dongcong.net
 
   
 
 
 
 

 

 
Những Điều Suy Tư
 
 
Chuyền ngữ: Matthias M. Ngọc Đính, CMC
 
<<<    

Phần II: Cuộc Thương Khó
CHƯƠNG MƯỜI: ĐÓNG ĐINH

I. Gương Thánh Nhân

Đồi Golgotha

Bên ngoài thành Jerusalem có một ngọn đồi tên là Golgotha. Tại ngọn đồi ấy, hai ngàn năm trước đây, Chúa Giêsu đã chịu đóng đinh trên thập giá. Tiếng Anh gọi ngọn đồi ấy là Calvary, phái sinh từ Calvaria trong tiếng La tinh, dịch từ Golgotha của tiếng Aramaic, nghĩa là núi Sọ. Người ta chưa tìm thấy tài liệu nào cho biết có bao nhiêu người đã bị xử chết tại nơi ấy. Nhưng chúng ta biết có rất đông tín hữu đã vì thánh danh Chúa Kitô mà anh hùng chấp nhận cái chết đau thương, chịu đóng đinh tại những miền đất xa xăm. Trong số đó có ba vị thánh tử đạo Isaac Jogues, John Gabriel Perboyre, và Charles Lwanga.

Thánh Isaac Jogues sinh năm 1607 tại nước Pháp. Sau khi gia nhập dòng Tên, ngài được sai đến Bắc Mỹ để truyền giáo cho các bộ tộc da đỏ tại Nam Canada. Bộ tộc Hurons đã tiếp nhận cha Jogues và các đồng sự của ngài.

Một hôm, khi cùng với một số thổ dân da đỏ Hurons đang xuôi thuyền trên sông, thì cha Jogues và cả nhóm, trong đó có vị phụ tá của ngài là René Goupil, đã bị rất đông các chiến binh bộ tộc Iroquois tấn công. Họ đã tàn nhẫn sát hại và bắt sống nhiều người Hurons, kể cả các tu sĩ dòng Tên cùng đi. Các tù nhân bị điệu về làng và chịu nhiều cực hình khủng khiếp. Suốt mười sáu tháng trời, cha Jogues phải chứng kiến nhiều đồng sự của ngài bị thiêu sống. Những người khác đã bị hành hạ dã man, vì các chiến binh Iroquois thường dùng chày để đánh đập các nạn nhân. Ngay lũ trẻ con Iroquois cũng bạo tay hành hạ, chúng quăng những hòn than đang cháy vào lưng các tù nhân. Cha Jogues không được miễn trừ, ngài phải chịu nhiều hình khổ thể lý và tinh thần. Đầu của René Goupil bị bổ đôi bằng rìu và phần mình bị kéo lê khắp làng cho mọi người cùng thấy.

Bất chấp những nỗi kinh hoàng ấy, cha Jogues vẫn tiếp tục cầu nguyện cho những người thù địch được ơn hoán cải và đã bí mật rửa tội cho con cái của họ. Cha Jogues còn chăm sóc cho nhiều chiến binh Iroquois yếu bệnh. Trong số đó, có nhiều người đã từng tra tay hành hạ ngài và các đồng sự của ngài bằng những hình khổ hãi hùng nhất.

Cuối cùng, cha Jogues đã trốn thoát được và lên tàu về đến Pháp vào sáng ngày lễ Giáng Sinh năm 1643. Sau khi đến Pháp, cha Jogues được yêu cầu ra điều trần trước giáo quyền và chính quyền nước Pháp về những hình khổ ngài đã trải qua. Trong bức thư gửi cho vị giám tỉnh dòng Tên tại Pháp, đề ngày 5 tháng 8 năm 1643, cha Jogues đã mô tả cuộc khổ hình của ngài một cách sinh động như sau:

