dongcong.net
 
 


CÔNG ĐỒNG VA-TI-CA-NÔ II VỚI ĐỨC MA-RI-A

Xem:
- Giáo Hội và Đức Ma-ri-a
- Mẫu Tính Tinh Thần

1. Chương 8 của Hiến Chế Lumen Gentium: Lịch Sử và Phạm Vi

Ngay trong khóa họp khai mạc Công Đồng Va-ti-ca-nô II tháng 10 năm 1962, các nghị phụ đã quyết định chọn “Giáo Hội” ä làm đề tài trung tâm của Công Đồng. Tất cả các đề tài khác, dĩ nhiên bao gồm cả đề tài Đức Ma-ri-a, sẽ được nghiên cứu trong tương quan với Giáo Hội. Một lược đồ về Đức Ma-ri-a đã được đệ trình nhưng vì không phù hợp với tiêu chuẩn ấy nên phải đình hoãn.

Trong khóa họp kế tiếp, ngày 16 tháng 10 năm 1963, sau cuộc thảo luận gay cấn và lâu giờ, vấn đề được đề ra cho Công Đồng là, “các nghị phụ có ủng hộ việc đưa lược đồ về Đức Ma-ri-a, Mẹ Giáo Hội thành chương cuối cùng trong lược đồ về Giáo Hội không (de Ecclesia)?” Các nghị phụ bỏ phiếu và phía thuận đã thắng khít khao... Thế làâ công việc đã được tiến hành theo đề nghị này.

Một điểm nữa đã gây lúng túng cho ủy ban soạn thảo. Đức Ma-ri-a là một “thành phần” ưu việt của Giáo Hội, được chiêm ngưỡng như gương mẫu hoàn toàn xứng đáng cho Giáo Hội và cho toàn thể các chi thể khác. Nhưng Đức Ma-ri-a còn là “Mẹ Giáo Hội,” đây là một tước hiệu mới mẻ, chưa có tính truyền thống nên có thể làm sâu thêm hố ngăn cách với anh em Tin Lành. Vì thế các nghị phụ đã phải chấp nhận một định thức tương đương: “Giáo Hội Công Giáo được Chúa Thánh Thần chỉ dạy, tôn vinh Đức Ma-ri-a với tình yêu con thảo như đối một người Mẹ rất dấu yêu” (LG 53).

Ngày 21 tháng 10 năm 1964, Đức Phao-lô VI đã phê chuẩn hiến chế Tín Lý về Giáo Hội (Lumen Gentium), và nhân dịp ấy Ngài công bố: “Chúng Tôi tuyên xưng Đức Ma-ri-a rất thánh là Mẹ Giáo Hội, tức là Mẹ của toàn thể Dân Chúa, mọi tín hữu cũng như mọi chủ chăn cùng tuyên xưng danh thánh Mẹ rất đáng yêu mến.” Như thế, Đức Thánh Cha đã làm sáng tỏ văn kiện này của Công Đồng.

Không đầy ba năm sau, ngày 13 tháng 5 năm1967, Đức Phao-lô VI, một lần nữa lại tuyên bố trong tông thư Điềm Lạ Vĩ Đại (Signum Magnum): “Chúng Tôi muốn một lần nữa kêu gọi mọi tín hữu hãy lưu tâm đến mối liên hệ thắm thiết giữa Mẫu Tính Thiêng Liêng của Đức Ma-ri-a như đã được làm sáng tỏ trong hiến chế Tín Lý về Giáo Hội... Chân lý an ủi này, do thánh ý Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan, là một thành phần gắn liền với mầu nhiệm cứu độ nhân loại và đó là lý do chân lý này phải nên đối tượng niềm tin của mọi ki-tô hữu.”

Trong tông thư Đấng Cứu Độ Nhân Loại (Redemptor Hominis) ban hành ngày 4 tháng 3 năm 1979, Đức Gio-an Phao-lô II cũng đã đề cập đến mối liên hệ giữa Giáo Hội và Đức Ma-ri-a như thánh Công Đồng đã nói trước kia. Đức Thánh Cha đặt câu hỏi: “Nói rằng Giáo Hội là một người mẹ có nghĩa là gì, và nói rằng chính Giáo Hội luôn luôn và nhất là trong thời đại của chúng ta cũng cần một người Mẹ có nghĩa là gì?” Và Đức Thánh Cha đã tìm được từ Công Đồng một câu trả lời thích đáng nhất: “Chúng ta mang ơn các nghị phụ Công Đồng Va-ti-ca-nô II, những người đã diễn tả chân lý này trong hiến chế Tín Lý về Giáo Hội bằng một học thuyết Ma-ri-a phong phú. Đức Phao-lô VI, được khởi hứng bằng giáo huấn Công Đồng, đã tuyên xưng Mẹ Chúa Ki-tô là 'Mẹ Giáo Hội,' và tước hiệu này giờ đây đã vang xa vang rộng.”

