dongcong.net
 
 


LA VANG, VIỆT NAM

1. Tên Gọi La Vang

Có nhiều giải thích khác nhau về nguồn gốc tên gọi La Vang.

* Đức cha Hồ Ngọc Cẩn trong bài diễn văn Đức Mẹ La Vang (ngày 18 tháng 8 năm 1932) có nói: “Tên La Vang là vì xưa ở đó có nhiều cọp, dân xóm Trí Bưu vào làm chòi ở lại, làm gỗ phở đất, nên đêm nào cũng đánh mõ la lối để đuổi cọp, vì thế xóm chung quang nhà thờ gọi là La Vang.”

* Quận công Nguyễn Hữu Bài trong bút tích về đền thánh Đức Mẹ La Vang đề ngày 8 tháng 2 năm 1925 tại Huế có viết: “La Vang nghĩa là tiếng kêu om xòm. Thường người ta đặt tên chỗ nọ chỗ kia, thì lấy tên các khe, cây gì cổ thụ, hay là tên người nào trước ở đó mà đặt tên chỗ, song đây thì lấy tên La Vang mà đặt tên cũng là lạ. La Vang là tiếng khi người ta lâm nguy mà kêu cứu. La Vang là tiếng kêu, tiếng đuổi thú dữ. La Vang là tiếng rao truyền. La Vang là tiếng khi người ta được sự vui mừng quá bội hoảng hốt mà La Vang hay là tiếng quở trách.”

* Cha Phi-líp-phê Lê Thiệu Bá, nguyên giáo sư đại chủng viện Huế, nguyên quán tại Trí Bưu cho rằng bút tích tên gọi La Vang như trên là sai: “Sự thật nếu La Vang quả như nói trên thì trong bộ làng đời Gia Long đã viết La Vang. Nhưng không, trong bộ làng Trí Bưu viết Lá Vằng. Tại sao có tên gọi như vậy? Là vì tại vườn Đức Mẹ có vô số cây lá vằng. Lúc tôi còn năm sáu tuổi (1896), tôi vào La Vang hái hột lá vằng ăn đen cả miệng. Cây cối xung quanh vườn Đức Mẹ như hóp, xim, tre, v.v... đều bị cây lá vằng leo đầy cả. Vì vậy mà tục danh kêu xứ đó là Lá Vằng. Lâu ngày không rõ, rồi ra La Vang.”

2. Hoàn Cảnh Lịch Sử

Cố Ninh (P.B. Bonin), cha sở Cổ Vưu (1881-1911) khi xức dầu thánh cho bà Nôi và bà Xã Thoại ở họ Cổ Vưu thọ gần một trăm tuổi có hỏi rằng: “Bà nay gần đến tòa phán xét, bà phải nói cho thật khi nhỏ bà có nghe nói Đức Bà hiện ra ở La Vang và hứa ai đến La Vang cầu xin, Đức Bà sẽ nhận lời, ban ơn và dạy hái lá xung quanh vườn đó nấu uống sẽ lành các bệnh, bà có nghe thật như vậy không?” Các bà ấy là người đạo đức, thưa rằng: “Thưa cha có, lúc nhỏ con có nghe cha mẹ con và mấy người lớn kể lại các việc ấy.”

Trong việc thuật lại chuyện Đức Mẹ hiện ra ở La Vang không nói rõ Đức Mẹ hiện ra năm nào? Sự thiếu sót đó là một sự thiếu sót to tát về lịch sử. Nhiều sử gia đã tìm hiểu để biết năm Đức Mẹ hiện ra, dựa trên hai bằng chứng:

- Bằng chứng thứ nhất: Đức Mẹ hiện ra với những người trốn tránh vì bắt đạo.

- Bằng chứng thứ hai: Lúc đại hội lần đầu tiên năm 1901, các ông già bà lão còn sống nói rằng: Đức Mẹ hiện ra nay xê xịch trên một trăm năm.

