dongcong.net
 
 


ĐỀN THÁNH VÀ TRUNG TÂM THÁNH MẪU TẠI VIỆT NAM

1. Nhà thờ Phú Nhai, Bùi Chu, Bắc Việt

Theo sử gia M. Dít-pe (M. Gispert), trước chiếu chỉ “phân sáp” năm 1861 vô cùng khốc liệt và độc ác, đức cha Vinh (Berriochoa) biết không thể sống với con chiên mình được nữa, nên ngài phải trở lại hầm trú Hương La (Bắc Ninh). Trước khi ra đi, đức cha và cha chính Hòa (Riano) đã cùng nhau dâng lên Thiên Chúa và Đức Mẹ Vô Nhiễm lời cầu nguyện tha thiết và khấn hứa xây cất một đền thờ dâng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm cùng nhận Người làm bổn mạng địa phận khi Thiên Chúa ban cho giáo dân thoát khỏi cuộc bách hại và được hưởng thái bình.

Đến năm 1866, cha chính Hòa thực hiện lời khấn hứa là xây cất một thánh đường kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và nhận làm bổn mạng địa phận. Cha đã chọn Phú Nhai, một làng toàn tòng và đông dân bậc nhất của địa phận để thực hiện. Ngôi thánh đường này chỉ hơn mười năm sau đã trở nên chật hẹp khiến cha chính Thịnh (Munoz) phải nới rộng thêm.

Năm 1881 cha chính Ninh (Barquero) thay thế bằng một thánh đường khác đồ sộ hơn, cột xà bằng gỗ, kiến trúc Đông Phương. Đến thời đức cha Trung (Muãgorri, 1907-36), ngôi thánh đường này đã được thay thế bằng một đại thánh đường được cung hiến và nâng lên hàng tiểu vương cung thánh đường (1923).

2. Nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn, Nam Việt

Trong miền nam, công trình dâng kính Đức Mẹ lớn nhất là nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Công trình lớn lao này được trao cho kỹ sư Buốc-na (Bournard) từ Pa-ri đến. Ngày 7 tháng 10 năm 1877 đức cha Mỹ (Colombert) đặt viên đá đầu tiên. Công trình được tiến hành rất mau lẹ, với kinh phí lên đến 2.500.000 phật-lăng lúc bấy giờ. Chỉ trong hai năm rưỡi ngôi thánh đường được khánh thành vào Chúa Nhật 11 tháng 4 năm 1880. Năm giờ chiều hôm trước, đức cha Mỹ cung hiến nhà thờ, sau đó là cuộc cung nghinh Thánh Thể vĩ đại đi qua nhiều đường phố. Thánh đường Sài Gòn được thiết kế kiểu Rô-ma pha Gô-tíc theo mô hình của kiến trúc sư A-mê-đê Buy-ra (Amédée Burat, 1809-1883), một nhà chuyên về địa chất học nổi tiếng người Pháp. Tường xây gạch trần mầu hường không thể phai sắc, mà đến rêu bụi cũng không bám được mua từ Mác-xây bên Pháp chở sang. Tòa nhà dài 91 mét, rộng 35,5 mét, vòm cao 21 mét, hai tháp vuông cao 36,6 mét. Một bộ sáu chuông hòa âm, nặng tổng cộng đến 23.850 kí. Phải nói bấy giờ cả Đông Á chưa đâu có, đến cả nhiều nhà thờ chính tòa ở Pháp cũng thua. Bên trong nhà thờ trang trí rất công phu, mỹ thuật và ý nghĩa. Một bộ kính ngũ sắc diễn tả hai đoàn thánh Cựu và Tân Ước đến chào mừng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội (bổn mạng thánh đường), một pho tượng bằng đá trắng tinh, tác phẩm của nhà điêu khắc Côm-pa-ra (Comparat). Bàn thờ chính bằng đá cẩm thạch quí có sáu thiên thần chống đỡ. Đàng Thánh Giá trạm trổ trên đá hoa, mỗi nơi là một bàn thờ cạnh bằng đá. Năm 1895, hai tháp nhọn 21 mét được xây nối tiếp trên hai cây tháp vuông, đưa thánh đường đến chỗ cao nhất thành phố lúc bấy giờ. Bức tượng Đức Mẹ Hòa Bình đặt trong công viên trước thánh đường, được xây dựng từ ngày 8 tháng 12 năm 1958 đã được đức hồng y A-ga-gia-ni-an, quyền tổng trưởng thánh bộ Truyền Bá Đức Tin, làm phép trong dịp ngài được Đức Gio-an XXIII cử làm đại diện đến Việt Nam chủ tọa đại hội Thánh Mẫu toàn quốc năm 1959, kỷ niệm đệ nhất bách chu niên Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức. Ngày 9 tháng 12 năm 1959, đức cha Si-mon Hòa Nguyễn Văn Hiền đã cử hành nghi thức cung hiến thánh đường.

