dongcong.net
 
 


TÔI TRUNG ĐỨC MA-RI-A

Các tôi trung của Đức Ma-ri-a thực sự đông vô số. Chúng tôi chỉ chọn ra năm vị dưới đây vì các ngài đã và vẫn còn ảnh hưởng đến lòng tôn sùng Đức Ma-ri-a trong Giáo Hội, đó là: thánh Ép-rem Xi-ri-a, thánh Bê-na-đô, thánh Lu-i Ma-ri-a Gơ-ri-nhông đơ Mong-pho, thánh An-phong-sô Li-gô-ri và thánh Ma-xi-mi-li-a-nô Kôn-bê.

1. Thánh Ép-rem Xi-ri-a (306 - 373)

Vị đại tiến sĩ của Giáo Hội Xi-ri-a có lẽ ra đời trong một gia đình có đạo khoảng năm 306 tại miền Ni-si-bi (Nisibis), xứ Mê-sô-pô-ta-mi-a. Ngài được đức giám mục sở tại dạy dỗ. Theo truyền thuyết, ngài đã tham dự Công Đồng Ni-xê-a (325), kết thân với thánh Ba-si-li-ô và nhiều lần thăm viếng các ẩn sĩ Ai Cập. Ngài được phong phó tế nhà thờ Ni-si-bi năm 338, nhưng không chịu tiến chức linh mục. Khi người Ba Tư chiếm đóng Ni-si-bi năm 363, ngài cùng nhiều giáo dân khác trốn sang Ê-đét-sa, một lãnh thổ thuộc Rô-ma. Tại đây ngài đã lập một trường thần học danh tiếng. Thánh Ép-rem qua đời năm 373. Giáo Hội đã tôn phong ngài làm tiến sĩ Hội Thánh năm 1920 và lập lễ kính trong phụng vụ toàn Giáo Hội ngày 9 tháng 6.

Các công trình của thánh Ép-rem được soạn bằng tiếng Xi-ri-a và truyền lại đến nay. Một số vẫn còn ở nguyên ngữ Xi-ri-a, một số khác đã được dịch ra tiếng Ác-mê-ni (Armenia) và Hy Lạp. Các nhà chuyên môn đã gắng lọc ra những nguyên tác chính cống của ngài từ kho tàng lưu truyền Đông Phương trước kia vốn gán lầm cho ngài.

Là một nhà chú giải Thánh Kinh, thánh Ép-rem thích dùng hình thức thi ca, nhưng về mặt vần điệu thì khác xa những hình thức văn chương của chúng ta ngày nay.

Thánh Ép-rem lôi kéo chúng ta đến với lòng sùng kính rất sâu xa đối với Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, nhưng khó mà tìm ra được một dòng thơ thể hiện rõ nét lòng sùng kính của ngài, vì thi ca của ngài thường dài dòng nhưng sâu sắc, người ta thường trích khổ thơ diễm kiều sau đây:

“Ôi Chúa Giê-su, chỉ mình Chúa và Mẹ Chúa, là những Đấng xinh đẹp hoàn hảo,
Không một tì tích nơi Chúa,
Cũng không một lầm lỡ nơi Mẹ.”

Một số người cố ý gạn trong khổ thơ trên một ý về ơn vô nhiễm nguyên tội. Nhưng như thế là vượt quá xa ý tưởng thần học của vị thánh tiến sĩ. Những lời trên đơn giản chỉ ca ngợi cuộc sống trinh bạch của Đức Ma-ri-a, cuộc sống phản chiếu sự thánh hảo của Con Mẹ, và ơn sủng Mẹ được Thiên Chúa ban.

Thánh Ép-rem vừa là một mẫu gương, vừa là một phấn khích cho lòng tôn sùng tín thác - được Thánh Kinh nuôi dưỡng - đối với Đấng đã ban cho chúng ta “Hoa Trái sự sống” và là mô phạm cho chúng ta về mọi nhân đức Ki-tô giáo. Bài thánh ca ngợi khen Đức Ma-ri-a của ngài đáng được đọc đi đọc lại và suy gẫm nhiều lần:

“Đức Ma-ri-a đã ban cho chúng ta Quả Phúc chan chứa ngọt ngào,
Thay cho quả đắng cay
Mà E-và đã hái từ cây sự chết;
Và cả trần gian tìm được niềm vui nơi Hoa Trái lòng Mẹ.
Cây Nho Đồng Trinh đã sinh ra Trái
Mùi vị thơm ngon
Đem lại niềm hân hoan cho những người đau khổ.
E-và và A-đam tràn ngập sầu thương
Đã nếm được nước sự sống
Và được an ủi.
Thánh thiện trong thân xác, toàn mỹ trong linh hồn, trinh bạch trong tâm trí,
Thành thực trong trí khôn và hoàn hảo trong tình cảm.
Thanh khiết, trung thành, tâm tịnh và từng trải trong thử thách, Đức Ma-ri-a tràn đầy mọi nhân đức.”

