|
Sắc Lệnh
Về Ðào Tạo Linh Mục |
|
Thánh Công Ðồng Chung
Vaticanô II
Sắc Lệnh
Về Ðào Tạo Linh Mục
Optatam Totius
Prepared for Internet by
Vietnamese Missionaries in Asia
Lời Giới Thiệu
Ðể đo lường tất cả những gì Sắc Lệnh về
Ðào Tạo Linh Mục mang lại, trước tiên, chúng ta hãy nhìn qua chính việc đào tạo
các Linh Mục qua các thời đại, từ thời Giáo Hội sơ khai đến thời Công Ðồng
Triden - lúc các chủng viện được thành lập - và từ thời đó đến thời Công Ðồng
Vaticanô II. Sau đó chúng ta sẽ nêu lên nguồn gốc và sự tiến triển của chính bản
Sắc Lệnh; rồi chúng ta sẽ tóm lược nội dung bản văn để rút tỉa những viễn tượng
mới mẻ và những lợi ích của Sắc Lệnh. Sau cùng là một vài trang về tài liệu
hướng dẫn tham khảo giúp những ai muốn tìm hiểu vấn đề một cách sâu rộng hơn.
I. Quá Trình Lịch Sử Về
Việc Ðào Tạo Linh Mục
A. Từ thời thượng cổ đến thời Công Ðồng
Triden
Các vị chăn dắt Giáo Hội sơ khai thường
được tuyển chọn trong số các giáo hữu trưởng thành sống bên cạnh các Thánh Tông
Ðồ và những môn đệ trực tiếp của Chúa. Họ rao giảng Phúc Âm, chủ tọa các buổi
họp, "ban phát bánh" như chính Chúa Giêsu đã làm. Những trẻ em Kitô giáo, cũng
như các trẻ em khác, đều theo học nền giáo dục cổ điển La Hy do các giáo sư Kitô
giáo hay lương dân chỉ dạy. Khi hoàng đế Giulianô cấm các nhà giáo dục Kitô hữu
với sắc lệnh ngày 17-6-362, người ta nhận thấy các nhà giáo dục Kitô hữu đã tìm
phương thế thiết lập những trường Kitô giáo nhưng lại dạy theo lối cổ điển: đó
là hai giáo sư Apollinarios Tiền và Apollinarios Hậu. Họ phỏng tác năm cuốn đầu
của Cựu Ước theo thể văn thơ, những sách sử ký của Cựu ước theo văn thể kịch, và
những bản văn của Tân Ước dưới nhiều hình thức phỏng theo Plato. Khi sắc lệnh
ngăn cấm được bãi bỏ, năm 364 các giáo sư và học sinh Kitô hữu trở lại với các
trường cổ điển. Nếu thời ấy không có những trường học Kitô giáo đặc biệt dành
riêng cho các lớp tiểu học và trung học, thì lại có những trường cho các lớp cao
hơn. Những giáo sư như thánh Giustinô, thánh Clementê thành Alexandria, Origenê
đã mở phân khoa triết học Kitô giáo với mục đích chống lại chủ trương muốn hạ
vấn đề mạc khải xuống bậc hiểu biết thuần túy tự nhiên.
Những vị giáo sư rất hùng biện này đã đào
sâu và trình bày đạo lý Kitô giáo theo đòi hỏi của các nhu cầu thời đại. Dĩ
nhiên những trường này hầu hết đều dựa vào việc học hỏi vững chắc về Thánh Kinh
và đào tạo cho Giáo Hội những vị Linh Mục và Giám Mục, nhất là ở Rôma và ở
Alexandria. Tuy nhiên hầu hết những giáo sĩ được tuyển chọn đều nhờ sự tiếp xúc
cá nhân với các Giám Mục hay Linh Mục đứng tuổi tại địa phương. Thánh Augustinô
đã thành lập chủng viện theo phương cách đó: Giám Mục đương kim và linh mục cùng
chung sống dưới một kỷ luật, và lời giảng dạy với gương sáng của các đấng chăn
dắt là yếu tố chính yếu trong việc đào tạo linh mục. Hình thức này đã lan rộng
đến một vài nơi ở Ý, ở Pháp, và ở Tây Ban Nha nhưng không kéo dài được bao lâu.
Vào thời Trung Cổ, các nơi tu học được
liên kết với các học viện lớn để rồi dần dần trở thành những chủng viện của các
dòng này, và đã bảo đảm việc đào tạo các linh mục tương lai của dòng. Vào khoảng
năm 826, Ðức Giáo Hoàng Eugeniô II, trong Công Ðồng họp ở Rôma, đã yêu cầu thiết
lập trường học bên cạnh mỗi nhà thờ chánh tòa để giáo dục thanh thiếu niên và để
chuẩn bị hàng giáo sĩ tương lai.
Chẳng bao lâu, với đà phát triển của các
đại học, những trường trung học và nội trú được thành lập bên cạnh các đại học
để cho các tu sĩ lui tới tham dự. Nhưng số tu sĩ tham dự lại quá ít, và ngoài số
các tu sĩ có trình độ học vấn cao đó, phần lớn các tu sĩ tiếp tục thụ giáo tại
nhà để đạt một sự hiểu biết khái quát mà thôi.
Vào năm 1179, Công Ðồng Lateranô III ca
ngợi việc thành lập các trường giáo phận trong toàn thể Giáo Hội. Công Ðồng
Lateranô IV năm 1215 nhấn mạnh rằng tại mỗi trường như thế cần phải có một giáo
sư thần học đầy đủ tư cách để dạy Thánh Kinh và Mục Vụ cho các linh mục tương
lai. Ðức Giáo Hoàng Honoriô III (năm 1183) trong sắc lệnh "Super Specula" và Ðức
Bonifaciô VIII (năm 1289) trong sắc lệnh "Cum ex Eo" cũng đã đặc biệt chú trọng
đến vấn đề đào tạo linh mục.
Vào thời Phục Hưng, người ta cho rằng một
trong những khó khăn trầm trọng của Giáo Hội chính là việc thiếu chuẩn bị chu
đáo cho công trình đào tạo linh mục. Phong trào ly giáo phát khởi từ Luther lại
biến nhu cầu cấp bách đó thành mãnh liệt hơn. Do đó Công Ðồng Triden nhất quyết
đương đầu với vấn đề này.
B. Công trình của Công Ðồng Triden đối
với việc đào tạo linh mục
Công trình này không đột khởi như một
"ngẫu sinh". Cũng nên biết rằng chính các linh mục dòng Tên tiên khởi đã cảm
thấy nhu cầu đó. Trong suốt thời giảng đạo ở Ðức, từ năm 1542-1545, một đồ đệ
của thánh Inhaxiô thành Loyola đã từng nhấn mạnh về việc cần phải thiết lập
những học viện đặc biệt để giúp tu sinh. Ðã có người quan tâm tới ý kiến của
ngài: đó là Ðức Hồng Y Giovanni Morone, người đã giúp thánh Inhaxiô thành lập ở
Rôma một Học Viện Ðức vào năm 1552 cho những linh mục tương lai sắp được gởi
sang Ðức. Họ cư ngụ ở Học Viện Ðức nhưng theo học ở Học Viện Rôma (thánh Inhaxiô
thành lập Học Viện này trước đó hai năm để đào tạo các linh mục dòng Tên). Thêm
vào số đó còn có rất nhiều tu sĩ ở các nơi khác cũng đến học. Lúc đó Học Viện
Rôma có tới 300 sinh viên (trong số có 60 tu sinh) và con số đã lên đến 1,000
vào năm 1567. Các trường giáo phận được canh tân ở một vài nơi: Ðức Giám Mục
Gian Matteo Giberti de Verona với "trường trợ sĩ" ở Verona; giảng sư J.
Kayserberg đã tích cực góp ý kiến cho Giám Mục Albert de Barrière để bổ khuyết
cho trường giáo phận một học viện thần học. Ngay cả những anh em ly khai cũng đã
chú ý đến vấn đề này: Tổng Giám Mục Catobury là Thomas Crammer (1489-1556) đã
canh tân những trường giáo phận trong năm 1553.
Lược đồ đầu tiên trình bày ở Công Ðồng
Triden được gợi hứng một cách trung thực do bản văn của Ðức Hồng Y Reginald
Pole: "De Seminariis Erigendis" trong giáo luật số 11 của cuộc họp Thượng Hội
Ðồng ở nước Anh năm 1556. Người ta cũng đã thành lập một ủy ban nghiên cứu về sự
lạm dụng trong việc ban chức phẩm và tìm kiếm những phương thế để tu sửa lại
bằng nỗ lực đào tạo giáo sĩ một cách tốt đẹp. Năm 1563 ủy ban đã thâu góp được
nhiều tập kỷ yếu khác nhau: kỷ yếu của Ðức Tổng Giám Mục Ragusa Louis Beccadelli
gợi ý thành lập chủng viện, kỷ yếu của Tổng Giám Mục Reins ca ngợi sự canh tân
các trường giáo phận. Sau cùng hoàng đế Ferdinand I, em ruột của Carlos Quinto,
yêu cầu thiết lập những trường dành riêng cho giáo sĩ bên cạnh các đại học.
Năm 1563, Công Ðồng Triden dành trọn mục
18 của phiên họp thứ 23 cho vấn đề hệ trọng này. Ðây là những nét chính: mỗi
giáo phận phải có một tiểu chủng viện bên cạnh nhà thờ chính tòa; nếu không thể
được, có thể lập một tiểu chủng viện chung cho những giáo phận lân cận; không
nhận những trẻ em dưới 12 tuổi vào tiểu chủng viện vì chúng chưa ý thức đủ và rõ
ràng về thiên chức Linh Mục. Nên nhận những trẻ em nghèo; những trẻ em giàu muốn
được thu nhận phải đóng lệ phí. Phải có Thánh Lễ mỗi ngày cho mọi người tham dự.
Cho hồi tục tức khắc những kẻ bất tuân và những kẻ không có ơn kêu gọi. Phải lựa
chọn kỹ lưỡng những linh mục phụ trách công việc hệ trọng này. Lợi tức và tiền
quyên trong giáo phận được dùng để giúp đỡ chủng viện. Chính Ðức Giám Mục đích
thân điều hành chủng viện, bên cạnh ngài có hai hội đồng phụ tá: một hội đồng kỷ
luật và linh hướng, một hội đồng tài chánh.
C. Áp dụng Sắc Lệnh của Công Ðồng
Triden
Ðức Giáo Hoàng Piô IV đã nêu gương bằng
cách thiết lập tại Rôma một chủng viện vào năm 1565. Rất nhiều Công Ðồng Miền
thêm một số quy luật về thành lập chủng viện khắp nơi.
Thánh Carolô Borromeô là một trong những
nhà vô địch của vấn đề canh tân theo chiều hướng Công Ðồng: tuy ở Milan chẳng
bao lâu, ngài cũng đã mở một chủng viện cho 150 sinh viên học về Giáo Hội. Ngài
cũng thiết lập "La Canonisa" cho những người tuy không có năng khiếu về môn học
này nhưng có dịp thể hiện niềm hy vọng trở thành linh mục nhân đức và nhiệt
thành: có 60 sinh viên được đào tạo với một căn bản vững chắc về Thánh Kinh,
thần học tín lý và mục vụ. Sau đó ngài còn thiết lập 3 chủng viện "dự bị": một
cho lớp người đứng tuổi, một cho thanh niên và một cho thiếu niên. Ngài mời các
cha Dòng Tên cộng tác trong chủng viện và chính ngài cũng hô hào phong trào "góp
công góp của" (theo gương Thánh Ambrosiô) để nuôi sống chủng viện. Ngài viết tập
"Institutiones ad unversum seminarii regimen pertinentes".
Ở Pháp, Ðức Hồng Y Charles de Lorraine,
Tổng Giám Mục Reins là người đầu tiên áp dụng Sắc Lệnh Công Ðồng Triden; dầu
chiến tranh tôn giáo đã làm chậm trễ nhiều nhưng ngài cũng đã thành công trong
việc thực hiện. Ba vĩ nhân tên tuổi trong việc thực hiện sắc lệnh của Công Ðồng
ở Pháp là: Thánh Vincent de Paul, Cha J.J. Olier và Thánh Jean Eudes.
Thánh Vincent de Paul bắt đầu bằng việc mở
một cuộc họp suốt mười ngày để huấn đức cho các linh mục tương lai; sau đó việc
huấn đức biến thành một giai đoạn học tập trong vòng 2 hoặc 3 năm kể từ khi mãn
triết học cho đến lúc thụ phong linh mục. Năm 1635 ngài mở một phân khoa thần
học ở Học Viện "Des Bons Enfants", rồi ở St. Lazare cho phân khoa nhân văn. Vào
năm 1642 ngài cũng thành lập một chủng viện. Lúc cách mạng 1789 xảy ra, các linh
mục của Hội Truyền Giáo (do thánh Vincent de Paul sáng lập) đã điều khiển đến
một phần ba những chủng viện ở Pháp: khoàng 53 đại chủng viện và 9 tiểu chủng
viện.
Cha Olier thành lập chủng viện quốc gia
tại họ đạo St. Sulpice ở Paris, và hai năm sau tức năm 1644, ngài nhận chủng
sinh của 20 giáo phận khắp nước Pháp gởi đến. Vào năm 1651 ngài phát hành một
bản qui luật mô phỏng theo "các qui luật của chủng viện". Các linh mục của chủng
viện này cũng đã đích thân giúp đỡ những chủng viện khác theo sự yêu cầu của các
Giám Mục.
Thánh Jean Eudes, nhà giảng thuyết và cũng
là sáng lập viên dòng Thánh Tâm, lập một chủng viện ở Caen năm 1663. Sau đó một
thế kỷ, các linh mục của chủng viện này trở thành những nhà giáo dục của 40
chủng viện.
Cuộc Cách Mạng Pháp 1789 đã gây ra những
hậu quả tai hại cho công trình thiết lập chủng viện ở Âu Châu: hầu hết các chủng
viện đều phải đóng cửa hay giải tán. Vào thế kỷ XIX, dần dần các chủng viện lại
được tái lập khắp nơi. Vào thời đại này, Ðức Giáo Hoàng Piô X phục hưng Giáo
Triều Rôma và đặc biệt nâng đỡ các đại học. Năm 1915, Ðức Beneđictô XV thêm vào
Thánh Bộ về đại học một Thánh Bộ về chủng viện. Những khoản luật (1357-1377) của
bộ Giáo luật mới năm 1918 tiế tục xác định điều đó.
Tóm lại, các vị Giáo Hoàng đã bận tâm rất
nhiều về vấn đề đào tạo hàng Giáo Sĩ. Trong thế kỷ XX này, tất cả những bận tâm
ấy đã trở thành một "tài liệu" quí giá cho vấn đề đào tạo các linh mục: chính
Công Ðồng Vaticanô II đã ghi rõ điều đó trong "lời mở đầu" của "Sắc Lệnh về Ðào
Tạo Linh Mục".
II. Nguồn Gốc Và Sự
Phát Triển Của Bản Văn "Sắc Lệnh Về Ðào Tạo Linh Mục"
Ðược triệu tập trong chiều hướng mục vụ
hơn là tín lý, Công Ðồng Vaticanô II không thể không đưa lên hàng đầu mối quan
tâm về viêc đào tạo các linh mục tương lai. Với truyền thống sống động luôn đổi
mới "giống như tế bào của một đại thân thể" (theo lời Ðức Giám Mục Brunon), và
với nền tảng kinh nghiệm của hàng chục thế kỷ. Giáo Hội muốn nghiên cứu lại lãnh
vực này và canh tân phương pháp để việc chuẩn bị các linh mục được hữu hiệu hơn.
Sắc Lệnh đáp ứng lại mối ưu tư của tất cả các nghị Phụ Công Ðồng. Ðược các phiên
họp ban đầu sửa soạn chu đáo, bản văn là một thành quả đã được vun tưới và chín
mùi do việc học hỏi và đào sâu tất cả những vấn đề khác của Công Ðồng. Bản văn
được bỏ phiếu chấp thuận hầu như tuyệt đối ngày 29-10-1965 trong suốt phiên họp
cuối cùng.
Chúng ta tuần tự ghi lại những giai đoạn
cấu thành Sắc Lệnh quan trọng này:
- 5-6-1960: Tự Sắc "Superno Dei Nutu"
thành lập 10 Ủy Ban chuẩn bị Công Ðồng. Ủy Ban thứ Bảy là ủy ban lo về vấn đề
giáo dục và chủng viện Chủ Tịch Ủy Ban là Ðức Hồng Y Pizzardo; Ủy Ban có 90 hội
viên gồm 19 quốc gia. 32 cố vấn thuộc 8 quốc gia: tất cả đều được chính Ðức Giáo
Hoàng triệu tập.
- 24-2-1962: Ðức Hồng Y Pizzardo trình bày
ở phiên họp thứ tư của ủy Ban Trung Ương hai bản văn đã được soạn thảo từ năm
1960 và đã được thông tri cho các Giám Mục.
Lược đồ A1: Sắc Lệnh về việc "cổ võ ơn
thiên triệu trong Giáo Hội".
Lược đồ A2: Hiến chế về việc đào tạo các
chủng sinh có chức thánh".
- 27-2-1965: Kết thúc phiên họp thứ tư của
Ủy Ban Trung Ương. Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã nói: "Chúng con hãy biết rằng
những vấn đề đó (ơn kêu gọi, chủng viện) đã ăn rễ sâu trong tim Cha".
- 12-6-1962: Kết quả cuộc bàn cãi: một
lược đồ mới thành hình: lược đồ B, gồm tóm cả hai lược đồ A1 và A2.
- 16-10-1962: Các Nghị Phụ Công Ðồng chọn
16 nhân viên vào tân Ủy Ban; Ðức Giáo Hoàng cho thêm 9 nhân viên nữa: Ủy Ban đại
diện cho 16 quốc gia.
- 21-2-1963 đến 2-3-1963: Duyệt kỹ lại
lược đồ B; lược đồ C ra đời, sẵn sàng gởi đến các Nghị Phụ Công Ðồng vào tháng
5.
- 4-1964: Sau khi đúc kết ý kiến của các
Nghị Phụ và các Hội Ðồng Giám Mục, một bản văn mới lại được đưa ra: lược đồ D.
- 3 đến 11-3-1964: Ủy Ban duyệt lại bản
văn D và rút gọn lại, do đó có lược đồ E: "Sacra synodus" được gởi tới tận tay
các Nghị Phụ ngày 27-7-1964.
- 9 và 10-1964: Duyệt lại lược đồ E theo
những đề nghị nhận được, lược đồ F ra đời và được gởi đến các Nghị Phụ vào tháng
11.
- 12-11-1964: Sau bài thuyết trình của Ðức
Cha Carraro, nguyên Viện Trưởng chủng viện Treviso, bản văn được bàn cãi trong
Công Ðồng suốt bốn ngày. Có tới 32 lần phát biểu ý kiến (trong đó có bốn lần
thuộc các xứ truyền giáo) và 67 lần góp ý bằng thư.
- 17-11-1964: Bản văn hầu như được chấp
thuận hoàn toàn nhưng có tới 1,358 đề nghị tu chỉnh.
- 5-1965:Bản văn mới, lược đồ G, hoàn tất
sau khi Ủy Ban đã cố gắng đưa vào nhiều đề nghị tu chỉnh.
- 11-10-1965: Kỳ họp IV Công Ðồng: bỏ
phiếu chung quyết. Trước tiên là bỏ phiếu các số của Sắc Lệnh.
- 13-10-1965: Sau đó bỏ phiếu chung cho
lược đồ G: có 2,196 phiếu thuận trong số 2,212.
- 28-10-1965: Bỏ phiếu công bố chính thức:
trong tổng số 2,321 phiếu có tới 2,318 phiếu thuận và chỉ có 3 phiếu chống. Thế
là lược đồ H thành bản văn chính thức của Sắc Lệnh.
Trong tất cả những văn kiện của Công Ðồng,
chỉ có 2 Sắc Lệnh: tức Sắc Lệnh về Tông Ðồ Giáo Dân (với 2 phiếu chống) và Sắc
Lệnh về Nhiệm Vụ Mục Vụ của các Giám Mục (với 2 phiếu chống và một phiếu bất hợp
lệ) là đạt được đa số tuyệt đối cao hơn Sắc Lệnh này. Có thể nói rằng bản văn
này là kết tinh của bao nỗ lực của Công Ðồng và đã mang lại cho Giáo Hội hôm nay
những định hướng quan trọng. Vì vậy, mặc dù những khủng hoảng hiện nay, nó vẫn
cho ta thấy trước một cuộc canh tân và một thành quả có thể làm cho tâm hồn các
vị chủ chăn tràn đầy tin tưởng.
(còn tiếp nhiều kỳ)
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
THẾ NÀO LÀ CÂY NHO VÀ CÀNH NHO ?
|
|
(Cv 9: 26-31; 1Ga 3: 18-24; Ga 15: 1-8)
Bác
sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD
Tin Mừng thánh
Gioan Chúa Nhật thứ 5 Phục Sinh hôm nay (Ga15: 1-8) gợi cho
chúng ta hình ảnh cây nho và cành nho, diễn tả mối tương quan
giữa Chúa Kito và các môn đệ của ngài. Hình ảnh này coi thì đơn
giản, nhưng nghĩ kỹ nó có một ý nghĩa khá huyền bí và tuyệt vời
đến độ người thường không thể tưởng tượng nổi.
Cành Nho dĩ nhiên
có một liên hệ mật thiết với Cây Nho. Cành cây phụ thuộc vào
thân cây để làm thành một cây đầy đủ như một cơ thể duy nhất và
sống động. Đối với Việt Nam chúng ta và ở những xứ khí hậu miền
Bắc thì Cây Nho là một hình ảnh xa lạ, nhưng ở miền Cận Đông thì
nó lại rất quen thuộc ai cũng biết, hầu như gia đình nào cũng có
trồng cây nho, cây vả hoặc cây oliu trong vườn…
« TA LÀ CÂY NHO, CÁC CON LÀ CÀNH NHO »
Đức
Giêsu đã nói với các môn đệ của Ngài: “Ta là Cây Nho,
một cây nho thực sự” và “các con là những cành
nho”. Bổn phận của cành nho là sinh ra hoa trái qua việc
chia sẻ với tha nhân cuộc sống của Chúa: “Thầy là cây nho
thật, Cha Thầy là người trồng nho….Hãy ở lại trong thầy như thầy
ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự
mình sinh hoa trái nếu không gắn liền với cây nho. Anh em
cũng thế nếu không ở trong thầy. Nếu ở trong Thầy thì lời thầy
sẽ ở trong anh em, lúc đó anh em muốn gì, xin gì thì anh em sẽ
được” (Ga 15:1, 4-5,7)
Những hình ảnh Chúa
Kitô là vua, là chúa, là thầy dạy, là mục tử và là quan tòa cũng
rất quan trọng đối với chúng ta vì nó tạo nên một viễn tượng
liên đới tương hợp giữa Đức Kitô và chúng ta. Hình ảnh này đòi
hỏi cây nho phải có sự cân xứng và công bằng, nghĩa là sự liên
hợp giữa môn đệ với cuộc sống của chúa Kito và chúa Kito liên
hợp với cuộc sống của môn đệ phải thành một đơn vị thuần nhất và
thắm thiết nhất mà những hình ảnh khác không bao giờ đạt được.
Những bài đọc chúa
nhật hôm nay diễn tả cuộc sống thiêng liêng của người Kito hữu
quả là đúng nguyên tắc, đích thực và rất chính xác. Hình ảnh cây
nho đã gợi cho mỗi người chúng ta một vấn nạn riêng tùy hoàn
cảnh của từng người, trong khung cảnh một đại gia đình rộng lớn
hơn của Thiên Chúa, trải dài qua mọi không gian và thời gian, từ
thời ông Abraham cho tới thời hiện tại và tương lai, từ thế kỷ I
ở Cận Đông cho tới ngày nay, khắp năm châu bốn biển.