Năm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang phải là một năm bắt đạo tại Quảng Trị và xê xích cách năm 1901, năm đại hội Thánh Mẫu ở La Vang lần thứ nhất chừng một trăm năm. Như thế chúng ta nhận thấy các năm 1885, 1864 Văn Thân bắt đạo tại Nam Định, năm 1841 Thiệu Trị bắt đạo cũng tại Nam Định, năm 1833 Minh Mạng bắt đạo trong khắp nước đều không thỏa đáng được một hoặc cả hai lời truyền tụng để lại trên kia.

Trong lịch sử còn ghi lại năm bắt đạo 1798 dưới đời vua Cảnh Thịnh, tức là Nguyễn Quang Toản, nối vị vua Quang Trung. Cuộc bắt đạo diễn ra tại các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình trở nên khốc liệt nhất là từ khi nhà vua bắt được lá thư của Nguyễn Ánh gửi cho đức cha An (Labartette) nên ngờ là người Công Giáo tiếp tay với địch. Từ năm 1798 đến năm 1901 được một trăm lẻ ba năm. Năm 1801, Nguyễn Ánh đánh đuổi nhà Tây Sơn và chiếm Thừa Thiên, Cảnh Thịnh rút về Thanh Hóa, cơn cấm đạo chấm dứt từ 1801 đến 1901 chẵn một trăm năm.

Như thế chúng ta có thể quả quyết Đức Mẹ đã hiện ra trong cơn bắt đạo đời vua Cảnh Thịnh.

3. Sự Kiện và Đền Thánh

Tại vùng Cổ Vưu gần Quảng Trị, giáo hữu chết quá nửa phần vì bách hại, phần vì bệnh tật. Các quan bày ra lắm hình khổ mới lạ vô cùng dã man. Nhiều giáo dân khiếp sợ đã phải bỏ cửa nhà, băng qua gò hoang bụi rậm đi về phía núi rừng cách Quảng Trị sáu cây số. La Vang hồi ấy là rừng sâu núi rậm, có nhiều ác thú nên bổn đạo nghĩ rằng quan quân không tìm đến chỗ xa xôi hẻo lánh ấy. Dẫu vậy vẫn đêm ngày lo sợ bị tầm nã bắt bớ, sợ thú dữ rừng hoang, lại thêm lương thực thuốc men thiếu thốn, khí hậu độc địa nên lâu ngày nhiều người lâm bệnh. Tình cảnh thực trăm chiều cơ cực. Một hôm bổn đạo họp nhau đọc kinh tối dưới gốc cây da, họ thầm thĩ than khóc kêu xin Chúa và Đức Mẹ đoái thương phù hộ che chở, bỗng nhiên Đức Mẹ hiện ra rực rỡ vô ngần, người mặc áo choàng rộng, tay bồng Chúa Hài Đồng, có hai thiên thần cầm đèn chầu hai bên. Đức Mẹ xuống đứng trên đám cỏ gần gốc cây da, nơi bổn đạo đang cầu nguyện.

Đức Mẹ tỏ vẻ nhân từ âu yếm an ủi các bổn đạo vui lòng chịu khó, dạy hái lá quanh đó nấu nước uống sẽ lành các chứng bệnh. Đức Mẹ phán Người đã nghe lời họ cầu xin và từ đó về sau, hễ ai chạy đến cầu khẩn cùng Người tại chốn ấy sẽ được nhậm lời ban ơn theo sở nguyện.

Từ đó, Đức Mẹ còn hiện xuống nhiều lần nữa. Đó là lời các tiền nhân truyền tụng cho đến ngày nay.

Vùng chung quanh đồn Quảng Trị có ba làng trù phú là làng Cổ Thành, Thạch Hãn và Ba Trừ. Nghe tin có Bà lạ hiện ra ở xóm La Vang, lại hiện ra dưới cây da, dân chúng xôn xao bàn tán. Đồng bào bên lương cho rằng Phật Bà xuất hiện nên mỗi lần đi rừng, họ thường hay đem hương hoa, đốt hương khấn vái cầu an.