3. Nhà thờ Đức Mẹ Mân Côi, Phát Diệm, Bắc Việt

Cũng phải nhắc đến thánh đường Phát Diệm kính Đức Mẹ Mân Côi, một trong những kiệt tác tôn giáo văn hóa thời danh nhất tại Việt Nam. Gặp thời kỳ Văn Thân lộng hành, giết hại và gây vô vàn khốn khổ cho giáo hữu. Ngay tại Phát Diệm, hai xứ Kẻ Dừa và Kẻ Bền đã có những vụ giáo dân bị giết tập thể. Cụ Sáu Trần Lục hội họp giáo dân và long trọng khấn hứa: nếu giáo xứ Phát Diệm thoát được bọn sát nhân, cha sẽ xây thánh đường lộng lẫy.

Nhà thờ lớn Phát Diệm khởi sự dựng lên năm 1891 cho tới khi thượng lương (dựng nóc), ngày 23 tháng 6 chỉ trong vòng ba tháng. Cha Trần Lục dâng hiến thánh đường kính Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi. Thánh đường hoàn tất vào bốn năm sau là năm 1895. Trước ngày khởi sự dựng lên, việc chuẩn bị sắm vật liệu gỗ đá và tụ chân móng đã kéo dài mười bốn năm về trước, nghĩa là từ năm 1877. Công trình toàn bộ còn tiếp tục trong nhiều năm sau, cho đến năm cha Trần Lục qua đời (1899).

Vật liệu là gỗ lim, nặng tới mười tấn mỗi khúc, từ trên rừng Nghệ An Thanh Hóa và Sơn Tây cách xa 200 cây số. Những tảng đá đến 7,3 mét nặng cả 20 tấn, lấy từ trên núi Thiện Dưỡng cách đấy 30 cây số. Tất cả được vận chuyển bằng phương tiện thô sơ thời ấy. Những người thợ kiên nhẫn tài ba từ khắp xứ Bắc đã đến Phát Diệm đục chạm, đánh bóng, cùng tô điểm những cây cột khổng lồ, những tấm đá hoa đủ mầu sắc.

Du khách ngày nay bước vào khu thánh đường trước hết phải vòng quanh một cái ao hồ rộng một mẫu, ở giữa hồ trên một cái gò nhân tạo có tượng Chúa Giê-su Vua cao 3 mét (1925). Du khách bước vào sân rộng lớn qua cổng đá phía tây. Sân này cũng rộng tới một mẫu, sân lát đá thước làm đường kiệu chung quanh nhà thờ, những chỗ khác lát gạch bát tràng. Trên sân là phương đình (nhà vuông), hình dáng như cái đình làng rộng lớn trống trải, ngang 24 mét, sâu 17 mét, cao 25 mét, ba tầng. Tầng giữa có một trống cái, tầng trên cùng có quả chuông nam cao 1,9 mét (đúc năm1890), đường kính 1,1 mét, nặng gần 2 tấn, âm thanh vọng đi xa tới 10 cây số. Phương đình hoàn thành năm 1899, là công trình sau hết của cha Trần Lục, và theo ý kiến của nhiều người, là kiệt tác của toàn bộ.

