dongcong.net
 
 


THÁNH ĐỊA VÀ ĐỨC MA-RI-A

1. Thánh Địa

Thánh Địa không cởi mở tự tiết lộ về mình. Các du khách thường chỉ gặp được ở đó âm vang từ những suy tư riêng mình và những gì họ mang đến. Vì thế phải biết cách mới hiểu được miền đất này.

a) Với những gì không còn gặp được ở Thánh Địa. Chỉ một thế hệ trước đây, du khách vẫn có thể gặp được ở Pa-lét-tin một xã hội đông phương thời Trung Cổ vừa ra khỏi thời Cổ Đại. Nào là cảnh người nông phu (fellah) làm việc trên cánh đồng với chiếc cày gỗ, và ách của những con bò gợi lại hình ảnh các giáo trưởng và các dụ ngôn. Nào là cảnh đoàn người du mục với áo choàng, khăn trùm đầu đang chăn dắt đoàn vật. Nào là hình ảnh một phụ nữ trùm khăn ẵm con nhỏ gợi nhớ hình ảnh Đức Trinh Nữ Ma-ri-a. Tất cả đều mang một phong cách trầm mặc qua dáng vẻ và sinh hoạt, đó là những cảnh khách hành hương mong muốn được thấy.

Ngày nay, du khách phải mất nhiều thì giờ đi giữa thành phố, giữa những người ăn vận và làm việc theo cung cách hiện đại. Du khách không sao có đủ thì giờ để tìm hiểu kỹ những người ấy được, mà họ cũng chẳng để lại ấn tượng sâu sắc bao nhiêu.

b) Với những điều phải nỗ lực mới tìm thấy. Những cảnh xưa vẫn còn có thể gặp được nhưng phải lưu tâm tìm kiếm. Nhiều nhất là trên những con đường mòn chạy dọc theo miền núi ở Giu-đê-a, Sa-ma-ri-a và Ga-li-lê. Những giờ phút lãm du trên những con đường ấy rất quan trọng đối với một chuyến hành hương. Nếu bạn cố gắng thì sẽ không uổng công đâu.

Dọc đường, du khách nên giữ miệng lưỡi để khỏi bại lộ thân phận. Lúc này không phải là giờ để hát thánh ca hay lần hạt Mân Côi. Được một dịp may đến kính viếng miền đất quê Mẹ, chúng ta đừng kêu rêu hay than thở với Mẹ về những khó nhọc làm gì. Điều đó ta có thể làm ở nhà, không cần phải đi đâu. Đến đây, chúng ta thưởng lãm những cảnh quan gợi nhớ về Mẹ và cuộc sống của Mẹ, tích lũy “chất liệu’’ cho lời cầu nguyện sau này của ta.

Cứ giữ yên lặng bình tâm như người thợ săn tìm mồi, đó là kỷ luật và tự nó là một hình thức cầu nguyện rồi vậy.

c) Điều nên nhớ. Nhiều điều đã đổi thay, nhưng những con người miền quê thì vẫn thế. Những cảnh quang rộng lớn đòi ta phải lưu ý hơn những chi tiết. Chúng ta có thể liên kết những biến cố lịch sử cứu độ với những cảnh quang ấy.

Đối với Đức Ma-ri-a, chúng ta hãy tự nhắc cho mình rằng Nữ Tử Si-on là hiện thân cho những giá trị tinh thần cao quí nhất của dân tộc Chúa, chẳng hạn như cuộc sống thánh hiến thánh thiện mà Thánh Kinh kêu mời, đức tín trung, đức vâng phục khiêm hạ như người tôi tớ, đức ái viếng thăm. Chưa hết, Đức Ma-ri-a còn ghi nhớ tất cả lịch sử của dân tộc mình và kể lại cho Chúa Giê-su, có khi tại chính nơi diễn ra của các biến cố ấy.

Du lãm Thánh Địa - bằng nhiều cách - là một cuộc hành trình trở về Cựu Ước. Kinh nghiệm ấy tất cả đều có thể được áp dụng để tăng gia lòng sùng kính Đức Mẹ của chúng ta.

2. Những Địa Điểm Thánh Kinh và Đức Ma-ri-a

a) A-in Ka-rim, hay En Ke-rem (Ain Karim, En Kerem)

“Dòng Suối Nho’’ là một địa điểm vẫn còn giữ được cảnh quang sống động của miền Cận Đông cổ xưa, với cảnh nghèo đơn sơ cam phận. Từ sườn đồi hoặc từ những tòa nhà hiện đại khắp thị trấn nhìn xuống, ta sẽ nhận thấy điều ấy.

