Nguồn:
http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2009/10/03/tong-huan-pastores-dabo-vobis/
CHƯƠNG V
NGÀI THIẾT
LẬP HỌ THÀNH NHÓM MƯỜI HAI ĐỂ HỌ NÊN BẠN ĐỒNG HÀNH VỚI NGÀI
VIỆC ĐÀO TẠO
CÁC ỨNG SINH LINH MỤC
Sống nối
gót Đức Kitô như các Tông Đồ
42.
“Ngài leo lên núi và Ngài gọi những kẻ
Ngài muốn đến với Ngài. Họ đã đến với Ngài và Ngài thiết lập họ thành Nhóm Mười
Hai để họ nên bạn đồng hành với Ngài và để sai họ đi rao giảng, kèm theo quyền
xua trừ ma quỷ” (Mc 3,13-15).
“Để họ nên đồng
hành với Ngài” : với những từ này, chúng ta có thể đọc thấy “sự sát cánh các ơn
gọi” của các Tông Đồ, từ phía Đức Giêsu. Sau khi đã kêu gọi họ và trước khi sai
họ đi và cũng là để có thể sai họ đi rao giảng, Đức Giêsu xếp đặt cho họ một
thời gian đào tạo nhằm mục đích phát triển mối tương quan hiệp thông và bằng hữu
sâu xa với Ngài. Ngài dành cho họ một nền huấn giáo đi vào chiều sâu (x. Mt
13,11), và Ngài muốn họ nên những người làm chứng về đời cầu nguyện thầm lặng
của Ngài với Chúa Cha (x. Ga 17,1-6; Lc 22,39-45).
Trong sự chăm sóc
dành cho các ơn gọi linh mục, Giáo Hội, thuộc mọi thời đại, tìm nguồn cảm hứng
nơi gương mẫu của Chúa Kitô. Mục vụ các ơn gọi trong Giáo Hội đã có và hôm nay
vẫn còn có rất nhiều dạng thức cụ thể khác biệt nhau, chẳng những nhắm
mục đích phân định các ơn gọi linh mục nhưng còn là sát cánh với các ơn gọi ấy.
Tuy nhiều nhưng tinh thần thôi thúc và nâng đỡ vẫn là một : chỉ
sau khi đã đào tạo những người có ơn gọi một cách đầy đủ mới có thể đưa họ tiến
đến chức linh mục. Mục vụ các ơn gọi cung ứng cho họ khả năng đáp trả một cách ý
thức và tự do và sự đáp trả ấy đưa dẫn toàn thể con người họ đến với Chúa Giêsu
Kitô, Đấng mời gọi họ sống thân tình với Ngài và chia sẻ sứ vụ cứu độ của Ngài.
Trong chiều hướng này, “chủng viện”, dưới nhiều hình thức khác nhau và, một cách
tương tự, “cơ sở đào tạo” các linh mục dòng, trước khi là một nơi chốn vật chất,
đã phải là một nơi chốn thiêng liêng, một lộ trình cho cuộc sống, một bầu khí
trợ lực và bảo đảm cho tiến trình đào tạo, nhờ đó giúp những người được Thiên
Chúa mời gọi tiến đến chức linh mục trở thành hình ảnh sống động của Đức Kitô
Đầu và Mục Tử của Giáo Hội, qua bí tích Truyền Chức Thánh. Các Nghị Phụ Thượng
Hội Đồng đã trình bày rõ rệt ý nghĩa nguyên thủy và loại biệt của việc đào tạo
các ứng sinh linh mục: “Sống trong chủng viện, trường dạy Tin Mừng, có nghĩa là
sống nối gót Đức Kitô như các Tông Đồ, có nghĩa là để cho Đức Kitô đưa dẫn vào
công cuộc phục vụ Chúa Cha và phục vụ nhân loại, dưới sự hướng dẫn của Chúa
Thánh Thần, và để cho mình nên đồng hình dạng với Đức Kitô Mục Tử Nhân Lành nhằm
mục đích, trong cương vị linh mục, phục vụ tốt đẹp hơn trong Giáo Hội và trong
thế giới. Được đào tạo để làm linh mục có nghĩa là luyện tập để có thể tự mình
trả lời câu hỏi cơ bản của Đức Kitô: “Con có yêu mến Ta không?” Đối với người
linh mục tương lai, câu trả lời chỉ có thể là sự trao hiến trọn vẹn đời sống
mình” (122).
Vấn đề ở đây là
phải tùy vào những điều kiện xã hội, tâm lý, chính trị và văn hoá của thế giới
hiện nay mà phiên dịch tinh thần nói trên là tinh thần không bao giờ được sao
nhăng trong Giáo Hội; những điều kiện ấy vốn dị biệt và phức tạp theo như lời
chứng của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, trong tương quan với các Giáo Hội địa
phương khác nhau. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng để lộ những mối bận tâm đầy lo âu
nhưng đồng thời cũng nêu cao một niềm hy vọng lớn lao, các ngài đã dành nhiều
thời giờ để suy tư về những nỗ lực nghiên cứu và những nỗ lực thích nghi các
phương pháp đào tạo ứng sinh linh mục, hiện đang được thực hiện trong những Giáo
Hội của các ngài.
Tông Huấn hiện tại
chỉ có ý thâu nhập thành quả các công việc trong Thượng Hội Đồng. Tông Huấn này
muốn xác định một vài điểm đã đạt được, chỉ rõ những mục tiêu không
thể bỏ qua, cung ứng cho mọi người những bước đường đào tạo phong phú
đã được thử nghiệm một cách tích cực. Trong Tông Huấn này, có sự phân biệt giữa
đào tạo “khai đạo” và đào tạo “trường kỳ”, tuy vậy vẫn không bao giờ coi nhẹ
mối liên hệ sâu xa nối kết chúng nên một và làm cho cả hai trở thành một lộ
trình duy nhất cho cuộc sống Kitô hữu và linh mục. Tông Huấn bàn về những
chiều kích khác biệt trong nền đào tạo nhân bản, thiêng liêng, trí thức
và mục vụ, cũng như bàn về các môi trường và những chủ thể có
trách nhiệm đào tạo các ứng sinh.
I. CÁC CHIỀU KÍCH CỦA VIỆC ĐÀO TẠO LINH
MỤC
Đào tạo
nhân bản, nền tảng của mọi nền đào tạo linh mục.
43.
“Không có đào tạo nhân bản thỏa đáng,
thì việc đào tạo linh mục trong toàn bộ sẽ bị thiếu hụt mất nền tảng cần thiết”
(123). Lời khẳng định này của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng không chỉ nói lên một
dữ kiện mà lý trí quen gợi lên và kinh nghiệm vẫn thường xác nhận: đó còn là một
đòi buộc mà nguyên do sâu xa nhất và loại biệt nhất nằm ngay trong chính bản
chất của linh mục và của thừa tác vụ linh mục. Được mời gọi trở nên “hình ảnh
sống động” của Đức Giêsu Kitô Đầu và Mục Tử, linh mục cần phải phản ánh nơi
chính mình, trong mức độ có thể, sự thành toàn nhân bản như được rạng chiếu nơi
Con Thiên Chúa làm người và như được nhìn xuyên thấu qua các thái độ đầy hiệu
năng của Ngài đối với tha nhân, đúng như lời diễn tả của các tác giả Tin Mừng.
Chắc hẳn thừa tác vụ của linh mục bao gồm việc loan báo Lời Chúa, cử hành các bí
tích, điều hành cộng đoàn Kitô hữu “nhân danh và thay mặt Đức Kitô”, nhưng tất
cả những công việc ấy luôn luôn là để nhắm tới những con người cụ thể: “Thật
vậy, được cất nhắc từ giữa loài người, mọi vị thượng tế đều được đặt lên để can
thiệp cho loài người trong những mối quan hệ giữa loài người với Thiên Chúa” (Dt
5,1). Chính vì thế, việc đào tạo nhân bản cho người linh mục mặc một tầm quan
trọng riêng biệt vì lý do linh mục phải quan hệ với với những người đón nhận sứ
vụ của mình. Thật vậy, để cho thừa tác vụ của linh mục được dễ tin hơn và dễ đón
nhận hơn xét theo phương diện nhân bản, linh mục cần phải trau dồi nhân cách của
mình sao cho mình trở nên một “nhịp cầu” chớ không phải một chướng ngại vật cho
tha nhân trong việc gặp gỡ Đức Giêsu Kitô Đấng cứu chuộc loài người. Noi gương
Đức Giêsu là Đấng “biết được những điều chất chứa trong lòng người” (Ga 2,25; x.
8,3-11), linh mục cần phải có khả năng hiểu biết sâu xa lòng trí con người, trực
giác được những khó khăn và những vấn đề, tạo điều kiện dễ dàng cho sự gặp gỡ và
đối thoại, đạt được lòng tin cậy và sự cộng tác, phát biểu được những phán đoán
lành mạnh và khách quan.
Như thế, không phải
chỉ vì để đạt được một sự triển nở cần thiết và chính đáng và để tự thể hiện
chính mình, nhưng còn vì để thi hành thừa tác vụ linh mục mà các linh mục tương
lai cần phải vun trồng một tập hợp những đức tính nhân bản, cần thiết cho sự
kiến tạo những nhân cách quân bình, mạnh mẽ và tự do: chính vì để có khả năng
chịu đựng sức nặng của các trách nhiệm mục vụ. Bởi đó có nhu cầu phải được giáo
dục về lòng yêu mến chân lý, về sự chân thành, về sự tôn trọng nhân vị đối với
mọi người, về ý thức công bằng, về chữ tín trong lời nói, về lòng trắc ẩn thực
thụ, về tính nhất quán, cách riêng về sự quân bình trong phán đoán và trong cách
cư xử (124). Trong thư gởi tín hữu Philipphê, Thánh Tông Đồ Phaolô đề nghị một
chương trình vừa đơn giản vừa đỏi hỏi cho việc đào tạo nhân bản: “Tất cả những
gì là chân thật, là cao thượng, là công minh, là trong trắng, là dễ mến, là đáng
kính phục, tất cả những gì được coi là tốt đẹp về mặt nhân đức nhân bản và về
những điều được người đời ca ngợi, anh em hãy chú trọng tất cả những điều ấy”
(Ph 4,8). Có điều thú vị đáng ghi nhận, đó là thánh Phaolô, ngay trong những đức
tính thật sự nhân bản của Ngài, lại đưa chính mình ra làm mẫu mực cho các tín
hữu, ngài nói tiếp ngay sau đó: “Những gì anh em đã học, đã lãnh nhận, đã nghe
về tôi và đã nhận thấy nơi tôi, anh em phải đem ra thực hành” (Pl 4,9).
Tương quan với tha
nhân mang một tầm quan trọng đặc thù. Đó là một yếu tố thật sự thiết yếu đối với
người được mời gọi lãnh nhận trách nhiệm trên một cộng đoàn và trở thành “con
người của hiệp thông”. Điều này đòi hỏi linh mục không được tự cao, không được
cau có nhưng phải nhã nhặn, niềm nở, chân thành trong lời nói cũng như trong
lòng (125), khôn ngoan và thận trọng, quảng đại và sẵn sàng phục vụ, có khả năng
thiết lập với tha nhân và khơi dậy nơi tha nhân những mối quan hệ chân thành và
huynh đệ, mau cảm thông, tha thứ và an ủi (x. 1 Tm 3, 1-5; Tr 1,7-9). Thường bị
xô đẩy vào tình trạng vừa ô hợp vừa cô độc, nhất là nơi những chỗ tập trung đông
đúc ở thành thị, nhân loại hiện nay càng ngày càng nhạy cảm đối với sự hiệp
thông: ngày nay hiệp thông là một trong những dấu chỉ hùng hồn nhất và là một
trong những đường lối hữu hiệu nhất của sứ điệp Tin Mừng.
Đào tạo cho ứng
sinh linh mục có được sự trường thành về cảm tính, trong một bối cảnh như hiện
nay, là một yếu tố quan trọng và mang tính định đoạt, là tìm cách làm cho bước
đường giáo dục thật sự đạt tới một tình yeê chân thực và hữu trách.
44.
Sự trưởng thành về mặt cảm tính
giả thiết đã đạt được
ý thức về vị trí trung tâm của tình yêu trong cuộc sống con người. Thực ra, như
Tôi đã viết trong thông điệp Redemptor hominis, “con người không thể sống
mà không có tình yêu. Con người sẽ mãi mãi không hiểu được chính mình, cuộc đời
con người sẽ mất hết ý nghĩa nếu con người không đón nhận mạc khải về tình yêu,
nếu con người không gặp được tình yêu, nếu con người không thử nghiệm tình yêu,
nếu con người không biến tình yêu thành của mình, nếu con người không thông phần
một cách mạnh mẽ vào tình yêu” (126).