Thánh đường lớn gồm chín gian với sáu hàng cột gỗ lim, tổng cộng bốn mươi tám cây cột đỡ lấy bốn mái, mười sáu cây cột ở giữa chu vi 2,35 mét, cao 11 mét, nặng 7 tấn. Ở gian trước cung thánh, trên thượng lương (xà dọc cao nhất) có ghi ngày dựng nóc 17 tháng 5 năm thứ ba Thành Thái (23.6.1891). Trên cung thánh (cao hơn hai bậc, hai gian, không cột), Du khách nhìn ngắm cái bàn thờ là một khối đá dài 3 mét, rộng 0,9 mét, cao 0,97 mét, ba mặt có chạm trổ hoa lá. (Tháng 10 năm 1990, nhân dịp khai mạc kỷ niệm một trăm năm có đặt thêm một bàn thờ trông xuống bằng một phiến đá dài 3 mét, rộng 0,9 mét, dày 0,2 mét). Tiếp lên cao tới nóc là toàn bộ gỗ chạm khắc tinh xảo sơn son thiếp vàng (vàng y) chói lọi. Chính giữa là toà Đức Mẹ bế Chúa Con phía trên có bảy cửa kính vẽ hình sáu thánh tử đạo đứng hai bên Chúa Giê-su Vua. Trên cùng là khung ảnh Đức Mẹ ban tràng hạt Mân Côi cho thánh Đa-minh, chung quanh có mười hai thiên thần.

Hai bên thánh đường toàn là cửa gỗ, mỗi bên hai mươi tám cánh. Hiên rộng 1,5 mét nền đá, nhìn chiều dài hun hút 74 mét, rộng 21 mét. Lùi xa một chút, khách thấy mái thánh đường có hai tầng, giữa mái trên và mái dưới là một hàng cửa sổ để lấy ánh sáng và không khí. Sau khi thăm thánh đường lớn, khách có thể có thể xem các công trình phụ khác: các nhà thờ cạnh cũng theo lối kiến trúc Đông Phương và hang đá.

Năm 1991, kỷ niệm 100 năm nhà thờ lớn Phát Diệm, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II đã cho mở Năm Thánh, từ ngày 7 tháng 10 năm 1990 đến ngày 7 tháng 10 năm 1991. Ngày hôm trước bế mạc Năm Thánh, nhà thờ đã được cung hiến trọng thể.

(Tư liệu trích từ tác phẩm Giáo Hội Công Giáo ở Việt Nam)

4. Trung tâm Đức Mẹ Bãi Dâu, Vũng Tàu, Nam Việt

Chính năm khai mạc thánh Công Đồng Va-ti-ca-nô II, tháng 10 năm 1962 tại Bãi Dâu Vũng Tàu, cha chính xứ kiêm quản hạt Phao-lô Nguyễn Minh Tri xây dựng tượng đài Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội cao 7 mét trên sườn núi, nơi đã có một nhà nguyện đá từ năm 1926. Khi giáo phận Xuân Lộc được thành lập (1965), đức giám mục Giu-se Lê Văn Ấn đã cho xây cất mười bốn đàng Thánh Giá và nhà nghỉ mát hành hương Xuân Lộc, biến nơi đây thành trung tâm hành hương Đức Mẹ Bãi Dâu từ năm 1972. Năm 1964, tại Sài Gòn ngày 10 tháng 5 một cuộc rước kiệu lớn bế mạc thánh du của Đức Mẹ, năm Thánh Mẫu, thì tại Bãi Dâu ngày 17 cùng tháng, một cuộc hành hương lớn bế mạc cuộc thánh du Đức Mẹ.

