dongcong.net
 
   
 
 
 
 

 

 
Những Điều Suy Tư
 
 
Chuyền ngữ: Matthias M. Ngọc Đính, CMC
 
<<<    

Phần I: Lời Hứa
CHƯƠNG BA: HIỂN LINH

I. Gương Thánh Nhân

“Hỡi nữ tử của Thiên Chúa, con phải rời bỏ ngôi làng này”

Bạn còn nhớ hồi bạn khoảng độ mười hai tuổi không? Bạn không bao giờ ra khỏi nhà nếu như chưa thưa cho cha mẹ biết bạn đi đâu, đi với ai, và lý do tại sao. Chương trình lớp Sáu của bạn chỉ có những khó khăn nho nhỏ. Những việc đòi hỏi thời gian, từ chỗ làm quen với đại số nhập môn cho đến việc hiểu những hậu quả của chuyện bỏ bê công việc ở nhà, cũng chẳng có gì nhiều lắm. Bạn có một đám bạn bè, những trò chơi vui và những điều mộng ước. Tuy nhiên, bấy giờ bạn chưa hiểu bạn đích thực là ai và vì sao Thiên Chúa lại yêu thương bạn? Có thể bạn cũng đi nhà thờ, nhưng như nhiều đứa trẻ trạc tuổi, bạn cũng chưa hiểu vì sao mỗi tuần lại phải dành ra một giờ đồng hồ cho việc cầu nguyện. Bạn không biết mà cũng chẳng muốn biết về hoàn cảnh kinh tế, càng không muốn hiểu về tình hình an ninh tại cộng đồng nơi bạn đang sống. Dù sao đi nữa, hồi ấy bạn mới chỉ là một đứa trẻ mười hai tuổi.

Lần đầu tiên khi được nghe tiếng gọi, Joan d'Arc cũng đang ở độ tuổi mười hai. Vào năm 1424, cuộc chinh chiến giữa người Pháp và người Anh đã kéo dài hơn tám mươi lăm năm. Tại ngôi làng Domrémy của Joan, các cư dân thường chứng kiến những cảnh cướp phá vô nhân đạo. Nhân dân Pháp mòn mỏi đợi chờ “người thiếu nữ” đến để lãnh đạo toàn dân đánh bại quân thù, theo như lời truyền thuyết đã tiên báo. Trong khi đó, Joan và gia đình chỉ lo giúp đỡ những người láng giềng đói khát, bệnh tật và đầy thương tích.

Một buổi chiều nọ, khi đang chăm sóc khu vườn, Joan được nghe tiếng nói rằng: “Hỡi Joan, nữ tử của Thiên Chúa, con hãy thường xuyên đến nhà thờ. Con hãy sống tốt lành và trong sạch. Thiên Chúa muốn con thực hiện điều này.” Rồi một dịp sau đó, những tiếng nói từ trời, mà Joan tin là của thánh nữ Margaret Antioch và thánh nữ Catherine Alexandria, cả hai đều là những vị thánh tử đạo, đã truyền lệnh cho Joan: “Hỡi Joan, nữ tử của Thiên Chúa, con phải rời khỏi ngôi làng này và lo liệu việc phong vương cho hoàng thái tử nước Pháp.” Hoàng thái tử tức là vua Charles II. Khó tin hơn nữa là tiếng nói siêu nhiên ấy còn truyền cho Joan phải dẫn quân Pháp tiến đánh quân Anh tại thành phố Orléans. Joan đã hoảng hốt kêu lên: “Ôi, con là ai, chỉ là một thiếu nữ mảnh mai, làm sao có thể đảm đương một sứ mệnh như thế?” Tiếng nói kia lại trả lời: “Con hãy cứ đi, hỡi nữ tử của Thiên Chúa.” Nhưng Joan không biết phải bắt đầu từ đâu, và chị cứ suy đi nghĩ lại suốt bốn năm trời về ý nghĩa của những lời ấy. Dù vậy, lời nói ấy vẫn tiếp tục khích lệ và cổ động người thôn nữ vâng theo thánh ý Thiên Chúa.

