dongcong.net
 
 


DÒNG TU CỦA ĐỨC MẸ

Một nhà văn nọ, khi cảm hứng trước các dòng tu trong Giáo Hội, đã viết: “Nếu ví Giáo Hội Công Giáo là tấm áo đan liền của Chúa Giê-su, thì các dòng tu của Giáo Hội chính là những hạt kim cương rực rỡ đính trên tấm áo ấy. Và người trang hoàng áo đó bằng những hạt kim cương chính là Đức Mẹ Ma-ri-a.”

Cảm hứng của nhà văn trên thật xác đáng, nhưng nó chỉ đúng với nhà mỹ thuật, với người có óc thẩm mỹ. Và do đó các dòng tu chỉ có giá trị về nghệ thuật trang trí, giống như những tấm kính mầu gắn trên tường các thánh đường.

Cho nên không hài lòng với nhận xét trên, có người khác lại coi các dòng tu trong Giáo Hội là các binh chủng trong quân đội của một quốc gia, vì lẽ các tu sĩ trong các dòng chính là những tinh binh thiện chiến cùng hướng về mục tiêu chung là chiến đấu cho danh Cha cả sáng, dưới sự hướng dẫn của Đức Mẹ. Sự so sánh này đã nêu rõ được khía cạnh hoạt động và sống của các dòng tu, không tĩnh và “xa xỉ” như nhận xét của nhà văn trên kia nữa. Tuy nhiên, coi nó vẫn như là sản phẩm của những người hiếu chiến. Thực ra, các dòng tu trong Giáo Hội có phải là những tổ chức võ bị đâu.

Cha Gio-an Báp-tít Mô-ri-nô (Jean Baptiste Morineau), thuộc dòng Thừa Sai Đức Mẹ và là người sáng lập hội Pháp Quốc Nghiên Cứu về Đức Mẹ, dựa theo lời thánh Gơ-ri-nhông đơ Mông-pho mà gọi các dòng tu là những sư đoàn anh kiệt, võ trang bằng công nghiệp Chúa Giê-su và đi theo cờ Đức Mẹ Ma-ri-a, mà kháng cự với “những địch thù của Thiên Chúa, những kẻ thờ bụt thần, bè rối, bè đảng, phái Hồi Hồi, người Do Thái và những kẻ tội lỗi cứng lòng, những kẻ đã dùng đe dọa và xảo ngôn mà khởi ngụy, mê hoặc và đả đảo bất cứ một ai phản kháng chúng” (TTSK, 50). Những sư đoàn này từ thời Trung Cổ đã được tổ chức nên để chiến đấu với ba thù. Nhưng nhất là từ thế kỷ XVII trở đi, các dòng tu càng khuếch trương: các dòng thành lập vào những thế kỷ này, phần lớn đã tình nguyện đứng hẳn về phe Đức Mẹ để chiến đấu cho Chúa Giê-su. Hình như các đấng sáng lập đều hiểu rằng thánh ý Chúa là muốn cho loài người nên thánh nhờ Đức Mẹ. Tất cả đều đã nhất loạt, chen chân tiến vào gần bóng Mẹ, đồng thanh cao tiếng tung hô Mẹ là thánh sư tối cao của dòng mình, và các tu sĩ môn đệ các ngài cũng hoan hỉ vâng theo, tôn phong Mẹ Ma-ri-a làm Đấng hướng dẫn tổ chức của mình.

Ta nhận thấy cả ba ý kiến trên đều có một điểm chung là tôn nhận Mẹ Ma-ri-a có một địa vị quan trọng đối với các dòng tu. Duy một điểm ấy là làm chúng ta cũng như bất cứ một người nào vẫn hô hấp tình yêu Mẹ phấn khởi và vui mừng. Vì lẽ rằng, như cha Nơ-be (Neubert) viết, nếu các thù địch Giáo Hội chia rẽ nhau trên nhiều quan điểm khác nhau, nhưng vẫn đoàn kết trên quan điểm đả phá Giáo Hội, thì các dòng tu, dầu mỗi dòng có một mục đích riêng, và dùng những phương tiện dị biệt để tiến tới mục đích ấy, nhưng vẫn nhất tâm trong việc khuếch trương tình yêu đối với Mẹ. Nhất tâm mà lại vẫn có những quan điểm khác nhau về tình yêu Mẹ, y như muôn ngàn con sông cùng tung sóng chảy ra muôn ngàn chiều, nhưng rút cục cũng cùng đổ dồn vào đại dương. Tình trạng đó ta thấy hiện ra rõ rệt trong các buổi họp mặt của các dòng tu ở các đại hội Thánh Mẫu học những lần vừa qua. Như thế, nghĩa là dầu nhìn các dòng tu với con mắt của một nhà thẩm mỹ, của một chiến binh hay của một người dòng dõi võ tướng, cái điểm chính phải nêu cao vẫn là truyền thống mến yêu Mẹ của các dòng tu và sự phù trợ hướng dẫn của Mẹ trên các dòng ấy. Hay nói khác đi, chính Mẹ Ma-ri-a đã sinh hạ các dòng và các dòng đều chung tâm chí tình yêu mến Mẹ.

Chính vì thế mà tôi ưa lối nhìn các dòng tu trong Giáo Hội của cha Đa-minh Thánh Giá, vị sáng lập dòng Đức Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc. Cha nhìn dưới một góc cạnh đặc thù: Mẹ Ma-ri-a là cây cầu nối nhân loại với Thiên Chúa, nên chính Mẹ đã là Đấng soi động hoặc trực tiếp sáng lập và chỉ huy các dòng. Trong một lúc cảm hứng siêu nhiên thích thú, cha viết: “Chúa đã đặt Mẹ làm Đấng ban phát mọi ơn cho thế gian, đại diện lòng thương xót vô hạn lượng của Chúa, nên đã ban cho Mẹ một trái tim đầy từ bi bác ái, xứng một Từ Mẫu của loài người; Mẹ đã soi động, hoặc chính Mẹ đã sáng lập các dòng... các hội... trong Giáo Hội.” Lối nhìn của cha không phải lối nhìn của nhà nghệ sĩ, tìm vẻ đẹp lộng lẫy để ca tụng cũng không phải lối nhìn của viên đại tướng, nghe thấy “tiếng sắt tiếng vàng chen nhau” qua các dòng. Lối nhìn của cha là của một người đã thấm nhuần tinh thần Phúc Âm như: “Phúc cho kẻ có lòng thương xót!” Còn ai có phúc cho bằng Thiên Chúa, vì chính Chúa là lòng thương xót! Ở đây, ta thấy rõ tư tưởng cha đã nhuần thấm lòng thương xót. Cha ca tụng Mẹ là “đại diện lòng thương xót vô hạn lượng của Chúa, Trái Tim Mẹ đầy từ bi bác ái, Mẹ là Từ Mẫu của loài người.” Hẳn các bạn trách tôi sao lại bỏ đi hai tĩnh từ: từ thiện và bác ái sau tiếng các dòng, các hội trong câu trích dẫn trên. Tôi không dám chữa mình, nhưng chính là cốt để làm nổi cao ý tưởng thấm nhuần tinh thần Phúc Âm của cha Đa-minh Thánh Giá. Vì làm thế nào mà cái nguyên nhân đã là thương xót lại không sinh ra hiệu quả từ thiện bác ái được. Hơn nữa, xét cho đến cùng, thì có dòng tu nào trên thế giới mà không là dòng từ thiện bác ái?

Càng say sưa với ý nghĩ trên, tôi càng hăm hở muốn tìm hiểu xem Mẹ Ma-ri-a đã “soi động hoặc chính Mẹ đã sáng lập các dòng” như thế nào. Và khi đã phần nào thỏa mãn vì những cách, những hành động Mẹ đã hoặc nhờ trung gian hoặc đích thân sáng lập các dòng trong Giáo Hội, tôi lại muốn biết cách cư xử của các dòng ấy đối với Mẹ ra sao. Sau khi tìm hiểu và suy nghĩ rất lâu, tôi đã hân hoan một niềm hân hoan ấm áp. Có điều đáng tiếc là tôi muốn tỏ bày niềm hân hoan ấy ra mà không được. Nó như một căn phòng điều hòa không khí, phải đóng chặt các cửa mới giữ được sự khoan khoái mát mẻ. Do đó, tôi định ghi lại đây những điều tôi đã đọc được để cống hiến độc giả, dưới nhan đề: Dòng Tu của Đức Mẹ và Lòng Sùng Kính Đức Mẹ Trong Các Dòng Tu (phần Lòng Sùng Kính Đức Mẹ sẽ ở phần sau trong từ điển này).

Đề tài trên gợi lên một nội dung man mác. Theo thống kê của cha Huy-be Ma-noa (Hubert Manoir) dòng Tên, trong Bách Khoa Thánh Mẫu Ma-ri-a năm 1954, nguyên các dòng nam có truyền thống mến yêu Đức Mẹ cựu trào, đã thành lịch sử từ lâu, con số đã lên tới gần hai trăm dòng. Về phía các dòng nữ cũng có một tính cách ấy, theo cha Gáp-ri-en Ma-ri-a Rốt-ki-ni (Roschini) O.S.M. đã có hơn ba trăm dòng. Cả hai cùng không kể đến các dòng thuộc luật địa phận, các dòng thành lập ở các nơi truyền giáo, và các dòng thành lập từ đầu thế kỷ XX. Như thế thì làm sao thuật hết lại được trên ít trang giấy! Cho nên, tôi chỉ xin giới hạn nội dung bài này trong một ít dòng tu mà thôi. Những dòng tu tôi viết lại đây, tôi không lựa chọn gì hết. Tôi viết ra theo như tôi đã nhận thấy, để bạn đọc hiểu rằng bất cứ một dòng tu nào cũng có một tập tục yêu mến Mẹ rất đặc biệt, rất sốt sắng.

* Các dòng tu của Đức Mẹ ở đây hiểu là những dòng do đích thân Mẹ hiện ra sáng lập, hoặc qua ơn soi sáng, hoặc mang tên Mẹ hay tước hiệu của Mẹ hay tước hiệu của Mẹ. Những dòng này có rất nhiều. Theo bản thống kê năm 1941, từ cuối thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, nguyên Âu Châu đã thêm 44 dòng nam hoặc do Mẹ truyền sáng lập, hoặc sáng lập dưới sự bảo trợ của Mẹ và mang tên Mẹ. Ở đây, tôi chỉ xin thuật lại một ít dòng tu loại này mà thôi.