HÃY LẬP MÁI ẤM GIA ĐÌNH TRONG CHÚA KITÔ
Nếu Chúa Giêsu là
Cây Nho thì mỗi người chúng ta đều được mời gọi để kết hợp và
sống với ngài để tạo thành một mái ấm gia đình. Bài Tin Mừng
nói về cây nho thúc đẩy chúng ta phải thân thiết với Thiên Chúa
bằng cách vâng lời, tuân theo ơn gọi của mình là sinh ra hoa
trái cho mọi người trên thế giới Điều đó có nghĩa gì? Phải
chăng là liên hợp và trú ngụ ngay trong cây nho hầu có thể kết
hợp thiết thân với cây nho tức Chúa Giêsu.
Liên hợp với Chúa
Giêsu là một phần của đời sống Giáo Hội, phải đươc mọi tín hữu
cam kết liên hợp mọi người lại với nhau như tình bạn để khuyến
khích, giúp đỡ nhau, cùng nhau cầu nguyện, thờ phượng Chúa, sống
đời sống thánh thể, nghiên cứu, học hỏi và hành động vì Tin Mừng
Chúa nơi trần thế. Mỗi khi chầu viếng hay rước Mình Thánh Chúa
là chúng ta được kết hợp vào với tình bạn thiết thân ấy, với
chính chúa Giêsu, và với mỗi một người chúng ta nơi bàn tiệc của
Chúa
Đời sống thiêng
liêng thực sự của người Kito hữu chính là sự hiểu biết của mỗi
người về Chúa Giêsu Kito, như cây nho lưu thông nhựa sống trên
các cành nho. Nhờ đó, chúng ta có thể khuyếch trương công trình,
tình yêu và sự sinh hoa kết trái của Ngài, đồng thời ca tụng
vinh danh Thiên Chúa Cha của Ngài. Đó là trọng tâm của bí tích
Thánh Thể.
THIÊN CHÚA CHA LÀ NGƯỜI TRỒNG NHO VÀ TỈA CÀNH
Tuy nhiên, khi chúa
Giêsu đưa ra chủ đề cây nho và cành nho là Ngài có ý nói về
Thiên Chúa Cha của Ngài là người trồng nho và tỉa nho. Hai việc
đó đòi hỏi phải có con dao. Cành nào không có trái, Thiên Chúa
Cha sẽ cắt nó đi; cành nào đang mang hoa trái thì Người sẽ tỉa
cho sạch gọn để chúng sinh thêm hoa trái nữa.
CÀNH NHO KHÔNG THỂ TỰ DO PHÁT TRIỂN
Theo tinh thần của
đoạn Tin Mừng này thì đời sống thiêng liêng của chúng ta không
thể phát triển theo tự do cá nhân hoặc hoàn thành tất cả mọi khả
năng mà mình có. Khi bước theo chúa Giêsu và tìm hiểu Ngài là
chúng ta đã chấp nhận con dao tỉa của Chúa, đồng ý để nó cắt bỏ
một vài cái ra khỏi cuộc sống của chúng ta - mà có thể chúng
còn tốt, còn có thể sinh hoa trái- để cho những cành khác có cơ
hội đâm chồi nảy lộc kết hoa trái phì nhiêu hơn. Cắt tỉa thì dĩ
nhiên là một tiến trình tạo đau đớn; nó có thể làm mất mát hay
gây chết chóc. Người tỉa nho chỉ nhúng tay vào cây nho một cách
thân thiết hơn khi ông ta vung tay đưa dao lên tỉa.
KẾT HỢP VỚI CÂY NHO LÀ TÌM HIỂU VÀ HỌC HỎI VỀ ĐỨC KITÔ
Kêu gọi kết hợp với
cây nho là kêu gọi để tìm hiểu cẩn thận và thiết thân về chính
con người Chúa Giêsu để học hỏi, không phải chỉ trong tư tưởng
mà cả trong hành động. Môn đệ thực sự của chúa Giêsu phải luôn
luôn trông nhờ vào sự hiện diện nội tại và hoạt tính của chúa
Kitô để canh tân và triển nở chính cuộc sống của mình hầu trở
nên một là niềm tin và tình yêu thương. Môn đệ thực chỉ có thể
sinh hoa trái thêm cho tha nhân bằng những cuộc sống mới khi họ
biết “bám chặt vào chúa Giêsu”, “ghép liền” với đời sống của
Ngài, để chính sự hiện diện của Ngài sẽ sàng gạn và làm sạch tâm
trí họ.
GIÁO HỘI LÀ VƯỜN NHO, GIÁO DÂN LÀ CÂY NHO ĐƯỢC TUYỂN CHỌN
Hai hình ảnh cây
nho và vườn nho đã làm nổi bật vẻ đẹp mỹ miều, đầy tượng hình
cho đoạn văn khá phổ thông trong thông điệp Ánh Sáng Muôn Dân
/Lumen Gentium, câu số 6 của Công Đồng Vatican II về Hiến Chế
Tín Lý về Giáo Hội:
“Giáo Hội là một
mảnh đất được Thiên Chúa trồng trọt và vun xới. Trên đất đó cây
dầu oliu cổ thụ mọc lên mà các tiên tri là những rễ thánh của
nó. Nơi cây cổ thụ này đã và sẽ có sự hòa giải giữa dân Do Thái
và những dân ngoại. Mảnh đất này đã được người trồng nho thiên
quốc vun xới trồng tỉa như một cây nho đã được tuyển chọn. Cây
nho đích thực là chúa Kitô, Ngài ban sức sống và hoa trái dồi
dào nơi các nhánh là chúng ta. Nhờ Giáo Hội, chúng ta được ở
trong Chúa Kitô, không có Ngài chúng ta không thể làm được gì
cả.”
ĐÔI LỜI KẾT
Để làm sáng tỏ sự
phụ thuộc này như là sự ghép nối với Chúa, chúng ta thử suy niệm
những lời rất thâm thúy của thánh nữ Teresa Benedicta Thánh Giá
(1891-1942), dòng Kín, tử đạo, đồng quan thầy của Âu Châu. Thánh
nhân là người hiểu biết ý nghĩa nối kết thiết thân với Chúa là
thế nào. Ý nghĩa này được lấy từ Chương 6, tập luận văn của
Thánh Nữ viết về người phụ nữ. (ICS Publications).
Ý niệm về Giáo Hội
như là một cộng đồng các tín hữu thì rất dễ hiểu. Bất cứ ai tin
vào Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài, hy vọng những hứa hẹn của
Ngài sẽ được thực hiện, bám sát lấy Ngài trong yêu thương và giữ
những giới răn của Ngài thì phải kết hợp với tất cả mọi người
cùng có một lòng hiệp thông tâm trí với nhau. Những ai gắn liền
với Chúa trong khi Chúa còn tại thế thì đều là những hạt giống
tiên khởi của cộng đồng Kito giáo vĩ đại. Chúng sẽ phát triển
rộng lớn cái cộng đồng ấy và niềm tin ấy sẽ nối kết họ với nhau
cho đến ngày nay qua dòng thời gian để cho chúng ta được thừa
hưởng nó.
Nhưng, ngay cả một
cộng đồng nhân loại bình thường cũng còn hơn cả một sự liên minh
lỏng lẻo của những cá nhân riêng lẻ, và cho dù chúng ta có thể
kiểm chứng được cả phong trào phát triển để thành một loại đơn
vị có tổ chức, thì nó cũng giống cái cộng đồng siêu nhiên của
Giáo Hội hơn. Sự kết hợp linh hồn lại với Chúa Kitô thì khác với
sự kết hợp giữa con người với nhau. Nó bắt rễ và khởi đầu nảy nở
trong Chúa -như nói trong ngụ ngôn cây nho và cành nho- khi
chúng ta chịu phép Thánh Tẩy. Nó sẽ được tạo thành và liên tục
trở nên vững mạnh một cách đa diện nhờ nhiều phép bí tích khác
nhau. Sự kết hợp thực sự này với chúa Giêsu Kitô cũng bao hàm
sự lớn mạnh của cộng đồng các tín hữu Kitô giáo. Giáo Hội như
vậy đã tạo thành Nhiệm Thể Đức Kitô. Nhiệm thể này là một nhiệm
thể sống động, và thần khí làm nên sức sống của nhiệm thể chính
là thần khí Đức Kitô, nó tuôn trào từ đầu đi khắp mọi phần của
cơ thể. (Epheso 2: 21-22)
Trong tuần này,
chúng ta hãy cầu nguyện, xin Chúa cho chúng ta được thuộc về
Chúa Kitô một cách sâu xa và thực sự, vượt qua tất cả nhũng xáo
trộn đang lũng loạn cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Chớ gì sức
sống của Chúa Kitô đã tạo thành Giáo Hội, liên tục tuôn chảy
tràn đầy cả thể xác lẫn tâm hồn chúng ta mỗi ngày nơi mái ấm gia
đình thân yêu trong Chúa Kitô.
Fleming Island,
Florida
May 2, 2012
NTC
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
SỰ KHÁC BIỆT GIƯA NHỮNG NGƯƠI CÙNG
MANG DANH KITO HỮU
|
|
Trong một bài viết trước đây, tôi đã giải
thích về những khác biệt giữa các Giáo Hội Kitô Giáo mà người
ta vẫn quen gọi chung là Thiên Chúa Giáo như Do Thái Giáo,
Công Giáo La Mã, Chính Thống Giáo Đông Phương, Tin Lành và Anh
Giáo ( Anglican Communion) ...
Hôm nay tôi xin được nói thêm về sự khác
biệt giữa những tin hữu cùng mang danh Kitô hữu ( Christians)
nhưng không cùng chung một niềm tin, thờ phụng Thiên Chúa chung
một phụng vụ thánh và hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo dưới
quyền lãnh đạo của Đức Thánh Cha là Đại diện duy nhất của Chúa
Kitô trên trần thế.
Như đã giải thích, giữa các Giáo Hôi Kitô
Giáo có sự khác biệt thế nào thì giữa những người cùng tin Chúa
Kitô ( Christians) cũng khác nhau như vậy. Nghĩa là không phải
cứ xưng danh hay nhận mình là Kitô hữu thì đều mang chung nội
dung của danh xưng này.
Cụ thể, chỉ có người tín hữu Chúa Kitô
trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thông Giáo Đông Phương mới
thực là những tín hữu chính danh của KitôGiáo (Christianity)
vì chỉ ở trong các Giáo Hội này mới có đầy đủ mọi phương tiện
cứu rỗi là giáo lý vững chắc, Thánh Truyền Mặc khải và Kinh
Thánh chính xác, cùng với các Bí Tích cứu độ mà Chúa Kitô đã ban
cho Giáo Hội của Người để tiếp tục Sứ Vụ Cứu Độ của Chúa trong
trần thế cho đến ngày cánh chung tức là mãn thời gian. Cũng nhấn
mạnh thêm là Chỉ có một Giáo Hội duy nhất của Chúa Giêsu trên
trần thế và Giáo Hội này “tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do
Đấng kế vị Phêrô và các Giám Mục hiệp thông với Ngài điều
khiển. “ (x. Lumen Gentium số 8). Sở dĩ có Nhánh Chính Thống
Đông Phương (Eastern Orthodox Churches) là vì có sự bất đồng về
một vài vấn đề tín lý và quyền bính giũa Đông và Tây nên Nhánh
Kitô Giáo Đông Phương ở Constantinople đã tách ra khỏi Giáo Hội
Công Giáo Roma ( Tây phương) và trở thành Chính Thống từ năm
1054 cho đến nay. Nhưng vì Giáo Hội Đông Phương có nguồn gốc
Tông Đồ ( Thánh An-Rê) nên có đầy đủ các bí tích hữu hiệu như
Giáo Hội Công Giáo La Mã do công truyền giáo ban đầu của Thánh
Phêrô, anh của Thánh An Rê, là Tông Đồ đã sang truyền giáo ở
Đông Phương. Do đó, chỉ có trong Giáo hội Công Giáo và anh em
Chính Thống Đông Phương mới có thể cử hành thành sự Hy tế thập
giá của Chúa Kitô trên Bàn thờ ngày nay mỗi khi Thánh lễ Tạ ơn
được cử hành ở khắp nơi trong Giáo Hội, là Thân Thể Nhiệm Mầu
của Chúa Kitô trên trần thế. Thánh lễ Ta Ơn ( Eucharist) là đỉnh
cao là là nguồn sống thiêng liêng của Giáo Hội và của mọi tín
hữu Chúa Kitô hiệp thông với Giáo Hội. Nguồn sống này là chính
Chúa Kitô, là Người Con “cũng
ban sự sống cho ai tùy ý” ( Ga 6: 21). Ngoài lời
ban sự sống, Chúa Kitô còn ban thịt máu Người qua bí Tích
Thánh Thể mà chỉ có Giáo Hội Công Giáo và Chính Thông Giáo Đông
Phương có mà thôi. Các Giáo hôi mang danh Kitô khác không có Bí
tích quan trọng này, vì họ không có chức linh mục hữu hiệu để có
thể cử hành hữu hiệu Bí Tích Thánh Thể qua đó, Chúa Kitô tiếp
tục ban thịt máu của Người làm của ăn, của uống nuôi sống linh
hồn chúng ta, và cho ta hy vọng sống đời đời vì “
ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì
được sống muôn đời, và Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại vào ngày sau
hết.” (Ga 6 : 54) như Chúa đã hứa.
Các giáo phái mang danh Kitô giáo khác như
các nhánh Tin Lành (có hàng chục ngàn nhánh khác nhau ở Mỹ ), và
Anh Giáo đều không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession)
cho nên không có Chức linh mục hữu hiệu ( valid Priesthood), như
các linh mục Công Giáo và Chính Thông Giáo. Do đó, dù họ có
nghi thức bẻ bánh và uống rượu thì đó chỉ là bánh và rượu mà
thôi, chứ không phải là thịt và máu Chúa Kitô ban qua Bí Tích
Thánh Thể được cử hành trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống
Giáo. Ngoài bí tích quan trọng này, Giáo Hội Công Giáo và Chính
Thống còn có các bí tích chữa lành như Xức dầu bệnh nhân và Hòa
Giải để giúp các hối nhân giao hòa lại với Chúa và với Giáo Hội
sau khi đã lỡ sa phạm tội vì yếu đuối con người.
Chính việc năng lãnh nhận các bí tích Hòa
giải và Thánh Thể mà đời sống thiêng liêng của người Kitô hữu
được tăng trưởng và sung mãn để giúp họ lớn lên trong tình
yêu của Chúa và bảo đảm phần rỗi mai sau. Ơn phù trợ của Chúa
ban qua các bí tích này thật vô cùng cần thiết cho những ai muốn
nên hoàn hảo như Chúa Kitô mong muốn cho mỗi người chúng ta:
“anh em hãy nên hoàn thiện, như
Cha anh em trên Trời là Đấng hoàn thiện.”( Mt 5:
48).
Mặt khác, chỉ có ơn thánh Chúa ban cho
chúng ta qua hai bí tích quan trọng nói trên mới có thể giúp ta
hữu hiệu chống lại những khuynh hướng xấu còn tồn tại nơi mỗi
người chúng ta, và nhất là chống lại mọi cám dỗ của ma quỉ ví
như “sư tử đói đang gầm thét
rảo quanh tìm mồi cắn xé” tức là cướp lấy linh hồn ta
như Thánh Phêrô đã cảnh giác trên đây. ( 1 Pr 5 :8).
Người Kitô Hữu (Christians) ở các Giáo hội
ngoài Công Giáo không thể có kho tàng thiêng liêng quí giá là
các Bí tích này. Họ chỉ có Kinh Thánh, nhưng Kinh Thánh lại
được dịch và cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ hay phản lại
Kinh Thánh tinh tuyền của Giáo Hội như nhóm “Chứng nhân
Jehovah ( Jehovah Witnesses) đã làm.
Đặc biệt, họ không có bí tích hòa giải ,
một bí tích quan trọng mà Chúa Kitô đã ban cho các Tông Đồ
trước tiên và Cho Giáo Hội ngày nay, sau khi Chúa từ cõi chết
sống lại và hiện ra với các ông và nói:
“anh
em tha tội cho ai, thì người ấy được tha -
Anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ.”
( Ga 20: 23)
Các anh em Kitô hữu ngoài Công Giáo cũng
đọc những lời Chúa trên đây, nhưng họ không cắt nghĩa và áp dụng
như Giáo Hội Công Giáo và Chính Thông Giáo. Trái lại, họ cho
rằng chỉ có Chúa tha tội nên họ có xưng tội thì xưng trực tiếp
với Chúa chứ không qua trung gian một người nào. Nhưng họ quên
rằng Chúa Giêsu đã trao quyền tha tội cho các Tông Đồ như lời
Chúa trên đây. Và các Tông Đồ dã trao lại cho những người kế vị
các ngài là các Giám Mục trong Giáo Hội. Các Giám mục lại chia
sẻ quyền này cho các phụ tá thân cận là các linh mục trực thuộc
để thi hánh sứ vụ Tông đồ trong Giáo Hội ngày nay. Ơn ích của bí
tích Hòa giải thật lớn lao, vì nhờ có bí tích này mà con người
được giao hòa lại với Thiên Chúa, được cảm nhận rõ rệt ơn tha
thứ của Chúa qua thừa tác viên con người là Giám mục hay linh
mục. Những ai có thói quen năng xưng tội, nhất là khi mình lỡ
phạm tội gì trọng mà đi xưng tội cách ngay thật thì đều cảm
nhận ơn tha thứ và bình an trở lại trong tâm hồn, một niềm vui
nội tâm mà không một tâm lý gia hay tâm lý trị liệu (
Psychotherapist) nào có thể mang lại cho ai muốn điều trị tâm
bệnh. Các anh chị em ngoài Công Giáo không tin Giáo Hội có
quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô ( In persona Christi) nên họ
không thể cảm nhận được niềm vui và an bình nội tâm, dù cho họ
có trực tiếp xưng tội với Chúa như họ chủ trương. Nghĩa là họ
thiếu hẳn ơn ích thiêng liêng, niềm vui và an bình nội tâm mà
Chúa ban cho các hối nhân qua tác vụ của linh mục cử hành bí
tích hòa giải.
Đành rằng mọi tội phạm đến Chúa thì chỉ có
Chúa tha tội mà thôi. Nhưng Chúa Kitô đã ban quyền tha tội đó
cho Giáo Hội, hay cụ thể, là cho các thừa tác viên có chức Linh
Mục (chia sẻ chức Linh Mục đời đời của Chúa Kitô) là Giám mục
và linh mục, nên ta phải chậy đến với các thừa tác viên này để
xin Chúa tha mọi tội đã phạm vì yếu đuối con người. Mọi linh
mục, dù ai bất xứng đến đâu dưới con mắt người đời, đều có
có thể tha tội hữu hiệu (thành sự =validly) nhân danh Chúa Kitô
( in persona Christi). Nghĩa là chính Chúa Kitô nghe và tha tội
cho ta qua tay một linh mục. Chúng ta cần nhớ kỹ điều này để
an tâm đi xưng tội với bất cứ linh mục nào đang có năng quyền (
faculty) giải tội như đã nói ở trên. Cũng xin giải thích thêm
là, nếu vì lý do nào mà Giám mục tạm rút năng quyền của một
linh mục trực thuộc, hay còn gọi nôm na là “treo chén”(
suspension) thì linh mục đó tạm thời hay vinh viễn không được
phép cử hành các bí tích Rửa tội, Thánh Thể, hòa giải, xức dầu,
chứng hôn..
Ngoài ra, rất cần nói lại ở đây một lần
nữa là Chúa Kitô không ban bí tích Hòa giải cho ta lợi dụng để
cứ phạm tội, rồi lại đi xưng tội. Chúa biết ta còn yếu đuối nên
Người ban bí tích này để giúp ta cố gắng sửa mình và lấy lại
tình thương của Chúa sau khi đã lỡ phạm tội vì yếu đuối con
người, và nhất là bị ma quỷ và thế gian cám dỗ, khiến khó đứng
vững. Nhưng nếu ai không cố gắng sửa mình và nương nhờ ơn Chúa
giúp sức để xa tránh tội lỗi, khiến cứ sa đi ngã lại để di
xưng tội mà không quyết tâm chừa bỏ tội lỗi, thì hãy nghe
lời Chúa nghiêm khắc cảnh cáo sau đây:
“Ta biết các
việc ngươi làm : ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi
ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi ! Nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng
nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta.”
( Kh 3: 15-16)
Chúa rất nhân từ và đầy lòng thương xót,
thứ tha. Nhưng ta không được lợi dụng tình thương quảng đại của
Chúa để đi hàng hai, nửa nóng nửa lạnh. Nếu ta quyết tâm đi theo
Chúa thì Người sẽ ban ơn nâng đỡ để giúp ta nên thánh, một ơn
gọi không dành riêng cho ai trong Giáo Hội mà cho hết mọi tín
hữu đã nhận Phép Rửa và Thêm sức để gia nhập Giáo Hội và trở nên
chi thể của Thân Thể nhiệm mầu Chúa Kitô là Giáo Hội.
Tóm lại, khi xưng mình với người khác ,
nhất là với người ngoại quốc, người Công Giáo phải nói rõ mình
là Tin hữu Công Giáo (Catholic Christian) để không lẫn lộn với
các tín hữn Kitô khác như hàng trăm ngàn các nhánh Tin Lành ở Mỹ
hiện nay. Họ cũng tự xưng là Christians nhưng khác nhau và khác
xa chúng ta về mọi phương diện, từ phương cách phụng thờ Chúa
đến phương thức nhận lãnh ơn cứu độ của Chúa, vì họ không có
những bí tích cứu độ cần thiết như Thêm Sức, Xức dầu, Hòa Giải
và Thánh Thể. Đa số họ chỉ có phép Rửa Rửa (Baptism) mà thôi.
Nhưng Nhóm nào không rửa tội với nước và Công thức Chúa Ba Ngôi
thì việc rửa tội không hữu hiệu hay thành sự (invalid). Do đó,
khi một tín hữu ngoài Giáo Hội muốn gia nhập Giáo Hội Công
Giáo, thì phải hỏi rõ xem họ đã được rửa tội thế nào trong giáo
phái khác để biết xem việc rửa tội đó có thành sự hay không, vì
Giáo hội công nhận phép Rửa của các giáo phái khác nếu họ cũng
rửa bằng nước và công thức Chúa Ba Ngôi.
Cũng vì sự khác biệt giữa các Giáo Hội cùng
tôn thờ Thiên Chúa và nhận Chúa Kitô là Đấng Cứu Chuộc (Savior),
nên các tín hữu của các Giáo hội đó cũng không có chung một
phương thức thờ phượng và thực hành đức tin. Vì thế, người Công
Giáo không thể tự do kết hôn với bất cứ tín hữu của Giáo phái
nào ngoài Công Giáo mà không có phép chuẩn của Giáo quyền địa
phương, cụ thể là Văn Phòng Chưởng Ấn (Chancery) của Tòa Giám
mục. Muốn kết hôn với người khác tôn giáo, (mixed marriage) thì
phía Công giáo phải nhờ linh mục hay phó tế giúp chuẩn bị hôn
phối, xin phép chuẩn (dispensation for disparity of workship)
cho người ngoài Công Giáo để giúp phía Công giáo được tiếp tục
lãnh nhận các bí tích như các tín hữu khác trong Giáo hội. Lại
nữa, theo giáo luật, thì phía không Công giáo phải cam kết cho
con cái được rửa tội và sống đức tin theo cha hoặc mẹ là người
công giáo. Nếu phía không Công giáo từ chối cam kết này thì
không thể kết hôn với người Công giáo được.