Năm 1428, Joan nhận được sứ điệp truyền cho chị phải đến gặp một nhà quí tộc người Pháp, một người hậu thuẫn cho hoàng thái tử. Sau một vài trở ngại, cuối cùng Joan cũng gặp được ngài Robert de Baudricourt. Nhưng ông này không tin tưởng Joan, một thiếu nữ non trẻ nhưng tự nhận là đại diện của trời cao. Thế là lời thỉnh cầu yết kiến hoàng thái tử của Joan đã bị từ chối. Một năm sau, lúc đã mười bảy tuổi, cuối cùng, Joan of Arc đã thuyết phục được nhà quí tộc và ông đã sắp xếp cho chị gặp hoàng thái tử. Tuy nhiên, một gian truân khác đang chờ đợi.

Khi được tin báo về cuộc gặp diễn ra theo mệnh lệnh của trời cao với cô thôn nữ Joan, hoàng thái tử Charles muốn thử xem Joan có thực sự được Thiên Chúa sai đến hay không. Trước khi Joan được dẫn vào cung điện, hoàng thái tử tự ẩn mình và lệnh cho một thị vệ ngồi vào ngai vàng thay ông. Khi Joan tiến vào, chị lập tức nhận ra người ngồi trên ngai không phải là hoàng thái tử. Chị tự tìm đến gian phòng của hoàng thái tử, tiến lên và bái phục. Khi đó, hoàng thái tử Charles biết cô thôn nữ này có một điều gì đó rất đặc biệt. Phải chăng cô là “người thiếu nữ” trong truyền thuyết?

Để khai thác khả năng ấy, hoàng thái tử đã ban cho Joan một bộ giáp, một chiến mã, một cờ hiệu màu trắng với hàng chữ Giêsu và Maria, cùng với bức hình Chúa Cha có các thiên thần chầu kính đang trao vương hiệu hình hoa huệ cho Chúa Giêsu. Thái tử truyền lệnh cho Joan và các tướng lãnh phải tái chiếm thành Orléans từ tay quân Anh. Vào ngày 27 tháng 4 năm 1429, quân Pháp đã tiến lên tấn công kẻ thù. Trong trận đánh ấy, Joan đã bị trúng một mũi tên. Nhưng sau khi nhìn thấy tổng thần Micae, chị thánh lại lên ngựa và chỉ huy quân Pháp tiến lên giành chiến thắng. “Người thiếu nữ” ấy không còn là truyền thuyết nữa. Khi danh tiếng nữ tướng Joan nổi lên như cồn, quân đội Pháp từ khắp nơi tụ về dưới trướng của chị. Những cuộc chiến thắng của chị thánh cuối cùng đã đưa đến sự kiện vua Charles II của nước Pháp được phong vương.

Thế nhưng trận chiến khủng khiếp nhất của nữ tướng Joan vẫn chưa bắt đầu. “Những tiếng nói” siêu nhiên tiên báo rằng chị sẽ bị phản bội. Ngay sau đó, Joan đã bị nhóm người trung thành với quân Anh bắt và cầm giữ như một tù binh. Cáo trạng chống lại “người thiếu nữ” không phải là tội ác chiến tranh, nhưng là tội làm phù thủy. Các giáo sĩ người Anh đã cố sức minh chứng sứ điệp từ trời cao ban cho Joan thực ra chỉ là mưu mô của bè lũ Satan. Như Chúa Giêsu ngày trước, thánh nữ Joan cũng chịu vu cáo đủ điều. Trong phiên tòa, các giáo sĩ đã đặt ra nhiều câu hỏi triết học và thần học vô cùng hóc búa nhằm xác quyết “những tiếng nói” kia chỉ là dụng cụ của ma quỉ. Mặc dù những câu trả lời của Joan không có chút gì sai sót, nhưng chị vẫn lãnh bản án bị thiêu sống vì can tội làm phù thủy.