Đầu đời vua Minh Mạng, ba làng Cổ Thành, Thạch Hãn và Ba Trừ họp nhau lập một ngôi chùa ở đó rồi nghinh mấy tượng Phật làng lên đặt vào chùa để thờ, mở lễ lạc thành, hương đèn, xôi thịt cúng tế. Lễ xong, đêm đó các chức dịch trong làng nằm chiêm bao thấy Phật về và dạy phải dời Phật đi nơi khác gấp vì Bà bên Công Giáo đã ngự ở nơi ấy. Sáng ngày, các hương chức ba làng gặp nhau thì hóa ra cả ba vị đều chiêm bao như thế. Ba vị ra chùa để xem thực hư thế nào... Giữa sự ngạc nhiên của ba ông hương đèn, ngổn ngang dưới đất, tượng Phật nằm lăn lóc ngoài cửa. Các chức dịch nghinh tượng Phật lại để đặt trên bàn thờ, sắp sửa lư hương đèn nến, bảo nhau về xóm làng coi bói thử xem. Đêm ấy, chức dịch lại nằm mơ thấy Phật về, hối hả dạy phải dời Phật đi nơi khác lập tức.

Sáng ngày, cả ba làng kéo đến La Vang đông đúc, họ thấy một cảnh tượng như hôm trước, ai nấy đều tin rằng Bà hiện ra đó là Bà bên Công Giáo oai quyền linh thiêng quá. Vì thế các chức dịch đều thuận cho mời nhà đạo ở gần đó, kể lại câu chuyện đã xảy ra, quyết định dâng đám đất cho bên Công Giáo rồi rước Phật về làng. Những người Công Giáo tin lại cho cha sở Cổ Vưu, xin ngài sửa chùa ấy làm nhà thờ. Ngài giúp họ làm như ý, cho một tượng Thánh Giá, một mẫu ảnh Đức Bà và mấy chân đèn và đặt một ông từ giữ nhà thờ. Đó là ngôi nhà thờ trước tiên tại La Vang, chính nơi Đức Mẹ hiện ra.

Ngày 7 tháng 9 năm 1883, sau khi phóng hỏa đốt trụi làng Cổ Vưu, Văn Thân kéo lên La Vang đốt hết nhà cửa, nhưng không dám đốt ngôi nhà thờ, vì nghe danh Đức Mẹ linh thiêng. Tuy nhiên, ngôi nhà thờ cũng bị một người ghét đạo phóng hỏa thiêu rụi sau đó.

Chính người này và vợ con đều chết thiêu sau đó khi một toán Văn Thân khác trở lại đốt nhà hôi của. Trên đường về, nhóm Văn Thân chận bắt một nhóm Công Giáo chừng ba mươi người. Tất cả đều xin đặc ân được chết trên nền nhà thờ Đức Mẹ, và tất cả đã đổ máu lai láng trên nền đất đã ghi dấu chân Đức Mẹ. La Vang đã trở nên một di tích lịch sử gắn liền với lịch sử Giáo Hội Việt Nam vào thời các thánh tử đạo.

Trên nền nhà thờ cũ, năm 1886 một ngôi thánh đường khác được kiến thiết và hoàn thành năm 1900 dưới sự chỉ đạo của đức cha Lộc (Gaspar), giám mục địa phận Huế. Nhưng vì nhà thờ ấy quá nhỏ hẹp nên năm 1924, đức cha Lý (Allys) cho xây một ngôi thánh đường khang trang - và Đức Gio-an XXIII đã nâng lên bậc vương cung thánh đường bằng sắc chỉ “Để Muôn Dân Ghi Nhớ” ngày 22 tháng 8 năm 1961.

