dongcong.net
 
 


LÒNG SÙNG KÍNH
ĐỨC MẸ TRONG CÁC DÒNG TU

1. Dòng Đức Mẹ Núi Ca-mê-lô

Các tu sĩ Ca-mê-lô rất yêu quí áo Mẹ ban. Không những các tu sĩ Ca-mê-lô cung kính mang áo ấy hằng ngày, mà còn truyền bá ra khắp Giáo Hội như ta đã thấy.

Về việc phụng vụ, ngay từ năm 1306, một đại công hội của dòng ban lệnh mừng lễ kính Mẹ Vô Nhiễm hằng năm trong dòng. Trong kinh nhật tụng hằng ngày, các tu sĩ cũng như nữ tu Ca-mê-lô đều đọc một đối xướng khúc về Mẹ như sau: “Chúa phán với rắn già: Ta sẽ đặt mối thù giữa mày mà Người Nữ, giữa dòng dõi mày vàâ Người Nữ; Người Nữ sẽ đạp dập đầu mày.’’ Sau đó đọc ba kinh Kính Mừng và câu than: “Ôi Ma-ri-a, Mẹ hoàn toàn đẹp đẽ, vết nhơ tổ truyền không vương lây nơi Mẹ’’; rồi đọc lời nguyện về lễ Mẹ Vô Nhiễm. Năm 1380 gia đình Ca-mê-lô xin được ơn mừng trong cả Giáo Hội. Từ đời thánh Tê-rê-sa A-vi-la, trong dòng kính mừng trọng thể lễ Mẹ Dâng Mình. Tòa Thánh cũng đã ban cho dòng đặc ân được làm lễ Mẹ Vô Nhiễm trong các ngày thứ bảy quanh năm.

Hằng ngày, qua kinh chiều, toàn thể tu viện đọc kinh cầu Đức Bà, có thêm câu: “Nữ Vương xinh đẹp núi Ca-mê-lô, cầu cho chúng con.’’ Sau kinh Tối thì hát kinh Salve Regina. Các ngày thứ bảy và các ngày ápcùng chính lễ trọng về Mẹ, tu sĩ Ca-mê-lô mặc áo choàng và cầm nến sáng mà hát kinh ấy. Cũng hằng ngày vào một giờ thuận tiện, tu viện họp nhau lần hạt chung, ai ngăn trở phải đọc riêng.
Dòng cũng có lệ rước Đức Mẹ, và mừng tháng Hoa và tháng Mân Côi trọng thể từ lâu đời.

Không nói hẳn chúng ta cũng biết lòng sùng kính ấy đã tạo nên những vị thánh thời danh, mà thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su là một thí dụ sống động. Ai không cảm động khi nghe thánh nữ nói về Đức Mẹ. Tuy ít lời nhưng thật chứa cả một học thuyết tôn sùng.

2. Dòng Thánh Bê-nê-đíc-tô Tôn Sùng Mẹ

Thánh tổ phụ dòng Bê-nê-đíc-tô là một vị thánh nhuần thấm hương thơm lòng sùng kính Mẹ ngay từ thiếu thời. Cho nên tất nhiên là các tu sĩ Bê-nê-đíc-tô cũng thừa hưởng sản nghiệp của tổ phụ mình.

Những người con thánh Bê-nê-đíc-tô có rất nhiều người được lên bậc hiển thánh mà lại là hiển thánh tiến sĩ của Giáo Hội. Ta thử kể lại một vài vị danh tiếng. Thánh I-đê-phong được Mẹ tặng cho một cái áo lễ màu trắng để cảm tạ vì thánh nhân đã nhiệt liệt bênh vực ơn đồng trinh trọn đời của Mẹ. Thánh Bê-đa đã biết về Mẹ những tác phẩm tuyệt vời. Thánh An-sen-mô nổi tiếng vì những kinh nguyện, những ca vịnh tôn vinh Mẹ. Việc truyền bá sự dâng ngày thứ bảy hằng tuần cho Đức Mẹ, và kinh nhật tụng Đức Mẹ là công của thánh Phê-rô Đa-mi-a-nô. Và ai quên được thánh Bê-na-đô, vị thánh tiến sĩ chảy mật của Đức Mẹ?

Việc phụng vụ của Giáo Hội này nay nhuốm đầy màu sắc Thánh Mẫu cũng là do công lao của dòng thánh Bê-nê-đíc-tô. Chính thánh Bê-nê-đíc-tô đã đem kinh Magnificat vào giờ nhật tụng kinh Chiều, sau được Giáo Hội côâng nhận. Thế kỷ VIII, các đan sĩ núi Ca-si-nô mỗi ngày nguyện ba kinh nhật tụng mà một là nhật tụng Thánh Mẫu. Bài lễ De Beata Maria ta quen gọi là lễ ngoại lịch Đức Mẹ chính là sản phẩm của ngòi bút cha An-qui-anh, một đan sĩ dòng Bê-nê-đíc-tô người Anh.

Đan sĩ Bê-nê-đíc-tô nhiệt liệt hiến dâng ngày thứ bảy tôn kính Mẹ ngày từ thế kỷ XI. Ngay từ thời ấy, kinh nhật tụng theo giáo luật của dòng mỗi ngày đã chấm dứt bằng đối xướng khúc Salve Regina, hoặc Alma Redemptores như ngày nay rồi. Không ngày nào đan sĩ rời ca đài mà không chào kính Đức Mẹ bằng những lời xướng khúc ấy.