Tuy không thành vấn đề, nhưng có người chắc sẽ thắc mắc về lịch sử những chuyến hành hương tôn kính thánh Gio-an Tẩy Giả, phải chăng đã bắt đầu từ thế kỷ VI. Với những du khách thanh thản có thể tự xếp đặt chương trình, A-in Ka-rim có lẽ là nơi đáng lưu lại lâu lâu một chút, đặc biệt để đọc và suy niệm Phúc Âm thời Thơ Ấu và những mối phúc thật cho người nghèo.

Ở đây chỉ có thánh đường Thăm Viếng và thánh đường Sinh Nhật thánh Gio-an Tẩy Giả là đủ rộng có thể dung nạp các đoàn hành hương, và cũng khá đẹp, tuy không lộng lẫy kiêu sa. Nhà thờ Thăm Viếng, nơi được du khách hành hương Thánh Mẫu quan tâm, có một khuôn viên yên tĩnh rất thuận lợi để suy niệm Phúc Âm Lu-ca 1:39-56.

Thị trấn A-in Ka-rim với những ngôi nhà xây theo kiểu Lơ-van-tin (Levantine) cổ xưa có những cư dân Do Thái chất phác sinh sống. Họ chăm sóc vườn tược hoặc lên Giê-ru-sa-lem làm việc. Xuôi về phía trũng hơn của thị trấn có tu viện các Nữ Tu Si-on. Đó là một tòa nhà bằng đá cổ xưa rất mát so với khí hậu bên ngoài. Khung cảnh ở đây rất đẹp, giữa bầu không khí an bình, hiền dịu.

b) Ngụy Thư và Các Đền Thánh tại Thánh Địa

Nhiều thánh đường được kiến thiết đúng tại các vị trí mà Ngụy Thư hay các tác phẩm khác đã đề cập đến. Các tác phẩm chính yếu là:

. Tiền Phúc Âm Gia-cô-bê: trong trường hợp nhà thờ Sinh Nhật Đức Mẹ tại Giê-ru-sa-lem và nhà thờ Truyền Tin tại Na-da-rét;

. Toàn tập truyện Đức Mẹ Ly Trần: trong trường hợp nhà thờ Đức Mẹ Ly Trần và Mộ Đức Mẹ tại Giê-ru-sa-lem.

Những tác phẩm trên có nguồn gốc từ Pa-lét-tin có lẽ từ thế kỷ II hoặc trong thời kỳ cấm đạo. Ngoài những phần suy niệm sâu sắc còn xen lẫn những phần thêu dệt rất trẻ con, vô giá trị. Tuy vậy, không có gì phải ngạc nhiên. Những tác phẩm loại này là biểu hiện một thứ Ki-tô giáo của những người phải sống kín kín hở hở với tâm tính hiếu động (ebulient) muốn thoát khỏi những ràng buộc văn hoá. Đó là những truyện kể truyền kỳ (legendary) rất đa dạng về phương diện phẩm chất.

Một số người Tin Lành và Công Giáo tin “đét nguyên xi” lời Tân Ước nên chê bỏ các Ngụy Thư. Tuy nhiên, hãy nhớ kỹ lời thánh Phao-lô đã nói: “Văn tự thì giết chết, còn Thánh Thần thì ban sự sống.” Người ta không buộc phải chê toàn bộ nội dung một quyển sách đơn giản chỉ vì nó không có trong Sổ Bộ Thánh Kinh và không được linh hứng toàn bộ.

Những tác phẩm Ngụy Thư cho ta những hồi cảnh (scene) để chiêm ngưỡng các đặc ân thiêng liêng của Đức Ma-ri-a và những biểu hiện của các đặc ân ấy. Các Giáo Hội Đông và Tây Phương từ xa xưa đã chấp nhận những hồi cảnh ấy. Ít nhất trong phạm vi này, có thể an tâm giới thiệu cho các tín hữu tìm đọc các Ngụy Thư. Nhưng đừng qui một giá trị lịch sử nào cho các tình tiết trong đó - một số tả địa hình địa cảnh, một số mang tính thơ mộng hay huyền thoại - đó là những khuyết điểm của các Ngụy Thư.

c) Bê-lem và Những Vùng Phụ Cận

Ngày nay Bê-lem thuộc về ngoại ô thành phố Giê-ru-sa-lem Lớn, với khoảng mười lăm vạn cư dân hầu hết làm việc tại thành phố. Đó là một nơi tàn tạ, không có gì hấp dẫn.

Vương cung thánh đường. Đây là ngôi thánh đường duy nhất ở Pa-lét-tin còn giữ được kiến trúc nguyên thủy với những chiếc cột từ thời vua Công-tan-ti-nô (325) và đỉnh vòm ba nhánh (trilobate apse) từ thời vua Dút-ti-a-nô (540). Ca đài vẫn ở trên Hang Đá như giáo phụ Ô-ri-gê-nê ngay từ thế kỷ III đã nói đến. Nhiều chi tiết bài trí giúp ta dễ dàng nhận ra nguồn gốc đã có từ thời Thập Tự Chiến.