Nằm cách thị xã Quảng Trị sáu cây số về phía tây nam, La Vang nay thuộc về xã Hải Phú, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Kể từ đầu thế kỷ XX, La Vang đã trở thành một trung tâm hành hương. Cứ ba năm một lần lại tổ chức một đại hội hành hương Thánh Mẫu La Vang. Vương cung thánh đường La Vang được khánh thành năm 1928, được xây dựng theo phong cách Gô-tíc với đỉnh tháp chuông cao, với hai tháp phụ đồ sộ tọa lạc giữa một vùng đất đồi cao lũng thấp rất hữu tình. Về sau, nhiều công trình được xây dựng thêm, ở quảng trường có vườn Đức Mẹ với ba cây đa bằng bê tông cốt thép cao sừng sững, dưới tàn cây là tượng Đức Mẹ bồng Chúa Giê-su Hài Đồng. Bên kia quảng trường là con đường lên núi Gôn-gô-ta với Mẹ chặng đường Thánh Giá. Ngoài ra còn nhiều công trình khác như nhà tĩnh tâm, đài kỷ niệm các thánh tử đạo Việt Nam, đài kỷ niệm các đấng bổn mạng xứ truyền giáo giữa hồ tĩnh tâm, lễ đài lộ thiên... Ngày 13 tháng 4 năm 1961, trong một phiên họp tại Huế, hội đồng giám mục miền Nam đã chọn đền Đức Mẹ La Vang làm đền thánh toàn quốc dâng hiến Trái Tim Vô Nhiễm Đức Mẹ Ma-ri-a. Quyết định này được công bố ngày 22 tháng 8 năm 1961 tại La Vang. Ngày 8 tháng 8 năm 1961, hội đồng giám mục họp tại Đà Lạt và quyết định xin Tòa Thánh nâng đền thờ La Vang lên hàng vương cung thánh đường, đồng thời trùng tu và mở rộng trung tâm La Vang. Ngày 22 tháng 8 năm 1961, qua sắc chỉ Để Muôn Đời Ghi Nhớ, đức Gio-an XXIII đã nâng đền thánh La Vang lên hàng vương cung thánh đường. Hôm đó, đức tổng giám mục Phê-rô Ngô Đình Thục đã xức dầu thánh cung hiến đền thờ theo nghi thức của Giáo Hội nhân dịp bế mạc đại hội Thánh Mẫu toàn quốc năm 1961. Ngày 1 tháng 5 năm 1980, hội đồng giám mục toàn quốc họp tại Hà Nội lại đồng thanh biểu quyết chấp nhận La Vang là trung tâm Thánh Mẫu toàn quốc.

Đền thánh đã được tái thiết ngày thêm khang trang, bề thế với sự đóng góp hằng sản của tín hữu các giáo phận miền Trung và miền Nam. Thế nhưng, những khung cảnh uy nghi hoành tráng ấy của trung tâm Thánh Mẫu La Vang chỉ còn đọng lại trong tâm tưởng và trí nhớ của tất cả những ai đã từng hành hương đến La Vang. Suốt những năm chiến tranh khốc liệt, hàng nghìn tấn bom đạn đã trút xuống miền đất Mẹ. Vương cung thánh đường chỉ còn là những bờ tường loang lỗ rêu phong, đổ nát. Đường Thánh Giá cũng không còn lành lặn.

Dù chỉ là phế tích, nhưng từ sau ngày im tiếng súng chiến tranh, La Vang vẫn là nơi hành hương của tín hữu Công Giáo toàn quốc. Các ngày 13,14,15 tháng 8 năm 1996 đã diễn ra đại hội Thánh Mẫu La Vang lần thứ 24. La Vang đã in sâu vào tâm khảm của từng người Công Giáo Việt Nam.

Hiện nay, mọi người đang chờ đợi công cuộc tái thiết, tôn tạo đại qui mô trung tâm Thánh Mẫu La Vang. Nhiều dự án đã được các kiến trúc sư, điêu khắc, họa sĩ, kỹ sư trong và ngoài nước đệ trình. Hy vọng một ngày gần đây, La Vang sẽ trở thành một trung tâm tôn giáo và văn hóa đáp ứng được sở nguyện của tín hữu Việt Nam, thể hiện được tình yêu mến thơ thảo sâu đậm của các tín hữu Việt Nam đối với người Mẹ trên trời của mình.

