Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam

 

 

 

ĐỰƠC CHỌN GIỮA LOÀI NGƯỜI
VÀ CHO LOÀI NGƯỜI  (x. Dt, 5.1)

 

GIÁO SĨ:

Xuất phát từ giáo dân, hiện diện vì giáo dân và cậy dựa vào giáo dân

 

ĐỂ CÙNG LÀM VINH DANH THIÊN CHÚA

 

www.conggiaovietnam.net                          giaosivietnam@gmail.com

Đặc San Điện Tử    Giáo Sĩ Việt Nam    Số 122, Chúa Nhật 27.06.2010


MỤC LỤC 

VIỆC ĐÀO TẠO CÁC ỨNG SINH LINH MỤC                                            ĐTC Gioan Phaolo 2

THƯ CHỊ THÁNH TÊRÊXA VIẾT CHO NGƯỜI ANH EM LINH MỤC (5)            Nobertô Thái Văn Hiến (dịch)

TẠI SAO XÃ HỘI CẦN THÁNH TÔMA?                                                 THIÊN PHONG (dịch)

GIA TÀI MẸ ĐỂ LẠI LÀ BẠO LỰC SAO?                                                          Gioan Lê Quang Vinh

CON TRAI HỌ CHỈ CÒN MỘT TAY VÀ MỘT CHÂN               Phó tế: GB. Maria Nguyễn Định

GHEN (4)                                                                                        Lm Lê Văn Quảng Psy.D.

LÀM SAO ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI ?                                                         Lm PX. Ngô Tôn Huấn

THA THỨ LÀ MỘT BỔN PHẬN                                                                      Br. Huynhquảng

CẦN HIỂU CHỒNG HƠN NỮA                                             Lm. Minh Anh, tổng hợp biên tập

NHỮNG YẾU TỐ NỒNG CỐT CỦA TRƯỞNG THÀNH TÌNH CẢM         Lm. Micae Phaolo Trần Minh Huy, pss.

ÔNG BÀ VÀ CÁC CHÁU                                                                  Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức M.D. 

SĐB                                                                                              Chuyện phiếm của Gã Siêu


VIỆC ĐÀO TẠO CÁC ỨNG SINH LINH MỤC

 

TÔNG HUẤN PASTORES DABO VOBIS
VỀ VIỆC ĐÀO TẠO LINH MỤC TRONG HOÀN CẢNH HIỆN NAY

Nguồn: http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2009/10/03/tong-huan-pastores-dabo-vobis/

CHƯƠNG V

NGÀI THIẾT LẬP HỌ THÀNH NHÓM MƯỜI HAI ĐỂ HỌ NÊN BẠN ĐỒNG HÀNH VỚI NGÀI

VIỆC ĐÀO TẠO CÁC ỨNG SINH LINH MỤC

 

Sống nối gót Đức Kitô như các Tông Đồ

42. “Ngài leo lên núi và Ngài gọi những kẻ Ngài muốn đến với Ngài. Họ đã đến với Ngài và Ngài thiết lập họ thành Nhóm Mười Hai để họ nên bạn đồng hành với Ngài và để sai họ đi rao giảng, kèm theo quyền xua trừ ma quỷ” (Mc 3,13-15).

“Để họ nên đồng hành với Ngài” : với những từ này, chúng ta có thể đọc thấy “sự sát cánh các ơn gọi” của các Tông Đồ, từ phía Đức Giêsu. Sau khi đã kêu gọi họ và trước khi sai họ đi và cũng là để có thể sai họ đi rao giảng, Đức Giêsu xếp đặt cho họ một thời gian đào tạo nhằm mục đích phát triển mối tương quan hiệp thông và bằng hữu sâu xa với Ngài. Ngài dành cho họ một nền huấn giáo đi vào chiều sâu (x. Mt 13,11), và Ngài muốn họ nên những người làm chứng về đời cầu nguyện thầm lặng của Ngài với Chúa Cha (x. Ga 17,1-6; Lc 22,39-45).

Trong sự chăm sóc dành cho các ơn gọi linh mục, Giáo Hội, thuộc mọi thời đại, tìm nguồn cảm hứng nơi gương mẫu của Chúa Kitô. Mục vụ các ơn gọi trong Giáo Hội đã có và hôm nay vẫn còn có rất nhiều dạng thức cụ thể khác biệt nhau, chẳng những nhắm mục đích phân định các ơn gọi linh mục nhưng còn là sát cánh với các ơn gọi ấy. Tuy nhiều nhưng tinh thần thôi thúc và nâng đỡ vẫn là một : chỉ sau khi đã đào tạo những người có ơn gọi một cách đầy đủ mới có thể đưa họ tiến đến chức linh mục. Mục vụ các ơn gọi cung ứng cho họ khả năng đáp trả một cách ý thức và tự do và sự đáp trả ấy đưa dẫn toàn thể con người họ đến với Chúa Giêsu Kitô, Đấng mời gọi họ sống thân tình với Ngài và chia sẻ sứ vụ cứu độ của Ngài. Trong chiều hướng này, “chủng viện”, dưới nhiều hình thức khác nhau và, một cách tương tự, “cơ sở đào tạo” các linh mục dòng, trước khi là một nơi chốn vật chất, đã phải là một nơi chốn thiêng liêng, một lộ trình cho cuộc sống, một bầu khí trợ lực và bảo đảm cho tiến trình đào tạo, nhờ đó giúp những người được Thiên Chúa mời gọi tiến đến chức linh mục trở thành hình ảnh sống động của Đức Kitô Đầu và Mục Tử của Giáo Hội, qua bí tích Truyền Chức Thánh. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã trình bày rõ rệt ý nghĩa nguyên thủy và loại biệt của việc đào tạo các ứng sinh linh mục: “Sống trong chủng viện, trường dạy Tin Mừng, có nghĩa là sống nối gót Đức Kitô như các Tông Đồ, có nghĩa là để cho Đức Kitô đưa dẫn vào công cuộc phục vụ Chúa Cha và phục vụ nhân loại, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, và để cho mình nên đồng hình dạng với Đức Kitô Mục Tử Nhân Lành nhằm mục đích, trong cương vị linh mục, phục vụ tốt đẹp hơn trong Giáo Hội và trong thế giới. Được đào tạo để làm linh mục có nghĩa là luyện tập để có thể tự mình trả lời câu hỏi cơ bản của Đức Kitô: “Con có yêu mến Ta không?” Đối với người linh mục tương lai, câu trả lời chỉ có thể là sự trao hiến trọn vẹn đời sống mình” (122).

Vấn đề ở đây là phải tùy vào những điều kiện xã hội, tâm lý, chính trị và văn hoá của thế giới hiện nay mà phiên dịch tinh thần nói trên là tinh thần không bao giờ được sao nhăng trong Giáo Hội; những điều kiện ấy vốn dị biệt và phức tạp theo như lời chứng của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, trong tương quan với các Giáo Hội địa phương khác nhau. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng để lộ những mối bận tâm đầy lo âu nhưng đồng thời cũng nêu cao một niềm hy vọng lớn lao, các ngài đã dành nhiều thời giờ để suy tư về những nỗ lực nghiên cứu và những nỗ lực thích nghi các phương pháp đào tạo ứng sinh linh mục, hiện đang được thực hiện trong những Giáo Hội của các ngài.

Tông Huấn hiện tại chỉ có ý thâu nhập thành quả các công việc trong Thượng Hội Đồng. Tông Huấn này muốn xác định một vài điểm đã đạt được, chỉ rõ những mục tiêu không thể bỏ qua, cung ứng cho mọi người những bước đường đào tạo phong phú đã được thử nghiệm một cách tích cực. Trong Tông Huấn này, có sự phân biệt giữa đào tạo “khai đạo” và đào tạo “trường kỳ”, tuy vậy vẫn không bao giờ coi nhẹ mối liên hệ sâu xa nối kết chúng nên một và làm cho cả hai trở thành một lộ trình duy nhất cho cuộc sống Kitô hữu và linh mục. Tông Huấn bàn về những chiều kích khác biệt trong nền đào tạo nhân bản, thiêng liêng, trí thức và mục vụ, cũng như bàn về các môi trường và những chủ thể có trách nhiệm đào tạo các ứng sinh.

I. CÁC CHIỀU KÍCH CỦA VIỆC ĐÀO TẠO LINH MỤC

Đào tạo nhân bản, nền tảng của mọi nền đào tạo linh mục.

43. “Không có đào tạo nhân bản thỏa đáng, thì việc đào tạo linh mục trong toàn bộ sẽ bị thiếu hụt mất nền tảng cần thiết” (123). Lời khẳng định này của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng không chỉ nói lên một dữ kiện mà lý trí quen gợi lên và kinh nghiệm vẫn thường xác nhận: đó còn là một đòi buộc mà nguyên do sâu xa nhất và loại biệt nhất nằm ngay trong chính bản chất của linh mục và của thừa tác vụ linh mục. Được mời gọi trở nên “hình ảnh sống động” của Đức Giêsu Kitô Đầu và Mục Tử, linh mục cần phải phản ánh nơi chính mình, trong mức độ có thể, sự thành toàn nhân bản như được rạng chiếu nơi Con Thiên Chúa làm người và như được nhìn xuyên thấu qua các thái độ đầy hiệu năng của Ngài đối với tha nhân, đúng như lời diễn tả của các tác giả Tin Mừng. Chắc hẳn thừa tác vụ của linh mục bao gồm việc loan báo Lời Chúa, cử hành các bí tích, điều hành cộng đoàn Kitô hữu “nhân danh và thay mặt Đức Kitô”, nhưng tất cả những công việc ấy luôn luôn là để nhắm tới những con người cụ thể: “Thật vậy, được cất nhắc từ giữa loài người, mọi vị thượng tế đều được đặt lên để can thiệp cho loài người trong những mối quan hệ giữa loài người với Thiên Chúa” (Dt 5,1). Chính vì thế, việc đào tạo nhân bản cho người linh mục mặc một tầm quan trọng riêng biệt vì lý do linh mục phải quan hệ với với những người đón nhận sứ vụ của mình. Thật vậy, để cho thừa tác vụ của linh mục được dễ tin hơn và dễ đón nhận hơn xét theo phương diện nhân bản, linh mục cần phải trau dồi nhân cách của mình sao cho mình trở nên một “nhịp cầu” chớ không phải một chướng ngại vật cho tha nhân trong việc gặp gỡ Đức Giêsu Kitô Đấng cứu chuộc loài người. Noi gương Đức Giêsu là Đấng “biết được những điều chất chứa trong lòng người” (Ga 2,25; x. 8,3-11), linh mục cần phải có khả năng hiểu biết sâu xa lòng trí con người, trực giác được những khó khăn và những vấn đề, tạo điều kiện dễ dàng cho sự gặp gỡ và đối thoại, đạt được lòng tin cậy và sự cộng tác, phát biểu được những phán đoán lành mạnh và khách quan.

Như thế, không phải chỉ vì để đạt được một sự triển nở cần thiết và chính đáng và để tự thể hiện chính mình, nhưng còn vì để thi hành thừa tác vụ linh mục mà các linh mục tương lai cần phải vun trồng một tập hợp những đức tính nhân bản, cần thiết cho sự kiến tạo những nhân cách quân bình, mạnh mẽ và tự do: chính vì để có khả năng chịu đựng sức nặng của các trách nhiệm mục vụ. Bởi đó có nhu cầu phải được giáo dục về lòng yêu mến chân lý, về sự chân thành, về sự tôn trọng nhân vị đối với mọi người, về ý thức công bằng, về chữ tín trong lời nói, về lòng trắc ẩn thực thụ, về tính nhất quán, cách riêng về sự quân bình trong phán đoán và trong cách cư xử (124). Trong thư gởi tín hữu Philipphê, Thánh Tông Đồ Phaolô đề nghị một chương trình vừa đơn giản vừa đỏi hỏi cho việc đào tạo nhân bản: “Tất cả những gì là chân thật, là cao thượng, là công minh, là trong trắng, là dễ mến, là đáng kính phục, tất cả những gì được coi là tốt đẹp về mặt nhân đức nhân bản và về những điều được người đời ca ngợi, anh em hãy chú trọng tất cả những điều ấy” (Ph 4,8). Có điều thú vị đáng ghi nhận, đó là thánh Phaolô, ngay trong những đức tính thật sự nhân bản của Ngài, lại đưa chính mình ra làm mẫu mực cho các tín hữu, ngài nói tiếp ngay sau đó: “Những gì anh em đã học, đã lãnh nhận, đã nghe về tôi và đã nhận thấy nơi tôi, anh em phải đem ra thực hành” (Pl 4,9).

Tương quan với tha nhân mang một tầm quan trọng đặc thù. Đó là một yếu tố thật sự thiết yếu đối với người được mời gọi lãnh nhận trách nhiệm trên một cộng đoàn và trở thành “con người của hiệp thông”. Điều này đòi hỏi linh mục không được tự cao, không được cau có nhưng phải nhã nhặn, niềm nở, chân thành trong lời nói cũng như trong lòng (125), khôn ngoan và thận trọng, quảng đại và sẵn sàng phục vụ, có khả năng thiết lập với tha nhân và khơi dậy nơi tha nhân những mối quan hệ chân thành và huynh đệ, mau cảm thông, tha thứ và an ủi (x. 1 Tm 3, 1-5; Tr 1,7-9). Thường bị xô đẩy vào tình trạng vừa ô hợp vừa cô độc, nhất là nơi những chỗ tập trung đông đúc ở thành thị, nhân loại hiện nay càng ngày càng nhạy cảm đối với sự hiệp thông: ngày nay hiệp thông là một trong những dấu chỉ hùng hồn nhất và là một trong những đường lối hữu hiệu nhất của sứ điệp Tin Mừng.

Đào tạo cho ứng sinh linh mục có được sự trường thành về cảm tính, trong một bối cảnh như hiện nay, là một yếu tố quan trọng và mang tính định đoạt, là tìm cách làm cho bước đường giáo dục thật sự đạt tới một tình yeê chân thực và hữu trách.

44. Sự trưởng thành về mặt cảm tính giả thiết đã đạt được ý thức về vị trí trung tâm của tình yêu trong cuộc sống con người. Thực ra, như Tôi đã viết trong thông điệp Redemptor hominis, “con người không thể sống mà không có tình yêu. Con người sẽ mãi mãi không hiểu được chính mình, cuộc đời con người sẽ mất hết ý nghĩa nếu con người không đón nhận mạc khải về tình yêu, nếu con người không gặp được tình yêu, nếu con người không thử nghiệm tình yêu, nếu con người không biến tình yêu thành của mình, nếu con người không thông phần một cách mạnh mẽ vào tình yêu” (126).

Tình yêu được đề cập ở đây là một tình yêu bao gồm toàn thể ngôi vị con người, trong những chiều kích và những câu đố thể lý, tâm lý và thiêng liêng của con người, một tình yêu được diễn đạt trong “ý nghĩa hôn ước” của thân thể con người, nghĩa là, nhờ thân thể, con người tự trao hiến mình cho người khác và đón nhận người khác. Một nền giáo dục phải tính hiểu một cách đúng đắn sẽ hướng đến chính nổ lực hiểu biết và thể hiện tình yêu nhân linh ấy trong “chân lý” của nó. Ngày nay, người ta ghi nhận một tình huống xã hội và văn hoá xô bồ trong đó “đại đa số ‘tầm thường hoá’ tính dục con người, cắt nghĩa tính dục con người một cách giản lược và nghèo nàn, chỉ đem móc nối tính dục với thân xác và với lạc thú ích kỷ” (127). Về phương diện này, ngay chính những gia đình làm nơi phát xuất ơn gọi linh mục cũng rơi vào những tình huống trong đó có những hụt hẫng đáng kể và đôi khi những bất quân bình nghiêm trọng.

Trong một bối cảnh như thế, điều khó hơn nhưng cũng bức bách hơn, đó là bảo đảm có được một nền giáo dục về tính dục thật sự và trọn vẹn thiết thân cho từng cá nhân, một nền giáo dục dẫn đến sự quý chuộng cũng như lòng yêu mến đối với đức khiết tịnh, “là nhân đức phát huy sự trưởng thành chính hiệu của ngôi vị nhân linh, làm cho con người có khả năng tôn trọng và thăng tiến “ý nghĩa hôn ước” của thân xác” (128).

Giáo dục cho con người có được tình yêu hữu trách và làm cho con người trưởng thành về cảm tính là những gì tuyệt đối cần thiết cho người nào được mời gọi, như linh mục, sống bậc độc thân, nghĩa là được mời gọi, với ân sủng của Chúa Thánh Thần và nhờ sự đáp trả tự do bằng ý muốn của riêng mình, hiến dâng toàn thể tình yêu và lòng ân cần của mình cho Đức Giêsu Kitô và cho Giáo Hội. Nhằm mục đích dấn bước sống độc thân, sự trưởng thành về mặt cảm tính phải có thể hội nhập vào trong những mối quan hệ nhân sinh, như tình bạn lành mạnh và tình huynh đệ sâu xa, một tình yêu nồng nhiệt, sắc bén và tự thân đối với Đức Giêsu Kitô. Như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã viết “tình yêu của Đức Kitô, được nối dài bằng hy lễ tiến dâng chính mình mang chiều kích hoàn vũ, phải chiếm giữ tầm quan trọng bậc nhất trong việc phát động sự trưởng thành về mặt cảm tính. Chính nhờ đó mà ứng sinh được mời gọi sống độc thân sẽ tìm được nơi sự trưởng thành về mặt cảm tính một chỗ dựa vững chắc để sống đức khiết tịnh một cách trung tín và vui vẻ” (129).

Dẫu có là chính hiệu và tôi luyện, đặc sủng độc thân vẫn giữ nguyên những nghiêng chiều của cảm tính và những thúc đẩy của bản năng : do đó, các ứng sinh linh mục rất cần đến một sự trưởng thành về mặt cảm tính, nhờ đó mới có khả năng sống thận trọng, từ khước tất cả những gì có thể làm phương hại sự trưởng thành ấy, biết cảnh tỉnh về thể xác cũng như tinh thần, có được thái độ quí chuộng và tôn trọng những tương quan liên vị giữa nam và nữ. Có thể góp thêm vào đó một sự trợ giúp quí giá từ một nền giáo dục thích nghi cho tình bạn đích thực, theo gương những mối giây trìu mến huynh đệ mà chính Đức Kitô đã thể hiện trong cuộc sống trần thế của Ngài. (x. Ga 11,5).

