dongcong.net
 
   
 
 
 
 

 

 
Những Điều Suy Tư
 
 
Chuyền ngữ: Matthias M. Ngọc Đính, CMC
 
<<<    

Phần II: Cuộc Thương Khó
CHƯƠNG TÁM: MÃO GAI

I. Gương Thánh Nhân

“Bạn sẽ chọn gì?”

Trong lịch sử, những lãnh tụ của các lục địa, quốc gia, bộ tộc, làng xã, là những người đã thực hiện những quyết định, tạo ảnh hưởng sâu rộng trong cuộc chiến giữa thiện và ác. Các nhà chính trị suy nghĩ để đưa ra những bộ luật bảo đảm cuộc sống cho những người làm cha mẹ và con cái. Các luật gia, thẩm phán và viên chức thuộc các tòa án chọn ra những điều luật trong hiến pháp, các tu chính án, những điều khoản và những sắc luật hầu thuyết phục dư luận quần chúng. Các thầy thuốc chọn thuốc men phù hợp cho bạn, cha mẹ và ông bà của bạn, nhưng họ cũng bắt những người không đủ khả năng phải chịu thiệt thòi. Một số người điều hành các phương tiện truyền thông và giải trí chọn lựa những điều cho bạn xem, đọc, nghe, mặc, hoặc thử qua, bất chấp tác dụng đối với nếp sống Thiên Chúa muốn bạn phải sống. Một số nhà giáo dục biên soạn và chọn ra những giáo trình giúp bạn học hiểu, nhưng không lưu tâm giá trị trong đó có ảnh hưởng đến sự phát triển đạo đức hoặc tinh thần của bạn hay không. Các nhà đầu tư ở thị trường chứng khoán chọn mua những cổ phiếu và hy vọng kiếm lời qua giao dịch mà chẳng cần biết những quyết định của họ có tác động gì đến cộng đồng hay không. Những nhà trí thức chọn phương cách và thời điểm để thuyết phục giới trẻ hùa theo triết thuyết của họ, mặc dù lắm khi điều ấy chống lại Thiên Chúa hoặc các phụ huynh. Mặc dù có tất cả những thứ ồn ào, tuyên truyền, tiên đoán ích kỷ như thế, nhưng thế hệ của bạn vẫn có sứ mệnh phải “thực hiện một sự lựa chọn đứng đắn.”

Adolf Hitler là một thí dụ điển hình về sức mạnh của sự thuyết phục và nguy cơ tiềm tàng trong đó. Đầu thập niên 1930, Hitler lên nắm quyền tại nước Đức trong một bối cảnh hỗn độn. Sau khi thuyết phục được đa số dân Đức tin rằng họ siêu việt hơn phần còn lại của thế giới, Hitler tiếp tục qui hợp và liên kết với những nhân vật lãnh đạo các ngành giáo dục, chính trị, quân sự để loại trừ những ai không hội đủ các tiêu chuẩn của “chủng tộc thượng đẳng.” Ngày 1 tháng 9 năm 1939, Hitler phát động tấn công Ba lan. Thế Chiến II bùng nổ và rốt cuộc đã cướp đi sinh mạng của năm mươi triệu người. Trong số đó có sáu triệu người Do thái, đa số đã chết trong các trại tập trung.

Chúng ta không thể không đề cập đến hai nạn nhân của chứng cuồng loạn của Hitler, những người đã thực hiện một sự lựa chọn đứng đắn. Edith Stein chào đời tại Ba lan ngày 12 tháng 10 năm 1891. Mặc dù được nuôi nấng để trở thành một tín hữu Do thái giáo, nhưng cô ái nữ trí thức của ông chủ xưởng gỗ, đã từ bỏ đạo giáo của mình vào năm 13 tuổi và trở nên vô thần. Ít năm sau, Edith Stein vào đại học Gottingen và mê say triết học. Edith Stein đã tốt nghiệp hạng tối ưu và nhận bằng tiến sĩ triết học.

Năm 1917, Edith đến thăm bà Anna Reinach, phu nhân vị giáo sư yêu quí của cô. Bà Anna đang chịu tang người chồng bị chết trong chiến tranh. Trước sự ngạc nhiên của Edith, người phụ nữ ấy chẳng cần gì đến những lý lẽ triết lý. Anna Reinach là một tín hữu Công Giáo, và đức tin đã trở nên “thạch động” cho cuộc sống của bà. Cuộc gặp gỡ ấy là một bước ngoặc đối với cuộc đời của Edith Stein.