H. Hô-tanh

2. Thánh Bê-na-đô (1090 - 1153)

Thánh Bê-na-đô là một trụ cột của phong trào sùng kính Đức Mẹ trong thời đại của ngài, một phong trào mà dòng Xi-tô giữ một vai trò nổi bật. Vào dòng năm 1113, thánh nhân sáng lập đan viện Cơ-le-vô (Clairvaux) năm 1115, về sau phát triển ra mươi lăm đan viện khác. Địa vị của Đức Ma-ri-a trong các tác phẩm của ngài tuy có giới hạn tương đối nhưng rất đặc sắc so với những giáo thuyết đương thời và truyền thống sau đó về Mẹ. Theo Cha Rơ-nê Lô-ran-tanh (René Laurentin): “Thánh Bê-na-đô đã tạo ra những biểu ngôn đẹp nói lên niềm tin vào Mẹ và truyền lại cho hậu thế mặc dù ngài cũng bị giới hạn ở một vài điểm.”

Các tác phẩm Thánh Mẫu chính yếu của ngài là: De Laudibus Mariae (Ca Tụng Đức Mẹ; gồm bốn bài giảng mầu nhiệm Truyền Tin (Lc 1:26 tt); ba bài giảng lễ Đức Mẹ Dâng Con; ba bài giảng lễ Truyền Tin; một bài giảng lễ Sinh Nhật Mẹ (bài giảng về máng chuyển ơn); năm bài giảng về Mẹ Lên Trời; một bài giảng về tuần bát nhật Mẹ Lên Trời (super signum: điều lạ vĩ đại); một bài giảng lễ Cắt Bì và Dâng Chúa Trong Đền Thờ; một bài cho mùa Vọng và lá thư số 174 gởi các kinh sĩ tại Li-ông nhân dịp lễ Mẹ Chịu Thai mới được thiết lập. Ngoài ra, trong các tác phẩm khác, ngài cũng đề cập ít nhiều đến Đức Mẹ.

Lòng sùng kính Đức Mẹ của thánh Bê-na-đô lấy phụng vụ làm tâm điểm. Ngài đặt địa vị của Mẹ vào chương trình cứu độ và trình bày tầm quan trọng của lòng sùng kính Đức Mẹ mà chúng ta phải có trong đời sống ki-tô hữu. Thánh nhân trình bày hai chủ điểm: mầu nhiệm Nhập Thể, trong đó Đức Ma-ri-a cộng tác với lời Fiat; và mầu nhiệm Mẹ Lên Trời.

Đức Ma-ri-a đưa ta đến gặp gỡ thân mật với Thiên Chúa. Mẫu tính của Mẹ đã ảnh hưởng nhưng không làm tổn hại đức đồng trinh. Đức khiêm nhượng của Mẹ đã làm Mẹ trở thành Mẹ Thiên Chúa, làm Nữ Vương, Bà Chúa của thế giới, làm Đấng Trung Gian trên trời trước tòa Đấng Trung Gian duy nhất, làm Mẹ mọi dân tộc. Mẹ là Chiếc Thang cho các tội nhân và là Cửa Thiên Đàng. Thánh Bê-na-đô trình bày lòng sùng kính của những thế kỷ trước đối với Đức Trinh Nữ Ma-ri-a và dành cho Mẹ một dấu ấn không phai nhòa trong Giáo Hội Tây Phương. Tuy nhiên, Ngài cảm thấy không cần phải đính thêm vào triều thiên đặc ân của Mẹ viên ngọc bội vô nhiễm nguyên tội. Theo ngài, Đức Mẹ không cần một “vinh quang giả” không phù hợp, vì thế Giáo Hội hoàn vũ không cần phải ca khen Mẹ như thế làm gì.