Việc dâng kính Đức Mẹ Ma-ri-a cả một tháng trong năm mới phổ biến trong Giáo Hội khoảng trong một thế kỷ. Nhưng đã rất cổ kính trong dòng thánh Bê-nê-đíc-tô. Thời ấy, dòng mừng tháng Đức Mẹ vào mùa Vọng. Bốn tuần lễ trước lễ Giáng Sinh, các nhà thờ của đan viện vang những tiếng hát ca mừng Mẹ là Nữ Trinh Sắp Sinh Chúa Cứu Thế: “Virgo Paritura.’’ Đan sĩ mừng tháng Đức Mẹ mùa Vọng này với tất cả nghi thức phụng vụ trong toàn thể các đan viện.

Có thể nói, tất cả chu kỳ phụng vụ Thánh Mẫu ngày nay trong Giáo Hội thảy đều đã manh nha trong lòng sùng kính Mẹ của dòng Bê-nê-đíc-tô. Trong dòng còn có lệ đặc biệt mừng ngày thứ bảy đầu năm một cách đặc biệt. Cả đan viện tề tựu chung quanh một bàn thờ Mẹ hay một tượng Mẹ để hát ca vãn và kinh cầu Đức Bà.

Lòng tôn sùng ấy được thấm vào từng tập sinh của dòng trước khi họ thành đan sĩ. Ngày nào tập sinh cũng phải sốt sắng lần hạt, và câu cách ngôn thông thường của dòng là: “Đan sĩ quên lần hạt là đan sĩ nát phiền.’’

Từ khi phương pháp tận hiến cho Mẹ của thánh Lu-i đơ Mong-pho xuất hiện, các đan sĩ Bê-nê-đíc-tô đã là người hăng say truyền bá vào hạng nhất.

Ngoài những việc sùng kính khít hợp với phụng vụ đối với Mẹ sơ lược trên, các đan sĩ Bê-nê-đíc-tô còn chúc tụng về khoa thần học Thánh Mẫu và đã dựng được nhiều nền tảng cho khoa Thánh Mẫu học ngày nay.

3. Các Tu Sĩ Xi-tô với Đức Mẹ

Dòng là một ngành của dòng Bê-nê-đíc-tô, một gia đình đan sinh mới. Vị thánh sáng lập Xi-tô là thánh Rô-be (Robert), một người con được Mẹ Ma-ri-a ghé tới ngay từ sơ sinh. Cho nên khi lập đan viện đầu tiên cho dòng, ngài đã hiến dâng cho Đức Mẹ. Và khi lập chi viện Xi-tô, ngài cũng hiến dâng cho Đức Mẹ vào ngày 21 tháng 3 năm 1098.

Dòng Xi-tô khai sinh vào thời Đạo Binh Thánh Giá xuất quân lần thứ nhất, nên đã thừa hưởng được tinh thần hiệp sĩ của thời đại trong lòng sùng kính Mẹ. Vì dòng được hiến dâng cho Mẹ rồi, nên hết những lễ vật tặng biếu đan viện đều gọi lễ vật dâng hiến Đức Mẹ. Hết thảy các thánh đường của dòng đều phải vĩnh viễn dâng cho Đức Mẹ.

Các đại công hội của dòng đều nhắc nhở việc dâng hiến này, cũng như nhắc nhở những bổn phận đặc biệt của đan sĩ đối đối với Mẹ, nhất là đại công hội các năm 1281, 1286, 1298, 1318, 1463, 1487, 1488. Riêng đại công hội năm 1298 quyết định gọi các đan sĩ là những nam sinh, alumni của Đức Mẹ, họ phải hết lòng tôn kính Mẹ ở mọi nơi mọi lúc.

Dòng Xi-tô rất có công trong việc truyền bá tượng Đức Mẹ mặc áo choàng. Những tượng cổ xưa nhất thường là khắc vào những con chấm của đan viện. Trong biển sắc “Fulgens sicut stella” Đức Bê-nê-đíc-tô XII đã định chung dòng phải có một con triện khác biệt với con triện của đan viện phụ tại chức. Đại công hội bàn quyết nghị con triện này phải khắc hình Đức Mẹ. Lệ đó vẫn còn tiếp tục đến ngày nay. Con triện của các đại công hội của dòng cũng trình bày một số các đan viện phụ xum họp dưới áo choàng của Đức Mẹ

Niên ký của dòng còn cho ta biết các tu sĩ Xi-tô đầu tiên rất sốt sắng đọc kinh Kính Mừng. Và tất cả những việc đạo đức thực hiện kính tôn Mẹ ở dòng Bê-nê-đíc-tô đều được thực hành ở dòng Xi-tô.

Về phương diện sáng tác, các đan sĩ Xi-tô đã viết rất nhiều. Trong khoảng bốn thế kỷ đầu của dòng, số tác giả đạo đức do dòng sản xuất đã có tới hai trăm bảy mươi chín (279) vị. Phần nhiều cũng viết về Đức Mẹ mà thánh Bê-na-đô là thời danh nhất. Thánh Mẫu học tuy chưa thành hệ thống như ngày nay, nhưng trong các tác phẩm đan sĩ Xi-tô, Mẹ Ma-ri-a đã chiếm một địa vị đặc biệt và rõ ràng nhất.

Qua các thế kỷ, tác phẩm Thánh Mẫu do ngọn bút của các đan sĩ Xi-tô đã làm giầu rất nhiều cho kho giáo huấn của Giáo Hội. Thế kỷ XX này dòng cũng sản xuất những cây bút nghiên cứu Thánh Mẫu rất quan trọng.

Trong đời sống thường nhật của đan sĩ, Mẹ Ma-ri-a giữ một chỗ chính yếu. Mỗi giờ nguyện kinh nhật tụng theo giáo luật, đan sĩ đều nguyện kinh nhật tụng Đức Mẹ trước. Hằng ngày đan sĩ đều có làm lễ De Beata kính Mẹ do một đan sĩ tuần trực đặc cử. Trước thánh lễ tu hội, cộng đồng chung tiếng hát kinh Trông Cậy. Mỗi đan sĩ đều mang tên Mẹ. Ngày thứ bảy nếu lễ nghi cho phép, các đan sĩ đều nguyện kinh nhật tụng Đức Mẹ theo nghi thức lễ tạ. Khi đọc thánh danh Ma-ri-a, đan sĩ cũng giữ những niềm tôn kính khác nhau theo như tục lệ định...

