dongcong.net
 
 


TIÊN TRƯNG THÁNH MẪU

Xem:
- Biểu Tượng Thánh Mẫu

1. Bản Chất và Mục Đích của Tiên Trưng

Tiên trưng (typology) liên quan đến vấn đề chú giải và các loại ý nghĩa của Thánh Kinh. Nói chung, Thánh Kinh có ba loại ý nghĩa xưa nay vẫn được dùng trong Giáo Hội - trong số này có hai ý nghĩa là nghĩa xác thực, nghĩa thứ ba không mang tính xác thực.

a) Nghĩa văn tự hay văn phạm: là ý nghĩa biểu thị qua từ ngữ của bản văn, truyền đạt tức khắc và trực tiếp theo các qui luật thông thường của ngôn ngữ. Ý nghĩa này còn có tên là nghĩa lịch sử.

b) Nghĩa tinh thần hay biểu trưng: là ý nghĩa vượt trên nhưng dựa vào nghĩa văn tự. Vì thế, khi bản văn có nghĩa biểu trưng, tức là nó thực sự có hai ý nghĩa. Thí dụ, con rắn đồng trong Cựu Ước (Ds 21:8 tt) được coi như một biểu trưng cho quyền năng cứu độ của Chúa Ki-tô trên Thập Giá (Ga 3:14). Cách duy nhất chúng ta biết được một bản văn có ý nghĩa tinh thần là nhờ mặc khải.

c) Nghĩa thích ứng: nghĩa này không phải là một ý nghĩa xác thực của Thánh Kinh. Nó chỉ là “sự thích ứng” bản văn Thánh Kinh vào một chủ đề nào đó mà thánh ký cũng như Chúa Thánh Thần không có ý diễn tả. Tuy nhiên, ý nghĩa này có thể được sử dụng theo những mục đích xây dựng. Các thánh ký Tân Ước, các giáo phụ và ngay cả phụng vụ Giáo Hội đã sử dụng tài tình ý nghĩa này. Khi được dùng đúng cách, tiên trưng có thể giúp ta hiểu thêm về chủ đề.

Tiên trưng trong mục từ này thuộc ý nghĩa thứ hai như vừa được trình bày trên đây, nhưng nó vẫn được sử dụng cách rất rộng rãi tương đương với ý nghĩa thứ ba.

2. Các Nhân Vật Tiên Trưng
Đức Ma-ri-a Trong Cựu Ước

Trong thư Rô-ma 5:14, A-đam được gọi là “hình ảnh của Đấng sẽ đến” tức là Chúa Ki-tô, và trong thư 1Cô-rin-tô 10:11, những người Ít-ra-en tạm cư trong sa mạc được coi là hình ảnh các tín hữu tạm cư trên thế gian. Tiên trưng là hình ảnh của những sự kiện hay nhân vật Tân Ước được biểu thị qua các sự kiện hay nhân vật Cựu Ước.

Các giáo phụ rất thích tìm kiếm các hình ảnh tiên trưng - và đôi khi hơi quá. Nhưng nguyên tắc của các ngài vẫn có giá trị. Các ngài đã áp dụng nhiều nhân vật tiên trưng vào Đức Ma-ri-a. Các ngài tìm ra được một số phụ nữ tuy thua sút Mẹ rất xa về phương diện thánh đức, nhưng lại là hình bóng của Mẹ vì họ đã giải thoát đồng bào của mình như các bà Sa-ra, Ra-ken, Mi-ri-am, Đê-bô-ra, Giu-đi-tha và Ét-te.

Bà Sa-ra là vợ của Áp-ra-ham, người được Thiên Chúa hứa ban cho một dòng dõi đông đúc mặc dù khi ấy bà son sẻ và đã quá tuổi sinh con. Nhờ quyền năng Chúa, bà đã sinh hạ một con trai là I-sa-ác, đảm bảo cho sự tiếp nối chương trình cứu độ của Thiên Chúa (St 17:1-21:7). Bà Sa-ra là biểu trưng cho Đức Ma-ri-a qua sự kiện sinh con cách nhiệm lạ. Như bà Sa-ra sinh I-sa-ác là đầu của dân tộc được chọn, Đức Ma-ri-a đã sinh Chúa Ki-tô Cứu Thế, Người sáng lập nên đoàn con Thiên Chúa là Giáo Hội.