Đó là tất cả những điều người Công giáo cần
biết mỗi khi xưng mình cho người khác biết về tư cách tín hữu
của mình trong Giáo Hội, cũng như trong việc giao tế với các anh
chị em Kitôhữu khác ngoài Giáo Hội Công Giáo. Ai tin Chúa Kitô
thì đều được gọi là Kitô hữu (Christians) nhưng Kitô hữu của
Giáo Hội Công Giáo hay Chính Thống thì không phải là Kitô hữu
của các nhánh Tin Lành và Anh Giáo như đã phân tích trên đây.
LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
HỌC NHỎ ĐỂ SỐNG LỚN (CHÚT SUY TƯ
NHÂN NGÀY LỄ CẦU NGUYỆN CHO ƠN THIÊN TRIỆU NAM NỮ TU SĨ)
|
|
Một ngày nọ, vào năm 1975, ngay giữa chợ
trời tấp nập người qua lại nơi cuối đường Trương Minh Ký, Sài
Gòn, thi sĩ "điên" Bùi Giáng thong thả bước đến một cửa hàng bán
phụ tùng xe đạp cũ, lặng lẽ vơ lấy cái "ghi đông" xe rồi
tỉnh bơ bỏ đi như không có chuyện gì xảy ra. Thế là, bà chủ cửa
hàng hoảng hốt, tức tốc chạy nhào ra đường, la toáng um sùm nhờ
thiên hạ bắt "cái thằng ăn cắp." Chẳng cần ai đến bắt,
ông bình thản đi trở lại để trả cái ghi-đông vào chỗ cũ và từ
tốn nói: "Bà con thấy chưa, mất tất cả... mà phải câm, thế mà
mất có cái ghi-đông thì la rầm trời! Kỳ khôi quá!"
Ồ! Nghĩ kỹ lại cũng nực cười cho phận kiếp
người, nhưng sâu sa cũng thấy đáng thương làm sao ấy! Con người
vẫn thường hoảng hốt hay giận dữ khi bị người khác lấy đi những
cái "ghi-đông" của mình, hoặc có người suốt cả cuộc đời chỉ lo
thu lượm mấy cái "ghi-đông", và sẽ trở thành giống như con trẻ
thét rống lên khi bị chúng bạn giật lấy cây cà rem trên tay nó.
Thế giới của người lớn, hiểu theo cách nào đó, cũng chẳng khác
gì trẻ con. Người lớn cũng có những trò chơi cho riêng mình,
cũng muốn chơi, cũng muốn thay đổi những món lạ, món mới... như
xe mới, nhà mới, công việc mới, quần áo mới, đầu tóc mới, tương
quan mới, và thậm chí, cả vợ mới, chồng mới... Nếu không được
toại nguyện thì bực dọc, điên tiết... Tại Bắc Ninh (Miền Bắc)
Việt Nam vừa qua, một ông chồng đã lấy búa đập liên tiếp vào đầu
vợ khiến vợ chết ngay lập tức chỉ vì vợ không cho ông đi hát
quan họ. Một người anh ở Vĩnh Long đã giết đứa em gái chỉ vì một
miếng cá bị mất trên mâm cơm... Rồi nhiều cái chết, nhiều xung
đột vẫn đang xuất phát từ những nguyên nhân rất bé nhỏ, thậm chí
rất nực cười. Xét cho cùng, nếu có dịp dừng chân lại một chút để
ngắm nhìn thế giới người lớn, chúng ta không khỏi buột miệng
cười thầm, hay bật tiếng ha...ha..... vì hình như mọi cử chỉ,
lời nói đều rất trẻ con! Các nhà nghiên cứu tâm lý học ngày nay
cũng cho thấy điều đó.
Nhưng, nếu quan sát thật sự thế giới của
trẻ con, thì hình như chúng ta không khỏi giật mình, vì xem ra
trẻ con lại dạy người lớn chúng ta rất nhiều bài học vô giá thì
phải.
Dành trọn một buổi chiêm ngắm bầy trẻ đang
nô đùa tung tăng cùng nhau, chúng ta không khỏi cảm thấy xấu hổ
khi nhìn lại bản thân người "lớn" của mình. Người lớn chúng ta
không sống được như chúng. Người lớn chúng ta đang rất nghiêm
nghị, đang rất đạo mạo, đang rất ư là trầm trọng hóa vấn đề. Chỉ
khi chúng ta trở thành cụ ông cụ bà thì mới thấm thía cái lẽ
tương đối trên cõi đời này! Vậy mà chúng ta vô minh hoang phí cả
đời để trở thành người càng lớn càng tốt, càng muốn là người lớn
thì chúng ta lại càng phải hết mình hết trí khôn để diễn trọn
vai nghiêm túc và trầm trọng.
Thế giới của người lớn chúng ta đang quá
nặng nề và căng thẳng! Nhất là những ai làm lớn một chút, thường
hay trầm trọng hóa mọi vấn đề, vì vậy người làm lớn thường "phải
bận" suốt, cho dù có đi nghỉ ngơi cũng nói là bận việc, là không
có thời gian... Chẳng có giám đốc nào, bác sĩ nào, nhân viên cao
cấp nào, hay một cha xứ nào dám treo bảng nơi làm việc của mình
là "tạm đóng cửa 1 tuần để xả hơi." Thì ra nghỉ ngơi là một tội,
thì ra nghỉ phép đi du lịch là không ổn...! Cũng như là thông lệ
khi những ai đã làm ra nhiều tiền thì càng "phải bận bộn". Ngày
nay, khi quan sát khắp nơi, hầu hết con người sống và đánh giá
nhau theo hiệu năng và hiệu quả. Người càng làm ra nhiều tiền
càng có tiếng nói, là tiếng nói mà có vẻ như "luật bất thành
văn" vốn hầu hết mọi người hoan hô vỗ tay, cho dù tiếng nói ấy
rất tầm thường hoặc thậm chí vô cùng sáo rỗng. Cũng thế, con
người vẫn đang chọn bạn mà chơi, chọn đối tác mà làm ăn theo não
trạng sàng lọc như thế. Thấy rõ nhất là trong một nơi làm việc
mà có nhiều sắc tộc khác nhau, chúng ta sẽ thấy rõ trắng chơi
với trắng, đen nói chuyện với đen, mũi tẹt quây quần cùng mũi
tẹt... Ngay cả trong các nơi thờ phượng tôn giáo - nơi để yêu
thương đại đồng, để hiệp nhất cầu nguyện - cũng không tránh được
sự phân biệt nào đó nơi các tín đồ. Nếu vậy, trong Kinh Lạy Cha,
thì phải đọc là "Lạy Cha của con ở trên Trời" và Kinh Lạy
Cha sẽ không còn cầu nguyện với một Cha duy nhất nữa, mà sẽ
nhiều "Cha ở trên Trời" !
Sân chơi ở trường tiểu học là trường dạy cho người "lớn" nhiều
bài học vô giá. Nơi đó, các trẻ em dù với các màu da trắng đen
vàng nâu đều đùa vui và tung tăng cùng nhau một cách hồn nhiên
vô tư. Còn sân chơi của người "lớn" thì chẳng phải là sân chơi
thật sự, nhưng mà là những chiếc mặt nạ che đậy cả khối hiềm tỵ,
cạnh tranh, tiêu diệt, thống trị, danh lợi,... Trẻ con không
phân biệt, không nghiêm túc và đạo mạo như người lớn. Thế giới
của chúng là vui nhộn và hồn nhiên hiệp nhất. Chúng không ý niệm
kẻ thù. Ai biết vui đùa đều có thể là bạn của chúng. Hình như
người "lớn" không có can đảm như trẻ con, vì chúng có sao nói
vậy, chúng nghĩ sao tỏ bày ra thế, chúng có thể chơi với rắn, bò
cạp mà không bị giết chết!
Thế giới người lớn ngày nay đang gặp quá
nhiều trục trặc, quá nhiều những con người lủng củng do "phản
ứng phụ" của nền khoa học kỹ thuật hiện đại gây ra, nên con
người cứ phải vừa thúc đẩy hiện đại hóa tất cả nhưng đồng thời
cũng vẫn chữa lành theo kiểu đắp vá những lỗ hổng do chính sự
hiện đại đó nảy sinh. Chẳng hạn, càng có nhiều bộ máy cao cấp,
càng nảy sinh nhiều căn bệnh thể lý và tinh thần kéo theo, như
cell-phone, Ipad, vi tính, máy điều hòa nhiệt độ...
Thiết tưởng, bài thơ Nơi Gặp Gỡ Tuyệt
Diệu của Trẻ Em của đại thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore
xem ra càng lúc càng là bài học thức tỉnh cho người lớn hôm
nay:
Trẻ em gặp nhau trên bờ biển của các thế
giới mênh mông vô tận.
Bên trên, bầu trời bao la, trong xanh và
bất động. Bên dưới, nước không ngừng chuyển động lao xao. Trên
bờ biển của các thế giới mênh mông vô tận, trẻ em gặp nhau, chạy
nhảy và la giỡn.
Chúng xây những ngôi nhà cát và chơi với
những vỏ sò trống rỗng. Chúng kết những chiếc lá úa thành những
con thuyền và vui cười thả trên biển bao la. Trẻ em chơi trên bờ
biển của các thế giới mênh mông vô tận.
Chúng không biết bơi, cũng chẳng biết quăng
lưới. Những người thợ lặn xuống biển mò ngọc trai, còn những nhà
buôn xuôi ngược tàu thuyền, trong khi trẻ em lượm những hòn sỏi
rồi lại ném đi. Chúng không tìm kiếm kho báu, cũng chẳng biết
quăng lưới.
Biển dâng lên thành tiếng cười rộ, còn bãi
cát ánh lên nụ cười. Sóng dữ ì ầm những khúc hát vô nghĩa như
tiếng hát ru của người mẹ lúc đưa nôi. Biển chơi đùa với trẻ em,
còn bãi cát ánh lên nụ cười.
Trẻ em gặp nhau trên bờ biển của các thế
giới mênh mông vô tận. Bão tố lang thang trên bầu trời không
lối, thuyền bè bị đánh đắm trên biển cả không đường. Thần tử ở
khắp nơi, còn trẻ em cứ mải chơi đùa. Trên bờ biển của các thế
giới mênh mông vô tận là nơi gặp gỡ tuyệt vời của trẻ em.
(Rabindranath Tagore - Gitanjali)
Con trẻ vui đùa với những nhà cát chúng làm
ra, chúng múa nhảy hát ca chung quanh những thành quả của chúng,
thế rồi chợt một cơn sóng ập đến và chỉ tích tắc chỗ ấy trở
thành là một bãi cát phẳng lỳ không một dấu hiệu của thành quả
nào nữa. Rồi bọn trẻ òa lên cười vui và lại cúi xuống xây
tiếp... Biết rằng chỉ là dã tràng xe cát biển đông, nhưng bọn
trẻ vẫn vui đùa và thật hạnh phúc bên thành quả "dã tràng" ấy.
Trong khi chúng hòa nhập vào thiên nhiên, vào những gì là sức
sống trời cho thì người lớn lại hòa nhập vào thế giới của sự
chết, là những máy móc đang không ngừng phát ra các loại sóng
điện tử, từ trường và những bức xạ xấu. Từ đây, vì thế, người
lớn chẳng còn nhạy cảm về những sinh linh bé nhỏ đang làm tổ
trên cành cây, chẳng còn rung động trước ngọn cỏ đang cúi rạp
xuống cơn gió thoảng, chẳng còn ngạc nhiên trước một con kiến
đang vác đồng loại trên miệng để đưa về tổ... Thế rồi, dĩ nhiên
sẽ không còn cảm động trước một giọt máu đang lớn dần thành
người mỗi phút giây trong dạ mẹ...!
Trẻ thơ là đùa vui. Đùa vui có nghĩa là
quên quá khứ và dừng nghĩ về tương lai. Vậy, đùa vui chính là
sống hiện tại. Trong bữa cơm gia đình nọ, khi mọi người lớn đang
tranh luận về đề tài: "Ai sẽ là người ứng cử tổng thống Mỹ nhiệm
kỳ tới?" Cuộc tranh luận rất sôi nổi và thậm chí có những lúc
gay cấn. Tất cả mọi ý kiến và dự đoán đều xoay quanh về chiến
tranh I-rắc, về kinh tế Mỹ vừa qua, về những cuộc bạo động hay
khủng bố Tòa Tháp Đôi... Phút chốc, bầu khí trong bữa ăn trở nên
căng thẳng và xung đột. Bất ngờ, một cậu bé 4 tuổi từ ngoài
vườn, hai bàn tay ôm cẩn thận một chó con đang ngủ, chạy vào đến
bên cha cậu đang tranh luận tại bàn ăn: "Ba ơi, Baby bị bệnh
rồi!" Thế là, giờ đây cậu trở thành sự chú ý của tất cả mọi
người lớn. Và đề tài là cậu bé và con chó đang bệnh. Cậu bé 4
tuổi như trở thành bậc thầy đưa tất cả người lớn về với quà tặng
sự sống, về với hiện tại.
Vâng! Nghiệm lại trong một ngày sống,
chúng ta thường nói nhiều hơn, tranh cãi nhiều hơn, phê phán
nhiều hơn... nhưng lại rất ít hoặc không có giờ để chiêm ngắm,
để quan sát, để chiêm niệm, và để thinh lặng. Có lẽ người lớn
chúng ta cũng cần dành cho cuộc đời mình những thời khắc lắng
đọng như dòng nhạc với những dấu lặng làm cho nội dung bản nhạc
thêm sâu lắng và chuyển tải những gì nhạc sĩ mong muốn. Một bản
nhạc không có dấu lặng hay những bài hát liên khúc sẽ chỉ là
những tiếng ồn tra tấn làm cho thính giả thêm mệt mỏi và dễ
khùng điên. Đúng vậy, thời đại hôm nay chính là bài "hét" liên
tục không có dấu chấm nghỉ!
Đã đến lúc, mỗi người lớn chúng ta tạm dừng
chân đôi chút, dù đang quằn qụai giữa dòng thác cuồn cuộn của
cơm áo gạo tiền, của tranh đua hơn thiệt, để trở về với cõi thật
- là quê nhà ấm êm và chất chứa ngập tràn yêu thương mà ai ai
khi đã làm người cũng đều khát khao. Tạm dừng nghỉ làm người lớn
trong phút chốc, để thấy được cái lung linh dịu vợi của quà tặng
Thiên Chúa đang diễn ra từng giây phút cho hết thảy mọi người
trên hành tinh này, mà bao lâu nay chúng ta đã đánh mất hoặc
không muốn nhìn thấy, đó là Thiên Chúa - Chúa Tể Đất Trời - đang
rất lặng lẽ ở với nhân loại qua cử chỉ giản dị và sâu lắng, là
Bữa Tiệc Bẻ Bánh, Ngài đang mong mỏi nuôi sống con người vốn đói
khát từ thẳm sâu lòng mình. Chỉ có Ngài, Đấng mới có thể lấp đầy
mọi nỗi trống vắng lòng người, mới có thể làm no thỏa cơn đói
khát khôn nguôi của kiếp nhân sinh.
Lạy Chúa Giêsu, hơn lúc nào hết, xin cho
thế giới ngày hôm nay cảm nhận được quà tặng dịu vợi nhất trên
tất cả mọi quà tặng và vinh quang trần gian, đó là Chúa trở
thành Thịt và Máu qua tấm bánh nhỏ bé đơn sơ sau khi đôi bàn tay
linh mục đọc lời truyền phép.
Vâng, lạy Cha chúng con ở trên trời, hãy
thương xót tất cả chúng con vì cuộc khổ đau của Chúa Giêsu, để
chúng con nhận ra rằng thế giới đang càng ngày bất ổn và có
nhiều lủng củng trên mọi bình diện cuộc sống, do con người thời
đại đang xây cho mình những "xe cát biển đông", đang nắm giữ và
bảo vệ những chiếc "ghi-đông" của đời mình, do càng ngày con
người hôm nay đang làm cho mình "lớn" dần, không còn muốn chân
nhận giá trị vô giá và cao cả - trong hình ảnh thật là khiêm
cung nhỏ bé là nam nữ tu sĩ - của ơn gọi thánh hiến và ơn gọi
làm cho bánh và rượu trở thành Mình và Máu Thánh Chúa, để dưỡng
nuôi hành tinh vốn đang quằn quại trong cơn đói khát sự sống
trường sinh.
"Bà con thấy chưa, mất tất cả... mà phải
câm, thế mà mất có cái ghi đông thì la rầm trời! Kỳ khôi quá!"
Thương lắm, những con người "lớn" ngày hôm nay!
Xin Cha thương xót chúng con và toàn thế
giới, để quà tặng của Cha vẫn ở mãi với hành tinh chúng con qua
ngày càng thêm nhiều bạn trẻ nam nữ can đảm sống đời thánh hiến.
Amen.
Lm. Raphael Amore Nguyễn
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
MỘT GIÁM MỤC SO SÁNH CHÍNH SÁCH
CỦA OBAMA VỚI ĐỨC QUỐC XÃ VÀ CỘNG SẢN
|
|
Thứ Ba, 17
tháng Tư, năm 2012 20:04 * Newsmax
Một giám mục
tại TB Illinois, Hoa Kỳ, vào cuối tuần qua đã tức giân kết án
Tổng Thống Obama về " chương trình ủng hộ phá thai và chủ
trương tục hóa cực đoan của ông". Ngài đã so sánh tư cách lãnh
đạo của ông Obama với các nhà độc tài Adolf Hitler và Josef
Stalin. Ngài kêu gọi người Công Giáo bỏ phiếu chống lại ông
Obama.
"Mùa thu này,
mọi người Công Giáo chân chính phải tham gia bầu cử, và phải bỏ
phiếu theo lương tâm Công Giáo của mình, nếu không thì trước mùa
thu năm tới, các trường học Công Giáo, các bệnh viện Công Giáo,
các Trung Tâm Newman Công Giáo, tất cả các công trình mục vụ
công cọng của chúng ta - chỉ trừ các nhà thờ của chúng ta – đều
có nguy cơ bị đóng cửa dễ dàng. " Đức Giám Mục Daniel Jenky của
GP Peoria đã tuyên bố như trên tại một buổi hội họp dành cho nam
giới Công Giáo ngày thứ Bảy vừa qua (theo tin tức của cơ quan
LifeSiteNews.com).
Ngài nói
tiếp, “Bởi vì sẽ không có tổ chức Công Giáo nào, dưới bất kỳ
hoàn cảnh nào, có thể hợp tác với ác quỷ thực chất nhằm chủ
trương giết hại thai nhi vô tội trong bụng người mẹ"
(LifeSiteNews tường thuật).
Đức Giám Mục
Daniel Jenky cảnh giác rằng bởi vì một sắc lệnh của tổng thống
nhằm ép buộc những người Công Giáo chủ hảng xưởng phải tài trợ
cho các biện pháp ngừa thai, triệt sản, và các loại thuốc phá
thai, cho nên nước Mỹ đang đi vào con đường dẫn đến tình trạng
giống như các chế độ độc tài trong quá khứ khi mà các Kitô hữu
đã buộc phải "vội vàng trốn chui trốn nhủi," như thời Hitler
của Đức Quốc Xã, và Stalin của Cộng Sản.
Đức Cha Jenky
nói, “Hitler và Stalin, ở những giai đoạn dễ thở hơn, chỉ nương
tay chút đỉnh cho một số nhà thờ còn được mở cửa, nhưng tuyệt
đối không dung thứ bất kỳ thứ cạnh tranh nào với nhà nước trong
lĩnh vực giáo dục, các dịch vụ xã hội, và chăm sóc sức khỏe."
Ngài nói
thêm, "Rõ ràng đây là một hành động vi phạm quyền lợi chúng ta
vốn được ghi trong Tu Chính Án thứ Nhứt, ông Barack Obama với
chủ trương cấp tiến cực đoan, triệt để ủng hộ phá thai, xem ra
đang có ý muốn theo đuổi con đường độc tài tương tự.
Trong khi các
Kitô hữu có thể bị thảm bại trong cuộc chiến chống lại sắc lệnh
của ông Obama, các giám mục đã nhấn mạnh rằng "trước tòa án xét
xử đáng kính sợ của Thiên Chúa Toàn Năng đây không phải là một
cuộc chiến tranh mà bất kỳ người Công Giáo nào có đức tin lại
chọn thái độ dững dưng, thờ ơ.”
"Không có mục
vụ Công Giáo – và, thưa Tổng Thống, có chứ! Đối với người Công
Giáo các trường học và bệnh viện của chúng tôi là công tác mục
vụ. Không mục vụ Công Giáo nào có thể trung thành với Uy Quyền
của Chúa Kitô Phục Sinh và với Phúc Âm Vinh Hiển của Cuộc Sống
nếu họ bị ép buộc phải trả tiền cho các vụ phá thai,"
Ngài nói:
“Người tín hữu không thể là người Công giáo do ngẫu nhiên nữa,
mà là người Công giáo với niềm tin xác tín."
Đức GM Jenky
nói tiếp, "Những chuổi ngày mà chúng ta đang sống bây giờ đòi
hỏi phải có đạo Công Giáo anh hùng, chứ không phải đạo Công Giáo
vô trách nhiệm . "Trong gia đình riêng của chúng ta, trong các
giáo xứ của chúng ta, nơi chúng ta sống và nơi chúng ta làm việc
- giống như thế hệ tông đồ tiên khởi ấy - chúng ta phải là những
chứng nhân can trường của Quyền Uy Chúa Giêsu Kitô. Chúng ta
phải là một đạo binh những người Công Giáo không hề sợ hãi, luôn
sẵn sàng cho đi tất cả mọi thứ chúng ta có cho Thiên Chúa, mà
chính Người đã cho mọi thứ để cứu rỗi chúng ta. "
(Lê Thiên
& Lê Tinh Thông viết dựa theo bản tường trình của Thông Tấn
Xã Newsmax.)
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
TÔI
ĐÁNH MẤT TÔI...
|
|
Tôi sinh ra vốn tay không,
trần trụi
Một ngày nào tôi tay trắng ra đi
Của cải trần
gian khi ấy ích gì?
Càng giầu có tôi
càng đau lòng lắm!
Lúc tuổi trẻ -
Tôi chất thuyền thật khẳm
Bởi tiện tằn -
Tôi chắt bóp từng xu
Nhưng rồi rong
chơi - Tôi đã chu du
Khắp biển rộng
sông dài - Âu Á Mỹ!
Cuộc sống của
tôi toàn là vị kỷ
Tôi thừa dư
nhưng tích của làm giầu
Người nghèo bần
tôi có nhớ gì đâu
Tôi không giúp,
không hề cho một cắc!
Những của cải dù
trong kho rất chắc
Nhưng một ngày
rồi chúng cũng ra đi
Chứng khoán
tiêu, nhà cửa xuống bởi vì
Cả hoàn cầu nạn
suy trầm kinh tế!
Cuộc đời tôi rồi
trở nên tồi tệ
Lại tuổi già tôi
đau ốm luôn luôn
Ngẩng nhìn trời
đôi dòng lệ rơi tuôn
Tôi đã sống xa
hoa và ích kỷ!
Rồi nay mai lìa
đời tôi tự huỷ
Những gì là đáng
lẽ giúp cho tôi
Quá tham lam tôi
đã sống tệ tồi
Đã phí uổng cả
kiếp người hoa gấm!
Đã bao lần nghe
lời Ngài thương nhắn
- Con hỡi con,
hãy kính Chúa, yêu người
Của đời sau, con
cất ở trên trời
Là giúp đỡ, ủi
an người cùng khổ!
