dongcong.net
 
   
 
 
 
 

 

 
Những Điều Suy Tư
 
 
Chuyền ngữ: Matthias M. Ngọc Đính, CMC
 
<<<    

Phần I: Lời Hứa
CHƯƠNG NĂM: THÔNG SÁNG

I. Gương Thánh Nhân

“Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm” – Lc 23:34

Vào giữa thế kỷ XVI, có một chiếc thuyền từ nước Anh căng buồm hướng về nước Ý, chở theo nhiều hàng hóa, trong đó có một bức tượng Đức Mẹ rất xinh đẹp.

Các thủy thủ trên thuyền được lệnh đưa bức tượng “Đức Mẹ Các Ơn” đến Naples, một thành phố Công Giáo thuộc bán đảo Ý. Khi thuyền gần đến nơi, thì một trận cuồng phong nổi lên, buộc thủy thủ đoàn phải cập vào Nettuno, một hải cảng nhỏ của nước Ý. Khi cuồng phong lắng dịu, thủy thủ đoàn lại lên đường hướng về Naples. Nhưng một cơn bão khác nổi lên và buộc thuyền phải quay trở lại Nettuno. Biển lại yên và các thủy thủ lại căng buồm lần thứ ba. Nhưng một lần nữa giông tố ập đến và người ta luận ra Đức Mẹ muốn ở lại Nettuno mãi mãi. Tuy vậy, mãi đến 350 năm sau, cư dân Nettuno mới hiểu ra vì sao cộng đồng của họ đã được tuyển chọn để đón nhận Mẹ Thiên Chúa.

Maria Goretti chào đời ngày 16 tháng 10 năm 1890 tại Corinaldo, nước Ý, là con đầu lòng của một gia đình có sáu mặt con. Thân phụ của Maria Goretti là một chủ đất, còn thân mẫu lo liệu chăm sóc các con. Khi Maria Goretti lên chín tuổi, thân phụ qua đời vì bị sốt rét. Maria Goretti phải đảm đương công việc nhà cửa, âm thầm coi sóc các em, nấu nướng, giặt giũ, may vá, và đến thị trấn Nettuno gần đó để mua sắm vật dụng cho gia đình. Chính tại Nettuno, Maria Goretti thường hay kính viếng đền thánh Đức Mẹ Các Ơn, tham dự thánh lễ và được rước lễ lần đầu vào cuối tháng 5 năm 1902.

Với mái tóc đen óng ả và cặp mắt nâu huyền, Maria Goretti thật duyên dáng và xinh đẹp. Về sau, bà thân mẫu của Maria Goretti nhớ lại, ngoài tập quán thường xuyên đến nhà thờ cầu nguyện, Maria Goretti không có một đặc điểm khác thường nào. Những người lớn trong làng cũng nhận thấy Maria Goretti rất mộ mến việc hiệp lễ. Cô còn đeo một cỗ chuỗi Mân Côi quanh cổ tay.

Trước khi qua đời, thân phụ của Maria Goretti có quen biết gia đình Serenelli, một gia đình rất nghèo khó, và cho họ làm thuê một khu đất. Khác với gia đình của Maria Goretti, gia đình nhà Serenelli gặp rất nhiều khốn khó. Bà Serenelli đã có lần đã nhận nước đứa con trai riêng của bà là Alessandro cho chết. Còn người cha thì chẳng hề lưu tâm gì đến đứa con trai này.

Khi Maria Goretti đến tuổi chớm thì, Alessandro – lớn hơn sáu tuổi – đâm ra điên đảo mê mẩn. Nhiều lần, Alessandro đã tỏ thái độ sàm sỡ, dụ dỗ Maria Goretti cho anh ta thỏa mãn nhục dục. Maria Goretti thường phải xô mạnh anh ta hoặc trốn đi chỗ khác. Mặc dù những cuộc nhũng nhiễu như thế vẫn tiếp diễn, nhưng Maria Goretti không dám hé môi với mẹ, vì không muốn cuộc sống của mẹ nặng thêm ưu phiền.

Sáng ngày 5 tháng 7 năm 1902, Alessandro thình lình bỏ dở công việc ngoài đồng và lẻn về nhà kho vì biết Maria Goretti đang coi sóc đứa em gái út của cô tại đó. Bị nhục dục làm mù quáng, Alessandro điên cuồng tóm lấy Maria Goretti trong nhà bếp và muốn xé rách trang phục của cô. Maria Goretti cương quyết không chịu khuất phục kẻ tấn công; vì thế, trong cơn điên cuồng, Alessandro đã đâm túi bụi mười bốn nhát vào tim, phổi và ruột của Maria Goretti. Những tiếng rên rỉ: “Chúa ơi! Chúa ơi! Mẹ ơi, con chết mất!” đã làm đứa em gái nhỏ của Maria Goretti thức giấc và khóc thét lên. Nghe tiếng khóc bất thường của con, bà mẹ của Maria Goretti vội vã chạy vào nhà và nhìn thấy đứa con gái yêu quí của mình giữa vũng máu.