Sau khi bị cột vào giàn hỏa, Joan đã kêu lớn: “Xin tất cả anh chị em ở đây hãy tha thứ cho những gì tôi đã gây ra, và tôi cũng tha thứ điều lỗi anh chị em đã gây ra cho tôi.” Khi ngọn lửa ngùn ngụt bốc lên, Joan xin một tượng chuộc tội. Một giáo sĩ đã giơ cao tượng chuộc tội để “phạm nhân” có thể nhìn thấy Đấng Cứu Độ trước lúc từ giã cõi đời. Trước khi chị thánh tắt thở, người ta đã nghe chị kêu tên cực trọng Chúa Giêsu. Và như người bách quân trưởng dưới chân thập giá Chúa Kitô ngày xưa đã xác nhận: “Quả thật người này là Con Thiên Chúa,” nhiều binh lính người Anh cũng buột miệng thú nhận họ đã giết hại một vị thánh của Thiên Chúa. Và nếu như cái chết của thánh nữ Joan vẫn chưa đủ sức lay động những người hiện diện, thì thêm vào đó, kẻ thù còn phát hiện trái tim của chị thánh vẫn không bị thiêu hủy! Một quan chức người Anh là ngài John Tressart, thư ký của vua nước Anh, đã bật khóc khi đi ngang qua giàn hỏa và nhận định: “Chúng ta đã mất tất cả, vì chúng ta đã thiêu chết một vị thánh.”

Chị thánh Joan d'Arc có một nhiệm vụ mà chị vẫn chưa sao hiểu được cho đến khi chết. Tuy được “những tiếng nói” soi động, nhưng thánh nữ đã không hiểu nổi vì sao mình, một thiếu nữ thất học, lại đủ sức chỉ huy một đạo quân, lại càng không hiểu nổi vì sao chị lại có thể đảm đương việc phong vương cho một vị vua. Nhưng thánh nữ Catherine, thánh nữ Margaret và đức tổng thần Micae đều biết tại sao Joan d'Arc lại được kêu gọi. Những binh lính chiến đấu dưới trướng của thánh nữ cũng nhận ra ngài đích thực là “người thiếu nữ.” Cuối cùng, Joan d'Arc, vị thánh của Thiên Chúa, đã đón nhận giờ hiển linh cho chị.

II. Suy Niệm

Tỉnh thức

Một cuộc hiển linh chính xác là gì? Hiển linh có thể được định nghĩa là “một sự giãi bày bất ngờ về điểm cốt yếu hoặc ý nghĩa của một biến cố nào đó,” chẳng hạn như khi các binh lính Pháp nhận ra thánh nữ Joan d'Arc chính là “người thiếu nữ,” hoặc khi các mục đồng quì gối trước máng cỏ Chúa Hài Đồng. Cả hai nhóm người trên đều trải nghiệm một biến cố đã được tiên báo. Khi chiến thắng quân Anh tại thành phố Orléans, thánh nữ Joan d'Arc đã nhận ra mình là “người thiếu nữ.” Khi thánh Thomas hiện diện tại nhà Tiệc Ly lúc Chúa Kitô hiện đến lần thứ hai sau ngày Phục Sinh, Chúa đã nói với ngài, “Hãy xỏ ngón tay con vào bàn tay Thầy, hãy đút bàn tay con vào cạnh sườn Thầy, đừng cứng lòng, nhưng hãy tin,” chính lúc ấy, một Thomas đầy nghi ngờ đã nghiệm được ơn hiển linh và tuyên xưng, “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con!”

Chúng ta hãy nhìn thẳng vào ơn hiển linh. Rất ít người trên hành tinh này có thể nói rằng họ được đặc ân nghe rõ “những tiếng nói.” Nói chung, “những tiếng nói” duy nhất mà một bạn trẻ nghe được và đôi khi đã đáp lại là tiếng nói của cha mẹ, bạn bè, người huấn luyện hoặc thầy cô giáo. Ngoài những tiếng nói ấy, hỏi thử lần cuối cùng bạn đã trải nghiệm phép lạ là khi nào?