Làm bác ái không
bao giờ sợ lỗ
Làm cho người là
con làm cho Cha!
Nhưng hồn tôi
chai đá, chẳng thiết tha
Tôi đánh mất
tình yêu thương của Chúa!
Giờ lâm chung
linh hồn tôi ngập ngụa
Bao âu lo, bối
rối lẫn chán chường
Nếu tôi biết tìm
ra một con đường
Những phút chót
cuộc đời, đâu đến nỗi!
Giờ lâm chung dù
rằng tôi thống hối
cũng muộn màng
bởi mọi chuyện đã xong!
Tôi sống như một
kẻ quá thân vong
Đánh mất mình,
không bao giờ tìm thấy!
Bút Xuân Trần
Đình Ngọc
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Hành-trình vô-thần của Karl Marx khi còn thanh-niên qua những
sách đọc tham-khảo về tôn-giáo (tiếp theo) |
|
Gs. Trần Văn Toàn
Bài đăng ở
tập san Định Hướng
1. Marx đọc
sách các triết-gia thời thượng cổ
Chính vì đã chọn cái đề-tài
luận-văn tiến-sĩ về triết-học đời thượng-cổ, cho nên Marx quen-thuộc với sách vở
thời đó. Nhưng dĩ-nhiên là ông không đọc hết. Những triết gia có tiếng là vào
hạng lớn thì kể là ông không đọc bao nhiêu, nhưng chỉ đọc mấy người tiêu-biểu
cho các học-phái Êpicur, học-phái Stoa (ta hay gọi là khắc-kỷ) và học-phái
hoài-nghi. Ngược lại quan-niệm của Hegel, Marx cho rằng mấy học-phái đó đứng vào
chỗ then-chốt của lịch-sử triết-học Hi-lạp ,
cho nên trong luận-văn, ông báo trước là sẽ dành cho mấy triết-gia đó một thiên
khảo-luận quan-trọng hơn. Nhưng ông không bao-giờ làm truyện đó.
Không phải là vô-lý mà ông
chọn hai triết-gia Đêmôcrit và Êpicur. Sau khi bỏ đại-học Bonn để đi Berlin,
Marx có viết cho phụ-thân một bức thư, đề ngày 10-11-1837, trong đó ông cho biết
là ở Berlin sau khi Hegel tạ-thế thì giới đại-học vẫn còn sặc mùi duy-tâm, cho
nên các bài thơ mà ông làm lúc đó cũng duy-tâm như thế. Có lẽ vì muốn bước ra
ngoài cái khung cảnh độc-tôn duy-tâm của triết-lý về tinh-thần, mà ông tìm lối
thoát theo phương-hướng duy-vật của triết-lý về thiên-nhiên. Nhưng đi theo hướng
đó tức là làm quen với những hệ-thống tư-tưởng khác hẳn những điều ông đã học
được ở trường trung-học về Thiên-Chúa tạo thiên lập địa và có mối thân-tình
riêng với nhân-loại .
Thế nhưng dù có thay đổi
chí-hướng thì Marx vẫn còn đi từ-từ. Đây là một đoạn ông viết trong bài luận về
tôn-giáo trong kỳ thi tú-tài :’’Kết-hợp với Chúa Cứu-thế làm cho người ta được
cái hạnh-phúc, mà học-phái Êpicur không tìm ra được trong cái triết-học nông-cạn
của họ, mà dù nhà tư-tưởng thâm-thúy nhất có lục-soát kỹ trong cái hiểu biết của
mình, cũng không thấy được. Cái hạnh-phúc ấy, chỉ những tâm hồn đơn-sơ như trẻ
thơ, kết-hợp với Chúa Cứu-thế và nhờ ngài được kết-hợp với Thiên-Chúa, mới cảm
nghiệm được. Nó làm cho đời người thêm đẹp và thoát tục hơn’’
.
Những câu đó có vẻ còn là
bài vừa học thuộc lòng xong, và Êpicur thì vẫn chưa được đánh giá cao. Như thế
ta chưa biết rõ cái niềm thâm-tín của Marx lúc đó ra sao. Vì lẽ rằng cũng trong
kỳ thi tú-tài đó, khi viết bài luận bằng tiếng Đức, thì Marx không nói gì đến vị
Thiên-Chúa, mà chỉ nói trông-trống về thần-linh, và ngụ-ý rằng linh-hồn người ta
là một tàn lửa của thần-linh . Cho
nên có thể nói mà không sợ lầm rằng : vào thời đó, nhất là trong khi đang soạn
luận-văn, Marx vẫn còn đang học-hỏi tìm-tòi. Những điều học biết được về đạo
Thiên-Chúa sẽ được đem ra so-sánh với học-thuyết duy-vật và học-thuyết hoài
nghi.
Trong khi tìm tòi như thế,
trước tiên là Marx đọc sách của Điogênê và Plutarch, để biết đại-khái về tiểu-sử
và tư-tưởng của hai tác-giả mà ông nghiên-cứu là Đê-mô-crit và Ê-pi-cur. Sau đó
thì đọc nhà tư-tưởng hoài-nghi Sextus Empiricus và nhà tư-tưởng duy-vật
Lucretius. Và sau cùng thì đọc Seneca, triết gia khắc-kỷ, đọc Gio-an Stobê,
Clêmentê quê ở Alexandria, và Cicero. Còn riêng Aristotêlês là đỉnh cao của
triết-học Hi-lạp, thì Marx cũng có tham khảo qua loa, nhưng không thấy triết-gia
này có ảnh-hưởng gì tới con đường tiến-triển của ông.
Những đoạn văn mà Marx chép
lại từ sách các tác-giả trên-đây và các ghi-chú của ông đều nằm tất cả trong bảy
Cặp vở ghi-chú về triết-học của Êpicur. Marx làm công-việc so-sánh
đối-chiếu triết-lý về thiên-nhiên của các học-thuyết duy-vật, khắc-kỷ và
hoài-nghi, trước hết là theo quan-điểm chủ-thể và quan điểm tự-do của Hegel, và
sau đó là theo quan-điểm tôn-giáo. Quan-điểm sau mới là ở trong phạm-vi
nghiên-cứu của bài này.
Trước tiên ta sẽ xem Marx
phê-bình tôn-giáo như thế nào trong luận-văn tiến-sĩ.
1.1 -
Marx phê-bình tôn-giáo như thế nào trong luận-văn tiến-sĩ
Ngay trong phần dẫn-nhập của
luận-văn, Marx đã tuyên-bố lập-trường của ông một cách thật là rõ-rệt. Ông
viết :’’Bao lâu còn một giọt máu lưu-thông trong quả tim tự-do và làm chủ được
thế-giới, thì triết-học vẫn còn ném vào mặt các đối-thủ tiếng hô to của
Êpicur :’’Bất-kính thần-linh không có nghĩa là phủ-nhận thần-linh, nhưng là gán
cho thần-linh những điều mà quần-chúng tin theo’’. Triết-học không phải
giấu-giếm gì cả, triết-học theo y như niềm tin đã được Promêthê tuyên-bố :’’Nói
tắt một câu, tôi ghét tất cả các thần-linh’’. Đó là châm-ngôn mà triết-học đưa
ra để chống lại những thần-linh trên trời dưới đất không biết nhìn-nhận rằng cái
ý-thức của con người ta mớí là thần-linh tối cao. Không gì có thể tranh chỗ được
với ý-thức đó’’ .
Lời tuyên-bố của Marx thật
là có tính-cách hùng-biện của người muốn ăn to nói lớn. Nhưng chứng-lý không
thấy chính-xác và có mạch-lạc là bao nhiêu, cho nên cũng vì thế mà khó
thuyết-phục được độc-giả. Thực thế, một là Marx lầm tưởng rằng Êpicur đã
phủ-nhận các thần-linh, nhưng sự thực thì khác, như ta sẽ nói sau đây ; hai là
nếu ta coi cái ý-thức của con người là thần-linh tối cao, và nhân danh ý-thức ấy
để phủ-nhận các thần-linh, thì rõ ràng là ta chưa thoát được ra ngoài lập-trường
duy-tâm của Hegel. Cho nên ngay từ đầu luận-văn, độc-giả đã có đủ lý-do để
nghi-ngờ rằng lập-luận chưa xác-đáng, và tư-tưởng trong chính cái luận-văn cũng
chưa có thống-nhất, và còn cần phải suy-nghĩ chín-chắn hơn một tí nữa. Hơn nữa,
Chuyên-gia về Marx là Rubel cũng cho ta biết là chính Marx cũng đã nói rằng cái
luận-văn ấy đã được thực-hiện ‘’vì lý-do chính-trị hơn là vì lý-do triết-lý’’
.
1.1.1 - Lập luận chưa
xác-đáng
Lập-luận chưa xác-đáng là vì
còn lẫn-lộn các phạm-vi và các loại ngôn-từ.
Đây là một trong nhiều đoạn
văn tiêu-biểu cho lối làm việc của Marx, nó nằm trong phần khảo-luận về Êpicur
(trong phần thứ hai, đoạn thứ năm, bàn về khí-tượng). Marx viết : ’’Thực vậy,
chúng ta đã thấy tất cả triết-lý của Êpicur về thiên-nhiên đều tựa vào sự
đối-lập (Antinomie) giữa bản-thể và hữu-thể, giữa hình-thể và chất-thể. Nhưng
trong các tinh-tú trên trời thì cái mâu-thuẫn đó đã được phế bỏ, những
yếu-tố đối-lập đã dược hòa-giải. Trong hệ-thống ở trên trời thì chất-thể đã tìm
lại được hình-thể của nó, và lãnh-nhận được tính-cách đặc-thù, và thành ra
yếu-tố tự-lập. Tuy nhiên, đến mức đó, chất-thể (hay là vật-chất) không
còn phải là sự khẳng-định của cái ý-thức trừu-tượng. Còn trong thế-giới
các nguyên-tử, cũng như trong thế-giới các hiện-tượng, thì hình-thể chống lại
chất-thể, cái nọ phá hủy cái kia, và chính trong cái mâu-thuẫn đó mà cái
ý-thức trừu-tượng của cá-nhân cảm-nghiệm được cái bản-tính đã được khách-thể-hóa
của nó. Cái hình-thể trừu-tượng đã chống lại cái chất-thể dưới hình-thức vật
chất, đó chính là cái ý-thức. Nhưng bây giờ thì cái chất-thể đã được
hòa-giải với cái hình-thể và đã chuyển thành cá-thể, cho nên cái tự-kỷ ý-thức
(Selbstbewusstsein) đã như con nhộng ra khỏi tổ kén, tự cho mình là nguyên-tắc
chân-chính và chống lại cái yếu-tố đã thành ra tự-lập, yếu-tố đó là
thiên-nhiên’’ .
Đoạn văn này đọc bằng tiếng
Đức đã khó hiểu, mà dịch ra tiếng Việt còn khó hiểu hơn nữa, nhất là đối với
những ai chưa quen với chuyên-ngữ của trìết-học cổ-điển Âu-châu nói chung, và
của Hegel nói riêng. Những ai đã quen với lối hành-văn của Marx trong các bài và
sách nghiên-cứu về kinh-tế hay là bút-chiến về chính-trị, càng ngạc-nhiên, không
thể ngờ Marx lại dùng ngôn-ngữ như thế. Hơn nữa, triết-lý của Êpicur thường là
dễ hiểu, nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên ta thấy được trình-bày một cách thật là
lúng-túng khó hiểu. Cái đó là vì người ta (Marx) gò bó cái triết-lý duy-vật về
thiên-nhiên, bắt nó phải mặc bộ áo chẽn của hệ-thống biện-chứng duy-tâm của
Hegel.
Thực thế, giới đại-học ở
Berlin thời đó đều quen ăn nói theo kiểu Hegel như thế. Marx đã ghi tên học tại
Berlin và, lúc ông mới 19 tuổi, nghĩa là hai năm trước khi bắt đầu soạn
luận-văn, ông viết thư cho phụ-thân :’’Trong lúc không được khỏe, con đã học
triết-lý của Hegel từ đầu đến cuối, đồng thời học của đa-số các đồ-đệ của ông
nữa’’ . Ai đã biết tác-phẩm của
Hegel mênh-mông như thế nào, tất sẽ phải ngạc-nhiên, không biết Marx tìm đâu ra
thì-giờ mà đọc được nhiều như thế. Nhất là khi biết rằng ngoài việc học
triết-học, Marx còn ghi tên học luật-khoa, đồng thời còn làm thơ và viết mấy vở
kịch nữa. Ngày nay tác-phẩm của Hegel còn làm cho những người lão-luyện phải đau
đầu nhức óc, cho nên có thể phỏng-đoán rằng đọc nhiều và mau như thế, dù có
thần-trí đi nữa cũng rất dám ‘’bội-thực’’.
Ngôn-từ trong đoạn văn
trích-dẫn trên đây đều là chuyên-ngữ của triết-lý Hegel. Ví dụ như những
từ-ngữ : mâu-thuẫn (Widerspruch), phế-bỏ (aufheben), hòa-giải (versöhnen),
hình-thể (Form), chất-thể (Materie), đặc-thù (Einzelheit), tự-kỳ ý-thức
(Selbstbewusstsein), khách-thể-hóa (vergegenstảndlichen). Nếu Êpicur đọc
đoạn văn ấy, chưa chắc đã có thể nhận ra là triết-lý của mình.
Tôi trộm nghĩ rằng khi Marx
cố-tình đem bộ áo của Hegel mà mặc cho Êpicur, thì ông có ý làm một việc
nhất cử lưỡng tiện : một đàng thì tựa vào lập-trường duy-vật, để chủ-trương
rằng cái gì không phải là vật-chất thì không thể có được ; một đàng thì bám vào
cái tự-kỷ ý-thức của duy-tâm, để tuyên-bố rằng ngoài cái ‘’tâm’’ ra thì không có
cái gì hết. Nếu cùng một bước có thể đi được vào cả hai đàng, thi có thể
minh-chứng rằng ngoài cái ‘’tâm’’ và vật-chất ra, thì không thể có Thiên-Chúa.
Nhưng thử hỏi có thể đi cả hai đàng như thế được không ?
1.1.2 - Quan-niệm vô-thần
duy-vật
Từ thời thượng-cổ Êpicur đã
được tiếng là người vô-thần. Khi giải-thích vũ-trụ, ông chỉ dùng đến các
nguyên-tử, có hình-hài, có vị-trí và có lối di-chuyển khác nhau, mà không cần
đến thần-linh. Trái lại quan-niệm của thời thượng-cổ, Êpicur không còn coi
tinh-tú trên trời là các vị thần-linh nữa. Lucretius đã theo lập-trường đó.
Marx cũng đi theo. Ông viết :’’Êpicur là một người soi đường, là một người
Hi-lạp quan-trọng chủ-trương khai-minh (Aufklảrer). Cho nên đáng được
Lucretius tán-tụng như sau : ‘’Ai nấy đều thấy, nhân-loại bị tôn-giáo đè bẹp,
kéo lê trên mặt đất này một cuộc đời khốn-nạn. Tôn-giáo đem bộ mặt ghê-sợ từ
trên trời chiếu xuống đe dọa người ta. Trong lúc đó thì có một người đầu tiên,
một người Hi-lạp, dám đưa mắt nhìn ngược lên và chống-cự với nó. Các truyện
thần-tiên bày vẽ, sấm sét trên trời dọa-dẫm, thay vì làm cho người đó lùi bước,
thì lại càng làm cho thêm can-đảm (...) Chính vì thế mà đến lượt tôn-giáo bị
đánh đổ, còn chúng ta thì được vinh-quang đưa lên tận trời’’
.
Thế nhưng sự thật đâu có
đơn-giản như thế. Theo lý mà xét thì việc từ chối không nhận tinh-tú là
thần-linh, không có nghĩa là từ chối tất cả các thần-linh. Trong cuốn sách
Êpicur và các thần-linh của ông ,
học-giả André-Jean Festugière đã trình-bày học-thuyết của Êpicur một cách tỉ-mỉ
và tế-nhị. Tác-giả cho biết rằng người Hi-lạp đời thượng-cổ tin rằng có các
thần-linh điều-hành các công-việc của nhân-loại. Niềm tin đó làm cho họ lo-lắng
sợ-hãi. ‘’Đối với không biết là bao nhiêu người, tôn-giáo đè nặng trên tâm hồn
của họ, như là một cái ách nô-lệ’’ và ‘’ quần-chúng bám chặt vào thần-linh, để
rồi cứ bị tù-túng trong cái vòng sợ-hãi và hi-vọng’’
. ‘’Vì thế cho nên người ta sợ
thần-linh, sợ thần-linh giận-dữ và báo thù những người đã quá cố. Đó là những
yếu-tố rất quan-trọng trong tôn-giáo người Hi-lạp’’
.
Theo như Êpicur quan-niệm
thì ‘’Tất cả những điều không tốt đều là do quan-niệm sai-lầm về thần-linh. Bài
thuốc chữa cái bệnh đó, tức là quan-niệm chính-đáng về thần-linh, sẽ được
trình-bày trong những nguyên-tắc căn-bản của thuyết vô-ưu (ataraxia)’’
. Vì lẽ cái hạnh-phúc của người ta là
ở chỗ không phải lo-lắng, tâm hồn không bị khuấy động. Các thần-linh bất-tử và
hạnh-phúc, thì không có để ý lo-lắng gì về công việc của loài người, cho nên
hoàn-toàn vô-tình, không có những tình cảm như nộ-khí hay là nhân-ái, như
quần-chúng tưởng-tượng ra. ‘’Và người bất kính thần-linh không phải là người
phủ-nhận các thần-linh của quần-chúng, nhưng là người gán cho thần-linh những
quan-niệm sai lầm của quần-chúng’’ .
Như vậy tôn-giáo của Êpicur
là như thế nào ? Để trả lời cho câu hỏi đó, xin trưng-dẫn hai đoạn văn của
Festugière. Thứ nhất : ‘’Vấn-dề không phải là phủ-nhận các thần-linh.
(Êpicur viết :) ‘’Chúng ta biết một cách hiển-nhiên là có các thần-linh’’ (Bức
thư III, 123). Vì thế, thay vì xếp Êpicur vào loại những người hoài-nghi hay
là những người dửng-dưng càng ngày càng đông vào cuối thế-kỷ IV, thì ngược lại,
phải coi triết-gia đó là một trong những người đã có phản-ứng chống lại những kẻ
cái gì cũng tin, càng ngày càng đông. Riêng ông thì ông tin có thần-linh và tin
rằng tôn-giáo có nhiều cái hay. Ông chăm-chỉ tham-dự các lễ-nghi tôn-giáo, Tắt
một câu, ông là người biết kính thần-linh, hiểu theo quan niệm người thời đó’’
. Thứ hai : ‘’Tất cả những
yếu-tố trong tôn-giáo của Êpicur đều được thu gọn lại trong một bức thư mà nhà
hiền-triết đó gửi cho một người bạn mà ta không biết tên. Tất cả đã được viết
vào giấy vỏ sậy (papyrus), được tìm thấy ở Ai-cập và được học-giả Hermann Diels
cho ấn-hành rất cẩn-thận. Tài liệu quí giá ấy có thể dùng để kết-luận những
phân-tích của chúng tôi. Dĩ nhiên là trong đó có nhắc lại rằng Êpicur tin chắc
nịch rằng các thần-linh đều vô-ưu, và vì thế đều dửng-dưng đối với các việc
nhân-sự. Nhưng ta cũng thấy rằng niềm tin đó không những là không phủ nhận
tôn-giáo, mà ngược lại phải được dùng để làm cho tôn-giáo được thuần-chất : con
người biết kính thần-linh thì không kêu đến các vị đó để xin nguôi giận, hay là
để xin xỏ nọ kia, nhưng là để chiêm-niệm, kết hợp với các vị đó, tham gia vào
niềm hoan-lạc của thần-linh, để rồi được hạnh-phúc vô-tận như các vị đó, ngay
trong kiếp sống hữu hạn này’’ .
Xem như thế thì ta hiểu từ
đâu mà có quan-niệm rằng tôn-giáo phát-sinh ra vì người ta sợ hãi và dốt nát
không biết nguyên-nhân của vũ-trụ. Nhưng ta cũng thấy rõ rằng không thể xếp
Êpicur vào phái vô-thần duy-vật được. Nói cho cùng thì Marx chỉ dùng đến Êpicur
để có dịp chạm trán với thuyết duy-tâm của Hegel mà thôi.
1.1.3 - Thuyết duy-tâm và
cái tự-kỷ ý-thức
Đến đây dĩ-nhiên phải đặt
một câu hỏi : từ quan-niệm duy-vật về nguyên-tử trong triết-lý về thiên-nhiên
đời thượng-cổ, làm thế nào lại có thể chuyển sang quan-niệm duy-tâm căn-cứ vào
cái tự-kỷ ý-thức của Hegel được ? Hai bên thực là khác nhau quá. Lý do có lẽ là
vì Marx đã có đọc sách của Hegel, là một triết-gia đã chủ tâm hòa-giải những cái
xem ra mâu-thuẫn nhau. Nếu không chuyển theo phương-pháp biện-chứng, thì tất sẽ
rơi vào thứ ‘’duy-vật quê-mùa’’ của thế-kỷ XVIII, cho rrằng cái nọ sinh ra cái
kia, vật-chất sinh ra tinh-thần, Thực thế, Trong sách Những nét căn-bản của
bách-khoa toàn-thư về các khoa triết-lý (1827)
, Hegel trình-bày một hệ-thống bao
trùm toàn-thể thực-tại và toàn-thể các khoa-học về thực-tại. Hệ-thống đó gồm ba
giai-đoạn.
Giai-đoạn thứ nhất là
Khoa Lý-học, suy-tư về hệ-thống liên-kết ba khái-niệm : một là Hữu-thể
(Sein / être), hai là Bản-thể (Wesen / essence), ba là Ý-niệm (Begriff /
concept).
Giai-đoạn thứ hai là
Triết-lý về Thiên-nhiên, ta sẽ bàn tỉ-mỉ hơn sau này.
Giai-đoạn thứ ba là
Triết-học về Tinh-thần , gồm ba chặng : a) Chặng thứ nhất là : Tinh-thần
trong chủ-thể (Der subjektive Geist / esprit subjectif). Chặng này có ba
đối-tượng là linh-hồn, ý-thức và tinh-thần, đó là đối tượng của ba
khoa-học là khoa nhân-học (Anthropologie), khoa hiện-tượng-học về tinh-thần
(Die Phảnomenologie des Geistes) và khoa Tâm-lý-học (Psychologie). b) Chặng
thứ hai là Tinh-thần ngoài khách-thể (Der objektive Geist / esprit objectif).
Chặng này gồm tất cả những tác-phẩm, những công-trình có tính-cách nhân-văn do
tinh-thần con người, chứ không phải do vật-chất biến-hóa ra, như : pháp-luật,
đạo-đức luân-lý và các tổ chức đời sống chung (gia-đình, xã-hội, nhà
nước). c) Chặng thứ ba là Tinh-thần tuyệt-đối (Der absolute Geist /
esprit absolu). Đây là đỉnh cao nhất của Triết-học về Tinh thần, gồm
ba phần là : Nghệ-thuật, Tôn-giáo đã được mặc-khải, và Triết-lý
(Philosophie).