Maria Goretti tức tốc được đưa đến bệnh viện, và phải chịu đau đớn khủng khiếp suốt hai mươi giờ đồng hồ. Các bác sĩ giải phẫu cố gắng hết sức để cứu chữa và họ tỏ ra kinh ngạc vì một thiếu nữ bị đâm những mười bốn nhát dao chí tử lại có thể kéo dài sự sống lâu đến như thế. Trước lúc Maria Goretti hấp hối, cha sở địa phương đã cho cô chịu các phép bí tích sau hết. Chính trong những giây phút cuối cùng ấy mà vận mệnh kẻ sát nhân là Alessandro đã được vĩnh viễn biến đổi. Khi người ta hỏi Maria Goretti có tha thứ cho kẻ giết hại mình không, cô đã trả lời: “Có. Vì lòng yêu mến Chúa Giêsu, tôi tha thứ cho anh ấy… và tôi muốn anh ấy được ở với tôi trên thiên đàng.” Hướng mắt về bức ảnh Mẹ Thiên Chúa, Maria Goretti đã từ giã cõi đời vào ngày 6 tháng 7 năm 1902, khi chưa đầy mười hai tuổi.

Alessandro bị kết án ba mươi năm tù, mức án tối đa theo luật pháp nước Ý dành cho các phạm nhân vị thành niên. Không chịu hối lỗi, anh ta bị biệt giam suốt ba năm, và bắt đầu rơi vào tình trạng u uất. Một đêm kia, khi đang ngủ, Alessandro chiêm bao thấy Maria Goretti bận áo trắng, đứng trong một khu vườn xinh đẹp. Maria Goretti cầm mười bốn nhánh hoa huệ và trao cho Alessandro. Khi Alessandro đưa tay đón nhận bó hoa, tức thì mỗi nhánh hoa biến thành một ngọn lửa màu trắng, tượng trưng cho mười bốn vết thương mà Maria Goretti đã chịu. Không bao lâu sau, Alessandro đã xin gặp đức giám mục và xưng tội.

Hai mươi bảy năm sau, Alessandro được ra khỏi tù. Anh đã gặp bà mẹ của Maria Goretti để xin tha thứ về hành vi anh đã gây ra đối với con gái của bà. Bà mẹ của Maria Goretti trả lời: “Maria đã tha thứ cho anh. Sao tôi lại không tha thứ cho anh?” Hành vi hòa giải cuối cùng ấy đã diễn ra vào đêm Giáng Sinh. Vài giờ sau đó, người mẹ của nạn nhân và kẻ sát nhân đã cùng tham dự thánh lễ và hiệp lễ.

Ngày 24 tháng 6 năm 1950, câu chuyện của Maria Goretti đã lên đến đỉnh điểm tại Rome, khi đức Pius XII chính thức tôn phong vị hiển thánh trẻ tuổi nhất trong Giáo Hội. Trong lúc hơn năm mươi ngàn người hiện diện tham dự nghi thức phong thánh, một cuộc tụ họp đông đảo chưa từng thấy, thì tại một đan viện cách đó nhiều dặm, một linh hồn đang âm thầm cầu nguyện, và lưu lại đó cho đến ngày mãn đời.

II. Suy Niệm

“Sự thật là gì?”

Thật kinh ngạc vì người ta đã tổ chức không biết bao nhiêu cuộc thảo luận nhằm giải đáp một câu hỏi đơn giản: “Sự thật là gì?” Suốt hai ngàn năm qua, kể từ ngày Chúa Giêsu bị nộp cho quan Philatô và bị nhạo báng, lời giải đáp cho câu hỏi đơn giản ấy dường như vẫn lẩn tránh mọi thế hệ. Từ những cuộc tranh chấp biên giới cho đến những cuộc tranh luận hiến pháp, từ những cuộc đấu đá ở hậu trường cho đến những trận cãi vã giữa những người yêu nhau, cuộc tìm kiếm sự thật quả thực là một hành trình gian nan nhất đối với chúng ta, những người tin rằng giới răn, “Ngươi không được làm chứng dối chống lại người chung quanh” không đơn thuần chỉ là một điều gợi ý.

Đối với người trẻ, cuộc tìm kiếm sự thật thường bắt đầu từ bè bạn, cha mẹ, huấn luyện viên, thầy cô, hoặc một người nào đó mà họ ngưỡng mộ. Trong mọi trường hợp, bạn luôn tự hỏi không biết họ có sống “thật” với bạn hay không. Trong những quyết định cần phải thực hiện liên quan đến cuộc sống của bạn cũng tương tự như thế. Khi bạn tin có sự khác biệt giữa cái đúng và cái sai, và như thế, đòi phải có một phán đoán đúng đắn, thì khi ấy, bạn tin rằng bạn đã được ban tặng một lương tâm, một cung thánh nội tâm, nơi diễn ra trận chiến giữa hai bên thiện và ác. Nếu như bạn chấp nhận lý thuyết rằng hai bên đang tranh đấu để giành lấy chủ hướng của bạn, thì bạn phải nhận trách nhiệm vì đã ngả theo bên này hoặc bên kia, xác nhận bên nào đã chiến thắng cuộc chiến nơi tâm hồn của bạn.

Hơn nữa, “cuộc chiến thiêng liêng” ấy không phải chỉ là tránh lánh điều dữ, mà còn là một lời mời gọi hãy làm việc lành. Và quyết định “tranh đấu vì niềm tin” có thể khiến bạn phải “lãnh đủ” khi những người bạn yêu quí, những người bạn không yêu quí và những người bạn không quen biết, tất cả đều hùa nhau chỉ trích những điều bạn nói, bạn làm, hoặc không làm.