Trở về đại học, Edith Stein bắt đầu tìm hiểu giáo lý Công Giáo. Cô nghiên cứu kinh nghiệm thần bí của thánh Gioan Thánh Giá và quyển Tự Thuật của thánh nữ Teresa Avila. Chẳng bao lâu sau, Edith Stein xin tòng giáo. Mặc dù bị thân mẫu cương quyết không cho từ bỏ Do thái giáo, nhưng cuối cùng, Edith Stein cũng được rửa tội vào ngày 1 tháng 1 năm 1922. Từ bỏ ghế giáo sư tại đại học của mình, Edith Stein đến giảng dạy tại trường học của dòng thánh Đaminh dành cho các nữ sinh. Năm 1932, Edith làm việc tại viện đại học Đức Quốc, nhưng buộc phải nghỉ ngay sau đó vì một điều luật bài Do thái của chính quyền Đức quốc xã.

Năm 1934, nghe theo tiếng gọi sống đời dâng hiến, Edith xin gia nhập dòng Kín tại Cologne, Đức, và vì muốn noi theo hai tấm gương thánh thiện của Giáo Hội nên đã đổi tên thành nữ tu Teresa Benedicta Thánh Giá. Năm 1938, trước mối đe dọa bạo lực càng ngày càng khủng khiếp hơn của Đức quốc xã đối với người Do thái, mẹ bề trên quyết định chuyển nữ tu Benedicta sang một đan viện tại Hà lan.

Bốn năm sau, ngày 26 tháng 7 năm 1942, nhà độc tài Adolph Hitler ra lệnh bắt tất cả những tín hữu Công Giáo không thuộc gốc Đức. Cùng với người chị của mình là Rosa, cũng là một tín hữu tòng giáo, nữ tu Edith Stein đã bị lực lượng Gestapo bắt và chuyển về trại tập trung Auschwitz khét tiếng. Những người sống sót làm chứng rằng chị Edith Stein khả ái - hồi ấy là nữ tu Benedicta Thánh Giá - đã nổi tiếng vì lòng cảm thương sâu xa dành cho các tù nhân quá run sợ trong trại tử thần này. Ngày 19 tháng 8 năm 1942, chị Edith Stein, người đã từng chống lại Thiên Chúa, đã vui lòng chấp nhận thánh ý của Người khi được đưa đến phòng hơi ngạt.

Edith Stein đã từng viết: “‘Nguyện ý Cha thể hiện’ phải là nguyên tắc sống của người Kitô hữu.” Những lời ấy đã gợi lại hình ảnh của một con người có thời đã từng không tin Thiên Chúa, đã từng từ bỏ chủ nghĩa vô thần, đã trở thành một nữ tu và cuối cùng đã chết vì đức tin.

***

Trong khoảng thời gian thánh nữ Edith Stein đang thực hiện sự lựa chọn của ngài, thì một nạn nhân khác của chủ nghĩa Hitler cũng thực hiện một quyết định đứng đắn. Danh tính của vị ấy là thánh Maximilian Kolbe. Cha Maximilian Kolbe sinh ngày 7 tháng 1 năm 1894 tại Ba lan. Thân mẫu đã có lần hỏi Maximilian Kolbe - khi ấy còn là một cậu nhỏ tinh nghịch - sau này muốn làm gì. Vì không biết phải đáp lại thế nào nên Maximilian Kolbe đã vào nhà thờ và quì trước tượng Đức Mẹ để xin một câu trả lời. Đang lúc cầu nguyện, Maximilian Kolbe nhận được một kinh nghiệm thần bí. Cậu thấy Đức Mẹ hiện ra, mang theo hai triều thiên sáng chói, một màu trắng và một màu đỏ. Thế rồi Đức Mẹ hỏi Maximilian Kolbe thích triều thiên nào, cậu bé liền trả lời: “Con thích cả hai.” Từ ngày ấy, Maximilian Kolbe hằng ôm ấp cuộc sống thanh khiết và phúc tử đạo.