4. Lòng Sùng Kính Mẹ của Dòng Sác-trơ (Chartreux)

Dòng Sác-trơ là sự nghiệp của thánh Bơ-ru-nô Đô-phi-nê (Bruno Dauphiné). Thánh nhân sáng lập đan viện đầu tiên vào khoảng năm 1084 trong một thung lũng gần rặng núi vĩ đại Sác-trơ. Đan viện đầu tiên này cũng như hằng hai trăm đan viện khác sau này mang tên Đức Mẹ và được dâng hiến cho Đức Mẹ. Những tên này, theo cha Đông I-vét Guốc-đen (Dom Yves Gourdel) đã làm nên một bài thơ đầy tin tưởng mến yêu Mẹ. Ta thử kể vài tên: Núi Mẹ, Thung Lũng Mẹ, Vườn Mẹ, Giếng Mẹ, Suối Mẹ... Đây là dòng Sác-trơ Mẹ là đường lên trời, dòng Sác-trơ bình an của Mẹ... Kia là dòng Sác-trơ Nữ Vương Thiên Quốc, dòng Sác-trơ Đức Mẹ Bê-lem, Đức Mẹ Vô Nhiễm, lại có đan viện “Sác-trơ của Đức Mẹ” trong đó số đan sĩ được định có mười lăm người để kính mười lăm niềm hân hoan của Đức Mẹ.

Phương diện tổ chức của dòng Sác-trơ đã nhuốm đầy tính cách Thánh Mẫu như vậy, thì tinh thần phụng vụ cũng như sinh hoạt lại càng thấm nhuầm tinh thần Đức Mẹ. Nếu dòng Bê-nê-đíc-tô đã hân hạnh là nơi phát sinh của lễ De Beata, thì dòng Sác-trơ tất phải hãnh diện vì kinh nhật tụng De Beata là sản phẩm của mình. Kinh nhật tụng này đã được cấu tạo trong buổi đầu dòng đang bị tai nạn. Và các đan sĩ đầu tiên đã đọc để xin ơn Mẹ phù hộ.

Trong dòng cũng có lệ hàng ngày làm một lễ De Beata kính Đức Mẹ. Từ năm 1337, đại công hội của dòng truyền phải làm lễ ấy ở bàn thờ chính sau thánh lễ tu hội. Lễ này còn được các đan sĩ bỏ lễ qui mà đọc riêng ở đan phòng giữa giờ nhất và giờ ba của kinh nhật tụng De Beata. Lễ đọc như vậy gọi là thánh lễ “cạn” (mene sèche); từ năm 1259, thánh lễ cạn De Beata trở thành một khoản luật ngày nay còn kính giữ. Dòng cũng dâng đặc biệt ngày thứ bảy để tôn kính Mẹ từ những thế kỷ đầu của dòng. Hôm đó có tổ chức nhiều lễ nghi long trọng để tỏ hết tình mến yêu Mẹ. Ngay từ sơ khai, dòng đã mừng trọng thể các lễ Mẹ theo thời đại. Các lễ này càng ngày càng tăng thêm vào lịch lễ trọn của dòng ngay khi Giáo Hội chưa mừng kính.

Cuộc đời nội tâm của đan sĩ Sác-trơ là cuột đời bồi bổ cho mình hai điểm: trinh sạch thiêng liêng và phong phú thiêng liêng, xây trên đức ái toàn diện. Và Mẹ Ma-ri-a là bí quyết cuộc đời ấy. Mỗi đan sĩ có một đan phòng riêng gồm có hai ngăn, một ngăn làm phòng nguyện, nghỉ và dùng bữa, một ngăn làm bếp, chẻ củi và các việc khác vì đan sĩ Sác-trơ ngày trước chỉ dùng bữa chung mỗi tháng một lần. Từ năm 1250, dòng bãi lệ ăn riêng thành ra cái ngăn làm bếp được biến nên ngăn tôn kính Đức Mẹ. Mỗi lần ra vào phòng mình, đan sĩ đều phải đến chào Mẹ và thỉnh thoảng mời anh em đến đọc một kinh Kính Mừng... Khi một đan sĩ nào muốn vào phòng một đan sĩ khác, phải cùng nhau vào ngăn đó chào Mẹ đã rồi mới được vào. Ngăn phòng nguyện là nơi đan sĩ đọc thánh lễ cạn và nhật tụng De Beata, ngăn này được chính thức coi là nhà của Đức Mẹ, đan sĩ chỉ là người ở nhờ mà thôi.

Đời sống chung của đan sĩ Sác-trơ cũng trôi đi trong tình mến Mẹ. Hiến pháp năm 1222 định rằng mỗi lần họp đại công hội, phiên nhóm thứ hai phải hát lễ De Beata trước mặt toàn thể nghị viên. Kinh Kính Mừng tràn ngập kinh nguyện của đan sĩ. Mỗi ngày đan sĩ nghe chuông nguyện kinh Truyền Tin bốn lần: sáng, trưa, chiều và sau giờ Laudes.

Các đan sĩ Sác-trơ cũng chủ tâm nghiên cứu học thuyết Thánh Mẫu, và đã có những tác giả có những ý kiến cao đẹp về Đức Mẹ, coi như được dự phần vào kho Lưu Truyền của Giáo Hội. Thông điệp Ad Diem Illum của Đức Pi-ô X có nói đến cha Đôm Đơ-ni đơ Lơ-gui (Dom Denys de Lewis) thuộc dòng Sác-trơ như một chứng nhân của Thánh Truyền về Đức Mẹ).