Bạn sẽ nói những gì? Sẽ hành động thế nào? Đám đông sẽ phản ứng với bạn như thế nào? Họ có cho bạn là điên khùng, khó ưa, hoặc ngớ ngẩn không? Họ có đòi bạn phải ghi danh học các khóa “ứng xử” hay không? Hoặc họ chỉ thán phục sự thành thực của bạn? Bất kỳ ai dám đi ngược lại quan điểm của đám đông nhất định sẽ tạo ra bàn tàn. Bè bạn và những người lạ sẽ thắc mắc về niềm tin, về lối sống và về sự can đảm của bạn. Nhưng dù kết luận của họ có thế nào đi nữa, thì họ vẫn sẽ nhận ra một điều gì đó đang diễn ra trong đời sống của bạn. Một điều gì đó đã xóa bỏ, hoặc ít nhất cũng làm giảm bớt, nỗi sợ hãi gắn liền với những hành động như thế.

Có thể bạn sẽ tìm kiếm những đồng minh với bạn, nhưng chẳng tìm được một ai. Có thể bạn nhẫn nại chờ đợi cha mẹ bênh vực cho lối sống của bạn, nhưng rồi bạn thất vọng. Bạn sẽ nghiệm được điều Chúa Giêsu đã từng cảm nghiệm khi nhiều bạn hữu của Người đã bỏ đi vì những ngôn từ và những giáo thuyết của Người. Nhưng bất kỳ ai cũng có một lập trường, tại sao bạn lại không? Nếu bạn có biến thành “tia lửa,” người khác mới có thể noi theo, mới sống theo lời khuyên của bạn, và cuối cùng mới bắt tay hành động vì lợi ích cao cả. Nếu như họ làm như thế, nếu như bạn cũng làm như thế, thì có lẽ một cuộc cách mạng vì sự thật sẽ khởi đầu. Một thành quả như thế lại không phải là sự thay đổi hứng thú hay sao?

Nếu như bạn xa rời “sự thật,” thì việc ngăn cản người khác khác đừng bước theo vết chân của bạn có nghĩa lý gì nữa? Xa rời sự thật chính là nguyên nhân khiến nhiều người trẻ đi vào con đường hư đốn. Tuy nhiên, rất nhiều người trong số họ có lẽ sẽ không trách cứ bạn, vì nếu thế thì họ sẽ mất hết bạn bè. Thà đi theo đám đông còn hơn là bị gán cho là đồ “luân lý quá đáng.”

Một điều gì đó đang mời gọi bạn. Phải chăng “bụi gai rực lửa” đang bừng cháy trong tâm hồn bạn? Phải chăng bạn bị thu hút vì ca từ của một bài hát, vì một bức tranh trên tường, vì một lời khuyên của cha mẹ, hoặc vì ký ức về một người bạn? Phải chăng lý do khiến bạn lưỡng lự có liên quan đến lương tâm mà Thiên Chúa đã phú ban cho bạn? Bạn có cho rằng đó chỉ là một sự trùng hợp thường xảy ra trong những hoàn cảnh khó khăn, khi phải thực hiện một sự lựa chọn hay không? Bạn hãy tưởng tượng điều ấy tương tự như khi Chúa Giêsu đã khóc trong vườn Cây Dầu trước lúc chịu nạn.

Phải chăng đây là lúc bạn nhìn thấy điều bạn có thể làm được cho Chúa? Phải chăng đây là lúc bạn đáp trả tiếng gọi hãy sống can trường? Phải chăng đây là lúc bạn nêu gương sáng cho tha nhân? Phải chăng đây là lúc bạn bước theo Đường, Chân Lý, và Sự Sống? Nếu vậy, đây cũng là thời điểm dành cho sự thông suốt của bạn.

Bạn làm gì khi không có ai nhìn thấy!

Bạn đã từng nghe nói: “Chúng ta cần trở về với những giá trị của gia đình.” Chủ đề này đã được đề cập trong vô số những bài viết, những bài nói trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các tạp chí, các buổi tọa đàm, các buổi thảo luận. Nhiều chuyên gia về gia đình đã phát hành những quyển sách và những băng đĩa về đề tài “giá trị gia đình,” hứa hẹn một thần dược cần thiết giúp các người trẻ hôm nay thăng tiến và trở thành các công dân đầy tinh thần trách nhiệm. Nhiều nhà tư vấn đã tăng thu nhập nhờ việc bán chỗ cho các doanh nhân ghi tên dự các khóa học về đạo đức trong kinh doanh. Lãnh đạo các công ty hy vọng số quyết định thiếu đạo đức hiện làm tổn thiệt công ty của họ sẽ được giảm thiểu. Các tướng lãnh sửa đổi những chương trình huấn luyện để bảo đảm cho các tân binh một căn bản về đạo đức. Trong khi đó, các chính trị gia thỏa thuận về việc chi tiền thuế cho những khóa “ứng xử lịch thiệp,” giúp những người hoạt động chính trị biết sống tử tế với nhau.