1. Dòng Đức Mẹ Núi Ca-mê-lô (Ordo Fratrum B.M.V. a Monte Carmelo)

Tôi muốn nói trước tiên đến dòng Ca-mê-lô, vì tính cách “hoàn toàn Thánh Mẫu” (Ordo totus Marianus) của nó. Cho đến ngày nay, qua bao nhiêu tìm tòi khám phá, người ta vẫn chưa tìm ra ai là người chính thức sáng lập dòng này. Chỉ biết rằng theo truyền thuyết, thì dòng Ca-mê-lô đã được chính tiên tri Ê-li-a (thế kỷ VII trước Công Nguyên) sáng lập. Trong cuốn Institutione himorum Monachorum (Tu hội các đan sĩ đầu tiên) có kể lại truyền thuyết đó như sau: “Trong khi Ê-li-a nghiêng mình về trái đất, ông được thông nhận một mặc khải quan trọng mà ông không được phép cùng khai thuật lại cho mọi người, chỉ được kín đáo trao cho những người thân tín của mình thôi. Chúng tôi được những người này thuật cho biết rằng Ê-li-a đã được soi sáng cho biết bốn mầu nhiệm cao cả: thứ nhất là một Nhi Nữ không vướng lây tì ố tội lỗi sẽ sinh ra khỏi lòng mẹ; thứ hai, ít lâu sau việc ấy được thực hiện; thứ ba, Trẻ Nữ ấy theo gương Ê-li-a mà giữ mình đồng trinh trọn đời; thứ bốn, Thiên Chúa hợp nhất bản tính mình cùng bản tính nhân loại mà sinh ra bởi Nữ Đồng Trinh ấy... Rồi nhớ đến điềm Ê-li-a thấy một đám mây hiện lên bay về núi Ca-mê-lô - các văn sĩ thời danh của Giáo Hội đều cho đám mây này là hình ảnh Đức Nữ Trinh Ê-li-a xem thấy - các đan sĩ nói trên, năm 83 từ Con Thiên Chúa nhập thể, đã phá bỏ ngôi đền thờ cũ của họ trên núi Ca-mê-lô mà xây một nhà nguyện hiến kính Đức Nữ Trinh đã dâng mình cho Thiên Chúa, bên cạnh giếng Ê-li-a, nơi Ê-li-a đã xem thấy đám mây trên kia trong khi cầu nguyện.”

Một ít truyền ngôn nữa vào khoảng thế kỷ XIII hay XIV còn kể rằng cuộc hồi cư từ Ai Cập về, Thánh Gia đã nghỉ lại núi Ca-mê-lô để tiếp xúc với con cái tiên tri Ê-li-a, và sau này khi đã ngụ cư ở Na-da-rét, Mẹ Ma-ri-a thỉnh thoảng cũng đến thăm các nhà ẩn sĩ ở núi Ca-mê-lô.

Về phương diện lịch sử, người ta biết chắc rằng năm1150, thánh Bê-tôn đơ Ma-li-pha (Berthold de Malifaye) đã tụ họp được một ít ẩn sĩ theo lễ nghi La-tinh ở núi Ca-mê-lô. Đến đời thánh Bơ-rô-ca-đô (Brocardo), kế vị thánh Bê-tôn, tu hội ẩn sĩ ở núi Ca-mê-lô được đức giáo chủ Giê-ru-sa-lem là thánh An-be-tô Vơ-xê-lên-xi (Alberto Vercellensi) ban cho một bộ luật để giữ. Hồi đó là năm 1210. Vào khoảng các năm 1230 và 1238, dòng dần dần tiến sang Tây Phương. Năm 1228, Đức Hô-nô-ri-ô III chuẩn y cho lập ở Tây Phương vào năm 1235, được nhận vào số các dòng hành khất đương thời. Mười hai năm sau, 1247, theo lời xin của thánh Si-mon Sơ-tốc đương làm bề trên cả dòng, Đức In-nô-xen-tê IV nhận cho luật dòng được vào số các tu hội sống theo lối Giáo Hội La-tinh.

Nếu chỉ có như thế thì ta chưa thấy rõ dòng Ca-mê-lô đã được Đức Mẹ phù trì như thế nào. Nhưng lịch sử còn ghi tường tận lại cho ta biết Đức Mẹ đã đích thân ba lần can thiệp vào đời sống của dòng. Theo sử gia Gui-ôm đơ San-víc (Guillaume de Sanvic) thì lần Mẹ can thiệp thứ nhất và dòng Ca-mê-lô là việc chuyển di dòng từ Ca-mê-lô sang Tây Phương. Hồi ấy vào thế kỷ XIII. Đất Thánh lại bị quân Hồi Hồi cướp lại. Núi Ca-mê-lô cũng bị đe dọa. Các ẩn sĩ của Mẹ cùng nhau nài xin Mẹ chỉ lối đưa đường. Mẹ đã hiện đến với tu viện trưởng bảo hãy bỏ Đất Thánh mà di chuyển sang Tây Phương. Các tu sĩ hoan hỉ lên đường. Trước khi họ ra đi hết, quân địch đã phóng hỏa đốt cháy tu viện và giết chết những tu sĩ còn lại. Các tu sĩ này vừa chịu chết vừa vang tiếng hát kinh Salve Regina.

Sang được đến Tây Phương, các tu sĩ Ca-mê-lô di cư lại gặp phải một trở lực rất lớn. Công Đồng La-tran vừa quyết nghị cấm không cho lập thêm các gia đình tu trì nữa. Triều đình Rô-ma nhất định thi hành lệnh Công Đồng cho bằng được đối với dòng Ca-mê-lô, dù rằng dòng này đã có nền tảng từ lâu ở Đông Phương. Mẹ Ma-ri-a hiện ra với Đức Giáo Hoàng Hô-nô-ri-ô III bảo phải làm hết cách mà lập dòng của Mẹ, Mẹ phán thêm: “Khi Mẹ đã ban lệnh ra thì đừng cản ngăn làm gì nữa.” Cùng trong đêm Mẹ hiện ra với thủ lãnh Giáo Hội, có hai vị hồng y phản kháng cực lực việc lập lại dòng Ca-mê-lô, đã phải lìa đời cấp tốc. Ơn trọng đại này đã được dòng thành lập một lễ kỷ niệm bắt đầu từ năm 1350, trong lời tổng nguyện và thánh thư lễ đó có nhắc lại rõ ơn này.

Nhưng nào đã xuôi cho. Dòng được chính thức thành lập với phép ưng chuẩn của Tòa Thánh rồi, nhưng thần dữ còn xui lên bao trở ngại: nào là sự phản đối của hàng giáo sĩ triều, nào là sự phân rẽ ngay trong chính các tu sĩ vì tinh thần thích nghi và tập tục địa phương. Thế là Mẹ lại phải can thiệp lần thứ ba. Thánh Si-mon Sơ-tốc bề trên cả đương thời được Mẹ hiện ra an ủi, vạch vẽ đường đi nước bước cho dòng. Rồi lại ban cho bộ áo Đức Mẹ và hứa bất cứ ai mặc áo này trong khi chết đều được cứu rỗi.

Giáo phái Tin Lành - từ thế kỷ XVI - cực lực phản kháng việc mang áo Đức Mẹ này. Nhưng với sự trợ giúp của Mẹ và sự nỗ lực của các tu sĩ, dòng đã được cứu thoát một cánh lạ lùng mà sử gia gọi là một cuộc Vượt Qua biển Đỏ. Từ đó, dòng càng ngày càng tiến phát cho đến thế kỷ XVI, thì hầu khuynh bại. Nhưng Mẹ Ma-ri-a lại gửi đến hai vị thánh cả để cải tổ, đó là thánh nữ Tê-rê-sa A-vi-la và thánh Gio-an Thánh Giá. Chúng ta cũng nên nhớ lời Mẹ Ma-ri-a quyết chắc với thánh Phê-rô Tô-ma trong lúc ngài lo sợ dòng mình sẽ bị bách hại: “Phê-rô con đừng lo, dòng của chúng ta sẽ tồn tại đến tận thế’’. Còn gì an ủi hơn! Mẹ đã nói: dòng của chúng ta! Các nam nữ tu sĩ dòng Ca-mê-lô và các sử gia về dòng hiên ngang vì dòng mình là dòng hoàn toàn của Đức Mẹ (Ordo totus Marianus) cũng không phải là lạ vậy.

2.Dòng Đức Mẹ Chuộc Nô Lệ (Ordo Fratrum B.M.V de Mercede)

Nếu dòng Ca-mê-lô đã có một nguồn gốc có tính cách huyền sử, thì dòng Đức Mẹ Chuộc Nô Lệ có một phát nguyên đầy mầu nhiệm nhưng minh bạch. Dòng Ca-mê-lô không được các sử gia đồng ý công nhận về sự can thiệp của Đức Mẹ thời khởi thủy, nhưng dòng Chuộc Nô Lệ lại được tất cả các sử liệu liên quan đến nguồn gốc của dòng đồng thanh công nhận vai trò sáng lập của Đức Mẹ một cách xác thực và sáng sủa.

Dòng được thành lập tại Bác-xê-lô-na, (Tây Ban Nha) ngày 10 tháng 8 năm 1218, do thánh Phê-rô Nô-lát-cô và hoàng đế Gia-cô-bê đệ nhất, nước A-ra-gông. Trước đó đúng mười ngày, vào đêm mồng 1 sang ngày mồng 2, Đức Mẹ Ma-ri-a đã hiện ra với thánh Phê-rô Nô-lát-cô ra lệnh lập một dòng với mục đích đi chuộc những người bị quân Hồi Hồi bắt làm nô lệ. Được Đức Thánh Cha Hô-nô-ri-ô III ưng nhận, dòng tiến phát mạnh mẽ, đến năm 1318, Đức Gio-an XXII quyết định đặt một linh mục làm bề trên cả, do đó, dòng trở thành dòng giáo sĩ.

Ngoài ba lời khấn theo lệ chung, dòng còn tuyên thệ một lời khấn thứ bốn là: tình nguyện làm nô lệ thay nạn nhân khi cần. Hết các tu sĩ của dòng đều tín thác nơi Mẹ Ma-ri-a mà họ gọi là Mẹ, là Đấng Sáng Lập đệ nhất. Hiến pháp của dòng đặc biệt chú trọng đến điểm huấn luyện các tu sĩ về lòng yêu mến Mẹ: “Ngay từ đầu, vị giáo tập phải thúc giục các tập sinh hăng hái và siêng năng tôn sùng kính mến và thảo hiền với Mẹ nhân lành. Hãy cố gắng khích động lên trong họ một tình yêu Mẹ mặn nồng, sao cho lòng yêu mến Mẹ khắc ghi vào lòng họ như một con dấu, để không gì trên môi miệng, trên lòng họ cũng như trong các công việc của họ không hô hấp tình yêu Mẹ; để họ đừng thích thú điều gì ngoài Mẹ, đừng quí chuộng gì mà không có Mẹ; để họ dự định và thi hành hết mọi công việc nhân danh Mẹ’’ (hiến pháp, phần 1, chương 7, khoản 81).