Họ giáng xuống người tôi những cú đấm và những chiếc gậy có chấu, để tôi nằm dưới đất nửa sống nửa chết; sau đó một lúc, họ nhổ phăng các móng tay của tôi, rồi chặt hai ngón trỏ của tôi, khiến tôi đau đớn không sao tả xiết. Họ cũng làm như thế với René Goupil… Tuy nhiên, họ muốn để tôi sống dở mà đưa về làng. Thế là với cái kiểu dung tha độc ác ấy, họ đã đưa tôi, với những vết thương bê bết máu me, nhất là trên mặt, đến một ngọn đồi, nơi có một chiếc bục đã dựng sẵn. Bấy giờ, họ xỉ vả tôi bằng hàng ngàn lời phỉ nhổ, rồi giáng vào cổ và mình tôi những cú đấm không nương tay. Họ đốt một ngón tay của tôi, lấy răng mà cắn nát một ngón khác, rồi bẻ xoắn ngón bầm dập ấy và cắt gân ngón tay còn lại; cho nên bây giờ, mặc dù vết thương phần nào đã lành, nhưng các ngón tay của tôi đã bị tật và biến dạng.

Bất chấp mọi khốn khổ đã qua, cha Jogues vẫn xin trở lại Montreal, hy vọng sẽ tạo lập được sự hòa bình giữa người Iroquois và các bộ tộc khác ở miền Canada thuộc Pháp. Được tù trưởng Iroquois hứa sẽ đón tiếp các tu sĩ dòng Tên, cha Jogues đã mạo hiểm trở lại với bộ lạc đã từng chém tay ngài và giết hại các đồng sự của ngài. Ngày 18 tháng 10 năm 1644, linh mục Isaac Jogues đã đón nhận cuộc thương khó cuối cùng khi bị chém bằng rìu và rồi bị chặt đầu. Không biết có bao nhiêu con trẻ Iroquois đã ra đón tiếp cha Isaac Jogues, vị ân nhân đã từng rửa tội và dạy dỗ cho chúng, tiến vào thiên đàng.

***

Năm 1835, một linh mục người Pháp là cha John Gabriel Perboyre chuẩn bị lên đường sang Trung Quốc, mặc dù ngài đã quá biết những nguy hiểm đang rình rập các thừa sai ở đó. Sau bốn năm hoạt động giữa dân chúng, cuối cùng cha Perboyre đã bị bắt. Ngài phải chịu hơn bốn mươi cuộc tra hỏi. Dù bị đánh roi tre vào mặt, phải quì trên mảnh sành và phải uống máu chó đun sôi, nhưng cha Perboyre cương quyết không quá khóa. Mang cáo trạng che giấu “lũ tội đồ theo đạo,” cha John Gabriel Perboyre đã bị kết án tử hình. Vị linh mục hiền từ đã không biểu lộ một thái độ oán hờn nào đối với các lý hình và sẵn lòng chịu chết vì đức tin.

Ngày 11 tháng 9 năm 1840, sau khi cột ghì hai cánh tay cha Perboyre vào một thập tự và quấn dây quanh cổ, các lý hình đã từ từ xiết dây để ngài phải chết ngạt một cách đau đớn. Theo lời kể của nhiều giáo hữu cũng như lương dân, khi vị linh mục thừa sai sắp sửa tắt thở, thì một hình thánh giá đã xuất hiện trên bầu trời. Khi tử nạn, cha Perboyre mới ba mươi tám tuổi đời.

***

Như hai thánh John Gabriel Perboyre và Isaac Jogues, thánh Charles Lwanga cũng được phúc tử đạo vì đức tin. Tuy nhiên, không như các vị linh mục người Pháp đã chết tại miền đất xa xăm, dưới bàn tay của những người xa lạ, Charles đã bị chính đồng bào của ngài sát hại vào tháng 5 năm 1886, tại nước Uganda, Trung Phi.

Charles Lwanga là một trong những nhân vật có uy tín nhất triều đình và chịu nhiều ảnh hưởng của quan Joseph Mukasa, vị tổng quản đứng đầu đội thị vệ của đức vua. Lòng kính trọng của Charles dành cho quan Joseph càng gia tăng khi ngài được chứng kiến quan Joseph dám trách cứ đức vua vì đã giết hại một nhà truyền giáo Tin Lành. Lòng can đảm ấy đã khiến quan Joseph phải trả giá bằng mạng sống; và ngày 15 tháng 10 năm 1885, quan Joseph đã bị trảm quyết, rồi bị thiêu cháy. Sau sự kiện ấy, Charles Lwanga được chỉ định đứng đầu đội thị vệ trong hoàng cung. Tương tự như quan Joseph, Charles cũng có một ảnh hưởng sâu xa trên các thanh niên Uganda. Nhiều người trong số họ đã theo gương Charles để chịu phép rửa bằng cái chết của mình.