Bạn trẻ có thể tự hỏi, nếu người lớn không làm chủ được lối sống bản thân, thì lấy quyền gì mà bắt người trẻ phải làm chủ lối sống. Trước khi khởi xướng một phong trào toàn quốc tấn công giới phụ huynh và những quyền bính khác, chúng ta hãy tự đặt một vài câu hỏi. Ai có quyền bính tối thượng? Phải chăng Thiên Chúa là Đấng đã ban cho chúng ta những qui luật để vâng giữ? Phải chăng Thiên Chúa phải chịu trách nhiệm về sự tự do của chúng ta? Phải chăng Thiên Chúa là Đấng đã yêu thương thế gian đến độ đã hiến mạng sống Con Một Người vì chúng ta? Nếu như Thiên Chúa là câu trả lời, thì khi ấy tôi sẽ hỏi: “Tại sao bạn lại xúc phạm Đấng đã ban cho bạn sự sống, ý chí tự do và cơ hội để được sống với Con Một của Người trong vinh quang?”

Giả như bạn cương quyết không xúc phạm đến Thiên Chúa nữa, thì khi ấy, tôi xin đề nghị rằng, nếu bạn muốn làm cho nhân cách của bạn mạnh mẽ, bạn phải nói lên được sự khác biệt giữa đúng và sai, giữa tốt và xấu. Khả năng ấy được gọi là sự thông suốt. Nói cho đơn giản, đó là khả năng thực hiện những quyết định khôn ngoan. Dưới đây là danh mục những điều có thể giúp bạn xây dựng một nhân cách:

* Nhu hòa: phải quan tâm đến cung cách ăn mặc, nói năng hoặc hành xử.

* Biết ơn: phải ý thức Thiên Chúa, cha mẹ và tha nhân đã ban cho ta những gì.

* Trách nhiệm: phải sẵn sàng chấp nhận hậu quả của các quyết định tốt xấu của ta.

* Khôi hài: biết vui hưởng cuộc sống, biết tươi cười, nhất là với chính mình.

* Tha thứ: không bực dọc với tha nhân vì điều sai trái của họ.

* Chân thực: tôn trọng và sẵn sàng sống theo “sự thật.”

* Tự chủ: làm chủ cách cư xử hoặc những ước muốn của ta vì lợi ích bản thân và lợi ích tha nhân.

* Thuần thục/Khả tín: tin tưởng và quan hệ tốt với tha nhân.

* Can đảm/Thâm tín: đương đầu với những khó khăn và vững vàng trong niềm tin của mình.

* Phục vụ: hy sinh thời giờ, tài năng, hoặc tiền bạc cho tổ chức hoặc cho những người đang cần thiết.

* Tự trọng: trân trọng đúng mức nhân phẩm của bản thân.

* Vâng phục: tuân giữ các luật lệ, những giới hạn, và quyền bính của những người làm đầu.

* Nhẫn nhục: không vội biện hộ và biết chấp nhận những hoàn cảnh khó khăn.

* Trân trọng sự thánh thiêng của sự sống: hoàn toàn tin nhận sự sống con người, từ lúc đầu thai cho đến khi qua đời, tất cả đều thánh thiêng.

* Lương tâm chức nghiệp: giữ các nhân đức luân lý trong lao động và chuyên cần làm việc.

* Khoan dung: nhìn nhận và tôn trọng các chủng tộc, tôn giáo, văn hóa và phong tục của tha nhân.

* Khiêm nhượng: dè dặt đúng mức trong việc nhìn nhận các tài năng và phúc lộc của mình.

* Tín thành: trung thành với các trách vụ, bổn phận, kỷ luật hoặc các lời khấn hứa.

* Từ ái/Cảm thông: tế nhị/chu đáo với những người gặp hoàn cảnh khó khăn hoặc đau khổ.

* Tiết độ: cần kiệm trong chi tiêu các nguồn lợi, và tránh lối sống xa hoa.

* Công bằng: cư xử bình đẳng với mọi người trong các lãnh vực giáo dục, y tế, kinh tế, và cả những hình phạt.

* Chung thủy: bảo vệ và tôn trọng gia đình cũng như nguồn gốc, truyền thống và tập tục của gia đình.

* Tận trung: nỗ lực phấn đấu, bất chấp trở ngại hoặc cảm giác chán chường.

Tất cả những tính cách trên đây tạo nên một “biểu chứng” đem lại vinh quang cho Thiên Chúa. Tuy nhiên, còn một thực thể khác có thể nâng đỡ bạn nhiều hơn nữa. Đó là Đức Tin! Đức tin là căn bản cần thiết giúp bạn tin tưởng vào Thiên Chúa, vào những nguyên tắc của Người, vào niềm hy vọng muôn đời Người ban cho bạn ở cõi đời này và dành cho bạn ở đời sau.

III. Chứng Nhân Thời Đại

Từ chống đối đến hoán cải:

Cuộc đời của Danny

Bố của Danny xuất thân từ một gia đình đổ vỡ; còn mẹ anh, từ một gia đình quyền quí. Bố mẹ Danny sinh được chín mặt con; tất cả đều học trường Công Giáo. Danny là con trai áp út. Anh lớn lên tại một khu vực nghèo nàn. Nơi đó, màu da của anh bị coi là màu da thiểu số, và bạo lực đã trở nên qui luật người ta dùng để cư xử với nhau hằng ngày. Khi hồi tưởng, Danny thuờng sánh môi trường lớn khôn của anh với những nơi mà đám trẻ con trong các khu ổ chuột ngày nay gọi một cách thân thiết là “ổ ấm.”

Chưa tới mười ba tuổi, Danny đã bị đánh đập, trấn lột và gặp vô số những cám dỗ xấu xa. Ma túy, đĩ điếm và đồ ăn cắp là thực đơn cám dỗ hằng ngày của Danny. Hai thằng lỏi thường xuyên dụ Danny bước vào lối sống tha hóa đã gặp một kết cuộc xúi quẩy. Một thằng bị giết chết, một thằng bị án chung thân.