Dòng Sác-trơ cũng có công trong việc truyền bá thánh vịnh Đức Mẹ gồm mười lăm kinh Lạy Cha và một trăm năm mươi kinh Kính Mừng giống như tràng hạt Mân Côi của thánh Đa-minh. Và chính kinh Mân Côi cũng được một đan sĩ Sác-trơ là Đa-minh Réc-tê-nô (Dominicus Rectenus) khởi xướng và truyền bá do một thị kiến đầy ơn trời. (Do đó, kinh Mân Côi ngày nay là công trình của thánh Đa-minh và của một số đan sĩ Sác-trơ).

5. Dòng Thánh Đa-minh Tôn Sùng Mẹ

Qua tám thế kỷ vun trồng, lòng sùng kính Mẹ của các tu sĩ Đa-minh đã ăn sâu trong tâm hồn. Ai không có lòng mến Mẹ là không có ơn thiên triệu tu dòng Đa-minh.

Lòng sùng kính ấy cũng cổ như dòng Đa-minh cổ. Trong bản tuyên khấn, tu sĩ Đa-minh long trọng hứa: promitto obedientiam Deo et Beatae Mariae Virgini: tôi khấn hứa vâng lời Chúa và Đức Mẹ. Dòng có lệ hát kinh Salve Regina sau giờ kinh Tối với một lễ nghi long trọng. Tu sĩ từng đôi tiến lên trước bàn thờ, lên tiếng hát và cúi chào Đức Mẹ. Trong khi đó, tu sĩ tuần trực đi qua các hàng xếp, rẩy nước thánh cho từng anh em trước giấc ngủ một đêm dài. Một tục lệ đáng ghi nhận nữa là mỗi lần trong tu viện có anh em hấp hối, tu sĩ y tá gõ chuông hiệu toàn thể tu viện tựu lại bên giường người sắp qua đời, rồi cùng nhau hát kinh Salve Regina để chào vĩnh biệt một đồng chí. Tiếng hát ấy hẳn an ủi và ru lòng người sắp giã từ trần gian lắm, và làm bảo đảm phúc trường sinh từ tay Mẹ trao cho.

Phụng vụ của dòng Đa-minh cũng nguồn nguồn những kinh vãn, những khúc ca tôn vinh Mẹ: khi cảm tạ, lúc xin ơn, khi kêu van tha thiết, lúc trông cậy say lòng. Lòng sùng kính Mẹ là phương tiện truyền giáo và hoạt động tông đồ đầu tiên của dòng. Sứ mạng của dòng là rao giảng kinh Mân Côi, một của gia bảo từ đời thánh Tổ. Tháng Mân Côi chính là sáng kiến của một tu sĩ Đa-minh, cha Giu-se Pê-ran-ta (Joseph Peralta) là người Tây Ban Nha khởi xướng năm 1868 và được Đức Lê-ô XIII phổ biến trong Giáo Hội.

Mở hiến pháp và những cuốn niên ký của dòng Đa-minh, ta phải xúc động vì tình thương của Mẹ đối với dòng và tình yêu của dòng đối với Mẹ. Nhất là ta phải cảm phục lòng nhiệt thành thi đua mến Mẹ của các tu sĩ. Có những tu sĩ mỗi ngày đọc hàng ngàn kinh Kính Mừng chào Mẹ như thày Rô-mê-ô đơ Li-vi-a (Romée de Livia). Có những linh mục như cha Du-đa-nô đơ Sa-xơ (Joudain de Saxe) đã sáng kiến một lối đọc nhật tụng năm kinh bắt đầu bằng chữ M,A,R,I,A, tức là ca vịnh Magnificat, và các thánh vịnh Ad Dominum (Tv 119), Retribue (Tv 118), Incovertendo (Tv 125) và Ad te levavi (Tv 24). Từ xưa lắm, trong dòng còn có tục lệ lần hạt, cứ mỗi kinh lại bái gối một lần cho tới hết 150 kinh làm thành một thánh vịnh Thánh Mẫu vừa để bắt chước sứ thần Gáp-ri-en chào kính Mẹ, và luôn thể tỏ lòng thống hối ăn năn.

Giảng thuyết là nghề riêng của các cha Đa-minh, nên những bài giảng của các cha Đa-minh bao giờ cũng chứa đầy những nét Thánh Mẫu riêng biệt. Ngày nay người ta thu thập các bài giảng xưa của các cha Đa-minh, và nhận thấy phần lớn là những bài giảng ở trường đại học ngày trước, có rất nhiều tư tưởng thần học và Thánh Kinh về Đức Mẹ. Phần lớn những bài giảng ấy ngắm, bình giảng về kinh Kính Mừng hay những đoạn Phúc Âm liên quan đến Đức Mẹ. Thời danh nhất là bài giảng của thánh An-be-tô Cả về bài Phúc Âm thiên sứ Gáp-ri-en được sai xuống truyền tin cho Mẹ, bài giảng, mà theo lời cha Rô-đôn-phơ đơ Ni-me-guy (Rodolphe de Nimègue), đã ca tụng Đức Mẹ một cách lạ lùng chưa từng thấy: “Miro et inaudito modo.”

Cũng phải nói đến việc nghiên cứu Thánh Mẫu học của dòng Đa-minh và những sách về Mẹ của dòng xuất bản. Các tu sĩ Đa-minh đã hết sức lợi dụng ngòi bút để làm vinh danh Mẹ. Tác phẩm về Mẹ của dòng Đa-minh xuất bản từ sơ khai đến nay phải có một thư viện rất lớn mới chứa đủ. Ngoài sách là báo chí. Hiện nay dòng Đa-minh đang làm chủ một số rất lớn báo chí về Mẹ ở mọi quốc gia, mọi ngôn ngữ. Các báo chí ấy phần lớn để truyền bá kinh Mân Côi, hoặc dành một số trang để làm việc ấy.