Hang Đá được bày trí không thích hợp lắm chỉ tiện cho việc cầu nguyện tư. Muốn cử hành thánh lễ, phải đăng ký để được sắp xếp vì không thể tự chọn thời giờ. Nhưng không biết những người hành hương có thỏa lòng đạt được tất cả những gì họ đã phải vất vả ở đây hay không.

Muốn yên tĩnh đọc sách và suy niệm (Phúc Âm Lu-ca 2:1-7 và 15-20), nên đến tu viện dòng Phan-xi-cô sát bên vương cung thánh đường là nơi tĩnh tâm tuyệt hảo. Những gian hầm nơi thánh Giê-rô-ni-mô đã sống trong thời gian dịch Thánh Kinh cũng là những chỗ tiện lợi để dâng thánh lễ cho từng nhóm.

- Đồn Hê-rô-đi-ôn (Mt 2:1-18). Đến thăm đồn Hê-rô-đi-ôn nằm cách Bê-lem hơn hai mươi cây số trước hết là một dịp cho bạn nếm thử mùi hoang mạc thực sự. Đó là một lâu đài/đồn binh được Hê-rô-đê đại đế kiến thiết để làm mộ phần cho mình. Những cuộc khai quật cho biết rất nhiều chi tiết về vị vua năng nổ có tài nhưng tàn bạo ác tâm này.

- Mộ bà Ra-ken (Mt 2:17-18). Đi từ Giê-ru-sa-lem, người ta nhất định phải qua địa điểm cổ xưa liên hệ đến Thánh Kinh này, ngày nay do người Do Thái kiểm soát (Ga 35:19). Ngôi mộ nằm ở ngã ba đường đi Hép-rôn và Bê-lem. Chắc chắn thánh Mát-thêu đã nghĩ đến ngôi mộ này khi trích dẫn lời tiên tri Giê-rê-mi-a 31:15 liên hệ đến vụ thảm sát các thánh Anh Hài.

Địa điểm này chẳng có gì nhiều để xem, nhưng xét ra cũng đáng tham quan trong chuyến hành hương Thánh Địa.

- Cách đồng Mục Tử. Trong thời kỳ Ki-tô giáo khai nguyên, những cuộc cung nghinh bắt đầu tụ họp ở đây trước khi tiến về vương cung thánh đường. Địa điểm này được chọn vì là một khu đất công ở giữa những thửa đất trồng trọt (tên Bê-lem nghĩa là “Nhà Bánh” có lẽ từ đó mà ra) và miền hoang mạc, nơi cư ngụ của những nhóm sắc tộc trong miền. Chúng ta không nên bỏ qua việc xem xét các khác biệt về mặt tự nhiên này.

Ngoài Phúc Âm thánh Lu-ca, tại đây người ta cũng có thể đọc những câu chuyện về chàng thanh niên Đa-vít (1Sm 16:17), lời tiên báo của sứ ngôn Mi-kê-a về ngày phục hưng Ít-ra-en qua việc trở về cùng Thiên Chúa của tổ tiên họ (Mt 5:1-14), và Thánh Vịnh 23 đầy hoan lạc.

Cánh đồng Mục Tử là nơi thuận tiện để suy niệm về con người vua Đa-vít dưới cái nhìn của tinh thần Thánh Mẫu (x. 1.Thánh Địa). Tốt nhất nên có một quyển Thánh Kinh chú giải thật khoa học để tìm đọc những Thánh Vịnh liên hệ đến vua Đa-vít. Những chi tiết ấy hợp với những giai đoạn chính của cuộc đời năng động nhưng luôn trung thành và kiên định trong niềm tin của vị thánh vương.

d) Đức Ma-ri-a chào đời và dâng mình trong Đền Thờ

Theo Tiền Phúc Âm Gia-cô-bê (Ngụy Thư), Đức Trinh Nữ Ma-ri-a là con của ông bà Gio-a-kim và An-na ở vùng Hồ Chiên gần đền thờ Giê-ru-sa-lem (x. Ga 2:2). Những điểm này chắc chỉ là truyền thuyết nhưng lại nói lên một ý nghĩa sâu xa: Nữ Tử Si-on có liên hệ gần gũi với Đền Thờ.

Ngoài ra, Tiền Phúc Âm còn cho biết Đức Ma-ri-a được dâng vào Đền Thờ lúc mười hai tuổi để sống mai ẩn, học lề luật và bắt đầu phụng sự Thiên Chúa bằng việc dệt vải thêu thùa.