Cũng nhờ thánh Bê-na-đô, Truyền Thống Giáo Hội sau này đã rút ra được những lời trong kinh Hãy Nhớ và hứng khởi cho bài ca vãn Đấng Trinh Tuyền (Inviolate).

3. Thánh Lu-i Ma-ri-a Gơ-ri-nhông đơ Mong-pho (1683 - 1716)

Thánh Lu-i Ma-ri-a Gơ-ri-nhông đơ Mong-pho chào đời ngày 31 tháng 1 năm 1683 tại miền Ắp-pơ Bơ-ri-ta-ni (Upper Britanny) xứ Mong-pho suya Mơ (Montfort-sur-Meu), vì thế ngài đã nhận tên Mong-pho để kỷ niệm hồng phúc Thánh Tẩy. Là con út trong gia đình mười tám người con, trong số có ba linh mục và hai nữ tu, ngài được các tu sĩ dòng Tên, những người con thiêng liêng của cha Lan-lơ-măng (Lallemant) giáo dục, sau đó còn được các cha Xuân-bích huấn luyện, nhờ đó mà ngài hấp thụ được tinh thần linh đạo sâu sắc của trường phái Pháp Quốc. Từ năm 1700 đến năm 1716, ngài đi truyền giáo khắp mười giáo phận miền Tây nước Pháp. Thánh nhân kiệt sức và qua đời năm 43 tuổi tại Xanh Lô-răng suya Se-vơ (Saint Laurent-sur-Sèvre) để lại hai dòng tu vừa được thành lập là dòng Nữ Tử Đấng Khôn Ngoan và dòng Bạn Đồng Hành Đức Ma-ri-a. Sau khi nhân qua đời, hai dòng này đã phát triển mạnh mẽ. Ngài được Đức Pi-ô XII tôn phong hiển thánh ngày 20 tháng 7 năm 1947.

Người ta có cảm tưởng thánh nhân cũng được hồng ân tái sinh Thánh Tẩy đặc biệt như thánh Phao-lô. Như thánh Tông Đồ, ngài rất ghét sự dữ và hết sức mềm mỏng với Chúa Thánh Thần. Những người biết ngài từ thời thơ ấu và niên thiếu cho rằng Đức Trinh Nữ đã “chiếm đoạt” ngài ngay từ ngày Rửa Tội như Chúa Giê-su đã chiếm đoạt thánh Phao-lô vậy. Mối liên liên kết bí nhiệm với Đức Ma-ri-a trở thành “một cảnh vực thần linh” (divine milieu) trong đời sống tinh thần và công cuộc tông đồ của ngài.

Thánh nhân đã đi bộ trên hai mươi lăm vạn cây số để hoạt động và để lại một số lượng tài liệu trước tác đáng kể, tất cả được viết theo quan điểm của một người làm công tác mục vụ. Trong số một trăm bốn mươi sáu bài ca nguyện viết tay của ngài, tổng cộng hơn hai vạn dòng chỉ có hai mươi bốn bài thực sự ngợi ca Đức Mẹ, nhưng hầu như mọi chỗ đều nhắc đến Thánh Danh Mẹ, xin Mẹ ban ơn hoán cải, luyện tập đời sống nhân đức, hợp nhất với Chúa Ki-tô và bền vững đến cùng.
Tác phẩm “Bí Mật Đáng Ngưỡng Mộ của Kinh Mân Côi Rất Thánh” của thánh nhân là một tác phẩm rút gọn quyển “Kinh Mân Côi Huyền Nhiệm” của cha An-tô-ni-ô Tô-ma O.P.. Trong tác phẩm của mình, thánh Mong-pho minh chứng linh hồn sẽ tìm được sức mạnh thiêng liêng và nhiệt huyết tông đồ từ lòng sùng kính rất bình dị là kinh Mân Côi. Tác phẩm “Yêu Mến Sự Khôn Ngoan Muôn Đời” tổng hợp linh đạo yêu mến Chúa Ki-tô của ngài, trong đó có một chương đặc biệt nói về lòng sùng kính Đức Ma-ri-a được trình bày như một phương thế kỳ diệu để đạt đến sự hiệp nhất với Chúa Giê-su, Thượng Trí của Thiên Chúa.

Sau khi qua đời, thành công lớn của ngài là hai tác phẩm về Đức Mẹ đã được phổ biến khắp thể giới, truyền bá phương thế sống lòng sùng kính Đức Mẹ riêng của ngài, tức là con đường “Làm Nô Lệ Tình Yêu.”