Sự trưởng thành nhân bản và cách riêng sự trưởng thành về mặt cảm tính đòi hỏi một nền đào tạo trong suốt và cương nghị nhắm đến tự do, để cho tự do mặc lấy những sắc thái của một sự tuân phục vừa xác tín vừa chân tình đối với “sự thật” của con người mình, đối với “ý nghĩa” của cuộc sống mình, nghĩa là tuân phục đến độ trao hiến chính mình một cách chân thành, lấy đó làm đường lộ và làm cốt lõi cơ bản cho sự thể hiện bản thân chính hiệu (130). Hiểu như thế, tự do đòi hỏi con người phải thực sự làm chủ chính mình, dứt khoát chiến đấu và thắng vượt mọi hình thái vi kỷ và cá nhân chủ nghĩa vốn đe dọa đời sống mỗi người, mau mắn cởi mở đối với tha nhân, quảng đại trong sự tận tụy và trong việc phục vụ đối với tha nhân. Tất cả những điều ấy đều quan trọng để có thể đáp trả ơn gọi, đặc biệt ơn gọi linh mục, để có thể trung thành với ơn gọi và với những cam kết gắn liền với ơn gọi, nhất là trong những giai đoạn khó khăn. Đời sống cộng đoàn trong chủng viện có thể góp thêm phần trợ lực để cho việc giáo dục tạo được bước tiến hướng đến một sự tự do chín muồi và có trách nhiệm (130).

Giáo dục về lương tâm luân lý là một công việc mật thiết gắn liền với việc đào tạo về tự do hữu trách. Từ nơi cái “tôi” sâu thẳm, lương tâm luân lý vổ võ sự vâng phục trước những đòi buộc luân lý; đồng thời, lương tâm luân lý vén mở ý nghĩa thâm sâu của sự vâng phục ấy : một sự đáp trả có ý thức và tự do, bởi đó có động lực là tình yêu, trước những lời yêu cầu của Thiên Chúa và của tình yêu Ngài. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng viết: “Sự trưởng thành nhân bản của linh mục phải đặc biệt bao hàm việc đào tạo lương tâm linh mục. Thật vậy, để cho ứng sinh có thể trung thành thỏa đáp những ràng buộc của mình đối với Thiên Chúa, đối với Giáo Hội và có thể hướng dẫn lương tâm các tín hữu một cách khôn ngoan, ứng sinh cần phải tạo thói quen lắng nghe tiếng Chúa ngỏ với mình trong lòng và cần phải gắn bó vào thánh ý Ngài với tình yêu và lòng kiên quyết” (132).

Đào tạo thiêng liêng : hiệp thông với Thiên Chúa và tìm gặp Đức Kitô.

45. Việc đào tạo nhân bản ấy, nếu được phát triển trong bối cảnh của một nền nhân học thừa nhận sự thật trọn vẹn về con người, sẽ khai mở và bổ khuyết cho việc đào tạo thiêng liêng. Được Thiên Chúa tạo dựng và được máu Đức Kitô cứu chuộc, mọi người đều được mời gọi tái sinh “bởi nước và bởi Thần Khí” (Ga 3,5) và trở nên “con trong Con”. Chính trong kế hoạch hữu hiệu ấy của Thiên Chúa mà chúng ta tìm gặp chiều kích tôn giáo, là yếu tố cấu thành con người, chiều kích ấy vốn được khám phá và nhìn nhận bởi lý trí đơn thuần : con người hướng mở về cái siêu việt, về cái tuyệt đối; tâm hồn con người khắc khoải mãi cho tới khi an nghỉ trong Chúa (133).

Tiến trình giáo dục dành cho đời sống thiêng liêng, hiểu như là tương quan và hiệp thông với Thiên Chúa, lấy nhu cầu cơ bản và bất khả hủy diệt ấy làm nguồn mạch và được phát triển trong nhu cầu đó. Dựa theo Mạc Khải và kinh nghiệm Kitô giáo, việc đào tạo thiêng liêng tìm được tính chất độc đáo độc nhất vô nhị trong sự mới mẻ của Tin Mừng. Thực ra, “việc đào tạo ấy là công việc của Chúa Thánh Thần, đòi hỏi toàn diện con người phải dấn thân; việc đào tạo ấy dẫn vào trong sự hiệp thông sâu xa với Đức Giêsu Kitô Mục Tử Nhân Lành; việc đào tạo ấy hướng dẫn cho toàn thể cuộc sống tuân phục Chúa Thánh Thần, bằng một thái độ hiếu thảo đối với Đức Chúa Cha và bằng một sự gắn bó tín thác đối với Giáo Hội. Việc đoà tạo thiêng liêng bén rễ trong kinh nghiệm thập giá để rồi có thể đưa dẫn, bằng một sự hiệp thông sâu xa, vào trong toàn thể mầu nhiệm Vượt qua” (134).

Như chúng ta nhận thấy, đào tạo thiêng liêng ở đây là đào tạo chung cho mọi tín hữu, việc đào tạo ấy còn cần phải được cơ cấu hoá tùy theo ý nghĩa và đặc tính phát xuất từ căn tính của linh mục và của thừa tác vụ linh mục. Đối với mọi tín hữu, đào tạo thiêng liêng phải là việc làm trung tâm và phải tạo sự thống nhất giữa con người Kitô hữu với đời sống Kitô hữu, nghĩa là sự thống nhất của một tạo vật mới trong Đức Kitô đang tấn tới trong Chúa Thánh Thần. Cùng một cách thức ấy, đối với mọi linh mục, việc đào tạo thiêng liêng phải là “tâm điểm”, phải tạo sự thống nhất cũng như sức sống cho “hữu thể” và “hành động” của linh mục. Trong chiều hướng ấy, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng quả quyết rằng “thiếu đào tạo thiêng liêng, việc đào tạo mục vụ sẽ không có nền tảng” (135) và rằng đào tạo thiêng liêng chính là “yếu tố quan trọng nhất trong nền giáo dục linh mục” (136).

Sắc lệnh công đồng Optatam totius đã trình bày khá rõ nét những gì là thiết yếu được hàm chứa trong việc đào tạo thiêng liêng nhằm giúp có được một lộ trình ấn định cho việc tiến tới chức linh mục: “Phải cung ứng một nền đào tạo thiêng liêng […] sao cho các chủng sinh được chuẩn bị để sống trong sự hiệp thông liên lỉ và thân tình với Chúa Cha, nhờ Con Ngài là Đức Giêsu Kitô, trong Chúa Thánh Thần. Hướng đến việc mô phỏng Đức Kitô Linh mục nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, các chủng sinh phải tập làm quen để gắn bó với Ngài như những người bạn bằng một đời sống tâm phúc trọn vẹn. Các chủng sinh phải sống mầu nhiệm vượt qua của Ngài làm sao để có thể đưa dẫn đoàn dân sẽ được giao phó cho mình vào trong mầu nhiệm ấy. Phải dạy cho các chủng sinh biết tìm kiếm Đức Kitô bằng cách trung thành suy niệm Lời Chúa, bằng cách tích cực hiệp thông với các mầu nhiệm rất thánh của Giáo Hội, trước hết qua bí tích Thánh Thể và thần vụ. Các chủng sinh phải tìm kiếm Đức Kitô nơi giám mục là người sai phái mình và nơi những con người mà mình được sai phái đến, nhất là nơi những người nghèo, những người bé nhỏ, những người yếu đau, những người tội lỗi và những người không tin. Với niềm cậy tin hiếu thảo, các chủng sinh phải yêu mến và tôn kính Đức Trinh Nữ Maria diễm phúc mà khi hấp hối trên thập giá Đức Kitô Giêsu đã ban cho người cho môn đệ yêu dấu để làm mẹ của mình” (137).

46. Bản văn công đồng trên đây đáng cho chúng ta chú tâm suy niệm. Chúng ta có thể dễ dàng phân định ở đó một số giá trị và đòi buộc cơ bản liên quan tới hành trình thiêng liêng được đề nghị cho ứng sinh linh mục.

Điều được nhận ra tiên vàn, đó là giá trị và đòi buộc của một “đời sống mật thiết kết hiệp” với Đức Giêsu Kitô. Được xây trên bí tích Rửa tội và được nuôi dưỡng bằng bí tích Thánh Thể, sự hiệp nhất với Chúa Giêsu phải tỏ lộ bằng một cuộc canh tân triệt để, trong đời sống mỗi ngày. Sự thông hiệp mật thiết với Chúa Ba Ngôi, nghĩa là đời sống mới trong ân sủng với quyền làm con Thiên Chúa, nói lên “tính chất mới mẻ” của người tín hữu, tính chất mới mẻ này lan tỏa đến hữu thể và hành động. Đời sống mới ấy chính là huyền nhiệm của đời sống Kitô hữu được đặt dưới sinh khí của Chúa Thánh Thần; bởi đó, đời sống mới ấy phải làm thành cái gọi là “ethos” của đời sống người Kitô hữu. Về những điều được hàm chứa cách kỳ diệu trong đời sống Kitô hữu, được coi như là tâm điểm của đời sống thiêng liêng, theo như vừa trình bày, Đức Giêsu đã giảng dạy cho chúng ta trong ám dụ cây nho và ngành cho : “Thầy là cây nho đích thật và Cha Thầy là người trồng nho…. Anh em hãy ở trong Thầy, như Thầy ở trong anh em. Cũng như ngành nho tự mình không thể kết trái nếu không gắn liền với thân nho, anh em cũng vậy, nếu anh em không ở trong Thầy. Thầy là cây nho, anh em là ngành. Người nào ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, người ấy sẽ sinh nhiều hoa trái; bởi vì lìa khỏi Thầy ạnh em sẽ không làm được gì” (Ga 15,1.4-5).

Trong nền văn hoá hiện đại, các giá trị tinh thần và tôn giáo không thiếu và con người, mặc cho những dáng vẻ bên ngoài, vẫn cứ triền miên đói khát Thiên Chúa. Nhưng thường thường Kitô giáo có nguy cơ bị coi như là một tôn giáo trong số các tôn giáo, hoặc bị giản lược vào nền đạo đức xã hội thuần túy nhằm phục vụ con người. Bởi đó, không phải lúc nào người ta cũng nhận ra được tính chất mới mẻ có sức làm đảo lộn cuộc sống của Kitô giáo trong lịch sử : Kitô giáo là “Mầu Nhiệm”, là biến cố Con Thiên Chúa làm người và ban cho những kẻ đón nhận Ngài “quyền” trở nên con Thiên Chúa (Ga 1,12); là sự loan báo và còn là sự ban tặng một giao ước tình yêu và sự sống được ký kết giữa Thiên Chúa và con người, Các linh mục tương lai sẽ chỉ có thể truyền đạt tin diệu vợi và nguồn hạnh phúc ấy cho người khác (x. 1 Ga 1,1-4), nếu họ đạt được cho chính họ một sự hiểu biết sâu xa cùng với những tiến bộ bằng kinh nghiệm về “mầu nhiệm”, nhờ vào một nền đào tạo thiêng liêng thích ứng.

Trong khi nêu bật tính chất siêu việt của mầu nhiệm Kitô giáo, bản văn công đồng còn trình bày sự thông hiệp mật thiết của các linh mục với Đức Giêsu, thậm chí còn điểm thêm sắc thái của tình bằng hữu. Vấn đề ở đây không phải là một kỳ vọng phi lý của con người. Đây chỉ đơn thuần là quà tặng vô giá của Đức Kitô như Ngài đã nói với các Tông Đồ: “Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ, bởi vì tôi tớ không biết việc chủ làm; nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, bởi vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy Thầy đều đã truyền đạt cho anh em” (Ga 15,15).

Trong phần kế tiếp, bản văn công đồng trưng dẫn một giá trị thiêng liêng khác không kém quan trọng : đó là việc tìm gặp Đức Giêsu. “Phải dạy cho các chủng sinh biết tìm gặp Đức Kitô”. Với điều gọi là quaerere Deum, đây là một đề tài cổ điển của nền tu đức Kitô giáo lấy ơn gọi của các Tông Đồ làm mẫu mực để minh họa. Khi tường thuật về cách thức mà hai môn đệ đầu tiên đã đi theo Đức Giêsu, thánh Gioan đưa ra ánh sáng vị thế mà “tìm gặp” ấy chiếm giữ. Chính Đức Giêsu là người đặt câu hỏi: “Các anh tìm gì?” Và cả hai đã trả lời: “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?”. Tác giả Tin Mừng viết tiếp : “Ngài nói với họ : “Hãy đến mà xem”. Họ đã đến và đã xem thấy nơi Ngài ở và họ ở lại với Ngài ngày hôm ấy” (Ga 1,37-39). Bởi đó, đời sống thiêng liêng của người chuẩn bị bước vào chức linh mục được chi phối bởi cuộc tìm gặp ấy : tìm và “gặp” Thầy, theo Ngài và ở lại với Ngài. Trong thừa tác vụ và đời sống linh mục, cần phải tiếp tục cuộc “tìm gặp” ấy, bởi vì mầu nhiệm noi gương Đức Kitô và thông dự vào đời sống Ngài thì bất tận. Cũng vậy, cần phải tiếp tục “gặp” Thầy để rồi giới thiệu Ngài cho người khác và hơn nữa, khơi dậy nơi người khác lòng khao khát tìm kiếm Thầy. Thế nhưng chỉ có thể thực sự làm được việc này nếu đem đề nghị cho người khác một “kinh nghiệm sống, một kinh nghiệm đáng đem chia sẻ. Đó là đường lối mà Anrê đã chọn để dẫn anh mình là Simon đến với Đức Giêsu. Theo lời thánh Gioan tác giả Tin Mừng, Anrê “gặp anh mình là Simon lúc tảng sáng và nói với anh: Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia — nghĩa là Đức Kitô. Anrê dẫn anh mình đền với Đức Giêsu”. Bằng cách đó, cả Simon cũng đã được mời gọi làm tông đồ đi theo Đấng Mêsia : “Đức Giêsu nhìn Simon và nói: “anh là Simon, con ông Gioan; anh sẽ được gọi là Kêpha” – nghĩa là Đá” (Ga 1,41-42).

Thế nhưng, trong đời sống thiêng liêng, tìm kiếm Đức Kitô có nghĩa là gì? Gặp Ngài ở đâu? “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?”. Sắc lệnh công đồng Optatam totitus dường như chỉ dẫn ba con đường phải trải qua : trung thành suy niệm lời Chúa, tích cực tham dự các mầu nhiệm thánh trong Giáo Hội, phục vụ trong đức ái đối với những người “bé mọn”. Đó chính là ba giá trị và đòi buộc cao cả xác định nội dung hàm chứa trong nền đào tạo thiêng liêng dành cho ứng sinh linh mục.

47. Đọc Lời Chúa trong suy niệm và cầu nguyện (lectio divina), đồng thời khiêm nhượng và quý trọng lắng nghe người phát biểu, đó là một yếu tố thiết cốt trong việc đào tạo thiêng liêng. Quả thật, chính trong ánh sáng và sức mạnh của Lời Chúa mà mỗi người có thể khám phá, hiểu, yêu mến và theo đuổi ơn gọi cũng như chu toàn sứ vụ của mình. Chính khi trở thành đích điểm của Lời Thiên Chúa là Đấng mời gọi con người và trở thành khởi điểm (nguyên lý) của lời con người là kẻ đáp lại Thiên Chúa, mà cuộc sống con người đạt được ý nghĩa tròn đầy và căn cơ. Nhờ thân mật với Lời Chúa mà tiến trình hoán cải sẽ trở nên dễ dàng, hiểu theo hai nghĩa : chẳng những từ bỏ điều dữ để gắn bó với điều lành nhưng còn làm cho tư tưởng của Thiên Chúa được lớn lên trong tâm hồn. Với tính cách đáp lại lời Thiên Chúa, đức tin lúc ấy trở thành tiêu chuẩn mới để giúp phán đoán và đánh giá con người và sự việc, các biến cố và các vấn đề.

Tất cả những điều ấy, với điều kiện là Lời Chúa được nghe và đón nhận theo đúng bản chất đích thực, bởi vì Lời Chúa giúp gặp gỡ chính Thiên Chúa, một Thiên Chúa ngỏ lời với con người; Lời Chúa giúp gặp gỡ Đức Kitô, Ngôi Lời Thiên Chúa, Sự Thật, cũng là Đường và Sự Sống (x. Ga 14,6). Cần phải đọc “sách thánh” bằng cách lắng nghe “những lời nói”, lắng nghe “Lời” của Thiên Chúa, như lời nhắc nhở của công đồng: “Các Sách Thánh chứa đựng Lời Thiên Chúa và bởi vì các sách ấy đều được linh ứng nên đều thật sự là Lời Thiên Chúa” (138). Công đồng còn nói : “Bằng việc mạc khải ấy, Thiên Chúa vô hình (x. Cl 1,15; 1Tm 1,17), trong tình yêu bao la của Ngài, ngỏ lời với loài người như với những người bạn (x. Xh 33,11; Ga 15,14-15). Ngài đàm đạo với họ (x. Br 3,38) để mời gọi họ và chấp nhận cho họ được thông chia sự sống thuộc về Ngài” (139).

Tiếp cận Lời Chúa một cách mật thiết và ngập tràn tình yêu, bằng việc cầu nguyện : đó là công việc hết sức đặc biệt đối với thừa tác vụ ngôn sứ của linh mục; đó là một điều kiện tất yếu để linh mục có thể thi hành thừa tác vụ ấy một cách xứng hợp, nhất là trong bối cảnh của công cuộc “phúc âm hoá mới” trong Giáo Hội ngày nay. Theo lời mời gọi của Công Đồng, và tất cả những ai một cách bình thường tham gia thừa tác vụ Lời Chúa, các phó tế hoặc các giáo lý viên, cần phải chuyên chăm đọc Kinh Thánh như một loại sách thiêng liêng và đào sâu Kinh Thánh bằng việc học hỏi, cần phải gắn bó với Kinh Thánh, để đừng có ai trong họ phải trở nên kẻ làm công việc giảng thuyết Lời Chúa bên ngoài cách hão huyền, trong khi tự thâm tâm lại chẳng hề lắng nghe (Thánh Augustinô, Serm. 179,1 : PL 38,966)” (140).

Cầu nguyện là cách đáp trả cơ bản đối với Lời Chúa và cầu nguyện chắc chắn là một giá trị và một đòi buộc tiên khởi trong việc đào tạo thiêng liêng. Việc đào tạo thiêng liêng phải đưa dẫn các ứng sinh linh mục để họ nhận biết và thực nghiệm ý nghĩa chính hiệu của kinh nguyện Kitô giáo : là một cuộc gặp gỡ sống động và cá vị với Chúa Cha, nhờ Con độc nhất của Ngài với tác động của Chúa Thánh Thần, là một cuộc đối thoại được trở thành việc thông phần vào cuộc đối thoại phụ tử giữa Đức Giêsu với Cha Ngài. Đàng khác, còn một khía cạnh không kém quan trọng trong sứ vụ linh mục, đó là linh mục phải là “nhà giáo dục về cầu nguyện”. Thế nhưng linh mục sẽ chỉ có thể đào tạo người khác theo trường học của Đức Giêsu cầu nguyện nếu chính linh mục đã được đào tạo và còn tiếp tục tự đào luyện theo trường học ấy. Đó chính là điều mà người đời đòi hỏi nơi linh mục : “Linh mục là người của Thiên Chúa, là người thuộc về Thiên Chúa và làm cho người ta suy nghĩ về Thiên Chúa. Khi nói về Đức Kitô, Thư gởi tín hữu Do Thái trình bày Đức Kitô như một “vị thượng tế nhân ái và trung thành trong những sự việc liên can tới Thiên Chúa” (Dy 2,17)…. Các Kitô hữu hy vọng gặp được nơi linh mục chẳng những một con người đón tiếp họ, bằng lòng lắng nghe họ, bày tỏ cho họ một mối thiện cảm nào đó, nhưng còn là và nhất là một con người giúp đỡ họ ngắm nhìn Thiên Chúa, tiến lên về phía Thiên Chúa. Bởi đó, linh mục cần phải được đào tạo cho có một thâm tình sâu đậm với Thiên Chúa. Những người chuẩn bị làm linh mục phải hiểu được rằng toàn thể giá trị đời sống linh mục của họ lệ thuộc vào sự trao hiến chính mình mà họ sẽ có thể thực hiện cho Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, cho Đức Chúa Cha” (141).