4. Dịp Mừng Đệ Nhị Bách Chu Niên

Năm 1998 là dịp kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ hiện ra tại La Vang. Ngày 1 tháng 8 năm 1996 đức hồng y Phao-lô Giu-se Phạm Đình Tụng, tổng giám mục giáo phận Hà Nội kiêm chủ tịch hội đồng giám mục Việt Nam và đức cha Tê-pha-nô Nguyễn Như Thể, khi ấy là giám quản tông tòa giáo phận Huế đã gửi thư chung đến toàn thể linh mục, tu sĩ và giáo hữu Việt Nam trong cũng như ngoài nước đề cập đến việc long trọng kỷ niệm biến cố vĩ đại La Vang. Hai vị đã nhắc lại mối quan tâm đặc biệt của Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II và của Tòa Thánh dành cho Giáo Hội Việt Nam trong sự kiện ý nghĩa này. Các ngài kêu gọi toàn thể cộng đồng dân Chúa nhiệt tình hưởng ứng lời kêu gọi của Đức Thánh Cha và của hội đồng giám mục Việt Nam tích cực chuẩn bị mừng Năm Thánh 2000, đồng thời mừng kỷ niệm 200 năm Đức Mẹ La Vang bằng cách học hiểu và thực hành các điều Đức Thánh Cha dạy trong tông thư “Tiến về Ngàn Năm Thứ Ba.” Hai vị “tha thiết kêu mời các đấng bậc và anh chị em tín hữu tích cực đóng góp: góp ý kiến, góp của, góp công, góp lời cầu nguyện để tu sửa lại nơi thánh địa và trang bị những tiện nghi cần thiết cho việc tổ chức đại hội năm 1998 được chu đáo và long trọng, nhằm tôn vinh Đức Mẹ và xin Người ban xuống mọi ơn lành cho con cái hằng tin cậy ở nơi Người.”

Hơn nữa, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II, thể theo đơn thỉnh nguyện của đức hồng y Phao-lô Giu-se Phạm Đình Tụng và đức tổng giám mục Tê-pha-nô Nguyễn Như Thể, đã ban phép mở Năm Thánh đặc biệt mừng sự kiện Đức Mẹ La Vang 200 năm. Năm Thánh khai mạc ngày 1 tháng 1 năm 1998 và bế mạc ngày 15 tháng 8 năm 1999. Trong Năm Thánh sẽ có nhiều lễ nghi và những việc đạo đức tôn kính Đức Mẹ được cử hành tại đền thánh La Vang và toàn quốc Việt Nam nhằm hỗ trợ đức tin, đức cậy và đức mến cách tích cực nơi các tín hữu, củng cố tình hiệp thông phẩm trật với Đức Thánh Cha và với các vị chủ chăn, và hướng dẫn lối sống cho phù hợp với tinh thần và chuẩn bị tâm hồn xứng đáng để mừng Năm Thánh 2000 sắp đến.

Ngày 20 tháng 10 năm 1997, tòa Xá Giải Tối Cao Tòa Thánh được sự chấp thuận của Đức Gio-an Phao-lô II đã trả lời thỉnh nguyện thư của đức hồng y Phao-lô Giu-se Phạm Đình Tụng và đức cha Tê-pha-nô Nguyễn Như Thể. Như thế, các tín hữu sẽ được lãnh nhận ơn toàn xá với những điều kiện thông thường là xưng tội, rước lễ theo ý Đức Thánh Cha và dứt bỏ quyến luyến đối với tội lỗi - khi họ tham dự bất cứ lễ nghi tôn giáo nào tại đền thánh La Vang, hoặc ít là đọc một kinh Lạy Cha và kinh Tin Kính:

a) Trong các ngày cử hành lễ khai mạc và bế mạc Năm Thánh,

b) Trong các ngày tổ chức giảng lễ Chúa hoặc đọc Kinh Thánh tại đền thánh,

c) Trong những lần sốt sắng tham gia các cuộc hành hương tại đền thánh do một giám mục hướng dẫn, hoặc do từng nhóm tự tổ chức,

d) Một ngày một lần do tín hữu tự chọn, nghĩa là ngoài ba trường hợp a,b,c trên, các tín hữu còn có thể được hưởng một ơn toàn xá một lần khác nữa vào ngày do tự mình chọn.

Ơn toàn xá cũng được ban với những điều kiện trên cho bất cứ nhà thờ nào của bất cứ giáo phận nào trong mười ngày do đức giám mục địa phương chỉ định, khi nơi đó có tổ chức bất cứ lễ nghi long trọng nào để tôn kính Đức Mẹ La Vang.