Từ những chi tiết ấy, người ta đã quyết định xây nhà thờ thánh An-na ở một địa điểm không xa những tàn tích của Hồ Chiên. Tốt nhất du khách nên thăm viếng cả nhà thờ, khu vực phụ cận, và đền thờ Giê-ru-sa-lem.

Được xây trên những nền móng theo kiểu Bi-dan-tin hồi thế kỷ VI, ngôi thánh đường hiện nay có vòm tròn kiểu Rô-ma có lẽ từ thời Thập Tự Chinh hay trước đó, bởi vì các chuyến hành hương đã được bắt đầu trước cả thời gian ấy.

Một số chi tiết bài trí như cửa sổ xinh đẹp của mặt tiền chính là công trình của các vua chúa Giê-ru-sa-lem, những vị đã thiết lập ở đó một cộng đoàn nữ tu.

Nhà thờ này là một trong những thắng cảnh hấp dẫn nhất ở Pa-lét-tin vì kiến trúc thanh thoát đơn sơ. Nếu có thể, các nhóm hành hương nên xin cử hành thánh lễ ở đây.

e) Đồi Can-vê

Vương cung thánh đường Mồ Thánh hay Phục Sinh. Theo người Hy Lạp nói, đó là một địa danh tự nó đáng được kính viếng. Một hướng dẫn viên lành nghề có thể giải thích lịch sử ngọn đồi thánh này, đó là tóm lược lịch sử Giáo Hội.

Đức Trinh Nữ Ma-ri-a có một vị trí chắc chắn trong các mầu nhiệm được kính nhớ tại vương cung thánh đường này. Còn về lời chứng của thánh Gio-an, xin đọc trong đề mục Ca-na dưới đây.

f) Ca-na

Đây có lẽ đúng là Ca-na các Phúc Âm đã nói đến ở Khi-bê Qua-na (Khirbert Qana) thuộc miền Ga-li-lê Thượng, hiện nay hoang tàn và rất khó đến. Về tiệc cưới Ca-na, người ta thường quan sát và so sánh với một lễ hội ở thị trấn Cáp Ken-na (Kafr Kenna) nằm trên đường từ Na-da-rét đến hồ Ti-bê-ri-a mà các du khách hành hương hầu hết thường đi qua. Không nên để ý nhiều về những điều mấy người bảo vệ các thánh đường La-tinh cũng như Hy Lạp ở đây chỉ dẫn.

Nên dành nhiều thì giờ để suy niệm Phúc Âm thánh Gio-an vì có nhiều chi tiết mà lại khó hiểu.

Chúa Giê-su “lạnh lùng” với Mẹ Ngài. Không nên làm dịu đi câu nói: “Hỡi Bà, chuyện này có can gì đến Bà và Tôi.” Thậm chí còn được làm mạnh thêm trong một bối cảnh cũng lạnh lùng (Lc 8:19-21) và những lời “đành đoạn” khác (Lc 14:25-27).

-Mẹ Ngài và các anh em Ngài đến gặp Ngài, nhưng họ không thể giáp mặt Ngài, vì có dân chúng. Người ta báo tin cho Ngài: “Mẹ Thầy và các anh em Thầy đứng ngoài muốn gặp Thầy.” Đáp lại, Ngài nói cùng họ: “Mẹ Ta và anh em Ta là những người này: những người nghe và làm theo lời Thiên Chúa” (Lc 8:19-21).

- “Cùng đi đàng với Ngài có dân chúng đông đảo, Ngài quay lại bảo họ: 'Kẻ nào đến với Ta mà không ghét cha, mẹ, vợ, con cái, anh chị em mình và cả mạng sống mình nữa ắt không thể làm môn đệ Ta'” (Lc 14: 25-27).

Nhưng rồi cũng có một lời hứa: những gì vì Nước Trời mà từ bỏ sau cùng sẽ tìm lại được.

- “Ngài nói với họ: 'Quả thật, Ta bảo các ngươi, không ai bỏ nhà cửa, hay vợ, hay anh em, hay cha mẹ, hay con cái vì nước Thiên Chúa mà lại không lĩnh gấp bội nơi đời này, và sự sống đời đời trong thời sẽ đến'” (Lc 18:28-30).

Trong Phúc Âm thánh Gio-an, những lời “Bà,” “giờ của Ta” và “vinh quang của Ngài” báo trước về cuộc Khổ Nạn (Ga 13:11 tt; 17:1 tt; 19:25-27). Vào giờ phút cuối đời, Chúa Giê-su đã liên kết những người Ngài vẫn luôn hằng yêu mến là Mẹ và môn đệ của Ngài.