Tình yêu được đề
cập ở đây là một tình yêu bao gồm toàn thể ngôi vị con người, trong những chiều
kích và những câu đố thể lý, tâm lý và thiêng liêng của con người, một tình yêu
được diễn đạt trong “ý nghĩa hôn ước” của thân thể con người, nghĩa là, nhờ thân
thể, con người tự trao hiến mình cho người khác và đón nhận người khác. Một nền
giáo dục phải tính hiểu một cách đúng đắn sẽ hướng đến chính nổ lực hiểu biết và
thể hiện tình yêu nhân linh ấy trong “chân lý” của nó. Ngày nay, người ta ghi
nhận một tình huống xã hội và văn hoá xô bồ trong đó “đại đa số ‘tầm thường hoá’
tính dục con người, cắt nghĩa tính dục con người một cách giản lược và nghèo
nàn, chỉ đem móc nối tính dục với thân xác và với lạc thú ích kỷ” (127). Về
phương diện này, ngay chính những gia đình làm nơi phát xuất ơn gọi linh mục
cũng rơi vào những tình huống trong đó có những hụt hẫng đáng kể và đôi khi
những bất quân bình nghiêm trọng.
Trong một bối cảnh
như thế, điều khó hơn nhưng cũng bức bách hơn, đó là bảo đảm có được một nền
giáo dục về tính dục thật sự và trọn vẹn thiết thân cho từng cá nhân, một
nền giáo dục dẫn đến sự quý chuộng cũng như lòng yêu mến đối với đức khiết tịnh,
“là nhân đức phát huy sự trưởng thành chính hiệu của ngôi vị nhân linh, làm cho
con người có khả năng tôn trọng và thăng tiến “ý nghĩa hôn ước” của thân xác”
(128).
Giáo dục cho con
người có được tình yêu hữu trách và làm cho con người trưởng thành về cảm tính
là những gì tuyệt đối cần thiết cho người nào được mời gọi, như linh mục, sống
bậc độc thân, nghĩa là được mời gọi, với ân sủng của Chúa Thánh Thần và
nhờ sự đáp trả tự do bằng ý muốn của riêng mình, hiến dâng toàn thể tình yêu và
lòng ân cần của mình cho Đức Giêsu Kitô và cho Giáo Hội. Nhằm mục đích dấn bước
sống độc thân, sự trưởng thành về mặt cảm tính phải có thể hội nhập vào trong
những mối quan hệ nhân sinh, như tình bạn lành mạnh và tình huynh đệ sâu xa, một
tình yêu nồng nhiệt, sắc bén và tự thân đối với Đức Giêsu Kitô. Như các Nghị Phụ
Thượng Hội Đồng đã viết “tình yêu của Đức Kitô, được nối dài bằng hy lễ tiến
dâng chính mình mang chiều kích hoàn vũ, phải chiếm giữ tầm quan trọng bậc nhất
trong việc phát động sự trưởng thành về mặt cảm tính. Chính nhờ đó mà ứng sinh
được mời gọi sống độc thân sẽ tìm được nơi sự trưởng thành về mặt cảm tính một
chỗ dựa vững chắc để sống đức khiết tịnh một cách trung tín và vui vẻ” (129).
Dẫu có là chính
hiệu và tôi luyện, đặc sủng độc thân vẫn giữ nguyên những nghiêng chiều của cảm
tính và những thúc đẩy của bản năng : do đó, các ứng sinh linh mục rất cần đến
một sự trưởng thành về mặt cảm tính, nhờ đó mới có khả năng sống thận trọng, từ
khước tất cả những gì có thể làm phương hại sự trưởng thành ấy, biết cảnh tỉnh
về thể xác cũng như tinh thần, có được thái độ quí chuộng và tôn trọng những
tương quan liên vị giữa nam và nữ. Có thể góp thêm vào đó một sự trợ giúp quí
giá từ một nền giáo dục thích nghi cho tình bạn đích thực, theo gương
những mối giây trìu mến huynh đệ mà chính Đức Kitô đã thể hiện trong cuộc sống
trần thế của Ngài. (x. Ga 11,5).
Sự trưởng thành
nhân bản và cách riêng sự trưởng thành về mặt cảm tính đòi hỏi một nền đào
tạo trong suốt và cương nghị nhắm đến tự do, để cho tự do mặc lấy
những sắc thái của một sự tuân phục vừa xác tín vừa chân tình đối với “sự thật”
của con người mình, đối với “ý nghĩa” của cuộc sống mình, nghĩa là tuân phục đến
độ trao hiến chính mình một cách chân thành, lấy đó làm đường lộ và làm cốt lõi
cơ bản cho sự thể hiện bản thân chính hiệu (130). Hiểu như thế, tự do đòi hỏi
con người phải thực sự làm chủ chính mình, dứt khoát chiến đấu và thắng vượt mọi
hình thái vi kỷ và cá nhân chủ nghĩa vốn đe dọa đời sống mỗi người, mau mắn cởi
mở đối với tha nhân, quảng đại trong sự tận tụy và trong việc phục vụ đối với
tha nhân. Tất cả những điều ấy đều quan trọng để có thể đáp trả ơn gọi, đặc biệt
ơn gọi linh mục, để có thể trung thành với ơn gọi và với những cam kết gắn liền
với ơn gọi, nhất là trong những giai đoạn khó khăn. Đời sống cộng đoàn trong
chủng viện có thể góp thêm phần trợ lực để cho việc giáo dục tạo được bước tiến
hướng đến một sự tự do chín muồi và có trách nhiệm (130).
Giáo dục về
lương tâm luân lý là một công
việc mật thiết gắn liền với việc đào tạo về tự do hữu trách. Từ nơi cái “tôi”
sâu thẳm, lương tâm luân lý vổ võ sự vâng phục trước những đòi buộc luân lý;
đồng thời, lương tâm luân lý vén mở ý nghĩa thâm sâu của sự vâng phục ấy : một
sự đáp trả có ý thức và tự do, bởi đó có động lực là tình yêu, trước những lời
yêu cầu của Thiên Chúa và của tình yêu Ngài. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng viết:
“Sự trưởng thành nhân bản của linh mục phải đặc biệt bao hàm việc đào tạo lương
tâm linh mục. Thật vậy, để cho ứng sinh có thể trung thành thỏa đáp những ràng
buộc của mình đối với Thiên Chúa, đối với Giáo Hội và có thể hướng dẫn lương tâm
các tín hữu một cách khôn ngoan, ứng sinh cần phải tạo thói quen lắng nghe tiếng
Chúa ngỏ với mình trong lòng và cần phải gắn bó vào thánh ý Ngài với tình yêu và
lòng kiên quyết” (132).
Đào tạo
thiêng liêng : hiệp thông với Thiên Chúa và tìm gặp Đức Kitô.
45.
Việc đào tạo nhân bản ấy, nếu được phát
triển trong bối cảnh của một nền nhân học thừa nhận sự thật trọn vẹn về con
người, sẽ khai mở và bổ khuyết cho việc đào tạo thiêng liêng. Được Thiên Chúa
tạo dựng và được máu Đức Kitô cứu chuộc, mọi người đều được mời gọi tái sinh
“bởi nước và bởi Thần Khí” (Ga 3,5) và trở nên “con trong Con”. Chính trong kế
hoạch hữu hiệu ấy của Thiên Chúa mà chúng ta tìm gặp chiều kích tôn giáo, là yếu
tố cấu thành con người, chiều kích ấy vốn được khám phá và nhìn nhận bởi lý trí
đơn thuần : con người hướng mở về cái siêu việt, về cái tuyệt đối; tâm hồn con
người khắc khoải mãi cho tới khi an nghỉ trong Chúa (133).
Tiến trình giáo dục
dành cho đời sống thiêng liêng, hiểu như là tương quan và hiệp thông với Thiên
Chúa, lấy nhu cầu cơ bản và bất khả hủy diệt ấy làm nguồn mạch và được phát
triển trong nhu cầu đó. Dựa theo Mạc Khải và kinh nghiệm Kitô giáo, việc đào tạo
thiêng liêng tìm được tính chất độc đáo độc nhất vô nhị trong sự mới mẻ của Tin
Mừng. Thực ra, “việc đào tạo ấy là công việc của Chúa Thánh Thần, đòi hỏi toàn
diện con người phải dấn thân; việc đào tạo ấy dẫn vào trong sự hiệp thông sâu xa
với Đức Giêsu Kitô Mục Tử Nhân Lành; việc đào tạo ấy hướng dẫn cho toàn thể cuộc
sống tuân phục Chúa Thánh Thần, bằng một thái độ hiếu thảo đối với Đức Chúa Cha
và bằng một sự gắn bó tín thác đối với Giáo Hội. Việc đoà tạo thiêng liêng bén
rễ trong kinh nghiệm thập giá để rồi có thể đưa dẫn, bằng một sự hiệp thông sâu
xa, vào trong toàn thể mầu nhiệm Vượt qua” (134).
Như chúng ta nhận
thấy, đào tạo thiêng liêng ở đây là đào tạo chung cho mọi tín hữu, việc đào tạo
ấy còn cần phải được cơ cấu hoá tùy theo ý nghĩa và đặc tính phát xuất từ căn
tính của linh mục và của thừa tác vụ linh mục. Đối với mọi tín hữu, đào tạo
thiêng liêng phải là việc làm trung tâm và phải tạo sự thống nhất giữa con người
Kitô hữu với đời sống Kitô hữu, nghĩa là sự thống nhất của một tạo vật mới trong
Đức Kitô đang tấn tới trong Chúa Thánh Thần. Cùng một cách thức ấy, đối với mọi
linh mục, việc đào tạo thiêng liêng phải là “tâm điểm”, phải tạo sự thống nhất
cũng như sức sống cho “hữu thể” và “hành động” của linh mục. Trong chiều hướng
ấy, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng quả quyết rằng “thiếu đào tạo thiêng liêng,
việc đào tạo mục vụ sẽ không có nền tảng” (135) và rằng đào tạo thiêng liêng
chính là “yếu tố quan trọng nhất trong nền giáo dục linh mục” (136).
Sắc lệnh công đồng
Optatam totius đã trình bày khá rõ nét những gì là thiết yếu được hàm chứa
trong việc đào tạo thiêng liêng nhằm giúp có được một lộ trình ấn định cho việc
tiến tới chức linh mục: “Phải cung ứng một nền đào tạo thiêng liêng […] sao cho
các chủng sinh được chuẩn bị để sống trong sự hiệp thông liên lỉ và thân tình
với Chúa Cha, nhờ Con Ngài là Đức Giêsu Kitô, trong Chúa Thánh Thần. Hướng đến
việc mô phỏng Đức Kitô Linh mục nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, các chủng sinh
phải tập làm quen để gắn bó với Ngài như những người bạn bằng một đời sống tâm
phúc trọn vẹn. Các chủng sinh phải sống mầu nhiệm vượt qua của Ngài làm sao để
có thể đưa dẫn đoàn dân sẽ được giao phó cho mình vào trong mầu nhiệm ấy. Phải
dạy cho các chủng sinh biết tìm kiếm Đức Kitô bằng cách trung thành suy niệm Lời
Chúa, bằng cách tích cực hiệp thông với các mầu nhiệm rất thánh của Giáo Hội,
trước hết qua bí tích Thánh Thể và thần vụ. Các chủng sinh phải tìm kiếm Đức
Kitô nơi giám mục là người sai phái mình và nơi những con người mà mình được sai
phái đến, nhất là nơi những người nghèo, những người bé nhỏ, những người yếu
đau, những người tội lỗi và những người không tin. Với niềm cậy tin hiếu thảo,
các chủng sinh phải yêu mến và tôn kính Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc mà khi hấp
hối trên thập giá Đức Kitô Giêsu đã ban cho người cho môn đệ yêu dấu để làm mẹ
của mình” (137).
46.
Bản văn công đồng trên đây đáng cho
chúng ta chú tâm suy niệm. Chúng ta có thể dễ dàng phân định ở đó một số giá trị
và đòi buộc cơ bản liên quan tới hành trình thiêng liêng được đề nghị cho ứng
sinh linh mục.
Điều được nhận ra
tiên vàn, đó là giá trị và đòi buộc của một “đời sống mật thiết kết hiệp” với
Đức Giêsu Kitô. Được xây trên bí tích Rửa tội và được nuôi dưỡng bằng bí
tích Thánh Thể, sự hiệp nhất với Chúa Giêsu phải tỏ lộ bằng một cuộc canh tân
triệt để, trong đời sống mỗi ngày. Sự thông hiệp mật thiết với Chúa Ba Ngôi,
nghĩa là đời sống mới trong ân sủng với quyền làm con Thiên Chúa, nói lên “tính
chất mới mẻ” của người tín hữu, tính chất mới mẻ này lan tỏa đến hữu thể và hành
động. Đời sống mới ấy chính là huyền nhiệm của đời sống Kitô hữu được đặt dưới
sinh khí của Chúa Thánh Thần; bởi đó, đời sống mới ấy phải làm thành cái gọi là
“ethos” của đời sống người Kitô hữu. Về những điều được hàm chứa cách kỳ
diệu trong đời sống Kitô hữu, được coi như là tâm điểm của đời sống thiêng
liêng, theo như vừa trình bày, Đức Giêsu đã giảng dạy cho chúng ta trong ám dụ
cây nho và ngành cho : “Thầy là cây nho đích thật và Cha Thầy là người trồng
nho…. Anh em hãy ở trong Thầy, như Thầy ở trong anh em. Cũng như ngành nho tự
mình không thể kết trái nếu không gắn liền với thân nho, anh em cũng vậy, nếu
anh em không ở trong Thầy. Thầy là cây nho, anh em là ngành. Người nào ở trong
Thầy và Thầy ở trong người ấy, người ấy sẽ sinh nhiều hoa trái; bởi vì lìa khỏi
Thầy ạnh em sẽ không làm được gì” (Ga 15,1.4-5).