Với một tinh thần sùng kính Mẹ được ăn sâu như vậy, nhiều việc tôn kính Mẹ đã nảy nở. Một tục lệ đã phát sinh từ đời thánh Phê-rô Nô-lát-cô là ngày thứ bảy nào cũng hát lễ kính Đức Mẹ và chiều nào cũng hát kinh Salve Regina. Tháng nào cũng tổ chức một cuộc rước tượng Đức Mẹ Chuộc Nô Lệ.

Được lòng sùng kính Mẹ nung nấu, các tu sĩ chuộc nô (Mercedarii)đã là những tông đồ nhiệt thành của Mẹ ở Âu Châu, nhất là ở Mỹ Châu. Nơi đây có nhiều địa phương đã nhận Đức Mẹ Chuộc Nô làm bổn mạng. Ta không lạ lắm với tục lệ đó, vì Đức Mẹ được tôn kính đầu tiên ở Mỹ Châu khi vừa tìm được là Đức Mẹ Chuộc Nô. Ngay trong chuyến thứ hai của Kha-luân-bố (Columbus) sang Tân Thế Giới, trên đoàn tàu vượt vời của ông đã có một cha dòng Chuộc Nô theo làm tuyên úy. Đó là cha Gio-an đơ Sô-lô-da-nô (Jean de Solorzano), vị tử đạo đầu tiên ở Châu Mỹ. Từ đó, chính các cha dòng Chuộc Nô đã là những nhà truyền giáo hăng hái nhất, và chiếm công đầu trong việc truyền bá Phúc Âm ra khắp Trung Mỹ và Nam Mỹ, liền với cuộc chinh phục đất đai của người Tây Ban Nha.

Đó mới là nói đến việc chuộc nô theo tinh thần. Theo sát nghĩa đen của từ ngữ đó là mục đích chính của dòng. Dòng Chuộc Nô Lệ đã chuộc được vô số người bị quân Hồi Hồi bắt. Ngay ở thế kỷ đầu tiên dòng vừa xuất hiện, con số này đã tới 26.000 người, trong đó, 890 là công riêng thánh Phê-rô Nô-lát-cô. Năm 1304, có 25 tu sĩ Chuộc Nô đã hiên ngang chịu chết vì đạo thánh, trong khi truyền giáo. Nhiều tu sĩ khác bị giam tù khổ sai và lâu lắc trong các nhà pha Trơ-nít (Trenis). Ngoài ra, dòng đãä cung hiến Giáo Hội những vị thánh sau đây: thánh Phê-rô Nô-lát-cô, thánh Xê-ra-pi-ông tử đạo (1228-1304), thánh nữ Ma-ri-a đơ Xê-vi-li-ông ô đen Sô-cô-nô (Cervillion o del Socono), sáng lập dòng Nữ Đan Sĩ Chuộc Nô (1230-1209), thánh Phê-rô Pát-can, tử đạo, vị anh hùng của Mẹ Vô Nhiễm (1227-1300), thánh Phê-rô Ác-men-gô, tử đạo, và thánh Ray-môn-đô Nô-na-tô, vị thánh rất thời danh trong giới bình dân Tây Ban Nha.

3. Dòng Tôi Tớ Đức Mẹ (Ordo Servorum Mariae)

Dòng Ca-mê-lô hân hạnh vì mình là dòng “hoàn toàn Thánh Mẫu,’’ nhưng, như ta đã thấy, nguồn gốc cũng như hiến pháp cùng hoạt động không có tính cách Thánh Mẫu đặc biệt là mấy. Hơn nữa, xét về một phương diện, ta thấy các thánh của dòng sản xuất thường nói đến tình yêu Chúa một cách cao xa, mà nói về Đức Mẹ rất ít. Một vị đại thánh có công cải tổ dòng như thánh Gio-an Thánh Giá, đấng đã chịu ơn Đức Mẹ đặc biệt, mà cũng chỉ nói về Đức Mẹ có năm lần trong kho tác phẩm ngài để lại. Dòng Tôi Tớ Đức Mẹ thì không được gọi là dòng hoàn toàn của Đức Mẹ, mà từ nguồn gốc, hiến pháp đến sinh hoạt cùng hoạt động, nhất nhất đều là phản ảnh của tính cách Thánh Mẫu đặc biệt.

Không ai dám nhận là người trần đã lập nên dòng Tôi Tớ Đức Mẹ, ít là từ đầu đến thế kỷ XVI, nghĩa là suốt ba thế kỷ. Sử gia nào khi nói đến dòng cũng đồng thanh nói chính Mẹ Ma-ri-a là đấng sáng lập dòng, y như lòng tin tưởng của tu sĩ dòng ngay từ khởi thủy. Hồi ấy vào khoảng giữa thế kỷ XII, Đức Mẹ đã hiện xuống với bảy anh em bạn thân nọ trong hội Đức Mẹ ở thành Phơ-lô-ran. Những anh em đó là Bôn-phi-li-ô Mô-nan-đi-ô, Bô-na-dun-ta Ma-nét-tô, Ma-nét-tô An-tê-len-si, A-mi-đê-ô U-dút-xi-ô, Sô-tê-nê-ô, và A-lê-xi-ô Phan-cô-ne-ri-ô, những người nhiệt tâm yêu mến sự thương khó của Đức Mẹ, cùng nhau họp sống trong một hang đá hiu quạnh ngoài thành để tiện gẫm suy tình thương của Mẹ. Ngày lễ Mẹ Lên Trời năm 1233, Đức Mẹ hiện đến cùng bảy anh em này, truyền họ phải bỏ thế gian mà lập một hội dòng tôn kính Mẹ. Chính Đức Mẹ đặt tên cho dòng là dòng Tôi Tớ Đức Mẹ, ban y trang và lề luật cho anh em tu sĩ. Sử liệu nói: “Trong một lần linh kiến, Đức Mẹ ban áo mà chúng ta mặc đây, cũng như ban luật cho chúng ta giữ! Sau cùng, cũng chính Mẹ lại vạch rõ mục đích của dòng. Mục đích ấy là thánh hóa các phần tử trong dòng, và nhờ các phần tử ấy thánh hóa người khác bằng việc tận tâm phụng sự Mẹ. Bởi vậy, dòng Tôi Tớ Đức Mẹ tựu hợp tất cả những người đặc biệt dâng hiến mình tôn kính Mẹ, vì chính Mẹ đã giảng nghĩa luật rằng dòng này cốt để phụng sự, làm vinh danh và tán tụng Mẹ.

Sau khi đãä thành lập rồi, Đức Mẹ cũng còn tỏ mình ra là Mẹ Trung Gian phổ biến các ơn lành, hết mọi người đều phải trung tín và không ngừng phụng sự Mẹ. Y trang mầu đen Mẹ trao cho anh em tu sĩ chỉ ý nghĩa những đau thương và đời quả phụ của Mẹ. Tắt lại, mục đích chung của dòng là phụng sự và tôn vinh Mẹ Đồng Trinh bằng mọi cách, dưới mọi hình thức; mục đính riêng là đặc biệt thông phần những đau thương của Mẹ.

Những dòng trên đây viết theo tài liệu của cha Phê-rô đa Tô-đi, vị bề trên cả dòng vào khoảng từ 1314 đến 1344, theo lời chính thánh A-lê-xi-ô Phan-cô-ne-ri-ô thuật lại. Sau này, các sử gia thời danh như Ni-cô-la Ma-ti, Ta-đê-ô A-đi-ma-ri (1446), Cô-si-mô Pha-vi-la, Gia-cô-bê Ta-nô-ti (1461) đều quả quyết như vậy.

Trên kia, ta đã thâỉy luật của dòng Tôi Tớ cũng được chính Mẹ ban ra. Qua sự tiến triển của thời gian, bộ luật ấy cho đến nay đã được ba lần sửa đổi. nhưng dầu là luật cựu thời, luật cận đại hay luật hiện đại, thảy đều thấm nhuần tinh thần Thánh Mẫu một cách tuyệt vời.

a) Một đặc điểm của hiến pháp dòng Tôi Tớ Đức Mẹ khác hẳn với hiến pháp các dòng khác là ngay chương đầu đã đề là: “De Reverentiis Beatae Mariae Virginis” (Về những việc tôn kính Đức Mẹ Đồng Trinh). Chương này là trung tâm toàn bộ hiến pháp, truyền buộc hết các tu sĩ dòng phải một niềm tận tâm phụng sự Mẹ. Các việc sùng kính Mẹ trong dòng đều gồm ở chương này, như là việc các ngày thứ tư và thứ bảy, mỗi tu viện của dòng đều phải làm lễ “De Beata Maria” kính Đức Mẹ trừ khi có lễ trọng cấm làm. Mỗi giờ nguyện nhật tụng, sau kinh Lạy Cha, người tuần trực (hebdomadier) phải xướng Ave Maria gratia plena, Dominus tecum; mọi người tiếp: Benedicta tu in mulieribus, et benedictus fructus ventris tui. Trong các nhà nguyện của dòng, cũng như trên bàn thờ chính, phải đặt tượng ảnh Đức Mẹ và cung hiến cho Đức Mẹ.

Đó là một vài điểm lấy bất kỳ ở chương đầu hiến pháp dòng. Ở các chương khác, ta cũng còn thấy đầy dẫy tính cách Thánh Mẫu. Chẳng hạn kết thúc lễ nghi mặc áo dòng trước bàn thờ Đức Mẹ; con chấm của bề trên cả phải khắc hình Đức Mẹ; tục đọc kinh Kính Mừng trước khi đọc thư bề trên cả gửi cho; tục phải giảng một bài ngợi khen Mẹ trước khi khai nghị đại công hội... Một điểm nên ghi ở đây là khi tuyên khấn, các tu sĩ long trọng đọc: “Tôi xin tuyên khấn và hứa cùng Chúa toàn năng và Đức Mẹ Ma-ri-a...”

b) Sau Công Đồng Tri-đen-ti-nô, dòng Tôi Tớ Đức Mẹ họp đại công hội tu sửa hiến pháp cho hợp với những quyết nghị của Công Đồng. Hiến pháp này lại tăng thêm những việc tôn sùng Đức Mẹ, như là các ngày thứ bảy phải hát kinh Nhật Tụng Đức Mẹ, và mừng lễ “De Domina nostra: về Bà Chúa chúng ta,” mỗi ngày thứ bảy theo lễ nghi bậc nhất, có hát kinh chiều Đức Mẹ ngày áp và chính ngày. Cũng hát cả kinh Sáng như vậy. Trong thánh lễ tu hội (missa conventualis) phải đọc hoặc hát cả kinh Vinh Danh và kinh Tin Kính bậc nhất, dầu không phải là ngày lễ trọng.