Con đường đến với phúc tử đạo của Charles bắt đầu bằng việc một đứa trẻ được triệu đến hoàng cung cho đức vua thỏa mãn tật ấu dâm của ông. Khi không thấy đứa trẻ đến, đức vua phát hiện ra một thị vệ trong triều đình đã dạy giáo lý Công Giáo cho đứa trẻ ấy. Hết sức cuồng nộ, bạo vương truyền xử trảm người dạy giáo lý, và ra lệnh mọi Kitô hữu phải bị điệu ra xét xử tại tòa án hoàng gia. Vua tuyên bố tại đó: “Những ai không cầu nguyện, hãy đứng sang bên ta, còn những ai cầu nguyện, thì lại đàng kia mà đứng.”

Charles Lwanga tụ hợp tất cả các Kitô hữu lại và cùng cầu nguyện để xin cho mọi người được thêm sức mạnh trong đức tin. Khi bạo vương hỏi Charles và những người khác có dám chịu chết vì đức tin hay không, mọi người đều hiên ngang tiến ra tuyên xưng tình yêu đối với Chúa Giêsu Kitô. Thậm chí, một thị vệ của vua cũng xin nhập hàng ngũ với các tù nhân Kitô hữu.

Tất cả hai mươi hai Kitô hữu ấy được biết đã bị hành hạ dã man. Sau khi phải đi ba mươi bảy dặm đến pháp trường, một số tín hữu đã bị đánh đập đến chết. Những người khác bị chặt tay chân hoặc bị chém đầu. Một số khác bị thiêu sống. Charles đã bước ra giúp các lý hình chất củi lên giàn để thiêu sống ngài, khiến họ rất bỡ ngỡ. Khi Charles Lwanga sắp sửa tắt thở, người ta nghe ngài kêu lên: “Katonda! (Lạy Thiên Chúa của con!)”

Cái chết của thánh Charles Lwanga và hai mươi mốt bạn tử đạo của ngài chính là hạt giống cần thiết để truyền bá Tin Mừng Kitô Giáo tại Uganda. Ngày nay, tại đất nước này đã có hai triệu tín hữu Kitô Giáo.

II. Suy Niệm

“Eloi, eloi, lama sabachthani?”

“Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi, nhân sao Chúa lại bỏ tôi?” Bạn đã bao giờ nghe những tiếng rên rỉ như thế chưa? Bản thân bạn đã bao giờ thở than những lời như vậy chưa? Không ai trong chúng ta đã từng than vãn những lời ấy sao? Đó là những lời Chúa Giêsu đã thốt lên trước khi trút hơi thở cuối cùng của Người trên thập giá. Thoạt đầu chúng ta thấy dường như có điều mâu thuẫn, vì lẽ các thánh, những người hiến dâng mạng sống vì đức tin, đã tỏ ra nao nức khi đến gặp Đấng Cứu Thế của các ngài trên thiên đàng, trong khi chính Chúa Kitô, Đấng được các thánh kêu tên trước khi từ giã cõi trần, lại cho thấy Người bị bỏ rơi cùng cực trong giờ phút tử nạn. Thực vậy, Chúa Giêsu đã làm trọn lời thánh vương David tiên báo từ nhiều thế kỷ trước. Thông điệp vua David được ghi lại trong Thánh vịnh 22 được coi là “lời cầu nguyện của con người vô tội.” Khi tử nạn trên thập giá, Chúa Giêsu đã kêu van cùng Chúa Cha, vì Chúa Cha là Đấng độc nhất sẽ đáp lại lời cầu nguyện của Người.

Bạn hãy nhớ lại như vậy mỗi khi bạn cảm thấy cuộc thương khó ập xuống trên bạn. Bạn sẽ biết cuộc thương khó ấy như thế nào. Bạn không thể tập trung. Bạn đau khổ trong nín lặng. Chứng nhức đầu như búa bổ. Cơn đau bao tử minh chứng cho bạn biết chứng trầm uất đang gặm nhắm cõi lòng bạn. Bạn không thể chợp mắt. Bạn ăn không thấy ngon. Bạn cố sức ổn định cuộc sống nhưng mọi thứ dường như càng hỗn độn, ngổn ngang. Bạn tự hỏi: tại sao điều này điều nọ lại xảy ra? Tại sao tôi lại trở thành nạn nhân? Tôi sẽ phải trả giá nào đây, liệu có đáng không? Và khi ấy, bạn hãy nhớ lại cuộc khổ nạn của Chúa Kitô.