Trong nền văn hoá
hiện đại, các giá trị tinh thần và tôn giáo không thiếu và con người, mặc cho
những dáng vẻ bên ngoài, vẫn cứ triền miên đói khát Thiên Chúa. Nhưng thường
thường Kitô giáo có nguy cơ bị coi như là một tôn giáo trong số các tôn giáo,
hoặc bị giản lược vào nền đạo đức xã hội thuần túy nhằm phục vụ con người. Bởi
đó, không phải lúc nào người ta cũng nhận ra được tính chất mới mẻ có sức làm
đảo lộn cuộc sống của Kitô giáo trong lịch sử : Kitô giáo là “Mầu Nhiệm”, là
biến cố Con Thiên Chúa làm người và ban cho những kẻ đón nhận Ngài “quyền” trở
nên con Thiên Chúa (Ga 1,12); là sự loan báo và còn là sự ban tặng một giao ước
tình yêu và sự sống được ký kết giữa Thiên Chúa và con người, Các linh mục tương
lai sẽ chỉ có thể truyền đạt tin diệu vợi và nguồn hạnh phúc ấy cho người khác
(x. 1 Ga 1,1-4), nếu họ đạt được cho chính họ một sự hiểu biết sâu xa cùng với
những tiến bộ bằng kinh nghiệm về “mầu nhiệm”, nhờ vào một nền đào tạo thiêng
liêng thích ứng.
Trong khi nêu bật
tính chất siêu việt của mầu nhiệm Kitô giáo, bản văn công đồng còn trình bày sự
thông hiệp mật thiết của các linh mục với Đức Giêsu, thậm chí còn điểm thêm
sắc thái của tình bằng hữu. Vấn đề ở đây không phải là một kỳ vọng phi lý
của con người. Đây chỉ đơn thuần là quà tặng vô giá của Đức Kitô như Ngài đã nói
với các Tông Đồ: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ, bởi vì tôi tớ không biết
việc chủ làm; nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, bởi vì tất cả những gì Thầy đã
nghe biết nơi Cha Thầy Thầy đều đã truyền đạt cho anh em” (Ga 15,15).
Trong phần kế tiếp,
bản văn công đồng trưng dẫn một giá trị thiêng liêng khác không kém quan trọng :
đó là việc tìm gặp Đức Giêsu. “Phải dạy cho các chủng sinh biết tìm gặp
Đức Kitô”. Với điều gọi là quaerere Deum, đây là một đề tài cổ điển của
nền tu đức Kitô giáo lấy ơn gọi của các Tông Đồ làm mẫu mực để minh họa. Khi
tường thuật về cách thức mà hai môn đệ đầu tiên đã đi theo Đức Giêsu, thánh
Gioan đưa ra ánh sáng vị thế mà “tìm gặp” ấy chiếm giữ. Chính Đức Giêsu là người
đặt câu hỏi: “Các anh tìm gì?” Và cả hai đã trả lời: “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?”.
Tác giả Tin Mừng viết tiếp : “Ngài nói với họ : “Hãy đến mà xem”. Họ đã đến và
đã xem thấy nơi Ngài ở và họ ở lại với Ngài ngày hôm ấy” (Ga 1,37-39). Bởi đó,
đời sống thiêng liêng của người chuẩn bị bước vào chức linh mục được chi phối
bởi cuộc tìm gặp ấy : tìm và “gặp” Thầy, theo Ngài và ở lại với Ngài. Trong thừa
tác vụ và đời sống linh mục, cần phải tiếp tục cuộc “tìm gặp” ấy, bởi vì mầu
nhiệm noi gương Đức Kitô và thông dự vào đời sống Ngài thì bất tận. Cũng vậy,
cần phải tiếp tục “gặp” Thầy để rồi giới thiệu Ngài cho người khác và hơn nữa,
khơi dậy nơi người khác lòng khao khát tìm kiếm Thầy. Thế nhưng chỉ có thể thực
sự làm được việc này nếu đem đề nghị cho người khác một “kinh nghiệm sống, một
kinh nghiệm đáng đem chia sẻ. Đó là đường lối mà Anrê đã chọn để dẫn anh mình là
Simon đến với Đức Giêsu. Theo lời thánh Gioan tác giả Tin Mừng, Anrê “gặp anh
mình là Simon lúc tảng sáng và nói với anh: Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia — nghĩa
là Đức Kitô. Anrê dẫn anh mình đền với Đức Giêsu”. Bằng cách đó, cả Simon cũng
đã được mời gọi làm tông đồ đi theo Đấng Mêsia : “Đức Giêsu nhìn Simon và nói:
“anh là Simon, con ông Gioan; anh sẽ được gọi là Kêpha” – nghĩa là Đá” (Ga
1,41-42).
Thế nhưng, trong
đời sống thiêng liêng, tìm kiếm Đức Kitô có nghĩa là gì? Gặp Ngài ở đâu? “Thưa
Thầy, Thầy ở đâu?”. Sắc lệnh công đồng Optatam totitus dường như chỉ dẫn
ba con đường phải trải qua : trung thành suy niệm lời Chúa, tích cực tham dự các
mầu nhiệm thánh trong Giáo Hội, phục vụ trong đức ái đối với những người “bé
mọn”. Đó chính là ba giá trị và đòi buộc cao cả xác định nội dung hàm chứa trong
nền đào tạo thiêng liêng dành cho ứng sinh linh mục.
47.
Đọc Lời Chúa trong suy niệm và
cầu nguyện (lectio
divina), đồng thời khiêm nhượng và quý trọng lắng nghe người phát biểu, đó
là một yếu tố thiết cốt trong việc đào tạo thiêng liêng. Quả thật, chính trong
ánh sáng và sức mạnh của Lời Chúa mà mỗi người có thể khám phá, hiểu, yêu mến và
theo đuổi ơn gọi cũng như chu toàn sứ vụ của mình. Chính khi trở thành đích điểm
của Lời Thiên Chúa là Đấng mời gọi con người và trở thành khởi điểm (nguyên lý)
của lời con người là kẻ đáp lại Thiên Chúa, mà cuộc sống con người đạt được ý
nghĩa tròn đầy và căn cơ. Nhờ thân mật với Lời Chúa mà tiến trình hoán cải sẽ
trở nên dễ dàng, hiểu theo hai nghĩa : chẳng những từ bỏ điều dữ để gắn bó với
điều lành nhưng còn làm cho tư tưởng của Thiên Chúa được lớn lên trong tâm hồn.
Với tính cách đáp lại lời Thiên Chúa, đức tin lúc ấy trở thành tiêu chuẩn mới để
giúp phán đoán và đánh giá con người và sự việc, các biến cố và các vấn đề.
Tất cả những điều
ấy, với điều kiện là Lời Chúa được nghe và đón nhận theo đúng bản chất đích
thực, bởi vì Lời Chúa giúp gặp gỡ chính Thiên Chúa, một Thiên Chúa ngỏ lời với
con người; Lời Chúa giúp gặp gỡ Đức Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa, Sự Thật, cũng là
Đường và Sự Sống (x. Ga 14,6). Cần phải đọc “sách thánh” bằng cách lắng nghe
“những lời nói”, lắng nghe “Lời” của Thiên Chúa, như lời nhắc nhở của công đồng:
“Các Sách Thánh chứa đựng Lời Thiên Chúa và bởi vì các sách ấy đều được linh ứng
nên đều thật sự là Lời Thiên Chúa” (138). Công đồng còn nói : “Bằng việc mạc
khải ấy, Thiên Chúa vô hình (x. Cl 1,15; 1Tm 1,17), trong tình yêu bao la của
Ngài, ngỏ lời với loài người như với những người bạn (x. Xh 33,11; Ga 15,14-15).
Ngài đàm đạo với họ (x. Br 3,38) để mời gọi họ và chấp nhận cho họ được thông
chia sự sống thuộc về Ngài” (139).
Tiếp cận Lời Chúa
một cách mật thiết và ngập tràn tình yêu, bằng việc cầu nguyện : đó là công việc
hết sức đặc biệt đối với thừa tác vụ ngôn sứ của linh mục; đó là một điều kiện
tất yếu để linh mục có thể thi hành thừa tác vụ ấy một cách xứng hợp, nhất là
trong bối cảnh của công cuộc “phúc âm hoá mới” trong Giáo Hội ngày nay. Theo lời
mời gọi của Công Đồng, và tất cả những ai một cách bình thường tham gia thừa tác
vụ Lời Chúa, các phó tế hoặc các giáo lý viên, cần phải chuyên chăm đọc Kinh
Thánh như một loại sách thiêng liêng và đào sâu Kinh Thánh bằng việc học hỏi,
cần phải gắn bó với Kinh Thánh, để đừng có ai trong họ phải trở nên kẻ làm công
việc giảng thuyết Lời Chúa bên ngoài cách hão huyền, trong khi tự thâm tâm lại
chẳng hề lắng nghe (Thánh Augustinô, Serm. 179,1 : PL 38,966)” (140).
Cầu nguyện là cách
đáp trả cơ bản đối với Lời Chúa và cầu nguyện chắc chắn là một giá trị và một
đòi buộc tiên khởi trong việc đào tạo thiêng liêng. Việc đào tạo thiêng liêng
phải đưa dẫn các ứng sinh linh mục để họ nhận biết và thực nghiệm ý nghĩa
chính hiệu của kinh nguyện Kitô giáo : là một cuộc gặp gỡ sống động và cá vị
với Chúa Cha, nhờ Con độc nhất của Ngài với tác động của Chúa Thánh Thần, là một
cuộc đối thoại được trở thành việc thông phần vào cuộc đối thoại phụ tử giữa Đức
Giêsu với Cha Ngài. Đàng khác, còn một khía cạnh không kém quan trọng trong sứ
vụ linh mục, đó là linh mục phải là “nhà giáo dục về cầu nguyện”. Thế nhưng linh
mục sẽ chỉ có thể đào tạo người khác theo trường học của Đức Giêsu cầu nguyện
nếu chính linh mục đã được đào tạo và còn tiếp tục tự đào luyện theo trường học
ấy. Đó chính là điều mà người đời đòi hỏi nơi linh mục : “Linh mục là người
của Thiên Chúa, là người thuộc về Thiên Chúa và làm cho người ta suy nghĩ về
Thiên Chúa. Khi nói về Đức Kitô, Thư gởi tín hữu Do Thái trình bày Đức
Kitô như một “vị thượng tế nhân ái và trung thành trong những sự việc liên can
tới Thiên Chúa” (Dy 2,17)…. Các Kitô hữu hy vọng gặp được nơi linh mục chẳng
những một con người đón tiếp họ, bằng lòng lắng nghe họ, bày tỏ cho họ một mối
thiện cảm nào đó, nhưng còn là và nhất là một con người giúp đỡ họ ngắm nhìn
Thiên Chúa, tiến lên về phía Thiên Chúa. Bởi đó, linh mục cần phải được đào
tạo cho có một thâm tình sâu đậm với Thiên Chúa. Những người chuẩn bị làm linh
mục phải hiểu được rằng toàn thể giá trị đời sống linh mục của họ lệ thuộc vào
sự trao hiến chính mình mà họ sẽ có thể thực hiện cho Đức Kitô và nhờ Đức Kitô,
cho Đức Chúa Cha” (141).
Trong một bối cảnh
náo động và ồn ào như bối cảnh xã hội chúng ta, nền sư phạm cần thiết cho việc
cầu nguyện, phải bao gồm việc giáo dục nhằm đạt được một cảm nhận sâu sắc về con
người, nhằm nhận thức được giá trị tôn giáo của sự thinh lặng, là bầu khí
thiêng liêng cần có để có thể nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa và để cho sự
hiện diện của Thiên Chúa có thể xâm chiếm mình (x. 1 V 19,11-12).
48.