Nhất là tác phẩm “Bí Mật Đức Ma-ri-a” viết dưới dạng một lá thư hướng dẫn đường thiêng liêng, đề cập đến một phương thế giúp cho linh hồn “hiệp nhất với Chúa Giê-su nhờ Mẹ Ma-ri-a.” Tác phẩm thứ hai lớn và nổi tiếng hơn, cuốn “Thành Thực Sùng Kính Mẹ Ma-ri-a” đã được dịch ra hơn năm mươi thứ tiếng, bàn về một phương thế thiêng liêng giúp kinh hồn thể hiện trọn vẹn cuộc sống Chúa Giê-su, đó là sống với Mẹ và nhờ Mẹ. Tác phẩm này được viết thích hợp cho mọi bậc sống. Chủ đề trọng tâm là khía cạnh tông đồ của đời sống ki-tô hữu.
Cha Mong-pho đã được Phúc Âm thúc bách và ngài đã sống trọn Phúc Âm từng nét. Chính trong Phúc Âm, ngài đã tìm gặp được tấm gương cho cuộc sống lệ thuộc Đức Mẹ, đó là mẫu gương Chúa Giê-su lệ thuộc Đức Mẹ suốt quãng đời ẩn khuất của Người. Mẹ đã đúc nên “Đầu” thì Mẹ cũng đúc nên các chi thể. Hành vi tận hiến theo thánh Mong-pho công nhận và mời gọi chúng ta hãy sống trọn mối tình yêu thơ thảo đối với Mẹ Ma-ri-a.

Hành vi tận hiến, một hành vi đã được Thầy Dạy Chân Lý đích thật là Chúa Giê-su sửa dọn suốt ba mươi năm trường để dẫn đưa chúng ta đến sự lệ thuộc và tích cực noi gương Đức Ma-ri-a và Chúa Ki-tô, những mẫu gương thể hiện hình ảnh Thiên Chúa trong tâm hồn chúng ta. Tận hiến trên lý thuyết suông không đủ, cần phải được thể hiện bằng hành động trong cuộc sống hằng ngày.

Thái độ nội tâm mà thánh Mong-pho muốn trình bày theo trường phái linh đạo Pháp Quốc được gọi là “luyến kết” (adherence), chú trọng thái độ nội tâm hơn các hành vi bên ngoài. Vì thế, ngài rất uyển chuyển đối với những hành vi tôn sùng Đức Mẹ bên ngoài. Ngài chú trọng đến bốn hành vi nội tâm sau đây:

1) Nhờ Đức Ma-ri-a mở lòng cho Chúa Thánh Thần hoạt động.

2) Sống thân mật trong tinh thần kết hợp.

3) Ý thức về tình yêu mẫu tử của Mẹ Ma-ri-a.

4) Dốc tâm phục vụ Mẹ Ma-ri-a và nhờ Mẹ phụng sự Chúa Ki-tô. Đó là linh hồn của mọi hoạt động bên ngoài được hướng về mục đích sao cho Nước Chúa mau hiển trị.

Thánh Mong-pho có lợi điểm là ngài viết bằng ngôn ngữ bình dân của thế kỷ XVIII (tại Pháp). Nhưng ưu điểm lớn nhất của ngài chính là ở chỗ ngài có thể sử dụng ngôn ngữ của kinh nghiệm bản thân trong cuộc sống thần bí và truyền giáo. Đó là điều làm cho thánh nhân trở thành một văn gia xuất sắc của Giáo Hội về tinh thần Nô Lệ Tình Yêu. Khắp thế giới nơi đâu người ta cũng nghe nói: “Tôi đã tận hiến cho Đức Mẹ theo tinh thần thánh Mong-pho.”

O. Lơ Bo-nhơ

4. Thánh An-phong-sô Li-gô-ri (1696 - 1787)

Chào đời tại thành phố Na-pô-li (Naples) ngày 27 tháng 9 năm1696, thánh An-phong-sô là người đã sáng lập dòng Chúa Cứu Thế năm 1732. Từ năm 1762 đến năm 1775, ngài làm giám mục giáo phận thánh A-ga-ta thành Gốt (Agatha of Goth). Ngài qua đời tại Pa-ga-ni (Pagani) ngày 1 tháng 8 năm 1787. Ngài được tôn phong hiển thánh năm 1839, tiến sĩ Hội Thánh năm 1871, và quan thầy các nhà luân lý và các linh mục giải tội năm 1950.