Ngày 1 tháng 1 năm 1998 vừa qua, đức cha Tê-pha-nô Nguyễn Như Thể đã cử hành long trọng lễ khai mạc Năm Thánh Đức Mẹ tại đền thánh La Vang với sự tham dự sốt sắng của hàng vạn tín hữu. Trọng tâm của Năm Thánh sẽ là các lễ nghi được tổ chức tại đền thánh La Vang trong ba ngày 13, 14 và 15 tháng 8 năm 1998.

Bản kinh Thánh Mẫu La Vang dưới đây được đức cha Tê-pha-nô Nguyễn Như Thể phê chuẩn ngày 8 tháng 12 năm 1997.

“Lạy Mẹ Ma-ri-a, Thánh Mẫu La Vang, đầy muôn ân phước, ngời chói vạn hào quang, muôn vàn thần thánh không ai sánh bằng.

Đức Chúa Trời đã đoái thương chọn Mẹ, tinh tuyền thánh thiện, sinh Đấng cứu độ muôn loài.

Mẹ đã chọn La Vang mà hiện đến, cứu giúp hộ phù tổ tiên chúng con lương giáo, giữa thời ly loạn cấm cách khốn khổ trăm bề.

Từ ấy gót chân Mẹ bước đến vẫn mãi đầy ơn thiêng.

Ơn phần hồn, ơn phần xác, người bệnh tật, kẻ ưu phiền, nào ai cầu khấn mà Mẹ không nhậm lời.

Lạy Mẹ Ma-ri-a, Thánh Mẫu La Vang, Mẹ là Thánh Mẫu Chúa Trời cùng là Thánh Mẫu loài người chúng con.

Cúi xin xuống phước hải hà đoái thương con cái thiết tha van nài.

Xin cho chúng con tấm lòng từ bi đại lượng bao dung cùng nhau bồi đắp nền văn minh tình thương và sự sống.

Xin Mẹ phù hộ chúng con luôn sống đức hạnh, đầy lòng cậy trông.

Và sau cuộc đời này xin cho chúng con được về sống bên Mẹ hưởng vinh phúc trong Chúa Ba Ngôi muôn đời. A-men.”

Và dưới đây là nội dung bức thông điệp đề ngày 16 tháng 12 năm 1997 của Đức Gio-an Phao-lô II gửi đức hồng y Phao-lô Giu-se Phạm Đình Tụng và các giám mục cùng toàn thể tín hữu Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 200 năm Đức Trinh Nữ hiện ra tại La Vang.

“Tôi nhiệt tình chia vui, tạ ơn Thiên Chúa với các giám mục Việt Nam và với các tín hữu trong giáo phận các ngài. Tại đền thánh này, vốn vẫn được các tín hữu Công Giáo Việt Nam quí mến vang lên một sứ điệp hy vọng mà Mẹ Thiên Chúa đã gửi đến con cái Người vào năm 1798 giữa những thống khổ tinh thần và thể xác khi Mẹ nói: “Các con hãy tin tưởng, hãy vui lòng chịu đựng đau khổ. Mẹ đã nhậm lời các con cầu xin. Từ nay về sau hễ ai đến kêu xin Mẹ nơi đây thì sẽ được toại nguyện.”

Suốt hai thế kỷ, sứ điệp vẫn luôn luôn hợp thời, đã được sốt sắng đón nhận tại La Vang mặc cho những thử thách lớn lao đã đánh dấu dòng lịch sử của La Vang. Trung tâm Thánh Mẫu này ngày nay đã trở thành trung tâm toàn quốc, đã duy trì được các cuộc hành hương liên tục như một truyền thống sinh động mang tâm sự thầm kín của rất nhiều người, đủ mọi thành phần, đủ mọi hoàn cảnh đến phó thác cho Mẹ trên trời những khắc khoải và những kỳ vọng của họ. Giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, giáo dân đều yêu thích tìm được nơi đây sự hiện diện niềm nở của Mẹ, Đấng ban cho họ đầy dủ can đảm để làm chứng tuyệt vời về đời sống ki-tô hữu trong những hoàn cảnh lắm lúc khó khăn. Tôi chúc tụng Thiên Chúa đã không bao giờ bỏ rơi đoàn dân tìm kiếm Ngài, và với sự phù trợ hiền mẫu của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, vẫn tiếp tục dẫn dắt đoàn dân này trong những ngày hạnh phúc cũng như trong những lúc khốn đốn.