Chóp đỉnh của kinh nguyện Kitô giáo
chính là Bí Tích Thánh Thể, bí tích này, đến lượt mình, lại là “chóp
đỉnh và nguồn mạch” của mọi bí tích và của Phụng Vụ các Giờ Kinh. Giáo dục về
phụng vụ hiểu theo nghĩa tròn đầu là một sự hội nhập đời sống vào mầu nhiệm
Đức Giêsu Kitô, đã chết và sống lại, đang hiện diện và hành động trong các bí
tích của Giáo Hội : việc giáo dục này là tuyệt đối cần thiết đối với nền đào tạo
thiêng liêng của mọi Kitô hữu và cách riêng của mọi linh mục. Các bí tích mang
lại ân huệ và hoa quả là sự thông hiệp với Thiên Chúa, trung tâm của toàn thể
đời sống thiêng liêng. Sự thông hiệp với Thiên Chúa đồng thời là một bổn phận và
một trách nhiệm mà các bí tích chuyển thông cho tự do của người tín hữu, để rồi
sự thông hiệp ấy gợi hứng cho những quyết định, những lựa chọn, những thái độ và
những hoạt động trong cuộc sống thường ngày. Trong chiều hướng ấy, “ân sủng” làm
cho đời sống Kitô hữu nên “mới” chính là Đức Giêsu Kitô. Đấng đã chết và đã sống
lại, hiện tiếp tục tuôn đổ Thần Khí của Ngài qua các bí tích, Thần Khí thánh
thiện và thánh hoá. Cũng vậy, “luật mới” có trách nhiệm hướng dẫn và chỉnh đốn
cuộc sống người Kitô hữu, luật ấy được các bí tích khác ghi trong “trái tim
mới”. Đó là luật bác ái đối với Thiên Chúa và đối với anh em, là sự đáp trả và
nối dài đức ái của Thiên Chúa đối với con người, một đức ái được ám chỉ và được
thông ban qua các bí tích. Nhờ đó, chúng ta hiểu được giá trị của một sự tham dự
“trọn vẹn, ý thức và tích cực” (142) vào việc cử hành các bí tích, nhằm mục đích
đón nhận và đem ra thực hành ơn “đức ái mục vụ” vốn là linh hồn của thừa tác vụ
linh mục.
Đáng kể hơn cả là
việc tham dự vào bí tích Thánh Thể, tưởng niệm hy lễ, cái chết và sự phục sinh
vinh hiển của Đức Kitô, “bí tích sùng mộ, dấu chỉ hiệp nhất, mối dây bác ái”
(143), bữa tiệc vượt qua “trong đó Đức Kitô được đón nhận làm của ăn, linh hồn
được ngập tràn ân sủng Ngài và vinh quang mai ngày như đã được tặng ban cho
chúng ta” (144). Trong khi đó, với tư cách là thừa tác viên của những sự việc
linh thánh, các linh mục trên hết là thừa tác viên của Hiến Tế Thánh Lễ : (145)
vai trò của các ngài là tuyệt đối cần thiết bởi vì, không có linh mục, không thể
có hiến tế tạ ơn.
Điều đó chứng tỏ
tầm quan trọng thiết yếu của Bí Tích Thánh Thể đối với đời sống và thừa tác vụ
linh mục và bởi đó đối với nền đào tạo các ứng sinh linh mục. Một cách hết sức
đơn sơ và để cho thật cụ thể, Tôi xin lặp lại: “Điều cần thiết phù hợp cho các
chủng sinh, đó là họ tham dự hằng ngày việc cử hành Bí tích Thánh Thể,
làm thế nào để sau này họ coi việc cử hành thường nhật ấy như là quy luật trong
cuộc đời linh mục của họ. Ngoài ra, cần phải dạy cho các chủng sinh biết quan
niệm việc cử hành Thánh Thể như nhịp sống thiết yếu của một ngày. Họ phải
tham dự việc cử hành ấy một cách tích cực , không bao giờ bằng lòng với việc có
mặt vì thói quen thuần túy. Sau cùng, các ứng sinh linh mục phải được đào tạo để
có những tâm tình sầu kín nhờ bí tích Thánh Thể làm nảy sinh : đó là tâm tình
tri ân đối với những ân phúc lãnh nhận từ trời, bởi vì bí tích Thánh Thể là
một cuộc tạ ơn; thái độ hiến dâng nhờ đó họ được thúc đẩy kết hiệp của lễ
chính mình với của lễ tạ ơn của Đức Kitô; đức ái, được nuôi dưỡng bằng
một bí tích vốn là dấu chỉ hiệp nhất và chia sẻ, khát vọng chiêm ngắm và thờ
lạy đối diện với Đức Kitô thực sự hiện diện trong các hình bánh và rượu”
(146).
Điều khẩn cấp hơn
bao giờ hết là phải giúp khám phá lại, giữa lòng nền đào tạo thiêng liêng, vẻ
đẹp và niềm vui của bí tích thống hối. Quả vậy, nền văn hoá của chúng ta,
với cuộc canh tân những hình thái tự biện hộ chính mình cách tinh vi nhất, có
nguy cơ đánh mất “ý thức về tội” và, do đó, đánh mất niềm vui có sức an ủi do
việc cầu xin ơn tha thứ (x. Tv 51/50,14) và việc gặp gỡ Thiên Chúa “giàu lòng
thương xót” (Ep 2,4). Do vậy, thật là cần thiết phải giáo dục các linh mục tương
lai sao cho có được nhân đức thống hối mà Giáo Hội khéo léo gọi mời trong các
cuộc cử hành và trong những dịp quan trọng của năm phụng vụ, nhân đức ấy đạt
được tầm mức trọn vẹn trong bí tích Hoà Giải. Từ đó phát sinh ý thức về sự khổ
chế và về kỷ luật nội tâm, phát sinh tinh thần hy sinh và từ bỏ, thái độ chấp
nhận gian khổ và thập giá. Các yếu tố ấy trong đời sống thiêng liêng thường gây
những khó khăn đáng kể cho nhiều ứng sinh linh mục, nhất là những ứng sinh đã
đớn lên trong những điều kiện sống tương đối dễ dãi : họ ít hướng đến các yếu tố
ấy và ít nhạy cảm đối với các yếu tố ấy do những mẫu gương và những lý tưởng lưu
hành bởi những phương tiên truyền thông xã hội, ngay cả nơi những quốc gia mà
điều kiện sống thấp kém hơn và tình trạng của những người trẻ nghiệt ngã hơn. Vì
lý do ấy và nhất là để noi gương Đức Kitô Mục Tử Nhân Lành mà thực hiện “sự trao
hiến triệt để chính mình” theo như đòi buộc của linh mục, các Nghị Phụ Thượng
Hội Đồng đã viết: “Điều cần thiết là phải cấy trồng ý thức về thập giá, trung
tâm của mầu nhiệm Phục Sinh. Nhờ sự đồng hoá với Đức Kitô chịu đóng đinh, với
Đức Kitô tôi tớ, thế giới có thể tìm lại được giá trị của sự khắc nghiệt, sự khổ
đau và thậm chí của sự đổ máu vì đạo, ngay giữa lòng nền văn hoá hiện đại là văn
hoá tiêm nhiễm chủ nghĩa thế tục, tinh thần thèm khát và chủ trương hưởng lạc”
(147).
49.
Việc đào tạo thiêng liêng cũng dạy cho
biết tìm kiếm Đức Kitô nơi những con người. Đời sống thiêng liêng chắc
hẳn là đời sống nội tâm, đời sống thân mật với Thiên Chúa, đời sống cầu nguyện
và chiêm ngắm. Nhưng cũng chính trong đời sống thiêng liêng mà việc gặp gỡ Thiên
Chúa và việc gặp gỡ tình yêu của một người Cha đối với mọi người lại nhất thiết
dẫn đến việc gặp gỡ tha nhân, dẫn đến sự trao hiến chính mình cho người khác,
qua việc phục vụ khiêm tốn và vô vị lợi mà Đức Giêsu đã đề nghị cho mọi người
dùng làm chương trình sống khi Ngài rửa chân cho các tông đồ: “Thầy đã nêu gương
cho anh em, để đến lượt anh em, anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga
13,15).
Việc đào tạo nhắm
đến sự trao hiến chính mình cách quảng đại và nhưng không gặp được trợ lực từ
nơi đời sống cộng đoàn là đời sống bình thường được đòi hỏi cho việc chuẩn bị
tiến tới chức linh mục. Việc đào tạo ấy chính là điều kiện cần thiết phải có đối
với người nào được mời gọi để chính mình trở nên sự xuyên thấu, sự hiển dung cho
Vị Mục Tử Nhân Lành, Đấng ban tặng mạng sống (x. Ga 10,11.15). Dưới khía cạnh
ấy, nền đào tạo thiêng liêng phải phát huy chiều kích nội tại mục vụ hoặc bác ái
của mình. Một lòng sùng kính đúng đắn, mãnh liệt và dịu dàng đối với trái tim
Chúa Kitô có thể góp thêm phần nào nền đào tạo ấy như các Nghị Phụ Thượng Hội
Đồng đã ghi nhận : “Đào tạo các linh mục tương lai trong nền tu đức hướng về
Trái Tim Chúa, đó là dẫn đưa họ đến một cuộc sống tương ứng với tình yêu của
Ngài đối với Chúa Cha trong Chúa Thánh thần, với tình yêu của Ngài đối với nhân
loại đến độ ban mạng sống bằng cách tự hiến tế” (148).
Như thế, linh mục
là con người của đức ái; linh mục được mời gọi dạy cho người khác biết
noi gương Đức Kitô và biết sống giới răn mới là giới răn yêu thương huynh đệ (x.
Ga 15,12). Tư cách này đòi hỏi linh mục phải không ngừng để cho Chúa Thánh Thần
giáo dục về đức ái của Chúa Kitô. Từ đó, việc chuẩn bị cho cuộc sống linh mục
nhất thiết bao hàm một nền đào tạo vững chắc về đức ái, nhất là về lòng yêu mến
ưu tiên đối với “người nghèo”, vì đức tin khám phá ra nơi họ sự hiện diện của
Đức Giêsu (x. Mt 25,40), và về lòng nhân ái yêu mến dành cho các tội nhân.
Chính trong viễn
tượng đức ái, được hiểu là trao hiến chính mình vì tình yêu, mà sự giáo dục
về đức vâng phục về bậc sống độc thân và về đức nghèo khó tìm được vị trí
của mình trong nền đào tạo thiêng liêng dành cho người linh mục tương lai (149).
Lời kêu mời của Công Đồng cũng đi theo cùng một chiều hướng : “Các chủng sinh
cần phải hiểu rõ ràng rằng họ không được đào luyện để thống trị hay để thừa
hưởng vinh dự, nhưng để trọn vẹn phó mình cho việc phục vụ Thiên Chúa và cho
thừa tác vụ chủ chăn. Cần phải vun trồng nơi họ, với một sự chăm sóc đặc biệt,
đức vâng phục của một linh mục, ước muốn sống nghèo khó, tinh thần từ bỏ, sao
cho họ có thói quen mau mắn từ khước ngay cả những sự việc được phép mà không
cấp thiết và có thói quen mô phỏng Đức Kitô chịu đóng đinh” (150).
50.
Trong việc đào tạo thiêng liêng dành cho
người được mời gọi sống bậc độc thân, cần phải đặc biệt lưu ý để luyện tập cho
người linh mục tương lai hiểu biết, quý chuộng, yêu mến và sống bậc độc thân
theo đúng bản chất và theo đúng những cùng đích của bậc sống ấy, nghĩa là
với những động lực Tin Mừng, thiêng liêng và mục vụ. Trong công việc luyện tập
này, điều được giả thiết và điều được hàm chứa chính là nhân đức khiết tịnh, là
nhân đức điểm tô mọi tương quan nhân linh và dẫn đến việc “thực nghiệm và biểu
lộ… một tình yêu chân thành, nhân bản, huynh đệ, cá vị và có khả năng hy sinh
theo gương Đức Kitô đối với mọi người và đối với từng người” (151).
Bậc sống độc thân
linh mục thông chuyển cho đức khiết tịnh một số đặc tính nhờ đó, “khước từ đời
sống lứa đôi vì Nước Trời (x. Mt 19,12), các linh mục có thể gắn bó với Chúa
bằng một tình yêu không chia sớt, phù hợp trọn vẹn với Giao Ước mới; các linh
mục làm chứng về sự sống lại thuộc thế giới mai sau (x. Lc 20,36) và tìm được
một trợ lực rất thích hợp cho việc thực hành liên lỉ đức ái trọn hảo để có thể
nên mọi sự cho mọi người trong thừa tác vụ linh mục” (152). Theo chiều hướng ấy,
không được coi bậc độc thân linh mục như một quy tắc đơn thuần mang tính pháp lý
hoặc như một điều kiện hoàn toàn bên ngoài để được chấp nhận cho thụ phong.
Ngược lại, bậc độc thân là một giá trị mật thiết gắn liền với việc Thụ Phong.
Bậc độc thân làm cho linh mục nên giống Đức Giêsu Kitô, Mục Tử Nhân Lành và Phu
Quân của Giáo Hội. Bậc độc thân tạo điều kiện cho linh mục chọn lựa một tình yêu
cao cả hơn, một tình yêu không chia sớt dành cho Đức Kitô và Giáo Hội Ngài, với
một tư thế trọn vẹn và vui tươi, ứng sẵn cho thừa tác vụ mục tử. Phải coi bậc
độc thân như một ân sủng đặc biệt, như một hồng ân mà không phải bất cứ ai cũng
hiểu được, nhưng chỉ những người đã được ban cho ơn ấy (X. Mt 19,11). Ân sủng
này đòi hỏi một sự đáp trả có ý thức và tự do từ phía người lãnh nhận, với một
sức mạnh phi thường. Đặc sủng ấy của Chúa Thánh Thần cũng chuyển ban ơn trung
thành cho đến trọn đời, ơn chu toàn một cách quảng đại và vui tươi những bó buộc
gắn liền. Trong việc đào tạo sống bậc độc thân linh mục, cần phải kiến tạo vững
chắc ý thức về “hồng ân vô giá của Thiên Chúa” (153); bởi đó, cần phải luyện tập
cầu nguyện và cảnh giác để cho hồng ân ấy được thoát khỏi mọi điều có thể gây
nguy hại.