6. Dòng Thánh Phan-xi-cô Sùng Kính Mẹ

Sánh bước với dòng Đa-minh có dòng Phan-xi-cô. Cả hai cùng thi đua tỏ tình mến Mẹ. Ngay từ khi giã biệt gia đình thánh Phan-xi-cô đã dốc lực tu sửa đền thờ Đức Mẹ Thiên Thần. Trong đại công hội của dòng họp năm 1218, chính thánh nhân đã truyền các tu viện của dòng mỗi thứ bảy phải hát lễ trọng thể kính Mẹ.

Cái vinh dự nhất của dòng Phan-xi-cô là toàn thể lòng kính ái đã hướng về Mẹ Vô Nhiễm và đặc ân Vô Nhiễm của Mẹ. Dòng thánh Đa-minh chỉ là đối phương của dòng thánh Phan-xi-cô về điểm này. Các nhà tiến sĩ của dòng Đa-minh ngày trước tỏ ra chối ơn Vô Nhiễm của Mẹ, thì các nhà thần học của dòng Phan-xi-cô biện hộ một cách hùng hồn. Dòng Phan-xi-cô có công đầu trong việc truyền bá lòng tôn sùng Mẹ Vô Nhiễm. Khắp nơi: trên giảng đài, trong các trường đại học và trung học, đâu đâu các tu sĩ Phan-xi-cô cũng được hoan nghênh nhiệt liệt khi trình bày quan điểm của mình về Mẹ Vô Nhiễm.

Tu sĩ Phan-xi-cô viết và truyền bá rất nhiều bản tiểu nhật tụng Mẹ Vô Nhiễm cũng như tràng hạt Mẹ Vô Nhiễm. Nhật tụng là sản phẩm của ngòi bút cha Bê-na-đi-nô đơ Bơ-ri-tô (Bernardin de Bryto), mà tràng hạt là sáng kiến của cha Bo-na-ven-tu-ra đơ Phê-ra (Bonaventura de Ferrare). Tuy nhiên, dòng cũng không quên truyền bá việc đọc kinh Mân Côi. Hằng ngày hàng triệu người đã được ơn trở lại vì thực hiện việc đọc ba kinh Kính Mừng do thánh Lê-ô-na đơ Pô Mô-rít (Léonard de Port Maurice) khởi xướng.

Dòng cũng có lệ tôn sùng bảy niềm vui Đức Mẹ bằng cách đọc bảy chục kinh Kính Mừng, làm thành vòng hoa của dòng Phan-xi-cô, lệ sùng kính Đức Mẹ các Thiên Thần qua đại xá Portiuncola. Nhờ công các tu sĩ Phan-xi-cô mà ngày nay chúng ta có lễ Mẹ Thăm Viếng một lễ mà dòng khởi xướng và mừng đầu hết. Đức Phao-lô III cho phép dòng lập và kính lễ Mẹ Thành Hôn cùng thánh Giu-se.

Dòng Phan-xi-cô cũng lập nhiều hội, nhiều dòng Đức Mẹ. Ta có thể kể trước nhất là hội “Đức Mẹ bảo đảm” do thánh Bo-na-ven-tu-ra lập năm 1260; hội “Mến Chúa Giê-su và Đức Mẹ” thánh Lê-ô-na đơ Pô Mô-rít lập. Về các dòng theo lý tưởng thánh Phan-xi-cô, phải kể ba dòng mà các Đức Giáo Hoàng đã liên kết với dòng Phan-xi-cô: dòng Ô-nông-xi-át (Aunonciade) lập năm 1500 ở Buốc-giơ-ra (Bourgera), dòng Con-cép-sân-nít (Conceptionnistes) lập tại Tây Ban Nha do nữ chân phước Bê-a-tríc đơ Lin-va (Béatrice de Lilva) dòng này sản xuất một vị nữ tu chiêm niệm thời danh mà chúng rất quen biết đó là chân phúc Ma-ri-a A-gơ-rê-đa, tác giả bộ sách vĩ đại Đô Thành Bí Nhiệm kể truyện cuộc đời Đức Mẹ theo như bà được mặc khải. Dòng thứ ba là tu hội Thánh Nữ Phan-xi-cô của Đức Mẹ, lập năm 1889.

Với một niềm tôn kính thiết tha như vậy, nên Mẹ Ma-ri-a đã chúc lành rất nhiều cho dòng Phan-xi-cô. Ở đây, Mẹ đã tác tạo nên những vị thánh xuất sắc, đầy tình mến Mẹ, như thánh Bo-na-ven-tu-ra, thánh An-tôn Pa-đô-va, những vị tiến sĩ thời danh như thánh Bê-na-đi-nô Si-ê-na, thánh Lê-ô-na đơ Pô Mô-rít, những vị giảng thuyết nổi tiếng. Về mặt thần bí chiêm niệm có thánh Giu-se đơ Qui-pê-ti-ô (Joseph de Cupectius) mà người ta gọi là vị thánh biết bay của Đức Mẹ. Chúng ta cũng không ai lạ lẫm với thánh Ma-xi-mi-li-a-nô Kôn-bê, vị linh mục điên của Đức Mẹ Vô Nhiễm ở khoảng thế kỷ này.

Lòng sùng kính Đức Mẹ của dòng Phan-xi-cô còn nhiều mầu sắc hơn nữa. Chẳng hạn việc phục hưng việc sùng kính những ảnh tượng Đức Mẹ làm phép lạ trên thế giới. Một tu sĩ Phan-xi-cô nổi danh trong việc phát động phong trào tôn vương những ảnh tượng Đức Mẹ làm phép lạ là cha Giê-rôm đơ Phô-li (Jérôme de Forli).