Hiến pháp mới cũng thêm: các linh mục dòng tế lễ, trước khi đọc kinh Introibo phải xướng: Ave Maria gratia plena: giúp lễ thưa: Benedicta tu in mulieribus et benedictus fructus ventris tui, Jesus. Trong một khoản khác, hiến pháp cải tổ lại buộc các tu sĩ dòng phải ăn chay trọng thể: bánh khô nước lã và phải canh thức các ngày áp lễ Mẹ Vô Nhiễm, Sinh Nhật Mẹ, Mẹ Dâng Mình, Truyền Tin, Mẹ Thăm Viếng, Mẹ Dâng Con và Mẹ Lên Trời. Trừ lễ Sinh Nhật Mẹ, thì các lễ trên đều mừng đặc biệt có tuần tám ngày riêng.

Đối với các tập sinh, ngoài những việc tôn sùng như tu sĩ, mỗi ngày sau kinh tối còn phải họp nhau lần hạt trước bàn thờ Đức Mẹ. Luật cũng buộc các tu sĩ phải rất năng (quam creberrime) hôn kính áo dòng, áo chính Mẹ đã ban, để tôn kính tri ân.

c) Năm 1907, hiến pháp dòng Tôi Tớ Đức Mẹ lại tu sửa một lần nữa. Hơn hẳn hai hiến pháp trước kia, hiến pháp lần này đã nêu cao Đức Mẹ một cách không ngờ. Những khoản nói về lòng tôn sùng Đức Mẹ trong hiến pháp mới này đã đem Đức Mẹ vào tận linh hồn mỗi tu sĩ, vì người ta ngờ rằng những việc sùng kính vạch ra trong hai hiến pháp trước hình như có bề ngoài nhiều hơn. Nhưng hiến pháp mới cũng không tước bỏ những việc bề ngoài, trái lại còn buộc một cách chặt chẽ hơn, vì muốn cho lòng sùng kính Mẹ nhập thấâm sâu vào tâm hồn, thì phải năng làm việc bề ngoài.

Sau đây là một ít điểm đáng chú ý:

Việc đọc kinh chiều áp ngày thứ bảy trước kia theo lễ nghi bậc nhì, từ nay phải hát hoặc đọc theo lễ nghi bậc nhất (k.7).

Mỗi tu sĩ phải đeo thêm tràng hạt Thất Sự ở thắt lưng bên phải và phải kính trọng áo Mẹ ban đặc biệt hơn nữa. (k.106,110).

Các tập sinh phải được huấn luyện kỹ hơn về những nhân đức và đau thương của Mẹ (k.212).

Trong việc học tập, các tu sĩ phải đặc biệc chú ý học hỏi những điều liên quan đến Mẹ (k.292).

Các bề trên phải nỗ lực hết sức để cổ động lòng sùng kính Đức Mẹ (k.359).

Các chúa nhật thứ ba trong tháng, tùy theo điều kiện địa phương, phải giảng về Đức Mẹ, về sự thương khó Chúa, hoặc về vẻ cao trọng của áo dòng Mẹ ban. Sau đó, phải rước tượng Đức Mẹ Thất Sự, nơi nào không đủ điều kiện rước được phải lần chuỗi Thất Sự thay (k.791).

Trong khoản 153 hiến pháp cải tổ đã đề cao khoa Thánh Mẫu học trong chương trình đại chủng viện. Ở khoản 203 lại viết: “Anh em ta phải đem hết lòng yêu mến mà chăm chỉ học khoa này (Thánh Mẫu học), để liên kết bằng một mối dây càng ngày càng mật thiết với Đấng là đường ngắn nhất để tới Chúa Giê-su; anh em phải nhận thức rõ ơn thiên triệu cao quí của anh em, để học tập nói và viết một cách thực khoa học về Mẹ Sáng Lập dòng chúng ta. Điều cần thiết là, trong việc tôn dương Mẹ Đồng Trinh một cách cụ thể, quang minh, kính ái và khoa học, dòng chúng ta không được kém một dòng nào cả.”

Từ khi áp dụng hiến pháp mới, chương trình bốn năm thần học trong dòng đều thêm mỗi tuần một giờ Thánh Mẫu học.

Lượt qua một vài hàng sơ lược trên, ta thấy tính cách Thánh Mẫu đã lan ngập nguồn gốc và việc lập pháp của dòng Tôi Tớ Đức Mẹ. Theo đó, dòng đã tung hết khả năng để hoạt động cho Mẹ. Hoạt động ấy rất nhiều, vài trang giấy không thể kể hết được. Chúng tôi xin tiếp tục kể đến một dòng nữa của Đức Mẹ. Đó là:

4. Dòng Thừa Sai Đức Mẹ (Societatis Missionarii Mariae)

Dòng Thừa Sai Đức Mẹ có một điểm đặc biệt là bất cứ tu sĩ nào trong dòng cũng phải tận hiến làm nô lệ Đức Mẹ. Chúng ta dễ hiểu lẽ đó vì dòng Thừa Sai Đức Mẹ chính là công nghiệp của thánh Lu-i Gơ-ri-nhông đơ Mong-pho, vị thánh đã tìm ra phương pháp sùng kính Đức Mẹ đích đáng nhất bằng cách sống đời tận hiến cho Mẹ. Dòng được đặt nền móng từ năm 1705. Thánh Mong-pho đã có ý định ngay từ năm ngài vừa chịu chức linh mục, tức là năm 1700. Trong bức thư gửi cho một bạn thân là Lê-ô-sa-siêng (Leochassien) ngày 6 tháng 11 năm đó, thánh nhân viết: “Hằng nhìn thấy những nhu cầu của Giáo Hội trước mắt, tôi không thể không thiết tha kêu xin để lập được một tu hội nhỏ bé nghèo nàn gồm các linh mục tốt lành, để chiến đấu dưới cờ và dưới sự bảo trợ của Đức Mẹ Đồng Trinh.”

Lý tưởng của ngài là “sống đơn sơ nghèo nàn, len lỏi vào vùng quê dạy giáo lý cho người nghèo và khuyên giục những người tội lỗi tôn sùng Đức Mẹ.” Ngài luôn mơ tưởng một đoàn quân truyền giáo đi theo “vết chân các tông đồ để giảng dạy cho dân nghèo và chinh phục các linh hồn về cho Chúa Giê-su dưới cờ Trinh Nữ Ma-ri-a.” Ngài vạch một chương trình chiến đấu, rồi mời các linh mục có thiện chí tham gia. Tụ họp quanh ngài đầu tiên là những linh mục thuộc các dòng cổ: dòng Ca-pu-xin, dòng Đa-minh, dòng Tên, dòng La-ra-rít (Lazaristes) và nhiều linh mục triều. Tất cả đều sống theo một kỷ luật, chiến đấu cùng một mặt trận. Tất nhiên là những linh mục ấy không phải là nền tảng của dòng ngài định lập, nhưng là những thợ bạn giúp ngài xây dựng công nghiệp vĩ đại cho ngày mai. Các linh mục ấy đã làm gương sáng cho các linh mục khác theo đường lối Thánh Mẫu ngài vạch. Và một số nhỏ các linh mục triều đã tình nguyện chiến đấu dưới quyền chỉ huy của ngài.

Linh mục đầu tiên cùng chung chí hướng là cha Va-ten (Vatel), và linh mục thứ hai là một linh mục bất toại, cha Muy-lô (Mulot). Với sức mạnh của tình yêu mến Mẹ, cha nhận lời mời của thánh Mong-pho, và đã lành bệnh ngay để chung tay hoạt động cho dòng mới.

Từ đó, qua nhiều đau khổ, đoàn quân Đức Mẹ mà thánh Mong-pho mơ ước từ lâu - những chiến sĩ anh tuấn, “tay cầm tràng hạt, tay cầm thánh giá, lòng in tên Giê-su Ma-ri-a” - đã thành hình và tiến triển dưới danh hiệu là dòng Thừa Sai Đức Mẹ.

Các tác giả bút ký truyện thánh Lu-i Gơ-ri-nhông đơ Mong-pho đều thuật rằng: Đức Mẹ Ma-ri-a đã nhiều lần thân hiện xuống với ngài, chuyện vãn chí tình, khi đối diện đàm tâm trong phòng làm việc, lúc cùng dạo bước ngoài vườn cảnh. Hẳn trong những giây phút Mẹ con trao đổi tâm tình, thánh nhân đã được Mẹ chỉ vạch cặn kẽ đường lối cho những người đến sau tình nguyện hiến mình phụng sự Mẹ.

Dòng của ngài nhận Mẹ Ma-ri-a làm Mẹ, làm bề trên. Ngày nào các tu sĩ cũng phải đọc kinh Mân Côi. Mỗi tu sĩ phải đọc riêng mỗi ngày hai chuỗi, và một chuỗi chung với nhau. Trong mọi lúc phải hết lòng tin tưởng chạy đến cùng Mẹ. Bổn phận chính của mỗi tu sĩ là rao giảng học thuyết Thánh Mẫu theo thánh Mong-pho, và cổ động phong trào “nô lệ vì yêu Mẹ” để nước Chúa trị đến vinh quang.
Theo sát đường lối thánh Mong-pho đã vạch, các giáo sĩ dòng Thừa Sai Mẹ hăng hái cướp thời gian rao giảng thánh danh Đức Mẹ khắp nơi. Ngày 20 tháng 5 năm182, dòng chính thức được Tòa Thánh hạ sắc chỉ ca tụng (decretum laudis).

Dòng phóng tầm hoạt động ra ngoài với hai hội đoàn là “hội Nữ Vương Tâm Hồn” và “hội Linh Mục Đức Mẹ.” Hai hội này đã được Giáo Hoàng chủng viện Nam Định phổ biến ở Việt Nam hồi 1951. Ở Ca-na-đa, dòng tổ chức và điều khiển một trung tâm Thánh Mẫu vĩ đại. Các báo chí của dòng xuất bản cũng đều nhằm mục đích truyền bá lòng yêu mến Mẹ. Các ấn phẩm có tiếng của dòng là: L’Etendard de Marie, Le Règne de Jésus par Mare, le Messager de Marie Reine de Coeur và nhất là tập san Cahiers Marials.

5. Dòng Tu Sĩ Thương Khó (Congregatio Passionnistarum)

Có người cho rằng chỉ các dòng tu cổ thời mới có những câu truyện có tính cách huyền thoại vì nguồn gốc thường được trời cao phát xuất. Nhưng từ thế kỷ XVII trở đi, các dòng tu đã có một nguyên ủy có tính cách “người” hơn. Nhận định đó không những sai về ơn thánh, về luận lý mà còn sai cả về thực nghiệm nữa. Thật vậy, ngay ở giữa thế kỷ XVIII, cái thế kỷ nhộn lên tiếng la ó của phái Duy Lý, phái Thuần Nghi, đồ đệ của Vôn-te, của Đề-cát, Đức Mẹ đã nhúng bàn tay từ mẫu vào việc lập dòng Thương Khó một cách cụ thể.