Từ khi còn nhỏ, Danny đã được học biết hai điều: thứ nhất là phải tránh xa điều xấu; thứ hai là đừng xét đoán người khác. Nguồn sức mạnh nội tâm ấy về sau đã giúp cho anh rất nhiều.

Danny còn gặp một sự khó nữa trong cuộc sống. Bố anh là một người nghiện ngập. Mặc dù là cục cưng của ông, nhưng cũng như tám anh chị em khác, Danny đã phải lãnh đủ những trận lôi đình thường ngày của ông thần dữ dằn này. Mẹ của Danny thường là mục tiêu số một của các trận thịnh nộ. Có một lần bà tỏ ra âu sầu cho một phụ nữ hàng xóm đã chịu cảnh đau đớn mất con trong lúc lâm bồn, vậy mà ông bố của Danny đã nhân cơ hội ấy mà vu cáo bà là nguyên nhân trực tiếp gây nên cái chết của đứa trẻ! Những cuộc xô xát đã từng bước hủy hoại gia đình của Danny.

Khi Danny mười một tuổi, tất cả các anh chị của Danny đều nghiện ma túy. Lúc đầu, Danny cố gắng tránh xa sự quyến rũ, nhưng dần dà cũng sa đà vào vết chân của họ. Mười bốn tuổi đầu, Danny đã chơi cocaine, anh còn được hưởng 25% lợi tức khi tham gia đường dây buôn bán ma túy.

Mặc dù bị sự dữ vây kín tư bề, nhưng Danny vẫn không bỏ việc cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Vẫn trung thành như hồi còn nhỏ dại, người thiếu niên buôn bán ma túy hằng đêm vẫn cầu nguyện, vẫn cảm tạ Thiên Chúa về cuộc sống của anh, mặc dù vẫn đầy gian nan. Danny chưa bao giờ chối bỏ Thiên Chúa, và Thiên Chúa cũng chưa bao giờ bỏ rơi anh.

Khi vào trung học, Danny đã biết khéo léo xoay xở, dày dạn và khôn lanh trước tuổi. Kinh nghiệm ấy, cộng với những rạn nứt trong gia đình, lẽ ra đã hủy hoại cuộc đời của Danny, không để anh vận dụng được hai tài năng Thiên Chúa đã ban tặng. Đó là năng khiếu thể thao và khả năng học vấn của Danny. Hai tài năng ấy đã giúp Danny bước vào một cuộc sống khác.

Danny lập được những kỷ lục điền kinh; anh tham gia đội bóng chày tranh chức vô địch, và là một cầu thủ ngoại hạng. Bên cạnh những năng khiếu thể thao, Danny còn là một học sinh xuất sắc. Những môn học xem ra rất dễ dàng đối với anh. Từ huấn luyện viên cho đến đồng đội, từ thầy cô cho đến bạn bè cùng lớp, ai ai cũng yêu mến và quí trọng con người trẻ tuổi xuất thân từ cảnh khốn cùng. Họ biết Danny có khả năng cống hiến rất nhiều, nhưng lại không biết anh cũng đã chịu đựng rất nhiều.

Tình trạng ông bố của Danny ngày càng tồi tệ, rượu chè đã phá nát thân thể, linh hồn và cả gia đình của người đàn ông ấy. Chị của Danny bỏ nhà ra đi; rồi những xô xát giữa ông bố với anh trai lớn; những cãi vã giữa ông bố với bà mẹ. Mặc dù vậy, Danny vẫn nuôi những giấc mơ. Anh muốn giúp đỡ người khác. Danny còn muốn một điều khác nữa. Anh muốn cứu vớt bố anh.

Trong giai đoạn tăm tối nhất trong cuộc đời, Danny vẫn cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Anh đi dự thánh lễ Chúa Nhật và hiệp lễ đều đặn. Anh thường tản bộ lâu giờ trong những khu rừng vắng để hàn huyên với Đấng Tạo Hóa. Danny thường hay tỉnh giấc lúc nửa đêm và thưa cùng Thiên Chúa: “Lạy Chúa, Chúa có ở đó không?” Và Danny luôn nghe được câu trả lời: “Có!” Mặc dù Danny có thể dễ dàng trách cứ Thiên Chúa về những gì anh đang chịu đựng, nhưng anh lại muốn lãnh hết trách nhiệm. Danny tự nhủ rằng Thiên Chúa chưa bao giờ nổi giận với anh, bởi vì anh chơi bóng đẹp, học hành giỏi và có tinh thần đồng đội. Tất cả đều nhờ Đấng Tạo Hóa.

Trước khi vào đại học, Danny đã cai nghiện và không buôn bán ma túy nữa, nhưng anh vẫn không sao bỏ được “thánh giá” của mình lại sau lưng. Một ngày nọ, mẹ của Danny được đưa gấp vào bệnh viện vì bị xuất huyết. Đó là lần đầu tiên Danny nhận ra mẹ anh đã yếu nhược. Tình cảnh đó khiến Danny rất đau lòng. Thê thảm hơn nữa, Danny còn chứng kiến cảnh bố anh rủa xả mẹ anh đang lúc bà đau đớn nằm bệnh. Chính lúc ấy, Danny linh cảm một trong hai khả năng nhất định sẽ xảy ra: bố anh sẽ giết chết mẹ anh hoặc sẽ tự sát; hoặc cả hai khả năng đều xảy ra.

