dongcong.net
 
 


PHÚC ÂM THEO THÁNH MÁT-THÊU

Xem:
- Tân Ước

So với thánh Lu-ca, thánh Mát-thêu đã viết về Đức Ma-ri-a không nhiều. Ngài chỉ ghi lại sự kiện liên hệ đến Mẹ trong những biến cố thời thơ ấu của Chúa Giê-su, nhưng tuyệt nhiên không đề cập gì về kinh nghiệm nội tâm của Mẹ. Trong Phúc Âm Máát-thêu, chúng ta không tìm được một lời nào của Đức Ma-ri-a, không biết thái độ phản ứng và lời kinh của Mẹ trong biến cố Sứ Thần truyền tin Ngôi Lời Nhập Thể. Đức Ma-ri-a thực sự hiện diện trong Phúc Âm Mát-thêu, nhưng kín đáo nhạt nhòa.

Mặc dù ít, nhưng qua những lần Phúc Âm Mát-thêu đề cập đến sự hiện diện của Đức Ma-ri-a, ta vẫn thấy được đằng sau một cụm từ được lập đi lập lại “Con Trẻ và Mẹ Ngài” (2:11,13,20,21) một mầu nhiệm thâm sâu. Ngài không nói về một quan hệ thân thuộc, nhưng về một cộng đồng định phận (community of destiny). Để hiểu được đầy đủ ý nghĩa về “Thánh Mẫu học” hạn chế hàm ẩn trong Phúc Âm Mát-thêu, chúng ta hãy đối chiếu với Phúc Âm Lu-ca và nên lưu ý đến hình thức văn chương đặc thù cũng như ý tưởng thần học căn bản của thánh Mát-thêu.

1. Những Điểm Tương Đồng và Tương Phản

Đối chiếu sơ qua giữa trình thuật Thời Thơ Ấu của Chúa Giê-su trong Phúc Âm Mát-thêu và Phúc Âm Lu-ca, ta thấy có những khác biệt về không gian và về hình thức ngôn từ. Vì viết cho cộng đồng gốc Do Thái, nên thánh Mát-thêu đã trình bày Hài Nhi Giê-su bằng một hình thức ngôn ngữ rất quen thuộc với người Do Thái thời ấy là hình thức “midrash.” Đó là một thể loại thuật sự được Thánh Kinh dùng để trình bày một hoàn cảnh hiện tại. Do đó, Phúc Âm thánh Mát-thêu có rất nhiều điểm tương đồng với trình thuật Thời Thơ Âëu của Môi-sen. Việc lựa chọn hình thức ngôn ngữ cũng như những phân đoạn phù hợp với mục đích tổng quát của thánh Mát-thêu là trình bày Chúa Giê-su thành Na-da-rét thực sự là Đấng Mê-si-a, là “con vua Đavít” (1:1,16) và là “Con Thiên Chúa Hằng Sống” (16:16; 27:54).

So với các chương đầu trong Phúc Âm thánh Lu-ca, các chương 1 và 2 trong Phúc Âm thánh Mát-thêu cung cấp dữ liệu không phong phú lắm, và các thuật sự có tính cách sắp đặt (schematic). Trong khi thánh Lu-ca trình bày vai trò Thánh Giu-se tương đối ẩn khuất để làm nổi bật vai trò của Đức Ma-ri-a, thì thánh Mát-thêu xem ra ngược lại. Ngài quan sát và trình bày thời thơ ấu của Chúa Giê-su trong tương quan với địa vị của Thánh Giu-se. Chính Thánh Giu-se được mời gọi và được các thị kiến trời cao hướng dẫn. Chính Ngài đặt tên và đem “Hài Nhi và Mẹ Người” đến nơi Ngài đã được truyền.