Tựa vào phương-pháp
biện-chứng của Hegel, và tựa vào thứ-tự do phương-pháp đó xếp đặt ra, Marx đã
tìm thấy cách móc nối Triết-học về Thiên-nhiên (của Êpicur), tức là
giai-đoạn thứ hai, với cái Tự-kỷ ý-thức, là một phần nằm trong Ý-thức,
tức là chặng thứ nhất của giai-đoạn thứ ba. Có điều cần phải chú-ý là cách móc
nối như thế chỉ có lý-sự khi nó nằm trong toàn-thể biện-chứng, chứ nếu tách
riêng ra hai yếu-tố, Thiên-nhiên và Ý-thức, thì còn gì là
biện-chứng nữa, và vì thế ta không thấy chúng thực-sự liên-quan với nhau như thế
nào. Thế nhưng chưa hết. Ta vẫn không hiểu được vì sao Marx lại dừng ngay ở chỗ
Ý-thức và Tự-kỷ Ý-thức, coi đó là thực-thể tối cao, nhưng trừu-tượng, chứ
không theo biện-chứng toàn-diện của Hegel mà đi xa hơn nữa, cho tới các
tác-phẩm, công-trình nhân-văn, cho tới nghệ-thuật, tôn-giáo, triết-lý, là
đỉnh tối cao của hệ-thống thực-tại. Như thế thì còn gì là biện-chứng nữa. Thế
rồi Marx vội cho ngay rằng Hegel là duy-tâm, không biết gì đến thực-tại con
người và thiên-nhiên. Nhưng đó là vì Marx đã bỏ mất cái phần về tinh-thần
ngoài khách-thể.
Nhưng ta biết, Hegel đâu có
đơn-sơ như Marx nghĩ. Lúc đó Marx mới chừng 20 tuổi, chỉ biết Hegel một cách
trừu-tượng qua mấy cuốn sách, chứ đâu có như Feuerbach được nghe chính Hegel
giảng bài một cách vừa linh-hoạt vừa cụ-thể. Cho nên có hiểu lầm thì ta cũng
không nên lấy làm lạ. Sau đó mấy năm, khi Marx phân-tích về đời sống xã-hội,
kinh-tế và chính-trị, thì sẽ lấy từ phần ‘’tinh-thần ngoài khách-thể’’
của hệ-thống Hegel ra được nhiều vật-liệu, rồi xây đắp cho hệ-thống của mình. Ai
không biết thì cứ tưởng là của Marx hết cả. Nói cho công bằng, thì Marx cũng có
công-nhận một cách trông-trống rằng mình là đồ-đệ của Hegel, tuy Hegel đã chết
mấy năm trước khi Marx đến tuổi vào đại-học. Nhưng đó là công-nhận hơn 30 năm
sau, nghĩa là khi Marx viết bài hậu-từ nhân dịp sách Tư-bản-luận được in
lần thứ hai, vào năm 1873 . Tuy vậy
Marx vẫn đinh-ninh rằng hệ-thống biện-chứng của mình là hệ-thống biện-chứng của
Hegel đã được đảo ngược lên. Rồi thiên-hạ cứ nhắc lại như thế hoài, mà không
thấy ai tự hỏi xem một tòa nhà, mà được dựng đứng ngược lên, nền lên trên, mái
xuống dưới, thì phỏng có còn đứng đưọc không !
Bây giờ ta trở về Triết-lý
về Thiên-nhiên. Trong ba phần của hệ-thống biện-chứng của Hegel, thì đây là phần
không được vững-chãi mấy. Không vững mấy, nhưng lại rất cần, vì nếu không có nó,
thì cũng không còn biện-chứng nữa. Cho nên trừ Engels ra, không thấy ai để ý đến
nó làm gì. Engels đã ra công đảo ngược nó lên, biến nó thành ra sách
Thiên-nhiên biện-chứng (Dialektik der Natur). Tuy xưa nay người ta cứ
đinh-ninh rằng hệ-thống Hegel đã được Marx và Engels đảo ngược lại, nhưng thực
ra, cũng chỉ có phần này (về thiên-nhiên) là được đảo ngược lại mà thôi. Nhưng
nếu chỉ có thiên-nhiên mà thôi, thì cũng chẳng làm gí có biện-chứng ! Về sau
này, ông Trần Đức Thảo cũng đi theo vết xe của Engels và tìm cách giải-thích
tinh-thần từ vật-chất mà ra như thế nào .
Ông Thảo có bàn rộng về phần cuối cùng của hệ-thống Hegel, mà Marx đã bỏ rơi từ
lâu. Nhưng thiết-tưởng đó là thuyết biến-hóa duy-vật, thật sự có tế-nhị hơn
thuyết cũ, nhưng chưa chắc có còn phải là biện-chứng nữa.
Dù sao đối với những người
nghiên-cứu về khoa-học, thì không những việc làm của Hegel cũng như của Engels,
trong phạm-vi vật-lý-học và hóa-học, là vô-ích, mà cả việc làm của ông Thảo
trong phạm-vi các khoa-học nhân-văn (như tâm-lý-học, xã-hội-học, kinh-tế-học,
tôn-giáo-học, v.v.), trước đây nửa thế-kỷ, cũng không đi đến đâu. Vì khi
triết-gia đem các ý-niệm khoa-học, tự-tiện xếp thành hai kiểu trái ngược nhau,
theo thứ-tự của những từ-ngữ như : mâu-thuẫn, chính-đề, phản-đề, rồi
tổng-đề, thì chỉ là chỉ nói suông, nói cho vui truyện thôi, chứ không làm
cho khoa-học thực-nghiệm tiến được một bước nào cả
.
Marx dùng phương-pháp của
Hegel để chuyển triết-lý về thiên-nhiên của Êpicur sang cái mâu-thuẫn với
nó, tức là cái tự-kỷ ý-thức, nhưng lại dừng hẳn ở đây, cho nên không còn
bàn tiếp về tôn-giáo, về thần-linh hay Thiên-Chúa nữa. Vấn-đề phải đặt ra là làm
thế nào mà chuyển được. Tôi thấy một đoạn văn của Hegel, mà tôi trộm nghĩ là nó
đã rất có thể gợi ý-kiến cho Marx làm như thế Đoạn văn đó nằm trong phần đầu
của Những nét căn-bản của bách-khoa toàn-thư về các khoa triết-lý (1827),
trong đó Hegel giải-thích cái khả-giác (Sinnliche), cái biểu-tượng
(Vorstellung), và tư-tưởng (Gedanken) khác nhau như thế nào. Hegel viết :’’Điểm
dị-biệt giữa cái khả-giác và tư-tưởng là thế này : đặc-tính của cái
khả-giác là cá-tính (Einzelheit), và vì cá-thể (Einzelne) (nói một cách thật
trừu-tượng thì đó là nguyên-tử) là yếu-tố trong một hệ-thống (im Zusammenhang),
cho nên cái khả-giác gồm những yếu-tố ngoại-tại đối với nhau (Aussereinander),
nghĩa là, xét theo hình-thức trừu-tượng thì các yếu-tố đó hoặc là cái nọ ở bên
cạnh cái kia, hoặc là cái này tiếp theo cái khác (das Neben- und das
Nacheinander).(...) Ngoài cái khả-giác ra thì cái biểu-tượng cũng có
nội-dung là vật-chất (Stoff) phát sinh ra từ tư-tưởng tự-kỷ ý-thức, ví-dụ như
những biểu-tượng về pháp-luật, về đạo-đức, về tôn-giáo và cả về tư-tưởng nữa’’
. Trong đoạn văn hơi khó đọc này, ta
chỉ cần chú-ý đến mấy chữ ‘’cá-thể (nói một cách thật trừu-tượng thì đó là
nguyên-tử)’’ [Das Einzelne (ganz abstrakt das Atom)]. Vì lẽ rằng : một đàng thì
nguyên-tử là nền-tảng của triết-lý về thiên-nhiên của Êpicur, đàng khác thì
nguyên-tử cũng chính là cái mà Marx coi là cá-thể.
Nên nhắc lại là trong
hệ-thống biện-chứng của Hegel, thì có ba giai-đoạn. Giai đoạn thứ nhất là cái
ý-tưởng trừu-tượng. Giai-đoạn thứ hai là thiên-nhiên, vì thiên-nhiên là
trạng-thái vong-thân của Ý-tưởng, nó từ Ý-tưởng sa-đọa xuống thành vật-chất
cụ-thể, mâu-thuẫn và khác hẳn với Ý-tưởng ,cho
nên có thể coi nó là giai-đoạn vong-thân của ý-thức và tự-kỷ ý-thức. Nhận-định
được như thế tức là sang giai-đoạn thứ ba.
Bây giờ trở về Marx. Nếu cho
rằng nguyên-tử, yếu-tố vật-chất cụ-thể, là ở giai-đoạn thứ hai (thiên-nhiên),
mâu-thuẫn với tự-kỷ ý-thức, thì lẽ tất-nhiên phải coi nó là giai-đoạn vong-thân
của Tự-kỷ ý-thức.
Sau đây ta xem trong Cặp
vở ghi-chú Marx đã dùng ngôn-ngữ biện-chứng của Hegel để nói về cái khả-giác
và về nguyên-tử như thế nào :’’Các nguyên-tử đẩy lùi nhau, đó là hình-thức
thứ nhất của tự-kỷ ý-thức ; đó là lúc mà tự-kỷ ý-thức nhận thấy mình như là
một vật có đó một cách trực-tiếp (unmittelbar seiendes), như là một cá-thể
trừu-tượng (abstrakt-einzelnes)’’ .
Tiếp theo ý-kiến đó :’’Vì có các đặc-điểm riêng, cho nên nguyên-tử được hiện-hữu
một cách trái ngược lại với ý-niệm của nó (die seinem Begriff widerspricht), nó
được xác-định như là một thực-tại vong-thân ,khác hẳn bản-tính của nó (als
entảussertes, von seinem Wesen unterschiedenes Wesen)’’
. Thêm vào đó thì :’’Cái mâu-thuẫn
(Widerspruch) giữa hữu-thể và bản-thể, giữa chất-thể và hình-thể, đã có sẵn
trong ý-niệm (Begriff) nguyên-tử, thì nay được đặt ngay trong chính cái
nguyên-tử, vì ta cho rằng nguyên-tử có những đặc-điểm. Vì có những đặc-điểm, cho
nên nguyên-tử đã ra khác hẳn ý-niệm của nó (ist das Atom seinem Begriff
entfremdet), nhưng đồng thời nó đã thành ra nguyên-tử hẳn-hoi’’
. Và câu sau cùng :’’Cũng như
nguyên-tử chỉ là hình-thức tự-nhiên của cái tự-kỷ ý-thức khi còn trừu-tượng và
cá-biệt, thì thiên-nhiên khả-giác cũng chỉ là cái tự-kỷ ý-thức cá-biệt, mà ta
cảm nghiệm được trong ngoại giới, tắt một câu, thiên-nhiên cũng chỉ là cái tự-kỷ
ý-thức khả-giác’’ .
Những câu đó nghĩa là gì ?
Ai đã quen với ngôn-ngữ của Hegel thì hiểu Marx muốn nóí gì : căn cứ vào
nguyên-tử có những đặc-điểm cụ-thể, Marx thấy rằng có thể đi từ triết-lý về
thiên-nhiên đến chỗ quả-quyết rằng cái tự-kỷ ý-thức - dĩ-nhiên là tự-kỷ ý-thức
của con người - là ‘’thần-linh tối cao, không ai cạnh-tranh nổi’’. Nhưng làm thế
nào mà quả-quyết như thế được ? Và như thế rõ-ràng là lập-trường duy-tâm mất
rồi. Ta không thấy Marx bận tâm đặt câu hỏi đó !
Phải đứng vào lập-trường
duy-tâm như thế, mới có thể coi cái tự-kỷ ý-thức khép kín đó là thần-linh tối
cao, và mới hiểu được lập-luận của Marx, khi ông minh-chứng, trong ghi-chú số 9,
của phần Phụ-lục trong luận-văn tiến-sĩ của ông, rằng là không có Thiên-Chúa.
Lập-luận đó như sau :
’’Chỉ có hai lối : một là
những lập-luận minh-chứng có Thiên-Chúa chỉ là những câu nói đi nói lại
(Tautologie) rỗng tuếch. Ví-dụ chứng-lý theo hữu-thể-học (ontologische) thì
tựu-chung là thế này : ‘’Cái mà tôi thật-sự (realiter) tượng-trưng ra, thì nó là
một biểu-tượng có thật đối với tôi’’. Nó có ảnh-hưởng tơí tôi
. Và theo nghĩa như thế thì các
thần-linh,bất kể là của người theo đạo Thiên-Chúa hay là theo đạo khác, đều là
có thật cả, Thần Moloch phải chăng đã không thống-trị một thời ? Ai bảo thần
Apollo ở Delphes không phải là một quyền-lực có thật trong đời sống của người
Hi-lạp ? Về điểm này lời phê-bình của Kant không có giá-trị là bao nhiêu. Khi
có người tưởng-tượng rằng mình có một trăm đồng tiền, thì nếu đó không phải là
một ý-tưởng chủ-quan không quan trọng đối với người ấy, nếu người ấy tin chắc
như thế, thì một trăm đồng tiền tưởng-tượng cũng có giá-trị như một trăm đồng
tiền có thật. Chẳng hạn người ấy dám ảo-tưởng như thế rồi đi vay nợ, cái
ảo-tưởng đó sẽ có hiệu-lực : cũng như thế, tất cả nhân-loại đều đã tựa vào
các thần-linh mà đi vay nợ. Trái lại. Cái ví-dụ mà Kant đưa ra rất có thể
tăng cường cho chứng-lý theo hữu-thể-học. Những đồng tiền có thật thì cũng hiện
hữu như các thần-linh tưởng-tượng. Một đồng tiền có thật, thì nó đâu có hiện-hữu
bên ngoài biểu-tượng, kể cả biểu-tượng tổng-quát, chung cho cả nhân-loại. Anh
thử đưa tiền giấy vào một xứ mà người ta không biết dùng giấy như thế, thì ai
nấy đều chê cười anh, vì anh có biểu-tượng chủ-quan. Anh thử đưa
thần-linh của anh vào một xứ mà người ta thờ các thần khác, thì người ta sẽ
minh-chứng cho anh biết là anh có ảo-tưởng, có quan-niệm trừu-tượng. Và như thế
là phải ! Nếu ai đem một vị thần của chị-tộc Ven-đơn (Wenden) đến cho người
Hi-lạp thời thượng-cổ, người đó sẽ thấy chứng-cớ là không có thần đó, vì đối với
người hi-lạp thì không có thần đó.
Người của một xứ-sở coi
thần-linh từ ngoại-quốc vào như thế nào, thì xứ-sở của Lý-trí cũng coi
Thiên-Chúa hay thần-linh nói chung y như thế : vì đó là xứ-sở mà thần-linh không
còn nữa.
Hai là thế này : những
chứng-lý biện-minh rằng có Thiên-Chúa, chẳng qua chỉ là những chứng-lý biện-minh
rằng có cái tự-kỷ ý-thức căn-bản của con người, chỉ là những lý-luận giải-thích
rằng có cái tự-kỷ ý-thức đó. Ví-dụ chứng lý theo hữu-thể-học. Khi người ta
tư-tưởng, thì hỏi thấy có cái gì trước hết ? Thưa là có cái tự-kỷ ý-thức.
Theo như thế, thì những
chứng-lý để biện-minh rằng có Thiên-Chúa, cũng chính là những chứng-lý biện minh
rằng không có Thiên-Chúa, là những lời phi-bác tất cả các biểu-tượng về
Thần-linh. Trái lại, chứng-lý chính-hiệu phải theo hình-thức như thế này :‘’Vì
lẽ rằng thiên-nhiên có điều thất-cách, cho nên có Thiên-Chúa’’. ‘’Vì lẽ có một
thế-giới vô-lý, cho nên có Thiên-Chúa’’. ‘’Vì lẽ rằng không có tư-tưởng, cho nên
có Thiên-Chúa’’. Thế nghĩa là gì ? Thưa là : Ai cho rằng vũ-trụ là vô-lý, và
vì thế chính người ấy cũng là vô-lý, đối với một người như thế thì có
Thiên-Chúa. Nói thế khác, cái vô-lý, đó là hiện-hữu của Thiên-Chúa’’
.
1.1.4 -
Mấy điều phê-bình tôn-giáo trong phần Phụ-lục
Marx thêm vào luận-văn
tiến-sĩ một phần Phụ-lục khá dài, để bàn-luận về cuộc bút-chiến của Plutarch
chống lại quan-niệm của Êpicur về thần-linh. Marx muốn chấm dứt cuộc bút-chiến
đó,’’vì nó là đặc-điểm của một hạng người, vì nó tượng-trưng cho não-trạng của
nhà thần-học khi đứng trước triết-học’’ .
Marx muốn chứng-minh rằng : tuy tuyên-bố là chống lại Êpicur, nhưng thực ra
Plutarch vẫn đi theo cùng một hướng.
Chúng ta không cần đi vào
chi-tiết của cuộc tranh-luận đó, nhưng chỉ cần xem Marx hiểu và giải-thích
tư-tưởng của Plutarch như thế nào. Vì lối giài-thích này làm cho ta hiểu rõ hơn
về lập-trường triết-học của Marx, lúc đó vẫn còn luẩn-quẩn với ý-niệm ‘’tự-kỷ
ý-thức’’, như vừa nói trên đây.
Trước hết nên chú-ý rằng
cách dùng ngôn-từ của Marx có biến-chuyển, với một tầm quan-trọng mà ít ai để ý.
Thực vậy, trong phần thân bài luận-văn Marx nói đến thần-tính hay là
các thần-linh, còn trong phần Phụ-lục thì lại nói đến Thiên-Chúa. Làm
như thể là hai kiểu nói đều có giá-trị như nhau, và cùng chỉ một thực-tại
. Làm như thể là những điều bàn-luận
về các thần-linh thời thượng cổ cũng có giá-trị như thế khi nói về Thiên-Chúa
của đạo Thiên-Chúa. Chính trong khung cảnh biến-chuyển ngôn-từ như thế, mà Marx
đưa ra lập-luận trên đây, để minh-chứng rằng không có Thiên-Chúa, cũng như không
có thần-linh.
Khi giải-thích Êpicur, thì
Marx có ý-kiến căn bản là :’’Cái quan-trọng đối với Êpicur không phải là cái
voluptas, tức là cái khoái-lạc, không phải là cái mình cảm-giác được một
cách hiển-nhiên, cũng không phải là cái gì khác, chỉ trừ cái tự-do của tinh-thần
không bị bất cứ cái gì ảnh-hưởng’’ .
Cho nên khi muốn chống lại thuyết tất-định của Đê-mô-crit, Êpicur chủ-trương
rằng trong lúc rơi từ trên xuống, thì các nguyên-tử có khả-năng rơi trệch ra
ngoài đường thẳng, và như thế có thể va chạm vào nhau. Và đây là chỗ Marx tìm ra
lập-luận căn-bản : Marx cho rằng chủ-trương như thế tức là thừa-nhận rằng các
nguyên-tử đều có tự-do, và có tự-do tức là đã đi vào bước đầu của biện-chứng đưa
tới cái Tự-kỷ Ý-thức.
Khi Plutarch nói về việc
người ta thường thường sợ thần-linh, thì Marx giải-thích rằng :’’Xét như
thế thì Thiên-Chúa chẳng qua chỉ là tổng-hợp các hiệu-quả do các
hành-động xấu mà ra’’ .
Khi Plutarch quan-niệm rằng
thần-linh có mặt trong các lễ hội tôn-giáo là để làm cho tâm-hồn người ta được
khỏi sợ, khỏi buồn, khỏi lo, và được đầy tràn hoan-lạc, thì Marx lại hiểu ra
rằng :’’cái được người ta thần-linh hóa và chúc-mừng ở đây, đó là chính cái
cá-thể đã được thần-linh-hóa và đã được giải thoát ra khỏi những cái đau-khổ
thông-thường, đó là người hiền-triết (sophos) vô-ưu (ataraxia) như trong
quan-niệm của Êpicur. Cái người ta thờ-phụng ở đây, đó là sự khiếm-diện của
chính thần-linh, đó là sự hiện-diện của niềm hoan-lạc của cá-nhân’’
.
Tiếp theo đó, ‘’Câu nói rằng
Thiên-Chúa là hêgêmôn agathôn, là vị lãnh-đạo cho những người tốt và là
cha sinh ra pantôn kalôn, nghĩa là mọi cái đẹp, câu đó có ý-nghĩa
triết-lý như thế này : đó không phải là đặc-tính của Thiên-Chúa, nhưng : cái
ý-tưởng về cái tốt, cái thiện, mới chính là yếu-tố thần-thiêng (das Göttliche)
. Rồi Marx kết-luận :’’Theo đúng cái
lý-sự nội-tại trong các ý-tưởng của ông, thì tất-nhiên Plutarch phải nói về
linh-hồn của cá-nhân, chứ không nói về yếu-tố thần-thiêng’’
.
Khi giải-thích vì sao người
ta tin rằng chết không phải là hết, Plutarch nhận-xét rằng những người mất con,
mất vợ, mất bằng-hữu, thì thường ưa tin rằng những kẻ đó, cho dù có bị khổ-cực,
cũng vẫn còn ở đâu đây, như thế còn hơn là chết mất hẳn đi. Nhưng Marx lại nghĩ
rằng :’’người ta ưa như thế, có nghĩa là cá-nhân muốn ý-thức được rằng mình
hiện-hữu một cách thiết-thực.’’ .
Tất cả những lối giải-thích
như thế hoàn-toàn phù-hợp với chứng-lý của Marx biện-minh rằng không có
Thiên-Chúa :’’Khi người ta tư-tưởng, thì hỏi thấy có cái gì trước hết ? Thưa là
có cái tự-kỷ ý-thức’’. Tất cả đều minh-chứng rằng có cái Tự-kỷ Ý-thức, ngoài ra
không có gì hết. Và đó cũng là đìều Marx đã đọc được trong sách vở của
Hegel :’’Cái chân-lý của ý-thức, đó là cái tự-kỷ ý-thức, cái này là nền-tảng của
cái kia. Vì thế trong phạm-vi hiện-hữu, khi con người ta có ý-thức về bất kỳ
một đối-vật nào, thì cũng có ý-thức về chính mình (nghĩa là tự-kỷ ý-thức) nữa’’
. Có đìều là Hegel không duy-tâm như
người ta lầm tường : vì trong lúc nhấn mạnh vào cái tự-kỷ ý-thức, không những
ông không kết-luận rằng không có cái đối-vật mà ý-thức đang nhắm vào, mà hơn
nữa, ông còn triển-khai biện-chứng đi xa hơn cái tự-kỷ ý-thức, đi qua tinh-thần
trong chủ-thể, tinh-thần ngoài khách-thể, cho tới tinh-thần tuyệt-đối, trong đó
tất-nhiên tôn-giáo là một thành-phần không thể thiếu được.
Để kết-luận về luận-văn của
Marx, xin đưa ra đây một nhận-xét có lẽ hơi bất ngờ : ở giai-đoạn này Marx có
phần duy-tâm hơn Hegel, vì ông không xét đến những phân-tích cụ-thể của Hegel về
các thực-tại nhân-văn, và cho rằng ngoài cái tự-kỷ ý-thức là thực-tại tối cao,
thì không có gì hết. Về điểm này thì rõ-ràng là tuy trước năm 1841 Marx không có
tiếp-xúc với Feuerbach, nhưng cả hai ông đều cùng có một lập-trường về tự-kỷ
ý-thức, cho nên khi Feuerbach cho xuất-bản sách Bản-chất đạo Thiên-Chúa,
thì Marx đón nhận một cách hào-hứng, và rồi thấy không cần phải tiếp-tục
phê-bình tôn-giáo nữa.
còn tiếp
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
GIÁ TRỊ VIỆC LÀM CỦA CON NGƯỜI
TRONG HUẤN DỤ XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI (2)
|
|
NGUYỄN HỌC TẬP
2 - Việc làm chủ thể và
việc làm khách thể.
Sau những suy nghĩ ở bài
trước, giờ đây chúng ta nên tìm hiểu làm thế nào có thể liên kết
được bản chất cao cả của việc làm với phẩm giá con người trong
mọi chiều hướng của đời sống con người.