Maximilian Kolbe có năng khiếu về toán học và vật lý. Cậu mơ ước được bay vào không gian và thực sự đã phác thảo những sơ đồ của một chiếc máy bay. Thế mà niềm say mê bầu trời với các vì sao đã phải nhường chỗ, khi Maximilian Kolbe quyết định trở thành linh mục dòng thánh Phanxicô. Maximilian Kolbe được thụ phong linh mục năm 1918 và tận hiến cho Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ Maria. Trong sứ mạng tông đồ, cha Maximilian Kolbe đã thành lập hội Hiệp Sĩ Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ, hoạt động vì phần rỗi các linh hồn, nhất là linh hồn các kẻ thù nghịch Giáo Hội.

Cha Maximilian Kolbe hoạt động tại Ba lan trong thời kỳ nước này bị Đức quốc xã xâm lược. Liền sau đó, cha Maximilian Kolbe bị bắt giam tại Warsaw, nhưng vì bị viêm phổi, nên cha đã được chuyển đến bệnh viện. Ngày 28 tháng 5 năm 1941, cha Maximilian Kolbe cùng với 320 tù nhân được chuyển đến trại Auschwitz. Trong thời gian đó, nhiều tù nhân đã xin cha Maximilian Kolbe giải tội cho họ. Ngài thường hướng dẫn các bạn tù cầu nguyện và giúp họ chiến thắng sự dữ bằng việc tha thứ cho những kẻ bách hại họ.

Một ngày kia, một tù nhân cùng trại giam với cha Maximilian Kolbe đã vượt ngục. Viên chỉ huy ra lệnh mười người khác phải chịu chết thay cho kẻ vượt ngục. Tất cả các tù nhân bị tập trung giữa sân để viên chỉ huy chỉ định mười nạn nhân xấu số. Francis Gajowniczek, một trong số mười người bị điểm mặt, đã gào khóc khi biết mình phải chết. Anh ta kêu lớn: “Vợ tôi, con cái tôi rồi sẽ ra sao?” Bỗng nhiên, một tù nhân tiến ra tình nguyện chết thay cho con người đã bị kết án. Tù nhân ấy chính là cha Maximilian Kolbe.

Cả tên chỉ huy lẫn bọn cai ngục đều sững sờ trước lời yêu cầu của cha Maximilian Kolbe. Các tù nhân ngạc nhiên khi thấy bọn mật vụ đã không bắn chết ngay vị linh mục dám bước ra khỏi hàng, tiến đến gặp người sĩ quan và tình nguyện chết thay.

Francis, người được cha Maximilian Kolbe chết thay, sau này đã viết lại như sau: “Tối nào tôi cũng nhìn thấy ngài cầu nguyện sốt sắng và mời những người trong ngục cùng cầu nguyện với ngài… một việc làm thật nguy hiểm.” Ông còn kể tiếp: “Một hôm, nhóm chúng tôi đang xúc phân dưới hố. Cha Maximilian Kolbe bị một tên mật vụ đánh đập dã man. Hắn nhiều lần đánh vào mặt ngài trong lúc một con chó dữ xông vào cắn xé ngài thật khủng khiếp. Cha Maximilian Kolbe chịu đựng tất cả, vừa nhẫn nhục vừa khí phách. Khi trở lại chiếc hố nơi chúng tôi đang xúc phân, ngài tiếp tục công việc mà không một lời oán thán.”

Sau khi tình nguyện chết thay, cha Maximilian Kolbe được đưa đến hầm giam đói cùng với chín nạn nhân khác. Tất cả đều bị lột trần trụi và không được cung cấp đồ ăn thức uống. Trong nhiều ngày, cha Maximilian Kolbe đã hướng dẫn các bạn tù cầu nguyện, đọc kinh Mân Côi và hát thánh vịnh. Bọn canh ngục lại một phen hoảng hốt vì chúng chỉ nghe các tù nhân gào thét trong những hầm giam này. Cuối cùng, vào ngày 14 tháng 8 năm 1941, cha Maximilian Kolbe đã được đón nhận triều thiên tử đạo màu đỏ.
Chúa Giêsu đã xác quyết rằng không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người hiến mạng sống vì bạn hữu mình. Thánh Maximilian Kolbe đã chọn yêu mến Thiên Chúa bằng cách yêu mến đồng loại. Quyết định ấy đã đem lại “triều thiên vinh quang” cho ngài cũng như cho thánh nữ Edith Stein.