Thời điểm đã đến. Danny biết mọi người trong gia đình, ngoài anh và mẹ anh, đều đã chán ngấy bố anh. Danny về nhà và nói thẳng với bố anh: “Bố à, bố có nhận ra những gì bố đã gây ra cho nhà này không?” Khi nghe những lời ấy, bố của Danny đã òa khóc: “Con ơi, bố là một người đã chết từ lâu rồi.” Thế rồi Danny đi học.

Hôm ấy, Danny không tài nào tập trung được. Anh không sao nhét nổi vào đầu một chữ vì những lời của bố anh cứ xoáy vào tâm trí của anh. Đầu hàng thực tế có lẽ cũng chẳng khó gì! Tuy nhiên, Danny vào nhà thờ, nhìn lên tượng Chuộc Tội và cầu nguyện: “Lạy Chúa, Chúa phải làm một điều gì chứ!” Bỗng nhiên, Danny dường như nghe có tiếng nói trong lòng: “Rồi con sẽ thấy!” Giật mình, Danny bắt đầu đối đáp với tiếng nói ấy: “Không, Chúa chẳng hiểu đâu.” Lần thứ hai, Danny lại nghe: “Rồi con sẽ thấy!” Ngay lúc ấy, Danny biết lời cầu nguyện của anh đã được nhậm lời.

Danny tức tốc đến nhà bạn gái và chia sẻ kinh nghiệm của mình. Lẽ ra cô ấy đã chế nhạo người bạn của mình, nhưng vì là một Kitô hữu có lòng yêu mến Thiên Chúa và am hiểu Thánh Kinh, nên cô đã khích lệ Danny tiếp tục cố gắng để cứu vớt linh hồn thân phụ của anh.

Danny đưa mẹ ra khỏi nhà. Chỉ vài tháng sau, bố anh đã bỏ hẳn rượu chè, ông đi lễ trở lại, và bắt đầu đọc Thánh Kinh. Ông dâng cúng một số tiền cho các nơi truyền giáo. Ông viết thư cho mọi người trong gia đình, xin bỏ qua tất cả những gì ông đã gây ra hoặc đã thiếu sót cách nào. Ông thường làm dấu Thánh Giá trên trán Danny. Ông đã thay đổi hoàn toàn. Không bao lâu sau, mẹ Danny trở về nhà, và bà đã được đón mừng bằng những món quà trong thái độ yêu mến và quí trọng mà bà vẫn chờ mong suốt hai mươi năm.

Thế rồi, bố của Danny bị tai biến và không nói được nữa. Người đàn ông một thời sa đọa kia tin Thiên Chúa đã trừng phạt ông vì ông đã dùng miệng mà nguyền rủa gia đình. Ông nhớ lại câu truyện thân phụ của thánh Gioan Tẩy Giả là Giacaria đã bị phạt vì cứng lòng không tin lời thiên thần loan báo vợ ông sắp hạ sinh một người con. Thiên thần đã nói: “Ta là Gabriel hằng chầu kính trước tòa Thiên Chúa, ta đã được sai đến nói với ngươi và đem tin mừng này cho ngươi! Và này, ngươi sẽ phải nín thinh, không thể nói được nữa, cho đến ngày các điều ấy xảy ra, vì lẽ ngươi đã không tin các lời của ta, những lời đến thời đến buổi sẽ nên trọn” (Lc 1:19-20).

Lời hứa của Thiên Chúa dành cho Danny cũng đã đến ngày ứng nghiệm. Trước khi qua đời, bố của Danny đã trở về với đức tin. Ông không còn cảm thấy cô đơn. Và trước sự biến cải lạ lùng nơi tâm hồn ông, một linh hồn khác đã được cứu vớt. Người chú của Danny không những trở lại với Thiên Chúa, mà còn trở thành một tín hữu Công Giáo, sau khi đã chứng kiến phép lạ về cuộc đời người anh của ông.

Giờ đây Danny đang chơi cho đội bóng của đại học. Anh thấy Thiên Chúa như người tạt quả bóng ở góc sân, giúp anh vượt qua những thử thách, chẳng hạn khi anh nghe biết người bạn thân thiết nhất qua đời hoặc khi người bạn gái của anh chia tay với anh.

Giờ của Danny

Danny còn nhận được thêm một mặc khải nữa: Thiên Chúa sắp sửa kết giao với anh. Và kể từ đó, Danny không còn hút thuốc, uống rượu, và tự mãn nữa.

Một ngày nọ, khi đang chạy bộ dọc bờ sông, Danny như nghe được tiếng Chúa trong lòng: “Con hãy bắt đầu ngay từ bây giờ.” Danny biết mình phải bắt tay phụng sự Thiên Chúa ngay bây giờ, chứ không đợi đến khi tốt nghiệp đại học, cũng không phải chờ tới lúc hành nghề bác sĩ hoặc ổn định được tài chánh. Không, Thiên Chúa muốn Danny trở lại, ngay lúc này! Danny biết mình không thể chờ cho đến khi đủ bốn mươi tuổi. Anh biết Thiên Chúa đã có một chương trình riêng cho anh. Anh chỉ cần khám phá để biết chương trình ấy là gì mà thôi.