Dĩ nhiên HDXHGH khởi đầu
xác nhận rằng việc làm thuộc về lãnh vực hành động, như
chúng ta biết. Đó là một động tác chuyển đổi, khởi đầu từ
chủ thể con người và nhằm vào một vật thể khách quan ,
trên đó con người muốn ghi lên ấn dấu chuyển hoá của mình và
khả năng chủ thể thống trị của mình trên vật thể ( LE, n.4).
Như vậy việc làm được
nhìn dưới hai khía cạnh bổ túc cho nhau
- đối với căn nguyên
xuất xứ, việc làm thoát xuất từ chủ thể con người;
- đối với vất thể
nhằm đến, việc làm có định hướng tác động trên một vật thể.
Như vậy, chúng ta có thể
tạm gọi là " việc làm trong ý nghĩa chủ quan " ( LE, n. 6)
và " việc làm trong ý nghĩa khách quan " ( LE, n.5).
Điều quan trọng chúng ta
nên lưu ý trước tiên, đó là khi HDXHGH đề cập đến quyền thượng
đẳng của việc làm trên các động tác khác của con người, Huấn Dụ
có ý đề cập đến chính việc làm chủ quan, tức là những gì có liên
hệ đến chủ thể con người tác động:
- " Với tư cách là
con người, con người là chủ thể của việc làm. Là con người,
người làm việc thực hiện nhiều động tác khác nhau liên hệ đến
tiến trình của việc làm. Các động tác đó, không tùy thuộc vào
nội dung khách thể, tất cả phải là những động tác nhằm thực hiện
nhân tính của người làm việc, để chu toàn ơn gọi làm người của
mình, mà người làm việc được kêu gọi vì thuộc về dòng giống con
người " ( LE, n. 6).
Đó là ý nghĩa của việc
xác nhận làm việc là cách thể hiện nguyên thủy của con người,
như là hình ảnh của Thiên Chúa. Không phải sự vật khách thể do
việc làm sản xuất ra khiến cho con người có được ý nghĩa là con
người, mà là chính con người tác động làm cho sản phẩm mang ý
nghĩa của việc làm của con người.
Trong chiều hướng đó
việc làm mang nặng ý nghĩa của lãnh vực luân lý, bởi vì tác
động làm việc đó là một trong những phương thức để con người
tiến đến thành đạt chính mình.
Nếu chúng ta đặc tâm chú
ý vào điều mà con người tác động, chú ý đến việc làm theo ý
nghĩa khách quan ( tức là tùy theo vật thể mà việc làm sản
xuất ra được), thì ý nghĩa việc làm có thê thay đổi
- tùy theo thời gian và không
gian,
- tùy theo các thể thức làm
việc khác nhau.
Việc làm có thể được quan niệm tùy
thuộc vào văn hoá khác nhau, phát triển kỷ thuật khác nhau và
các nguồn tài nguyên khác nhau.
Trong nhãn quang vừa kể, chúng ta
có nhiều loại việc làm khác nhau có tầm quan trọng liên hệ với
xã hội và với những nhu cầu cá biệt của xã hội. Trong trường hợp
nầy chúng ta cần phải lưu tâm đến giá trị của sản phẩm được tạo
ra và giá trị đó, theo nguyên tắc, có thể thay đổi và tương đối
tùy theo nhu cầu, số lượng của mức cầu và thời gian tính.
Tuy nhiên trong đường hướng chúng
ta đang bàn, không những chúng ta
- lưu tâm đến giá trị kinh tế,
giá trị lợi ích tiêu thụ hay giá trị của thị trưòng mua bán,
- mà còn cả đến giá trị tinh
thần, giá trị thiêng liêng của sản phẩm.
Nếu tôi tác tạo được một hoạ phẩm
tuyệt tác, bức tranh của tôi không có giá trị nghệ thuật như một
bức tranh được in ra đồng loạt sản xuất.
Nếu tôi sản xuất một sản phẩm
không có giá trị kinh tế thị trường, sản phẩm của tôi không có
cùng một giá trị kinh tế như một sản phẩm đáp ứng được nhu cầu
xã hội đang cần đến.
Hiểu như vậy, trong nhãn quang
việc làm và các sản phẩm ( sản phẩm vật thể hay lợi ích phục vụ
), chúng ta xác nhận được có sự khác biệt giữa các chủ thể làm
việc:
- một kỷ sư xây cất cầu cống
khác với một người thợ làm bánh mì;
- một chú thợ hớt tóc có mức
phục vụ khác hơn một bác sĩ chữa bệnh;
- một công nhân bưu điện phát
thư có mức độ phục vụ thấp hơn một nghị sĩ Quốc Hội hay một Bộ
Trưởng trong Hội Đồng Nội Các.
Nói một cách ngắn gọn, về phương
diện sản phẩm và phục vụ khách thể, chúng ta có thói quen đặt
tầm quan trọng trên giá trị sản phẩm và phục vụ tạo được cho
xã hội đối với những gì tạo được có giá trị hơn hay ít ra những
gì mà chúng ta cho là như vậy.
Giá trị của người làm việc,
trong nhãn quang sản phẩm và phục vụ khách thể, tùy thuộc vào
giá trị mà người đó tạo ra đươc, ngay cả đối với những sản
phẩm có giá trị nhất thời nào đó.
Bởi đó trong quan niệm GHXHGH,
trương độ khách thể của việc làm cần phải được đi đôi với trương
độ quan niệm chủ thể.
Theo nhãn quang vừa kể của Giáo
Hội, việc làm được coi như là yếu tố duy nhứt và không thể tái
lập, bởi lẽ đó chính là chủ thể, là con người tác động làm việc.
Nếu chúng ta nhìn vào chủ thể tác
động làm việc, chúng ta phải nhìn nhận rằng mỗi việc làm đều có
gía trị ngang nhau, có tầm quan trọng như nhau và có cùng giá
trị đồng đẳng như nhau.
Việc làm khiêm tốn nhứt cũng có
giá trị như việc làm hệ trọng cao cả nhứt, bởi lẽ tất cả các
việc làm đều có nguyên cội như như nhau nơi con người.
Đến đây chúng ta
- không đặt nặng tầm quan trọng
của việc thành công hay thất bại động tác sản xuất, cũng không
trên sản phẩm được tạo ra và cả trên giá trị thương mãi của
chúng,
- mà trên chủ thể tác động việc
làm, trên tự do, tự lập và trách nhiệm của chủ thể đứng ra hành
xử.
Cả những gì liên quan đến vai trò
cai quản đất đai, mà Thánh Kinh đã đề cập đến cũng vậy, chúng tă
có thể hiểu theo quan niệm khách thể hay chủ thể, tức là liên
quan đến vật thể được quản trị hay đến động tác quản trị, sắp
xếp, thiết định của chủ thể con người ( LE, n.6).
Hiểu như vậy ý nghĩa nhắc đến "
hình ảnh Thiên Chúa " khiến cho chúng ta liên tưởng trực
tiếp đến chủ thể của việc làm thay vì đến vật thể.
Một khi xác nhận rõ ràng
ý nghĩ thứ nhứt ( liên quan đến chủ thể ) có tầm quan trọng trổi
thượng hơn, như HDXHGH xác nhận, thì ý nghĩa thứ hai, có nghĩa
đặt thế giới của động tác làm việc vào lãnh vục luân lý, trong
đó con người dùng các khả năng mình có được để thực hiện và điều
đó tạo cho con người hoàn cảnh và phương thức để triển nở
thành đạt chính mình.
Đứng trước quan niệm đặt
giá trị ưu tiên của luân lý trong quan niệm làm việc, có người
có thể đặt vấn nạn là làm như vậy chúng ta coi thường các lãnh
vực chuyên môn của việc làm, mà nhiểu khi tầm mức muốn đạt được,
con người phải dùng bao nhiêu thời gian, sức lực, trí óc mới
đạt được.
Một người làm việc giỏi
dắn, không phải chỉ do những đức tính luân lý của anh ta, mà còn
do tài năng khéo léo và khả năng chuyên môn, mà anh phải gắng
công ra sức học hỏi, trao dồi, " mài đủng quần nhiều năm ở
các bàn ghế đại học " mới có được. Các định chế của việc làm
liên hệ được thiết định bởi mục đích cần đạt được, nghĩa là bởi
sản phẩm, chất liệu và tiến trình động tác phải làm.
Dĩ nhiên đó là những lề
luật tiến trình kỷ thuật, chớ không phải luân lý.
Như vậy quy tóm việc làm
của con người vào trương độ luân lý có nghĩa là loại bỏ đi lý do
đòi buộc phải có của việc làm và đặt việc làm vào lãnh vực
thiêng liêng một cách quá đáng !
Suy nghĩ như vậy là
chúng ta không hiểu rõ ý nghĩa mà HDXHGH nhằm đến, không có gì
lầm lẫn pha trộn giữa tác động ( hành động theo kỷ thuật vật
thể) và hành xử ( thái độ " ăn ở, cư xử và lòng thành tín hay
gian dối " của người làm việc). HDXHGH chỉ muốn đặt mối liên
hệ sít sao trong chủ thể con người toàn vẹn.
Một người làm việc giỏi
không đạt được nhân bản hoàn hảo của mình và ơn gọi cá biệt của
mình, nếu không phải đồng thời cũng là người làm việc tốt lành
ngay chính;
- " Người làm việc
đó là một nghệ sĩ hay một thủ công nghệ, công nhân hay nông dân,
mỗi người làm việc đều mà một con người sáng tạo. Cúi mình trên
vật thể kháng cự lại với mình, người công nhân ấn dấu mình trên
vật thể đó, đồng thời cũng phát triển thêm sự quyết tâm, tài
năng khôn khéo và tinh thần sáng tạo của mình " ( ĐTC Phaolồ VI,
Populorum progressio ( 1976), n. 27).
Với ý nghĩa những lời
vừa được trích dẫn, HDXHGH có ý muốn nhấn mạnh rằng chỉ có một
chủ thể có khả năng hiểu biết và đời sống luân lý chính đáng mới
là người có thể thực hiện chính đáng theo các luật lệ kỷ thuật,
có thể cai quản được các bí mật của thiên nhiên, có khả năng
phát triển kỷ thuật, luôn phát minh thêm những phương thức sản
xuất mới và dành cho tất cả những điều đó một cùng đích luân lý.
Như vậy, việc làm thuộc
về cùng đích luân lý của con người và về ơn kêu gọi thiêng liêng
của mình. Nếu có nhiều phương thức tác động ( bằng sức mạnh cũng
như trí thức) và nhiều con đường hành xử ( cách ăn ở, đối xử,
thái độ) khác nhau, nhưng chỉ có một chủ thể duy nhứt cho cả hai
phương diện, đó chính là con người.
HDXHGH giúp chúng ta
hiểu được những dấu chỉ bản thể con người không thể sai lầm được
trong việc làm. Và đó là lý do cho thấy việc làm của con người
khác với động tác của máy móc. Và bởi đó việc làm của con người
có những phẩm giá của nó.
Qua những gì chúng ta
vừa tìm hiểu, khía cạnh chủ quan và khách quan của việc làm là
hai phương diện không thể tách rời nhau được.
Nếu không, chúng ta sẽ
có sự tách biệt giữa kẻ làm việc và con người.
Lịch sử đã dạy chúng ta
nhiều khi rất khó mà giữ cho hai khía cạnh vừa kể việc làm con
người khỏi tách biệt nhau.
Thông Điệp Laborem
exercens ( LE
) chú tâm nhiều hơn một
cách rõ ràng đến khía cạnh chủ thể của việc làm.và đến con người
làm việc, là một trong những diện mạo hay phận vụ, mà qua đó con
người tiến triển đến thành đạt chính mình.
Tuy vậy, dầu dưới nhãn
quang vừa kể, khía cạnh khách quan của việc làm không phải là
khía cạnh không đáng lưu ý hay bị bỏ vào trong ngoặc.
Các phương thức làm việc
mới, như Thông Điệp Centesimus annus nhấn mạnh, cho thấy
tầm quan trọng của việc làm dưói khía cạnh khách thể. Những
phương thức làm việc tân tiến không những quan trọng với nhiều
hình thức khác nhau của các khám phá khoa học kỷ thuật mới, tạo
ra nhiều sản phẩm mới, để đáp ứng lại các nhu cầu mới của con
người, mà còn luôn luôn cho thấy những khía cạnh mới của con
người, những khả năng sáng tạo mới, những vấn đề luân lý mới cần
gặp phải, những nguồn năng lực mới của con người cần phải được
chuẩn định giá trị.
Làm việc, con người hiểu
biết chính mình rõ hơn, kiến tạo dòng lịch sử của cá nhân mình
và của cộng đồng xã hội:
- " Làm việc là
một gia sản của con người - là gia tài của nhân loại - bởi vì
qua việc làm, không những con người biến cải thiên nhiên, không
những làm cho thiên nhiên thích hợp đáp ứng lại các nhu cầu của
chính mình, mà còn thực hiện được thành đạt chính mình như là
con người và đúng hơn, trong một ý nghĩa nào đó, làm cho mình "
trở thành con người hơn " ( LE, n.9).
Mỗi tiến triển trong
lãnh vực sản xuất sản phẩm đều có thể liên đới cả với tiến triển
luân lý của con người.
Tính cách liên đới đó
giữa việc làm và con người càng được thể hiện tiến triển nhanh
hơn trong biến chuyển lịch sử dần dần theo tiến trình sản xuất
càng được liên hệ trực tiếp với con người và ít hơn với các vật
thể tài nguyên bên ngoài.
Nếu trước kia yếu tố
quyết định cho tiến trình sản xuất là đất đai, rồi đến tiến bạc
tư bản, như những gì tầm hiểu biết của Karl Marx chỉ đến mức
đó, ngày nay yếu tố quyết định chính là con người,
tức là
- tùy theo khả năng
hiểu biết khám phá được qua kiến thức khoa học,
- khả năng tổ chức
liên đới nhau,
- khả năng cảm nhận
tiên đoán được
- và thoả mãn được
nhu cầu của người khác ( Centesimus Annus ( CA), n.32).
Như vậy có một yếu tố "
vật thể " cần phải được tác động làm việc,
- được thể hiện bằng
sự hiểu biết bản chất của vật thể,
- kỷ thuật và trí
khôn của con người.
Các nguồn tài nguyên trí
thức và luân lý đó cần phải được dùng và dùng để phục vụ người
khác.
Ở đây việc làm với ý
nghĩa chủ quan và khách quan đạt đến trình độ tối đa sát gần
nhau:
- " Thật vậy,
nguồn tài nguyên chính của con người cùng chung với đất đai là
chính con người " ( CA, n. 32).
Hiểu như vậy, con người
vừa là tạo vật vừa là người cộng tác trong công trình
sáng tạo ( CA, n. 40).
Người làm việc là con
người làm cho chính mình trở nên hữu ích cho mọi người và cho
mọi tạo vật:
- " Chúa là Thiên
Chúa đem con người đặt vào vườn địa đàng, để trồng trọt và canh
giữ đất đai " ( Gen 2, 15).
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
A, B, C... Chúa hãy ghép thành kinh |
|
Nguyên tác: Taking Flight - Bay Lên Đi
Tác giả: Anthony de Mello, S.J.
Chuyển ngữ: Lm. Minh Anh (Gp. Huế)
Chỉ dẫn:
Tốt nhất, các câu chuyện sẽ được đọc theo thứ tự như đã sắp xếp.
Mỗi lần đọc không quá một hoặc hai mẩu chuyện nếu bạn ước ao có
được một cái gì đó hơn là chỉ giải trí.
Lưu ý:
Các chuyện kể trong tập sách này đến từ nhiều đất nước, nhiều
nền văn hoá và tôn giáo khác nhau; chúng thuộc về những di sản
thiêng liêng, những câu chuyện hài hước được ưa chuộng của dòng
đời nhân loại.
Những gì tác giả làm là xâu kết chúng lại với nhau theo một ý
hướng đặc thù. Công việc của tác giả là công việc của người thợ
dệt và thợ nhuộm, tác giả chẳng có công trạng gì về những tấm
vải và những sợi chỉ.
LTS. Chỉ dẫn và lưu ý trên
đây là của tác giả. Tuy nhiên, vì Đặc San GSVN chỉ phát hành 2
tuần một lần nên mỗi số báo BBT xin giới thiệu trung bình từ 5
đến 7 mẫu chuyện. Bạn đọc có thể lưu lại để nghiền ngẫm suy tư.
Chủ đề: CẦU NGUYỆN
(tiếp theo)
8. A, B, C... Chúa hãy
ghép thành kinh
Chiều đã muộn, một nông dân nghèo từ chợ về nhà
không tìm thấy cuốn sách đọc kinh của ông. Chiếc xe bò lại hỏng
ngay giữa rừng gây phiền hà cho ông vì chắc một điều là hôm nay
ông sẽ bỏ đọc kinh. Ông rất buồn vì không có sách để đọc kinh
chiều trước khi trời tối.
Vì thế ông thưa với chúa, “Lạy Chúa, con thật
dại dột, sáng nay con ra khỏi nhà mà không mang theo sách, trí
nhớ của con lại kém cỏi đến nỗi không đọc được kinh nào nếu
không có sách. Vậy con sẽ làm thế này: con sẽ đọc chậm rãi bản
mẫu tự A, B, C... năm lần và Chúa, Chúa thuộc mọi kinh, có thể
ghép các chữ lại với nhau thành những kinh nguyện mà con không
thuộc”.
Nghe thế, Chúa mới bảo các thiên thần, “Trong
tất cả các lời nguyện mà Ta nghe hôm nay, chắc chắn đây là lời
nguyện hay nhất, vì nó thổ lộ từ một con tim đơn sơ và chân
thành”.
ڰ
9. Nghề của tôi, nghề
của Chúa
Người công giáo có thói quen xưng tội với một
linh mục và lãnh ơn xá giải như là dấu chứng sự tha thứ của
Chúa. Nhưng vì quá thường xuyên nên có nguy cơ hối nhân sử dụng
việc xưng tội như một bảo đảm, một chứng thư giúp họ thoát khỏi
sự trừng phạt. Vì thế, họ cậy vào việc xá tội của linh mục hơn
là lòng thương xót của Chúa.
Đây là điều mà Perugini, một họa sĩ người Italia
thời Trung Cổ, bị cám dỗ khi hấp hối. Ông quyết định không xưng
tội, vì cho rằng, nếu chỉ vì sợ mà xin xưng tội để được thoát
chết là phạm thượng và nhục mạ Thiên Chúa.
Vợ ông chẳng biết gì về tâm trạng của ông nên
dạm hỏi, liệu ông có sợ chết mà không xưng tội. Ông trả lời, “Bà
ơi, bà hãy hiểu điều này: Nghề của tôi là vẽ, và ai cũng biết
tôi là một họa sĩ. Nghề của Chúa là tha thứ, và nếu Ngài cũng
rành rõi nghề của Ngài như tôi, thì tôi thấy chẳng còn lý do gì
để sợ nữa”.
ڰ
10. Yêu mến thần Hari
Hiền triết Ấn Độ Narada rất sùng kính thần Hari.
Sùng kính đến độ ngày kia ông nghĩ, trên cõi đời này, chẳng có
ai yêu mến thần hơn ông.
Biết được lòng ông, thần Hari bảo, “Narada, hãy
vào thành kia bên bờ sông Ganges, tìm ở đó một người cũng sùng
mộ Ta. Ở với người ấy sẽ có lợi cho ngươi.
Narada đến và gặp một nông dân. Mỗi sáng anh
thức dậy sớm, xướng tên thần Hari chỉ một lần rồi vác cày ra
đồng làm việc cả ngày. Chỉ mãi đến chiều tối trước khi anh buồn
ngủ, anh mới gọi tên thần một lần nữa. Narada nghĩ, “Làm sao anh
chàng quê mùa này lại sùng bái thần Hari cho được? Suốt ngày hắn
ta chỉ dìm mình vào công việc”.
Bấy giờ thần Hari mới bảo Narada, “Hãy đổ đầy
một tô sữa tới miệng, rồi bưng đi quanh thành phố và trở về mà
không được làm rơi một giọt nào”. Narada làm như thần dạy. Sau
đó thần hỏi, “Ngươi nghĩ đến ta được mấy lần khi ngươi đi vòng
quanh thành phố?”.
“Không lần nào cả”. Narada trả lời. “Làm sao tôi
có thể nghĩ đến ngài khi ngài yêu cầu tôi xem chừng tô sữa?”.
Bấy giờ, thần bảo, “Tô sữa đã thu hút sự chú ý
của ngươi đến độ ngươi quên mất Ta. Vậy hãy coi người nông dân
kia, dẫu gánh nặng gia đình, Ta vẫn được anh nhớ đến mỗi ngày
hai lần!”.
ڰ
11. Chúa tốt lành
Vị linh mục của ngôi làng kia là một ông thánh,
mỗi lần có ai gặp chuyện khó khăn, họ đều tìm đến với ông. Thế
là ông lui vào một nơi riêng biệt trong rừng và dâng một lời
kinh đặc biệt. Chúa luôn luôn lắng nghe lời ông cầu xin và dân
làng được cứu giúp.
Sau khi linh mục ấy qua đời, mỗi khi có vấn đề
dân chúng lại kéo đến với vị kế nhiệm ông vốn không phải là một
ông thánh nhưng lại biết bí mật nơi chốn linh thiêng trong rừng
và cả lời kinh đặc biệt. Vậy ông câu nguyện thế này, “Lạy Chúa,
Chúa biết con không thánh thiện nhưng hẳn Chúa sẽ không đóng
lòng trước lời cầu xin của dân chúng. Vậy xin hãy nhận lời con
và đến cứu giúp”. Chúa lại nhận lời và dân làng được cứu giúp.
Khi linh mục này qua đời, mỗi khi gặp khó khăn
dân làng lại kéo đến với người kế nhiệm vốn biết lời cầu xin đặc
biệt nhưng không biết chốn linh thiêng kia. Nên ông nói, “Lạy
Chúa, Chúa bận tâm đến nơi chốn để làm gì? Không phải mọi nơi
đều thánh khi có Chúa hiện diện? Vì thế, xin lắng nghe lời con
và mau đến cứu giúp”. Chúa lại nhận lời và dân làng được cứu.
Giờ đây thì ông cũng chết, khi dân chúng gặp
chuyện rắc rối, họ lại tìm đến người kế nhiệm ông vốn không biết
cả cái chốn linh thiêng kia lẫn lời kinh đặc biệt. Vì thế, ông
nói, “Lạy Chúa, Chúa không câu nệ hình thức nhưng lại quan tâm
đến tiếng kêu của kẻ cùng khốn. Xin Chúa lắng nghe và mau đến
cứu giúp”. Một lần nữa, Chúa lại ra tay.
Sau khi vị này qua đời, người ta lại chạy đến
với người kế nhiệm ông mỗi khi có vấn đề. Nhưng vị này lại
chuyên về tiền bạc hơn là cầu nguyện. Ông nói với Chúa, “Không
biết Ngài thuộc loại Chúa nào đang khi Ngài hoàn toàn có khả
năng giải quyết mọi khó khăn do chính Ngài gây nên. Chúa lại từ
chối nhấc một ngón tay cho đến khi người ta kêu gào van vái?
Vâng Ngài có thể đối xử với họ như Ngài thích”. Rồi ông trở lại
với chuyện tiền bạc của mình và Chúa lại nhậm lời ông và ra tay
cứu giúp.
ڰ
12. Cầu nguyện và thời
tiết
Một bà lão say mê công việc làm vườn đã tuyên
bố, bà chẳng tin một chút nào về những dự báo và một ngày kia
các nhà khoa học sẽ tìm được cách thức điều khiển thời tiết.