Tôi cầu chúc cho những tín hữu trong năm Toàn Xá này sẽ đến cầu nguyện với Đức Mẹ La Vang tại đền thánh của Người hoặc sẽ kêu cầu Người ở những nơi khác được tìm thấy một sức thúc đẩy tông đồ mới cho đời sống ki-tô hữu của họ và nhận lãnh ơn an ủi và sức mạnh để đương đầu với những âu lo trong cuộc sống. Tôi mời gọi họ nhìn thấy nơi Đức Ma-ri-a một Người Mẹ mà chính Đức Giê-su đã ban tặng cho loài người, một Người Mẹ sẽ dẫn dắt họ đến với Người Con của mình vì đã sống cách hoàn hảo thân phận người môn đệ Chúa. Mẹ kêu gọi các ki-tô hữu tiến bước trên con đường sống Tin Mừng hăng say.

Ước gì Mẹ lôi cuốn họ thành những người hành hương kiên vững trong niềm tin vào Đức Ki-tô là Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại, thành những người hành hương của niềm hy vọng hướng tới sự mong đợi giờ phút Thiên Chúa gặt hái mùa màng đã gieo vào lòng đất, thành những người hành hương của lòng bác ái sống ơn gọi hiệp nhất huynh đệ và phục vụ giữa các anh chị em mà họ cùng chia sẻ cuộc sống.

Trong khi chúng ta bước vào năm thứ hai chuẩn bị năm Toàn Xá 2000, năm dành riêng cho Chúa Thánh Thần, Tôi động viên người Công Giáo Việt Nam hãy chiêm ngắm nơi Đức Ma-ri-a hình ảnh một Người Nữ khiêm tốn trong nhân loại đã để cho tác động bên trong của Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Mẹ kết hợp đậm đà và sâu xa với Thiên Chúa. Mẹ đã trung thành và trọn vẹn vâng theo các lời mời gọi của Ngài.

Ước gì mọi người có thể khám phá ra nơi Mẹ một Người Nữ thầm lặng và lắng nghe, suy đi nghĩ lại trong lòng những gì mà Thánh Thần của Thiên Chúa đã soi sáng cho Mẹ nhận thức. Đó là sự hiện diện ưu ái và tác động thánh hóa của Ngài. Mẹ không hề chán nản thất vọng vì các khó khăn. Mẹ đã thể hiện đầy đủ khát vọng tiềm ẩn nơi những người nghèo của Thiên Chúa. Do đó, Mẹ là mẫu gương sáng ngời cho những ai thành tâm tin tưởng vào lời hứa của Thiên Chúa.

Tôi thành tâm hiệp ý trong lời cầu nguyện với đông đảo khách hành hương về đền thánh Đức Mẹ La Vang và tha thiết khẩn cầu Mẹ Chúa Ki-tô, Mẹ nhân loại cho toàn thể dân tộc Việt Nam cũng như cho tất cả các cộng đoàn ki-tô hữu người Việt sống ở nước ngoài.

Ước gì họ đặt tin tưởng vào Đức Trinh Nữ Rất Thánh, Đấng đang đồng hành với họ trong cuộc lữ hành trần thế với tất cả tình hiền mẫu. Dù sống bất cứ nơi đâu, ước gì họ là những môn đệ của Chúa Ki-tô, trung thành và quảng đại làm chứng nhân cho tình yêu thương của Thiên Chúa ở giữa anh chị em mình.

Kính thưa Đức Hồng Y,

Trong dịp hồng phúc kỷ niệm 200 năm Đức Trinh Nữ hiện ra tại La Vang, Tôi thân ái gửi phép lành Tòa Thánh đến ngài cũng như đến các giám mục, linh mục, những người chuẩn bị làm linh mục, các tu sĩ nam nữ và toàn thể tín hữu ở Việt Nam và hải ngoại.”

(Theo tư liệu của cha Phan Phát Huồn và Hồng Phúc)

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)