Nhưng ngay những biến cố không phải là phép lạ theo nghĩa chặt đi nữa cũng rất lạ lùng. Một phép lạ là một sự kiện không thể giải thích được theo khoa học. Bạn có thường nghe người ta nói rằng điều này điều kia chỉ là “tình cờ,” là “số phận,” là “may rủi,” hoặc “vận hên” hay không? Đối với những người có đức tin, hai chữ “tình cờ” hoặc những chữ tương tự như thế trong ngôn ngữ của nhân loại chẳng có ý nghĩa gì cả. Đối với những người tin rằng Thiên Chúa điều khiển mọi sự, thì ơn hiển linh chính là lời công bố rằng họ đã “tỉnh thức.”

Những ủng hộ viên âm thầm

Bạn có nhớ ngày đẹp nhất trong cuộc đời của bạn không? Bạn có thể hưởng được niềm vui phấn khởi của ngày hôm ấy hay không nếu như thiếu sự hiện diện, sự cổ võ hoặc lời chúc mừng của người khác? Nói khác đi, bạn có thể có được “một ngày thật đẹp” hay không nếu như thiếu sự cổ võ nồng nhiệt của những người trong gia đình hoặc xóm làng của bạn? Rồi bạn bè và đồng đội của bạn nữa? Chẳng lẽ bạn không chia sẻ niềm vui của bạn với họ hay sao? Và chúng ta cũng đừng quên thầy cô giáo hoặc những người có trách nhiệm với chúng ta. Chắc chắn đã có nhiều lần chính họ là những người nhiệt tình cổ võ cho bạn, và trách nhiệm chính yếu của họ là khuyến khích bạn phải phấn đấu hết mình trong lớp học, tại sân vận động, hoặc trong cộng đồng. Rõ ràng, “ngày đẹp nhất” của bạn đòi phải có sự hiện diện của một hoặc nhiều ủng hộ viên.

Bất kỳ ai bảo vệ một mục tiêu hoặc vững tin vào một lý tưởng nào đó đều có thể được gọi là ủng hộ viên. Nói cho chính xác, ủng hộ viên tốt nhất của bạn là người không những tin tưởng vào bạn và tính cách của bạn, mà còn giữ một vai trò tích cực trong việc phát triển tính cách ấy nữa. Khi bạn còn là một đứa trẻ, gia đình bạn chịu trách nhiệm tạo nên những giá trị xác định con người của bạn. Khi bạn bắt đầu đến trường, thầy cô giáo có nhiệm vụ giúp đỡ bạn hình thành các tiềm năng của bạn. Các huấn luyện viên, các người phụ trách, bè bạn và những người gần gũi của bạn cũng góp phần phát triển nhân cách cá biệt của bạn. Thật không may, đôi khi cũng có những người đã không nỗ lực làm trọn trách nhiệm phải nêu gương sáng của họ. Và điều ấy quả thật đã xảy ra. Tuy nhiên, nhờ kinh nghiệm ấy, biết đâu bạn có thể trở nên trưởng thành hơn? Nhưng dù sao, lúc nào cũng có một nhóm người luôn dành cho bạn sự khích lệ cần thiết để giúp bạn khám phá con người riêng của bạn.

Những người ấy đã làm những điều họ có thể làm được để khẳng định bạn có những tài năng thiên phú. Họ tin tưởng nơi bạn. Họ khích lệ bạn. Họ tha thứ cho bạn. Họ yêu thương bạn. Nhất là họ nhẫn nại đợi chờ cho đến khi bạn hiểu được vì sao họ lại tin tưởng nơi bạn. Đôi khi bạn tưởng rằng bạn đã làm họ thất vọng. Mặc dù bạn đã thất bại trong mắt bạn, nhưng bạn vẫn chưa thất bại trong mắt họ.