Theo bà, tất cả những gì cần thiết để chế ngự thời tiết chính là
cầu nguyện.
Lẽ ra bà nên thay đổi niềm tin ngây ngô của
mình chứ.
ڰ
13. Không được nhậm lời
còn tốt hơn là được mà không đúng lúc.
Ở nước Ấn Độ cổ xưa, người ta coi trọng các nghi
thức kinh nguyện Vệ Đà vốn được cho là rất khoa học đối với việc
khấn vái đến nỗi khi các hiền nhân cầu mưa thì không bao giờ một
nơi nào phải hạn hán cả. Cũng vì thế mà một anh chàng nọ lấy
kinh Vệ Đà để cầu khấn thần giàu Lakshmi, anh xin nữ thần cho
anh được giàu có.
Ròng rã mười năm khấn nguyện không chút hiệu
quả, bỗng ngày kia, anh thấy cái hư ảo của sự giàu sang và chấp
nhận sống một cuộc đời từ bỏ anh trên núi Hy Mã Lạp Sơn.
Ngày kia, khi đang ngồi chìm đắm trong suy niệm,
anh mở mắt ra và thấy trước mặt một người phụ nữ đẹp phi thường,
ngọc thể chói sáng như một khối vàng. Anh lên tiếng hỏi:
“Bà là ai và làm gì ở đây?”.
Người phụ nữ đáp, “Ta là nữ thần Lakshmi mà suốt
mười hai năm ngươi cầu khẩn, ta đến để ban cho ngươi điều ngươi
ước mơ”.
Người ấy kêu lên, “A! Nữ thần kính mến, từ đó đến nay tôi được
diễm phúc khi suy niệm và tôi không còn ước muốn giàu sang nữa.
Ngài đến quá muộn. Hãy cho tôi biết tại sao ngài đến muộn
thế?”.
“Để nói cho người biết sự thật” bà nói, “xét về kinh nguyện lễ
nghi mà ngươi đã trung thành thực hiện, thì ngươi đáng được giàu
sang. Nhưng vì thương yêu ngươi và muốn làm ích cho ngươi, ta đã
giữ lại”.
Nếu được chọn, bạn sẽ chọn điều nào: được những gì mình cầu
xin hay là được ơn sống bình an, dù lời cầu xin ấy được chấp
nhận hay không chấp nhận?
ڰ
14. Lời cầu của trẻ
Ngày kia, giáo trưởng Nasruddin thấy ông giáo làng dẫn một đám
trẻ đến chùa, ông hỏi :
“Ông dẫn đám trẻ đến đây làm gì?”.
Ông giáo trả lời, “Hạn hán trong xứ và chúng tôi tin rằng lời
cầu của những trẻ em vô tội này sẽ đánh động được lòng Đấng Toàn
Năng”.
Vị giáo trưởng nói, “Điều quan trọng không phải là những lời kêu
van của người vô tội hay kẻ gian ác, nhưng chính là sự khôn
ngoan và ý thức.
Ông giáo la lên, “Làm sao ngài lại dám nói những lời phạm thượng
đó trước mặt những đứa trẻ này! Ngài hãy chứng minh điều ngài
vừa nói, bằng không, chúng tôi tố cáo thầy rối đạo”.
Vị giáo trưởng ôn tồn nói, “Dễ thôi. Nếu lời cầu nguyện của trẻ
con đáng kể cho một điều gì, hẳn trong xứ này chẳng nơi nào có
thầy giáo cả, bởi không gì trẻ con ngán ngẩm cho bằng phải đi
học. Lý do thầy còn giữ lại những lời cầu ấy là rằng, chúng tôi,
những người biết rõ hơn trẻ con, giữ thầy lại để dạy dỗ chúng.
ڰ |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Linh
mục là người của siêu nhiên và cầu nguyện |
|
Mời thăm Blog của
Lm. Trần Minh Huy
http://chivilongchuathuongtoi.blogspot.com/
BẢN THẢO
ỨNG SINH LINH MỤC HỌC &
SỐNG LINH ĐẠO LINH MỤC GIÁO PHẬN
GIÁO TRÌNH TU ĐỨC LỚP THẦN II & III
ĐẠI CHỦNG VIỆN THÁNH GIUSE HÀ NỘI
2011-2012
CHƯƠNG MỘT:
ỨNG SINH LINH MỤC HỌC & SỐNG LINH ĐẠO
LINH MỤC GIÁO PHẬN
A. MỘT MÔ HÌNH LINH MỤC CHO NGÀY HÔM NAY
(tiếp theo)
A. 2. Linh mục là người của siêu nhiên
và cầu nguyện
Linh
mục phải thực sự là một con người của đạo đức và cầu nguyện, nghĩa là có đời
sống thông hiệp cá nhân sâu xa với Chúa Ba Ngôi. Hơn là chỉ nói với Thiên Chúa,
cầu nguyện là mở rộng cõi lòng và trí óc chúng ta ra cho Ngài, để Ngài hành động
ở trong chúng ta và qua chúng ta. Cầu nguyện là đi vào cuộc sống của Chúa Kitô
và trở nên một với Ngài. Điều ấy được biểu lộ rõ nét trong mối tương quan với
tha nhân: linh mục sẽ suy nghĩ với tinh thần của Chúa, nhìn thấy với con mắt của
Chúa, và yêu thương với con tim của Chúa, hoạt động với sức mạnh của Chúa…
Đời
sống cầu nguyện làm cho linh mục có khả năng ý thức về chính mình và sự lệ thuộc
đời sống ơn gọi của mình vào Thiên Chúa. Linh mục luôn ý thức sự hiện diện và
hoạt động của Chúa trong cuộc sống hằng ngày của mình bằng sự trao hiến trọn vẹn
chính mình và lụy phục hoàn toàn nơi Chúa, noi gương Chúa Giêsu Kitô, vì cầu
nguyện làm cho linh mục trở nên trọn vẹn thuộc về Chúa Kitô và trọn vẹn thuộc về
Giáo Hội.
Đời
sống cầu nguyện giúp linh mục tìm thấy Chúa Giêsu nơi tha nhân, đặc biệt nơi
những người đau khổ, bệnh tật, nghèo hèn, ở bên lề, bị áp bức, và thấp cổ bé
miệng,… ngõ hầu yêu thương và phục vụ họ, như Chúa Giêsu đã dạy và đã làm gương.
Linh mục phải là người sống cao độ hai chiều
kích của cầu nguyện: cầu nguyện độc hữu và cầu nguyện liên lỉ. Chớ gì khi giáo
dân cần tìm linh mục thì đều tìm thấy ngài đang cầu nguyện ở nhà thờ, trước
Thánh Thể hay đang đàm đạo cùng với hối nhân nơi tòa giải tội. Nhưng sứ vụ mục
vụ của linh mục triều còn đẩy ngài ra giữa lòng đời với những hoạt động truyền
giáo và dưỡng giáo đa dạng, nên ngài phải thấm nhuần chiều kích cầu nguyện liên
lỉ, cầu nguyện bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, để ngài và Chúa Giêsu luôn hành
động cùng nhau. Nhiều linh mục có thói quen luôn luôn mời Chúa Giêsu cùng đi,
cùng làm, cùng gặp gỡ tiếp xúc, cùng sống với mình trong mọi lãnh vực từ tự
nhiên thấp hèn đến siêu nhiên thánh thiêng cao cả.
Dân
chúng mong đợi nhìn thấy linh mục là người của Chúa, sống mật thiết với Chúa, có
kinh nghiệm cầu nguyện và dạy cho họ biết làm thế nào để cầu nguyện, vì cầu
nguyện là lẽ sống của người tín hữu. Cầu nguyện là cả cuộc sống con người đối
với Thiên Chúa: thờ phượng, yêu mến, ca ngợi, cảm tạ, đền tạ và xin ơn, mà ơn
trọng nhất là Chúa Thánh Thần.
Lời cầu nguyện của linh mục phải có tính cách
chuyển cầu cho toàn thể Giáo Hội và thế giới, cho nhân loại và cả tạo thành. Lời
cầu nguyện linh mục càng đi đôi với hy sinh hãm mình và khổ chế càng có hiệu
quả, giống như Mosê giang tay cầu trên núi trong khi ông Giô-suê đánh với quân
Amalếch.
Trong
đời sống cầu nguyện này, chúng ta phải đặc biệt lưu ý đến Phụng vụ, vì hành động
phụng vụ là sự biến đổi lời cầu nguyện và lòng đạo đức cá nhân thành sự thờ
phượng chung của cộng đoàn Giáo hội dâng lên Chúa. Hành động phụng vụ đòi hỏi
chúng ta phải có một thái độ sẵn sàng đối với Chúa, một ý thức nội tâm thống
nhất toàn bộ con người, thân xác và linh hồn, cùng hợp với thân mình thiêng
liêng của Hội Thánh, trên thiên quốc và tại trần gian, vì toàn bộ cuộc đời linh
mục phải được thấm nhập và ghi dấu ấn bởi phụng vụ và các bí tích.
A.3. Linh mục là người của linh thánh
Linh
mục phải nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu, tiếp tục sứ vụ của Chúa Giêsu,
Đấng đã được Chúa Cha thánh hóa và sai đến trong trần gian để cứu độ trần gian,
nghĩa là phải qua những thực tại trần thế này mà biểu lộ những thực tại thần
thiêng. Nhưng càng ngày chúng ta càng phải đối diện với những tiến bộ khoa học
kỹ thuật. Nền văn hóa chúng ta sống ngày càng bị thống trị bởi thế giới quan
khoa học và vật chất, đánh giá cái thật và cái đúng dựa trên những gì thấy được,
sờ được và xác minh được thông qua nghiên cứu và thực nghiệm. Điều đó càng đòi
hỏi ứng sinh linh mục phải để mình được đào tạo và tự đào tạo trở thành con
người của linh thánh, bởi vì linh mục là “người của Chúa, thuộc về Chúa và
làm cho dân chúng nghĩ tới Chúa, đồng thời giúp dân chúng trở về với Chúa và đạt
tới Chúa.”
Yếu tố
linh thánh này rất quan trọng trong các tôn giáo truyền thống Á Châu. Nó có khả
năng trợ giúp sứ mệnh khơi dậy niềm tin tại Việt Nam được canh tân và tràn đầy
sức sống. Tông huấn Ecclesia in Asia nhấn mạnh rằng dân chúng Á Châu cần
nhìn thấy nhà tu là “những con người mà tâm trí luôn hướng về những sự cao
siêu của Thánh Thần.”
Các sư
sãi và ni cô Phật giáo có một kỹ luật tu đức nhấn mạnh đến tự chế, bỏ mình và
thanh thoát khỏi thế trần, hầu chiến đấu chống lại các cám dỗ và say mê tìm kiếm
giải thoát. Sự kiện này thách thức người công giáo chúng ta đào sâu tu đức của
mình; nếu không, chứng tá của chúng ta trong xã hội Việt Nam sẽ giảm bớt khả
năng thuyết phục. Chúng ta cần học hỏi ở họ lối sống như cửa mở vào cõi thiêng
và phương tiện hiệp thông với linh thánh, đồng thời củng cố đời sống nội tâm
tông đồ truyền giáo của chúng ta. Nếu chúng ta thực sự sống cách vui tươi, hạnh
phúc và trung thành nếp sống Phúc Âm và các nhân Chúa Kitô giáo (đặc biệt vâng
lời, khó nghèo, thanh khiết), chứng tá và sứ vụ của chúng ta sẽ rất hữu hiệu. “Điều
đó rất đúng với bối cảnh Á Châu, nơi mà dân chúng cảm thấy được thuyết phục bởi
đời sống thánh thiện hơn là bởi những tri thức lý sự.”
Đức Phaolô VI bảo rằng thời đại này tin vào các chứng nhân hơn là thầy dạy, và
nếu họ có tin vào các thầy dạy thì bởi vì các thầy dạy đó là những
chứng nhân.
Ở trong
Giáo Hội, chúng ta có đủ mọi phương tiện thích hợp, tự nhiên cũng như siêu
nhiên, để trở nên con người của linh thánh. Việc quan trọng nhất là chúng ta
kiên trì thực hành các phương thế ấy trong cuộc sống hằng ngày, đặc biệt là đời
sống đức tin và việc phượng tự: chúng ta tuyên xưng linh hồn và thể xác được gặp
gỡ các thực tại thần linh, được ca hát với các thiên thần và các thánh trên
trời, được đón nhận Mình thật và Máu thật của Chúa Giêsu, Đấng đã chết và sống
lại, và hằng ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế.
A.4. Linh mục là
người có nền tảng Kinh Thánh vững chắc
Sống
trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian, linh mục được mời gọi biến đổi thế
gian, chứ không phải để bị thế gian biến đổi. Linh mục kín múc được sức mạnh
biến đổi thế giới đó từ Lời Chúa và Thánh Thể Chúa.
Ma quỉ đã dùng lời Kinh Thánh để cám dỗ Chúa
Giêsu trong sa mạc, Chúa Giêsu cũng đã dùng Lời Chúa mà chiến thắng và xua đuổi
ma quỉ. ĐTC Biển Đức XVI đã nói rằng “câu trả lời tốt nhất cho sự chống phá
Giáo Hội hiện nay là sự trung tín lớn lao với Lời Chúa.” Chính
đức tin tín trung của chúng ta vào Chúa khởi động quyền năng vô biên của Ngài.
Đức tin là điều kiện để được Chúa Giêsu làm phép lạ cho [đức tin nhỏ bé của con
người khởi động và làm giải tỏa quyền năng vô biên của Thiên Chúa], nhưng phép
lạ [do quyền năng vô biên của Thiên Chúa] lại gia tăng và củng cố đức tin còn
yếu kém của con người. Do đó, hơn ai hết, linh mục phải là một con người đức
tin, được đức tin tác động mãnh liệt, với một nền tảng Thánh Kinh vững chắc, vì
mọi cuộc khủng hoảng đều do thiếu đức tin mà ra. Thánh Kinh là một trong bốn cột
trụ chống đỡ đời sống tu trì (Chúa Giêsu, Phúc Âm, Tình huynh đệ cộng đoàn và
Kiên trì chu toàn sứ vụ).
Tuy
nhiên, linh mục cũng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa và tâm thức xã
hội, chính trị, kinh tế (tinh thần tục hóa, hưởng thụ, bất công, thiếu bác ái,
không có sự thật và công lý…). Vì thế, việc đào tạo và tự đào tạo hôm nay cần
ghi nhớ các yếu tố này trong khi nỗ lực xây dựng và phát triển sức mạnh siêu
nhiên hầu thăng tiến và hoàn thiện tự nhiên. Ngoài ra cũng phải ý thức về trình
độ trưởng thành nhân bản và thiêng liêng của từng người, để sống và đào tạo
thích hợp như thánh Phaolô nói: “Tôi cho anh em ăn sữa chứ không phải thức ăn
cứng, vì anh em chưa đủ sức, và cho đến nay anh em vẫn chưa thể.”
Chúa Giêsu cũng nhắc các tông đồ tương tự: “Thầy còn nhiều điều phải nói với
anh em, nhưng bây giờ, anh em không có sức chịu nổi. Khi nào Thần Khí sự thật
đến, Người sẽ dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn.”
Với nền
tảng Thánh Kinh vững chắc, linh mục sẽ vượt lên được những thách đố và chiến đấu
trăn trở về tự do và phục tùng với bộ ba “quyền phục, lý phục và tâm phục hay
tâm bất phục” hoặc “bằng mặt mà không bằng lòng” và “vâng mà không phục” để sống
đức vâng lời trọn vẹn trong đức tin và tinh thần siêu nhiên. Vâng lời chính là
lắng nghe: “Cá không ăn muối cá ươn, con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư.”
Sự vâng lời sẽ dễ dàng và tốt đẹp khi mọi người giúp nhau cùng lắng nghe Chúa,
cùng tìm ý Chúa và tuân phục ý Chúa.
Quả thế, với đức tin mạnh mẽ và đâm rễ sâu trên nền tảng Thánh Kinh vững chắc,
đặt trọng tâm vào Chúa Giêsu, vào Phúc Âm, vào Giáo Hội, vì các linh hồn, cầu
nguyện và biện phân dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, linh mục sẽ giữ lời hứa
vâng phục khi chịu chức cách sẵn lòng và siêu nhiên đối với các vị lãnh đạo và
cơ cấu của Giáo Hội, không phải như những con người và cơ cấu nhân loại, nhưng
là Ý Chúa ở trong và qua những con người và cơ cấu này.
_______
chú thích
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
VÀI ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ THUỐC NGỦ
|
|
Mất ngủ có
thể là khó đi vào giấc ngủ, không ngủ một mạch tới sáng hoặc
giấc ngủ trằn trọc, nhiều mộng mị, không êm dịu bình an.
Mất ngủ chỉ
là dấu hiệu chứ không phải là một bệnh.
Nguyên nhân
thông thường gây ra mất ngủ gồm có tác dụng phụ của một số dược
phẩm trị bệnh, thay đổi hoàn cảnh, thay đổi môi trường và căng
thẳng tinh thần.
Mất ngủ có
thể tự điều chỉnh bằng cách thay đổi nếp sống, dùng thuốc trợ
ngủ mua tự do hoặc thuốc cần bác sĩ biên toa.
Thuốc ngủ
Thuốc ngủ có
thể là do bác sĩ biên toa hoặc mua tự do không cần toa.
a- Thuốc
bác sĩ biên toa
Trước khi
biên toa, bác sĩ thường hỏi những rủi ro đưa tới mất ngủ đồng
thời cũng thực hiện một số xét nghiệm để biết rõ nguyên nhân.
Thường thường bác sĩ biên toa cho dùng từ 2 tới 4 tuần lễ rồi
khám lại xem thuốc có công hiệu như ý muốn. Nếu cần, bác sĩ sẽ
thay toa.
Thuốc ngủ có
2 tác dụng: giúp dễ dàng đi vào giấc ngủ và giúp ngủ lâu hơn
hoặc có cả 2 tác dụng.
Tác dụng phụ
của thuốc ngủ có thể là cảm giác lâng lâng, ngây ngất, tiêu
chảy, buồn nôn, dị ứng hoặc vừa lái xe, ăn uống vừa buồn ngủ.
Thuốc ngủ
không phải là đáp số cuối cùng cho sự mất ngủ .Ta có thể uống
tạm vài ba đêm, nhiều lắm là 1 tuần lễ trong khi tìm nguyên nhân
gây ra mất ngủ rồi điều trị tới nơi tới chốn.
Thuốc ngủ
không cho ta giấc ngủ mà óc não cần. Nó làm giảm thời gian ngủ
nghịch thường với mắt chớp đều và mộng mơ. Mà khoa học cho mộng
mơ là để giải tỏa những căng thẳng xẩy ra trong ngày, làm tâm
hồn thư thái hơn. Nếu tình trạng rối loạn này xẩy ra thường
xuyên, con người sẽ có những ảo giác và kém tập trung.
Thuốc ngủ có
thể giúp ta đi vào giấc ngủ dễ dàng hơn nhưng ta phải trả một
cái giá là chuốc lấy cảm giác ngây ngất, bải hoải, trì trệ, mơ
màng, nửa tỉnh nửa mê và khó lòng nhớ những sự việc vừa mới xẩy
ra. Ấy là chưa kể nếu dùng thường xuyên, mỗi đêm, với phân lượng
cao ta còn bị phụ thuộc, bị ghiền, khó mà dứt được.
Tiến sĩ
Donald Bliwise, Đaị học Y khoa Emory, Attlanta, đã nhắc nhở về
việc dùng thuốc ngủ như sau : “Thuốc ngủ chỉ nên thỉnh thoảng
mới dùng. Người ta thường không cần thuốc để ngủ. Nếu quý vị bị
chứng mất ngủ kinh niên thì nên tham khảo bác sĩ chuyên khoa
ngay”.
b- Thuốc
Trợ Ngủ mua tự
do
Với những mất
ngủ ngắn hạn, có thể mua thuốc trợ ngủ không cần toa bác sĩ
nhưng không nên dùng quá 2 tuần lễ.
Có 2 loại
thường dùng là:
- Thuốc có
chất chống dị ứng diphenhydramine như Benadryl, Sominex, Nytol
- Thuốc có
chất chống dị ứng Doxylamine như Unisom
Ngoài ra, còn
Melatonine là một loại hormone do não bộ tiết ra. Hormon này
điều hòa giấc ngủ theo ngày và đêm có thể giúp ta rơi vào giấc
ngủ dễ dàng hơn.
Vài điều
cần lưu
ý:
a- Trước khi
dùng, nên hỏi ý kiến bác sĩ để coi xem các thuốc trợ ngủ này có
phản ứng với các thuốc khác mà ta đang dùng hay không.
b- Thuốc trợ
ngủ nhóm chống dị ứng có thể tăng tính cách trầm trọng của
người đang bị bệnh suyễn, bệnh nghẹt thở kinh niên, suy gan
trầm trọng, bí tiểu tiện, cao áp xuất mắt. Cần hỏi ý kiến bác sĩ
trước khi dùng, kể cả phụ nữ đang có thai hoặc cho con bú sữa
mẹ. Thuốc có thể làm giảm sản xuất sữa và chuyển sang sữa khiến
cho bé bị ngây ngất lây.
c- Không nên
uống rượu khi đang dùng thuốc ngủ vì tình trang ngây ngất sẽ
tăng
d- Không nên
lái xe khi đang dùng thuốc trợ ngủ để tránh rủi ro tai nạn khi
đang ở trong tình trạng ngây ngất, buồn ngủ.
e- Khi giấc
ngủ trở lại bình thường, nên ngưng thuốc ngủ từ từ. Đột nhiên
ngưng có thể đưa tới hoàn cảnh mất ngủ trở lại.
Trước khi
dùng thuốc trợ ngủ, nên lưu ý mấy điều như sau:
- Có uống
nhiều hơn thường lệ nước uống có chất caffeine như cà phê, trà,
cola hay không?. Với nhiều người cà phâ gây mất ngủ.
- Có đang
dùng các chất có tác dụng kích thích hệ thần kinh như Ritalin
- Có ngủ trưa
quá lâu và tối không muốn ngủ;
- Có thay đổi
việc làm từ ngày sang đêm hoặc thay đổi giờ giấc ngủ. Lý do là
cơ thể phải thay đổi ngủ nghỉ theo thời khóa biểu mới của công
việc;
- Có bị các
cơn nhức đầu đau xương khớp quấy rầy khiến cho không ngủ được
Thuốc ngủ với
người tuổi cao
Quý vị tuổi
cao thường là hay bị rối loạn giấc ngủ. Vì thay đổi sinh học của
cơ thể. Vì thay đổi nếp sống. Vì lý do tình cảm, “gần đất xa
trời”. Vì các bệnh kinh niên. Do đó, các cụ rất hay dùng thuốc
ngủ.
Sau đây là
mấy điều nên nhớ về thuốc ngủ xin được nhấn mạnh để quý vị tuổi
cao lưu ý:
1-
Thuốc ngủ bào chế trong phòng thí nghiệm thường được thử trước ở
lớp người trẻ tuổi và không áp dụng cho người tuổi cao
.
2-
Người cao tuổi thường đã uống nhiều loại thuốc, nay lại thêm
thuốc ngủ, sẽ có nhiều tác dụng phụ bất lợi như ngây ngất, hay
quên, chóng mặt, dễ bị té ngã gây thương tích .
3-
Sự biến hóa, hấp thụ cũng như bài tiết dược phẩm ở người cao
tuổi thường rất chậm, nhất là thuốc ngủ, gây ra sự tích tụ trong
cơ thể, đôi khi có hại.
Nói vậy thì
tại sao thuốc ngủ lại bán được nhiều như thế ?