Cả cuộc đời, ngài trổi vượt về lòng yêu mến Đức Mẹ sâu xa. Nhiều lần Đức Mẹ đã can thiệp chữa bệnh, ưu đãi, hiện ra và dạy dỗ cho ngài. Với tâm tình biết ơn Mẹ, ngài đã viết:

“Con chân nhận rằng, nhờ Mẹ can thiệp con mới đón nhận được hết những gì tốt đẹp cho cuộc đời con: ơn trở lại, ơn thiên triệu nên thánh và biết bao ơn khác. Mẹ cũng biết con muốn nhìn thấy mọi người yêu mến Mẹ như Mẹ đáng mến và muốn chứng tỏ lòng tri ân trước hằng hà sa số hồng ân Mẹ ban, con đã dốc hết tâm lực, ở khắp mọi nơi, chung cũng như riêng, không ngừng nói về Mẹ để khắc ghi nơi mọi tâm hồn lòng sùng kính hữu ích và dịu dàng đối với Mẹ” (lời nguyện đầu trong tác phẩm Vinh Quang Đức Mẹ).

Ảnh hưởng và bằng chứng về lòng sùng kính Đức Mẹ của ngài được thể hiện qua các vịnh khúc, nhất là bài “Ôi Hy Vọng Đẹp Xinh của Tôi.” Nhưng công trình Thánh Mẫu nổi tiếng nhất của ngài là tác phẩm “Vinh Quang Đức Mẹ,” được xuất bản thành hai quyển năm 1750. Đó là thành quả sau nhiều năm trong công tác mục vụ của ngài. Mặc dù quá biết rằng giới trí thức tại Na-pô-li bị ảnh hưởng tư tưởng của Guy-đơn-pheo Mu-ra-tô-ri (Widenfeld Muratori) và bè Giăng-xê-nít (Jansenist) khinh thường lòng sùng kính Đức Mẹ, nhưng thánh nhân không muốn dùng thể văn bút chiến trong tác phẩm của mình. Ngài chọn lời văn trình bày minh bạch cốt “giúp anh chị em tín hữu không cần phải tốn kém vất vả mà có được những bài học nung nóng lòng họ yêu mến Đức Mẹ; nhất là giúp cho các linh mục những tài liệu để giảng thuyết cho có kết quả về lòng sùng kính Mẹ Chí Thánh của chúng ta” (lời mở đầu tác phẩm Vinh Quang Đức Mẹ).

Trong lời cổ động kinh Lạy Nữ Vương (quyển I) và phần các lễ kinh Đức Mẹ (quyển II), thánh An-phong-sô viết theo một dàn bài ba phần. Ngài trình bày:

a) Phần giáo lý minh giải một đặc ân hay một tước hiệu nào đó của Đức Ma-ri-a, rồi dùng nhiều chứng cứ của các giáo phụ và thần học gia để hỗ trợ.

b) Một câu chuyện minh họa để lôi kéo trí tưởng tượng của độc giả.

c) Một lời nguyện, lồng nền tảng giáo lý vào tâm tình yêu mến Đức Mẹ.

Qua ba phần ấy, thánh nhân muốn phác họa Đức Ma-ri-a như một con người sống động, một hiền mẫu yêu thương cầu bầu cho cuộc đời các tội nhân nam nữ, một người mẹ giúp chúng ta vượt thắng chán nản và hướng đưa chúng ta đến các nhiệm tích và thực hiện các công việc từ thiện Ki-tô giáo.

Tác phẩm Vinh Quang Đức Mẹ thành công nhanh chóng và đến nay vẫn được yêu chuộng. Có thể nói rằng đó là tác phẩm Thánh Mẫu “bán chạy số một,” đã được xuất bản trên tám trăm lần bằng nhiều thứ tiếng.