Trong một bối cảnh náo động và ồn ào như bối cảnh xã hội chúng ta, nền sư phạm cần thiết cho việc cầu nguyện, phải bao gồm việc giáo dục nhằm đạt được một cảm nhận sâu sắc về con người, nhằm nhận thức được giá trị tôn giáo của sự thinh lặng, là bầu khí thiêng liêng cần có để có thể nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa và để cho sự hiện diện của Thiên Chúa có thể xâm chiếm mình (x. 1 V 19,11-12).

48. Chóp đỉnh của kinh nguyện Kitô giáo chính là Bí Tích Thánh Thể, bí tích này, đến lượt mình, lại là “chóp đỉnh và nguồn mạch” của mọi bí tích và của Phụng Vụ các Giờ Kinh. Giáo dục về phụng vụ hiểu theo nghĩa tròn đầu là một sự hội nhập đời sống vào mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô, đã chết và sống lại, đang hiện diện và hành động trong các bí tích của Giáo Hội : việc giáo dục này là tuyệt đối cần thiết đối với nền đào tạo thiêng liêng của mọi Kitô hữu và cách riêng của mọi linh mục. Các bí tích mang lại ân huệ và hoa quả là sự thông hiệp với Thiên Chúa, trung tâm của toàn thể đời sống thiêng liêng. Sự thông hiệp với Thiên Chúa đồng thời là một bổn phận và một trách nhiệm mà các bí tích chuyển thông cho tự do của người tín hữu, để rồi sự thông hiệp ấy gợi hứng cho những quyết định, những lựa chọn, những thái độ và những hoạt động trong cuộc sống thường ngày. Trong chiều hướng ấy, “ân sủng” làm cho đời sống Kitô hữu nên “mới” chính là Đức Giêsu Kitô. Đấng đã chết và đã sống lại, hiện tiếp tục tuôn đổ Thần Khí của Ngài qua các bí tích, Thần Khí thánh thiện và thánh hoá. Cũng vậy, “luật mới” có trách nhiệm hướng dẫn và chỉnh đốn cuộc sống người Kitô hữu, luật ấy được các bí tích khác ghi trong “trái tim mới”. Đó là luật bác ái đối với Thiên Chúa và đối với anh em, là sự đáp trả và nối dài đức ái của Thiên Chúa đối với con người, một đức ái được ám chỉ và được thông ban qua các bí tích. Nhờ đó, chúng ta hiểu được giá trị của một sự tham dự “trọn vẹn, ý thức và tích cực” (142) vào việc cử hành các bí tích, nhằm mục đích đón nhận và đem ra thực hành ơn “đức ái mục vụ” vốn là linh hồn của thừa tác vụ linh mục.

Đáng kể hơn cả là việc tham dự vào bí tích Thánh Thể, tưởng niệm hy lễ, cái chết và sự phục sinh vinh hiển của Đức Kitô, “bí tích sùng mộ, dấu chỉ hiệp nhất, mối dây bác ái” (143), bữa tiệc vượt qua “trong đó Đức Kitô được đón nhận làm của ăn, linh hồn được ngập tràn ân sủng Ngài và vinh quang mai ngày như đã được tặng ban cho chúng ta” (144). Trong khi đó, với tư cách là thừa tác viên của những sự việc linh thánh, các linh mục trên hết là thừa tác viên của Hiến Tế Thánh Lễ : (145) vai trò của các ngài là tuyệt đối cần thiết bởi vì, không có linh mục, không thể có hiến tế tạ ơn.

Điều đó chứng tỏ tầm quan trọng thiết yếu của Bí Tích Thánh Thể đối với đời sống và thừa tác vụ linh mục và bởi đó đối với nền đào tạo các ứng sinh linh mục. Một cách hết sức đơn sơ và để cho thật cụ thể, Tôi xin lặp lại: “Điều cần thiết phù hợp cho các chủng sinh, đó là họ tham dự hằng ngày việc cử hành Bí tích Thánh Thể, làm thế nào để sau này họ coi việc cử hành thường nhật ấy như là quy luật trong cuộc đời linh mục của họ. Ngoài ra, cần phải dạy cho các chủng sinh biết quan niệm việc cử hành Thánh Thể như nhịp sống thiết yếu của một ngày. Họ phải tham dự việc cử hành ấy một cách tích cực , không bao giờ bằng lòng với việc có mặt vì thói quen thuần túy. Sau cùng, các ứng sinh linh mục phải được đào tạo để có những tâm tình sầu kín nhờ bí tích Thánh Thể làm nảy sinh : đó là tâm tình tri ân đối với những ân phúc lãnh nhận từ trời, bởi vì bí tích Thánh Thể là một cuộc tạ ơn; thái độ hiến dâng nhờ đó họ được thúc đẩy kết hiệp của lễ chính mình với của lễ tạ ơn của Đức Kitô; đức ái, được nuôi dưỡng bằng một bí tích vốn là dấu chỉ hiệp nhất và chia sẻ, khát vọng chiêm ngắm và thờ lạy đối diện với Đức Kitô thực sự hiện diện trong các hình bánh và rượu” (146).

Điều khẩn cấp hơn bao giờ hết là phải giúp khám phá lại, giữa lòng nền đào tạo thiêng liêng, vẻ đẹp và niềm vui của bí tích thống hối. Quả vậy, nền văn hoá của chúng ta, với cuộc canh tân những hình thái tự biện hộ chính mình cách tinh vi nhất, có nguy cơ đánh mất “ý thức về tội” và, do đó, đánh mất niềm vui có sức an ủi do việc cầu xin ơn tha thứ (x. Tv 51/50,14) và việc gặp gỡ Thiên Chúa “giàu lòng thương xót” (Ep 2,4). Do vậy, thật là cần thiết phải giáo dục các linh mục tương lai sao cho có được nhân đức thống hối mà Giáo Hội khéo léo gọi mời trong các cuộc cử hành và trong những dịp quan trọng của năm phụng vụ, nhân đức ấy đạt được tầm mức trọn vẹn trong bí tích Hoà Giải. Từ đó phát sinh ý thức về sự khổ chế và về kỷ luật nội tâm, phát sinh tinh thần hy sinh và từ bỏ, thái độ chấp nhận gian khổ và thập giá. Các yếu tố ấy trong đời sống thiêng liêng thường gây những khó khăn đáng kể cho nhiều ứng sinh linh mục, nhất là những ứng sinh đã đớn lên trong những điều kiện sống tương đối dễ dãi : họ ít hướng đến các yếu tố ấy và ít nhạy cảm đối với các yếu tố ấy do những mẫu gương và những lý tưởng lưu hành bởi những phương tiên truyền thông xã hội, ngay cả nơi những quốc gia mà điều kiện sống thấp kém hơn và tình trạng của những người trẻ nghiệt ngã hơn. Vì lý do ấy và nhất là để noi gương Đức Kitô Mục Tử Nhân Lành mà thực hiện “sự trao hiến triệt để chính mình” theo như đòi buộc của linh mục, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã viết: “Điều cần thiết là phải cấy trồng ý thức về thập giá, trung tâm của mầu nhiệm Phục Sinh. Nhờ sự đồng hoá với Đức Kitô chịu đóng đinh, với Đức Kitô tôi tớ, thế giới có thể tìm lại được giá trị của sự khắc nghiệt, sự khổ đau và thậm chí của sự đổ máu vì đạo, ngay giữa lòng nền văn hoá hiện đại là văn hoá tiêm nhiễm chủ nghĩa thế tục, tinh thần thèm khát và chủ trương hưởng lạc” (147).

49. Việc đào tạo thiêng liêng cũng dạy cho biết tìm kiếm Đức Kitô nơi những con người. Đời sống thiêng liêng chắc hẳn là đời sống nội tâm, đời sống thân mật với Thiên Chúa, đời sống cầu nguyện và chiêm ngắm. Nhưng cũng chính trong đời sống thiêng liêng mà việc gặp gỡ Thiên Chúa và việc gặp gỡ tình yêu của một người Cha đối với mọi người lại nhất thiết dẫn đến việc gặp gỡ tha nhân, dẫn đến sự trao hiến chính mình cho người khác, qua việc phục vụ khiêm tốn và vô vị lợi mà Đức Giêsu đã đề nghị cho mọi người dùng làm chương trình sống khi Ngài rửa chân cho các tông đồ: “Thầy đã nêu gương cho anh em, để đến lượt anh em, anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13,15).

Việc đào tạo nhắm đến sự trao hiến chính mình cách quảng đại và nhưng không gặp được trợ lực từ nơi đời sống cộng đoàn là đời sống bình thường được đòi hỏi cho việc chuẩn bị tiến tới chức linh mục. Việc đào tạo ấy chính là điều kiện cần thiết phải có đối với người nào được mời gọi để chính mình trở nên sự xuyên thấu, sự hiển dung cho Vị Mục Tử Nhân Lành, Đấng ban tặng mạng sống (x. Ga 10,11.15). Dưới khía cạnh ấy, nền đào tạo thiêng liêng phải phát huy chiều kích nội tại mục vụ hoặc bác ái của mình. Một lòng sùng kính đúng đắn, mãnh liệt và dịu dàng đối với trái tim Chúa Kitô có thể góp thêm phần nào nền đào tạo ấy như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã ghi nhận : “Đào tạo các linh mục tương lai trong nền tu đức hướng về Trái Tim Chúa, đó là dẫn đưa họ đến một cuộc sống tương ứng với tình yêu của Ngài đối với Chúa Cha trong Chúa Thánh thần, với tình yêu của Ngài đối với nhân loại đến độ ban mạng sống bằng cách tự hiến tế” (148).

Như thế, linh mục là con người của đức ái; linh mục được mời gọi dạy cho người khác biết noi gương Đức Kitô và biết sống giới răn mới là giới răn yêu thương huynh đệ (x. Ga 15,12). Tư cách này đòi hỏi linh mục phải không ngừng để cho Chúa Thánh Thần giáo dục về đức ái của Chúa Kitô. Từ đó, việc chuẩn bị cho cuộc sống linh mục nhất thiết bao hàm một nền đào tạo vững chắc về đức ái, nhất là về lòng yêu mến ưu tiên đối với “người nghèo”, vì đức tin khám phá ra nơi họ sự hiện diện của Đức Giêsu (x. Mt 25,40), và về lòng nhân ái yêu mến dành cho các tội nhân.

Chính trong viễn tượng đức ái, được hiểu là trao hiến chính mình vì tình yêu, mà sự giáo dục về đức vâng phục về bậc sống độc thân và về đức nghèo khó tìm được vị trí của mình trong nền đào tạo thiêng liêng dành cho người linh mục tương lai (149). Lời kêu mời của Công Đồng cũng đi theo cùng một chiều hướng : “Các chủng sinh cần phải hiểu rõ ràng rằng họ không được đào luyện để thống trị hay để thừa hưởng vinh dự, nhưng để trọn vẹn phó mình cho việc phục vụ Thiên Chúa và cho thừa tác vụ chủ chăn. Cần phải vun trồng nơi họ, với một sự chăm sóc đặc biệt, đức vâng phục của một linh mục, ước muốn sống nghèo khó, tinh thần từ bỏ, sao cho họ có thói quen mau mắn từ khước ngay cả những sự việc được phép mà không cấp thiết và có thói quen mô phỏng Đức Kitô chịu đóng đinh” (150).

50. Trong việc đào tạo thiêng liêng dành cho người được mời gọi sống bậc độc thân, cần phải đặc biệt lưu ý để luyện tập cho người linh mục tương lai hiểu biết, quý chuộng, yêu mến và sống bậc độc thân theo đúng bản chất và theo đúng những cùng đích của bậc sống ấy, nghĩa là với những động lực Tin Mừng, thiêng liêng và mục vụ. Trong công việc luyện tập này, điều được giả thiết và điều được hàm chứa chính là nhân đức khiết tịnh, là nhân đức điểm tô mọi tương quan nhân linh và dẫn đến việc “thực nghiệm và biểu lộ… một tình yêu chân thành, nhân bản, huynh đệ, cá vị và có khả năng hy sinh theo gương Đức Kitô đối với mọi người và đối với từng người” (151).

Bậc sống độc thân linh mục thông chuyển cho đức khiết tịnh một số đặc tính nhờ đó, “khước từ đời sống lứa đôi vì Nước Trời (x. Mt 19,12), các linh mục có thể gắn bó với Chúa bằng một tình yêu không chia sớt, phù hợp trọn vẹn với Giao Ước mới; các linh mục làm chứng về sự sống lại thuộc thế giới mai sau (x. Lc 20,36) và tìm được một trợ lực rất thích hợp cho việc thực hành liên lỉ đức ái trọn hảo để có thể nên mọi sự cho mọi người trong thừa tác vụ linh mục” (152). Theo chiều hướng ấy, không được coi bậc độc thân linh mục như một quy tắc đơn thuần mang tính pháp lý hoặc như một điều kiện hoàn toàn bên ngoài để được chấp nhận cho thụ phong. Ngược lại, bậc độc thân là một giá trị mật thiết gắn liền với việc Thụ Phong. Bậc độc thân làm cho linh mục nên giống Đức Giêsu Kitô, Mục Tử Nhân Lành và Phu Quân của Giáo Hội. Bậc độc thân tạo điều kiện cho linh mục chọn lựa một tình yêu cao cả hơn, một tình yêu không chia sớt dành cho Đức Kitô và Giáo Hội Ngài, với một tư thế trọn vẹn và vui tươi, ứng sẵn cho thừa tác vụ mục tử. Phải coi bậc độc thân như một ân sủng đặc biệt, như một hồng ân mà không phải bất cứ ai cũng hiểu được, nhưng chỉ những người đã được ban cho ơn ấy (X. Mt 19,11). Ân sủng này đòi hỏi một sự đáp trả có ý thức và tự do từ phía người lãnh nhận, với một sức mạnh phi thường. Đặc sủng ấy của Chúa Thánh Thần cũng chuyển ban ơn trung thành cho đến trọn đời, ơn chu toàn một cách quảng đại và vui tươi những bó buộc gắn liền. Trong việc đào tạo sống bậc độc thân linh mục, cần phải kiến tạo vững chắc ý thức về “hồng ân vô giá của Thiên Chúa” (153); bởi đó, cần phải luyện tập cầu nguyện và cảnh giác để cho hồng ân ấy được thoát khỏi mọi điều có thể gây nguy hại.

Nếu được sống một cách chính hiệu, bậc độc thân linh mục sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho việc chu toàn thừa tác vụ linh mục giữa đoàn dân Thiên Chúa. Ngoài ra, bằng cách làm chứng về giá trị Tin Mừng của sự trinh khiết, linh mục nhờ đó mà có thể giúp các đôi bạn Kitô hữu biết sống trọn vẹn “bí tích cao cả” là tình yêu của Đức Kitô Phu Quân đối với Hiền Thê Giáo Hội và, nhờ sự trung thành của mình trong bậc độc thân, linh mục sẽ trở nên nguồn khích lệ cho sự trung thành trong đời sống vợ chồng (154).

Việc tập luyện quan trọng và tế nhị nhằm sống bậc độc thân linh mục, đặc biệt trong những tình huống xã hội và văn hóa ngày nay, đã dẫn các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đến một loạt những chỉ thị mà giá trị trường tồn được xác quyết do sự khôn ngoan của Mẹ Giáo Hội. Tôi dùng quyền mà đề nghị một lần nữa những chỉ thị ấy như là những tiêu chuẩn phải tuân theo trong việc đào tạo sống đức khiết tịnh bậc độc thân: “Các giám mục, cũng như các viện trưởng và các vị linh mục hướng chủng viện, phải thiết lập những nguyên tắc, phải cung cấp những tiêu chuẩn và phải cống hiến những trợ lực để giúp phân định trong lãnh vực này. Sự ân cần của giám mục và đời sống huynh đệ giữa các linh mục mang một tầm quan trọng rất đặc biệt đối với việc đào tạo sống đức khiết tịnh trong bậc độc thân. Tại chủng viện, nghĩa là trong giai đoạn đào tạo, bậc sống độc thân phải được trình bày một cách minh bạch, không một chút hàm hồ nhưng theo hướng tích cực. Chủng sinh cần phải có một trình độ trưởng thành tâm lý và phái tính đầy đủ cũng như một đời sống chuyên chăm cầu nguyện và phải đặt mình dưới sự hướng dẫn của một cha thiêng liêng. Vị linh hướng phải giúp cho chủng sinh đạt tới một quyết định chín muồi và tự do xây dựng trên lòng quý chuộng đối với tình bạn của linh mục và đối với kỷ luật bản thân, cũng như trên thái độ chấp nhận sự cô đơn và trên một tình trạng bản thân hoàn chỉnh về thể lý và tâm lý. Để đạt được thành quả này, các chủng sinh phải học hiểu kỹ lưỡng giáo thuyết của Công Đồng Vaticanô II, thông điệp Sacerdotalis coelibatus và Huấn Thị về việc đào tạo sống bậc độc thân linh mục do Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo phổ biến năm 1974. Để cho chủng sinh có thể đảm nhận đời sống độc thân vì Nước Trời với một quyết định tự do, điều cần thiết là chủng sinh phải hiểu biết bản chất Kitô giáo và bản chất thực sự nhân bản của đời sống tính dục trong hôn nhân và trong bậc độc thân cũng như cùng đích của nó. Đồng thời cũng cần thiết phải dạy dỗ và giáo dục các tín hữu giáo dân về những nguyên do Tin mừng, thiêng liêng và mục vụ giúp minh giải bậc sống độc thân linh mục, sao cho họ biết trợ giúp các linh mục bằng tình bạn, sự cảm thông và sự hợp tác của họ” (155).

Đào tạo trí thức : tăng cường hiểu biết cho đức tin.

51. Mặc dầu bao gồm những đòi hỏi loại biệt, đào tạo trí thức mật thiết gắn liền với đào tạo nhân bản và thiêng liêng, đến độ tạo thành một chiều kích cần thiết cho nền đào tạo ấy: thật ra đào tạo trí thức là một đòi hỏi của lý trí nhờ đó con người “dự phần vào ánh sáng thông hiểu của Thiên Chúa” và tìm cách đạt tới sự khôn ngoan để rồi sự khôn ngoan, đến lượt nó, lại giúp hiểu biết Thiên Chúa và gắn bó với Ngài (156).