Khi bạn tập đi xe đạp, còn té lên ngã xuống, cha mẹ đã giúp bạn tiếp tục cố gắng cho đến khi không còn cần đến những bánh xe phụ. Khi bạn thử chơi một trò gì đó lần đầu, dù thất bại hay thành công, cha mẹ, láng giềng, huấn luyện viên và đồng đội của bạn luôn cổ võ cho bạn. Khi kết quả học tập của bạn không được mỹ mãn, một hoặc nhiều thầy cô thường phải lặn lội thêm một đôi dặm đường để phụ đạo cho bạn về môn học ấy. Khi bạn làm mích lòng người bạn thân thiết nhất, người ấy vẫn ở đó chờ bạn, bởi vì người ấy vẫn là tri âm tốt nhất của bạn. Tại sao những con người ấy lại liên đới với bạn như thế? BaÏn có nghĩ rằng họ đã nhìn ra trong tính cách của bạn một điều gì đó mà chính bạn chưa nhìn thấy không? Có thể họ dành cho bạn vào một tiêu chuẩn nào đó cao hơn những người khác. Chẳng thà họ chịu thách đố còn hơn là đành chấp nhận cái tầm thường.

Thời điểm Chúa Kitô chào đời rất gần ngày đông chí, đêm tối dày đặc. Nhưng đêm ấy đã có ánh sáng. Những người đầu tiên nhận ra biến cố trọng đại ấy là các mục đồng. Khi bạn chào đời, Thiên Chúa đã biết ai sẽ là người trước tiên nhận ra các tiềm năng nơi bạn. Theo dòng thời gian, bạn tăng triển về tầm vóc và tri thức, và có những lúc bạn phải kinh ngạc vì một người bạn, một huấn luyện viên, hoặc cha mẹ của bạn cứ bám chặt lấy bạn mặc dù bạn đã phụ bạc với họ. Những bạn học trong lớp của bạn đã bắt chuyện với bạn mặc dù trước đó họ chẳng biết bạn là ai, và chưa chắc bạn đã hợp với tiêu chuẩn thân quen của họ. Và lạ lùng hơn nữa, còn có những người xa lạ đã đến xin bạn cộng tác hoặc mời bạn làm tình nguyện viên cho công cuộc này hoặc dịch vụ khác tại cộng đồng của bạn.

Những người ấy đã nhìn thấy nơi bạn những gì khiến họ vững tin rằng bạn sẽ làm thỏa mãn kỳ vọng của họ? Tại sao họ lại đặt nhiều tin tưởng như thế vào một con người thường thiếu niềm tin vào bản thân như bạn? Có thể họ lầm chăng? Phải chăng họ đã dự cảm được điều gì? Nếu bạn thực sự không có những “tặng ân” mà họ tưởng bạn có thì sao? Nếu như….? Ôi, bạn có thể biến thành một “Thomas đầy nghi ngờ” đối với chính bạn, hoặc đơn giản bạn hãy nhận rằng kỳ vọng của họ chính là ơn gọi của bạn.

Điều bạn phải làm là hãy cố gắng sống tốt, yêu thương tha nhân và vững tin vào Thiên Chúa. Dù nhận ra hay chưa, thì bạn cũng phải nhận rằng nhiều lúc trong cuộc đời, bạn đã có những “ủng hộ viên ngầm.” Và khi ấy, nhiều người cũng nhận ra đó là thời điểm cuộc hiển linh của bạn!

III. Chứng Nhân Thời Đại

Cuộc đời của tiến sĩ Paul Rundi

Khi còn học ở trung học, Paul Rundi đã nghĩ đến khả năng làm linh mục của mình. Khát vọng của Paul là giúp đỡ người khác. Thân phụ của Paul lại mạnh mẽ xác quyết anh có một thiên khiếu âm nhạc, không thể uổng phí. Paul không những chơi đàn organ tuyệt vời, mà còn hát rất hay. Và không những chỉ biết hát, biết đàn, Paul còn có biệt tài làm thiên hạ phải cười vỡ bụng. Với tất cả những thiên khiếu ấy, Paul Rundi có tiềm năng trở thành một hoạt náo viên.