Tốt hơn nên suy niệm lâu giờ các đoạn Phúc Âm liên hệ ấy lúc dừng chân tại Ca-na hơn là tại Giê-ru-sa-lem vì ở đó có quá nhiều điều để xem và bận tâm.

g) Nhà Tiệc Ly

Nguyện đường nhà Tiệc Ly vốn là một phần của vương cung thánh đường Núi Si-on rất lớn có từ thế kỷ IV, nay không còn một dấu tích gì. Nguyện đường được đặt trên tầng lầu cho hợp với lời Tân Ước (Mc 14:15).

Hình thể hiện nay của nguyện đường có từ thế kỷ XIV. Lúc ấy, nguyện đường được tái thiết và trang hoàng giống như nhà cơm hoặc nhà hội của các đan viện, với ít nhiều nét Gô-tíc hoa mỹ.

Ngoài bữa Tiệc Ly ngày thứ năm tuần Thánh, còn có các buổi hội họp của Giáo Hội Giê-ru-sa-lem non trẻ, và phép lạ ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống đều diễn ra tại nơi này (TĐCV 1:13; 2:1).

Trong biến cố Hiện Xuống liên hệ đến cộng đoàn Ki-tô giáo tiên khởi tại Giu-đê-a, Đức Trinh Nữ Ma-ri-a đã đóng một vai trò khiêm tốn nhưng thiết yếu. Chung quanh Mẹ có hai nhóm người đã bị phân rẽ khi Chúa Giê-su còn tại thế. Nhóm thứ nhất là các môn đệ và các phụ nữ (Lc 6:14-16; 8:1-3; 23:49). Nhóm kia là “các anh em” tức là gia đình mở rộng của Chúa Giê-su (Lc 8:19-21; Ga 7:1-5). Sự phân rẽ khởi sự tại Ca-na đã chấm dứt. Sự tái hợp khởi sự trên đỉnh Can-vê đã đạt được mọi hiệu quả.

Giáo Hội tồn tại khi những người trước kia đã phân rẽ nay được tái hợp, và Chúa Thánh Thần lập tức thúc bách họ làm nhân chứng giữa mọi dân tộc.

Theo chúng tôi, đó là tư tưởng của những nhà chiêm niệm. Họ xác quyết trong ngày lễ Ngũ Tuần, Chúa Thánh Thần đã ngự xuống trên Đức Trinh Nữ Ma-ri-a trước nhất. Trong ngày Truyền Tin, Người đã đến với Mẹ một lần vĩnh viễn, và nay, sự hiện diện tiềm ẩn của Người trong Đức Ma-ri-a đã chuẩn bị để Người hiển linh dưới hình lưỡi lửa trong ngày lễ Ngũ Tuần.

h) Các Thánh Đường tại Thánh Địa

- Cầu nguyện và suy niệm. Người ta vẫn nói rằng: “Có thể cầu nguyện cùng Thiên Chúa ở bất cứ nơi đâu, dĩ nhiên cả trong những thánh đường của Thánh Địa.” Thật thế, khách hành hương đến với những địa điểm này là nơi họ có thể nghỉ ngơi và suy niệm.

Với những người có thể theo lịch trình riêng, chúng tôi khuyên nên đi viếng các thánh đường sau cùng. Sau khi du lãm Thánh Địa, các bạn có thể nghỉ ngơi chốc lát, ôn lại những gì đã thấy, ghi lại ấn tượng cảm xúc, suy niệm và thưa chuyện với Thiên Chúa về những tư tưởng hoặc những khát vọng mới mẻ trong tâm tư của bạn.

- Hành hương và văn hóa. Các thánh đường tại Thánh Địa nói chung không có sức hấp dẫn lắm xét về mặt nghệ thuật, nhưng rất có sức hấp dẫn mãnh liệt xét về mặt lịch sử. Rõ ràng nhiều nơi còn giữ được những nền móng có từ thế kỷ đầu tiên khi Ki-tô Giáo được hưởng tự do (sau sắc chỉ của vua Công-tan-ti-nô năm 312), cũng là thời kỳ bắt đầu có những cuộc hành hương kính viếng Thánh Địa. Trên những nền móng ban đầu, thường thấy dấu vết những lần trùng tu và bài trí thêm về sau. Những thánh đường ấy không những mang vẻ đẹp tôn quí của một di tích cổ mà còn là chứng nhân cho những tích tụ lịch sử các thế kỷ thăng trầm của Ki-tô giáo. Những ngôi thánh đường ấy còn là chứng nhân cho lòng tín thờ kiên vững của các tín hữu trải bao thời vẫn trở lại để được cầu nguyện tại chính những nơi đã phát nguyên ơn cứu độ.

Điều này càng đúng hơn nữa nhất là tại thánh đường Truyền Tin ở Na-da-rét, các thánh đường ở Bê-lem, ở Can-vê, thánh đường Sinh Nhật Đức Mẹ, và thánh đường Mồ Thánh Đức Mẹ.