Sườn núi và mặt bằng khoảng mười mẫu, khởi đầu mang tên Vũng Mây, do ông Lê Hữu Lương, một giáo dân giáo xứ Vũng Tàu, đăng ký khai thác với nhà nước từ ngày 9 tháng 4 năm 1926. Liền sau đó (14.4.1926) ông Lương chuyển lại cho ông bà Nguyễn Hồng Ân quen gọi là Vệ Ân (quốc tịch Pháp, chức vệ úy). Cũng năm 1926, ông bà Vệ Ân xây nhà nguyện đá, bên cạnh là “kim tĩnh” mong sau này được chôn cất tại đó (nhưng sau này hai ông bà dời đi Bà Rịa và qua đời ở đấy). Ngày 1 tháng 12 năm 1927, ông bà Nguyễn Hồng Ân dâng nhà nguyện và đất đai cho hội Thừa Sai Pa-ri. Hồi ấy, Vũng Mây còn là rừng rậm, khỉ ho cò gáy, ít người dám lui tới, cọp đôi khi còn về tìm mồi, khỉ thường chạy tung tăng chặn lối đi. Đến sau các cha thừa sai cho phá rừng, trồng dâu nuôi tằm, để tạo công ăn việc làm cho một số bà con ở đây: Bãi Dâu, tên có từ đấy. Năm 1954 họ đạo Bãi Dâu được thành lập khi cha Gia-cô-bê Nguyễn Văn Mầu nhận chính xứ Vũng Tàu. Ngày 22 tháng 11 năm 1956, hội thừa sai chuyển Bãi Dâu cho giáo phận Sài Gòn thời đức cha Si-mon Hòa Nguyễn Văn Hiền, cha Gia-cô-bê Nguyễn Văn Mầu chính xứ Vũng Tàu đứng ra lãnh nhận và quản lý. Phụ trách họ đạo: cha Gia-cô-bê Nguyễn Văn Mầu (1954-57), cha Phao-lô Nguyễn Minh Tri (1957-75), cha Phê-rô Trần Văn Huyên (1976-86). Từ năm 1986 họ đạo thuộc giáo xứ Sao Mai, chính xứ là cha Phê-rô Nguyễn Văn Giản, kiêm giám đốc trung tâm hành hương Bãi Dâu. Cha Phê-rô đặt tượng Đức Mẹ Sầu bi trong nhà nguyện đá (1987), một thượng tọa đã tặng quả chuông (ta) khá lớn treo trong nhà vuông “kim tĩnh’’ (1989). Ngày 1 tháng 1 năm 1992, đức cha Phao-lô Ma-ri-a Nguyễn Minh Nhật, giám mục Xuân Lộc đặt viên đá trùng tu trung tâm hành hương. Tượng đài sẽ được thay thế bằng tượng Đức Mẹ Thiên Chúa cao 25 mét, kể cả Chúa Con 27,5 mét. Thêm bốn bức phù điêu bà E-và trong vườn Địa Đàng, Thiên Thần truyền tin cho Đức Mẹ, Đức Mẹ sinh hạ Chúa Giêsu ở Bê-lem, Đức Mẹ về trời nhận triều thiên. Tất cả do nhóm nghệ sĩ Trần Châu và Thành Lễ thực hiện trong những năm 1993-95. Nhà nguyện đá được di chuyển xuống chân núi, nhường chỗ cho một nhà thờ mái vòm có sức chứa một ngàn người, sẽ được kiến thiết. Mặt bằng phía dưới sẽ được cải tạo, thành một công trường có khả năng chứa một trăm ngàn người.

5. Trung tâm Fa-ti-ma, Bình Triệu, Sài Gòn, Nam Việt

Trung tâm Thánh Mẫu Fa-ti-ma Bình Triệu khởi đầu trong những năm 1965-66. Khi ấy chỉ có một tượng đài Đức Mẹ trên bờ sông Sài Gòn với mấy nhà lá chung quanh. Nhiều người đến viếng Đức Mẹ và được ơn lạ. Bình Triệu phát triển từ ngày linh mục Phao-lô Võ Văn Bộ về đây, lập tu hội Bác Ái năm 1968. Những nhà lá từ từ được thay thế bằng những nhà tường gạch mái ngói hoặc tôn, tiệm bán sách đạo và tượng ảnh thánh. Năm 1972 một thánh đường được xây cất trùm lên tượng đài Đức Mẹ. Ngày 7 tháng 1 năm 1973, đức tổng giám mục Phao-lô Nguyễn Văn Bình đến chủ lễ khánh thành và cung hiến thánh đường. Từ đấy Bình Triệu trở thành một trung tâm hành hương Đức Mẹ Fa-ti-ma. Cha Võ Văn Bộ linh phụ tu hội Bác Ái, kiêm giám đốc trung tâm. Sau ngày Việt Nam thống nhất, trung tâm Fa-ti-ma Bình Triệu trở thành nhà thờ của giáo xứ Bình Triệu, dưới sự cai quản của cha Nguyễn Văn Lập.

(Tư liệu trích từ tác phẩm “150 Năm Giáo Phận Tây Đàng Trong, Tổng Giáo Phận Sài Gòn’’)

A. Buy-ô-nô

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)