Molly đau khổ vì người anh trai bỏ học, gây nên một bầu khí ngột ngạt không thể chịu nổi trong gia đình. Brandon biết tin thân phụ anh bị ung thư và chỉ sống được vài tháng nữa. Một huấn luyện viên nổi tiếng vừa hay tin mẹ ông đã chết vì đau tim. Donny, cầu thủ sắc bén nhất trong đội bóng chày của ông, đã đi bụi đời vì hay tin cha mẹ đang tiến hành thủ tục ly dị. Áp lực quá đè nén. Terri Lynn, người nữ sinh mới trong trường, phải ở nhà chăm sóc người mẹ yếu bệnh nhưng da diết nhớ bầu khí lớp học. Justine, người học sinh xuất sắc, vừa bị tóm vì tội bán ma túy. Anh ta phải chịu khốn khổ còn nhiều. Một bạn nữ trong lớp bị hãm hiếp, trong khi một bạn khác phải cực nhục với người cha say xỉn. Một bạn nam vốn thích đùa giỡn được bác sĩ cho biết đã mắc hội chứng Tourette. Giờ đây, bạn đã hiểu vì sao thái độ của anh ta thật kỳ quặc như thế…

Bảng liệt kê cứ thế kéo dài mãi mãi, vượt ra ngoài cái thế giới học sinh, bạn bè, đồng đội. Ông hàng xóm làm việc cho một công ty hơn hai mươi lăm năm vừa bị sa thải. Các phóng viên truyền hình loan tin một thảm kịch liên quan đến một đứa trẻ tại địa phương. Người đưa thư giao một bức thư yêu cầu giúp đỡ. Bức thư cho biết, nếu như lời yêu cầu bị bỏ qua, một người vô gia cư nữa sẽ phải đói khát. Cha mẹ bạn trao đổi với nhau về tình trạng những đứa con của một người bạn, dường như chúng còn gặp nhiều khốn khổ hơn bạn.

Bạn không bơ vơ. Có những người cũng đang gặp tình cảnh như bạn. Có những người mà sự khó của họ có sức biến đau khổ của bạn trở thành vô nghĩa, không khác gì một cái móng tay bị xước. Bạn không bơ vơ. Có những phụ huynh, những thầy cô, những người phụ trách, những cố vấn và những người khác nữa sẽ đến với bạn nếu như bạn dành cho họ một cơ hội. Có những người thực sự quan tâm đến những gì xảy ra với bạn. Bạn không bơ vơ. Khi cảm thấy gánh nặng toàn thế giới dường như đè trĩu trên vai bạn, bạn hãy nhớ đến Đấng đã chịu chết vì tội lỗi của thế giới này. Chúa Cha đã ban Con Một Người cho bạn. Chúa Giêsu sẽ giúp bạn đủ sức vượt qua những gian truân bằng ân sủng của Người. Chúa đã hứa bạn sẽ không bị thử thách quá sức. Thực vậy, Người đã để thử thách xảy đến để bạn biết rõ thực lực của mình.

Để vượt qua thử thách, bạn hãy xét những điều sau đây: thứ nhất, cần phải cầu nguyện. Bạn hãy nài xin Chúa Giêsu và Mẹ Maria giúp đỡ khi phải đương đầu với khó khăn cuộc sống. Thứ hai, cần phải củng cố năng lực thiêng liêng. Bạn hãy đọc Thánh Kinh, tham dự thánh lễ, lãnh thụ các nhiệm tích và hãy đọc kinh Mân Côi. Thứ ba, cần phải hiến dâng đau khổ bạn phải chịu vì tha nhân, hợp với Chúa Kitô, noi gương những anh hùng đã chịu chết vì đức tin. Và thứ tư, cần phải nhận thức rằng thử thách sẽ xảy đến trong suốt cuộc đời của bạn. Dù học trung học hoặc đại học, dù có nghề nghiệp hoặc gia đình, dù có con đàn cháu đống gì gì đi nữa, bạn hãy mời Thiên Chúa liên lỉ đi vào cuộc sống của bạn - chứ đừng chờ đến lúc gặp gian nan.