Khi vào đại học, ý nghĩ làm linh mục dường như nhạt nhòa dần trong tâm tưởng của Paul. Khát vọng của Paul đã thay đổi khi anh quyết định trở thành một kỹ sư. Paul được toàn những điểm cao. Anh có khiếu về toán học. Và theo chỗ cha anh phát hiện, Paul còn có tài làm tiền! Nhưng điều Paul không thể dung hòa được là lãnh vực kỹ thuật, mặc dù là một công việc được trọng dụng, nhưng lại không cho anh giúp đỡ tha nhân một cách trực tiếp. Một lần nữa Paul thay đổi con đường sự nghiệp và quyết định trở thành một nhà tâm lý học. Và tuy đã thay đổi chuyên ngành, nhưng thu nhập tài chính của Paul vẫn dồi dào. Paul vẫn đi hát và đàn tại các câu lạc bộ địa phương để kiếm tiền trang trải học phí.

Sau khi giật được ba tấm bằng khoa bảng, tiến sĩ Paul Rundi có đủ điều kiện để trưng bảng hiệu và kiếm sống bằng cách dùng kiến thức tâm lý học để cố vấn cho các trẻ em gặp khó khăn và cha mẹ của chúng. Khi được tiếp xúc với những người làm cha mẹ phải phấn đấu với các khó khăn nuôi dạy con cái, Paul nhận thấy rõ ràng nhiều người đã làm được một công việc quả thật còn hữu ích hơn ông. Nhận ra nhu cầu cần truyền bá những thông tin mới mẻ về phương thức nuôi dạy con cái, Paul quyết định viết một quyển sách. Paul biết mình có thể ca hát và chơi đàn, làm thiên hạ cười, hoặc nếu cần, có thể cố vấn cho họ trong nhiều vấn đề, nhưng Paul chưa biết mình có khả năng viết sách hay không? Sau khi đã thực hiện ba quyển sách, ba cuộn video, và nhiều băng đĩa về lãnh vực nuôi dạy con cái, tiến sĩ Paul Rundi mới biết mình còn có một tài năng nữa. Và với tài năng ấy, Paul đã được mời thuyết trình mỗi năm hơn hai trăm lần, xuất hiện trên chương trình của Oprah Winfrey bốn lần, và được mời điều khiển một chương trình quan trọng về thị trường thành phố. Hơn nữa, tiến sĩ Paul Rundi còn được mời điều hành một đài phát thanh. Với công việc ấy, Paul chỉ có thể tiếp xúc với một số người không đáng kể so với lượng khán giả đông đảo của truyền hình, nhưng Paul muốn giúp đỡ những đối tượng chưa bao giờ được các nhà sản xuất chương trình truyền hình quan tâm. Mùa Thu 1994, đài phát thanh của tiến sĩ Paul Rundi được khai trương.

Tiến sĩ Paul Rundi phải thực hiện một quyết định. Ơn gọi của Paul Rundi là gì: tổ chức các cuộc diễn thuyết trước công chúng; viết nhiều sách vở; thực hiện nhiều video và băng đĩa; sống thầm lặng; hoặc trở thành một người giữ chương trình phát thanh nổi tiếng? Trong mọi lãnh vực, Paul đã hoàn thành khát vọng muốn giúp đỡ tha nhân. Nhưng, tiến sĩ Paul Rundi còn một giấc mơ, một sứ vụ để hoàn thành. Trước kia, Paul đã từng mơ ước làm linh mục, nhưng giờ đây anh đã đem lòng yêu thương và kết hôn với một thiếu nữ. Bà Rundi thích trẻ con còn hơn vị thế danh tiếng của chồng. Thực vậy, bà Rundi rất thích con cái; vì thế, khi biết họ không thể có con, hai vợ chồng đã hoàn thành hồ sơ để xin nhận đứa con nuôi thứ nhất. Phải nói là thứ nhất, vì không bao lâu sau, ông bà lại nhận thêm đứa thứ hai, thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy, thứ tám, thứ chín và thứ mười! Tiến sĩ Paul Rundi đã từng muốn giúp đỡ người khác, và giờ đây, trong cương vị người chồng và người cha, ông đã có cơ hội đem tất cả những gì ông đã học biết và đã tin tưởng vào cuộc sống thực hành.