Nếu được sống một
cách chính hiệu, bậc độc thân linh mục sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho việc chu
toàn thừa tác vụ linh mục giữa đoàn dân Thiên Chúa. Ngoài ra, bằng cách làm
chứng về giá trị Tin Mừng của sự trinh khiết, linh mục nhờ đó mà có thể giúp các
đôi bạn Kitô hữu biết sống trọn vẹn “bí tích cao cả” là tình yêu của Đức Kitô
Phu Quân đối với Hiền Thê Giáo Hội và, nhờ sự trung thành của mình trong bậc độc
thân, linh mục sẽ trở nên nguồn khích lệ cho sự trung thành trong đời sống vợ
chồng (154).
Việc tập luyện quan
trọng và tế nhị nhằm sống bậc độc thân linh mục, đặc biệt trong những tình huống
xã hội và văn hóa ngày nay, đã dẫn các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đến một loạt
những chỉ thị mà giá trị trường tồn được xác quyết do sự khôn ngoan của Mẹ Giáo
Hội. Tôi dùng quyền mà đề nghị một lần nữa những chỉ thị ấy như là những tiêu
chuẩn phải tuân theo trong việc đào tạo sống đức khiết tịnh bậc độc thân: “Các
giám mục, cũng như các viện trưởng và các vị linh mục hướng chủng viện, phải
thiết lập những nguyên tắc, phải cung cấp những tiêu chuẩn và phải cống hiến
những trợ lực để giúp phân định trong lãnh vực này. Sự ân cần của giám mục và
đời sống huynh đệ giữa các linh mục mang một tầm quan trọng rất đặc biệt đối với
việc đào tạo sống đức khiết tịnh trong bậc độc thân. Tại chủng viện, nghĩa là
trong giai đoạn đào tạo, bậc sống độc thân phải được trình bày một cách minh
bạch, không một chút hàm hồ nhưng theo hướng tích cực. Chủng sinh cần phải có
một trình độ trưởng thành tâm lý và phái tính đầy đủ cũng như một đời sống
chuyên chăm cầu nguyện và phải đặt mình dưới sự hướng dẫn của một cha thiêng
liêng. Vị linh hướng phải giúp cho chủng sinh đạt tới một quyết định chín muồi
và tự do xây dựng trên lòng quý chuộng đối với tình bạn của linh mục và đối với
kỷ luật bản thân, cũng như trên thái độ chấp nhận sự cô đơn và trên một tình
trạng bản thân hoàn chỉnh về thể lý và tâm lý. Để đạt được thành quả này, các
chủng sinh phải học hiểu kỹ lưỡng giáo thuyết của Công Đồng Vaticanô II, thông
điệp Sacerdotalis coelibatus và Huấn Thị về việc đào tạo sống bậc độc
thân linh mục do Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo phổ biến năm 1974. Để cho chủng
sinh có thể đảm nhận đời sống độc thân vì Nước Trời với một quyết định tự do,
điều cần thiết là chủng sinh phải hiểu biết bản chất Kitô giáo và bản chất thực
sự nhân bản của đời sống tính dục trong hôn nhân và trong bậc độc thân cũng như
cùng đích của nó. Đồng thời cũng cần thiết phải dạy dỗ và giáo dục các tín hữu
giáo dân về những nguyên do Tin mừng, thiêng liêng và mục vụ giúp minh giải bậc
sống độc thân linh mục, sao cho họ biết trợ giúp các linh mục bằng tình bạn, sự
cảm thông và sự hợp tác của họ” (155).
Đào tạo trí
thức : tăng cường hiểu biết cho đức tin.
51.
Mặc dầu bao gồm những đòi hỏi loại biệt,
đào tạo trí thức mật thiết gắn liền với đào tạo nhân bản và thiêng liêng, đến độ
tạo thành một chiều kích cần thiết cho nền đào tạo ấy: thật ra đào tạo trí thức
là một đòi hỏi của lý trí nhờ đó con người “dự phần vào ánh sáng thông hiểu của
Thiên Chúa” và tìm cách đạt tới sự khôn ngoan để rồi sự khôn ngoan, đến lượt nó,
lại giúp hiểu biết Thiên Chúa và gắn bó với Ngài (156).
Việc đào tạo trí
thức cho ứng sinh linh mục được biện minh một cách đặc loại nhờ vào chính bản
chất của thừa tác vụ được điều phối, và ngày nay, công cuộc “phúc âm hoá mới” mà
Chúa gọi mời Giáo Hội thực hiện khi bước vào thiên niên kỷ thứ ba này lại chính
là một thách đố làm cho việc đào tạo trí thức trở nên khẩn thiết hơn. Các Nghị
Phụ Thượng Hội Đồng viết: “Nếu bất cứ Kitô hữu nào cũng phải sẵn sàng để bảo vệ
đức tin và để nêu cao niềm hy vọng đang sống động trong chúng ta (x. 1P 3,15),
thì hơn thế nữa, các ứng sinh linh mục và các linh mục lại càng phải quý trọng
việc đào tạo thiêng liêng trong giáo dục và trong hoạt động mục vụl; thực vậy,
để cứu rỗi các anh chị em mình, các ứng sinh và các linh mục phải đạt được một
sự hiểu biết sâu xa hơn nữa về các mầu nhiệm của Thiên Chúa” (157). Hoàn cảnh
hiện đại được đánh dấu sâu đậm bởi một thái độ tôn giáo dửng dưng: đồng thời bởi
một sự ngờ vực không mấy minh bạch về khả năng thực thụ của lý trí trong việc
đạt thấu chân lý khách quan và phổ quát, hơn nữa bởi những vấn nạn mới do các
phát minh khoa học và kỹ thuật khơi dậy. Tất cả những điều ấy biện minh cho sự
đòi hỏi mãnh liệt phải có một trình độ đào tạo trí thức ưu tú nhằm giúp cho các
linh mục, trong một bối cảnh như thế, có thể loan báo Tin Mừng bất biến của Đức
Kitô và làm cho Tin Mừng ấy trở nên đáng tin cậy trước những đòi hỏi chính đáng
của lý trí con người. Ngoài ra, hiện tượng đa nguyên ngày nay đang lây lan một
cách đáng kể, chẳng những trong xã hội mà còn cả trong cộng đoàn Giáo Hội. Bởi
đó cần phải có một khả năng thích ứng để phân định và phê phán. Tình huống hiện
nay càng làm hiện rõ sự cần thiết phải có một nền đào tạo trí thức nghiêm minh
hơn bao giờ hết.
Tìm nguyên do “mục
vụ” cho nền đào tạo trí thức như vừa rồi giúp chúng ta xác quyết điều đã được đề
cập trước nữa về vấn đề thống nhất tiến trình giáo dục trong các chiều kích khác
biệt. Việc học chiếm một phần lớn cuộc đời của ứng sinh linh mục, việc học bắt
buộc ấy không phải là một yếu tố bên ngoài hoặc phụ thuộc đối với sự phát triển
ơn gọi của ứng sinh về phương diện nhân bản, Kitô giáo và thiêng liêng. Trong
thực tế, nhờ việc học, nhất là thần học người linh mục tương lai bám víu vào Lời
Chúa, lớn lên trong đời sống thiêng liêng và có được tư thế sẵn sàng để chu toàn
thừa tác vụ mục tử. Đó chính là mục đích vừa đơn thuần vừa đa tạp của bộ môn
thần học như đã được Công Đồng nêu dẫn (158) và còn được Thượng Hội Đồng lặp lại
trong Inanumenium lohons: “Để có thể gia tăng hiệu năng mục vụ của
việc đào tạo trí thức, cần phải đem lồng việc đào tạo ấy vào trong một lộ trình
thiêng liêng được đánh dấu bởi kinh nghiệm tự thân về Thiên Chúa, và bởi có phải
vươt qua một bộ môn khoa học thuần túy khái niệm và phải đạt tới sự hiểu biết
của con tim để trước hết có thể “xem thấy” và sau đó có thể chuyển đạt mầu nhiệm
Thiên Chúa cho anh em” (159).
52.
Việc học triết học giúp hiểu và
cắt nghĩa sâu xa hơn về con người, về tự do của con người, về những tương quan
giữa con người với thế giới và với Thiên Chúa, triết học là một thành phần thiết
yếu cho nền đào tạo trí thức. Việc học triết học được coi là tối cấp thiết,
trước hết vì lý do có mối liên hệ giữa những vấn đề triết học với các mầu nhiệm
cứu độ được nghiên cứu trong thần học dưới ánh sáng đức tin (160), sau nữa vì lý
do tình trạng văn hoá hiện nay quá hỗn độn, với sự kiện chủ nghĩa duy chủ thể
được đề cao và được coi như thước đo và tiêu chuẩn của chân lý. Trong những điều
kiện như thế, chỉ có một nền triết học lành mạnh mới có thể giúp cho các ứng
sinh linh mục phát triển ý thức và tư duy về mối quan hệ thiết định giữa trí óc
của con người với chân lý, một chân lý được mạc khải trọn vẹn cho chúng ta nơi
Đức Giêsu Kitô. Không được làm giảm thiểu tầm quan trọng của triết học, bằng
cách nại cớ phải bảo toàn niềm “xác tín về chân lý” mặc dầu chỉ có niềm xác tín
này mới có thể làm nền tảng cho việc trao hiến trọn vẹn con người cho Đức Giêsu
và cho Giáo Hội. Một vài vấn đề rất cụ thể, như căn tính của linh mục, sự dấn
thân tông đồ và thừa sai của linh mục, lại mật thiết gắn liền với vấn đề không
kém cụ thể là vấn đề chân lý: đây là điều không mấy khó hiểu. Nếu người ta không
nắm chắc chân lý, làm sao người ta có thể đặt cuộc cả đời mình và làm sao cho
người ta có thể đủ sức cất tiếng gọi mời cuộc đời của tha nhân một cách nghiêm
chỉnh ?
Triết học đóng góp
rất nhiều để giúp ứng sinh làm giàu việc đào tạo trí thức nhằm đạt tới sự “suy
tôn chân lý”, nghĩa là một sự bái phục chân lý với tâm tình trìu mến dẫn
đến chỗ nhìn nhận rằng chân lý tự nó không hề được tạo nên hoặc được khuôn đúc
do con người nhưng được ban cho con người do bởi Chân lý tối thượng, bởi Thiên
Chúa; rằng lý trí con người, mặc dầu bị hạn chế và đôi khi rất khó khăn, có thể
đạt tới chân lý khách quan và phổ quát, là chân lý liên quan tới Thiên Chúa và
tới ý nghĩa căn cơ của hiện hữu; sau hết, rằng đức tin tự nó không thể loại bỏ
lý trí hoặc miễn trừ nỗ lực “suy tư” về những gì đức tin chất chứa, như lời dẫn
giải của một đầu óc xuất chúng là thánh Augustimô : “Tôi đã khao khát dùng trí
thông minh để dò tìm điều mà tôi đã đặt niềm tin tôi vào, tôi đã bàn cãi nhiều
và tôi đã cực nhọc không ít” (161).
Để có được sự hiểu
biết sâu rộng hơn về con người và về những hiện tượng xã hội, nhằm mục đích thi
hành thừa tác vụ mục tử sao cho được “nhập thể” tối đa, các khoa học về con
người, theo như người ta vẫn thường gọi, chắc chắn không thể không hữu ích;
đó là xã hội học, tâm lý học, sư phạm, các khoa học kinh tế và chính trị, các
khoa học truyền thông xã hội. Trong khuôn khổ nhất định của những khoa học thực
nghiệm và mô tả, các khoa học về con người giúp cho linh mục tương lai nối dài
hoạt động của Đức Kitô như Ngài đã hoá nên đương thời với những con người thuộc
thời đại Ngài. Đức Phaolô VI đã nói : “Đức Kitô đã hoá nên đương thời với một số
người và đã dùng ngôn ngữ của họ để tự diễn đạt chính mình. Trung thành với Ngài
có nghĩa là làm sao để Ngài vẫn tiếp tục là người đương thời với chúng ta”
(162).
53.
Việc đào tạo trí tức cho người linh mục
tương lai phải đặt lại nền tảng và được phát triển nhất là trong việc học thần
học, sacra doctrina. Giá trị và tính chính danh của nền đào tạo thần học
lệ thuộc vào sự tôn trọng chu đáo bản chất riêng của thần học, như các Nghị Phụ
Thượng Hội Đồng đã tóm tắt: “Thần học chân chính là thần học phát xuất từ đức
tin và nhắm mục đích dẫn tới đức tin” (163). Đó là điều mà Giáo Hội, và đặc biệt
Huấn Quyền của Giáo Hội, đã không ngừng đề nghị. Đây cũng chính là đường hướng
mà các thần học gia cỡ lớn đã tuân theo và đã làm cho tư tưởng của Giáo Hội
trong dòng lịch sử được nên phong phú. Thánh Tôma đã tỏ ra minh bạch hết mực khi
quả quyết rằng đức tin chính là habitus (quán tính) của thần học, nghĩa
là nguyên lý hoạt động thường hằng của thần học (164) và rằng “toàn bộ thần học
đều được điều hợp để nuôi dưỡng đức tin” (165).