Những tập hướng dẫn tham quan các thánh đường này rất cần thiết. Chúng cung cấp những thông tin đáng nhớ về lịch sử và khảo cổ, đặc biệt hữu ích đối với các giáo lữ hành hương trong tinh thần sùng kính Đức Mẹ.

i) Đền Thánh Đức Mẹ Ly Trần

Hơn một lần, Chúa Giê-su đã nói về cái chết như một giấc ngủ và cho biết những người trong giấc ngủ này thực sự đang sống trong Thiên Chúa (Mc 5:29; Ga 11:11-14; Mc 12:24-27). Thánh Phao-lô cũng giáo huấn tương tự như thế (1Tx 4:13).

Vì vậy, các tín hữu đã sử dụng từ “ngủ” (La Ngữ là dormire) để chỉ việc ly trần và trở về với Thiên Chúa của Đức Ma-ri-a. Truyền thống Bi-dan-tin tin tưởng rằng biến cố này xảy ra tại vị trí một nguyện đường khác trong vương cung thánh đường Si-on, không xa nhà Tiệc Ly.

Toàn bộ kiến trúc đã bị thời gian tàn phá. Vương cung thánh đường này đã được các tu sĩ dòng Biển Đức tái thiết vào năm 1898, và hiện nay vẫn đang đảm trách công tác quản trị. Việc tham dự hoặc cử hành thánh lễ tại đây không có gì khó khăn (x. Mồ Thánh Đức Mẹ).

j) Giê-ru-sa-lem

Thật không dễ dàng chút nào nếu muốn tìm lại Giê-ru-sa-lem thời Cựu Ước từ thành phố Giê-ru-sa-lem hiện tại, vì nó đã được mở rộng mọi phía.

Khách hành hương thường lẫn lộn Giê-ru-sa-lem thời Tân Ước với thành phố cổ có các bức tường bao quanh. Khổ nỗi điều này hết sức sai lầm. Thành phố cổ giống như một khu ổ chuột tồi tàn thời Trung Cổ được xây dựng trên tàn tích của thành phố Giê-ru-sa-lem kiểu Rô-ma pha lẫn Bi-dan-tin.

Thành phố mà Chúa Giê-su đã than khóc và tiên báo về ngày sụp đổ rất xinh đẹp, mới mẻ, và được xây dựng đồ sộ (Lc 19:41-44; 21:20-23).

Muốn hiểu rõ, du khách nên đích thân đến khu vực bức tường Than Khóc và những địa điểm khai quật trải dài từ đó đến bức tường thời Trung Cổ.

Theo đa số khách hành hương, không gì bằng mô hình thành Giê-ru-sa-lem được trưng bày tại các khu vườn của khách sạn Thánh Địa (Hotel Holyland). Mô hình được thiết kế dưới sự chỉ dẫn của các nhà khảo cổ Ít-ra-en. Tuy nhiên, mọi chi tiết vẫn không đảm bảo được độ chính xác hoàn toàn. Dầu vậy, khách hành hương cũng có được một hình ảnh tương hợp về địa hình và thành phố Giê-ru-sa-lem cổ. Nhưng có lẽ thú vị nhất vẫn là dự án công trình tái thiết đền thờ.

k) Na-da-rét

Na-da-rét, một thành vô danh Cựu Ước dường như không gì đáng kể (Ga 1:45-46) lại là nơi xảy ra biến cố Truyền Tin, là nơi Chúa đã sống qua thời thơ ấu và niên thiếu, và sau cùng cũng là nơi Người đã bị khước từ.

Ngày nay, Na-da-rét là một khu vực với chừng hai đến ba vạn cư dân trong đó có nhiều người đến Hai-pha (Haifa) làm việc. Vẻ nghèo nàn trông thấy rõ ràng, và bởi đó cũng phần nào làm cho địa danh này thiếu nét đặc sắc. Một cuộc hành hương cần phải có nhiều nỗ lực mới mong kết quả.

Thánh đường Truyền Tin (Lc 1:26-38). Thánh đường đồ sộ này được kiến thiết tại một địa điểm chắc hẳn đã được các đoàn hành hương đến kính viếng ngay từ thế kỷ IV, thế kỷ khởi đầu cho thời kỳ tự do của Ki-tô giáo trên phương diện pháp lý.

Trong những gian hầm, chúng ta có thể nhìn thấy các vết tích của ngôi nhà thờ ban đầu theo kiểu Bi-dan-tin, và một ngôi nhà thờ khác lớn hơn được xây dựng thời Thập Tự Chinh. Một nơi hấp dẫn khác nữa là hang đá Truyền Tin hiện vẫn còn được kính viếng. Có một chi tiết thú vị cho các khách hành hương viếng hang đá là mấy chữ Hy Lạp: Khaire Maria (kính mừng Ma-ri-a), do bàn tay vụng về của một tín hữu hành hương thời rất xa xưa khắc trên nền đá.