Bà Ra-ken với vẻ đẹp tuyệt trần làm say lòng Gia-cóp và buộc ông phải phục vụ cha mình là La-ban suốt mười bốn năm để có thể cưới bà làm vợ (St 29:1-30). Vì thế, bà Ra-ken cũng là hình ảnh về vẻ đẹp tuyệt vời của linh hồn Đức Ma-ri-a, vẻ đẹp đã được Giáo Hội ca tụng qua lời kinh từ xưa: “Ôi Ma-ri-a! Mẹ là Toàn Mỹ, nơi Mẹ không một tì vết tội lỗi.” Như vẻ đẹp của Ra-ken đã lôi cuốn Gia-cóp, vẻ đẹp linh hồn Đức Ma-ri-a cũng làm say lòng Thiên Chúa, Đấng đã chọn Mẹ làm người mẹ trần gian cho Chúa Giê-su Con Ngài.

Mi-ri-am, chị ông Môi-sen, người đã cứu ông khỏi cái chết oan uổng khi vua Pha-ra-on truyền giết mọi trẻ nam sơ sinh của người Do Thái (Xh 2:1-8). Bà cũng đã được ơn nói tiên tri (Xh 15:20-21), đã hướng dẫn các phụ nữ qua Biển Đỏ (Mk 6:4), và sau đó hát lên bài thánh ca tạ ơn uy hùng (Xh 15:20-21). Đức Ma-ri-a cũng được ơn nói tiên tri và là thủ lãnh vô nhiễm tinh tuyền của mọi trinh nữ. Cùng cộng tác với Con trong công cuộc chiến thắng Sa-tan, Mẹ đã trợ giúp con cái Mẹ phá tan xiềng xích tội lỗi và xướng lên bài tạ ơn Magnificat.

Bà Đê-bô-ra, nữ tiên tri và là một trong những thẩm phán vĩ đại nhất của dân Ít-ra-en (Tl 4:4), đã khởi xướng cuộc nổi dậy chống lại ách áp bức suốt hai mươi năm trường của Si-sê-ra, tướng của Da-bin (Jabin), vua Ca-na-an trị vì ở Ha-do (Hazor). Các chi tộc Ít-ra-en suốt 175 năm trước đó không thắng được một trận nào. Bà Đê-bô-ra đã tụ hợp được một đạo quân một vạn binh sĩ và trao cho Ba-rắc để đánh tan quân thù (Tl 4:41). Tướng Si-sê-ra trốn chạy vào nhà bà Gia-en. Ông ngủ mê mệt và bị bà Gia-en giết chết (Tl 4:17 tt). Bà Đê-bô-ra đã hát lên ca khúc chiến thắng (Tl 5:1 tt). Bà Đê-bô-ra được xưng tụng là người mẹ của Ít-ra-en và bà Gia-en được ca khen là người có phúc hơn mọi phụ nữ (Tl 5:7,24). Họ là những hình bóng của Đức Ma-ri-a, vì nhờ Người Con Chí Thánh, Mẹ đã chiến thắng Sa-tan, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Mẹ. Mẹ trở thành hiền mẫu của các tín hữu và được ca tụng là người được chúc phúc hơn mọi người nữ.

Giu-đi-tha là một quả phụ Ít-ra-en, vừa có nhan sắc vừa hảo tâm (Gđt 8:7-8). Khi thành Be-thu-li-a quê bà bị tướng Hô-lô-phen vây hãm và có nguy cơ thất thủ, bà đã tụ tập dân thành lại và đã đánh bại được quân địch, cứu thoát dân Chúa chọn. Dân thành đã chúc tụng bà là vinh quang của nhà Giu-đa, là hoan lạc cho Ít-ra-en, là niềm tự hào cho dân tộc” (Gđt 15:9), và bà đã hát lên bài ca ngợi khen Thiên Chúa.