2. Những Điểm Cốt Yếu của Chương 8

Chương này được bắt đầu bằng một cái nhìn tổng quát về Đức Ma-ri-a trong chương trình cứu độ nhân loại (các số 52-54). Như tựa đề của chương này cho thấy, Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, Mẹ Thiên Chúa có một dấu ấn đậm nét trong mầu nhiệm Chúa Ki-tô và Giáo Hội. Thánh Kinh và Thánh Truyền, đặc biệt là các giáo phụ đều xác định vai trò của Đức Ma-ri-a trong nhiệm cuộc cứu độ. Trong Cựu Ước, Đức Ma-ri-a đã được phác họa là người đi trước sửa dọn cho Chúa Ki-tô đến (số 55). Mẹ đã khởi đầu Tân Ước. Biến cố Truyền Tin, đức tin, ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội, và thiên chức Mẹ Thiên Chúa của Đức Trinh Nữ đã thể hiện rõ ràng điều ấy (số 56). Đức Ma-ri-a là trợ tá đệ nhất trong công cuộc cứu độ sát kề suốt cuộc đời Chúa Cứu thế, Con Mẹ: trong tư cách làm mẹ tại Na-da-rét, làm môn đệ từ Ca-na đến tận chân Thập Giá, nơi Chúa Giê-su trong lúc hấp hối đã trối Mẹ làm Mẹ Gio-an (các số 57-59).

Chương này còn mô tả Đức Ma-ri-a với sứ mạng của Mẹ trong đời sống Giáo Hội. Sứ mạng trung gian của Mẹ không làm lu mờ hay biến dạng vai trò của Đấng Trung Gian duy nhất (các số 60-62). Là mô phạm của Giáo Hội, lời nguyện của Mẹ chính là mẫu mực cho lời cầu nguyện của chúng ta (các số 63-65). Tại sao ta tôn vinh Mẹ và phải tôn vinh đặc biệt như thế nào? Vì Mẹ là dấu chỉ cho hy vọng cánh chung (các số 66-69): “Ngày nay, được tôn vinh vượt trên các thần thánh trên trời, Mẹ Thiên Chúa vẫn tiếp tục cầu bầu cùng Con Mẹ, trong sự hiệp thông với toàn thể các thánh, cho tới khi gia đình mọi dân tộc... đều hân hoan đoàn tụ trong an bình và hòa thuận, hợp thành một Dân Thiên Chúa duy nhất cho vinh danh Thiên Chúa Ba Ngôi rất thánh và không phân chia” (số 69).

Chương 8, chương cuối của hiến chế Tín Lý về Giáo Hội, đã kết luận bằng những lời đẹp như thế.

3. Đức Ma-ri-a Trong Các Văn Kiện Khác của Công Đồng

a) Hiến chế về Phụng Vụ Thánh: “Trong khi cử hành các mầu nhiệm của Chúa Ki-tô theo chu kỳ hằng năm, với một tình yêu đặc biệt, Giáo Hội tôn kính Đức Ma-ri-a vinh hiển, Mẹ Thiên Chúa, Đấng đã liên kết với công trình cứu chuộc của Con Người bằng tương quan bất khả phân ly. Nơi Mẹ, Giáo Hội ngưỡng mộ và tán tụng thành quả tuyệt vời của công trình cứu chuộc, và hân hoan chiêm ngắm nơi Mẹ như trong hình ảnh tinh tuyền trọn hảo, điều mà toàn thể Giáo Hội ước mong và trông đợi” (số 103).

b) Sắc lệnh về Tông Đồ Giáo Dân: “Gương mẫu hoàn hảo của đời sống thiêng liêng và đời sống tông đồ chính là Đức Trinh Nữ Rất Thánh Ma-ri-a, Nữ Vương Các Tông Đồ: khi sống ở trần gian, Người đã sống đời như mọi người, và vất vả lo lắng cho gia đình, nhưng luôn luôn kết hợp mật thiết với Con mình và đã cộng tác vào công việc của Đấng Cứu Thế một cách cá biệt; còn ngày nay, sau khi đã được đưa lên trời, với tình yêu thương của người mẹ, Người chăm sóc những đứa em của Con Mẹ, đang trên đường lữ hành, gặp nhiều hiểm nguy và thử thách, Người lo lắng cho tới khi họ về tới quê hương hạnh phúc “(LG 62). “Mọi người hãy hết lòng tôn sùng Mẹ và phó thác đời sống và cả việc tông đồ của mình cho Mẹ coi sóc “(LG 4).

c) Sắc lệnh về Thích Nghi và Canh Tân Đời Tu Trì: “Nhờ lời cầu bầu của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a rất dịu hiền, Mẹ Thiên Chúa, mà cuộc đời của Mẹ là khuôn mẫu cho mọi người (thánh Am-rô-si-ô). Các hội dòng (nam cũng như nữ) sẽ mỗi ngày một lớn mạnh và trổ sinh các hoa trái cứu độ dồi dào hơn” (số 25).