Trong những cuộc thuyết trình về đề tài nuôi dạy con cái, tiến sĩ Paul Rundi thường nhấn mạnh với thính giả: “Cha mẹ là người có trách nhiệm coi sóc các con cái của Thiên Chúa.” Triết lý ấy đã được thể hiện rất rõ ràng trong gia đình của tiến sĩ Paul Rundi. Ông bà đã nhận nuôi những đứa trẻ có nhu cầu đặc biệt: hai đứa da trắng, một đứa Mỹ lai Nhật, hai đứa Ý gốc Nam Mỹ, hai đứa đa chủng, ba đứa da đen. Sau này, trong bản sơ yếu lý lịch, có lẽ tiến sĩ Rundi còn làm “cha” nhiều đứa trẻ khác nữa.

Từ một kỹ sư đến một nhà tâm lý, từ một văn sĩ đến một giảng giả, từ một chuyên gia về nuôi dạy trẻ đến một người cha tuyệt vời, tiến sĩ Paul Rundi đã trải qua những ơn gọi khác nhau.

Mặc dù thành công, nhưng tiến sĩ Paul Rundi vẫn chưa khám phá ra ơn gọi đích thực của mình. Thế rồi một ngày nọ, tiến sĩ Paul Rundi nhận được một cú điện thoại từ vị giám đốc điều hành chương trình truyền thanh quốc gia. Vị này đang tìm kiếm một tín hữu Công Giáo có lập trường cổ võ lý tưởng gia đình để quảng bá chủ trương của mạng lưới truyền thông. Nhân viên lý tưởng điều hành chương trình ấy phải là người có kiến thức sâu rộng về Thánh Kinh, nuôi dạy con cái và tâm lý học. Càng hữu dụng hơn nữa nếu như nhân viên ấy có biệt tài lôi cuốn sự chú ý của thính giả suốt ba giờ đồng hồ mỗi ngày, năm ngày mỗi tuần. Và mỗi khi xuất hiện, nhân viên ấy sẽ được chào đón nồng nhiệt.

Ngày 15 tháng 2 năm 1999, tiến sĩ Paul Rundi đã khám phá ra nguyên nhân vì sao trước kia ông đã không thể trở thành một kỹ sư, một hoạt náo viên, hoặc người điều khiển chương trình giao lưu trên truyền hình. Kể từ ngày ấy, nhà tâm lý học, nhà văn, người chồng, giảng giả chuyên môn, người cha của mười đứa trẻ cuối cùng đã tìm được ơn gọi của mình. Tiến sĩ Paul Rundi trở thành một chiến sĩ bảo vệ cho đức tin Công Giáo trước hàng ngàn thính giả trên toàn quốc, những người cần đến sự nâng đỡ tinh thần của ông. Ngày nay, tiến sĩ Paul Rundi đã là một nhà hộ giáo, một người bênh vực cho giáo lý, chính sách, hoặc định chế.

Phải chăng tiến sĩ Paul Rundi đã làm trọn ơn gọi của mình? Chỉ có Thiên Chúa biết tiến sĩ Paul Rundi có hoàn tất được bước kế tiếp trên hành trình thiêng liêng của ông hay không. Nhưng bạn có thể biết chắc được điều này: ngay từ ban đầu, Thiên Chúa đã biết Người sẽ ban cho con người ấy những tài năng nào. Thiên Chúa biết tiến sĩ Paul Rundi sẽ phải vượt qua bao nhiêu thử thách và gian nan cũng như rất nhiều cám dỗ mà tiến sĩ phải đạp dưới chân. Thiên Chúa biết người chồng và người cha tận tâm ấy sẽ phải chiến đấu như thế nào để nuôi dạy mười đứa con giữa một nền văn hóa cho rằng, “một đứa là vừa, hai đứa là thừa.” Thiên Chúa biết tôi tớ của Người khi nào và làm thế nào mà được tiếp xúc với hàng ngàn thính giả trên khắp đất nước Hoa Kỳ. Quan trọng nhất là Thiên Chúa còn biết một điều nữa: tiến sĩ Paul Rundi sắp cảm nghiệm được cuộc hiển linh cho bản thân.

 

<tiểu mục <trang nhà

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)