II. Suy Niệm

“Lựa chọn ấy là của bạn và của riêng bạn”

Người ta yêu cầu ở bạn điều gì? Có công bằng hay không khi chờ đợi ở bạn một khả năng để thực hiện những việc lớn lao mà các thánh đã làm? Thực vậy, người ta cho bạn biết rằng nếu bạn sống một cuộc sống tốt lành, thì thiên đàng sẽ thuộc về bạn. Thật không may, ở đây có một “ảo tưởng.” Có người cho rằng chỉ cần tin vào Thiên Chúa và ơn cứu độ của Chúa Kitô thì bạn sẽ có ngay một tấm vé để vào thiên đàng. Đối với các tín hữu Công Giáo, ngoài niềm tin vào Thiên Chúa, chúng ta cần phải có một ít “công phúc.” Để minh họa cho điều này, chúng ta hãy tưởng tượng hai thiếu niên đang lái xe dạo quanh thị trấn, thì một chiếc xe khác bỗng đâu chói đèn và đâm sầm vào xe của họ. Cả hai thiếu niên đều bất tỉnh. Khi được xe cứu thương chở đến bệnh viện, cả hai thấy mình dường như đang bồng bềnh trong một đường hầm thiên giới nào đó. Các màu sắc và hình thù thật kỳ quái, không giống như những gì họ đã từng nhìn thấy trước kia. Họ nghe thấy tiếng nhạc du dương và những lời ca mà chỉ các thiên thần mới có thể thực hiện. Một thiên thần cao lớn xinh đẹp đang mỉm cười chào đón hai vị khách. Vậy chúng ta hãy lắng nghe cuộc trao đổi giữa họ với nhau.

Thiên thần: Xin chào Molly và Brian. Tôi là thiên thần Darin. Tôi đã ở đây chờ hai bạn.

Molly: Thiên thần à! Chẳng lẽ chúng tôi đã chết hay sao?

Brian: Chết rồi à?! Đúng là bạn đang mơ, Molly à! Ô, à, chờ một chút nhé! Đây không phải là một giấc mơ đấy chứ? Vậy chúng tôi chết rồi hay sao?

Thiên thần: Chưa đâu.

Brian: Chao ôi! Thế thì tôi đoán ra rồi, chúng tôi đang trên đường đến thiên đàng phải không?

Thiên thần: Làm gì mà nhanh quá vậy, Brian. Tôi có mấy câu muốn hỏi hai bạn.

Brian: Có lẽ để thử chúng tôi chứ gì?

Thiên thần: Cũng giông giống như vậy. Tôi sẽ hỏi Molly trước nhé. Thiên Chúa đã ban cho bạn nhiều hồng ân, bạn có thể kể cho tôi biết chứ?

Molly: Được thôi. Cha mẹ tôi đều tốt lành. Chúng tôi sống trong một mái nhà ấm cúng. Tôi được học ở một trường hạng nhất trong vùng. Thế rồi, tôi có nhiều bạn bè nữa….

Thiên thần: Molly, tôi muốn nghe nhiều hơn về những tài năng Thiên Chúa đã ban cho bạn.

Molly: À, tôi là một học sinh được toàn những điểm tối đa. Tôi được mọi người yêu mến. Tôi là một ca sĩ trẻ nổi danh.

Thiên thần: Thế còn Brian thì sao. Bạn đã được lãnh nhận những tặng ân nào?

Brian: Tôi cũng được những điểm cao. Tôi là một vận động viên toàn năng. Tôi còn là lớp trưởng.

Thiên thần: Thiên Chúa dường như đã ban cho hai bạn trí thông minh, tài lãnh đạo và óc kỷ luật, đúng không nào?

Molly: Nói như ngài thật không chê vào đâu được nữa!

Brian: Thiên thần đã nói thì trật vào đâu được nữa!

Thiên thần: Vậy chúng ta kể như đã đồng ý rằng Thiên Chúa đã ban cho hai bạn những hồng ân như thế. Vậy hai bạn có thể cho tôi biết hai bạn đã đem những hồng ân ấy chia sẻ với người khác như thế nào được không?

Brian: A, để xem… Nhớ ra rồi, tôi đã giúp em trai của tôi học toán. Còn trong lãnh vực thể thao, đồng đội của tôi phải nhờ vào những cú đập và những cú chuyền của tôi mới có thể chiến thắng. Tôi còn cộng tác với ban giám hiệu để xác định những điều cần thiết nhằm đẩy mạnh tương quan giữa các thầy cô và học sinh.