Việc đào tạo trí thức cho ứng sinh linh mục được biện minh một cách đặc loại nhờ vào chính bản chất của thừa tác vụ được điều phối, và ngày nay, công cuộc “phúc âm hoá mới” mà Chúa gọi mời Giáo Hội thực hiện khi bước vào thiên niên kỷ thứ ba này lại chính là một thách đố làm cho việc đào tạo trí thức trở nên khẩn thiết hơn. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng viết: “Nếu bất cứ Kitô hữu nào cũng phải sẵn sàng để bảo vệ đức tin và để nêu cao niềm hy vọng đang sống động trong chúng ta (x. 1P 3,15), thì hơn thế nữa, các ứng sinh linh mục và các linh mục lại càng phải quý trọng việc đào tạo thiêng liêng trong giáo dục và trong hoạt động mục vụl; thực vậy, để cứu rỗi các anh chị em mình, các ứng sinh và các linh mục phải đạt được một sự hiểu biết sâu xa hơn nữa về các mầu nhiệm của Thiên Chúa” (157). Hoàn cảnh hiện đại được đánh dấu sâu đậm bởi một thái độ tôn giáo dửng dưng: đồng thời bởi một sự ngờ vực không mấy minh bạch về khả năng thực thụ của lý trí trong việc đạt thấu chân lý khách quan và phổ quát, hơn nữa bởi những vấn nạn mới do các phát minh khoa học và kỹ thuật khơi dậy. Tất cả những điều ấy biện minh cho sự đòi hỏi mãnh liệt phải có một trình độ đào tạo trí thức ưu tú nhằm giúp cho các linh mục, trong một bối cảnh như thế, có thể loan báo Tin Mừng bất biến của Đức Kitô và làm cho Tin Mừng ấy trở nên đáng tin cậy trước những đòi hỏi chính đáng của lý trí con người. Ngoài ra, hiện tượng đa nguyên ngày nay đang lây lan một cách đáng kể, chẳng những trong xã hội mà còn cả trong cộng đoàn Giáo Hội. Bởi đó cần phải có một khả năng thích ứng để phân định và phê phán. Tình huống hiện nay càng làm hiện rõ sự cần thiết phải có một nền đào tạo trí thức nghiêm minh hơn bao giờ hết.

Tìm nguyên do “mục vụ” cho nền đào tạo trí thức như vừa rồi giúp chúng ta xác quyết điều đã được đề cập trước nữa về vấn đề thống nhất tiến trình giáo dục trong các chiều kích khác biệt. Việc học chiếm một phần lớn cuộc đời của ứng sinh linh mục, việc học bắt buộc ấy không phải là một yếu tố bên ngoài hoặc phụ thuộc đối với sự phát triển ơn gọi của ứng sinh về phương diện nhân bản, Kitô giáo và thiêng liêng. Trong thực tế, nhờ việc học, nhất là thần học người linh mục tương lai bám víu vào Lời Chúa, lớn lên trong đời sống thiêng liêng và có được tư thế sẵn sàng để chu toàn thừa tác vụ mục tử. Đó chính là mục đích vừa đơn thuần vừa đa tạp của bộ môn thần học như đã được Công Đồng nêu dẫn (158) và còn được Thượng Hội Đồng lặp lại trong Inanumenium lohons: “Để có thể gia tăng hiệu năng mục vụ của việc đào tạo trí thức, cần phải đem lồng việc đào tạo ấy vào trong một lộ trình thiêng liêng được đánh dấu bởi kinh nghiệm tự thân về Thiên Chúa, và bởi có phải vươt qua một bộ môn khoa học thuần túy khái niệm và phải đạt tới sự hiểu biết của con tim để trước hết có thể “xem thấy” và sau đó có thể chuyển đạt mầu nhiệm Thiên Chúa cho anh em” (159).

52. Việc học triết học giúp hiểu và cắt nghĩa sâu xa hơn về con người, về tự do của con người, về những tương quan giữa con người với thế giới và với Thiên Chúa, triết học là một thành phần thiết yếu cho nền đào tạo trí thức. Việc học triết học được coi là tối cấp thiết, trước hết vì lý do có mối liên hệ giữa những vấn đề triết học với các mầu nhiệm cứu độ được nghiên cứu trong thần học dưới ánh sáng đức tin (160), sau nữa vì lý do tình trạng văn hoá hiện nay quá hỗn độn, với sự kiện chủ nghĩa duy chủ thể được đề cao và được coi như thước đo và tiêu chuẩn của chân lý. Trong những điều kiện như thế, chỉ có một nền triết học lành mạnh mới có thể giúp cho các ứng sinh linh mục phát triển ý thức và tư duy về mối quan hệ thiết định giữa trí óc của con người với chân lý, một chân lý được mạc khải trọn vẹn cho chúng ta nơi Đức Giêsu Kitô. Không được làm giảm thiểu tầm quan trọng của triết học, bằng cách nại cớ phải bảo toàn niềm “xác tín về chân lý” mặc dầu chỉ có niềm xác tín này mới có thể làm nền tảng cho việc trao hiến trọn vẹn con người cho Đức Giêsu và cho Giáo Hội. Một vài vấn đề rất cụ thể, như căn tính của linh mục, sự dấn thân tông đồ và thừa sai của linh mục, lại mật thiết gắn liền với vấn đề không kém cụ thể là vấn đề chân lý: đây là điều không mấy khó hiểu. Nếu người ta không nắm chắc chân lý, làm sao người ta có thể đặt cuộc cả đời mình và làm sao cho người ta có thể đủ sức cất tiếng gọi mời cuộc đời của tha nhân một cách nghiêm chỉnh ?

Triết học đóng góp rất nhiều để giúp ứng sinh làm giàu việc đào tạo trí thức nhằm đạt tới sự “suy tôn chân lý”, nghĩa là một sự bái phục chân lý với tâm tình trìu mến dẫn đến chỗ nhìn nhận rằng chân lý tự nó không hề được tạo nên hoặc được khuôn đúc do con người nhưng được ban cho con người do bởi Chân lý tối thượng, bởi Thiên Chúa; rằng lý trí con người, mặc dầu bị hạn chế và đôi khi rất khó khăn, có thể đạt tới chân lý khách quan và phổ quát, là chân lý liên quan tới Thiên Chúa và tới ý nghĩa căn cơ của hiện hữu; sau hết, rằng đức tin tự nó không thể loại bỏ lý trí hoặc miễn trừ nỗ lực “suy tư” về những gì đức tin chất chứa, như lời dẫn giải của một đầu óc xuất chúng là thánh Augustimô : “Tôi đã khao khát dùng trí thông minh để dò tìm điều mà tôi đã đặt niềm tin tôi vào, tôi đã bàn cãi nhiều và tôi đã cực nhọc không ít” (161).

Để có được sự hiểu biết sâu rộng hơn về con người và về những hiện tượng xã hội, nhằm mục đích thi hành thừa tác vụ mục tử sao cho được “nhập thể” tối đa, các khoa học về con người, theo như người ta vẫn thường gọi, chắc chắn không thể không hữu ích; đó là xã hội học, tâm lý học, sư phạm, các khoa học kinh tế và chính trị, các khoa học truyền thông xã hội. Trong khuôn khổ nhất định của những khoa học thực nghiệm và mô tả, các khoa học về con người giúp cho linh mục tương lai nối dài hoạt động của Đức Kitô như Ngài đã hoá nên đương thời với những con người thuộc thời đại Ngài. Đức Phaolô VI đã nói : “Đức Kitô đã hoá nên đương thời với một số người và đã dùng ngôn ngữ của họ để tự diễn đạt chính mình. Trung thành với Ngài có nghĩa là làm sao để Ngài vẫn tiếp tục là người đương thời với chúng ta” (162).

53. Việc đào tạo trí tức cho người linh mục tương lai phải đặt lại nền tảng và được phát triển nhất là trong việc học thần học, sacra doctrina. Giá trị và tính chính danh của nền đào tạo thần học lệ thuộc vào sự tôn trọng chu đáo bản chất riêng của thần học, như các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã tóm tắt: “Thần học chân chính là thần học phát xuất từ đức tin và nhắm mục đích dẫn tới đức tin” (163). Đó là điều mà Giáo Hội, và đặc biệt Huấn Quyền của Giáo Hội, đã không ngừng đề nghị. Đây cũng chính là đường hướng mà các thần học gia cỡ lớn đã tuân theo và đã làm cho tư tưởng của Giáo Hội trong dòng lịch sử được nên phong phú. Thánh Tôma đã tỏ ra minh bạch hết mực khi quả quyết rằng đức tin chính là habitus (quán tính) của thần học, nghĩa là nguyên lý hoạt động thường hằng của thần học (164) và rằng “toàn bộ thần học đều được điều hợp để nuôi dưỡng đức tin” (165).

Như thế, thần học gia trước hết là một tín hữu, một con người đức tin. Nhưng đó là một tín hữu thắc mắc về chính đức tin của mình (fides quaerens intellectum), thắc mắc để có thể đạt đến một sự hiểu biết thấu đáo hơn về đức tin của mình. Cả hai khía cạnh, đức tin và tư duy có phương pháp, đều liên quan với nhau và thấm nhập lẫn nhau : chính sự phối hợp mật thiết với nhau và sự thấm nhập hỗ tương này nói lên bản chất đích thực của thần học, và bởi đó, của nội dung, của thể loại, của tinh thần mà theo đó giáo thuyết linh thánh sẽ được soạn thảo và học hỏi.

Đàng khác, là khởi điểm và là đích điểm của thần học, đức tin tạo nên một mối tương quan cá vị giữa người tín hữu với Đức Giêsu Kitô trong Giáo Hội. Chính vì thế, ngay trong thần học cũng chất chứa những đặc tính nội thuộc có tầm mức Kitô học và Giáo Hội mà ứng sinh cần phải thấm nhuần một cách có ý thức, chẳng những vì mật thiết liên can đến đời sống bản thân của mình, nhưng còn đến thừa tác vụ mục tử của mình nữa. Nếu đức tin là sự đón nhận Lời Thiên Chúa thì đức tin được thành toàn trong tiếng “xin vâng” triệt để của người tín hữu đáp lại Đức Giêsu Kitô, Lời viên mãn và vĩnh viễn của Thiên Chúa nói với thế giới (x. Dt 1,1-4). Bởi đó, lấy sự gắn bó với Đức Giêsu Kitô là Đấng Khôn Ngoan của Thiên Chúa làm trung tâm suy tư thần học cũng phải như vậy : việc suy tư này phải tự coi mình như là sự thông dự vào “tư tưởng” của Đức Kitô (x. 1Cr 2,16) dưới phương diện nhân loại của một khoa học (scientia fidei). Đồng thời, đức tin dẫn người tín hữu vào trong Giáo Hội và làm cho người tín hữu được thông chia sự sống của Giáo Hội xét như là cộng đoàn đức tin. Từ đó, thần học mang một chiều kích Giáo Hội bởi vì thần học chính là tư duy về đức tin của Giáo Hội, và tư duy bởi một thần học gia vốn là thành phần của Giáo Hội (166).

Những nhãn quan thuộc về Kitô luận và Giáo Hội này, vì có cùng bản chất với thần học, sẽ giúp phát triển nơi các ứng sinh linh mục, đồng thời với tính chuẩn mực khoa học, một lòng yêu mến lớn lao và mãnh liệt đối với Đức Giêsu Kitô và đối với Giáo Hội. Lòng yêu mến ấy vừa nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của các ứng sinh vừa qui hướng họ đến sự quảng đạo chu toàn thừa tác vụ của mình. Đó chính là điều Công đồng Vaticanô II mong muốn khi yêu cầu tổ chức lại các môn học của Giáo Hội bằng cách phối trí hoàn bị hơn những bộ môn triết học và thần học khác nhau. “để làm cho các bộ môn ấy hoà nhịp với nhau đóng góp vào việc ngày càng khai mở trí tuệ của các chủng sinh trước mầu nhiệm của Đức Kitô là Đấng, trong toàn vẹn lịch sử nhân loại, không ngừng sinh hoạt trong Giáo Hội và nhất là tác động nhờ vào thừa tác vụ linh mục” (167).

Việc đào tạo trí thức thần học và đời sống thiêng liêng, cách riêng đời sống cầu nguyện, liên kết nên một với nhau và tăng cường lẫn nhau mà không hề loại trừ tính nghiêm chỉnh của việc nghiên cứu cũng như không loại trừ hương vị thiêng liêng của việc cầu nguyện. Thánh Bônaventura dự phòng cho chúng ta: “Đừng có ai tưởng rằng mình đã làm dù khi đọc sách mà không có xức dầu, khi tư duy bay bổng mà không mộ mến, khi truy cứu mà không thán phục, khi nhận định mà không hân hoan, khi sinh hoạt mà không có lòng đạo đức, khi uyên bác mà không có đức ái, khi thông thái mà không có lòng khiêm nhường, khi học hỏi mà không có ân sủng của Thiên Chúa, khi hiểu biết chính mình mà không có sự khôn ngoan do Thiên Chúa phú ban” (168).

54. Đào tạo thần học là một công trình phức tạp và nhiêu khê. Việc đào tạo thần học phải giúp cho ứng sinh linh mục đạt được một quan niệm được coi là đầy đủ và thống nhất về những chân lý mà Thiên Chúa mạc khải nơi Đức Giêsu Kitô và về kinh nghiệm đức tin của Giáo Hội. Từ đó phát xuất một đòi buộc gồm hai yếu tố: hiểu biết “tất cả” mọi chân lý Kitô giáo mà không có những lựa chọn vô đoán, và hiểu biết các chân lý ấy một cách có phương pháp. Công việc này đòi hỏi sinh viên phải được giúp đỡ để hoàn thành một tổng luận, tổng luận này là thành quả thâu lượm từ những bộ môn thần học khác nhau mà việc đi vào chuyên môn chỉ thực sự có giá trị nếu không rời xa sự phối hợp sâu xa của chúng.

Trong việc tư duy về đức tin, thần học tiến theo hai hướng. Hướng thứ nhất là “việc học hỏi Lời Chúa” : lời được ghi chép trong Sách Thánh, được cử hành và được thể hiện bằng cuộc sống trong truyền thống sống động của Giáo Hội, được giải thích một cách chính hiệu do Huấn Quyền của Giáo Hội. Hướng này đòi phải học hỏi Thánh Kinh là “công việc phải được coi như linh hồn của toàn bộ thần học” (169), học hỏi các thánh Giáo Phụ thuộc về Giáo Hội, học hỏi phụng vụ, học hỏi lịch sử Giáo Hội và các tuyên ngôn của Huấn Quyền. Hướng thứ hai là hướng của con người đàm đạo với Thiên Chúa :con người được mời gọi “tin”, “sống”, “chuyển thông” đức tin và cái “ethos” Kitô giáo cho người khác. Bởi đó cần phải học tín lý, thần học luân lý, thần học tu đức, giáo luật và thần học mục vụ.

Việc quy chiếu về con người có đức tin đưa thần học tới chỗ đặc biệt chú tâm một đàng đến sự khẩn thiết cơ bản và thường hàng của mối quan hệ đức tin tôn giáo và đàng khác đến một số đòi hỏi có phần liên hệ nhiều hơn với tình huống xã hội và văn hoá của thời đại chúng ta. Trong chiều hướng thứ nhất phải kể đến thần học cơ bản có đối tượng là sự kiện mạc khải Kitô giáo và việc chuyển đạt mạc khải trong Giáo Hội. Trong chiều hướng thứ hai, đó là những bộ môn đã và đang được phát triển một cách mạnh mẽ hơn, như để đáp lại những vấn đề ngày nay đang được cảm nhận một cách mãnh liệt. Đó là trường hợp của môn lý thuyết xã hội học của Giáo Hội, môn này “được gia nhập vào trong lãnh vực… của thần học và cách riêng vào trong lãnh vực thần học luân lý” (170) và phải được xếp vào số những “nhân tố thiết yếu” cho công cuộc “phúc âm hoá mới” mà môn này được dùng làm khí cụ (171). Cũng phải kể đến các môn học về sứ vụ truyền giáo, về đại kết, về Do thái giáo, về Hồi giáo và về các tôn giáo khác ngoài Kitô giáo.

55. Nền đào tạo thần học hiện đại phải đặc biệt chú tâm tới một số vấn đề vốn thường khơi dậy những khó khăn, tạo những đôi co và làm cho tồn tại những xáo trộn trong đời sống Giáo Hội. Chúng ta cần phải suy nghĩ về mối liên hệ giữa các tuyên ngôn của Huấn Quyền với những tranh luận thần học mặc dầu mối liên hệ không phải luôn luôn đáng khích lệ, nghĩa là không luôn luôn phản ánh tinh thần cộng tác: “Mặc dầu nắm giữ những đặc sủng và những trách nhiệm khác nhau, Huấn Quyền sống động và thần học tựu trung nhắm cùng một mục đích: đó là bảo vệ dân Thiên Chúa trong chân lý có sức giải thoát và nhờ đó làm cho dân Thiên Chúa trở nên “ánh sáng muôn dân”. Công việc phục vụ cộng đoàn Giáo Hội như vừa xác định đặt nhà thần học và Huấn Quyền vào trong nững mối tương quan hỗ tương với nhau. Huấn Quyền giảng dạy một cách chính danh giáo thuyết của các Tông Đồ và vận dụng thành quả của thần học để biện bác những phê phán và những lệch lạc về đức tin, ngoài ra còn dùng quyền lãnh nhận từ Đức Giêsu Kitô để đề nghị những công việc như đào sâu, phát biểu và áp dụng theo lối mới giáo thuyết đã được một sự hiểu biết ngày càng sâu rộng hơn về Lời Chúa, như được chứa đựng trong Thánh Kinh và được chuyển đạt cách trung thành do Truyền Thống sống động của Giáo Hội, dưới sự dẫn dắt của Huấn Quyền; thần học tìm cách làm sáng tỏ giáo huấn của Mạc Khải trước những đòi hỏi thúc bách của lý trí, và sau hết mặc cho giáo huấn ấy một hình thái hữu cơ và có hệ thống” (172). Dầu vậy, nếu vì cả một chuỗi động cơ nào đó mà sự hợp tác ấy giảm sút thì nhất thiết không được để cho mình lầm đường lạc lối bởi những gì là mơ hồ và hỗn độn; cần phải làm công việc phân biệt kỹ lưỡng một bên là “giáo thuyết phổ cập của Giáo Hội và bên kia là những quan điểm của các nhà thần học cũng như những trào lưu mau qua (những “mốt”)” (173). Không hề có huấn quyền “song song” bởi vì Huấn Quyền duy nhất là của Thánh Phêrô và các Tông Đồ, của Đức Giáo Hoàng và các giám mục (174).