Lời văn hơi lê thê của tác phẩm cho ta biết nguồn gốc phương nam, và có thể không được hợp lắm với người phương bắc với tính khá bảo thủ. Ngoài ra, các điển tích và phép lạ có thể cũng không được chính xác theo nghiên cứu sử học. Nhưng nhìn chung, tác phẩm Vinh Quang Đức Mẹ vẫn là một kiệt tác trên lãnh vực cầu nguyện và thần học chiêm niệm trong một xã hội đang xuống dốc. Trong khi sử gia Lu-đô-vi-cô An-tô-ni-ô Mu-ra-tô-ri (Ludovico Antonio Muratori) thất bại trong nỗ lực cố gắng “thanh tẩy” lòng tôn sùng Đức Ma-ri-a, thì thánh An-phong-sô đã thành công trong việc làm sống động lòng tôn sùng ấy. Phương pháp của thánh An-phong-sô có thể được coi như một hứng khởi cho các vị hoạt động mục vụ muốn phát triển lòng yêu mến Đức Mẹ nơi quần chúng trong thời đại của chúng ta.

Đơ Phi-ô-rê

5. Thánh Ma-xi-mi-li-a-nô Kôn-bê (1894 -1941)

Là một tông đồ và thần học gia của Đức Mẹ Vô Nhiễm, người tu sĩ Ba Lan dòng Phan-xi-cô này đã thành lập tại Rô-ma một tổ chức lấy tên là Chiến Binh Đức Mẹ Vô Nhiễm (Militia Immaculata). Mục đích của tổ chức là “đem toàn thể thế giới về cho Chúa Ki-tô nhờ Mẹ Vô Nhiễm.”

Giáo thuyết Thánh Mẫu của thánh Ma-xi-mi-li-a-nô Kôn-bê khởi sự từ Lộ Đức, nơi thánh nhân đã bị choáng ngợp trước lời Đức Mẹ xưng mình cho Bê-na-đê-ta: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.”

Cha Kôn-bê lý luận rằng: Tại Lộ Đức, Đức Ma-ri-a đã không nói: “Ta là Người được Đầu Thai Vô Nhiễm.” Điều này nhắc lại giáo lý Đức Mẹ Vô Nhiễm đã được Đức Pi-ô IX công bố năm 1854, bốn năm trước khi có sự kiện Lộ Đức. Câu trả lời của Đức Mẹ lại là: “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.” Nói cho xác đáng, chỉ mình Thiên Chúa mới có thể tự xưng như thế. Nếu Đức Ma-ri-a xưng mình cũng một cách giống như Thiên Chúa vậy, là vì Mẹ đại diện cho sự thuần khiết tinh tấn của Chúa Thánh Thần.

Nhờ Chúa Thánh Thần, Mẹ đã được đầu thai vô nhiễm, và cũng nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, Mẹ đã được kén chọn để cưu mang Con Thiên Chúa. Vì giữa Chúa thánh Thần và Mẹ Ma-ri-a có một tương quan mật thiết, nên cha Kôn-bê kết luận rằng: tận hiến cho Đức Mẹ Vô Nhiễm cũng chính là hiến mình đúng nghĩa và trọn vẹn cho Chúa Thánh Thần, nguồn ân sủng, “Linh Hồn của Giáo Hội” như thánh Công Đồng Va-ti-ca-nô II đã nói (LG7). Về điểm này ta có thể nói cha Kôn-bê là một vị tiền hô cho Công Đồng.

Người tôi trung này của Đức Ma-ri-a đã muốn dùng mọi phương thế, kể cả cái chết để minh chứng giáo thuyết của mình. Ngài khao khát “được nghiền nát thành bụi đất” cho Nước Thánh Tâm Chúa Giê-su trị đến qua Mẹ Vô Nhiễm. Thiên Chúa đã khứng nhận nguyện vọng của ngài đến từng nét. Cha Kôn-bê đã xúc động và tình nguyện thế chỗ một người tử tù, cha bị kết án để đói cho đến chết trong ngục thất tại trại tập trung Ốt-chơ-guýt (Auschwitz). Đề nghị của ngài được chấp nhận. Ngài bị đem đi và mười lăm ngày sau ngài đã chết vì một mũi thuốc độc, ngày 14 tháng 8 năm 1941. Hôm sau, ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời, thi thể của ngài bị hỏa thiêu.

Ngày 17 tháng 10 năm 1971, ngài được Đức Phao-lô VI tôn phong chân phước. Đến ngày 10 tháng 10 năm 1982, Đức Gio-an Phao-lô II tôn phong ngài lên bậc hiển thánh. Lễ kính thánh nhân hàng năm vào ngày 14 tháng 8, đúng ngày qua đời của ngài.

H.M. Man-tô Bô-ga-mi

 

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)