong mỏi, sẽ nở hoa và cư ngụ giữa họ.”

Trong một gia đình đông con, mỗi người con là một cá tính, không ai giống ai. Có người con hiền lành thì cũng có người con hung dữ, có người con ngoan ngoãn cũng có người con ngỗ nghịch. Đó là lý do giải thích những mối bất hoà trong gia đình, nhẹ thì chỉ là lục đục cãi nhau, nhưng nặng thì có thể đi đến cảnh gia đình tan vỡ, ly tán. Ở một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội cùng chung một núm ruột, một dòng máu, mà còn như vậy, huống chi ở cả tổng thể xã hội loài người. Xã hội loài người vốn chưa phải là Thiên đàng, là Niết bàn, là Bồng lai tiên cảnh; thì cũng vẫn cần, rất cần những hành trình, những hướng lộ dẫn tới hoà giải dân tộc, dẫn tới hoà bình thế giới. Trong gia đình thì người Mẹ chính là mối dây thân ái liên kết tất cả các thành viên, không ai thay thế được. Có thể coi người Mẹ là biểu tượng tình yêu, hoà giải trong gia đình. Quả thực không có gì bằng Mẹ, không có gì đẹp hơn Mẹ. Người Mẹ trần gian còn thế, huống hồ người Mẹ trên hết mọi người Mẹ thế trần: Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Vì thế, cầu cho hoà bình thế giới, tất yếu điểm cậy trông duy nhất chỉ có thể là Nữ Vương Hoà Bình vậy.

Như vậy thì ngày đầu năm phải là ngày dâng hiến mỗi gia đình, mọi gia đình cho Trái Tim vẹn sạch Đức Maria Mẹ Thiên Chúa – Nữ Vương Gia Đình – Nữ Vương Hoà Bình – để cầu nguyện cho hoà bình thế giới. Ôi, lạy Mẹ! Chúng con cảm tạ Mẹ bởi vì hôm nay, ngày đầu Năm Mới 2013, chúng con nhìn lên Mẹ: Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ là Nữ Vương của mỗi gia đình chúng con, Mẹ còn là Nữ Vương Hoà Bình của toàn thế giới, Mẹ chính là Mùa Xuân vĩnh cửu của nhân loại. Với tình mẫu tử chan hoà Tình Yêu Thiên Chúa bao la, Mẹ luôn yêu thương ấp ủ mọi người chúng con trong trái tim vẹn tuyền của Mẹ, như xưa Mẹ đã yêu thương ấp ủ Chúa Giê-su Con Thiên Chúa và cũng là con của Mẹ. Cúi xin Mẹ giúp chúng con luôn biết sống ý nghĩa của Mùa Xuân vĩnh cửu để như Mẹ, chúng con biết “xin vâng” đón nhận Ngôi Hai Thiên Chúa vào trong lòng chúng con. Từ đó, Mẹ sẽ bầu cử cùng Chúa cho chúng con biết sám hối và đổi mới tâm hồn, biết tự hoà giải bản thân để đi đến hoà giải với anh em hầu đóng góp một chút nào đó cho nền hoà bình thế giới.

Ôi! “Lạy Mẹ Maria Mẹ Thiên Chúa, Mẹ đồng trinh. Đoàn con chung tiếng hát, chung tấm lòng dâng đời sống. Lạy Mẹ Maria, Mẹ nhân ái, Mẹ hiển vinh. Mẹ chính là Nữ Vương, là Trạng Sư, là Mẹ con…” Trong tâm tình đó, để cầu nguyện cho an bình trong mỗi gia đình chúng con, cầu nguyện cho hoà bình trên đất nước chúng con cũng như trên toàn thế giới, chúng con xin dâng lên Chúa Hài Đồng – nhờ lời chuyển cầu của Mẹ – lời kinh tiếng hát từ trong tâm khảm chúng con: “Lạy Chúa Từ nhân! Xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Lạy Chúa! Xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa. Để con đem yêu thương vào nơi oán thù; đem thứ tha vào nơi lăng nhục; đem an hoà vào nơi tranh chấp; đem chân lý vào chốn lỗi lầm …” (Kinh Hoà bình - TCCĐ). Amen.

 

dongcongnet sưu tầm 28-12-2009 CMC

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)