Còn một vấn đề khác thường gặp thấy nhất là ở những nơi mà việc đào tạo trí thức của các chủng sinh được giao phó cho các học viện hàn lâm, đó là vấn đề liên quan tới mối liên hệ giữa tính chuẩn mực khoa học của thần học với cùng đích mục vụ của thần học, và như vậy là liên quan tới bản chất mục vụ của thần học. Thực ra vấn đề ở đây bao gồm hai đặc tính của thần học và của việc giảng dạy thần học, hai đặc tính này chẳng những không đối nghịch nhau nhưng còn đồng qui, mặc dầu dưới những góc độ khác nhau, về việc tăng cường “hiểu biết cho đức tin” sao cho đầy đủ hơn. Thật vậy, tính chất mục vụ của thần học không có nghĩa là thần học nhẹ tính giáo thuyết hơn hay bị tước đoạt mất tính chất khoa học của nó; ngược lại điều đó có nghĩa là thần học trang bị cho các linh mục tương lai khả năng loan báo sứ điệp Tin Mừng với sự chú tâm tới những yếu tố văn hoá thuộc thời đại mình, và khả năng hiểu được hoạt động mục vụ theo một lối nhìn thần học chính hiệu. Bởi đó, một nền học vấn biết tôn trọng tính chất khoa học sít sao của từng bộ môn thần học sẽ góp phần làm cho nền đào tạo vị mục tử chăn dắt các linh hồn, là thầy dạy đức tin, được đầy đủ hơn và được sâu rộng hơn; đàng khác, noơ vị linh mục tương lai, một cảm quan bén nhạy tuơng ứng với phương hướng mục vụ sẽ thật sự làm cho việc học thần học nghiêm minh và có tính khoa học có được hiệu năng đào tạo.

Ngày nay, người ta cảm nhận một cách sâu xa nhu cầu phải phúc âm hoá các nền văn hoá và phải hội nhập sứ điệp đức tin vào trong các nền văn hoá, nhu cầu ấy còn khơi dậy một vấn đề khác. Đó là một vấn đề mục vụ có tầm mức rộng lớn cần phải được đề cập một cách rộng rãi và với nhiều chú tâm trong thời gian đào tạo các ứng sinh linh mục: “Trong hoàn cảnh hiện nay, nơi nhiều miền khác nhau trên thế giới, Kitô giáo được coi như là một điều gì xa lạ đối với các nền văn hoá cổ xưa hoặc tân thời; bởi đó, điều thật quan trọng là, trong toàn bộ nền đào tạo trí thức và nhân bản, cần phải đưa việc hội nhập văn hoá lên hàng nhu cầu và yếu tính” (175). Điều này đòi buộc tiên vàn phải có một nền thần học chính hiệu, múc nguồn từ những nguyên tắc công giáo liên quan tới việc hội nhập văn hoá. Những nguyên tắc này gắn liền với mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa và với nhân học Kitô giáo, các nguyên tắc ấy làm sáng tỏ ý nghĩa chính hiệu của việc hội nhập văn hoá. Việc hội nhập văn hoá này phải đương đầu với nhiều nền văn hoá rất dị biệt và đôi khi đối nghịch nhau như hiện có trong nhiều vùng khác nhau trên thế giới, để rồi trở thành một hành vi tuân phục đôi với lệnh truyền của Đức Kitô về việc rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc đến tận cùng bờ cõi trái đất. Vâng lời ở đây không có nghĩa là chủ trương pha trộn, cũng không đơn thuần có nghĩa là thích nghi việc loan báo Tin Mừng, nhưng nói lên sự kiện Tin Mừng thâm nhập một cách sống động vào trong các nền văn hoá, vượt qua những yếu tố văn hoá không dung hợp với đức tin và đời sống Kitô hữu, nâng cao giá trị của các nền văn hoá đến tận mầu nhiệm cứu độ phát xuất từ Đức Kitô (176). Vấn đề hội nhập văn hoá có thể mang lại một lợi ích đặc biệt khi chính các ứng sinh linh mục lại xuất hiện từ những nền văn hoá bản thổ: lúc ấy họ sẽ cần đến những hướng lối đào tạo thích ứng, hoặc để tránh mối nguy ít đòi hỏi hơn và mối nguy bằng lòng với một nền giáo dục thấp kém hơn về những giá trị nhân bản. Kitô giáo và linh mục, hoặc để đề cao những yếu tố tốt đẹp, và chính hiệu trong các nền văn hoá truyền thống của họ (177).

56. Tuân theo giáo huấn và những phương hướng của Công Đồng Vaticanô II cùng những tiêu chuẩn thực hành của Ratio fundamentalis institutionis sacerdotalis, một công trình cập nhật hoá (aggiornamento) rộng lớn về việc giảng dạy các bộ môn triết học và nhất là thần học đã được thực hiện trong các chủng viện. Nếu trong một số trường hợp, công cuộc aggiornamento ấy còn đòi hỏi những rà soát và những khai triển, phải nói rằng, trong toàn bộ, công cuộc ấy đã góp phần hoàn thiện hoá mỗi lúc một hơn nền giáo dục được ban hành trong khuôn khổ của nền đào tạo trí thức. Về vấn đề này, “Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, một lần nữa, đã thường xuyên và minh bạch khẳng định sự cần thiết và hơn nữa sự khẩn cấp phải áp dụng trong các chủng viện và trong những trường đào tạo chương trình cơ bản cho việc học hỏi, hoặc chương trình phổ quát hoặc chương trình dành cho một số quốc gia hay một số Hội Đồng Giám Mục” (178).

Cần thiết phải kiên quyết đánh tan xu hướng hạ thấp trình độ và hạ thấp tính nghiêm minh của công việc học hỏi, xu hướng này được biểu lộ trong một số khu vực thuộc Giáo Hội và một phần là do kết quả của tình trạng thiếu hụt và hổng chân trong nền đào tạo trí thức cơ bản mà các sinh viên đã lãnh nhận khi bắt đầu chu kỳ triết học và thần học. Tình huống hiện đại tự nó cũng đòi hỏi các bậc thầy phải ngày càng ngang tầm hơn với sự đa phức của thời đại và phải đủ sức biện luận một cách có uy thế, minh bạch và sâu sắc để đương đầu với những vấn nạn do con người ngày nay đặt ra, những vấn nạn mà chỉ có Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô mới mang lại được một lời giải đáp đầy đủ và dứt khoát.

Đào tạo mục vụ : hiệp thông với đức ái của Chúa Giêsu Kitô, Vị Mục Tử Nhân Lành.

57. Toàn bộ nền đào tạo dành cho các ứng sinh linh mục đều nhắm đến việc tạo điều kiện một cách đặc biệt hơn cho các ứng sinh hiệp thông vào đức ái của Chúa Kitô Mục Tử Nhân Lành. Bởi đó, trong mọi phương diện, nền đào tạo ấy phải mang một tính chất thiết yếu mục vụ. Sắc lệnh Công Đồng Optatam totius đã khẳng định rõ ràng điều này khi đề cập đến các đại chủng viện: “Nền giáo dục trọn vẹn dành cho các học sinh ở các đại chủng viện phải nhắm hướng làm cho họ trở nên thực sự là những mục tử chăn dắt các linh hồn, noi gương Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, là Thầy, Linh Mục và Mục Tử. Như thế, họ phải được luyện tập để thi hành thừa tác vụ Lời Chúa, sao cho ngày càng hiểu thấu đáo hơn lời mạc khải của Thiên Chúa, sao cho họ nắm giữ lời ấy bằng việc suy niệm và diễn đạt lời ấy bằng môi miệng và bằng đời sống của họ; họ phải được luyện tập để thi hành thừa tác vụ phượng tự và thánh hoá, làm sao để dấn mình vào việc cầu nguyện và vào những cử hành phụng vụ, họ thực thi công cuộc cứu độ bằng hiến lễ tạ ơn và các bí tích; họ phải được luyện tập để thi hành thừa tác vụ mục tử, sao cho họ biết làm cho Đức Kitô hiện diện với con người, Đức Kitô, Đấng “đã không đến để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người” (Mc 10,45; x. Ga 13,12-17), làm sao để, một khi trở nên tôi tớ của mọi người, họ nhờ đó mà lợi được nhiều hơn (x. 1 Cr 9,19)” (179).

Bản văn Công Đồng nhấn mạnh đến sự phối hợp sâu đậm phải có giữa các phương diện khác nhau của nền đạo nhân bản, thiêng liêng và trí thức, đồng thời nhấn mạnh đến cứu cánh loại biệt mục vụ của chúng. Trong chiều hướng ấy, cứu cánh mục vụ bảo đảm cho nền đào tạo nhân bản, thiêng liêng và trí thức có được những nội dung nhất định và những đặc tính chính xác, để thống nhất và đánh dấu toàn bộ nền đào tạo dành cho các linh mục tương lai.

Cũng như bất cứ nền đào tạo nào khác, nền đào tạo mục vụ phải được thể hiện bằng một tiến trình suy tư chín chắn và bằng những việc thực tập; nền đào tạo ấy nhận chìm những cội rễ sống động của mình vào trong một tinh thần vốn là trung tâm của mọi sự và vốn tạo nên mãnh lực thúc đẩy và phát triển.

Vì thế, đây là một bộ môn thần học thực thụ cần thiết phải học: thần học mục vụ hay thần học thực hành, dùng phương pháp khoa học để suy tư về Giáo Hội như Giáo Hội đang được kiến tạo mỗi ngày, với sức mạnh của Chúa Thánh Thần, theo dòng lịch sử, về Giáo Hội xét như là “bí tích phổ quát của ơn cứu độ” (180), như là dấu chỉ và khí cụ sống động để chuyển thông ơn cứu độ của Đức Giêsu Kitô qua Lời, các bí tích và việc phục vụ trong đức ái. Mục vụ không chỉ là một nghệ thuật, một tập hợp những lời khuyên bảo, những kinh nghiệm, những chỉ dẫn; mục vụ chiếm giữ phẩm vị thần học trọn vẹn của nó bởi vì mục vụ lãnh nhận từ nơi đức tin những nguyên tắc cho hoạt động mục vụ của Giáo Hội trong lịch sử, của một Giáo Hội ngày nào cũng “sản sinh” ra chính Giáo Hội theo kiểu diễn tả hân hoan của thánh Bêđa khả kính: “Nam et Ecclesia quotidie gignit Ecclesiam” (181). Trong số những nguyên tắc và tiêu chuẩn ấy, có một nguyên tắc mang tầm quan trọng đặc biệt, đó là nguyên tắc giúp dựa theo Tin Mừng để phân định tình huống văn hoá, xã hội và Giáo Hội trong đó hoạt động mục vụ đang được phát triển.

Việc học thần học mục vụ phải soi sáng cho hoạt động cụ thể mà các ứng sinh linh mục phải tự nguyện trải qua với những giai đoạn thực tập, gọi là thực tập mục vụ, bằng cách thức tiệm tiến và luôn luôn ăn khớp với những đòi buộc khác của nền đào tạo. Những “kinh nghiệm” mục vụ này có khi phải kết thành một “tập viện mục vụ” thật sự, phải kéo dài trong một quãng thời gian và phải được đánh giá một cách có phương pháp.

Thế nhưng việc học hỏi và sinh hoạt mục vụ lại quy về một nguồn mạch bên trong mà nền đào tạo sẽ phải quan tâm bảo toàn và đề cao : đó là sự hiệp thông ngày càng sâu đậm hơn vào đức ái mục vụ của Chúa Giêsu. Cũng như mục vụ đã tạo thành nguồn cội và sức mạnh cho hoạt động cứu chuộc của Đức Giêsu, cũng vậy, mục vụ còn phải nhờ vào sự tuôn đổ Thần Khí trong bí tích Truyền Chức Thánh, tạo thành nguồn cội và sức mạnh cho thừa tác vụ linh mục. Nền đào tạo được đề cập ở đây là một nền đào tạo chẳng những nhắm đến việc bảo đảm cho có một uy thế mục vụ mang tính khoa học và một sự khôn khéo về mặt thực hành nhưng còn là và nhất là bảo đảm cho sự tăng triển của một phương cách hiện hữu trong sự hiệp thông với chính những tâm tình và những thái độ cư xử của Đức Kitô Mục Tử Nhân Lành: “Anh em hãy đối xử với nhau bằng những tâm tình vốn ở trong Đức Kitô Giêsu” (Pl 2,5).

58. Hiểu như thế, việc đào tạo mục vụ dĩ nhiên không thể bị giản lược vào một công việc thực tập đơn thuần với mục đích làm quen với những kỹ thuật mục vụ. Phương án giáo dục của chủng viện phải đề nghị dạy cho các sinh viên đạt được một cảm thức bén nhạy về mục vụ, đảm nhận một cách ý thức và trưởng thành những trách nhiệm thuộc về mình, tự tập luyện con người nội tâm để đánh giá các tình huống, thiết lập những lựa chọn ưu tiên và tìm phương thế để thực hiện những lựa chọn ấy, tất cả mọi sự việc này dưới ánh sáng đức tin và thể theo những đòi buộc thần học của chính công việc mục vụ.

Nhờ kinh nghiệm ấy là kinh nghiệm khởi đầu và tiệm tiến của thừa tác vụ, các linh mục tương lai sẽ có thể được đưa vào trong truyền thống mục vụ sống động của Giáo Hội địa phương mình; các linh mục tương lai sẽ học tập để mở rộng chân trời trí tuệ và con tim của mình cho phù hợp với chiều kích truyền giáo của đời sống Giáo Hội; họ phải thực tập một số hình thức cộng tác với nhau và với các linh mục mà họ sẽ được sai đến. Các vị này lãnh nhận một trách nhiệm giáo dục mục vụ không kém quan trọng, trong tương quan với việc giảng dạy được cung ứng nơi chủng viện.

Trong việc chọn lựa những nơi và những công việc phục vụ để có được kinh nghiệm mục vụ, cần phải dành một sự chú tâm đặc biệt cho giáo xứ (182) là tế bào sống động của các loại kinh nghiệm mục vụ khác nhau, nơi mà các ứng sinh thực tập sẽ phải đương đầu với nhiều vấn đề đặc biệt thuộc về thừa tác vụ tương lai của mình. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã cung cấp một loạt những thí dụ cụ thể, chẳng hạn đi thăm bệnh nhân, chăm sóc những người di cư, những người bị đày ải và những người du mục, nhiệt thành trong đức ái biểu hiện trong những hoạt động xã hội đa tạp. Các ngài viết: “Điều cần thiết là linh mục phải làm cho đức ái của chính Chúa Kitô, Đấng “đi tới đâu cũng đều thi ân giáng phúc” (Cv 10,38); linh mục cũng cần phải trở nên dấu chỉ hữu hình cho lòng ưu ái của Giáo Hội là Mẹ và Thầy. Và, bởi vì con người ngày nay phải lao đao với muôn vàn thử thách, nhất là bị đè bẹp bởi một sự nghèo đói bất nhân, bởi bạo lực mù quáng và bởi quyền lực bất chính, điều cần thiết là người của Thiên Chúa, như đã được chuẩn bị đúng mức cho mọi công trình tốt đẹp (x. 2 Tm 3,17), phải đòi lại những quyền lợi và phẩm giá của con người. Dầu vậy, người của Thiên Chúa phải giữ mình để không chạy theo những chủ thuyết sai lạc và, bởi vì muốn vun đắp cho sự tiến bộ, không quên rằng thế giới chỉ có thể được cứu chuộc nhờ vào thập giá của Đức Kitô” (183).

Toàn bộ những hoạt động ấy và các hoạt động khác tương tự giáo dục cho linh mục tương lai biết sống sứ vụ “quyền bính” của mình trong cộng đoàn như là một công việc “phục vụ”, bằng cách giữ mình khỏi mọi thái độ trịch thượng hoặc khỏi việc thi hành một quyền bính nào đó mà không luôn luôn hoặc không chỉ có thể biện minh bằng đức ái mục vụ.

Để có được một nền đào tạo thích ứng, điều cần thiết là các loại kinh nghiệm khác nhau của ứng sinh linh mục phải mặc lấy tình chất “thừa tác vụ”, luôn mật thiết gắn liền với mọi đòi buộc khác thuộc về tiến trình đào luyện linh mục và (sao cho không gây thiệt hại đến việc học) trong việc chủ tọa cộng đoàn. Những việc phục vụ này có thể trở thành những hình thức cụ thể để thực thi các thừa tác vụ Đọc Sách, Giúp Lễ và Phó Tế.

59. Bởi vì hoạt động mục vụ tự bản chất nhắm đến việc tạo sức sống cho một Giáo Hội vốn thiết yếu là “mầu nhiệm”, “hiệp thông” và “sứ vụ”, nền đào tạo mục vụ sẽ phải chú trọng đến các chiều kích ấy trong việc thi hành thừa tác vụ.

Điều cơ bản là phải ý thức rằng Giáo Hội là “mầu nhiệm”, nghĩa là công trình của Thiên Chúa, hoa quả của Thần Khí Đức Kitô, dấu chỉ hữu hiệu của ân sủng, sự hiện diện của Ba Ngôi Thiên Chúa trong cộng đoàn Kitô giáo. Thay vì làm giảm thiểu ý nghĩa của trách nhiệm mục tử, ý thức này sẽ giúp cho vị mục tử xác tín rằng sự tăng trưởng của Giáo Hội là thành quả nhưng không, do Thần Khí, và việc phục vụ Giáo Hội — nhờ ân sủng Thiên Chúa, được giao phó cho trách nhiệm và tự do của con người – là công việc của người đầy tớ vô dụng trong Tin Mừng (x. Lc 17,10).

Hơn nữa, nhờ ý thức Giáo Hội là “hiệp thông”, ứng sinh linh mục sẽ được chuẩn bị để thực hành một công việc mục vụ cộng đồng trong sự hợp tác thân tình với các thành phần khác trong Giáo Hội: linh mục và giám mục, linh mục triều và tu sĩ, linh mục và giáo dân. Nhưng, một sự hợp tác như thế trước hết giả thiết phải có sự hiểu biết và quý chuộng những ân huệ và đặc sủng khác nhau, nhưng ơn gọi và trách nhiệm dị biệt mà Chúa Thánh Thần ban tặng và giao phó cho các thành phần thuộc về Thân Thể của Đức Kitô. Sự hợp tác ấy cũng đòi hỏi một cảm thức bén nhạy và chính xác về căn tính của mình và về căn tính của những người khác trong Giáo Hội. Ngoài ra, sự hợp tác ấy còn đòi buộc phải có sự tin cậy lẫn nhau, lòng kiên nhẫn, thái độ hiền dịu, khả năng hiểu, cảm thông và lắng nghe; sau hết và trên tất cả, sự hợp tác ấy bén rễ trong một lòng yêu mến đối với Giáo Hội lớn mạnh hơn lòng yêu mến đối với chính mình và đối với những nhóm mà mình trực thuộc. Điều đặc biệt quan trọng là phải luyện tập cho các linh mục tương lai biết hợp tác với giáo dân, để, theo như lời của Công Đồng, “có thể sẵn sàng lắng nghe ý kiến của giáo dân, đồng thời, trong tình huynh đệ, chú trọng đến những khát vọng của giáo dân, giúp đỡ cũng như nhận sự giúp đỡ của giáo dân về kinh nghiệm và về uy thế trong nhiều lãnh vực khác nhau của sinh hoạt nhân loại, hầu có thể cùng với họ đọc ra những dấu chỉ của thời đại” (184). Cũng vậy, Thượng Hội Đồng vừa qua đã nhấn mạnh đến mối quan tâm dành cho giáo dân về phương diện mục vụ: “Ứng sinh linh mục cần phải trở nên có khả năng lôi cuốn và hướng dẫn các tín hữu giáo dân, nhất là những người trẻ, vào trong những ơn gọi khác nhau (hôn nhân, những dịch vụ xã hội, việc tông đồ, các thừa tác vụ, những trách nhiệm thuộc bình diện mục vụ, đời sống tận hiến, những trọng trác. trong sinh hoạt chính trị và xã hội, việc nghiên cứu khoa học, việc giảng dạy). Trên tất cả, cần phải soi dẫn và nâng đỡ giáo dân trong ơn gọi của họ để họ dấn thân vào thế giới và biến đổi thế giới theo ánh sáng của Tin Mừng, đồng thời nhận thức giá trị của sự dấn thân ấy và quý trọng sự dấn thân ấy” (185).