Thiên thần: Molly, thế còn những đóng góp của bạn là gì nào?

Molly: Vì tôi là một trong những ca sĩ có chất giọng hay nhất của trường, nên tôi luôn tham gia các buổi văn nghệ. Khi được yêu cầu, tôi sẵn sàng giúp đỡ các bạn làm bài tập về nhà. Và vì nổi tiếng, nên tôi cũng là một tấm gương cho các bạn khác.

Thiên thần: Các bạn có biết thế nào là “tự hào” và “tự mãn” không?

Molly: Tôi cho rằng tự mãn là một tội.

Brian: Tôi cũng cho như vậy. Nhưng chẳng lẽ bạn lại không được phép tự hào về những thành tựu của mình hay sao?

Thiên thần: Đúng, hai trường hợp đều đúng. Chúng ta tự hào vì chúng ta “làm tăng tiến những tài năng ta đã được nhận lãnh từ nơi Thiên Chúa nơi cuộc sống của tha nhân.” Vì vậy, trong trường hợp của Molly, nổi tiếng cũng là điều rất cần thiết khi người ta cần một gương sáng, tỏ ra qua suy tư, nói năng và hành động hai mươi bốn giờ mỗi ngày, bảy ngày mỗi tuần, bất kỳ sống với ai hoặc sống vì mục đích gì. Nói khác đi: đó là sự nổi tiếng trong “tinh thần phục vụ.”

Thiên thần: Này Brian, bạn nói đội bóng phải nhờ đến cú đập và cú chuyền bóng của bạn phải không?

Brian: Đúng vậy.

Thiên thần: Vậy hãy lấy trường hợp chơi bóng, một người làm đầu có tinh thần phục vụ sẽ biết khi nào và cách nào để thể hiện tài năng của mình hầu nâng đỡ và khích lệ các đồng bạn còn non yếu hơn; đồng thời cũng biết đón nhận thất bại một cách cao thượng.

Molly: Tôi đâu có nói rằng tôi muốn làm đầu người khác.

Thiên thần: Không. Nhưng bạn đã đồng ý rằng bạn và Brian đều được Thiên Chúa ban cho trí thông minh, óc kỷ luật và những khả năng lãnh đạo. Như thế, hai bạn đều đủ khôn ngoan để biết khi nào người khác cần đến sự giúp đỡ của các bạn. Cả hai bạn đều thực hiện những công việc cần thiết để nêu gương. Và các bạn đều nhận thấy mình có khả năng tạo được ảnh hưởng nơi bạn bè cũng như người lạ.

Brian: Tôi chẳng biết gì về khả năng “làm đầu theo tinh thần phục vụ” của tôi cả; tôi chỉ biết là tôi muốn lên thiên đàng và muốn thực hiện những Thiên Chúa đang chờ đợi ở tôi mà thôi.

Thiên thần: Thiên Chúa muốn bạn trước tiên hãy yêu mến Người bằng cách “sống” mười giới răn của Người. Kế đó, Người muốn bạn yêu thương những người chung quanh. Bạn có thể thực hiện điều thứ hai này bằng cách làm triển nở nơi cuộc sống của họ những tài năng bạn đã được lãnh nhận từ nơi Thiên Chúa.

Molly: Đó là “tinh thần phục vụ.”

Thiên thần: Đúng vậy. Nếu như bạn sống đúng như vậy, bạn sẽ biết phân biệt điều gì đúng điều gì sai; bạn sẽ kiên vững trong niềm xác tín của bạn; bạn sẽ tha thứ cho những người chống đối bạn; bạn sẽ tìm đến với những người kém may mắn và chia sẻ cho họ thời giờ, tài năng và tiền của của bạn; bạn sẽ trung thành với các trách vụ và làm chủ được bản thân trong hành vi và cuộc sống của bạn.

Molly: Nếu như chúng tôi làm được như thế…

Brian: Thì điều gì sẽ xảy ra sau đó?

Thiên thần: Điều xảy ra sau đó là cả hai bạn sẽ trở nên thông suốt. Điều ấy tùy thuộc vào bạn. Bạn có thể chọn điều tốt hoặc chọn điều xấu. Bạn có thể chọn để trở nên một người làm đầu theo tinh thần phục vụ, hoặc bạn có thể chọn để được người khác hướng dẫn. Dù bạn chọn điều gì đi nữa, thì sự lựa chọn ấy là của bạn và của riêng bạn.