Ngày nay, dòng Phan-xi-cô tuy chia nhiều ngành, nhưng ngành nào cũng hăng say sùng kính và truyền bá lòng sùng kính Mẹ. Cũng nên ghi nhớ là khi Đức Giáo Hoàng Pi-ô XII định lập Hàn Lâm Viện Thánh Mẫu Giáo Hoàng Quốc Tế, ngài đã trao dự án cho một cha Phan-xi-cô nghiên cứu. Đó là cha Ca-rô-lô Ba-líc (Charles Balic). Và khi Đức Gio-an XXIII chính thức thành lập Hàn Lâm Viện trên, đề cử cha Ca-rô-lô Ba-líc làm chủ tịch tiên khởi.

7. Đức Mẹ Trong Tu hội Xuân Bích

Lòng tôn sùng Mẹ Ma-ri-a trong tu hội Xuân Bích dựa trên nền tảng Thánh Mẫu học của đức hồng y Bơ-ruyn (Berulle). Học thuyết Thánh Mẫu này tuyên nhận sự hợp nhất bất khả phân ly giữa Chúa Giê-su và Đức Mẹ. Trong mọi lúc và trong mọi sự ta phải chạy đến cầu xin cùng Mẹ và phải tôn sùng Mẹ từ đáy lòng. Sự sống Chúa Giê-su trong Đức Mẹ là sự sống trọn hảo tuyệt vời. Đức hồng y nói: “Nói về Đức Mẹ là nói về Chúa Giê-su vì Chúa và Mẹ đã cùng nhau keo sơn gắn bó.” Cho nên chiêm ngắm chức vị tuyệt cao của Mẹ tức là tôn kính Chúa Giê-su vậy. Căn cứ theo đó, cha Ô-li-ê, vị sáng lập tu hội Xuân Bích đã rút ra kết luận rằng: cách tỏ lòng tôn sùng Mẹ Ma-ri-a tốt nhất là chiêm ngắm đời sống Chúa Giê-su trong Đức Mẹ và nỗ lực thông phần vào đời sống ấy.

Đời sống Chúa Giê-su trong Đức Mẹ là “sự thông trao và chiếm hữu được Chúa Giê-su cách tuyệt cao trong hết mọi nhân đức. Không ai có thể nhận thức hết được trương độ tình yêu Chúa Giê-su đối với Mẹ, cũng như mãnh lực và thành ý của tình yêu Mẹ Ma-ri-a đối với Chúa.” Cha Ô-li-ê nhận ra rằng mỗi dòng tu đều chú trọng tôn kính một mầu nhiệm về Mẹ, nhưng hình như còn một bước nữa chưa ai chịu bước để làm hài lòng Chúa hơn, đó là sùng kính cuộc đời nội tâm của Mẹ. Vì thế, nét độc đáo trong lòng sùng kính Mẹ của tu hội Xuân Bích chính là tôn kính cuộc đời nội tâm ấy của Mẹ Ma-ri-a.

Để cụ thể hóa đời nội tâm của Mẹ cho môn đệ dễ nhận thấy, cha Ô-li-ê cho khắc một mẫu ảnh trình bày Mẹ Ma-ri-a ngự trên một đám mây, hai tay chắp trước ngực, tỏ ra Mẹ cách biệt hẳn thế gian để suy niệm. Thánh Linh Chúa, Đấng Tác Tạo mọi ơn thánh cho đời nội tâm Mẹ, mặc hình chim bồ câu mà ngự trong Mẹ, Mẹ ngước cao mặt lên trời, chăm chú nhìn vào bảng chữ JHS (Chúa Giê-su Đấng Cứu Chuộc nhân loại) để tỏ lòng mến yêu Chúa Giê-su và tha thiết phần rỗi các linh hồn. Dưới ảnh có đề chữ: Với Mẹ, Nhờ Mẹ và Trong Mẹ.

Ta thấy học thuyết trên giống học thuyết của thánh Mong-pho, vì chính là nền tảng của học thuyết thánh Mong-pho. Ngay từ khi còn là sinh viên thần học ở trường Xuân Bích Pa-ri, thánh Mong-pho đã say mê và nhuần thấm tư tưởng Thánh Mẫu của cha Ô-li-ê.

Nối theo tinh thần vị sáng lập, tu hội Xuân Bích hết sức cổ võ cách sùng kính đời nội tâm của Mẹ, và gắng công tu bổ đời nội tâm của tu sĩ theo gương Mẹ.Tu hội đã chính thức được Tòa Thánh cho phép mừng lễ kính Đời Nội Tâm của Đức Mẹ trong các chủng viện tu hội chỉ huy. Lễ này được mừng vào đầu năm học, ngày bế mạc tuần phòng khai giảng, cốt để khắc sâu vào tâm hồn chủng sinh một niềm khát vọng vào sâu trong sự thông phần với sự thánh thiện tuyệt vời của Mẹ. Sự nhiệt tâm của Mẹ với Giáo Hội, sự Mẹ san mình vào Chúa Giê-su để làm vinh danh Đức Chúa Cha và thiết lập nước Cha trong các linh hồn. Ngày nay, lễ này được mừng vào cuối tháng mười.