Sau cùng, nhờ ý thức Giáo Hội là hiệp thông “trong sứ vụ”, ứng sinh linh mục sẽ được giúp đỡ để yêu mến và sống chiều kích thừa sai thiết yếu của Giáo Hội cùng những hoạt động mục vụ đa tạp: họ sẽ được giúp đỡ để trở nên rộng mở và ứng trực đối với mọi đường lối có thể thực hiện ngày nay nhằm loan báo Tin Mừng, kể cả sự đóng góp quý giá mà các phương tiện truyền thông xã hội có thể và phải mang lại trong lãnh vực này (186); họ sẽ được giúp đỡ để chuẩn bị bước vào một thừa tác vụ vốn, một cách cụ thể, có thể đòi buộc họ phải ở trong tình trạng ứng trực, đáp lại Chúa Thánh Thần và đáp lại giám mục, để rồi được sai đi rao giảng Tin Mừng bên kia những biên giới của quốc gia mình (187).

còn tiếp

chú thích: Lưu ý: những số chú thích nhỏ hơn đã được ghi vào số báo kỳ trước

122) Sứ điệp của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng gởi Dân Chúa (28/10/1990), IV : 1.c.

123) Propositio 21.

124) X. Công Đồng Vat. II, Sắc lệnh về việc đào tạo linh mục, Optatam totius, ĐT, số 11; Sắc lệnh về thừa tác vụ và đời sống linh mục, Presbyterorum ordinis, LM, số 3: Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo, Ratio fundamentalis institutionis sacerdotalis (6/1/1970), số 51 : 1.c., tr. 356-357.

125) X. Propositio 21.

126) Thông điệp Redemptor hominis (4/3/1979), số 10 : AAS 71 (1979), tr. 274.

127) Tông Huấn Familiaris Consortio (22/11/1981), số 37: 1.c. tr. 128.

128) Như trên.

129) Propositio 21.

130) X. Công Đồng Vat. II, Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay, Gaudium et Spes, MV, số 24.

131) X. Propositio 21.

132) Propositio 22.

133) X. Thánh Augustinô, Conf. I, 1 : CSEL 33,1.

134) Thượng Hội Đồng Giám Mục, Phiên họp khoáng đại thường kỳ lần VIII, Việc đào tạo linh mục trong hoàn cảnh hiện nay – “Instrumentum laboris”, số 30.

135) Propositio 22.

136) Propositio 23.

137) Sắc lệnh về việc đào tạo linh mục, Optatam totius, ĐT, số 8.

138) Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải, Dei Verbum, MK, số 24.

139) Như trên, số 2.

140) Như trên, số 25.

141) Kinh Truyền Tin (4/3/1990), số 2-3 : Osservatore Romano, 5-6/3/1990.

142) Công Đồng Vat. II, Hiến Chế về Phụng Vụ, Sacro santum Concilium, PV, số 14.

143) Thánh Augustinô, In Iohannis Evangelium Tractatus 26,13 : 1.c. 266.

144) Phụng Vụ Các Giờ Kinh, Lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô, Kinh Chiều II, antiphona (Tiền xướng) trước kinh Magnificat.

145) X. Công Đồng Vat. II, Sắc lệnh về thừa tác vụ và đời sống linh mục, Presbyterorum ordinis, LM, số 13.

146) Kinh Truyền Tin (1/7/1990), số 3: Osservatore Romano, 2-3/7/1990.

147) Propositio 23.

148) Như trên.

149) X. như trên.

150) Sắc lệnh về việc đào tạo linh mục, Optatam totius, ĐT, số 9.

151) Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo, Ratio fundamentalis institutionis sacerdotalis, ĐT, số 10.

152) Công Đồng Vat. II, Sắc lệnh về việc đào tạo linh mục, Optatam totius, ĐT, số 10.

153) Như trên.

154) X. Thư gởi tất cả các linh mục trong Giáo Hội nhân ngày thứ Năm Tuần Thánh 1979 (8/4/1979) : Insegnamenti II/1 (1979), tr. 841-862.

155) Propositio 24.

156) Công Đồng Vat. II, Hiến Chế Mục Vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay, Gaudium et spes, MV, số 15.

157) Propositio 26.

158) X. Sắc lệnh về việc đào tạo linh mục, Optatam totius, ĐT, số 16.

159) Việc đào tạo linh mục trong hoàn cảnh hiện nay – “Instrumentum laboris”, số 39.

160) X. Thánh Bộ Giáo Dục Công Giáo, Thư gởi các giám mục về việc giảng dạy triết học trong các chủng viện (20/1/1972).

161) “Desideravi inteliectu videre quod credidi et multum disputavi et laboravi”, De Trinitate XV,28 : CCL 50/A, 534.

162) Diễn văn cho các tham dự viên Tuần Lễ Thánh Kinh thứ XXI tại Ý (25/9/1970) : AAS 62 (1970), tr. 618.

163) Propositio 26.

164) “Fides, quae est quasi habitus theologiae” In Lib. Boetii de Trinitate V, 4, đến 8.

165) Thánh Tôma, In I Sentent. q. I, a : 1-5.

166) X. Thánh Bộ Giáo lý Đức Tin, Huấn thị về ơn gọi của thần học gia trong Giáo hội, Donum veritatis (24/5/1990), số 11; 40 : AAS 82 (1990), tr. 1554-1555; 1568-1569.

167) Sắc lệnh về việc đào tạo linh mục, Optatam totius, ĐT, số 14.

168) Itinerarium mentis in Deum, Prol. số 4 : Opera omnia, Tomus V, Ad Claras Aquas (1981), tr. 296.

169) Công Đồng Vat. II, Sắc lệnh về việc đào tạo linh mục, Optatam totius, ĐT, số 16.

170) Thông Điệp về các vấn đề xã hội, Sollicitudo rei socialis (30/12/1987), số 41 : AAS 80 (1988), tr. 571.

171) X. Thông Điệp Bách Chu Niên, Centesimus annus (1/5/1991), số 54 : AAS 83 (1991), tr. 859-860.

172) Thánh Bộ Giáo lý Đức Tin, Huấn Thị về ơn gọi của thần học gia trong Giáo Hội, Donum veritatis (24/5/1990), số 21 : 1.c., tr.1559.

173) Propositio 26.

174) Chẳng hạn Thánh Tôma Aquinô viết: “Phải bám vào quyền bính của Giáo Hội hơn là vào quyền bính của Augustinô, của Hiêrônimô hay của một tiến sĩ nào khác” (S.T.,II-II,10,12); và hơn nữa, không ai có thể mượn quyền của Hiêrônimô, của Augustinô hay của một vị tiến sĩ nào khác để bào chữa cho mình chống lại quyền bính của Phêrô (x.S.T.,II-II, 11,2-3).

175) Propositio 32.

176) X. Thông Điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Thế Redemptoris missio (7/12/1990), số 67: 1.c., tr 315-316.

177) X. Propositio 32.

178) Propositio 27.

179) Sắc lệnh về việc đào tạo linh mục, Optatam totiuis, ĐT, số 4.

180) Công Đồng Vat.II, Hiến chế Tín Lý về Giáo Hội, Lumen gentium, GH, số 48.

181) Explanatio Apocalypsis, Lib.II, 12 : PL 93, tr. 166.

182) X. Propositio 28.

183) Như trên.

184) Sắc lệnh về thừa tác vụ và đời sống linh mục, Presbyterorum ordinis, LM, số 9; x. Gioan Phaolô II, Tông Huấn hậu Thượng Hội Đồng Christifideles laici (30/12/1988), số 61 : 1.c tr 512-514.

185) Propositio 28.

186) X. Như trên.

187) X. Thông Điệp Sứ Vụ Đấng Cứu Thế, Redemptoris missio (7/12/1990), số 67-68 : 1.c., tr. 315-316. 

 
VỀ MỤC LỤC
THƯ CHỊ THÁNH TÊRÊXA VIẾT CHO NGƯỜI ANH EM LINH MỤC (5)

 

Năm thánh linh mục đang dần dần kết thúc để đẩy các linh mục của Chúa vững bước hành trình trên nẻo đường hy vọng. Xin trân trọng giới thiệu với quý độc giả, cách riêng là anh em linh mục, 6 lá thư của Chị thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu viết cho Cha Roulland và 11 lá thư cho một thầy đại chủng sinh, người mà sau khi Chị Thánh qua đời mới được thụ phong linh mục: Cha Bellière.

Dưới đây xin giới thiệu hai thư cuối trong những thư Chị Thánh gởi cha Rolland, do ông Nôbertô Thái Văn Hiến dịch.

Lm Trăng Thập Tự

 

Thư 226: Gửi Cha Roulland

G.M.G.T.

Cát Minh Lisieux

09 tháng 5 năm 1897

Người Anh Em kính mến,

Con đã vui mừng hay nói đúng hơn là xúc động khi nhận được những di vật mà Cha đã có lòng gửi cho con[1], thư của Cha gần như một bức thư chia tay để về Thiên Đàng, có vẻ như trong khi đọc nó, con nghe thấy chuyện kể về những thử thách mà các tiền nhân tông đồ của Cha đã chịu.

Trên thế gian này mọi sự đang thay đổi, duy chỉ có một điều không thay đổi bao giờ, đó là cách cư xử của Đức Vua trên Trời đối với các bạn hữu của Ngài; từ khi Ngài dương cao ngọn cờ Thánh giá, thì chính là dưới bóng Ngài mà mọi người phải chiến đấu và mang về chiến thắng: “Toàn bộ cuộc đời Truyền Giáo đều được phong nhiêu trong Thập Giá” như Th. Vénard đã nói, và còn nữa: “Hạnh phúc đích thực là chịu đau khổ. Và để được sống thì chúng ta cần phải chết đi.”

Người Anh Em quí mến, những khởi đầu công việc tông đồ của Cha đều ghi dấu ấn của thập giá, Chúa đối xử với Cha cách đặc biệt; chính là qua những bách hại và sự đau khổ, chứ không phải những rao giảng rỡ ràng, mà Ngài muốn củng cố vững chắc vương quốc của Ngài trong các tâm hồn – Cha nói: “Tôi là một đứa trẻ không biết nói[2].” Cha Mazel, người đã cùng được thụ phong trong một ngày với Cha, cũng có biết nói đâu, vậy mà ngài đã nhận được nhành lá vinh quang[3] đấy thôi… Ôi! tư tưởng của Thiên Chúa vượt quá những gì chúng ta suy nghĩ biết bao!... Biết được cái chết của nhà truyền giáo trẻ tuổi ấy khi nghe nhắc đến tên lần đầu tiên, con cảm thấy mình được thúc đẩy đến khấn xin với ngài, hình như con thấy ngài trên Trời ở giữa ca đoàn vinh hiển các Thánh Tử đạo. Con biết, qua con mắt người thế, cuộc tử đạo của ngài không mang danh nghĩa ấy, nhưng dưới mắt Thiên Chúa nhân lành hy lễ ấy không vinh quang nhưng không kém sung mãn hơn các Kitô hữu đầu tiên tuyên xưng đức tin trước các pháp đình. Sự bách hại đã thay hình đổi dạng, còn các tông đồ của Đức Kitô thì không thay đổi tâm huyết của mình, cũng như Thầy chí thánh của họ sẽ không thay đổi các phần thưởng của Ngài ít nữa là không phải để gia tăng chúng lên nhằm so đọ với vinh quang mà họ bị từ chối ở dưới thế này.

Con không hiểu, thưa người Anh Em kính mến, tại sao Cha lại có vẻ nghi ngờ về việc được vào Thiên Đàng ngay nếu những kẻ bất trung lấy đi sự sống của Cha [1vo]. Con biết là phải trở nên hết sức tinh tuyền khi ra trước mặt Chúa Cực Thánh, nhưng con cũng biết là Chúa vô cùng Công Minh và chính sự công minh làm khiếp sợ biết bao linh hồn ấy đang là đối tượng của niềm hân hoan và tin tưởng nơi con. Trở nên công minh, không phải chỉ là hành xử khiêm khắc để sửa phạt những người tội lỗi, mà còn là nhìn nhận những ý ngay lành và tưởng thưởng cho lòng đạo hạnh nữa. Con hy vọng vào sự công minh của Chúa Nhân Lành cũng như lòng thương xót của Ngài. Bởi vì công minh cho nên “Ngài từ bi nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương (Tv. 102,8). Bởi Ngài quá biết ta được nhồi nắn bằng gì, hẳn Ngài nhớ: ta chỉ là cát bụi. (Tv. 102,14). Như người cha chạnh lòng thương con cái, Chúa cũng chạnh lòng thương kẻ kính tôn[4]” (Tv. 102,13)… Ôi, người Anh em quí mến ơi, nghe những lời tuyệt diệu và đầy ủi an ấy của vị Vua-Ngôn Sứ, thì sao lại còn nghi ngờ Chúa Nhân Lành không thể rộng mở các cánh cửa của vương quốc Ngài cho các con cái đã yêu mến Ngài mà hy sinh mọi sự vì Ngài, không chỉ lìa xa gia đình và tổ quốc để làm cho Ngài được nhận biết và yêu mến, mà còn ước ao hiến mạng sống của họ vì Đấng mà họ yêu mến… Giêsu đã biết quá cặn kẽ khi nói không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu ấy! (Ga15, 13).

Vậy thì sao Ngài lại có thể để bị cho mình bị thua về lòng quảng đại được? Sao người lại thanh luyện trong ngọn lửa luyện ngục những linh hồn đã chịu tiêu hao vì những ngọn lửa yêu mến Thiên Chúa? Quả đúng là không một đời sống con người nào được miễn trừ khỏi những lỗi lầm, chỉ một mình Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm mới tuyệt đối tinh tuyền khi ra trước mặt Đấng Chí Tôn. Thật vui sướng khi nghĩ đến việc Đức Trinh Nữ ấy là mẹ chúng ta! Vì Ngài yêu thương chúng ta và biết sự yếu đuối của chúng ta, vậy chúng ta còn sợ gì?

Đó là những câu dùng để diễn đạt suy nghĩ của con hoặc nói đúng hơn là không thể diễn tả được hết, con chỉ muốn nói rằng với con dường như tất cả các nhà truyền giáo đều là những thánh tử đạo bởi lòng ước ao và ý chí, và do đó không một ai trong số họ phải đi vào luyện hình cả. Giả như vào lúc ra trước mặt Chúa mà trong linh hồn họ còn vướng mắc dấu vết nào đó của sự yếu đuối thuộc về con người, thì Đức Trinh Nữ sẽ xin cho họ được hồng ân thực hiện một hành vi yêu mến và sau đó ban cho họ nhành lá vinh quang và triều thiên mà họ vô cùng xứng đáng.

Người Anh Em quí mến mến ơi, đó là những gì mà con suy nghĩ về sự công minh của Chúa nhân lành, con đường của con là tin yêu trọn vẹn, con không hiểu nổi những linh hồn cứ mãi lo sợ trước một Tình Bạn thiết tha đến thế. Thỉnh thoảng trong lúc [2ro] đọc một vài khảo luận về thiêng liêng trong đó sự hoàn thiện được chứng minh qua hàng ngàn điều ngăn trở, bị bao vây bởi hàng loạt ảo tưởng, tâm trí nhỏ hẹp đáng thương của con rất nhanh chóng bị mệt mỏi, con đóng cuốn sách thông thái đang khiến cho đầu óc con muốn vỡ tung ấy lại và gạt hết mọi sự khỏi lòng mình rồi cầm lấy Thánh Kinh. Bấy giờ mọi sự với con có vẻ ngời sáng lên, chỉ một lời thôi cũng đủ làm cho tâm hồn con khám phá ra những chân trời vô tận, sự hoàn thiện đối với con dường như dễ dàng hơn, con thấy chỉ cần nhìn nhận sự hư vô của mình và phó thác vào tay Chúa nhân Lành như một trẻ thơ là đủ. Để lại cho các linh hồn, các trí óc vĩ đại những cuốn sách thông thái mà con không thể hiểu được, nói chi đến thực hành, con vui sướng vì trở nên nhỏ bé vì chỉ có những đứa bé và những ai giống như chúng mới được chấp nhận cho vào bàn tiệc nước Trời (Mc 10,14). Con hết sức hạnh phúc khi biết có nhiều chỗ ở trong vương quốc của Chúa (Ga 14,2), bởi nếu chỉ có chỗ ở mà theo như mô tả và con đường đi đến đó có vẻ như khó hiểu đối với con ấy, thì hẳn là con sẽ không thể đi vào được. Tuy nhiên con vẫn không muốn ở quá xa với nơi ở của Cha; nhìn vào những công trạng của Cha, con hy vọng Chúa nhân lành sẽ ban cho con hồng ân được chia sẻ với vinh quang của Cha, cũng như dưới thế gian này, người chị em của một người chinh phục, tuy không có những tài năng bẩm sinh, cho dù là đáng thương, cũng vẫn được chia sẻ những vinh dự của người anh em của mình.

Hoạt động đầu tiên trong sứ vụ của Cha ở Trung Quốc có vẻ rất hấp dẫn đối với con. Linh hồn nhỏ bé mà Cha đã làm phép xác cho chắc chắn là sẽ mỉm cười với Cha và hứa bảo trợ Cha cũng như các bạn của Cha. Con hết lòng biết ơn Cha vì đã tính cả con vào số những bạn hữu ấy! Con cũng xúc động và biết ơn sâu sắc vì phần tưởng nhớ trong Thánh lễ dành cho bố mẹ yêu dấu của con. Con hy vọng giờ đây các ngài đang thuộc về nước Thiên Đàng nơi mà các ngài đã dành trọn những hoạt động và ước ao của mình; điều đó không ngăn con cầu nguyện cho các ngài, bởi với con hình như các linh hồn diễm phúc nhận một vinh quang lớn lao do những lời cầu nguyện được thực hiện theo ý định của các ngài và các ngài có thể sẵn sàng nhường lại cho các linh hồn đau khổ khác.