Dòng Thương Khó được Mẹ Ma-ri-a thành lập qua trung gian của thánh Phao-lô Thánh Giá (1694-1775). Dòng có đặc điểm là hết các tu sĩ đều khấn hứa một lời khấn thứ bốn: cổ động lòng tôn sùng sự thương khó Chúa Giê-su và Đức Mẹ. Thánh Phao-lô Thánh Giá là một tôi tớ tận trung của Đức Mẹ. Ngài được Đức Mẹ hiện ra truyền dạy phải lập một dòng tôn sùng sự thương khó Chúa và Mẹ. Mẹ mặc đồ tang, mang theo một huy hiệu ngày nay cho ta biết người mang nó là một tu sĩ Thương Khó. Mẹ nói:

“Con ơi, con xem Mẹ phải mặc y phục tang tóc thế này đây. Chính vì sự thương khó rất đau đớn Con yêu dấu Mẹ đấy con ạ. Con cũng phải mặc cùng một kiểu áo này và lập một dòng luôn mặc đồ tang để nhớ cuộc tử nạn Con Mẹ.”

Thế là thánh Phao-lô Thánh Giá hăng hái tuyên hứa lời khấn cổ động cho giáo hữu tôn sùng sự thương khó Chúa và lập một dòng nối tiếp việc ấy. Thánh nhân đã long trọng khấn trước ảnh Đức Mẹ tương truyền là của thánh Lu-ca vẽ, trong đại đền thờ Thánh Mẫu tại Rô-ma.

Đềân thờ đầu tiên của dòng là đền thờ được Đức Mẹ đích thân chỉ địa điểm trên núi Ác-gen-ta-ri-ô (Argentario), dưới danh hiệu đền thờ Đức Mẹ Thăm Viếng.

Điều các sử gia nhấn mạnh là ngoài những can thiệp lạ lùng ấy, thánh Phao-lô Thánh Giá có lòng tôn sùng Mẹ cách đặc biệt. Lễ trọng kính Mẹ nào cũng được ngài chuẩn bị mừng cách riêng, nhất là lễ Mẹ Lên Trời. Trước lễ này, ngài đã tự lập nên một “mùa chay Thánh Mẫu,” mỗi ngày đọc trọn một tràng kinh Mân Côi, kiêng hết các thức hoa quả, mặc dầu chỉ có hoa quả mới hợp với tì vị ngài. Ngài rất vui mừng vì ngày đó Đức Mẹ Ma-ri-a khỏi phải chịu đau khổ nữa. Thật cũng là một đặc ân Mẹ ban: ba lần vào các năm 1769,1773 và 1775, cứ vào ngày áp lễ Mẹ Lên Trời là ngài lại được những đặc ân quan trọng do Đức Cơ-lê-măng XIV và Pi-ô VI ban cho dòng.

Mỗi năm vào ngày 21 tháng 11, thánh nhân lại tổ chức một lễ cực kỳ long trọng ở đền thờ núi Ác-gen-ta-ri-ô. Dầu yếu đuối, đi lại vất vả, ngài cũng tình nguyện leo núi để tỏ lòng yêu mến Mẹ.

Ngài yêu thích Mẹ dưới tước hiệu Mẹ Sầu Bi trên hết, không những vì ngài đã phải chịu đau khổ lâu dài mà còn chính vì nhiều lần Mẹ đã đoái thương cho ngài thông hiểu những đau khổ rất mực Mẹ phải chịu. Ngài sánh những đau khổ của Chúa Giê-su và của Mẹ với hai đại dương mà đại dương này chảy vào đại dương kia: “Đau thương của Mẹ Ma-ri-a dường như Địa Trung Hải... Từ biển này ta vượt sang một đại dương thứ hai không bến. Đó là sự thương khó Chúa Giê-su.”
Theo hiến pháp dòng, các tu sĩ Thương Khó dâng rất nhiều kinh nguyện và việc sùng kính lên Mẹ Ma-ri-a, noi gương thánh tổ sáng lập.

Mẹ Ma-ri-a cũng từng chúc lành cho những tu sĩ Thương Khó con cái Mẹ, những người tình nguyện cùng đứng với Mẹ trên núi Can-vê.

Mẹ Ma-ri-a lại ban cho dòng những đấng thánh thời danh như thánh Vi-xen-ti Sơ-tram-bi (Vicenti Strambi, 1745-1821), đấng thánh đủ khả năng thi đua với thánh Gáp-ri-en Thương Khó (1038-1862),vị thánh đã sinh ra để truyền bá tình yêu mến đau thương.

6. Dòng Chúa Giê-su và Đức Mẹ (Congregatio Jesu et Mariae)

Nếu những dòng tu tôi lược thuật ở trên thường có một nguồn gốc có tính cách nhiệm mầu, phát xuất từ trời cao, thì những dòng tu sẽ trình bày dưới đây lại thường là sản phẩm của những tư tưởng thâm thúy về Mẹ Ma-ri-a. Những dòng này có một học thuyết về Đức Mẹ làm nền tảng cho lòng sùng kính của mình.

Dòng Chúa Giê-su và Mẹ Ma-ri-a là dòng đầu tiên xây trên nền tảng học thuyết Thánh Mẫu. Dòng được sáng lập do thánh Gio-an Êu-đê (1601-1680) ngày 25 tháng 3 năm 1643, đúng ngày lễ Mẹ Chịu Thai Chúa. Chúng ta hẳn ai cũng nhớ thánh Êu-đê là một vị thánh xứng danh tông đồ tiên khởi của Trái Tim Đức Mẹ. Cuộc đời thánh nhân đã chìm sâu trong tình Mẹ, đến nỗi thánh nhân đã làm một việc mà thoạt nghe chúng ta cho là chói tai hết sức: đó là việc thánh nhân hồi lên mười tám tuổi đã kết hôn với Đức Mẹ. Thánh nhân tự ý dâng trót đời cho Mẹ và rút nhẫn mình xỏ vào ngón tay một tượng Đức Mẹ để tượng trưng cuộc phối hiệp mầu nhiệm ấy (đây là một học thuyết rất cao, trước thánh Êu-đê, thánh Ét-mong đơ Can-tơ-be-ri cũng đã thực hành như vậy).

Từ đó, thánh Gio-an Êu-đê chuyên tâm gẫm suy và nghiên cứu khoa Thánh Mẫu học. Trong các tác phẩm ngài để lại, chúng ta rút được ba nguyên tắc sau đây về học thuyết Thánh Mẫu:

a) Chúa Giê-su và Mẹ Ma-ri-a hợp nhất trong một liên kết độc nhất vô nhị. Chúa và Mẹ là hai nền tảng tối sơ của đạo Công Giáo, hai nguồn mạnh sống động mọi ơn phúc, hai chủ đề của lòng ta tôn sùng, hai đối tượng ta phải nhìn ngắm luôn trong mọi hành vi cử chỉ. Đó là mầu nhiệm Đức Mẹ.

b) Ta phải ngắm nhìn và thờ lạy Chúa Giê-su trong Mẹ Ma-ri-a. Chúa là hữu thể, là sự sống, sự thánh thiện, là vinh hiển, uy quyền và sự cao trọng của Mẹ. Tự Mẹ, Mẹ là hư vô, nhưng với Chúa Giê-su, Mẹ rất cao cả.

c) Ta phải tiếp tục học tập các nhân đức và những tâm tình yêu mến, thảo hiền, tận tâm mà Chúa Giê-su đã từng thực hành đối với Mẹ: mà Chúa Giê-su đã yêu mến Mẹ một cách hết sức trọn lành, nên ta cũng phải theo lối Chúa.

Những nguyên tắc trên, ngài muốn rao giảng cho mọi người. Ngài đã dẫn giải tường tận trong các tác phẩm của ngài, ngài còn muốn có người tiếp tục công việc ấy mãi. Nên ngài đã lập dòng nữ Đức Mẹ Bác Ái (Ordre de Notre-Dame de la Charité), rồi năm 1643, lại lập dòng Chúa Giê-su và Đức Mẹ. Ngài công nhiên hiến dâng cả hai dòng cho Trái Tim Đức Mẹ. Theo cha Bác-bê (Barbe), đó là hai dòng đầu tiên được hiến dâng cho Trái Tim Mẹ. Ngài lại chuẩn bị lập lễ kính Trái Tim Mẹ, đặt bài lễ và kính nhật tụng về lễ này.

Trong hiến pháp dòng ngài lập, thánh Gioan Êu-đê truyền con cái ngài phải nỗ lực truyền rao lòng sùng kính Mẹ. Ngài viết: “Thứ bảy nào cũng phải giảng về Đức Mẹ: về những phương pháp kính yêu Mẹ, nhất là, dạy cho dân chúng biết cách đọc kinh Mân Côi cho hoàn hảo. Và dạy cho họ về Trái Tim chí thánh của Mẹ.”

Các tu sĩ dòng đã hăng say thực hành huấn lệnh trên đây. Ngay từ đời ngài, các tu sĩ ấy đã biến miền Noóc-măng-đi (Normandie) nghèo tinh thần sống đạo trở nên sốt sắng. Từ đó tràn sang Buốt-gô-nhơ (Bourgogne), Bơ-rê-ta (Bretagne), Pa-ri... Phong trào lan rộng nhất trong thế kỷ XVIII.

Ngoài việc rao giảng, các tu sĩ dòng còn noi gương thánh tổ phụ trong việc truyền bá lòng sùng kính Mẹ bằng ngòi bút. Những tác giả thời danh về Thánh Mẫu học ở thế kỷ XVIII cũng là các tu sĩ dòng Chúa Giê-su và Đức Mẹ phần nhiều, như cha Ri-sa Coóc-nây (Richard Corneille, +1700), cha Lơ Van-ni (Le Vanni, +1730), cha Bơ-ri-ê (Beurrier +1782)... Thế kỷ XIX và XX cũng sản xuất cho dòng nhiều cây bút Thánh Mẫu đặc sắc như các cha Đô-phanh (Dauphin), Lơ Đô-rê (Le Doré), Lơ-bơ-ruyn (Lebrun), Gô-đơ-rông (Gauderon), Bu-đơ-rôn (Boudreault), nhất là cha Lơ-bét-công (Lebesconte).

Nhưng dấu vết Thánh Mẫu sống động nhất dòng để cho Giáo Hội là các đoàn hội Đức Mẹ. Đến đâu các tu sĩ dòng cũng chú tâm đến việc gầy dựng các đoàn hội ấy một cách có phương pháp và hiệu lực. Hoạt động này lại được các nữ tu dòng Đức Mẹ Bác Ái trợ lực, càng thêm nảy nở; đoàn hội này đốt nóng đoàn hội kia. Không khí Thánh Mẫu mà các tu sĩ dòng tạo nên đã lan tràn khắp nơi. Ngay trong năm 1742, một mình cha Đơ Ga-li-phê (de Gallifet) đã nhìn nhận tám mươi tám trung tâm đoạt động. Cuối thế kỷ trước, dòng mở rộng phạm vi sang Mỹ Châu. Ở đây, hoạt động Thánh Mẫu cũng gây được những trào lưu rất mạnh. Nhất là tổng hội Vệ Binh Danh Dự Trái Tim Đức Mẹ, phát xuất năm 1912 ở đan viện Bơ-dan-công (Besancon). Ngày nay tổng hội có từ bốn đến năm trăm ngàn hội viên, mỗi ngày nhận một giờ dâng hiến Trái Tim Đức Mẹ.