Sự khác biệt quan điểm ở đây không có gì đáng ngạc nhiên nếu chúng ta xét đến đối tượng được Phúc Âm Mát-thêu nhắm đến. Ngài viết cho một cộng đồng mà sự kiện Đấng Mê-si-a có tổ phụ là vua Đa-vít mang một tầm quan trọng số một. Ngài muốn trình bày việc Chúa Giê-su thuộc về dòng tộc Đa-vít bằng một sự kiện thực tế, tức là việc Chúa được Thánh Giu-se thuộc dòng dõi Đa-vít tiếp đón và lãnh nhận. Như thế, Thánh Giu-se không phải là một nhân vật bù nhìn. Chính nhờ Thánh Giu-se mà Chúa Giê-su mới có được một chỗ đứng hoàn toàn hợp pháp trong lịch sử và truyền thống dân tộc Do Thái. Và Thánh Giu-se, “Người Công Chính” đã phục vụ Chúa Hài Nhi và Mẹ Người theo ơn soi động từ mặc khải Ngài đã tiếp nhận.

Trong khi lưu ý đến những khác biệt giữa Phúc Âm Mát-thêu và Phúc Âm Lu-ca, ắt hẳn chúng ta phải kinh ngạc trước sự tương đồng về sự kiện căn bản, tức là việc Chúa Giê-su được đầu thai trinh khiết, dấu chỉ nói lên nguồn gốc thần linh của Người cũng như việc Người được sáp nhập vào dân tộc tuyển chọn (Do Thái). Đằng sau lối viết khác biệt về mặt thần học, chúng ta có thể nhận thấy rất nhiều chủ điểm tương đồng trong các trình thuật của hai Phúc Âm giúp soi sáng lẫn nhau. Những tương đồng chính yếu là:

a) Tầm quan trọng của thông tin mặc khải giúp hiểu ra các biến cố và phương hướng hành động (trong Phúc Âm Mát-thêu là các giấc mơ; trong Lu-ca là những lần hiện ra).

b) Tính phổ quát của sứ mạng Chúa Giê-su (trong Mát-thêu là việc ba Đạo Sĩ đến cung bái; hoạt động kiến tạo của Chúa Giê-su tại Ga-li-lê, xem Mt 4:18; trong Lu-ca là lời cầu nguyện của cụ già Si-mê-on).

c) Các hình ảnh tiên báo cuộc tử nạn (trong Mát-thêu, chạy trốn sang Ai Cập và việc Hê-rô-đê tàn sát các Anh Hài tại Bê-lem; trong Lu-ca, lời tiên tri về “lưỡi gươm” và việc Chúa Giê-su lên Giê-ru-sa-lem vào dịp lễ Vượt Qua).

d) Việc hoàn thành các lời Thánh Kinh. Về mặt sự kiện, hai Phúc Âm đưa ra những cách nhìn khác biệt nhưng lại bổ túc lẫn nhau để làm sáng tỏ mầu nhiệm Chúa Giê-su, mầu nhiệm đã được trình bày một cách biểu trưng qua các biến cố thời thơ ấu của Người.

2. Tính Liên Tục và Gián Đoạn

Thần Học Phúc Âm Mát-thêu: Chương 1 và 2

Phúc Âm thánh Mát-thêu bắt đầu bằng một câu trang trọng mang nhiều ý nghĩa với người Do Thái: “Gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con Đa-vít, con Áp-ra-ham’’ (1:1). “Gia phả...’’ nói một cách tiềm ẩn, không cường điệu về dòng tộc của Chúa Giê-su, đứng đầu là một tổ phụ (St 5:1). Qua cụm từ “con Áp-ra-ham...,’’ thánh Mát-thêu cho thấy ngay chủ ý của ngài là hướng về lịch sử một dân tộc, lịch sử một tuyển chọn và một giao ước, trong đó Thiên Chúa là phía chủ động. Điểm trung tâm, đồng thời là điểm tột cao của lịch sử ấy là Đức Ki-tô, con vua Đa-vít...,’’ đó là Chúa Giê-su, Đấng Mê-si-a đã được hứa và được trông đợi, Đấng sẽ làm cho lịch sử ấy được nên viên mãn.