Nếu, theo con nghĩ, bố và mẹ con đang ở trên Thiên Đàng, thì các ngài phải nhìn đến và chúc lành cho người anh em mà Giêsu đã ban cho con. Các ngài đã ao ước có được một người con trai truyền giáo biết bao!... Người ta đã kể cho con nghe là trước khi con chào đời, bố mẹ con đã hy vọng thế nào rồi cuối cùng lời khấn của các ngài sẽ được thực hiện. Nếu các ngài có thể đi xuyên qua tấm màn che khuất tương lai, hẳn là đã nhìn thấy rằng ước ao của các ngài đã được thực hiện bởi con hôm nay; bởi vì một nhà truyền giáo đã trở thành người anh em của con, người ấy cũng là con trai của các ngài, và trong lời cầu nguyện của mình các ngài không thể tách riêng người anh em ra khỏi người chị em bất xứng được.

[2vo] Người Anh Em quí mến ơi, Cha cầu nguyện cho bố mẹ con đang ở trên Thiên Đàng, còn con lại thường hay cầu nguyện cho bố mẹ của Cha vẫn còn đang ở dưới thế này, đó là một bắt buộc ngọt ngào đối với con và con hứa luôn trung thành chu toàn nó, ngay cả khi con rời bỏ chốn lưu đày và còn hơn thế nữa bởi vì lúc đó con sẽ biết rõ những ơn cần thiết cho các ngài; và rồi, khi cuộc chạy đua của các ngài ở dưới thế này kết thúc, con sẽ dùng tên Cha để đến tìm các ngài và đưa các ngài vào Thiên Đàng. – Cuộc sống gia đình mà chúng ta sẽ chung hưởng trong nơi đời đời thật dịu ngọt biết bao!

 Trong lúc chờ đợi cuộc sống diễm phúc đời đời mà ít lâu nữa sẽ được mở ra cho chúng ta, vì cuộc đời chỉ là một ngày ngắn ngủi, chúng ta hãy cùng nhau làm việc vì phần rỗi các linh hồn; con thì làm được quá ít việc, hay đúng hơn là chẳng làm được gì cả nếu chỉ có một mình, điều an ủi con chính là nghĩ đến có Cha bên cạnh con có thể dùng được vào việc gì đó; quả thật con số dê-rô tự nó vốn không có giá trị gì, nhưng đặt bên cạnh một đơn vị thì nó trở nên đầy hiệu lực, miễn là được đặt đúng vị trí, ở sau chứ không phải ở trước!... Đó chính là vị trí mà Giêsu đã đặt con vào và con hy vọng ở lại đó mãi mãi, trong khi đi theo Cha những nơi xa xôi, bằng lời cầu nguyện và việc hy sinh hãm mình.

Nếu hôm nay mà nghe theo trái tim mình thì hẳn con sẽ không kết thúc lá thư của mình được nhưng rốt cuộc thì chuông báo giữ thinh lặng sắp điểm rồi[5], con cần phải mang thư của mình đến cho Mẹ đang chờ.

Thôi nhé, người Anh Em quí mến, con xin Cha sẵn lòng gửi phép lành của Cha đến cho con số zêrô nhỏ bé mà Chúa Nhân Lành đã đặt bên cạnh Cha.

Nữ Tu Têrêxa Hài Đồng Giêsu Thánh Nhan

 Rel. carm. ind.

Thư 254: Gửi Cha Roulland

G.M.G.T

Cát Minh Lisieux

14 tháng 7 năm 1897

Giêsu V

Người Anh Em kính mến,

Trong thư trước (bức thư đã mang lại cho con nhiều lợi ích), Cha nói với con: “Cha là một em bé đang tập nói[6].” Không sao cả! chính con đây, đã năm hay sáu tuần lễ nay rồi, con cũng là một em bé, bởi con chỉ sống bằng sữa [7] mà thôi, nhưng chẳng bao lâu nữa con sẽ được ngồi vào bàn tiệc nước Trời (Lc 22,30), con sắp được giải khát bằng những nguồn mạch vĩnh cửu! (Kh. 7,17) Khi Cha nhận được thư này, chắc là con đã từ biệt cõi thế này rồi. Với tình thương không bờ không bến, Chúa đã mở cửa vương quốc của Ngài cho con và con có thể kín múc từ những kho tàng của Ngài để hào phóng chia cho những linh hồn thân yêu của con. Người Anh Em ơi, hãy tin là người chị em nhỏ của Cha sẽ giữ lời hứa, và tâm hồn của người chị em ấy đầy hạnh phúc, được giải thoát khỏi sức nặng của thân xác hay chết, sẽ bay đến những vùng xa xôi nơi Cha đang rao giảng Tin Mừng. Ôi! người anh em của con ơi, con cảm thấy mình sẽ hữu ích hơn cho Cha khi ở trên Trời hơn là dưới đất và lòng đầy sung sướng mà con đến báo cho Cha biết về việc con sắp được bước vào thành đô diễm phúc ấy, tin chắc là Cha sẽ chia sẻ với niềm hân hoan vui sướng của con, và sẽ cảm ơn Chúa đã ban cho con những phương thế để trợ giúp Cha một cách hiệu quả hơn trong công cuộc tông đồ.

Con nhất định không ở yên trên Thiên Đàng đâu, ước ao của con là còn được việc cho Hội Thánh và các linh hồn, con xin Chúa nhân lành điều đó và tin chắc là Ngài sẽ nhậm lời. Chẳng phải các Thiên Thần vẫn liên tục chăm lo cho chúng ta trong khi không ngừng được nhìn thấy Thánh Nhan Thiên Chúa (Mt 18,100, được chìm đắm trong Đại Dương không bờ không bến của Tình Yêu[8] đó ư? Lẽ nào Giêsu lại không cho phép con bắt chước các ngài sao?

Người Anh Em của con ơi, Cha xem nếu con rời bãi chiến trường, thì đó không phải là vì ước muốn ích kỷ được nghỉ ngơi, chỉ mới nghĩ đến mối phúc thật đời đời thôi đã khiến trái tim con phải run rẩy, từ lâu sự đau khổ đã trở thành cho con Thiên Đàng dưới thế này rồi và quả thật con khó mà hình dung được mình sẽ thích nghi bằng cách nào trong một Xứ Sở mà ở đấy niềm vui ngự trị không pha trộn lấy một chút buồn phiền nào. Giêsu phải biến đổi tâm can con và ban cho nó khả năng vui hưởng, nếu khác đi hẳn là con sẽ không thể chịu đựng nổi những niềm vui thú đời đời ấy đâu.

Điều hấp dẫn con đến với Quê Trời, chính là tiếng gọi của Chúa, là niềm hy vọng cuối cùng được yêu mến Ngài như con hằng ao ước biết bao và ý tưởng muốn mình có thể làm cho Ngài được yêu mến bởi vô số các linh hồn sẽ chúc tụng Ngài mãi mãi.

Người Anh Em của con ơi, Cha sẽ không kịp gửi cho con những lời nhắn để mang về Thiên Đàng đâu, nhưng con đã đoán ra và Cha chỉ phải nói nhỏ với con thôi, con sẽ nghe thấy và sẽ trung thành mang tất cả những lời nhắn của Cha đến với Chúa, với Mẹ Vô Nhiễm của chúng ta, đến các Thiên Thần, các Thánh mà Cha yêu mến. Con sẽ cầu xin cho Cha nhành lá tử đạo và con sẽ ở bên cạnh Cha, đỡ lấy tay Cha để nó không cần phải gắng sức mới đón nhận được nhành lá vinh phúc ấy, rồi sau đó, một cách vui sướng hân hoan, chúng ta sẽ cùng nhau bay lên trong Quê Trời, vây quanh là tất cả các linh hồn mà Cha sẽ chinh phục được!

Tạm biệt, người Anh Em của con, hãy cầu nguyện nhiều cho người chị em của Cha, cầu cho Mẹ của chúng con, người mà trái tim nhạy cảm và đầy tình mẫu tử đã rất đau khổ khi chấp nhận cho con được ra đi. Con cậy nhờ Cha hãy an ủi người giúp con.

Con mãi mãi là người chị em nhỏ của Cha

Têrêxa Hài Đồng Giêsu Thánh Nhan

 Rel. carm. ind.


[1] Ngày 24 tháng 02, Cha Roulland viết cho Têrêxa: “Chị quí mến, em không viết thư dài cho chị được, bởi em đang trong tư thế sẵn sàng để lên Tchoug-Kin, em cũng không trả lời lá thư dài của chị mang đến cho em nhiều hạnh phúc. Em chỉ muốn gửi cho chị những di vật của một người tử đạo tương lai thôi; em đã để lại một số cho cha mẹ em vào ngày em rời bỏ gia đình để ra đi; em cũng đã gửi cho hai ông bà một ít từ Thượng Hải rồi. Tai sao em lại không gởi cho người chị em của em nhỉ? Lúc này chúng em không gặp nguy hiểm đến nỗi phải bỏ mạng, nhưng ngày này qua ngày khác, chúng em có thể bị người ta dùng dao đâm chết; chúng em sẽ không là những người tử đạo theo đúng nghĩa của từ ngữ ấy, nhưng bằng cách lèo lái thật tốt ý định của mình: chẳng hạn, đọc: lạy Chúa, chính là vì tình yêu của Ngài mà chúng con đã đến nơi đây, xin hãy bằng lòng nhận lấy hy lễ cuộc đời chúng con và làm cho các linh hồn trở lại – như vậy chẳng phải chúng em cũng đủ tử đạo để về Thiên Đàng sao… (…) Cuối cùng chúng em cũng sẵn sàng theo ý Chúa nhân lành, nếu bọn cướp biển giết chết em và em không xứng được vào Thiên Đàng ngay, thì chị sẽ kéo em ra khỏi luyện ngục và em sẽ đợi chị trên ấy (…). Chị nói với em là chị dâng cho Chúa Giêsu nhân hiền tình yêu của em và cả của chị nữa: này nhé! em sẽ dâng cả hai tình yêu của chúng ta trong Thánh lễ, sau khi Hiệp lễ; em tin chắc là Chúa Giêsu khi nhìn thấy của lễ ấy sẽ tha thứ cho em vì tình yêu quá còm cõi mà em dành cho Ngài. Khi tưởng nhớ đến các linh hồn em nhớ đến bố mẹ đã quá cố của chị.” (LC 175. 24/02/1897).

[2] Cha Roulland học tiếng Trung Quốc: xem thư gửi Têrêxa ngày 20 tháng 01 năm 1897: “Khi nào em mới thực hiện được lần rửa tội đầu tiên, làm cho người đầu tiên trở lại được đây? Hỡi ôi, em chỉ là một đứa bé không hơn không kém: em không biết nói. Em sẽ trải qua vài tháng trong một gia đình Kitô hữu, học tiếng, học các phong tục tập quán, v.v… sau đó là việc tông đồ với một người anh em trước đã.” (LC 173).

[3] Trong Cát viện Lisieux, vào ngày 01 tháng 5, người ta vừa hay tin về việc thảm sát nhà truyền giáo 26 tuổi, bị bọn cướp giết chết, vì là người Âu; xem Carnet jaune 1.5.2.

[4] Xem Thủ bản A, 3vo và 76ro.

[5] Xem Thư 225, chú thích 3.

[6] Cha Roulland viết cho Têrêxa: “Em đây như một em bé, không biết nói, đang học nói trong một gia đình Kitô giáo”. (LC 178. 29/4/1897)

[7] Têrêxa đang ăn kiêng và chỉ uống sữa kể từ tuần lễ Hiện Xuống.

[8] Xem Arminjon, sđd tr. 302 và Carnet jaune 17.7.

Nobertô Thái Văn Hiến (dịch)

VỀ MỤC LỤC
TẠI SAO XÃ HỘI CẦN THÁNH TÔMA?
 

Giải thích của Đức Thánh Cha về tính hợp thời của thần học luân lý Thánh Tôma 
 

Vatican, 16.6.2010 – Đức Bênêđictô XVI tuyên bố rằng thần học luân lý của Thánh Tôma hợp thời ngay cả hôm nay, cách riêng trong sự nhấn mạnh của thánh nhân về luật tự nhiên.

Đức Thánh Cha nói về giáo huấn của Thánh Tôma, khi ngài tiếp tục bài giáo lý về văn hóa Kitô giáo thời Trung Cổ, sau mấy tuần lễ phải gián đoạn vì các đề tài khác.

“Thánh Tôma đã chỉ rõ sự độc lập của triết học và thần học, và đồng thời cũng cho thấy tính hữu lý hỗ tương giữa hai bên.” Đức Thánh Cha lưu ý.

“Sự nhấn mạnh của Thánh Tôma đối với phẩm giá của lý trí con người có mối liên lạc mật thiết với giáo huấn của thánh nhân về tự nhiên và ân sủng” - Đức Thánh Cha giải thích, đồng thời ghi nhận rằng lý trí, tự nó, có hàm chứa cái khả năng quan trọng là “biện phân luật luân lý tự nhiên.”

“Lý trí có thể nhận ra luật luân lý tự nhiên khi nó cân nhắc điều tốt để làm và điều xấu để tránh, nhằm đạt được hạnh phúc trong lòng mỗi con người. Niềm hạnh phúc này vốn cũng đặt con người vào trách nhiệm đối với người khác, nghĩa là trách nhiệm mưu cầu công ích. Nói cách khác, các nhân đức của con người, nhân đức thần học và nhân đức luân lý, đều bắt rễ trong bản tính con người.”

“Ân sủng của Chúa nâng đỡ, hỗ trợ và dẫn dắt các bổn phận đạo đức. Nhưng theo Thánh Tôma thì chính con người - mọi người, dù tin hay không tin - đều được mời gọi nhận ra những đòi buộc của bản tính con người biểu lộ nơi luật tự nhiên, và được mời gọi nhận cảm hứng từ đó để đề ra pháp luật, tức những bản luật ban hành do các quyền bính dân sự, nhằm bảo đảm trật tự cho cuộc sống chung.”

Đức Thánh Cha nhấn mạnh tầm quan trọng của luật tự nhiên và các trách nhiệm bao hàm trong đó. Ngài nói rằng khi người ta phủ nhận những luật này, thì “một cách đầy bi kịch, họ sẽ mở đường cho chủ nghĩa đạo đức tương đối xét trên bình diện cá nhân, và cho thể chế toàn trị của chính phủ xét trên bình diện chính trị xã hội.”

Đức Thánh Cha dẫn lại lời khẳng định của vị tiền nhiệm của ngài là Đức Gioan Phaolô II: “Vì tương lai của xã hội, và để phát triển một nền dân chủ lành mạnh, thật khẩn thiết phải khám phá lại những giá trị luân lý và nhân bản cố hữu và cốt yếu, những giá trị vừa bắt nguồn từ chính sự thật về hữu thể con người vừa diễn tả và bảo vệ phẩm giá của nhân vị. Đó là những giá trị mà không một cá nhân nào, một đa số nào, hay một chính phủ nào có thể tạo ra, sửa đổi hay phá hủy chúng, mà nhất thiết phải ý thức, tôn trọng và cổ võ chúng.”

Ý niệm về lý trí con người đề ra bởi Thánh Tôma thật “đáng tin cậy,” Đức Thánh Cha khẳng định, “vì lý trí con người - nếu biết chấp nhận những cảm hứng từ đức tin Kitô giáo - thì trước hết đó sẽ là nhân tố cổ võ một nền văn minh nhìn nhận phẩm giá nhân vị, nhìn nhận tính bất khả xâm phạm của các quyền của nhân vị, và nhìn nhận sức thúc bách của các nghĩa vụ của nhân vị.”

Đức Thánh Cha nói rằng ta không ngạc nhiên khi thấy giáo thuyết về phẩm giá nhân vị “phát triển dồi dào trong các địa hạt suy tư đặt nền trên di sản của Thánh Tôma Aquinô, một con người đã có ý niệm rất minh trí về nhân vị.”

Và để kết luận, vị Giám Mục Rôma lưu ý rằng tư tưởng và giáo thuyết thâm sâu của Thánh Tôma cắm rễ trong chính đức tin sống động và trong lòng đạo nhiệt thành của thánh nhân. Tôma Aquinô là một nhà tư tưởng và là một vị thánh, một con người đã cầu nguyện với Thiên Chúa như sau:

Lạy Chúa,

xin ban cho con một ý chí để tìm kiếm Chúa,

một sự khôn ngoan để gặp Chúa,

một đời sống đẹp lòng Chúa,

một lòng kiên trung để chờ đợi Chúa trong niềm tin,

và một niềm tin, để cuối cùng con sẽ chiếm được Chúa. Amen” 

 

THIÊN PHONG

dịch từ “POPE EXPLAINS WHY SOCIETY NEEDS AQUINAS,” trong Zenit.org ngày 16.6.2010

VỀ MỤC LỤC
GIA TÀI MẸ ĐỂ LẠI LÀ BẠO LỰC SAO?
 

Gần đây có nhiều nghiên cứu tìm xem video games có phải là nguyên nhân gây bạo lực không. Ở các nước văn minh, nơi người ta cư xử nhân hậu và sợ bạo lực, thì tất cả những nguyên nhân gây nên bạo lực đều phải được nghiên cứu xem xét cẩn thận.

Có một điều vô cùng bất ngờ đối với tôi. Tôi thuộc loại người luôn nghĩ rằng phụ nữ là phải dịu dàng. Thế mà khi tôi dạy bài học về bạo lực do ảnh hưởng từ video games, có hai cô học viên, một là cô giáo dạy Văn cấp 3 ở Gò vấp, một là sinh viên, hăng hái bảo vệ cho bạo lực với lý luận rằng hoàn cảnh lúc này lúc nọ cũng cần dùng bạo lực.

Tôi không ngạc nhiên vì suy nghĩ lạ lùng ấy, nhưng tôi “ngộ” ra được một điều. Lâu nay vẫn có những người lên tiếng đòi công lý, chống lại bạo lực và bất công, thì vẫn có nhiều người không đồng tình với tiếng nói công lý ấy, thậm chí còn khích bác. Tôi đã không hiểu vì sao lại có chuyện ngược đời như thế. Bây giờ nhờ hai cô học viên ấy mà tôi “sáng” ra rằng khi người ta quen với bạo lực, chịu ảnh hưởng bởi giáo dục bạo lực thì người ta không có nhu cầu phản đối bạo lực.

Tôi nghĩ đến những đứa trẻ thích phản ứng đầy bạo lực nhan nhản trong xã hội Việt nam ngày nay. Chưa đến tuổi đi học, nhiều trẻ đã tỏ ra hung hãn, luôn làm sư tử, làm cọp rống lên nghe kinh khiếp. Đi học thì học trò đánh nhau, gây hấn là chuyện bình thường. Điều này dễ hiểu khi mẹ các cháu ủng hộ bạo lực, khi các môn học đều ít nhiều dính dáng đến bạo lực.