Du khách đừng quên ngôi nhà thờ thánh Gáp-ri-en của Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp được xây dựng gần hồ nước công cộng hợp với Tiền Phúc Âm Gia-cô-bê. Ngôi nhà thờ này không có niên ký cũng chẳng theo kiểu dáng gì, nhưng rất hấp dẫn và được bài trí bằng những bức i-côn. Đặc biệt lý thú khi bạn có một hướng dẫn viên thành thạo bên cạnh để giải thích các biểu trưng của các bức ảnh ấy.

Du khách cũng nên lợi dụng cơ hội làm quen với các tín hữu địa phương, họ vẫn giữ được sắc thái riêng của mình hơn các nơi khác.

- Thời thơ ấu của Chúa Giê-su (Lc 2:39-52). Gian hầm nhà thờ có tên là Xưởng Mộc Thánh Giu-se (tại dòng Các Nữ Tu Na-da-rét) có mang ít nhiều tính chất lịch sử. Hang có hình một ngôi mộ với tảng đá đóng kín, kỷ niệm biến cố Phục Sinh của Chúa Giê-su (Mc 16:3).

Muốn suy niệm thời thơ ấu của Chúa Giê-su, tốt nhất du khách nên tìm một địa điểm ở thị trấn, chẳng hạn trường học của các tu sĩ Sa-li-diêng. Du khách cũng có thể chọn một địa điểm cách thị trấn chừng một cây số, vừa đủ xa để có thể trở lại miền quê với khung cảnh quang đãng và thú vị, một nơi lý tưởng để đọc trình thuật Sáng Tạo hay các Thánh Vịnh (ví dụ Thánh Vịnh 8,19,33,65,104).

Về phương diện lịch sử hoặc đạo đức, bạn có thể tưởng tượng ra cảnh Đức Ma-ri-a đang cùng Con Nhỏ của Mẹ chăn cừu, Mẹ đọc cho Chúa nghe và dạy Chúa học những lời Thánh Kinh.

- Chúa Giê-su bị khước từ (Lc 4:16-30; Mc 6:1-6). Hiện nay không tìm được hội đường, nơi Chúa từng đối chất với những người đồng hương. Người ta cho là hội đường đó chẳng còn gì ngoài một mái vòm không rõ lai lịch và kiểu dáng, chẳng có chứng cớ lịch sử hay nét gì đáng nói. Những khách du lịch mỏi mệt có thể ở lại đây nghỉ ngơi. Ở đây cũng có chỗ để dâng lễ được Giáo Hội Công Giáo Hy Lạp quản lý.

Trong biến cố Chúa bị khước từ không thấy nói gì về Đức Mẹ. Không biết Đức Mẹ có hiện diện tại đó hay không, nhưng có lẽ Đức Mẹ có mặt ở hiện trường.

Là Nữ Tử Si-on, Mẹ là cớ khiến những người láng giềng và thân nhân vấp phạm khi họ nói về Chúa Giê-su: “Ông này chẳng phải là chú thợ mộc con bà Ma-ri-a sao?” (Mc 6:3).

Về sự kiện vấp phạm này, những linh hồn sùng kính Đức Trinh Nữ Ma-ri-a ắt hẳn sẽ nghĩ đến lời Thánh kinh: “Những người nhà của Ngài đã không tiếp nhận Ngài” (Ga 1:11), và họ sẽ cầu nguyện xin ơn hiểu biết và được ơn hòa giải với Thiên Chúa trong giờ lâm tử.

l) Đền Thờ

Các tiền đường của đền thờ Giê-ru-sa-lem cổ xưa - ngày nay thuộc đền thờ Hồi Giáo Ha-ram ét-Se-ríp (Haram esh-Sherif), đền thánh Tôn Quí - không phải là nơi thích hợp cho các buổi cầu nguyện công cộng. Các du khách Tây Phương phải tự nhủ đây không phải là nhà mình.

Đền Thờ là di tích duy nhất có nghệ thuật cao ở Pa-lét-tin.

Đền Thờ bị người Rô-ma tàn phá vào năm 70 và được người Hồi Giáo trùng tu năm 690, du khách ngày nay khó có thể hình dung được hình thể của đền thờ thời Do Thái xưa kia. Vì thế, họ nên đến xem mô hình thành Giê-ru-sa-lem.

Dù sao, du khách nên hiểu biết ý nghĩa tinh thần của những gì họ còn nhìn thấy ngày nay.