Lúc đầu, Danny suy gẫm những bức thư của thánh Phaolô. Anh biết mình có một khát vọng và một thiên khiếu rao giảng tình yêu sâu thẳm của Chúa Kitô, và như vậy là anh có thể tham gia vào một nhóm truyền giáo đại kết Kitô Giáo. Một đêm kia, khi đang cầu nguyện với nhóm, Danny cảm nghiệm sự hiện diện của Thiên Chúa một cách đặc biệt. Bỗng nhiên, một người trong nhóm nói nhỏ với Danny: “Hẳn anh đã biết rồi chứ? Tôi vừa nghe Thiên Chúa nói với anh: ‘mừng con đã trở về!’” Danny giật mình. Giờ đây, anh đã hiểu ra Chúa Giêsu muốn nói gì khi Người giảng dụ ngôn “đứa con phung phá.”

Những người khác cũng nhìn thấy sự thay đổi nơi Danny. Một lần kia, giáo sư và cả lớp đã nghe Danny biện luận về sự nhận thức của một nhân vật trong vở kịch của Shakespear. Khi tan học, một sinh viên đã hỏi Danny: “Anh là tín hữu Kitô phải không?”

Danny cầu nguyện hai giờ mỗi ngày. Anh đọc Thánh Kinh, giữ chay tịnh, và lưu tâm lắng nghe những sứ điệp nội tâm dành cho gia đình. Một sứ điệp có liên quan đến William, anh cả của Danny. Danny nghe Thiên Chúa nói Người muốn William trở về với đức tin. Danny cầu nguyện thật nhiều cho người anh của mình. Một thời gian ngắn sau đó, William thổ lộ với Danny rằng Thiên Chúa đã nói với anh qua một tai nạn giao thông mới xảy ra trước đó. Khi Danny hỏi Thiên Chúa đã nói những gì, William đã trả lời: “Thiên Chúa phán, ‘hỡi William, Cha muốn con trở về.’” Và cũng như Danny, William đã trở về với Chúa.

Terry, người anh trai thứ hai của Danny cũng cảm nghiệm được sức mạnh của lời cầu nguyện. Danny còn nhận được một sứ điệp nội tâm hãy tập trung cầu nguyện cho Terry. Lời cầu nguyện của Danny đã được nhậm lời. Khi đến thăm Terry, Danny đã lấy can đảm để cho người anh thân thiết nhất của mình biết rằng Thiên Chúa muốn anh trở về với Người. Terry hỏi: “Ai nói với chú như thế?” Danny đáp: “Chúa.” Đến lúc ấy, Terry mới kể ra những điều chính anh đã được nghe trong tâm hồn suốt một tuần qua. Giờ đây, Terry đã thường xuyên cầu nguyện, tham dự thánh lễ hằng ngày và mời các giáo sĩ ghé thăm nhà.

Người anh thứ ba của Danny cũng được cảm nghiệm thần lực chữa lành của Thiên Chúa. Brandon là một người có cá tính rất mạnh. Hầu hết cuộc đời, anh đã gặp toàn những khốn khó, nhưng Thiên Chúa và đầy tớ của Người là Danny vẫn không từ bỏ anh. Suốt sáu năm nay, Danny vẫn cầu nguyện cho người anh cùng khổ ấy. Một ngày nọ, Brandon bỗng nhiên nói với Danny: “Tôi tin Thiên Chúa có một chương trình gì đó cho cuộc đời tôi.” Một thời gian ngắn sau đó, khi đang cầu nguyện, Danny cảm thấy khẩn thiết phải cầu nguyện cho Brandon. Danny như nghe Thiên Chúa phán: “Bây giờ đã đến lúc.” Một vài giờ sau, Danny gọi điện về gia đình và được biết Brandon đã gặp tai nạn giao thông trầm trọng vào đúng lúc mình đang cầu nguyện cho anh ấy. Danny vội đến gặp Brandon, nhưng chưa kịp hỏi thăm xem anh ấy cảm thấy thế nào, thì Brandon đã nói: “Danny, chú có nhớ anh đã từng nói Thiên Chúa có một chương trình cho cuộc đời của anh không?” Danny gật đầu xác nhận. “Vâng, lúc này là thời điểm ấy!” Và một người anh nữa của Danny đã được ơn trở về.

Y khoa, truyền giáo, hoặc hôn nhân?

Danny phải quyết định một số vấn đề: tiếp tục học hành để trở thành một bác sĩ? Theo đuổi ước nguyện trở thành một nhà truyền giáo? Hoặc trở thành một linh mục? Thiên Chúa muốn gì về cuộc đời của Danny? Dưới đây là câu trả lời.

Danny cảm thấy muốn cộng tác với một nhóm truyền giáo đại kết. Tổ chức này dường như đem lại cho Danny một con đường anh đang tìm kiếm, vì họ thường xuyên gửi các Kitô hữu đến những khu truyền giáo trên khắp thế giới. Thật thú vị, tổ chức này cũng buộc thành viên của họ phải giữ cuộc sống độc thân. Đối với Danny, đời sống độc thân còn tương hợp với một ơn gọi khác mà anh đang cân nhắc: Danny muốn trở thành một linh mục. Nhưng ở đây cũng có những phức tạp, bởi vì tổ chức truyền giáo này không muốn có thành viên linh mục. Khi Danny bày tỏ ước nguyện ấy với các vị lãnh đạo của tổ chức, họ vẫn không đưa ra quyết định. Tuy nhiên,, họ yêu cầu anh tạm hoãn quyết định và tham gia một chuyến công tác đến Costa Rica. Danny đồng ý.