Tuy nhiên, lễ kính đời nội tâm của Mẹ cũng chỉ làm cho trí khôn hay quên của con người chỉ nhớ được ý nghĩa trong ít ngày, nên cha Ô-li-ê lại ước muốn hằng ngày chủng sinh tu sĩ của cha phải đọc kinh “Lạy Chúa Giê-su sống trong Đức Mẹ, xin đến sống trong tôi tớ Chúa....” Mục đích của cha là làm sao cho tâm hồn con cái cha được kết hợp chặt chẽ với Chúa Giê-su trong Đức Mẹ, làm sao cho họ có một đời nội tâm sâu xa, làm sao cho họ dùng đời nội tâm ấy mà lôi cuốn tha nhân về Chúa. Bởi lẽ đó, cha khuyên mỗi linh mục trong tu hội của cha, sau khi chịu chức linh mục, hãy khấn nhiệt tâm phụng sự Mẹ. Cha để mặc mỗi người theo ơn soi động mà làm, chứ không bắt buộc vì theo cha, đó không phải là điều kiện cần thiết để tôn sùng Mẹ cho đích đáng. Cha đã nhờ lời khấn đó mà tỏ ra nhiều việc tôn kính Mẹ, trao phó mọi sự cho Mẹ. Dầu trong việc nhỏ mọn như mặc một chiếc áo mới cũng không quên dâng nó cho Mẹ. Năm 1649, khởi công xây chủng viện đầu tiên, cha xin Đức Mẹ cho biết đồ án, và khi hoàn thành vào năm 1651, cha đi đền thờ Sác-trơ để dâng chìa khóa chủng viện cho Mẹ.

Mỗi năm trong tu hội của cha, đều tổ chức tuyên hứa lại cho các linh mục trước bàn thờ Mẹ. Bất cứ công việc nào của tu sĩ cũng bắt đầu bằng kinh Ave Maria và kết thúc bằng kinh Trông Cậy. Việc lần hạt Mân Côi hằng ngày cũng là một việc đạo đức của cộng đồng Xuân Bích trong các chủng viện.

8. Một Ít Tu Hội Khác Tôn Sùng Mẹ

a) Một trong những Dòng rất nỗi tiếng nữa về lòng kính mến Mẹ là dòng Pơ-rê-mong-trê (Prémontrés) mà chúng ta ít biết đến. Dòng do thánh Nô-bê-tô (Noberto) lập vào khoảng thế kỷ XII, cũng được Đức Mẹ đích thân hiện xuống trao cho kiểu áo dòng.

Trong tổ chức, dòng cũng có những tên có ý nghĩa về Mẹ mà đặt tên cho các tu viện như Rừng Mẹ, Vườn Mẹ... Con chấm của tu viện bao giờ cũng khắc hình Mẹ Thiên Chúa, khác với dòng Bê-nê-đíc-tô chỉ khắc một hình Đức Mẹ, đặc điểm của dòng là bao giờ cổng tu viện cũng có một tượng Đức Mẹ.

Trong việc sùng kính, dòng Pơ-rê-mong-trê có lệ dâng hai phần ba số ngày trong năm để đọc thêm kinh nhật tụng Đức Mẹ, không kể nhật tụng giáo luật. Ai không đọc thì mắc tội trọng, những người không thể đọc ở ca đài phải đọc riêng, nếu không sẽ mắc tội nhẹ. Ngày nào cũng chấm dứt bằng kinh cầu Đức Bà đọc chung.

b) Dòng Tên của thánh I-nha-xi-ô cũng là công trình đặc biệt của Mẹ. Các sử gia của dòng đều công nhận rằng chính Đức Mẹ đã đọc hiến pháp dòng và cuốn Tập Dụng Thần Công cho thánh I-nha-xi-ô viết trong hang Ma-rê-sa. Nhưng lòng tôn sùng Mẹ của dòng Tên lại có tính cách sâu chìm. Người ta có trách là lòng sùng kính ấy quá thiên về lý trí và ý chí mà bỏ quên phần tình cảm. Nhưng xét kỹ lịch sử của dòng, ta cũng thấy dòng Tên rất có công trong việc truyền bá những cách sùng kính Mẹ một cách có phương pháp, có qui mô và nền tảng vững vàng. Lòng sùng kính ấy một khi đã ăn nhập vào đời sống Công Giáo thì khó lòng phai nhạt được. Nhất là việc truyền bá bằng sách báo thì dòng đã chiếm công đầu. Học thuyết sâu xa và cách trình bày dễ hiểu và hấp dẫn, đó là đặc tính truyền bá của dòng Tên.

Dòng rất có công trong việc truyền bá kinh Mân Côi. Và những hội áo Đức Mẹ cũng là một hoạt động Thánh Mẫu của dòng. Cuốn sách đầu tiên cổ động việc dâng kính Mẹ cả tháng năm là của một cha dòng Tên, cha Na-da-si.

Dòng Tên cũng rất hâm mộ việc hành hương kính viếng các đền thờ Đức Mẹ. Các tập sinh của dòng có luật buộc phải đi bộ đến viếng một đền thờ Đức Mẹ nào bất cứ, ít hay nhiều lần trong vòng một tháng. Dòng rất tôn trọng nhà Đức Mẹ ở Lô-rê-tô, mặc dầu có nhiều người không nhận đó đúng là nhà Mẹ ở Na-da-rét. Tu sĩ dòng Tên chỉ biết đến đó với mục đích kính thờ Mầu Nhiệm Nhập Thể. Dòng đã dựng nhiều Sancta Casa ấy ở khắp nơi có vết chân tu sĩ dòng, y như các thừa sai Pháp lập hang Lộ Đức vậy.

c) Dòng Sư Huynh Thiện Giáo cũng có một tập tục sùng kính Đức Mẹ rất xa xưa. Một nét độc đáo của dòng trong lòng kính Đức Mẹ là tục đọc chuỗi sáu chục kinh Kính Mừng, và luật buộc phải lần hạt Măn Côi khi đi đường. Bất cứ một lễ trọng nào về Mẹ cũng được mừng long trọng, có tuần cửu nhật chuẩn bị và một ngày chay lòng. Trong năm tập thứ hai (dòng có luật tập hai năm cũng như dòng Tên tập ba năm), các tập sinh phải làm những bài luận nghiên cứu hoặc suy niệm cũng buộc phải đọc kinh Nhật Tụng Đức Mẹ.