III. Chứng Nhân Thời Đại

Vượt thắng nghịch cảnh

Ở phần đầu trong chương này, chúng tôi đã giới thiệu hai vị thánh của Thiên Chúa, cả hai đã đạt được triều thiên tử đạo nhờ lòng can đảm và yêu thương. Dưới đây là câu truyện về hai vị khác, cũng như thánh Maximilian Kolbe và thánh nữ Edith Stein, họ phải đối diện với những điều xấu xa của chế độ Đức quốc xã. Tuy nhiên, khác với thánh Maximilian Kolbe và thánh nữ Edith Stein, những người đã chết vì đức tin, hai vị này đã nhờ đức tin mà được sống sót.

Đức ông Hugh O'Flaherty công tác tại Tòa Thánh Vatican trong thời Thế Chiến II. Vì Tòa Thánh giữ vững lập trường trung lập, nên các lực lượng Đức quốc xã không thể đánh chiếm thủ đô Giáo Hội Công Giáo. Với tác vụ linh mục, cha Hugh O'Flaherty đã cương quyết không thỏa hiệp với thế lực sự dữ. Lợi dụng ảnh hưởng của mình nơi những người cầm quyền tại Roma và Ý, đức ông đã lo liệu cho nhiều người được vào thành phố Roma tị nạn, đồng thời che giấu nhiều gia đình Do thái trong các tu viện và các căn hộ. Mùa Xuân năm 1943, đức ông mở rộng hoạt động để giúp đỡ cả những tù binh người Anh. Tháng 9 năm ấy, lực lượng Gestapo chiếm đóng thành phố Roma. Đại tá Kappler, sĩ quan chỉ huy lực lượng Gestapo, tuyên bố thẳng rằng bất kỳ giáo sĩ hoặc tu sĩ nào che giấu người Do thái hoặc các kẻ thù của nước Đức đều sẽ bị giết chết.

Những tháng sau đó, đại tá Kappler càng ngày càng nghi ngờ vai trò của đức ông Hugh O'Flaherty trong việc giúp đỡ người Do thái. Thế nhưng tối nào đức ông Hugh O'Flaherty cũng có những cuộc tiếp xúc bên ngoài Tòa Thánh Vatican và cộng tác với một hệ thống tổ chức tinh vi đặt tại nhiều ngôi nhà an toàn. Nhiều lần, đức ông đã cải trang như một nữ tu, một người hành khất hoặc một vệ binh Thụy Sĩ để tránh cặp mắt của các nhân viên Gestapo.

Một ngày kia, viên đại sứ Đức đã nói thẳng với đức ông Hugh O'Flaherty: “Tại Roma, không có ai hơn tôi, tôi tôn trọng ngài về những gì ngài đang làm. Nhưng đối với tất cả chúng ta, sự thể đã đi quá trớn. Nếu như ngài bước ra khỏi những bức tường của Vatican một lần nữa, lập tức ngài sẽ bị bắt giữ. Giờ đây, xin ngài hãy để tâm về những điều tôi đã nói với ngài!” Đức ông Hugh O'Flaherty đã lịch thiệp trả lời: “Nhất định tôi sẽ suy nghĩ về những điều ngài vừa nói, thỉnh thoảng chứ.”

Lòng can đảm của đức ông Hugh O'Flaherty và của những người cộng tác với ngài trong và ngoài Vatican đã cứu được hơn 8.700 người Do thái, nhiều người đã được trú ngụ ngay trong các ngôi nhà của đức ông. Trong số những người được cứu, có một người không phải là người Do thái. Ông ta chính là đại tá Kappler, người sĩ quan Gestapo đã từng làm hết cách để bắt giữ và giết hại đức ông Hugh O'Flaherty. Đại tá Kappler đã bị quân đội Đồng Minh bắt giữ và giam tại một nơi gần Roma. Trong suốt thời gian nhiều năm sau chiến tranh, tù nhân ấy chỉ được một người duy nhất thường xuyên đến thăm. Người khách ấy chính là đức ông Hugh O'Flaherty. Vào năm 1959, đại tá Kappler đã xin gia nhập Giáo Hội Công Giáo và đã được người cựu thù rửa tội cho.