Trong thời gian phục vụ người nghèo tại Trung Mỹ, Danny đã cảm nghiệm một phép lạ khác nữa trong cuộc sống. Một ngày nọ, Danny tình cờ gặp một người lớn tuổi bó đầy lá thuốc trên mặt. Danny hỏi: “Ông bị sao vậy?” Người đàn ông không nói được nhưng vẫn cố gắng cho biết miệng của ông rất đau đớn. Danny đề nghị ông nên đến gặp một nha sĩ, nhưng khắp vùng đất nghèo nàn này tìm đâu được một nha sĩ. Danny chỉ còn cách cầu nguyện. Anh đặt tay lên đầu người đàn ông và cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, nhân danh Chúa, con xin Chúa chữa lành cho người này.” Hôm sau, người đàn ông hối hả đến gặp Danny và reo lên: “Anh đã chữa cho tôi lành rồi, anh đã chữa cho tôi lành rồi.” Danny cho người đàn ông ấy biết chính Chúa Giêsu mới là Đấng đã chữa lành cho ông.

Sau chuyến công tác thứ hai đến Philipines, Danny buộc lòng phải chia tay với nhóm truyền giáo đại kết vì anh vẫn cảm thấy muốn làm linh mục. Danny nghĩ rằng anh phải khởi sự lập tức. Anh xin gia nhập chủng viện, và cho rằng lời hứa giữ đời sống độc thân là một bước đương nhiên để tiến tới thiên chức linh mục. Nhưng Danny biết ơn gọi thánh chức đòi hỏi một sự suy xét cẩn trọng hơn nữa. Trong đầu Danny, vấn đề duy nhất của anh là xét xem mình có thể giữ được đời sống độc thân theo luật Giáo Hội hay không. Trên con đường tiến đến thiên chức linh mục, Danny cần phải trả lời cho câu hỏi: “Thiên Chúa mời gọi tôi kết ước với Giáo Hội, hoặc kết ước với một con người?”

Hai năm sau, Danny được gửi đi du học tại Rome. Trước khi ra đi, Danny cùng mười một chủng sinh được qua Mexico để hoạt động và tìm hiểu văn hóa của người dân địa phương. Danny đã đạt được cả hai mục tiêu khi tình cờ quen biết một thiếu nữ xinh đẹp tên là María. Giờ đây, Danny gặp thêm một vấn đề: anh yêu mến Giáo Hội, nhưng cũng yêu thương María; vì thế, anh cần phải thực hiện một sự lựa chọn. Khi Danny đem mối nan giải của mình tâm sự với các chủng sinh cùng lớp, một người đã nêu ý kiến: “Cậu phải dứt khoát với cô ấy.” Danny biết rằng María là một thử thách đối với anh. Danny thành thực cho María biết mặc dù hai người đã mộ mến nhau, nhưng anh vẫn muốn trở thành một linh mục. María sẵn lòng chấp nhận thực tế ấy.

Suốt mấy tuần lễ sau đó, hai người có nhiều thời giờ bên nhau, Danny cho María biết anh buộc phải quyết định về vấn đề linh mục trước khi đi Rome. Trong lúc ấy, hai người đã thẳng thắn trao đổi với nhau nhiều vấn đề quan trọng như sự nghiệp, gia đình, cộng đồng, đức tin và những đề tài khác “ảnh hưởng đến cuộc sống.” Danny thừa nhận: “Chúng tôi có nhiều suy nghĩ tương đồng đến mức María có thể làm vợ tôi, em gái tôi, hoặc chính con người của tôi.” Tuy nhiên, lời hứa vẫn chỉ là lời hứa. Danny sẽ rời Mexico để lên đường sang Rome du học.

Đến ngày trở về Hoa Kỳ để chuẩn bị, Danny lập tức đến gặp vị linh hướng. Trong cuộc gặp gỡ ấy, người chủng sinh trẻ tuổi đã cho vị linh mục biết anh vẫn chưa thể quyết định dứt khoát sẽ trở thành linh mục hoặc kết hôn với María. Trước sự bỡ ngỡ của Danny, vị linh hướng trả lời: “Con sắp kết ước với Giáo Hội. Vì vậy, con không nên đi Rome nếu như đến lúc này mà con vẫn chưa thể dứt khoát.” Đối với Danny, sự lựa chọn lúc này cần phải minh bạch.

Sau khi cẩn thận suy xét, Danny nhận thấy anh vẫn có thể phục vụ Giáo Hội trong bậc gia đình. Danny cũng nhận ra ơn gọi mới của mình chưa chắc sẽ là một con đường dễ dàng trong tương lai.

Hôm nay, Danny biết anh đã quyết định đúng, anh và María đang chờ đứa con thứ hai của họ chào đời.

Khi được hỏi anh nghĩ thế nào về lời Chúa sẽ phán với anh trong ngày Phán Xét, Danny mau mắn trả lời: “Tốt lắm, hỡi người đầy tớ tốt lành và trung tín, vì ngươi đã yêu mến María và các con cái của ngươi; vì thế, Ta cũng yêu thương ngươi. Hãy vào hưởng sự vui mừng của Chúa ngươi.”

 

<tiểu mục <trang nhà

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)