Như thế, thần học
gia trước hết là một tín hữu, một con người đức tin. Nhưng đó là một tín hữu
thắc mắc về chính đức tin của mình (fides quaerens intellectum), thắc mắc
để có thể đạt đến một sự hiểu biết thấu đáo hơn về đức tin của mình. Cả hai khía
cạnh, đức tin và tư duy có phương pháp, đều liên quan với nhau và thấm nhập lẫn
nhau : chính sự phối hợp mật thiết với nhau và sự thấm nhập hỗ tương này nói lên
bản chất đích thực của thần học, và bởi đó, của nội dung, của thể loại, của tinh
thần mà theo đó giáo thuyết linh thánh sẽ được soạn thảo và học hỏi.
Đàng khác, là khởi
điểm và là đích điểm của thần học, đức tin tạo nên một mối tương quan cá vị giữa
người tín hữu với Đức Giêsu Kitô trong Giáo Hội. Chính vì thế, ngay trong thần
học cũng chất chứa những đặc tính nội thuộc có tầm mức Kitô học và Giáo Hội mà
ứng sinh cần phải thấm nhuần một cách có ý thức, chẳng những vì mật thiết liên
can đến đời sống bản thân của mình, nhưng còn đến thừa tác vụ mục tử của mình
nữa. Nếu đức tin là sự đón nhận Lời Thiên Chúa thì đức tin được thành toàn trong
tiếng “xin vâng” triệt để của người tín hữu đáp lại Đức Giêsu Kitô, Lời viên mãn
và vĩnh viễn của Thiên Chúa nói với thế giới (x. Dt 1,1-4). Bởi đó, lấy sự gắn
bó với Đức Giêsu Kitô là Đấng Khôn Ngoan của Thiên Chúa làm trung tâm suy tư
thần học cũng phải như vậy : việc suy tư này phải tự coi mình như là sự thông dự
vào “tư tưởng” của Đức Kitô (x. 1Cr 2,16) dưới phương diện nhân loại của một
khoa học (scientia fidei). Đồng thời, đức tin dẫn người tín hữu vào trong
Giáo Hội và làm cho người tín hữu được thông chia sự sống của Giáo Hội xét như
là cộng đoàn đức tin. Từ đó, thần học mang một chiều kích Giáo Hội bởi vì thần
học chính là tư duy về đức tin của Giáo Hội, và tư duy bởi một thần học gia vốn
là thành phần của Giáo Hội (166).
Những nhãn quan
thuộc về Kitô luận và Giáo Hội này, vì có cùng bản chất với thần học, sẽ giúp
phát triển nơi các ứng sinh linh mục, đồng thời với tính chuẩn mực khoa học, một
lòng yêu mến lớn lao và mãnh liệt đối với Đức Giêsu Kitô và đối với Giáo Hội.
Lòng yêu mến ấy vừa nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của các ứng sinh vừa qui
hướng họ đến sự quảng đạo chu toàn thừa tác vụ của mình. Đó chính là điều Công
đồng Vaticanô II mong muốn khi yêu cầu tổ chức lại các môn học của Giáo Hội bằng
cách phối trí hoàn bị hơn những bộ môn triết học và thần học khác nhau. “để làm
cho các bộ môn ấy hoà nhịp với nhau đóng góp vào việc ngày càng khai mở trí tuệ
của các chủng sinh trước mầu nhiệm của Đức Kitô là Đấng, trong toàn vẹn lịch sử
nhân loại, không ngừng sinh hoạt trong Giáo Hội và nhất là tác động nhờ vào thừa
tác vụ linh mục” (167).
Việc đào tạo trí
thức thần học và đời sống thiêng liêng, cách riêng đời sống cầu nguyện, liên kết
nên một với nhau và tăng cường lẫn nhau mà không hề loại trừ tính nghiêm chỉnh
của việc nghiên cứu cũng như không loại trừ hương vị thiêng liêng của việc cầu
nguyện. Thánh Bônaventura dự phòng cho chúng ta: “Đừng có ai tưởng rằng mình đã
làm dù khi đọc sách mà không có xức dầu, khi tư duy bay bổng mà không mộ mến,
khi truy cứu mà không thán phục, khi nhận định mà không hân hoan, khi sinh hoạt
mà không có lòng đạo đức, khi uyên bác mà không có đức ái, khi thông thái mà
không có lòng khiêm nhường, khi học hỏi mà không có ân sủng của Thiên Chúa, khi
hiểu biết chính mình mà không có sự khôn ngoan do Thiên Chúa phú ban” (168).
54.
Đào tạo thần học là một công trình phức
tạp và nhiêu khê. Việc đào tạo thần học phải giúp cho ứng sinh linh mục đạt được
một quan niệm được coi là đầy đủ và thống nhất về những chân lý mà
Thiên Chúa mạc khải nơi Đức Giêsu Kitô và về kinh nghiệm đức tin của Giáo Hội.
Từ đó phát xuất một đòi buộc gồm hai yếu tố: hiểu biết “tất cả” mọi chân lý Kitô
giáo mà không có những lựa chọn vô đoán, và hiểu biết các chân lý ấy một cách có
phương pháp. Công việc này đòi hỏi sinh viên phải được giúp đỡ để hoàn thành một
tổng luận, tổng luận này là thành quả thâu lượm từ những bộ môn thần học khác
nhau mà việc đi vào chuyên môn chỉ thực sự có giá trị nếu không rời xa sự phối
hợp sâu xa của chúng.
Trong việc tư duy
về đức tin, thần học tiến theo hai hướng. Hướng thứ nhất là “việc học hỏi Lời
Chúa” : lời được ghi chép trong Sách Thánh, được cử hành và được thể hiện
bằng cuộc sống trong truyền thống sống động của Giáo Hội, được giải thích một
cách chính hiệu do Huấn Quyền của Giáo Hội. Hướng này đòi phải học hỏi Thánh
Kinh là “công việc phải được coi như linh hồn của toàn bộ thần học” (169), học
hỏi các thánh Giáo Phụ thuộc về Giáo Hội, học hỏi phụng vụ, học hỏi lịch sử Giáo
Hội và các tuyên ngôn của Huấn Quyền. Hướng thứ hai là hướng của con người
đàm đạo với Thiên Chúa :con người được mời gọi “tin”, “sống”, “chuyển thông”
đức tin và cái “ethos” Kitô giáo cho người khác. Bởi đó cần phải học
tín lý, thần học luân lý, thần học tu đức, giáo luật và thần học mục vụ.
Việc quy chiếu về
con người có đức tin đưa thần học tới chỗ đặc biệt chú tâm một đàng đến sự khẩn
thiết cơ bản và thường hàng của mối quan hệ đức tin tôn giáo và đàng khác đến
một số đòi hỏi có phần liên hệ nhiều hơn với tình huống xã hội và văn hoá của
thời đại chúng ta. Trong chiều hướng thứ nhất phải kể đến thần học cơ bản có đối
tượng là sự kiện mạc khải Kitô giáo và việc chuyển đạt mạc khải trong Giáo Hội.
Trong chiều hướng thứ hai, đó là những bộ môn đã và đang được phát triển một
cách mạnh mẽ hơn, như để đáp lại những vấn đề ngày nay đang được cảm nhận một
cách mãnh liệt. Đó là trường hợp của môn lý thuyết xã hội học của Giáo Hội, môn
này “được gia nhập vào trong lãnh vực… của thần học và cách riêng vào trong lãnh
vực thần học luân lý” (170) và phải được xếp vào số những “nhân tố thiết yếu”
cho công cuộc “phúc âm hoá mới” mà môn này được dùng làm khí cụ (171). Cũng phải
kể đến các môn học về sứ vụ truyền giáo, về đại kết, về Do thái giáo, về Hồi
giáo và về các tôn giáo khác ngoài Kitô giáo.
55.
Nền đào tạo thần học hiện đại phải đặc
biệt chú tâm tới một số vấn đề vốn thường khơi dậy những khó khăn, tạo
những đôi co và làm cho tồn tại những xáo trộn trong đời sống Giáo Hội. Chúng ta
cần phải suy nghĩ về mối liên hệ giữa các tuyên ngôn của Huấn Quyền với những
tranh luận thần học mặc dầu mối liên hệ không phải luôn luôn đáng khích lệ,
nghĩa là không luôn luôn phản ánh tinh thần cộng tác: “Mặc dầu nắm giữ những đặc
sủng và những trách nhiệm khác nhau, Huấn Quyền sống động và thần học tựu trung
nhắm cùng một mục đích: đó là bảo vệ dân Thiên Chúa trong chân lý có sức giải
thoát và nhờ đó làm cho dân Thiên Chúa trở nên “ánh sáng muôn dân”. Công việc
phục vụ cộng đoàn Giáo Hội như vừa xác định đặt nhà thần học và Huấn Quyền vào
trong nững mối tương quan hỗ tương với nhau. Huấn Quyền giảng dạy một cách chính
danh giáo thuyết của các Tông Đồ và vận dụng thành quả của thần học để biện bác
những phê phán và những lệch lạc về đức tin, ngoài ra còn dùng quyền lãnh nhận
từ Đức Giêsu Kitô để đề nghị những công việc như đào sâu, phát biểu và áp dụng
theo lối mới giáo thuyết đã được một sự hiểu biết ngày càng sâu rộng hơn về Lời
Chúa, như được chứa đựng trong Thánh Kinh và được chuyển đạt cách trung thành do
Truyền Thống sống động của Giáo Hội, dưới sự dẫn dắt của Huấn Quyền; thần học
tìm cách làm sáng tỏ giáo huấn của Mạc Khải trước những đòi hỏi thúc bách của lý
trí, và sau hết mặc cho giáo huấn ấy một hình thái hữu cơ và có hệ thống” (172).
Dầu vậy, nếu vì cả một chuỗi động cơ nào đó mà sự hợp tác ấy giảm sút thì nhất
thiết không được để cho mình lầm đường lạc lối bởi những gì là mơ hồ và hỗn độn;
cần phải làm công việc phân biệt kỹ lưỡng một bên là “giáo thuyết phổ cập của
Giáo Hội và bên kia là những quan điểm của các nhà thần học cũng như những trào
lưu mau qua (những “mốt”)” (173). Không hề có huấn quyền “song song” bởi vì Huấn
Quyền duy nhất là của Thánh Phêrô và các Tông Đồ, của Đức Giáo Hoàng và các giám
mục (174).
Còn một vấn đề khác
thường gặp thấy nhất là ở những nơi mà việc đào tạo trí thức của các chủng sinh
được giao phó cho các học viện hàn lâm, đó là vấn đề liên quan tới mối liên
hệ giữa tính chuẩn mực khoa học của thần học với cùng đích mục vụ của thần học,
và như vậy là liên quan tới bản chất mục vụ của thần học. Thực ra vấn đề ở
đây bao gồm hai đặc tính của thần học và của việc giảng dạy thần học, hai đặc
tính này chẳng những không đối nghịch nhau nhưng còn đồng qui, mặc dầu dưới
những góc độ khác nhau, về việc tăng cường “hiểu biết cho đức tin” sao cho đầy
đủ hơn. Thật vậy, tính chất mục vụ của thần học không có nghĩa là thần học nhẹ
tính giáo thuyết hơn hay bị tước đoạt mất tính chất khoa học của nó; ngược lại
điều đó có nghĩa là thần học trang bị cho các linh mục tương lai khả năng loan
báo sứ điệp Tin Mừng với sự chú tâm tới những yếu tố văn hoá thuộc thời đại
mình, và khả năng hiểu được hoạt động mục vụ theo một lối nhìn thần học chính
hiệu. Bởi đó, một nền học vấn biết tôn trọng tính chất khoa học sít sao của từng
bộ môn thần học sẽ góp phần làm cho nền đào tạo vị mục tử chăn dắt các linh hồn,
là thầy dạy đức tin, được đầy đủ hơn và được sâu rộng hơn; đàng khác, noơ vị
linh mục tương lai, một cảm quan bén nhạy tuơng ứng với phương hướng mục vụ sẽ
thật sự làm cho việc học thần học nghiêm minh và có tính khoa học có được hiệu
năng đào tạo.