Ngày 25 tháng 7 năm 1851, dòng được sắc tứ ca tụng của Tòa Thánh. Hiện nay, dòng phát triển và hoạt động mạnh nhất ở Âu Châu và Mỹ Châu.

Ở đây cũng nên thêm rằng, ngoài hai dòng tu thánh Gio-an Êu-đê đã lập trên, học thuyết của ngài còn khơi dậy trong tâm hồn hai vị tông đồ khác những dự định vĩ đại. Đó là cha Pi-e đơ Cơ-lô-ri-vi-e (Pierre de Clorivière) và cha Ma-ri-a Giu-se Cu-ranh (Marie Joseph Coudrin). Cha Pi-e đơ Cơ-lô-ri-vi-e (1735-1820) sáng lập dòng Nữ Tử Trái Tim Đức Mẹ và dòng Linh Mục Thánh Tâm Chúa. Cha đã thổi lên một luồng gió tôn sùng Mẹ Ma-ri-a cách nồng nhiệt lạ lùng trong các tu sĩ của cha. Cha đã đưa vào đó một nền thần bí học rạng sáng những ánh quang sâu nhiệm và kỳ diệu trong việc suy ngắm mầu nhiệm Thánh Mẫu và Giáo Hội.

Cha Ma-ri-a Giu-se Cu-ranh (Marie Joseph Coudrin, 17 8-1837) lập dòng hai Thánh Tâm Giê-su Ma-ri-a để liên tiếp chầu Thánh Thể. Cha rất năng nhắc lại rằng: ngài coi Trái Tim Mẹ Ma-ri-a là con đường rộng mở để ta tiến vào Trái Tim Chúa Giê-su. Sự liên kết giữa hai Thánh Tâm này phải làm cho các tu sĩ trở thành những bánh thánh sống động cho Giáo Hội nhiều vị anh hùng mà trong số đó, có lẽ ta không lạ gì với tên cha Ma-tê-ô Cơ-rô-lơ Bô-vây (Mateo Crawleyr Boevey), vị sứ giả Thánh Tâm và chân phước Đa-miêng (Damien), tông đồ người hủi.

7. Dòng Tu Đức Mẹ (Societas Mariae)

Sau những dòng tu trên, ta phải kể đến dòng Đức Mẹ. Dòng thành lập ở Boóc-đô (Bordeaux, Pháp) năm 1817. Vị sáng lập là cha Guy-ôm Giu-se Sa-mi-nát (Guillaume Joseph Chaminade, 1761-1850). Trước đó, cha cùng với hai em cũng là linh mục, chỉ huy trường Xanh Sác-lơ đơ Muy-di-đan (Saint Charles de Mussidan). Cách mạng Pháp nổi lên, cha phải đày sang Sa-ra-gô-sa (Saragosse), Tây Ban Nha. Ở đây, cha đã từng đến say sưa suy ngắm trong đền thờ Đức Mẹ Cột Đá (Note Dame del Pilar). Thanh bình trở lại, cha về Pháp và lập hiệp hội Đức Mẹ Vô Nhiễm, kết nạp được 700 hội viên dâng mình cho Mẹ Vô Nhiễm và hoạt động tông đồ dưới sự săn sóc của Mẹ. Đó chính là nền tảng của hai hội dòng cha sẽ thành lập sau này. Nhờ được cô A-đen đơ Tran-cơ-ê-ông (Adèle de Trenquelléon) giúp, cha lập tu hội Nữ Tử Mẹ Vô Nhiễm. Một năm sau, cha chính thức tuyên lập dòng Đức Mẹ đặt tên cho tu sĩ là Ma-ri-a-nít (Marianiste: người thuộc về Đức Mẹ). Cha qua đời năm 1850, sau nhiều năm hướng dẫn dòng. Án phong chân phước cho cha đã được Tòa Thánh nhận tra cứu từ năm 1918.

Học thuyết Thánh Mẫu của cha làm nền tảng cho hai tu hội cha lập, cũng tương tự học thuyết của thánh Mong-pho, nhưng không hề ảnh hưởng của vị đại thánh này, vì cuốn Thành Thực Sùng Kính Mẹ của thánh Mong-pho bị lạc mất tới năm 1842 mới tìm được. Cha chủ trương mọi giáo hữu phải thuộc trọn về Mẹ Vô Nhiễm một cách bất khả thu hồi. Việc tuyên khấn trong dòng cha lập là một việc tuyên xưng thuộc hẳn về Mẹ. Ngoài ba lời khấn theo thường lệ, dòng của cha còn một lời khấn đặc biệt là khấn bền đỗ, nghĩa là kiên trung phụng sự Mẹ. Giáo Hội đã công nhận lời khấn đối với tất cả ý nghĩa Thánh Mẫu của nó.

Theo cha, sự thuộc hẳn về Mẹ đây có tính cách hiếu tử. Cha nhấn mạnh đến điểm phải noi gương Chúa Giê-su trong việc tôn kính Mẹ. Các tu sĩ Ma-ri-a-nít luôn phải cố gắng diễn lại tình yêu đó in vào tâm hồn giáo hữu. Tình hiếu tử tông đồ của dòng cha nhuộm mầu sắc “đấu tranh.” Thời đại dâng ngầu sự dữ của bè rối vũ bão, lãnh đạm với tôn giáo, chối đạo khắp nơi, thì dòng Đức Mẹ cũng chen vai “dưới cờ Mẹ” hăng hái băng mình ra mặt trận đức tin, chiến đấu cho quyền lợi Thiên Chúa, đức tin là nhân đức nền móng của dòng cha. Bên cạnh tinh thần đức tin, các tu sĩ Ma-ri-a-nít còn có một tinh thần gia đình rất đặc sắc, tin thần này rõ ràng là ơn đặc biệt của Đức Mẹ và là một điều kiện cho việc tông đồ thành công; lại còn tinh thần nội tâm, tinh thần đơn sơ, khiêm nhượng, những đức tính cần thiết của một người con Đức Mẹ.

Cha dồn cho các tu sĩ Ma-ri-a-nít thâm tín rằng “họ chỉ đem các linh hồn về với Chúa Giê-su được qua Đức Mẹ.” Lời khấn bền đỗ của họ có nghĩa là “đặc biệt tận tâm với Mẹ, hết lòng thảo hiếu truyền bá Mẹ cho mọi người tôn kính, với hết sức mình và cộng tác với anh em, trong bất cứ một hoàn cảnh nào trên đời.” Tu sĩ Ma-ri-a-nít cùng nhau chiến đấu dưới “khẩu lệnh xung phong”: Maria duce, nhờ Mẹ hướng dẫn. Hồn tông đồ của họ là hồn phổ quát: việc gì, ở đâu, thế nào, khi nào, tại sao, cho ai, nhất nhất đều phải thấm nhuần tinh thần Mẹ, y như lời Mẹ nói với đám gia nhân tiệc cưới Ca-na ngày xưa: “Hãy làm tất cả những điều Ngài bảo.”

Dòng tu Đức Mẹ còn có hai khẩu lệnh. Một là “tăng triển giáo dân,” tu sĩ không được ngừng lại trong việc truyền bá Mẹ, mà phải lao mình đi chinh phục không ngơi. Hai là “tinh thần thích nghi.” Trong tiết nhất của hiến pháp dòng, cha viết: “Dòng tu nhỏ bé này quyết định hoạt động trên thế giới để cứu rỗi các linh hồn bằng những phương tiện thích nghi với nhu cầu và tinh thần thời đại.” Do tinh thần thích nghi này, cha đã tổ chức dòng tu Đức Mẹ thành ba bậc: tu sĩ linh mục, tu sĩ học tập và tu sĩ thủ công. Cả ba bậc cùng mang một trách nhiệm chung. Cha hiểu rằng trong xã hội mới, giới thủ công được ưu đãi nhiều, nên cha đều nhìn cả ba bậc trong dòng cha lập bằng cùng một ánh mắt. Phải liên kết cả ba bậc với nhau mới chinh phục được thế giới cho Chúa Giê-su, Maria duce.

Ngày nay, những công việc chính thức của dòng Đức Mẹ là truyền giáo, giáo dục. Nhưng theo cha Sa-mi-nát, giáo dục phải choán gồm hết mọi phương pháp để đem đạo thánh và trí khôn vào tâm hồn con người, huấn luyện họ từ tuổi thơ đến tuổi già theo một xu hướng nhiệt thành và tín nghĩa xứng một tín hữu đích danh.

8.Tu Hội Đức Mẹ (Societas Mariae)

Tu hội Đức Mẹ là một dòng trùng tên với dòng Đức Mẹ vừa thuật trên, nhưng các tu sĩ mang tên là Ma-rít (Maristes), khác với các tu sĩ dòng Đức Mẹ là Ma-ri-a-nít. Tu hội này do cha Gio-an Cơ-lốt Cô-lanh (Jean Claude Colin, 1970-1875) sáng lập.

Ngày 23 tháng 7 năm 1816, mười hai thanh niên thành phố Li-ông dự một thánh lễ trong đền thời cổ kính Đơ Phu-vi-e (de Fourvière). Sau lễ, tất cả cùng đọc một kinh hứa sẽ vào một dòng Đức Mẹ để hoạt động cho danh Cha cả sáng hơn. Thánh lễ đó do cha Cô-lanh cử hành. Và thời gian trôi, trong số mười hai thanh niên kể trên, có bốn người chung chí hướng với cha Cô-lanh lập nên tu hội Đức Mẹ.

Tu hội của cha tiến phát trong âm thầm, kín nhiệm. Vì theo cha, Mẹ Ma-ri-a ưa bầu không khí thanh bình khiêm nhượng để làm việc. Cha cao tiếng tuyên dương Mẹ Ma-ri-a là đấng sáng lập dòng của cha trong đại công hội của dòng Ma-rít năm 1870:

“Tu hội của chúng ta có Mẹ Ma-ri-a là vị sáng lập, Mẹ là bề trên luôn luôn. Đừng nói tôi là vị sáng lập. Tôi chỉ là người trước nhất trong dòng... Tôi tuyên xưng rằng ý tưởng đầu tiên về tu hội đến với tôi không do người nào cả... Tôi chỉ có bổn phận trao cho anh em những ý tưởng sơ khởi về dòng, những ý tưởng đó không phải của tôi... Anh em hãy đề phòng với tinh thần canh cải... Hết thảy anh em chỉ phải có một tinh thần, đó là tinh thần Na-da-rét...’’