d) Sắc lệnh về Đào Tạo Linh Mục: “Các linh mục phải lấy lòng tin cậy như con thảo mà tôn kính và yêu mến Đức Trinh Nữ Rất Thánh Ma-ri-a, Đấng mà Đức Ki-tô khi hấp hối trên Thập Giá đã trối ban làm mẹ cho người môn đệ Người” (số 8).

e) Sắc lệnh về Chức Vụ và Đời Sống Linh Mục: “Linh mục luôn tìm gặp mẫu gương tuyệt vời và sự dễ dàng vâng phục nơi Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, Người được Chúa Thánh Thần dẫn dắt đã hiến toàn thân cho mầu nhiệm cứu chuộc loài người; các linh mục phải lấy lòng con thảo thành kính tôn sùng và yêu mến Đức Trinh Nữ Ma-ri-a là Mẹ của Linh Mục Thượng Phẩm vĩnh viễn, là Nữ Vương Các Tông Đồ và là Đấng Bảo Trợ thừa tác vụ linh mục” (số 18).

f) Sắc lệnh về Hoạt Động Truyền Giáo của Giáo Hội: “Thực vậy, sứ vụ tông đồ bắt đầu từ ngày lễ Hiện Xuống, như khi Chúa Thánh Thần đến ngự trên Trinh Nữ Ma-ri-a thì Chúa Ki-tô được thụ thai, và như khi Chúa Thánh Thần ngự trên Chúa Ki-tô lúc Người cầu nguyện thì Người được thúc đẩy bắt đầu thi hành chức vụ” (số 4).

4. Đóng Góp của Công Đồng về Thánh Mẫu Học

Thánh Công Đồng, trong khi vẫn trung thành với truyền thống từ thời các thánh Tông Đồ, đã giải phóng nếp nghĩ của các tín hữu về Đức Ma-ri-a, ít nhất là tại Tây Phương. Trước Công Đồng Va-ti-ca-nô II, người ta thường nói: Giê-su, Ma-ri-a, và Giáo Hội theo như kiểu Đức Ma-ri-a đứng bên ngoài một Giáo Hội gồm toàn các tội nhân, dù là tội nhân được cứu chuộc. Đức Ma-ri-a cao vượt do đặc ân đầu thai vô nhiễm. Rốt cuộc, người ta đã nhìn Đức Ma-ri-a như Vị Trung Gian giữa Giáo Hội và Chúa Con, và coi Mẹ như vị Trung Gian duy nhất trước tòa Chúa Giê-su y như Chúa Giê-su là Trung Gian duy nhất giữa Thiên Chúa Cha và nhân loại được cứu độ.

Thánh Công Đồng đã giúp chúng ta xác định được mối quan hệ giữa Đức Ma-ri-a và Giáo Hội một cách chính xác hơn, giờ đây chúng ta nói rằng: chỉ có Chúa Giê-su và Giáo Hội, chỉ có Đầu và Nhiệm Thể. Đức Ma-ri-a là thành phần của Giáo Hội, có Chúa Giê-su là Đầu, có Đức Ma-ri-a là Mẹ và các thành phần khác đều là con cái của Mẹ. Như Chúa Giê-su đã được dựng thai trong cung lòng Mẹ do Chúa Thánh Thần, thì mọi thành viên khác của Giáo Hội kể cả Đức Ma-ri-a cũng nhờ Chúa Thánh Thần mà được tái sinh như thế. Nhưng trong trường hợp của Mẹ, điều ấy đã xảy ra ngay lúc Mẹ được đầu thai, còn chúng ta thì lại xảy ra qua bí tích Thánh Tẩy.

Vì vậy, mối hiệp nhất giữa Mẹ với Chúa Thánh Thần ở trong chính hữu thể Mẹ, một sự hợp nhất đặc biệt được tạo thành do ân thánh và được kiến tạo cho phù hợp với nhiệm vụ của Mẹ là Mẹ tinh thần của Giáo Hội. Do đó, Mẹ luôn luôn thực thi nhiệm vụ trung gian hiền mẫu của Mẹ nhân danh Giáo Hội, luôn lệ thuộc vào Chúa Thánh Thần và luôn tùy thuộc vào sứ vụ trung gian duy nhất của Con Mẹ. Nhờ liên kết với Chúa Thánh Thần, Mẹ không ngừng nối kết các phần nhiệm thể với Đầu bằng lời cầu bầu và hoạt động của Mẹ, và lời sau cùng của Mẹ trong Phúc Âm mà chúng ta vẫn đọc đã là và sẽ luôn luôn là: “Ngài bảo gì, các anh hãy làm như thế” (Ga 2:5).

Ngay từ đầu và luôn luôn mãi mãi là Giáo Hội ở đâu, Đức Ma-ri-a ở đó - Đức Ma-ri-a ở đâu, Chúa Thánh Thần “linh hồn của Giáo Hội” cũng ở đó (x. LG7). Chúa Thánh Thần ở đâu, Chúa Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ và Trung Gian duy nhất của chúng ta cũng ở đó.

“Như thế, Giáo Hội phổ quát được coi như một dân tộc hiệp nhất phát sinh từ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (LG 4).

H.H. Man-tô và Bô-na-mi

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)