Ngày nay, người ta
cảm nhận một cách sâu xa nhu cầu phải phúc âm hoá các nền văn hoá và phải
hội nhập sứ điệp đức tin vào trong các nền văn hoá, nhu cầu ấy còn khơi
dậy một vấn đề khác. Đó là một vấn đề mục vụ có tầm mức rộng lớn cần phải được
đề cập một cách rộng rãi và với nhiều chú tâm trong thời gian đào tạo các ứng
sinh linh mục: “Trong hoàn cảnh hiện nay, nơi nhiều miền khác nhau trên thế
giới, Kitô giáo được coi như là một điều gì xa lạ đối với các nền văn hoá cổ xưa
hoặc tân thời; bởi đó, điều thật quan trọng là, trong toàn bộ nền đào tạo trí
thức và nhân bản, cần phải đưa việc hội nhập văn hoá lên hàng nhu cầu và yếu
tính” (175). Điều này đòi buộc tiên vàn phải có một nền thần học chính hiệu, múc
nguồn từ những nguyên tắc công giáo liên quan tới việc hội nhập văn hoá. Những
nguyên tắc này gắn liền với mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa và với
nhân học Kitô giáo, các nguyên tắc ấy làm sáng tỏ ý nghĩa chính hiệu của việc
hội nhập văn hoá. Việc hội nhập văn hoá này phải đương đầu với nhiều nền văn hoá
rất dị biệt và đôi khi đối nghịch nhau như hiện có trong nhiều vùng khác nhau
trên thế giới, để rồi trở thành một hành vi tuân phục đôi với lệnh truyền của
Đức Kitô về việc rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc đến tận cùng bờ cõi trái
đất. Vâng lời ở đây không có nghĩa là chủ trương pha trộn, cũng không đơn thuần
có nghĩa là thích nghi việc loan báo Tin Mừng, nhưng nói lên sự kiện Tin Mừng
thâm nhập một cách sống động vào trong các nền văn hoá, vượt qua những yếu tố
văn hoá không dung hợp với đức tin và đời sống Kitô hữu, nâng cao giá trị của
các nền văn hoá đến tận mầu nhiệm cứu độ phát xuất từ Đức Kitô (176). Vấn đề hội
nhập văn hoá có thể mang lại một lợi ích đặc biệt khi chính các ứng sinh linh
mục lại xuất hiện từ những nền văn hoá bản thổ: lúc ấy họ sẽ cần đến những hướng
lối đào tạo thích ứng, hoặc để tránh mối nguy ít đòi hỏi hơn và mối nguy bằng
lòng với một nền giáo dục thấp kém hơn về những giá trị nhân bản. Kitô giáo và
linh mục, hoặc để đề cao những yếu tố tốt đẹp, và chính hiệu trong các nền văn
hoá truyền thống của họ (177).
56.
Tuân theo giáo huấn và những phương
hướng của Công Đồng Vaticanô II cùng những tiêu chuẩn thực hành của Ratio
fundamentalis institutionis sacerdotalis, một công trình cập nhật hoá (aggiornamento)
rộng lớn về việc giảng dạy các bộ môn triết học và nhất là thần học đã được
thực hiện trong các chủng viện. Nếu trong một số trường hợp, công cuộc
aggiornamento ấy còn đòi hỏi những rà soát và những khai triển, phải nói
rằng, trong toàn bộ, công cuộc ấy đã góp phần hoàn thiện hoá mỗi lúc một hơn nền
giáo dục được ban hành trong khuôn khổ của nền đào tạo trí thức. Về vấn đề này,
“Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, một lần nữa, đã thường xuyên và minh bạch khẳng
định sự cần thiết và hơn nữa sự khẩn cấp phải áp dụng trong các chủng viện và
trong những trường đào tạo chương trình cơ bản cho việc học hỏi, hoặc chương
trình phổ quát hoặc chương trình dành cho một số quốc gia hay một số Hội Đồng
Giám Mục” (178).
Cần thiết phải kiên
quyết đánh tan xu hướng hạ thấp trình độ và hạ thấp tính nghiêm minh của công
việc học hỏi, xu hướng này được biểu lộ trong một số khu vực thuộc Giáo Hội và
một phần là do kết quả của tình trạng thiếu hụt và hổng chân trong nền đào tạo
trí thức cơ bản mà các sinh viên đã lãnh nhận khi bắt đầu chu kỳ triết học và
thần học. Tình huống hiện đại tự nó cũng đòi hỏi các bậc thầy phải ngày càng
ngang tầm hơn với sự đa phức của thời đại và phải đủ sức biện luận một cách có
uy thế, minh bạch và sâu sắc để đương đầu với những vấn nạn do con người ngày
nay đặt ra, những vấn nạn mà chỉ có Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô mới mang lại
được một lời giải đáp đầy đủ và dứt khoát.
Đào tạo mục
vụ : hiệp thông với đức ái của Chúa Giêsu Kitô, Vị Mục Tử Nhân Lành.
57.
Toàn bộ nền đào tạo dành cho các ứng
sinh linh mục đều nhắm đến việc tạo điều kiện một cách đặc biệt hơn cho các ứng
sinh hiệp thông vào đức ái của Chúa Kitô Mục Tử Nhân Lành. Bởi đó, trong mọi
phương diện, nền đào tạo ấy phải mang một tính chất thiết yếu mục vụ. Sắc lệnh
Công Đồng Optatam totius đã khẳng định rõ ràng điều này khi đề cập đến
các đại chủng viện: “Nền giáo dục trọn vẹn dành cho các học sinh ở các đại chủng
viện phải nhắm hướng làm cho họ trở nên thực sự là những mục tử chăn dắt các
linh hồn, noi gương Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, là Thầy, Linh Mục và Mục Tử.
Như thế, họ phải được luyện tập để thi hành thừa tác vụ Lời Chúa, sao cho ngày
càng hiểu thấu đáo hơn lời mạc khải của Thiên Chúa, sao cho họ nắm giữ lời ấy
bằng việc suy niệm và diễn đạt lời ấy bằng môi miệng và bằng đời sống của họ; họ
phải được luyện tập để thi hành thừa tác vụ phượng tự và thánh hoá, làm sao để
dấn mình vào việc cầu nguyện và vào những cử hành phụng vụ, họ thực thi công
cuộc cứu độ bằng hiến lễ tạ ơn và các bí tích; họ phải được luyện tập để thi
hành thừa tác vụ mục tử, sao cho họ biết làm cho Đức Kitô hiện diện với con
người, Đức Kitô, Đấng “đã không đến để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến
mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người” (Mc 10,45; x. Ga 13,12-17), làm sao để,
một khi trở nên tôi tớ của mọi người, họ nhờ đó mà lợi được nhiều hơn (x. 1 Cr
9,19)” (179).
Bản văn Công Đồng
nhấn mạnh đến sự phối hợp sâu đậm phải có giữa các phương diện khác nhau của nền
đạo nhân bản, thiêng liêng và trí thức, đồng thời nhấn mạnh đến cứu cánh loại
biệt mục vụ của chúng. Trong chiều hướng ấy, cứu cánh mục vụ bảo đảm cho nền đào
tạo nhân bản, thiêng liêng và trí thức có được những nội dung nhất định và những
đặc tính chính xác, để thống nhất và đánh dấu toàn bộ nền đào tạo dành cho các
linh mục tương lai.
Cũng như bất cứ nền
đào tạo nào khác, nền đào tạo mục vụ phải được thể hiện bằng một tiến trình suy
tư chín chắn và bằng những việc thực tập; nền đào tạo ấy nhận chìm những cội rễ
sống động của mình vào trong một tinh thần vốn là trung tâm của mọi sự và vốn
tạo nên mãnh lực thúc đẩy và phát triển.
Vì thế, đây là một
bộ môn thần học thực thụ cần thiết phải học: thần học mục vụ hay thần học
thực hành, dùng phương pháp khoa học để suy tư về Giáo Hội như Giáo Hội đang
được kiến tạo mỗi ngày, với sức mạnh của Chúa Thánh Thần, theo dòng lịch sử, về
Giáo Hội xét như là “bí tích phổ quát của ơn cứu độ” (180), như là dấu chỉ và
khí cụ sống động để chuyển thông ơn cứu độ của Đức Giêsu Kitô qua Lời, các bí
tích và việc phục vụ trong đức ái. Mục vụ không chỉ là một nghệ thuật, một tập
hợp những lời khuyên bảo, những kinh nghiệm, những chỉ dẫn; mục vụ chiếm giữ
phẩm vị thần học trọn vẹn của nó bởi vì mục vụ lãnh nhận từ nơi đức tin những
nguyên tắc cho hoạt động mục vụ của Giáo Hội trong lịch sử, của một Giáo Hội
ngày nào cũng “sản sinh” ra chính Giáo Hội theo kiểu diễn tả hân hoan của thánh
Bêđa khả kính: “Nam et Ecclesia quotidie gignit Ecclesiam” (181). Trong
số những nguyên tắc và tiêu chuẩn ấy, có một nguyên tắc mang tầm quan trọng đặc
biệt, đó là nguyên tắc giúp dựa theo Tin Mừng để phân định tình huống văn hoá,
xã hội và Giáo Hội trong đó hoạt động mục vụ đang được phát triển.
Việc học thần học
mục vụ phải soi sáng cho hoạt động cụ thể mà các ứng sinh linh mục phải
tự nguyện trải qua với những giai đoạn thực tập, gọi là thực tập mục vụ, bằng
cách thức tiệm tiến và luôn luôn ăn khớp với những đòi buộc khác của nền đào
tạo. Những “kinh nghiệm” mục vụ này có khi phải kết thành một “tập viện mục vụ”
thật sự, phải kéo dài trong một quãng thời gian và phải được đánh giá một cách
có phương pháp.
Thế nhưng việc học
hỏi và sinh hoạt mục vụ lại quy về một nguồn mạch bên trong mà nền đào tạo sẽ
phải quan tâm bảo toàn và đề cao : đó là sự hiệp thông ngày càng sâu đậm hơn
vào đức ái mục vụ của Chúa Giêsu. Cũng như mục vụ đã tạo thành nguồn cội và
sức mạnh cho hoạt động cứu chuộc của Đức Giêsu, cũng vậy, mục vụ còn phải nhờ
vào sự tuôn đổ Thần Khí trong bí tích Truyền Chức Thánh, tạo thành nguồn cội và
sức mạnh cho thừa tác vụ linh mục. Nền đào tạo được đề cập ở đây là một nền đào
tạo chẳng những nhắm đến việc bảo đảm cho có một uy thế mục vụ mang tính khoa
học và một sự khôn khéo về mặt thực hành nhưng còn là và nhất là bảo đảm cho sự
tăng triển của một phương cách hiện hữu trong sự hiệp thông với chính
những tâm tình và những thái độ cư xử của Đức Kitô Mục Tử Nhân Lành: “Anh em hãy
đối xử với nhau bằng những tâm tình vốn ở trong Đức Kitô Giêsu” (Pl 2,5).
58.
Hiểu như thế, việc đào tạo mục vụ dĩ
nhiên không thể bị giản lược vào một công việc thực tập đơn thuần với mục đích
làm quen với những kỹ thuật mục vụ. Phương án giáo dục của chủng viện phải đề
nghị dạy cho các sinh viên đạt được một cảm thức bén nhạy về mục vụ, đảm nhận
một cách ý thức và trưởng thành những trách nhiệm thuộc về mình, tự tập luyện
con người nội tâm để đánh giá các tình huống, thiết lập những lựa chọn ưu tiên
và tìm phương thế để thực hiện những lựa chọn ấy, tất cả mọi sự việc này
dưới ánh sáng đức tin và thể theo những đòi buộc thần học của chính công việc
mục vụ.
Nhờ kinh nghiệm ấy
là kinh nghiệm khởi đầu và tiệm tiến của thừa tác vụ, các linh mục tương lai sẽ
có thể được đưa vào trong truyền thống mục vụ sống động của Giáo Hội địa phương
mình; các linh mục tương lai sẽ học tập để mở rộng chân trời trí tuệ và con tim
của mình cho phù hợp với chiều kích truyền giáo của đời sống Giáo Hội; họ phải
thực tập một số hình thức cộng tác với nhau và với các linh mục mà họ sẽ được
sai đến. Các vị này lãnh nhận một trách nhiệm giáo dục mục vụ không kém quan
trọng, trong tương quan với việc giảng dạy được cung ứng nơi chủng viện.
Trong việc chọn lựa
những nơi và những công việc phục vụ để có được kinh nghiệm mục vụ, cần phải
dành một sự chú tâm đặc biệt cho giáo xứ (182) là tế bào sống động của các loại
kinh nghiệm mục vụ khác nhau, nơi mà các ứng sinh thực tập sẽ phải đương đầu với
nhiều vấn đề đặc biệt thuộc về thừa tác vụ tương lai của mình. Các Nghị Phụ
Thượng Hội Đồng đã cung cấp một loạt những thí dụ cụ thể, chẳng hạn đi thăm bệnh
nhân, chăm sóc những người di cư, những người bị đày ải và những người du mục,
nhiệt thành trong đức ái biểu hiện trong những hoạt động xã hội đa tạp. Các ngài
viết: “Điều cần thiết là linh mục phải làm cho đức ái của chính Chúa Kitô, Đấng
“đi tới đâu cũng đều thi ân giáng phúc” (Cv 10,38); linh mục cũng cần phải trở
nên dấu chỉ hữu hình cho lòng ưu ái của Giáo Hội là Mẹ và Thầy. Và, bởi vì con
người ngày nay phải lao đao với muôn vàn thử thách, nhất là bị đè bẹp bởi một sự
nghèo đói bất nhân, bởi bạo lực mù quáng và bởi quyền lực bất chính, điều cần
thiết là người của Thiên Chúa, như đã được chuẩn bị đúng mức cho mọi công trình
tốt đẹp (x. 2 Tm 3,17), phải đòi lại những quyền lợi và phẩm giá của con người.