Mấy ngày sau, cha lại tuyên bố: “Tu hội hãy tiếp nhận lề luật, không phải như một công trình của đại công hội, hay của một người chỉ là dụng cụ bất xứng của Mẹ, nhưng hãy nhận như lề luật của chính Mẹ ban.’’

Hai năm sau khi cha qua đời, đại công hội họp ngày 16 tháng 8 năm 1872 lại “tuyên dương Mẹ Ma-ri-a là Đấng Sáng Lập và là Bề Trên vĩnh viễn của dòng.’’

Khẩu hiệu của dòng là Ecce Ancilla Domini (Này tôi là đầy tớ của Chúa) và mỗi tu sĩ Ma-rít phải quyết định sống cuộc đời Đức Mẹ (hiến pháp, 1), phải tôn kính đặc biệt các thánh có lòng sùng kính Mẹ cách riêng.

Từ gốc cây khiêm nhượng này đã trổ sinh một thân cây to lớn, cành lá rườm rà. Tôi muốn nói tu hội Đức Mẹ là nơi phát sinh của dòng Tiểu Đệ Đức Mẹ, dòng Tiểu Muội Đức Mẹ, hội Dòng Ba của Đức Mẹ và dòng Linh Mục Chầu Thánh Thể.

Dòng Tiểu Đệ Đức Mẹ là công trình của cha Mác-xơ-lanh Sam-pa-nha (Marcellin Champagnat, 1789 - 1840). Cha là một tu sĩ Ma-rít thời danh, theo ơn soi động và nhu cầu lập nên dòng Tiểu Đệ Đức Mẹ để sống “cuộc đời Bê-lem và núi Can-vê,’’ khác với cha Cô-lanh đã chủ trương sống cuộc đời Na-da-rét. Phần riêng cha, cha chỉ là một người “dốt nát’’ như thánh Gio-an Vi-a-nê. Cha làm linh mục chỉ vì cha yêu cầu nguyện và giàu thiện chí. Dòng của cha chuyên về giáo dục. Cũng lại dùng tinh thần khiêm nhường, nghèo khó và bỏ mình hoàn toàn như dòng Ma-rít, tiểu đệ Đức Mẹ phải âu yếm, hiền từ với trẻ em mình giáo dục, nhất là phải kính trọng các em vì là hình ảnh Chúa Hài Nhi.

Dòng Linh Mục Chầu Thánh Thể do thánh Phê-rô Du-liên Ây-ma (Pierre Julien Eymard, 1811-1868) sáng lập. Ngài vào dòng Ma-rít ngày 20 tháng 8 năm 1839. Sau năm năm phụng sự Mẹ trong dòng, ngài đã được chính cha Cô-lanh và vị bề trên kế tiếp cha quí trọng rất mực vì cuộc đời thánh đức của ngài. Ngài nuôi một lòng tôn sùng yêu mến Mẹ một cách thơ ngây non dại. Ngài rất yêu mến Đức Mẹ dưới tước hiệu đức Mẹ Thánh Thể, nhất là ngài gọi Mẹ là gương mẫu của những người tôn thờ Thánh Thể.

Năm 1856, ngài vâng lệnh cha Cô-lanh, ngậm ngùi bỏ dòng Ma-rít để đi sáng lập dòng Linh Mục Chầu Thánh Thể, xây dựng thêm một tước hiệu mới hiến dâng Đức Mẹ: Đức Mẹ Thánh Thể.

9. Dòng Thừa Sai Tận Hiến cho Mẹ Vô Nhiễm

Dòng Thừa Sai Tận Hiến cho Mẹ Vô Nhiễm, theo lời Đức Lê-ô XII trong thư Si Tempus Unquam, là dòng đã lĩnh nhận đặc quyền và đặc nhiệm của Đức Mẹ do Giáo Hội trao cho. Dòng thành lập vào tháng giêng năm 1816 do đức cha Sác-lơ Giu-se Êu-giê-nô đơ Ma-dơ-nô (Charles Joseph Eugène de Mazenod, 1782-1861). Dòng có sứ mạng làm tông đồ truyền giáo cho dân nghèo và dân ngoại. Như lời văn thư Giáo Hoàng đã kể trên: “Mối ước vọng tha thiết của Ta là các tu sĩ dòng này, đã được đặt dưới quyền bầu chủ của Mẹ Vô Nhiễm, hãy hết sức, nhất là bằng gương sáng, đem vào lòng Mẹ Thương Xót những người mà Chúa Giê-su đã nhận làm con trên Thánh Giá.’’

Đi sát theo mục đích truyền giáo, dòng Tận Hiến chú trọng đến việc rao giảng Mẹ Vô Nhiễm bằng lời cầu nguyện, nghiên cứu và hoạt động. Ngay từ sơ khai, dòng đã chăm chú ưu luyện đời nội tâm dưới cặp mắt hiền từ của Mẹ. Ở hoạt động bề ngoài, Mẹ Vô Nhiễm cũng chiếm địa vị ưu tiên. Tu sĩ Tận Hiến coi là một bổn phận việc truyền bá đặc ân Vô Nhiễm của Mẹ, Mẹ Vô Nhiễm phải đi trước hết mọi việc của tu sĩ Tận Hiến. Để được thế, tu sĩ phải đào sâu vào mầu nhiệm Vô Nhiễm của Mẹ ngõ hầu tỏ cho giáo dân biết rõ Mẹ thật là trung tâm tình thương xót của Chúa, là đường lối thẳng thắn và bắt buộc để đi tới Chúa, là phương pháp dễ dàng để hiểu đúng Chúa đối với loài người thế nào trong nhiệm vụ cứu rỗi hiện tại.

Tinh thần phấn khởi mọi hoạt động của dòng đó đã rạng sáng trong các thánh đường dâng kính Mẹ, các trung tâm hành hương kính viếng Mẹ mà đức cha Ma-dơ-nô gọi là những tiền đồn trong cuộc chiến đấu giữa tình thương với sự dữ. Ngài muốn cho các tu sĩ dòng ngài đem hết tình kính ái những nơi đó. Ta thấy ở Pháp các cha Thừa Sai Tận Hiến đã là những lữ đoàn bảo vệ nhiều thánh đường và trung tâm hành hương của Đức Mẹ. Hoạt động của dòng còn lan rộng sang Ca-na-đa và sang Á Châu, nhất là Tích Lan và Lào. Ở Ca-na-đa, trung tâm hành hương nổi tiếng nhất là Đức Mẹ Cáp chính là công trình của các cha Tận Hiến. Tích Lan nổi danh với đền thờ Notre Dame de Lanka, và chính nhờ lòng sốt sắng của đức cha Ma-sông (Masson), một tu sĩ Tận Hiến, mà Tích Lan đã được hiến dâng cho Trái Tim Mẹ Vô nhiễm. Ở Lào, các cha Tận Hiến nỗ lực truyền bá danh thánh Mẹ Vô Nhiễm và Chúa Giê-su cho quốc dân Lào. Cũng nên nhớ rằng không có trung tâm hành hương nào của Mẹ ở Việt Nam mà vắng bóng các cha Tận Hiến ở Lào sang dự, trong những kỳ đại hội. Đại hội Thánh Mẫu toàn quốc ở Sài Gòn năm 1959 cũng được hân hạnh đón tiếp một phái đoàn giáo lữ Lào quốc dưới sự hướng dẫn của các cha Tận Hiến người Pháp và người Việt. Phái đoàn có lưu niệm tại Việt Nam bằng một số ảnh Đức Mẹ dưới tác hiệu “Thánh Mẫu Lào’’ theo nét vẽ của họa sĩ Van-Canh.

Về hoạt động nghiên cứu mầu nhiệm Mẹ Vô Nhiễm, ngay từ khi Giáo Hội chưa tuyên bố tín điều Mẹ Vô Nhiễm, các thừa sai Tận Hiến đã công khai truyền bá học thuyết Đức Mẹ Vô Nhiễm trên tòa giảng và trong nhiều tác phẩm đạo đức. Các tác giả thời danh của dòng về Mẹ Vô nhiễm là cha Co-nơ (Corne), cha Báp-phi (Baffie). Trường đại học Ốt-ta-goa (Ottawa) Ca-na-đa cũng là trường sở hoạt động của các cha Thừa Sai Tận Hiến trong khoa Thánh Mẫu học.

10. Những Dòng Tu của Trái Tim Mẹ

Những dòng tu của Trái Tim Mẹ ở đây có nghĩa là những dòng đặc biệt tôn sùng Trái Tim Mẹ, chứ không như một ít dòng đã kể ở trên mới hiến dâng dòng mình cho Trái Tim Mẹ.

Tôi muốn nói trước hết đến dòng Thừa Sai Con Trái Tim Đức Mẹ. (Congregatio Messionariorum filiorum Immaculati Cordes B.M.V) do thánh An-tôn Ma-ri-a Cơ-la-rê (Antoine Marie Claret, 1807-1870) sáng lập. Dòng được thành lập vào ngày 16 tháng 7 năm 1849, và chỉ mười một năm sau, ngày 21 tháng 11 năm1860 đã được sắc tứ ca tụng của Tòa Thánh.

Hiến pháp của dòng thật là một cuốn sách nêu những nguyên tắc và việc thực hành lòng tôn sùng Trái Tim Đức Mẹ. Ngay trong bản tuyên lời khấn cũng có: “Tôi cũng xin dâng hiến trót mình để phụng sự Chúa và Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ Ma-ri-a.’’ Tục lệ của dòng lại giải nghĩa rộng thêm những khoản về lòng sùng kính Trái Tim Mẹ ở hiến pháp. Các tập sinh phải được huấn luyện đặc biệt để yêu mến yêu Trái Tim Mẹ, dường như họ là những thai nhi Mẹ ẵm yêu trong Trái Tim Mẹ để chờ ngày sinh ra làm con Trái Tim Mẹ (P.I, số 109). Sau khi tuyên lời khấn, tu sĩ đọc bản dâng mình cho Trái Tim Mẹ. Tinh thần sùng kính Trái Tim Mẹ lan ngập hết các hoạt động của dòng.

Ngoài hiến pháp, dòng còn một cuốn thủ bản nữa là Tinh Thần Dòng, do cha Giu-se Xíp-rê (Joseph Xifré) vị đồng sáng lập, viết ra. Cuốn này chú trọng rất nhiều đến việc tôn sùng Trái Tim Mẹ và được tu sĩ đặt ngang hàng với hiến pháp. Chính cuốn này làm nên vẻ đẹp của dòng. Trong sách có những dòng khuyến khích tu sĩ hăng hái mếu yêu Trái Tim Mẹ: “Chúa đã phó trao cho chúng ta một kho tàng vô giá, đó là Trái Tim Mẹ, để chúng ta trở nên tông đồ của Trái Tim Mẹ và sống cuộc đời của Mẹ.’’ “Chúng ta hãy sống xứng danh con yêu của Mẹ... vì thành ngữ “con của Trái Tim Mẹ’’ tỏ ra một tình yêu đặc biệt khác với những người con khác.’’