Như thế, thánh Mát-thêu đã giới thiệu với chúng ta những khía cạnh sâu xa nhất của mầu nhiệm Chúa Giê-su. Ngài trình bày Chúa Giê-su trước tiên theo những cội nguồn lịch sử được chuẩn bị qua quá trình trưởng thành tiệm tiến của các thế hệ đi trước, và thâu tóm trong Người lịch sử của dân tộc được kén chọn (cũng cư ngụ tại Ai cập và “xuất hành’’ tương tự như Môi-sen). Chính trong Người mà lịch sử bắt đầu từ Áp-ra-ham mới có được ý nghĩa chính yếu và sự toàn thành của nó. Thánh Mát-thêu còn cho chúng ta thấy một chiều kích nữa nơi Chúa Giê-su: đó là nguồn gốc thần linh và sự siêu việt của Người. Chúa Giê-su đến từ một nơi khác. Không ai sinh ra Người, nhưng Người lại được sinh ra (1:16) không nhờ ai khác ngoài Chúa Thánh Thần (1:20). Người là Đấng được ưu tuyển và được thánh hiến để mang lại một ý nghĩa mới và quyết định cho lịch sử Ít-ra-en, “bởi vì Người sẽ cứu dân Người khỏi tội’’ (1:21).

Cũng với dấu chỉ ấy, thánh Mát-thêu còn đưa ra một lối đọc lại (rereading) Thánh Kinh theo yêu sách của một biện chứng: tính liên tục và gián đoạn. Chúng ta biết tầm mức quan trọng người Do Thái, độc giả của Phúc Âm thánh Mát-thêu dành cho Thánh Kinh. Cho nên không có gì lạ khi ngài thường xuyên trưng dẫn Thánh Kinh để minh chứng Chúa Giê-su là chính Đấng mà Thánh Kinh đã tuyên báo, và cũng chính nơi Người, Thánh Kinh sẽ được nên trọn. Cụ thể hơn nữa, trong toàn bộ năm phần trong Phúc Âm của mình, phần nào cũng được thánh Mát-thêu xây dựng quanh một đoạn trích Thánh Kinh. Đôi khi lời Thánh Kinh còn được đan kết trong bản văn của ngài (1:23; 2:6); và có khi, lời trích được dùng để kết thúc trình thuật (2:15,18,23).

Quả thật trong quá trình viết Phúc Âm, thánh Mát-thêu có thể trình bày bản văn hoặc theo một bố cục riêng hoặc muốn gửi gắm vào đó những ý nghĩa mà chúng ta không ngờ. Nhưng chính bố cục này nói lên mục đích của ngài. Theo ngài, chúng ta phải đọc lại Thánh Kinh trong ánh sáng của Chúa Giê-su. Vì chính Chúa Giê-su là tiêu chuẩn để giải thích Thánh Kinh, và chỉ trong Chúa Giê-su, Thánh Kinh mới có một ý nghĩa mới mẻ, một ý nghĩa toàn thể: “Các ngươi đã nghe giới luật... Còn Ta, Ta bảo các ngươi...’’ (5:21-22,27-28,31-32,33-34,38-39,43-44).

3. Tính Liên Tục và Gián Đoạn

Cách Tiếp Cận Mầu Nhiệm Đức Ma-ri-a

Hình ảnh Đức Ma-ri-a được phác họa nổi bật trên hậu cảnh cực kỳ phong phú và gợi cảm theo những chiều hướng của phối cảnh “liên tục và gián đoạn.’’

Một mặt, Đức Ma-ri-a xuất hiện trong sự liên tục với dân tộc được kén chọn:

- Với chuỗi dài danh tính những nhân vật trung gian (1:1-17) chuẩn bị cho Chúa Giê-su đến;

- Với những phụ nữ nổi bật trong lịch sử Ít-ra-en nhờ sự can thiệp tự do và nhưng không Thiên Chúa dành cho họ, vượt mọi trông đợi và mọi biên giới (như các bà Tha-ma, Ra-háp, Rút, và bà vợ của U-ri-a);

- Vì lời tiên báo về Đấng Em-ma-nu-en (Is 7:14; Mt 1:23), lời tiên báo nói lên tất cả niềm hy vọng của Ít-ra-en về Đấng Mê-si-a đã được nên trọn nơi Mẹ trong thực tế lịch sử;

- Trong sự liên tục với kinh nghiệm của dân tộc Ít-ra-en, kinh nghiệm đã được Mẹ tiếp tục sống trong sự gắn bó mật thiết với số phận của Con Mẹ (lánh nạn ở Ai Cập rồi “xuất hành’’);

- Trong sự liên tục, hay đúng hơn, trong sự thông hiệp với tất cả những người một ngày kia sẽ hợp thành gia đình thật sự của Chúa Giê-su, bao gồm“những ai làm theo thánh ý của Cha trên trời...’’ (12:50).