Ví dụ, Tảng Đá Thánh được tôn kính bên dưới vòm chính (còn có tên là Vòm Đá) là bệ chân của Đấng Ba Lần Thánh, cũng có lẽ là bàn thờ dâng để của lễ toàn thiêu. Các nhà khảo cổ không đồng ý với nhau về điều này. Vào thời kỳ các Phúc Âm được viết, người ta truyền tụng rằng đó là tảng đá trên núi Mô-ri-át (Moriah), nơi Áp-ra-ham định sát tế I-sa-ác (St 8:56).

I-sa-ác là con trai đầu lòng của bà Sa-ra (tức là trước đó bà không có một người con nào). Việc tế hiến con trai đầu lòng thực sự là một lễ hiến dâng, một lễ hy sinh. Như người Do Thái nói, họ cũng được “cột” vào các giới luật giống như I-sa-ác bị cột trên bàn thờ (x. Xh 13:12).

Du khách có thể suy niệm về điều này hoặc các chi tiết khác trong trình thuật Dâng Chúa Hài Nhi trong Đền Thờ và tìm hiểu tại sao lời tiên báo của cụ già Si-mê-on lại chính là lời tiên báo về cuộc khổ nạn (Lc 2:22-38; Xh 13:2; Lv 13:1-8).

Tác phẩm ngụy kinh Đức Mẹ Ly Trần (Transitus Mariae) ghi lại truyền tụng ban sơ ở Pa-lét-tin rằng Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, sau giấc ngủ trong Chúa, đã được chôn táng trong một ngôi mộ, nhưng sau ba ngày hóa ra ngôi mộ trống.

Truyền tụng kể đến những khu vực ở Giệc-si-ma-ni, khu vực thung lũng Gio-sa-phát tức là nơi Chúa sẽ ngự đến phán xét trong ngày Chung Thẩm (Ge 4:2; Dcr 14:4). Là hiệu quả từ cuộc phục sinh của Chúa Ki-tô, sự kiện Đức Ma-ri-a lên trời là một sứ điệp cho mọi người trong quá khứ, hiện tại, và tương lai. Đó là lý do Giáo Hội Đông và Tây Phương ngay từ đầu đã chấp nhận và coi truyền thống đó như của mình.

Ngôi thánh đường đầu tiên được xây dựng năm 455. Công trình được tiến hành do ảnh hưởng của Công Đồng Can-xê-đôn và lòng tôn sùng Đức Ma-ri-a đã được phát triển nhờ sự kiện Công Đồng định tín giáo lý Đức Ma-ri-a Mẹ Thiên Chúa (Theotokos).

Ngày nay du khách vẫn có thể kính viếng ngôi thánh đường này. Từ giải đất cao dưới lòng thung lũng dẫn đến một thánh đường khác được xây theo kiến trúc Bi-dan-tin, rồi đến một thánh đường rộng lớn kiến trúc Gô-tíc hiện chỉ còn lại dấu tích của những bậc thềm xinh đẹp mà thôi. Ngôi thánh đường ban đầu được xây dưới lòng đất. Ngày nay, tất cả có hình thể như một gian hầm đất.

n) Đường Thánh Giá

Đường Thánh Giá ở Giê-ru-sa-lem (Via Dolorosa) thành hình là do những cuộc cung nghinh của các tín hữu hành hương thời kỳ Thập Tự Chinh. Qua nhiều thế kỷ, con đường và số các chặng cũng đều thay đổi. Con số mười bốn dần hồi được cố định chủ yếu là do các tín hữu Âu Châu hành hương vì họ đã quen với con số mười bốn chặng ở các nhà thờ của họ, và họ cũng muốn thấy như vậy khi hành hương Thánh Địa.

Về mặt lịch sử, đến nay đa số các nhà chuyên môn không chấp nhận giả thuyết cho rằng Phi-la-tô đóng tại đồn An-tô-ni-a, điểm khởi đầu của Đường Thánh Giá. Họ có lý khi cho rằng Phi-la-tô đồn trú tại đồn dinh của vua Hê-rô-đê. Những tàn tích của đồn dinh ấy còn được thấy trong thành Giê-ru-sa-lem thời Trung Cổ.

Đi đàng Thánh Giá tại hiện trường hoặc suy ngắm như việc đạo đức nên được coi như một hành vi của Giáo Hội. Hình thức nào cũng nói nên khát vọng các tín hữu muốn tôn vinh Thiên Chúa tại chính thành phố Người đã sẵn lòng hy hiến mạng sống cho thế gian.

Trong chuyến hành hương Thánh Mẫu, chặng thứ tư Đường Thánh Giá nơi Chúa Giê-su gặp Đức Mẹ là nơi tốt nhất để suy niệm Phúc Âm Gio-an 19:25-27.

M. Đuy Bu-i

 

 

 
     

Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)