Ngay cả trong những giờ phút tăm tối nhất của bạn, Thiên Chúa vẫn không từ bỏ bạn. Bạn hãy cương quyết đừng bao giờ từ bỏ Người.

III. Chứng Nhân Thời Đại

Người tha thứ cho Thiên Chúa

Larry Vuillemin có tất cả. Anh là một vận động viên tài năng. Anh sống trong một gia đình êm ấm. Anh có một cá tính tuyệt vời, một ngoại hình hấp dẫn. Anh luôn được điểm cao trong học tập. Đó là tất cả những yếu tố thuận lợi giúp anh vươn đến thành công trong cuộc sống một cách dễ dàng. Cha mẹ của Larry là những người rất quí trọng đức tin Công Giáo. Vì thế, trên những quãng đường phải đi lâu hơn mười lăm phút, thông thường cả gia đình, cha mẹ và con cái, đều lần hạt Mân Côi chung với nhau. Người mẹ có lòng yêu mến Đức Mẹ Maria rất đặc biệt; người cha lo công việc sắp chỗ nhà thờ trong thánh lễ Chúa Nhật. Hai ông bà là tấm gương sáng cho các con noi theo trong việc sống đức tin.

Một ngày nọ, cái thế giới tuyệt vời của Larry Vuillemin đã vỡ vụn tan tành. Người cha bốn mươi tám tuổi, cổ động viên nhiệt tình nhất của Larry, đã qua đời vì một cơn đau tim. Gia đình tan nát. Tại sao Thiên Chúa lại nỡ đối xử với một người đã trung thành tham dự thánh lễ hằng ngày, nuôi dạy con cái theo tinh thần Công Giáo, và là người chồng thân thương của một người vợ biết kính sợ Người như thế? Larry bồi hồi nhớ lại: “Chúng tôi đã chôn người cha thân yêu hai lần, một lần xuống lòng đất, và một lần vào tận cõi lòng của chúng tôi.” Larry cho rằng một thanh niên phải can đảm và không bao giờ được tỏ ra mềm yếu, càng không nên phàn nàn với Thiên Chúa, vì như thế là yếu nhược.

Ngôi sao vận hạnh của Larry tiếp tục vươn cao khi anh gia nhập vào đội bóng bang Ohio, tiếp bước người anh giờ đây đang chơi cho đội bóng đại học Notre Dame. Và như thần tượng của mình, Larry đã vào học tại đại học Notre Dame với một xuất học bổng toàn phần. Ngay năm đầu tiên, Larry đã gặp được người bạn đời tương lai của mình, và một năm sau, hai người đã kết hôn với nhau. Trong những năm tháng ấy, Thiên Chúa vẫn là một phần trong cuộc đời của Larry.

Năm 1970, Larry tốt nghiệp đại học Notre Dame. Nhưng niềm vui của Larry chẳng tày gang khi anh và gia đình nghe biết người anh trai vừa ký hợp đồng với đội bóng Washington Redskins giờ đây đang phải điều trị tại bệnh viện New York vì mắc chứng tâm thần phân liệt. Người anh trai của Larry không thể nào chơi banh được nữa. Trong đầu óc của Larry, anh cho rằng Thiên Chúa lại đánh gục thêm một người anh hùng nữa của anh.

Larry tiếp tục con đường học vấn, và như thân phụ, Larry đã trở thành một luật sư công tố. Sau khi tốt nghiệp xuất sắc, người thanh niên tài năng Larry đã sẵn sàng tiến vào cái thế giới thành tích của anh. Vậy mà một thập giá khác lại phủ bóng. Năm 1976, cuộc hôn nhân của Larry, với hai đứa con kháu khỉnh, đã tan vỡ. Tuy vẫn còn uy tín, thế lực và niềm tự hào, nhưng Larry lại thiếu cái cần thiết nhất đối với anh. Tình cảnh đã bắt đầu đổi thay.