Nhưng thánh Mát-thêu cũng nhấn mạnh như thế về điểm gẫy triệt để (radical break) nơi Đức Ma-ri-a bằng việc liên kết sự hiệp thông của Mẹ vào mầu nhiệm Chúa Ki-tô với tặng ân của Thiên Chúa và Chúa Thánh Thần. Thí dụ trong bảng gia phả với thế chủ động nhân loại được làm nổi bật, khi đến Đức Ma-ri-a, thánh Mát-thêu đã viết: “Đức Ma-ri-a, bởi Người mà Đức Giê-su, gọi là Ki-tô, đã sinh ra’’ (1:16). Bằng cách dùng thể thụ động, “bởi Người mà Đức Giê-su đã sinh ra,’’ thánh Mát-thêu giới thiệu với chúng ta chủ điểm cốt lõi của mầu nhiệm: Chúa Giê-su là hoa trái tặng ân Thiên Chúa, do sáng kiến của Thiên Chúa. Người là hoa trái của Chúa Thánh Thần (1:18,20). Nhưng cách dùng từ ấy cũng phù hợp với Đức Ma-ri-a. Vai trò của Mẹ trong việc làm cho mầu nhiệm Nhập Thể thành một thực tại là một mầu nhiệm ân sủng rất đặc biệt, một thành quả của tình yêu nhưng không của Thiên Chúa và sự hiệp nhất trong hành động của Chúa Thánh Thần. Hơn ai hết, Đức Ma-ri-a có thể nói: “Hiện tôi có là gì là bởi ơn Chúa. Và ơn Người xuống cho tôi đã không hư luống’’ (1Cr 15:10).

Sau cùng, mặc dù đề cao vai trò của Thánh Giu-se, nhưng theo Phúc Âm Máát-thêu, rõ ràng là Thánh Giu-se đang phục vụ một mầu nhiệm lớn lao: “Hài Nhi và Mẹ Ngài.’’ Chắc chắn, sứ mạng Thánh Giu-se liên can trước hết đến sứ mạng của Chúa Giê-su nhưng cũng hàm chứa sự chấp nhận ơn gọi cá biệt và sự liên kết đặc biệt của Đức Ma-ri-a với số mệnh của Chúa Giê-su. Thánh Giu-se đã hòa mình vào mầu nhiệm đang diễn ra nơi Đức Ma-ri-a: “Đừng sợ nhận Ma-ri-a làm bạn mình’’ (1:20).

Có lẽ nếu xét đến ý nghĩa sự việc Đức Ma-ri-a liên kết đặc biệt với số mệnh của Chúa Giê-su, chúng ta sẽ hiểu được lời nhận xét kỳ lạ của thánh Mát-thêu khi ghi lại việc ba Đạo Sĩ đến thờ lạy Chúa: “Họ gặp thấy Con Trẻ cùng Ma-ri-a Mẹ Ngài’’ (2:11), và càng kỳ lạ hơn khi thánh sử không đề cập gì đến sự hiện diện của Thánh Giu-se. Phải chăng còn một ý nghĩa vào đó chưa được trình bày ở đây? Phải chăng là vì thánh sử có một trực cảm siêu nhiên (theological intuition) nào đó trước hiệu quả sự việc Đức Ma-ri-a bồng Hài Nhi cho các đạo sĩ, đại diện cho mọi người tìm kiếm và tiếp nhận Người trong đức tin, chiêm ngắm và thờ kính? Đây không phải là điều vô lý, vì một trực cảm tương tự đã tạo hứng khởi cho nhiều hoạ phẩm “Mẹ và Chúa Con.” Tuy nhiên, giải thích như thế xem ra có vẻ như tìm hiểu ý nghĩa của mầu nhiệm trong trình thuật hơn là tìm hiểu ý nghĩa trình thuật theo sát nguyên tắc của khoa chú giải Thánh Kinh.

J.P. Pơ-rê-vô

 

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)