Dòng chuyên về giáo dục, nên đã đặt Mẹ làm thánh sư của dòng và truyền cho các tu sĩ phải cố in sâu lòng sùng kính Mẹ vào tâm hồn trẻ em. Một điều kiện để trẻ em được nhận vào trường của dòng là phải có một tràng hạt. Các tu sĩ cũng theo lệ mà tổ chức chuỗi Mân Côi sống trong học sinh của mình. Trong cuốn Conduite des Ecoles (Việc chỉ huy trường học) của dòng, ra lệ mỗi trường phải có một bàn thờ dâng kính Mẹ, và suốt trong năm học - trừ giờ kinh lễ và giờ học bổn - mỗi giờ phải có hai hay ba học sinh quì lần hạt trước bàn thờ ấy. Nhưng lệ này ngày nay đã bỏ, thay vào đó, các lớp phải đọc chung mười kinh Kính Mừng trước khi tan học buổi sáng.

Các tu sĩ La-san được phép tham gia hết các hội đoàn Thánh Mẫu: hội Áo Đức Bà , hội Mân Côi, hội Mẹ Vô Nhiễm, hội Đức Mẹ Thắng Trận... Dòng cũng được mừng riêng các lễ Đức Mẹ Thiện Dụ, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp và Đức Mẹ Bảo Trợ.

d) Lòng sùng kính Đức Mẹ cũng tươi nở trong dòng Chúa Cứu Thế. Thánh An-phong-sô, theo các sử gia của dòng, đã được Đức Mẹ hiện ra nhiều lần tại hang Sơ-ca-la (Scala) để bảo ban nhiều điều khi thánh nhân lập dòng. Thánh nhân đã truyền hẳn cho các tu sĩ dòng ngài phải đặc biệt tôn sùng Đức Mẹ. Thánh nhân nhận Đức Mẹ Vô Nhiễm làm thánh sư của dòng. Dòng được một vật rất quí là mẫu ảnh Đức Mẹ tương truyền do thánh Lu-ca vẽ, do đó, phát động phong trào sùng kính Đức Mẹ dưới tước hiệu Mẹ Hằng Cứu Giúp và mẫu ảnh kia là tượng trưng. Cuộc đời tu sĩ dòng Chúa Cứu Thế phải nhuần thấm hương thơm lòng sùng kính Mẹ. Trước khi đi ngủ và vừa khi thức dậy, tu sĩ phải sấp mặt xuống đất đọc ba kinh Kính Mừng. Mỗi lần nghe tiếng chuông đồng hồ tu viện gõ, tu sĩ phải cầm trí đọc một Ave Maria. Mỗi ngày trong bữa cơm chiều, tu hội có lệnh đọc sánh Thánh Mẫu Phương Danh kim thư của thánh An-phong-sô. Các việc chính của tu sĩ đều kết thúc bằng kinh Salve Regina. Kinh Salve Regina cuối ngày hát trong khi bề trên rẩy nước thánh.

Dòng rất có công việc truyền bá lòng tôn sùng Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Hội Ba Kinh Kính Mừng và kinh Mân Côi cũng là mối ân cần hoạt động của dòng. Các cha dòng Chúa Cứu Thế rất thành công trong việc dùng ngòi bút để truyền bá lòng tôn sùng Mẹ.

e) Nếu dòng Thánh Đa-minh có Đức Mẹ Mân Côi, dòng Chúa Cứu Thế có Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, thì dòng Sa-lê-diêng của thánh Đông Bốt-cô có Đức Mẹ Phù Hộ. Thánh Đông Bốt-cô đã tôn sùng Đức Mẹ dưới tước hiệu này cách riêng và truyền lại cho con cái mình như một gia sản quí báu.

Để cho lòng sùng kính này có một nền tảng vững vàng, thánh Đông Bốt-cô đã muốn và lập cho nó một cơ bản thần học. Thánh nhân đã viết về cơ bản đó trong sáu số báo Lectruces Catholiques từ năm 1853. Thánh nhân nại đến chứng lý trong Cựu và Tân Ước cùng lịch sử để chứng minh cho vấn đề mình nêu lên.

Ngoài ra thánh nhân cũng nêu rõ tính cách tu đức của việc tôn sùng Đức Mẹ Phù Hộ qua các quan điểm: tín lý, tông tòa, Chúa Ki-tô là trọng tâm, có tính cách toàn vẹn, tính cách thế mạt, tính cách giáo huấn và tính cách tông đồ. Do đó, thánh nhân đã có lý để truyền cho các con cái mình mệnh lệnh sau: “Hãy rao giảng lòng sùng kính Đức Mẹ Phù Hộ.’’

Thừa hưởng di sản ấy, các nam nữ tu sĩ Sa-lê-diêng đã nỗ lực phổ biến lòng tôn sùng Mẹ Phù Hộ Giáo Nhân. Trong dòng các tu sĩ chẳng làm việc gì khác biệt để tỏ lòng tôn kính Mẹ ngoài những việc quen thi hành trong Giáo Hội: lần chuỗi kính bảy niềm vui của Mẹ, kinh Truyền Tin, hiến dâng ngày thứ bảy v.v... Thánh Đông Bốt-cô cho rằng như vậy là cốt tỏ lòng thần phục Giáo Hội và Đức Giáo Hoàng. Tuy nhiên, dòng cũng có lệ chuẩn bị mừng các lễ Mẹ trọng thể với những tuần tam nhật hoặc cửu nhật, ca vãn, trang trí bàn thờ và trưng ảnh Mẹ... nhất là luôn tỏ ra một niềm vui tươi hoan hỉ.”

Kim Diêu

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)