Xin thưa, tại
vì người ta lạm dụng nó: người biên toa cũng như người xin toa.
- Thế tôi mất
ngủ thì ông tính sao đây ? Không cho uống thuốc ngủ thì chẳng lẽ
tôi đi cúng, đi châm cứu hay đi uống thuốc ta à?
- Thưa có. Cụ
có thể dùng thuốc ngủ, nhưng đừng dùng lâu qúa. Nên đi bác sĩ để
điều trị cái thủ phạm chính của sự mất ngủ.
- Bị cụp
xương sống, đêm nằm đau nhức, không ngủ được, bác sĩ khuyên mổ,
chẳng chịu, cứ nhè xin thuốc uống cho ngủ được, thì xương đau
vẫn hoàn đau mà mình laị trở thành ghiền thuốc ngủ.
- Buồn giận
ông lão hai thứ tóc mà còn hay lăng nhăng bay bướm, mà không
kiếm cố vấn hòa giải gia đình, lại chỉ uống thuốc để ngủ cho
quên sự đời, thì chẳng bao lâu trí nhớ của mình sẽ thành “trí
quên” luôn.
Còn nếu
thiếu ngủ, mất ngủ do thói hư tật xấu thì tránh xa chúng đi.
Rượu đó. Cà phê đó.Thuốc lá đó. Ăn quá độ đó. Lại còn những
ghen tuơng, đố kỵ làm tâm không an, đêm đêm nằm chỉ thao thức,
bực mình, thì làm sao mà ngủ ngon, ngủ say cho được ?
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức
Arlington-Texas
www.bsnguyenyduc.com
|
|
VỀ MỤC LỤC |
|
Chuột - Chuyện phiếm
của Gã Siêu |
|
Nhân năm Tý, cầm tinh con chuột. Vì thế, gã
xin đề cập chút ít về lãnh vực này.
Theo “Hán Việt Tân Từ Điển” của Nguyễn Quốc
Hùng, thì chữ “Tý” có rất nhiều nghĩa, tuy nhiên có hai nghĩa
liên quan và gần gũi với chúng ta hơn cả.
Trước hết , tý là thời gian nửa đêm, từ hai
mươi ba giờ khuya cho tới một giờ sáng, như ca dao đã diễn tả :
- Nửa đêm giờ tý, canh ba,
Vợ tôi, con gái, đàn bà, nữ nhi.
Tiếp đến, tý là vị thứ nhất trong thập nhị
địa chi, mà biểu tượng là con chuột.
Theo Toan Ánh trong “Việt Nam phong tục”
thì : Có thập can, mười can, được gọi là Thiên can, bao gồm
Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quí. Đồng cũng
lại có thập nhị chi, mười hai chi, được gọi là Địa chi, bao gồm
Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
Người ta lấy Thiên can ghép với Địa can để
có được tên gọi của từng năm.
Hẳn ai trong chúng ta cũng đã biết : Chuột
là loài gậm nhấm, mõm dài, tai nhỏ, lông nhiều và hay phá phách.
Chuột có nhiều loại, nhưng những loại chuột chúng ta hay gặp
nhất, đó là :
- Chuột nhắt là loại chuột nhỏ, sinh sản
rất nhiều và rất mau, nên thiên hạ thường bảo : đẻ gì mà như
chuột vậy…Chuột nhắt sống ở trong nhà và thường trở thành miếng
mồi ngon cho loài mèo xơi tái.
- Chuột đồng là loại chuột khá lớn, thường
sống trong hang hay trên những gò cao ở ngoài đồng, chuyên môn
cắn lúa và phá hoại mùa màng.
- Chuột cơm là loại chuột nhỏ hơn chuột
cống, nhưng lớn hơn chuột nhắt, thường sống ở ngoài đồng và trên
mái nhà.
- Chuột chù, hay chuột xạ là một loại chuột
mõm dài và nhọn, ban ngày không thấy đường, “lù đù như chuột chù
phải khói”. Chuột chù không có tài leo, nhưng lại có mùi hôi.
Theo các nhà chuyên môn, thì mùi hôi này là
một thứ vũ khí rất hiệu nghiệm để tự vệ, bởi vì các động vật
khác, khi ngửi phải mùi hôi này, sẽ cảm thấy như hồn xiêu phách
lạc, ngán ngẩm, chẳng thèm bắt mà ăn thịt, nhưng lo cao chạy xa
bay.
- Chuột cống là loại chuột thật to, thường
sống dưới cống hay trong những ngóc ngách ở trong lòng đất. Tại
nông thôn, chuột cống thường xuất hiện để bắt gà con vào ban
đêm. Còn tại thành phố, rất nhiều lần ngay giữa ban ngày ban
mặt, gã đã được nhìn thấy những con chuột cống, trụi hết cả
lông, từ dưới những ống cống chui lên và nhởn nhơ đi dạo để được
hưởng chút ánh sáng và nắng ấm của mặt trời.
- Và sau cùng là chuột bạch, hay chuột tàu
là loại chuột nhỏ, lông trắng.
“Từ Điển Bách Khoa Việt Nam” còn ghi nhận :
Ở nước ta có loại chuột nhắt cây, tên khoa học là “vendeleuria
oreracea”, là loại thú quí hiếm, có giá trị thẩm mỹ, được nuôi
làm cảnh hay xuất khẩu. Rất tiếc gã chưa được nhìn thấy loại
chuột này bao giờ. Hay đã nhìn thấy mà lại chẳng biết.
Vậy chuột đem đến những lợi ích và gây nên
những tác hại nào cho chúng ta.
Trước hết là những lợi
ích của loài chuột.
Chuột có thể đem lại cho chúng ta những
giây phút thư giãn và giải trí.
Ngày xưa, gã đã thấy nhiều người nuôi chuột
bạch trong những chiết lồng có bánh xe. Chuột vờn tới, sẽ làm
cho bánh xe và cả chiếc lồng đều quay tít thò lò. Nhìn ngắm
chuột bạch đánh vòng cũng cảm thấy hay hay và nguôi ngoai đi
phần nào những lo lắng về cơm áo gạo tiền.
Còn hôm nay cách đây hơn hai tháng, báo
“Phụ nữ Chủ nhật” đã đăng một bài ngăn ngắn của Nguyễn Thiện về
cơn sốt…chuột Hamster tại Saigon như sau :
Tại lễ hội sinh vật cảnh lần hai ở công
viên Văn hóa Tao Đàn, từ ngày 29 tháng 8 đến ngày 4 tháng 9,
ngoài những giò phong lan đặc sắc, các chú chim kiểng nghiêng
đầu ríu rít, những sinh vật lạ như : Cá hai đầu, dừa mười ngọn,
thiên tuế bốn hướng…người ta còn thấy xuất hiện những chú chuột
xinh xinh, được đông đảo khách tham quan chú ý đặc biệt.
Hóa ra, những chú tí…tì ti ấy đang là niềm
say mê, không chỉ của lứa tuổi teen, mà còn là sự háo hức kỳ lạ
của người lớn : Chuột Hamster.
Giá mua chuột Hamster không rẻ tí nào. Một
cặp chừng một tháng tuổi có giá khoảng nửa triệu đồng, tùy theo
màu lông và xuất xứ của chúng. Kèm thêm những phụ kiện nuôi như
: lồng, thực phẩm, nước uống, cầu trượt, đu quay, phấn thơm,
shampoo khô cho chuột tự vệ sinh…Nếu chịu đầu tư, cũng mất thêm
khoảng nửa triệu đồng nữa. Tuy đắt, nhưng không phải muốn mua là
có ngay đâu.
Phải chăng đây là một cách giả trí cho dân
thành phố : nhà chặt, nuôi chó mèo rất bất tiện, trong khi chuột
Hamster chỉ nhỉnh hơn ngón chân cái chút ít, sạch sẽ, thơm tho,
biết làm trò, thân thiện và dễ thương. Từ ngày có Hamster, hễ
đi làm, đi học thì thôi, thời gian còn lại mấy chị em đều quây
quần bên chuột để bàn tán về cách ăn, cách ngủ, cách chăm sóc
cho chuột…hiểu được tiếng người.
Có vị phụ huynh đã lý luận như sau :
- Cho con tự do giao du với bè bạn bên
ngoài thì không yên tâm, mà nhốt con suốt ngày trong nhà thì tội
nghiệp. Do đó, để bớt nhàm chán, mình thường để con mặc sức chơi
điện tử giải khuây, hệ quả là mắt của trẻ càng ngày càng yếu,
tính tình trở nên ích kỷ, cáu gắt, cộc cằn…Có chú chuột kiểng
trong nhà, không chỉ con vui mà bố mẹ lại rất yên tâm, vì trẻ
vừa có bạn, vừa đằm tính, lại vừa có trách nhiệm với gia
đình…(PNCN số 38, ra ngày 30.9.2007).
Riêng với gã, thì đọc để biết vậy mà thôi,
chứ chưa hề nhìn thấy loại chuột Hamster này bằng xương bằng
thịt. Hy vọng một ngày nào đó lên Saigon, sẽ dành ít thời giờ đi
tìm kiếm Hamster, bởi vì trăm nghe không bằng một thấy…
Trở lại với loài chuột bạch. Chuột bạch
không phải chỉ được nuôi trong lồng làm trò giải trí, mà còn
được nuôi trong các phòng thí nghiệm, để làm phương tiện thử
thuốc, trước khi được chích cho người.
Tiếp đến, chuột có thể trở thành những món
ăn khoái khẩu cho dân bợm nhậu. Tuy nhiên, trước khi được đưa
lên dĩa mà…nhắm, thì cũng nên bàn qua về “nghệ thuật bắt chuột”.
Cách bắt chuột dễ dàng nhất là dùng chó.
Cũng như mèo, hình như chó có mối thù truyền kiếp nào đó đối với
chuột. Hễ trông thấy chuột là…a lê hấp, vồ lấy cho bằng được.
Vì thế, vào một buổi sáng đẹp trời sau mùa
gặt, người ta chỉ cần gọi chó đến, nếu là chó có tài săn chuột
thì lại càng tuyệt vời. Người và chó cùng nhau đi ra ngoài ruộng
và chỉ một lúc là sẽ dư mồi cho một bữa nhậu. Chó sẽ chạy nhảy
và đánh hơi. Hang ổ nào được chuột cắm dùi, thì lập tức chó sẽ
cào, sẽ bới cho tới lúc bắt được chuột mới thôi.
Đối với những con chuột ở trong hang, nếu
không có chó để bới, người ta cũng có thể dùng leng, dùng xẻng
mà đào, nhưng chớ vội thọc tay vào, lỡ đụng phải rắn độc, thì
quả là chí nguy, chí nguy.
Cách thứ hai là làm lồng bẫy. Mỗi người có
tới hàng trăm cái lồng bẫy, cho vào trong đó tí mồi, rồi ban đêm
đem ra đặt ở bờ ruộng, thế nào sáng hôm sau họ hàng nhà chuột
cũng bị dính chấu và sập bẫy. Thỉnh thoảng gã thấy người ta chở
dưới sông cả một thuyền đầy lồng bẫy, cái nào cái nấy cũng đều
có một con chuột còn sống ở trong.
Riêng đối với chuột cống sống dưới hang,
người ta dùng rơm rạ mà hun, khiến cho chuột không chịu được
khói, phải bò ra. Trên miệng hang, người ta đã cài sẵn một cái
nơm và thế là chuột cứ vô tư chui tọt vào nơm. Còn nếu chuột
chạy ra ngoài thì sẽ bị chó vồ, hay bị người đập chết.
Trong mùa nước nổi, ban đêm người ta dùng
đèn pin soi vào những bờ tre, những khóm trúc, hay những bụi
chuối. Nếu thấy chuột “cư ngụ” ở đó, thì dùng xiên mà đâm. Có
đêm đâm được cả mấy chục con.
Chuột bắt được, người ta sẽ đem về nhà làm
thịt bằng cách dội nước sôi, cạo lông rồi đem thui như làm thịt
chó, hay bằng cách chặt đầu rồi lột da.
Người miền Bắc thường hay xào thịt chuột
với mẻ để làm thành món…giả cầy. Người ta còn kho hay luộc thịt
chuột bằng lá chanh. Đối với những con chuột lớn, người ta cũng
có thể bó giò. Hồi còn bé, một lần gã được bố cho xơi món giò
chuột, tới bây giờ gã vẫn chưa quên. Đúng là miếng ngon…nhớ đời.
Tại miền Nam, thịt chuột được bày bán vô tư
tại các chợ lớn cũng như chợ nhỏ, chợ nông thôn cũng như chợ
thành thị. Bây giờ thịt chuột đã được phổ biến ra tới miền Bắc.
Cách đây mấy ngày, gã được đọc một bài báo viết về những người
bán thịt chuột tại Hà Nội với đầy đủ những hình ảnh minh họa.
Người miền Nam thường chế biến thịt chuột
thành nhiều món thật hấp dẫn : Chuột nướng mỡ hành, chuột “rô
ti”, chuột nấu “cà ri”, chuột um nước dừa, chuột xào xả ớt…Xem
ra món nào cũng tuyệt vời, thơm ngon và nhất là dễ dàng đưa cay,
đúng với tiêu chuẩn “ngon bổ rẻ”.
Một anh bạn của gã, đang sống tại Mỹ, khi
tâm sự về những ngày bĩ cực trong trại cải tạo, đã mô tả về món
chuột cống như sau :
Thịt chuột đối với người Việt Nam chúng ta
không có gì là xa lạ. Mẹ tôi đã cho tôi nếm mùi thịt chuột khi
còn bé tí, với món thịt chuột kho lá chanh. Thịt chuột rô ti bán
dài dài hai bên bắc Vàm Cống và Mỹ Thuận. Thịt chuộc được mô tả
trong văn chương, như trong tác phẩm Thềm Hoang của Nhật
Tiến…Nhưng thịt chuột cống, thì chắc chưa ai dám xơi, trừ những
người tù cải tạo.
Khi tôi còn ở trại Nam Hà, ngày kia tôi
thấy một con chuột cống to và trụi lông, đang công miếng lạp
xưởng của một người tù cải tạo nào đó. Tôi bèn nghĩ :
- Tại sao mình không bắt lấy nó mà ăn thịt.
Thế là tôi làm một cái lồng bẫy. Chỉ cầm
một miếng lạp xương nhỏ xíu, mà được cả năm trăm “gờ ram” chất
tươi sống. Trong khi đó, cả một tháng trời chúng tôi mới có được
một miếng thịt to bằng…đầu ngón tay út.
Món thịt chuột mà tôi thích nhất là lá gan.
Gan chuột tôi không kho mà luộc. Sau đó để cho khô nước, cất kỹ
tới ngày hôm sau mới ăn. Ngon còn hơn “gan bò tươi Hòa Lan”.
Một hôm tôi cho thằng bạn cùng tù chung với
tôi một nửa lá gan. Nó ăn mà cứ xuýt xoa khen lấy khen để, ngon
như muốn ngất xỉu luôn. Sau đó nó hỏi :
- Làm sao mà mày lại có gan gà tươi để ăn
như vậy.
Tôi bèn phải kể rõ ngọn nguồn cho nó nghe
và rồi nó cũng hì hục đi làm một cái bẫy chuột cống. Tuy nhiên,
trong tù kiếm được vật liệu để “thiết kế” một cái bẫy chuột
không phải là chuyện dễ đâu nhé.
Riêng với gã, mỗi khi được đãi món thịt
chuột, gã vẫn cảm thấy ơn ớn, vì hình ảnh những con chuột trụi
lông, từ cống rãnh Saigon năm xưa chui lên, vẫn còn ám ảnh gã.
Tiếp đến là những tác
hại của loài chuột.
Không cần phải nói, ai trong chúng ta cũng
đều biết chuột nhắt sống trong nhà, thường cắn áo quần và sách
vở, gậm nhấm những đồ nhựa và thậm chí cả dây diện của máy
móc…Đêm đêm chúng cứ sột soạt, làm bực cả mình vì mất ngủ.
Để trị loại chuột này, người ta nuôi mèo,
nuôi chó hay đặt bẫy. Kinh nghiệm cho thấy, khi dùng bẫy chẳng
cần phải dùng mồi màng chi cả, cứ việc đặt sát tường, nơi chuột
thường qua lại, thế nào cũng dính.
Còn đối với chuột đồng sống ngoài ruộng,
cắn lúa phá hoại mùa màng, người nông dân thường lấy lúa trộn
với thuốc, rồi đem rải ở bờ ruộng. Có người đổ nhớt pha thuốc
xuống ruộng rồi bơm nước. Chuột bị ướt bèn liếm lông, thế là lăn
đùng ra mà chết. Có người mua ni lông bao quanh thửa ruộng,
khiến chuột không thể nào bò vào được.
Tuy nhiên có một loại bệnh do chuột làm cho
lây lan, đó là dịch hạch hay dịch chuột.
Đây là một chứng bệnh truyền nhiễm, do một
loại vi trùng tạo nên, được bác sĩ Yersin tìm thấy từ giống rận
trong lông chuột và được các loài gậm nhấm truyền sang người.
Thời kỳ nhiễm bệnh kéo dài từ một đến năm
ngày. Bệnh nhân cảm thấy mệt mỏi, nhức đầu, uể oải, nhiệt độ lên
tới 40oC. Ngày thứ sáu, hạch nổi lên ở háng hay ở nách. Có khi
hạch chưa chảy mủ, thì người bệnh đã lăn quay ra mà chết, nếu
không được kịp thời chạy chữa.
Cơn dịch hạch khủng khiếp đã xảy ra tại
Châu Âu vào năm 1347, rồi từ năm 1351 đến 1352.
Đầu tiên là do những tàu buôn thành Gênes
đã đưa mầm bệnh vào đảo Sicile năm 1347. Sau đó từ năm 1948 đến
1949, cơn dịch lan tràn sang Pháp, Anh, Ý, Tây Ban Nha, rồi khắp
cả vùng Trung Âu. Cơn dịch còn xâm chiếm miền Bắc Âu gồm Đan
Mạch, Thụy Điển, Na Uy, đến tận biên giới giữa Ba Lan và Nga.
Cơn dịch này đã giết chết khoảng 25 triệu
người, tức là 1/3 dân số Châu Âu thời bấy giờ. Vì tính cách
khủng khiếp của nó, nên người ta đã gọi đây là cơn “đại dịch”,
hay cơn “dịch đen”.
Chẳng biết có phải được gợi hứng từ cơn
“đại dịch” này hay không, Albert Camus, một triết gia hiện sinh
người Pháp, đã viết cuốn “La Peste” (dịch hạch) với cốt truyện
đại khái như sau :
Thành phố Oran bị dịch hạch. Các bác sĩ làm
việc không xuể, nên đành phải bó tay. Nhà cầm quyền bèn cô lập
thành phố Oran.
Trong cảnh tuyệt vọng ấy, cuộc sống vẫn
tiếp tục, nhưng tiếp tục một cách hết sức bi thảm :
- Kẻ sợ nhiễm bệnh thì sống trong sợ hãi và
kinh hoàng.
- Kẻ tuyệt vọng thì chạy tìm những thú vui
để quên đi nỗi băn khoăn lo lắng.
- Kẻ khác lại lợi dụng tình trạng nước đục
mà thả câu, tìm kiếm lợi lộc và làm giàu cho riêng mình.
Chỉ còn lại một số rất ít người can đảm và
không hề tuyệt vọng. Họ đã sử dụng những phương tiện ít ỏi mà lo
chạy chữa, để rồi cuối cùng nhờ họ, cơn dịch dần dần bị đẩy lui.
Để kết thúc bài viết về chuột gã xin kể lại
một mẩu chuyện như sau :
Trước tình hình dân số mỗi ngày một giảm
sút, vì bị mèo xơi tái, dòng họ nhà chuột bèn tổ chức một đại
hội hoành tráng để tìm mưu tính kế đối phó với mèo.
Các vị đại biểu dòng họ nhà chuột, từ chuột
nhà đến đồng, từ chuột bạch đến chuột cống, đều thi nhau phát
biểu. Ý kiến của chúng đều được ban thư ký ghi nhận và rồi
sẽ…ngâm kíu sau.
Cuối cùng một bác chuột cống thâm niên quân
vụ, trụi hết cả lông và giàu kinh nghiệm chiến trường, đã anh
dũng leo lên diễn đàn và dõng dạc tuyên bố :
- Chỉ cần cột một cái nhạc (lục lạc) vào cổ
mèo, đề bất kỳ mèo đi tới đâu, thì chuông sẽ kêu, chúng ta nghe
thấy và tìm đường chạy trốn.
Tất cả hội nghị đều vỗ tay hoan hô nhiệt
liệt. Thế nhưng, khi đề cử người đi cột nhạc vào cổ mèo, thì
chẳng ai dám liều, dám mạo hiểm. Rốt cuộc đành bó tay chịu thua,
để cho mèo mặc sức tung hoành, xông xáo tìm mồi.
Câu truyện đó muốn nói lên rằng : Ý kiến ý
cò thì rất hay nhưng khó thực hiện và cũng chẳng ai làm được.
Vì thế, đó chỉ là một kế hoạch không tưởng, viển vông mà thôi.
Và cũng từ câu truyện này, người ta mới có câu thành ngữ “cột
lạc cổ mèo”, “cột nhạc cổ mèo”, hay cột chuông cổ mèo.
Tuy nhiên, hồi còn bé, có lần trong một giờ
học tiếng Pháp, gã đã phải viết bài chính tả mang tựa đề
“Conseil des rats”, tạm dịch là “Hội đồng chuột”. Gã không nhớ
tác giả là ai, nhưng mang cùng một nội dung như trên.
Vì thế, cho đến bây giờ gã vẫn cứ thắc mắc
không hiểu tây thuổng của ta, hay ta mượn tạm của tây ?
Trước thềm xuân Mậu Tí, gã xin long trọng
kính chúc bàn dân thiên hạ trong năm mới này đừng có những kiểu
hội nghị như hội đồng chuột : Bàn thì rất hay nhưng rốt cuộc
chẳng ai thò tay vào làm. Nói thì nhiều mà chẳng làm được bao
nhiêu, thậm chí chẳng làm gì cả.
Cũng như trong những công việc đã quyết
định, đừng để xảy ra tình trạng…đầu voi đuôi chuột : Dự án lên
khuôn thật lớn lao và to tát, như cái đầu con voi, thế nhưng đến
khi kết thúc thì lại tầm thường và nhỏ bé như cái đuôi con chuột
vậy.
Gã Siêu
gasieu@gmail.com
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
- Mọi liên lạc: Ghi danh, thay đổi địa chỉ, đóng góp ý kiến,
bài vở..., xin gởi về địa chỉ
giaosivietnam@gmail.com
- Những nội dung sẽ được đề cao và chú ý bao gồm:
Trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong việc mục
vụ của Giáo sĩ; Những tài liệu của Giáo hội hoặc của các
Tác giả nhằm mục đích Thăng tiến đời sống Giáo sĩ; Cổ võ ơn
gọi Linh mục; Người Giáo dân tham gia công việc “Trợ lực
Giáo sĩ” bằng đời sống cầu nguyện và cộng tác trong mọi lãnh
vực; Mỗi Giáo dân phải là những “Linh mục” không có chức
Thánh; Đối thoại trong tinh thần Bác ái giữa Giáo dân và
Giáo sĩ… (Truyền giáo hay xây pháo đài?)
- Quy vị cũng có thể tham khảo những số báo đã phát hành tại
www.conggiaovietnam.net
Rất mong được sự cộng tác, hưởng ứng của tất cả Quí vị
Xin chân thành cám ơn tất cả anh chị em đã
sẵn lòng cộng tác với chúng tôi bằng nhiều cách thế khác
nhau.
TM. Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam
Lm. Luca
Phạm Quốc Sử
USA
|
|
|
*************
|
|