Ngày 12 tháng 12 năm 1984, Larry cảm thấy nhức đầu kinh khủng. Quằn quại trên giường bệnh, Larry biết anh phải sẵn sàng chờ đón cuộc thử thách sắp tới. Hôm sau - bây giờ Larry vẫn còn nhớ - là ngày lễ kính Đức Mẹ Guadalupe, anh phải có mặt tại tòa án để tham dự một vụ án. Bỗng nhiên, người luật sư mới ba mươi tám tuổi đời đã gục xuống. Người ta vội vàng đưa anh đến bệnh viện, và biết anh đã bị tai biến. Larry đau đớn đến cùng cực.

Trong thời gian nằm viện, Larry luôn than thở: “Xin làm ơn giúp tôi.” Lúc ấy, người luật sư trẻ tuổi có tài áp đảo đối phương, người anh hùng của đội bóng đại học Notre Dame bỗng nhận ra cuộc sống của mình đã thiếu vắng một điều. Điều ấy chính là Thiên Chúa.

Trước đó chưa bao lâu, Thiên Chúa đã gửi đến cho Larry những đại sứ của Người. Có một bệnh nhân nằm bên cạnh Larry đã nói về lòng thương xót Chúa Kitô. Người y tá hiền từ đã cho Larry biết rằng anh buồn khổ chỉ vì thiếu tinh thần đức tin. Nhiều người ghé thăm và khuyến khích người luật sư trẻ hãy cầu xin Chúa Thánh Thần chữa lành cõi lòng của anh. Linh mục tuyên úy bệnh viện cũng đến thăm và khích lệ Larry hãy trở về với các bí tích. Lần đầu tiên trong mười lăm năm, Larry đã lãnh nhận Thánh Thể. Vào tuần lễ mừng Giáng Sinh năm ấy, nhiều tín hữu đã khai mở con đường cho Larry trở về với Thiên Chúa.

Một thời gian ngắn sau đó, một linh mục khác là cha Norm Douglas đã đi vào cuộc đời của Larry. Cha Norm đã giúp Larry nhận ra cái chết của thân phụ anh, chứng bệnh của người anh trai, cuộc hôn nhân tan vỡ và thất bại trong sự nghiệp không phải là những cú đấm của Thiên Chúa quật ngã anh. Vấn đề là ở Larry. Anh phải nhận thức rằng Thiên Chúa, Đấng bị anh đã gán là nguyên nhân mọi khốn khó trong cuộc đời của anh, chính là Đấng đã sai Con Một Người xuống để chịu đóng đinh trên Thánh Giá hầu cho mọi tội nhân được hưởng nhờ lòng thương xót và tình yêu của Chúa Kitô.

Trở về làm việc trong ngành luật, Larry trở nên một con người biến đổi hoàn toàn. Giờ đây, Larry và cha Norm Douglas cùng hoạt động cho Chúa. Công việc đầu tiên của họ là tìm đến những ngành nghề thường quên lãng Thiên Chúa. Mùa Thu năm 1986, Larry và cha Norm đã khởi xướng hội “Giao Tâm,” một tổ chức chuyên cổ động đời sống tinh thần tại các môi trường làm việc. Qua một loạt những chương trình ấn tượng, tổ chức Giao Tâm đã đánh động được hằng trăm tâm hồn khắp miền Trung Tây Hoa Kỳ. Các hội viên tiếp nhận thông điệp của Giao Tâm, cổ động phát triển nhân cách, tình thân ái, sự hòa giải, sự quan tâm đến người khác và một nếp sống đạo đức, có lý tưởng.

Ngày nay, Larry rất thành công trong một công ty quan trọng về lãnh vực luật pháp. Anh tiếp tục hoạt động cho tổ chức Giao Tâm, cầu xin Thánh Tâm Chúa Giêsu và Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ nâng đỡ trong công tác phục vụ tha nhân.

Larry vẫn thường tiếp xúc với những người đang gặp những cuộc thương khó và phục sinh mà chính anh đã từng trải qua. Quả thật, khi điều ấy xảy ra, Larry chỉ biết mỉm cười, anh hiểu Thiên Chúa, Đấng được anh tha thứ, quả thật là Đấng đã tha thứ cho anh.

 

<tiểu mục <trang nhà

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)