***

Câu truyện thứ hai liên quan đến một người lính Đức quốc xã là Gereon Goldmann. Nhưng Gereon Goldmann - không như nữ tu Edith Stein và cha Maximilian Kolbe, những người đã chết dưới bàn tay kinh tởm của bọn SS - lại là thành viên trong đơn vị đặc nhiệm SS, đơn vị chịu trách nhiệm về cái chết của hàng ngàn nạn nhân vô tội trên khắp Châu Âu.

Trước khi gia nhập lực lượng SS, Gereon Goldmann là chủng sinh năm thứ nhất và đã có ý muốn nhập dòng thánh Francis. Thật không may, Gereon Goldmann bị động viên vào quân đội trong thời Thế Chiến II và được chuyển vào một đơn vị Đức quốc xã đặc nhiệm.

Vài ngày trước khi được đưa ra mặt trận bên Nga, Gereon Goldmann được phép về thăm quê nhà. Tại đó, Gereon Goldmann đã ghé thăm và cầu nguyện tại ngôi thánh đường địa phương, nơi anh trước kia đã từng giúp lễ. Khi Gereon Goldmann chuẩn bị ra về, một nữ tu cao niên tình cờ xuất hiện và hỏi thăm anh còn nhớ bà hay không. Gereon Goldmann vẫn còn nhớ người nữ tu ấy và lấy làm ngạc nhiên vì bà cũng còn nhớ đến mình. Nữ tu nói: “Tôi sẽ cầu nguyện cho anh; và một ngày kia, anh sẽ trở thành linh mục.”

Gereon Goldmann nói rằng sau chiến tranh, anh hy vọng sẽ hoàn thành được chương trình học. Lúc ấy, nữ tu từ tốn nói: “Ngày ấy sắp đến rồi. Ngay năm nay, anh sẽ được thụ phong linh mục.” Gereon Goldmann phì cười và cho nữ tu biết chuyện ấy không thể nào xảy ra được, vì anh sắp sửa bị đưa ra mặt trận bên Nga trong vòng vài ngày nữa. Mặc dù cả quyết lời tiên báo của mình sẽ thành hiện thực, nhưng người nữ tu vẫn không sao thuyết phục nổi anh lính SS. Khi bước lên xe hỏa, Gereon Goldmann còn nghe nữ tu nói rằng Đức Mẹ sẽ can thiệp để đáp ứng lời cầu nguyện của bà. Gereon Goldmann chỉ mỉm cười và ngồi thư giãn khi đoàn tàu từ từ rời sân ga.

Ngày hôm sau, hàng trăm binh lính Đức trở về trại lính và sẵn sàng được gửi ra mặt trận nước Nga. Ngay trước lúc lên tàu, Gereon Goldmann bỗng nghe tên mình được gọi trên hệ thống phát thanh. Sau đó, Gereon Goldmann biết mình đã được đổi nhiệm vụ, anh sẽ sang Pháp và đóng quân tại một làng nhỏ có tên là Lộ đức, nơi Đức Mẹ đã hiện ra với chị Bernadette Soubirous. Đó chỉ mới là phép lạ đầu tiên trong một loạt những phép lạ sẽ xảy đến với Gereon Goldmann.

Vài năm sau, dù chỉ mới hoàn tất một năm chương trình đào tạo của chủng viện, nhưng Gereon Goldmann, người nhân viên SS nhiều lần đã thoát hiểm trong lúc hầu hết những chiến hữu của anh bị giết chết, đã được thụ phong linh mục nhờ phép chuẩn của Đức Giáo Hoàng. Cha Gereon Goldmann đã cố gắng trợ giúp các tù binh cứng lòng nhất trong các trại giam của Đức quốc xã trở về cùng Thiên Chúa, và cha đã được thoát khỏi án tử nhờ sự can thiệp của các nữ tu và linh mục người Pháp.

Thiên Chúa đã có những chương trình dành cho cha Gereon Goldmann, cũng như cho đức ông Hugh O'Flaherty, cho thánh nữ Edith Stein và thánh Maximilian Kolbe. Bốn vị đã trải qua những giờ phút kinh hoàng nhất của cuộc đại chiến. Tất cả đều đã tín thác nơi Thiên Chúa và chương trình quan phòng của Người. Và tất cả bốn vị đều đã chọn triều thiên vinh quang.

 

<tiểu mục <trang nhà

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)