Nhờ tinh thần ấy hun nóng, các thừa sai dòng đã hoạt động ráo riết cho Trái Tim Mẹ. Năm 1862, xin được cho cả hoàn cầu mừng lễ Trái Tim Mẹ do sắc Regni Huspaniae: 1877, xin được Đức Pi-ô IX ưng nhận áo Trái Tim Mẹ và ban nhiều ân xá. Ngay từ trước khi Đức Mẹ truyền ban mệnh lệnh tôn sùng Trái Tim Mẹ ở Fa-ti-ma, dòng đã xin được Tòa Thánh chuẩn ưng và ban ân xá cho những người đền tạ Trái Tim Mẹ ngày thứ bảy đầu tháng.

Một cha bạn thân của thánh Gơ-ri-nhông đơ Mong-pho là Pu-a đề Phơ-la (Poullart des Places) cũng đã sáng lập từ năm 1703 một dòng gọi là dòng Linh Mục Chúa Thánh Thần và Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Ma-ri-a. Năm1769, cha qua đời. Công việc tưởng tan rã, nhưng Trái Tim Mẹ, Bạn dấu yêu của Chúa Thánh Thần vẫn bang trợ, dòng tiến ít nhiều cho đến Đại Cách Mạng thì tàn hẳn. Ngọn lửa yêu mến Trái Tim Mẹ lại bùng lên vào năm cha Đê-gơ-nét (Desgenette) lập hội kính Trái Tim Mẹ ở nhà thờ chính tòa Pa-ri. Một linh mục người Do Thái qui hồi, con của thầy ráp-bi (rabbi), đã lập lại dòng của cha Pu-a đề Phơ-la. Đó là cha Gia-cóp Li-bơ-man(Jacob Libermann). Hồi còn là chủng sinh, Li-bơ-man mắc trọng bệnh tưởng không thể lĩnh chức linh mục. Nhưng rồi tay Mẹ nhân lành đã dẫn đưa cha tới bàn thánh. Cha say mê lý tưởng truyền giáo cho người da đen mà hội kính Trái Tim Mẹ hằng cầu nguyện cho. Thế là cha băng mình hoạt động cho dòng theo lý tưởng của cha Pu-a đề Phơ-la từ hơn một thế kỷ trước. Ngày 24 tháng 8 năm 1848, thánh bộ Truyền Giáo ưng nhận dòng của cha, lúc đó mới có bảy mươi lăm người.

Dòng tu thứ ba của Trái Tim Mẹ tôi muốn trình bày ở đây là dòng Anh Em Thánh Vinh Sơn Phao-lô do cha Lơ Pơ-rê-vô (Le Prévot) sáng lập năm 1845.

Tên dòng của cha chẳng gợi cho ta một ý niệm nào Trái Tim Mẹ, hay Đức Mẹ cả. Nhưng hồn sống và mục đích của dòng thì lại là tôn sùng Trái Tim Đức Mẹ và Đức Mẹ La Sa-lét. Cha viết về Trái Tim Mẹ: “Đó là đền thờ của ta, là bàn thờ của ta, lời kinh và hi sinh của ta phải dâng lên từ đó! Đối với ta, Trái Tim Mẹ là trường học, là nơi trú ẩn, là đền thờ của ta vậy!” Nước mắt Mẹ La Sa-lét cũng khơi lên trong cha một lòng sùng kính đặc biệt. Cha lập ra lệå đền tạ Mẹ ngày thứ bảy đầu tháng trong dòng cha và khuyên giục giáo hữu tham dự. Một điều đáng chú ý là cha cũng đem lòng tôn sùng Mẹ Đồng Công Cứu Chuộc vào dòng của cha nữa.

Việc tôn kính Mẹ nơi Anh Em Thánh Vinh Sơn Phao-lô càng tăng thêm độ mạnh khi cha Gioóc-giơ Ben-lăng-giê (Georges Bellanger) nhập dòng. Cha là một người “bị Đức Mẹ thôi miên,” là đại tông đồ kinh Mân Côi, là vị thánh của kinh Kính Mừng. Cha đã đem tinh thần tận hiến làm nô lệ Mẹ theo thánh Mong-pho vào thấm nhuần anh em tu sĩ.

Trong hoạt động tông đồ, các Anh Em Thánh Vinh Sơn Phao-lô đặt lòng tôn sùng Mẹ Ma-ri-a ở hàng đầu. Dòng căn cứ vào lòng tôn sùng này mà tuyển trạch tông đồ tung ra hoạt động. Một bước tiến về Trái Tim Mẹ rất khả quan là trong đại công hội của dòng họp tại Tuốc-ne (Tournai), toàn thể nghị viện đã họp phiếu quyết nghị dâng hiến toàn dòng cho Trái Tim Đức Mẹ ngày 8 tháng 9 năm 1920.
Dòng tu của Trái Tim Đức Mẹ sau cùng, theo tài liệu tôi có dưới tay, là dòng Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ do cha Tê-ô-phi Vê-bơ-ri (Théophile Verbrit, 1823-1868) năm 1862. Năm 1865, dòng đã xin Tòa Thánh cho phép mừng lễ Trái Tim Đức Mẹ trong dòng theo lễ nghi bậc nhất có tuần tám ngày.

Dòng hoạt động ở Trung Hoa, Phi-líp-pin, Công-gô, đâu đâu các tu sĩ cũng cổ động lòng sùng kính Mẹ cách rất đặc biệt.

11. Một Ít Dòng Tu Khác của Đức Mẹ

Trong số gần hai trăm dòng có truyền thống tôn sùng Đức Mẹ một cách đặt biệt, tôi còn xin kể lại hết sức sơ lược dưới đây những dòng tu nổi tiếng và mới thành lập từ khoảng giữa thế kỷ XIX đến nay. Những dòng tu này phần nhiều đội danh thánh Mẹ hoặc một tước hiệu của Mẹ, và hết thảy đều thi đua nhau triển dương lòng sùng kính Mẹ ra khắp các nơi trên thế giới, làm ta nhớ đến một câu thơ Công Giáo cổ Việt Nam về kinh Mân Côi, nếu ta gọi mỗi dòng tu của Mẹ là một cây Mân Côi:

Vườn Ro-sa bao quanh trái đất,
Cảnh thiên nhiên thật rất diệu huyền.

Một số những cây Mân Côi ấy là đây:

Dòng Anh em Đức Mẹ Lộ Đức lập năm 1888, thoát thai từ hội Anh Em Nghĩa Cử (Broedes van goede werken) của cha Gơ-lo-ri-ơ (Glorieux 1802-1872) ở Bỉ. Mục đích của dòng là giáo dục và làm việc bác ái. Dòng đang truyền giáo ở Công-gô, In-đô-nê-si-a và quần đảo An-tin (Antilles).

Năm 1840, cha Lu-i Huy-be Ru-tơn (Louis Hubert Rutten, 1809-1891) lập dòng Anh Em Đức Vô Nhiễm ở Mát-trích (Maestricht) để giáo dục trẻ em.

Dòng Anh Em Cứu Bệnh của Đức Nữ Trinh Vô Nhiễm thành lập ở Rô-ma năm 1857, đang hoạt động trong các ký nhi viện và bệnh viện nước Ý và Ác-hen-ti-na.

Cha Sép-pơ (Scheppers, 1802-1877) lập dòng Anh Em Đức Mẹ Thương Xót năm 1839 ở Bỉ để phát triển việc giáo dục thanh thiếu niên. Dòng hiện nay có nhiều tu viện rải rác ở Bỉ, Hòa Lan, Y,Á Anh...

Một dòng nữa cũng trùng tên với dòng trên do cha Gui-sân (J. Zwijsen) lập ở Hòa Lan. Các tu sĩ hoạt động từ thiện trong các nước Hòa Lan, quần đảo An-tin và In-đô-nê-si-a.

Dòng Đức Mẹ Thánh Tâm do đức cha Sa-ép-man (Schaèpman) sáng lập năm 1873 cũng chuyên về giáo dục.

Các dòng chuyên về giáo dục nhờ Mẹ dẫn dắt còn là dòng Anh Em Thánh Gia (1835), dòng Anh Em Đức Mẹ Thất Sự (1851) ở Am-téc-đam, dòng Anh Em Mẹ Vô Nhiễm và Mẹ Thiên Chúa (1854). Ngoài ra còn có dòng chuyên chữa bệnh tâm trí như dòng Anh Em Đức Mẹ Lên Trời do cha Si-rông (Chiron) lập năm 1823.

Sau khi Đức Mẹ hiện ra ở La Sa-lét, đức giám mục địa phận Gơ-rơ-nốp (Grenoble) lập dòng Thừa Sai Đức Mẹ La Sa-lét để giúp địa phận. Năm 1879, dòng thuộc luật Giáo Hoàng và hoạt động ra ngoài cương giới địa phận, lan tràn mười một quốc gia, không kể các nước Nam Bắc Mỹ.

Chuyên về việc truyền giáo và mở các chủng viện thì có dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm, cha Bô-đô-ranh (Baudorin, +1835) lập năm 1828 ở Sa-va-nhơ (Chavagnes). Trước đó mười hai năm, hai cha Bơ-ru-nô Lan-tơ-ri và Gio-an Rơ-nha-đi (Bruno Lanteri và Jean Regnardi) đã lập ở Tu-ri-nô dòng Tận Hiến Cho Mẹ Đồng Trinh để cải tạo hàng giáo sĩ, chống lại bè Giăng-sê-nít và báo chí xấu. Trước nữa, năm 1821, kinh sĩ Pa-vô-ni (Pavoni) cũng đã lập ở Mi-lan dòng Con Đức Mẹ Vô Nhiễm để giáo dục thanh niên.

Cuối cùng, cũng nên kể đến dòng Linh Mục Thừa Sai Đức Mẹ Núi Si-on của cha An-phong-sô Ma-ri-a Ra-ti-bông (Alphonse Marie Ratisbonne). Cha là một người Do Thái rất cứng lòng, sau nhờ một mẫu ảnh Đức Mẹ Hay Làm Phép Lạ mà trở lại, rồi vào dòng, rồi làm linh mục, và lập ra dòng trên để nhờ Mẹ truyền giáo cho dân tộc của cha. Cha cũng lập ra một dòng nữ cũng danh hiệu trên để giúp nhau đưa anh em Do Thái về với Chúa Giê-su và Đức Mẹ.

Kim Diêu

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)