Dầu vậy, người của Thiên Chúa phải giữ mình để không chạy theo những chủ thuyết
sai lạc và, bởi vì muốn vun đắp cho sự tiến bộ, không quên rằng thế giới chỉ có
thể được cứu chuộc nhờ vào thập giá của Đức Kitô” (183).
Toàn bộ những hoạt
động ấy và các hoạt động khác tương tự giáo dục cho linh mục tương lai biết sống
sứ vụ “quyền bính” của mình trong cộng đoàn như là một công việc “phục vụ”, bằng
cách giữ mình khỏi mọi thái độ trịch thượng hoặc khỏi việc thi hành một quyền
bính nào đó mà không luôn luôn hoặc không chỉ có thể biện minh bằng đức ái mục
vụ.
Để có được một nền
đào tạo thích ứng, điều cần thiết là các loại kinh nghiệm khác nhau của ứng sinh
linh mục phải mặc lấy tình chất “thừa tác vụ”, luôn mật thiết gắn liền với mọi
đòi buộc khác thuộc về tiến trình đào luyện linh mục và (sao cho không gây thiệt
hại đến việc học) trong việc chủ tọa cộng đoàn. Những việc phục vụ này có thể
trở thành những hình thức cụ thể để thực thi các thừa tác vụ Đọc Sách, Giúp Lễ
và Phó Tế.
59.
Bởi vì hoạt động mục vụ tự bản chất nhắm
đến việc tạo sức sống cho một Giáo Hội vốn thiết yếu là “mầu nhiệm”, “hiệp
thông” và “sứ vụ”, nền đào tạo mục vụ sẽ phải chú trọng đến các chiều kích ấy
trong việc thi hành thừa tác vụ.
Điều cơ bản là phải
ý thức rằng Giáo Hội là “mầu nhiệm”, nghĩa là công trình của Thiên Chúa,
hoa quả của Thần Khí Đức Kitô, dấu chỉ hữu hiệu của ân sủng, sự hiện diện của Ba
Ngôi Thiên Chúa trong cộng đoàn Kitô giáo. Thay vì làm giảm thiểu ý nghĩa của
trách nhiệm mục tử, ý thức này sẽ giúp cho vị mục tử xác tín rằng sự tăng trưởng
của Giáo Hội là thành quả nhưng không, do Thần Khí, và việc phục vụ Giáo Hội —
nhờ ân sủng Thiên Chúa, được giao phó cho trách nhiệm và tự do của con người –
là công việc của người đầy tớ vô dụng trong Tin Mừng (x. Lc 17,10).
Hơn nữa, nhờ ý thức
Giáo Hội là “hiệp thông”, ứng sinh linh mục sẽ được chuẩn bị để thực hành
một công việc mục vụ cộng đồng trong sự hợp tác thân tình với các thành phần
khác trong Giáo Hội: linh mục và giám mục, linh mục triều và tu sĩ, linh mục và
giáo dân. Nhưng, một sự hợp tác như thế trước hết giả thiết phải có sự hiểu biết
và quý chuộng những ân huệ và đặc sủng khác nhau, nhưng ơn gọi và trách nhiệm dị
biệt mà Chúa Thánh Thần ban tặng và giao phó cho các thành phần thuộc về Thân
Thể của Đức Kitô. Sự hợp tác ấy cũng đòi hỏi một cảm thức bén nhạy và chính xác
về căn tính của mình và về căn tính của những người khác trong Giáo Hội. Ngoài
ra, sự hợp tác ấy còn đòi buộc phải có sự tin cậy lẫn nhau, lòng kiên nhẫn, thái
độ hiền dịu, khả năng hiểu, cảm thông và lắng nghe; sau hết và trên tất cả, sự
hợp tác ấy bén rễ trong một lòng yêu mến đối với Giáo Hội lớn mạnh hơn lòng yêu
mến đối với chính mình và đối với những nhóm mà mình trực thuộc. Điều đặc biệt
quan trọng là phải luyện tập cho các linh mục tương lai biết hợp tác với giáo
dân, để, theo như lời của Công Đồng, “có thể sẵn sàng lắng nghe ý kiến của
giáo dân, đồng thời, trong tình huynh đệ, chú trọng đến những khát vọng của giáo
dân, giúp đỡ cũng như nhận sự giúp đỡ của giáo dân về kinh nghiệm và về uy thế
trong nhiều lãnh vực khác nhau của sinh hoạt nhân loại, hầu có thể cùng với họ
đọc ra những dấu chỉ của thời đại” (184). Cũng vậy, Thượng Hội Đồng vừa qua đã
nhấn mạnh đến mối quan tâm dành cho giáo dân về phương diện mục vụ: “Ứng sinh
linh mục cần phải trở nên có khả năng lôi cuốn và hướng dẫn các tín hữu giáo
dân, nhất là những người trẻ, vào trong những ơn gọi khác nhau (hôn nhân, những
dịch vụ xã hội, việc tông đồ, các thừa tác vụ, những trách nhiệm thuộc bình diện
mục vụ, đời sống tận hiến, những trọng trác. trong sinh hoạt chính trị và xã
hội, việc nghiên cứu khoa học, việc giảng dạy). Trên tất cả, cần phải soi dẫn và
nâng đỡ giáo dân trong ơn gọi của họ để họ dấn thân vào thế giới và biến đổi thế
giới theo ánh sáng của Tin Mừng, đồng thời nhận thức giá trị của sự dấn thân ấy
và quý trọng sự dấn thân ấy” (185).
Sau cùng, nhờ ý
thức Giáo Hội là hiệp thông “trong sứ vụ”, ứng sinh linh mục sẽ được giúp
đỡ để yêu mến và sống chiều kích thừa sai thiết yếu của Giáo Hội cùng những hoạt
động mục vụ đa tạp: họ sẽ được giúp đỡ để trở nên rộng mở và ứng trực đối với
mọi đường lối có thể thực hiện ngày nay nhằm loan báo Tin Mừng, kể cả sự đóng
góp quý giá mà các phương tiện truyền thông xã hội có thể và phải mang lại trong
lãnh vực này (186); họ sẽ được giúp đỡ để chuẩn bị bước vào một thừa tác vụ vốn,
một cách cụ thể, có thể đòi buộc họ phải ở trong tình trạng ứng trực, đáp lại
Chúa Thánh Thần và đáp lại giám mục, để rồi được sai đi rao giảng Tin Mừng bên
kia những biên giới của quốc gia mình (187).
còn tiếp
chú thích: Lưu ý: những số
chú thích nhỏ hơn đã được ghi vào số báo kỳ trước
122) Sứ điệp của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng gởi Dân Chúa
(28/10/1990), IV : 1.c.
123) Propositio 21.
124) X. Công Đồng Vat. II, Sắc lệnh về việc đào tạo linh mục,
Optatam totius, ĐT, số 11; Sắc lệnh về thừa tác vụ và đời
sống linh mục, Presbyterorum ordinis, LM, số 3: Thánh Bộ
Giáo Dục Công Giáo, Ratio fundamentalis institutionis
sacerdotalis (6/1/1970), số 51 : 1.c., tr. 356-357.
125) X. Propositio 21.
126) Thông điệp Redemptor hominis (4/3/1979), số 10 : AAS
71 (1979), tr. 274.
127) Tông Huấn Familiaris Consortio (22/11/1981), số 37:
1.c. tr. 128.
128) Như trên.
129) Propositio 21.
130) X. Công Đồng Vat. II, Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế
giới ngày nay, Gaudium et Spes, MV, số 24.
131) X. Propositio 21.
132) Propositio 22.
133) X. Thánh Augustinô, Conf. I, 1 : CSEL 33,1.
134) Thượng Hội Đồng Giám Mục, Phiên họp khoáng đại thường kỳ
lần VIII, Việc đào tạo linh mục trong hoàn cảnh hiện nay –
“Instrumentum laboris”, số 30.
135) Propositio 22.
136) Propositio 23.
137) Sắc lệnh về việc đào tạo linh mục, Optatam totius,
ĐT, số 8.
138) Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải, Dei Verbum, MK, số 24.
139) Như trên, số 2.
140) Như trên, số 25.
141) Kinh Truyền Tin (4/3/1990), số 2-3 : Osservatore Romano,
5-6/3/1990.
142) Công Đồng Vat. II, Hiến Chế về Phụng Vụ, Sacro santum
Concilium, PV, số 14.
143) Thánh Augustinô, In Iohannis Evangelium Tractatus
26,13 : 1.c. 266.
144) Phụng Vụ Các Giờ Kinh, Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô, Kinh
Chiều II, antiphona (Tiền xướng) trước kinh Magnificat.
145) X. Công Đồng Vat. II, Sắc lệnh về thừa tác vụ và đời sống
linh mục, Presbyterorum ordinis, LM, số 13.
146) Kinh Truyền Tin (1/7/1990), số 3: Osservatore Romano,
2-3/7/1990.
147) Propositio 23.
148) Như trên.
149) X. như trên.
150) Sắc lệnh về việc đào tạo linh mục, Optatam totius,
ĐT, số 9.
151) Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo, Ratio fundamentalis
institutionis sacerdotalis, ĐT, số 10.
152) Công Đồng Vat. II, Sắc lệnh về việc đào tạo linh mục,
Optatam totius, ĐT, số 10.
153) Như trên.
154) X. Thư gởi tất cả các linh mục trong Giáo Hội nhân ngày thứ
Năm Tuần Thánh 1979 (8/4/1979) : Insegnamenti II/1
(1979), tr. 841-862.
155) Propositio 24.
156) Công Đồng Vat. II, Hiến Chế Mục Vụ về Giáo hội trong thế
giới ngày nay, Gaudium et spes, MV, số 15.
157) Propositio 26.
158) X. Sắc lệnh về việc đào tạo linh mục, Optatam totius,
ĐT, số 16.
159) Việc đào tạo linh mục trong hoàn cảnh hiện nay –
“Instrumentum laboris”, số 39.
160) X. Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo, Thư gởi các giám mục về
việc giảng dạy triết học trong các chủng viện (20/1/1972).
161) “Desideravi inteliectu videre quod credidi et multum
disputavi et laboravi”, De Trinitate XV,28 : CCL 50/A, 534.
162) Diễn văn cho các tham dự viên Tuần Lễ Thánh Kinh thứ XXI
tại Ý (25/9/1970) : AAS 62 (1970), tr. 618.
163) Propositio 26.
164) “Fides, quae est quasi habitus theologiae” In Lib.
Boetii de Trinitate V, 4, đến 8.
165) Thánh Tôma, In I Sentent. q. I, a : 1-5.
166) X. Thánh Bộ Giáo lý Đức Tin, Huấn thị về ơn gọi của thần
học gia trong Giáo hội, Donum veritatis (24/5/1990), số
11; 40 : AAS 82 (1990), tr. 1554-1555; 1568-1569.
167) Sắc lệnh về việc đào tạo linh mục, Optatam totius,
ĐT, số 14.
168) Itinerarium mentis in Deum, Prol. số 4 : Opera
omnia, Tomus V, Ad Claras Aquas (1981), tr. 296.
169) Công Đồng Vat. II, Sắc lệnh về việc đào tạo linh mục,
Optatam totius, ĐT, số 16.
170) Thông Điệp về các vấn đề xã hội, Sollicitudo rei
socialis (30/12/1987), số 41 : AAS 80 (1988), tr. 571.
171) X. Thông Điệp Bách Chu Niên, Centesimus annus
(1/5/1991), số 54 : AAS 83 (1991), tr. 859-860.
172) Thánh Bộ Giáo lý Đức Tin, Huấn Thị về ơn gọi của
thần học gia trong Giáo Hội, Donum veritatis (24/5/1990),
số 21 : 1.c., tr.1559.
173) Propositio 26.
174) Chẳng hạn Thánh Tôma Aquinô viết: “Phải bám vào quyền bính
của Giáo Hội hơn là vào quyền bính của Augustinô, của Hiêrônimô
hay của một tiến sĩ nào khác” (S.T.,II-II,10,12); và hơn nữa,
không ai có thể mượn quyền của Hiêrônimô, của Augustinô hay của
một vị tiến sĩ nào khác để bào chữa cho mình chống lại quyền
bính của Phêrô (x.S.T.,II-II, 11,2-3).
175) Propositio 32.
176) X. Thông Điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Thế Redemptoris missio
(7/12/1990), số 67: 1.c., tr 315-316.
177) X. Propositio 32.
178) Propositio 27.
179) Sắc lệnh về việc đào tạo linh mục, Optatam totiuis,
ĐT, số 4.
180) Công Đồng Vat.II, Hiến chế Tín Lý về Giáo Hội, Lumen
gentium, GH, số 48.
181) Explanatio Apocalypsis, Lib.II, 12 : PL 93, tr. 166.
182) X. Propositio 28.
183) Như trên.
184) Sắc lệnh về thừa tác vụ và đời sống linh mục,
Presbyterorum ordinis, LM, số 9; x. Gioan Phaolô II, Tông
Huấn hậu Thượng Hội Đồng Christifideles laici
(30/12/1988), số 61 : 1.c tr 512-514.
185) Propositio 28.
186) X. Như trên.
187) X. Thông Điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Thế, Redemptoris missio
(7/12/1990), số 67-68 : 1.c., tr. 315-316.
|