Giáo Hội đã dùng những lời dân thành ca tụng bà Giu-đi-tha để ngợi khen Đức Ma-ri-a vì Mẹ mới là vinh quang đích thực cho Giu-đa và niềm hoan lạc cho Ít-ra-en. Mẹ đã đạp nát đầu Sa-tan, kẻ thù không đội trời chung của nhân loại và giải thoát họ khỏi bị trói buộc muôn đời. Mẹ đã hát lên bài ca chúc tụng Thiên Chúa.

Ét-te là hoàng hậu của vua A-su-ê-rô (Et 2:17). Với lòng can đảm phi thường và tài khéo léo, Bà đã đảo ngược được bản án tiêu diệt dân tộc Do Thái mà tên gian ác A-man đã dàn xếp trước. Vững tin nơi Chúa, Ét-te đã liều thân ra chầu đức vua và chuyển cầu cho dân tộc. Vẻ duyên dáng mỹ miều của bà đã cứu dân tộc Do Thái. Vì thế, Ét-te là biểu tượng của Đức Ma-ri-a, người đã chiếm được tình yêu của Thiên Chúa bằng vẻ mỹ lệ tối hảo, lôi cuốn Ngài ngự đến lòng Mẹ, và Mẹ đã cứu thoát dân tộc Mẹ khỏi ách ma quỉ nhờ Đấng Cứu Thế Mẹ đã sinh ra, còn Mẹ thì trở thành Nữ Vương thế giới.

3. Những Sự Vật Tiên Trưng
Đức Ma-ri-a Trong Cựu Ước

Đức Ma-ri-a còn được tiên trưng bằng nhiều sự vật trong Cựu Ước. Mọi lời chúc tụng dành cho vương quốc Ít-ra-en hay Giáo Hội đều có thể áp dụng vào Mẹ. Chính Giê-ru-sa-lem cũng là hình bóng của Me. “Người ta nói những điều vinh quang về ngươi, ôi thành thánh của Thiên Chúa” (Tv 87:3).

Đức Ma-ri-a cũng được biểu trưng bằng vườn Địa Đàng, tàu Nô-e, Hòm Bia Giao Ước, thang Gia-cóp, gậy A-a-ron, tấm lòng chiên của Gi-đê-on, Đền Thờ Sa-lô-môn và nhiều sự vật khác.

- Vườn Địa Đàng Thiên Chúa lập nên là một thửa đất ân sủng, một thửa đất niềm vui Thiên Chúa dành cho Nguyên Tổ sinh sống (St 2:8-10). Khu vườn phúc lộc này biểu trưng Đức Ma-ri-a, Người đã được Thiên Chúa chan tưới ân sủng dư đầy. Khu vườn Địa Đàng Mới này (Đức Ma-ri-a) còn thánh đức và hoàn hảo hơn khu vườn Địa Đàng nguyên thủy nơi A-đam đã sống. Nơi Đức Ma-ri-a, Thiên Chúa đã đến cư ngụ và ban cho Mẹ đầy tràn ơn phúc.

- Tàu No-e (St 6:14-8:19) là công cụ giúp bảo tồn sự sống cho nhân loại. Đức Ma-ri-a, qua Chúa Giê-su Con Mẹ đã bảo tồn sự sống vĩnh hằng cho nhân loại. Tàu Nô-e nổi trên mặt nước hồng thủy; Đức Ma-ri-a vượt trên mặt nước những dục vọng và tội lỗi. Địa cầu được tái sinh nhờ những người trú ẩn trong tàu Nô-e, thiên đàng được đông đúc nhờ những người nương ẩn nơi Mẹ Ma-ri-a.

- Hòm Bia Giao Ước (Xh 26:33; 40-20) là hình ảnh về Đức Ma-ri-a theo nhiều giải thích. Theo thánh Am-rô-si-ô: “Hòm Bia đựng hai bia đá lề luật; Đức Ma-ri-a cưu mang trong lòng mình Đấng thừa kế giao ước. Hòm Bia đựng lề luật; Đức Ma-ri-a cưu mang Phúc Âm. Hòm Bia cho dân Do Thái nghe tiếng Chúa; Đức Ma-ri-a cho chúng ta chính Lời Thiên Chúa. Hòm Bia chói sáng vàng ròng; Đức Ma-ri-a rực rỡ trong ngoài với vẻ mỹ miều trinh khiết. Vàng trang hoàng Hòm Bia có nguồn gốc từ lòng đất; vàng giãi chiếu nơi Đức Ma-ri-a có nguồn gốc từ kho tàng thiên quốc.”

- Thang Gia-cóp cũng là hình bóng Đức Ma-ri-a. Trên đường đi Mê-sô-pô-ta-mi-a, tổ phụ Gia-cóp một đêm kia đã chiêm bao. Ông thấy một chiếc thang từ đất bắc lên trời và các thiên thần lên xuống trên thang ấy (St 28:12-15). Đức Ma-ri-a là chiếc thang, nhờ đó, Con Thiên Chúa đã từ trời xuống đất và mặc lấy bản tính nhân loại. Và cũng nhờ thang này mà Ngài hướng dẫn mọi thụ tạo trở về liên kết với Cha Ngài.

- Theo lời Chúa truyền, chiếc gậy A-a-ron phải được đem ra trước nhan Chúa trong Lều Tạm và đặt chung với gậy của những vị đứng đầu mười một chi tộc Ít-ra-en. Nhưng chiếc gậy A-a-ron đâm chồi trổ hoa và kết trái, mặc dù không có ai giúp vào (Ds 17:16-24). Đức Ma-ri-a là chiếc gậy Thiên Chúa. Mẹ đã nên đền thờ sống động của Chúa Thánh Thần và sinh ra Hoa Trái phúc lạ là Chúa Giê-su đem lại sự sống siêu nhiên cho mọi người.

- Tấm lông chiên của Gi-đê-on cũng là hình bóng tiên trưng của Đức Ma-ri-a. Thiên Chúa đã dùng tấm lôâng ấy như một dấu chứng Ngài ở cùng Gi-đê-on. Buổi sáng đầu tiên, sương làm ướt tấm lông chiên trong khi mặt đất chung quanh khô ráo. Sáng hôm sau, tấm lông chiên lại khô trong khi đất chung quanh lại ướt (Tl 6:36-40). Đức Ma-ri-a là tấm lông chiên của Thiên Chúa, sương làm ướt tấm lông chiên giữa đêm tĩnh mịch tượng trưng việc Ngôi Lời Thiên Chúa giáng hạ nơi cung lòng rất trinh trong của Mẹ. Thánh Am-rô-si-ô nói: “Đức Ma-ri-a cưu mang Chúa và được Chúa thấm nhuần như một làn sương êm dịu mà không làm tổn hại đức đồng trinh của Mẹ.”

- Đền Thờ Sa-lô-môn là vinh quang của thế giới cổ xưa. Vua Sa-lô-môn đã trang hoàng Đền Thờ một cách tráng lệ bằng vàng, bạc, gỗ và đá quí xứng nơi Chúa ngự. Sa-lô-môn còn đặt Hòm Bia với hai bia đá lề luật vào Đền Thờ (1V 16-17). Trong thời kỳ Tân Ước, Thiên Chúa cũng trang điểm Đức Ma-ri-a, Đền Thờ thánh của Người bằng tất cả sự phong phú ân sủng và nhân đức. Mẹ được Đấng Ba Lần Thánh ở với. Mẹ chính là Đền Thờ Thiên Chúa.

A. Buy-ô-nô

 

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)