Tôi không tài nào nhớ nổi những bài thơ hay cuốn truyện nào học ở cấp ba, nhưng những hình ảnh bạo lực như “má hét lớn tụi bay…” thế này thế nọ trong thơ Tố Hữu, hoặc bà Út Tịch đòi đánh dữ dội… cứ ám ảnh mỗi khi tôi nhìn cảnh hãi hùng ngoài đường.

Thì ra nền giáo dục học đường và quan điểm của cha mẹ gắn liền với bạo lực ảnh hưởng trên con rất nhiều. Báo chí Việt nam hay đưa tin bạo lực xảy ra trong các trường học bên Mỹ. Thật ra ở các nước tự do ấy, có người lạm dụng súng ống, nhưng bao giờ cũng vậy, chuyện vừa xảy ra là cảnh sát đã có mặt can thiệp liền, chứ không như chúng ta nghĩ là họ muốn đánh muốn bắn lúc nào cũng được.

Cách đây ít năm, khi tôi đi dạy ở tỉnh lẻ các ngày cuối tuần, tôi gặp một cô sinh viên ở Bình Dương rất hung hăng, luôn hành xử “kiên cường bất khuất” trước mọi người. Tôi bảo em hung dữ quá sau này chắc con trai sẽ sợ lắm, và tối đa chồng em làm đến chức chủ tịch phường! Cô ta giận và nói thầy đừng coi thường em, vì bạn trai em là sinh viên đại học ở Sàigòn!

Chuyện có vậy rồi tôi cũng quên đi. Nhưng nhiều tháng sau bất ngờ tôi nhận được một lá thư qua đường bưu điện. Thư viết đại ý chắc thầy chẳng còn nhớ em là ai. Em là cô sinh viên thầy bảo là hung dữ. Thầy nói đúng quá, bạn trai em đã chia tay với em. Bây giờ em buồn quá muốn xin ý kiến của thầy. Người ta tưởng rằng khi mình dùng bạo lực, sẽ được thiên hạ kính nể. Nhưng sự thật thì khác hẳn.

Hai cô học viên nói đến ở trên hỏi tôi rằng chẳng lẽ người ta vào nhà mình, mình để yên cho họ vào à? Tôi hỏi lại, vậy hai bạn nghĩ sao, thấy ai vào nhà mình là phải đánh ngay sao?

Tôi có người bà trong họ mới qua đời ở xa. Tôi ít biết về bà vì khi tôi lớn lên thì bà đã sang Mỹ. Tôi chỉ biết hai người cô của tôi ở dòng Thánh Phaolô. Cô kể tôi nghe rằng bà sống rất nhân hậu. Ngày xưa khi còn ở Việt nam, bà trồng cây trứng cá trước nhà. Khi trẻ con lẻn vào hái trái trứng cá, bà không la không đuổi như những người khác, mà gọi chúng lại dạy bảo chúng rồi khi trái chín, gọi chúng đến mà cho. Do đó, trẻ con rất quí trọng bà.

Những người sống với lòng nhân ái thì hoa quả sinh ra cũng là nhân ái. Còn ai dùng dao búa và gậy gộc thì chắc chắn cũng chẳng thấy bình an. Quí vị đi học ở miền Nam trước năm 1975 thì đâu có hân hạnh học những bài văn và sử đầy “tính chiến đấu” như chúng tôi sau này. Tôi nhớ có lần cô dạy Sử giảng bài “Phải căm thù đế quốc, phải đánh cho mạnh vào”. Tới khi làm bài, tôi chỉ nhớ là đánh trả thù như thời Cựu Ước, tôi bèn viết “Cô dạy đại ý giống như là mắt đền mắt, răng đền răng”. Cô giáo đâu có biết câu này trong Kinh Thánh nên bảo: “Em làm bài dùng từ lạ quá!”. Lúc đó là thế kỷ 20 sau Chúa ra đời, mà nội dung cô dạy còn hung hăng hơn thời Cựu Ước.

Hội Thánh Công Giáo xem bạo lực là tội ác. Và Học Thuyết Xã Hội Công Giáo dạy “phải tố cáo mỗi khi tội có mặt: tội bất công và tội bạo lực, cách này hay cách khác, đang lan tràn qua xã hội và thâm nhập vào xã hội”(1), chứ không thể để bạo lực lan tràn bừa bãi.

Cùng cầu nguyện cho gia tài của mẹ để lại cho con không là bạo lực, không là sự xáo trộn các trật tự mà Thiên Chúa đã sắp đặt, nhưng gia tài ấy là một nền văn minh tình thương phát sinh hoà bình công lý, một nền “hoà bình triển nở trong triều đại Người đến muôn đời”.

Gioan Lê Quang Vinh

Xin mời ghé thăm www.giaoducconggiao.net

(1)  CĐ. Vatican II, Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes

 
VỀ MỤC LỤC
CON TRAI HỌ CHỈ CÒN MỘT TAY VÀ MỘT CHÂN
 

 Sống Tỉnh Thức # 57

* Chuyện kể: Một anh lính Mỹ trở về nước sau khi đi tham chiến nước ngoài về. Anh điện thoại cho cha mẹ là anh sẽ dẫn về một người bạn, người ấy không có thân nhân, muốn về ở luôn tại nhà, anh ta bị thương rất nặng “chỉ còn có một chân và một tay.”

  Cha mẹ anh cùng nói: :Tôi nghiệp quá! Con cứ đưa cậu ấy về đây, ba má sẽ liên hệ với các tổ chức từ thiện để tìm cho cậu ấy một chỗ ở.” – “Không, con muốn anh ta sống chung với gia đình mình.” Tiếng người cha liền vang lên ở đâu giây bên kia: “Con ơi! Con không biết gì sao? Một người tàn tật như vậy sẽ là một gánh nặng cho gia đình chúng ta. Ai cũng có việc khó khăn cả, và không thể để gia đình bị ảnh hưởng bởi những việc như vâỵ.”

  Cuộc điện đàm liền kế thúc, ba mẹ không thấy anh ta về nhà, và cũng không nhận được tin tức gì nữa. Vài ngày sau họ nhận nhận một cú điện thoại của cảnh sát gọi về, báo tin con trai họ đã rơi từ trên lầu của một bệnh viện và đã chết. Cảnh sát cho biết là một vụ tự tử. Trong lúc đau buồn khôn tả, cha mẹ anh vội đến để nhận xác anh.

  Đúng là thi thể của anh; và họ đã bàng hoàng khám phá nhận ra rằng: “Con trai họ chỉ còn có một chân và một tay.!”

 

  Một phút hồi tâm: Cái chết đáng thương của anh lính trẻ thật đáng trách, vì thiếu nói thành thật với cha mẹ. Anh cần hiểu rằng đó chỉ là thái độ của cha mẹ anh đối với một người tàn tật xa lạ.

  Nhưng dẫu sao, người lính này vẫn có quyền thăm dò thái độ của cha mẹ mình đối với một người tàn tật. Một điều đáng tiếc là anh lính đã không cho cha mẹ biết sự tàn tật của mình, nếu biết, thì chắc cha mẹ anh đã đối xử tình cha con môt cách vô cùng yêu mến, rồi đưa xe đến nhà thương đón anh về nhà để săn sóc con mình ngay. Thật xót thương khi người con và cha mẹ không thành thực chia sẻ những thực tại của nhau, nên họ đã mất đứa con yêu dấu đang bị dằn vặt vì mặc cảm tật nguyền của mình.

  Anh lính này dù có bị ruồng bỏ hoặc đối xửa thậm tệ, hãy nhớ rằng Thiên Chúa vẫn yêu bạn hơn bao giờ hết: “Dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa, thì hãy còn có Chúa đón nhận con.”  (Thánh vịnh 27, 10) 

Phó tế: GB. Maria Nguyễn Định

VỀ MỤC LỤC
GHEN (4)
 

KHUẤT PHỤC SỰ GHEN TƯƠNG CỦA CHÚNG TA 

Đối với một người bình thường rất quan trọng để biết: chúng ta có thể làm được gì cho sự thích nghi riêng của chúng ta nếu một người đau khổ từ khuynh hướng ghen tương. Thấu hiểu triệt để những khuynh hướng riêng của chúng ta, có thể giúp chúng ta rất nhiều. Chắc hẳn khi cảm xúc xen vào, sự thấu hiểu thì khó khăn và sự thay đổi cũng như vậy. Bao lâu chúng ta biện minh cho hành vi chúng ta dựa trên căn bản cảm giác và cảm xúc, chúng ta loại trừ lý trí như một yếu tố đủ. Cảm xúc củng cố thái độ một cách mạnh mẽ đến nỗi không có một ảnh hưởng nào khác xem ra thành công. Đó là lý do tại sao khó để khắc phục sự ghen tương trong chính chúng ta. 

Tại sao chúng ta loại bỏ lý trí? Sự xử dụng lý trí có ngăn cản cảm xúc không? Một phần vì đó là đặc nét của cảm xúc để xuất hiện hoặc biến mất mà không cần lý trí và lý luận. Vì thế, chúng ta bị thuyết phục tin rằng chúng ta khó có thể ảnh hưởng chúng. Nhưng thật ra, chúng ta có thể thay đổi chúng bằng lý luận với chúng ta. Niềm tin: cảm xúc không thể điều khiển và rằng chúng mạnh hơn lý trí là một phần của văn hóa chúng ta đã có từ hàng ngàn năm. Bảo rằng xác thịt thì yếu hơn lý trí thì không đúng nhưng xác thịt không thể làm gì mà tinh thần không cho phép. Sau cảm xúc mạnh không thể lý luân đuợc gì, nhưng có thể chế ngự được cảm xúc nếu chúng ta can đảm đủ để chấp nhận ý nghĩa và sự ám chỉ của chúng, những khuynh hướng và đối tượng của chúng. 

Nếu chúng ta ghen, khó có thể để chấp nhận rằng chúng ta đã hành động sai. Chúng ta có thể làm một sự chấp nhận như thế mà vẫn cảm thấy rằng ý hướng chúng ta là tốt. Có phải chúng ta muốn chiếm sự chú ý hơn sao? Có phải chúng ta muốn gây áp lực và quyền hành? Chúng ta muốn xúc phạm? Hoặc biện minh sự thất bại trong hôn nhân? Chỉ khi chúng ta chấp nhận hoàn toàn trách nhiệm cho ý huớng và cho cảm xúc, chúng ta mới có thể giúp chúng ta. Đàn bà ghen ông chồng đi thăm bà mẹ của ông, sự ghen tương đó cho thấy rằng bà không quan tâm mẹ chồng mà cũng không quan tâm chồng nhưng quan tâm chính bà, địa vị bà, giá trị bà. Bằng ghen tương bà cố gắng tỏ cho chồng thấy răng ông không thể quên nàng, rằng ông không được phép lo cho ai hơn nàng, và nếu chàng không chú ý đến nàng trong cách thế mà nàng muốn, chàng phải đổ hết thời gian và năng lực để cãi nhau với nàng, và nếu chàng không phù hợp với những ước muốn của nàng, chàng phải chịu đau khổ.

 Cách thế có hiệu quả nhất để khuất phục cảm giác chống đối là nhận thấy mục đích mà chúng ta tạo và giữ lấy cho mục đích ấy.Nếu chúng ta hiểu và chân thành chấp nhận những mục đích cũa chúng ta, chúng ta khám phá ra rằng quả thật chúng ta là chủ thể của những cảm xúc đó đối với cái xấu cũng như cái tốt. Sự thấu triệt để thực hiện lại càng khó hơn. Chúng ta sẵn sàng chấp nhận những yếu tố tâm lý đã gây nên cảm xúc, sự nghi ngờ về chính mình và người khác, cảm giác không-tự-đủ, sự cạnh tranh với người cùng phái,  những điều nầy được nhận thấy một cách dễ dàng. Kiến thức nầy giúp rất ít bao lâu chúng ta chỉ chấp nhận những sự kiện nầy mà không chịu đi sâu thêm nữa. Điều đó là đúng nhưng tôi có thể làm gì? Việc thấu triệt những mục đích của chúng ta liên hệ tới những động lực tâm lý hoàn toàn khác nhau. Sự nhận thức rằng chúng ta tạo nên sự ghen tương để thống trị, điều đó sẽ làm suy yếu cảm xúc chúng ta để rồi nó không thể được dùng như một lý do thích hợp để biện minh cho hành động của chúng ta nữa. 

SỰ THĂNG TIẾN BẮT ĐẦU VỚI CHÍNH MÌNH

Sự ghen bắt đầu chu kỳ ác độc. Khi nó xâm nhập vào sự liên hệ hôn nhân, tình trạng xung khắc khởi lên. Thay vì nhận thấy rằng sự ghen tương của người phối ngẫu là một vấn đề chung của cả hai, mỗi người quay sang chống người kia và muốn người kia giải quyết vấn đề xung khắc. Mỗi người tỏ ra muốn cộng tác nếu người kia không tạo khó khăn. Tuy nhiên, bao lâu mỗi người đều đòi hỏi người kia thay đổi trước thì không có hy vọng thăng tiến. Nó chỉ là một sự tranh đấu cho thế thượng phong, một sự đọ sức để xem ai là người nhượng bộ trước. Vì không ai muốn nhượng bộ nên cả hai đều thất vọng, và sự lạc quan suy giảm làm tăng thêm cường độ tấn công của họ và thuyết phục họ rằng không có gì có thể được cứu ngoại trừ danh tiếng của mỗi người. Vậy cả hai đều bị kẹt trong cuộc chiến mà họ phải trả giá một cách rất đáng thương cho cái mà họ chỉ được hưởng trong một ít phút. Và rồi, họ vẫn không biết được họ có thể làm được những gì để giải quyết cho vấn đề rắc rối của họ. 

Một trong những đòi hỏi căn bản cho sự giải quyết một vấn đề là sự nhận biết: đâu là mấu chốt để người ta có thể bắt đầu. Không có căn bản nào khác cho hành động thành công và hữu hiệu mà người ta có thể tìm thấy. Đối diện với bất cứ vấn đề hôn nhân nào, câu hỏi dẫn đến sự giải quyết có tính cách xây dựng là: tôi có thể làm gì được? Bằng cố gắng chân thành để khám phá mỗi người có thể đóng góp gì, và đó là cánh cữa có thể mở một lối thoát cho một tình trạng rối loạn và vô vọng. 

Tìm ra câu trả lời không thể loại bỏ sự thiếu thoải mái và buồn chán nhưng nó thường dẫn đến một tình trạng ít phức tạp và cuối cùng dẫn đến một giải đáp thõa mãn mà lúc đầu xem ra không có thể. Nhiều người đòi hỏi một sự giải quyết hoàn toàn cho một vấn đề chưa chín mùi đối với bất cứ một kết luận thõa đáng nào. Chậm nhưng chắc, nó thường là cách dẫn tới sự cộng tác và thõa mãn. 

Những ghi chú nầy thuộc vấn đề hôn nhân. Chúng ta đã chọn sự ghen tương như là một ví dụ soi sáng bản chất của sự đụng chạm xung đột với nhau. Bắt đầu sự tranh cãi về tình yêu, người ghen tương có thể là người đáng thương hại nhất, vì thế người kia còn có cơ hội trước khi họ cũng trở thành đáng thương như vậy. Người ta không thể làm gì sao? 

Trước nhất, người ta nên cố gáng hiểu tình trạng khó khăn của người bạn:  tại sao nó lại ghen? Và người ta đã làm gì để thêm vào sự ghen tương đó một cách vô ích? Có phải người vợ không cho người chồng những dấu hiệu của sự tận hiến của nàng hay là cô đã khêu gợi dậy cảm giác bất an trong chàng? Có phải nàng đã thuyết phục chàng một cách luống công rằng chàng thì tốt đủ? 

Làm cách nào chúng ta có thể ngăn cản chúng ta khỏi trở nên ghen? Nếu chúng ta thật sự ý thức và nóng lòng giữ sự an bình và sự hài hòa hôn nhân, chúng ta nên canh chừng bất cứ dấu hiệu thù ghét nào trong chúng ta. Bất cứ cảm xúc thù hận nào chúng ta cảm thấy nên cảnh giác. Cái gì đang ở trong chúng ta? Chúng ta có khám phá ra sự mất tự tin, một sự bi quan đang bao trùm làm hao mòn sự can đảm không? Bấy giờ nguy hiểm và sự huỷ diệt nằm trước mặt. Chúng ta đừng nên điên khùng: nguồn gốc sự giận dữ của chúng ta xem ra là bên ngoài nhưng lại nằm trong chúng ta. Bây giờ là lúc để xem chúng ta đang đi về đâu? Tại sao chúng ta nghi ngờ về chúng ta? Tại sao chúng ta không tìm một lối đi lên thay vì gây cảm xúc đi xuống? Chúng ta cần cảm xúc nhưng là những cảm xúc hăng say nhiệt tình, hy vọng, hăng hái, lạc quan, và thiện cảm. Chúng ta nên canh chừng bất cứ sự hận thù nào chúng ta cảm thấy. 

Trong lúc đi tìm một đường lối tốt hơn cho chúng ta, chúng ta chuẩn bị một lối thăng tiến. Tình trạng xung khắc là một triệu chứng của ghen tương. Chúng ta không thể chữa trị mà không tấn công sự xấu căn bản đang nằm bên dưới. Chúng ta không thể mong thay đổi cảm xúc chúng ta mà không thay đổi thái độ chúng ta đối với cuộc đời, quan niệm về chúng ta, và phương cách chúng ta dùng. Mỗi xung khắc là một trắc nghiệm tình bạn hữu con người chúng ta, trắc nghiệm sở thích về xã hội của chúng ta. Nếu chúng ta thất đảm, nếu chúng ta thù ghét, và mất cảm giác thuộc về, những xung khắc có thể dẫn đến tai họa. Nếu khác, những xung khắc có thể kích thích một sự thăng tiến và tiến hóa, làm tăng sự khôn ngoan chúng ta và kinh nghiệm chúng ta, làm sản sinh sự tốt đẹp hơn trong kỷ thuật sống và nâng niềm tự tin. Mỗi tình trạng xung khắc được giải quyết cách thích hợp là một bước tiến tới. Nó mặc khải những khuyết điểm trong việc nuôi dưỡng chúng ta, những giới hạn của việc xã hội hóa của chúng ta. Chỉ người nhát mới chạy trốn xung khắc. Đối với người can đảm, vấn đề có đó để được giải quyết, chúng ta hãy chấp nhận sự thử thách nầy để tiến tới. Chúng ta hãy học đòi hỏi ít và sống tốt hơn để cùng nhau hạnh phúc hơn.  

Lm Lê Văn Quảng Psy.D.

 

VỀ MỤC LỤC
LÀM SAO ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI ?
 

Hỏi: Kinh Thánh nói gì về những đòi hỏi của Thiên Chúa cho con người được ơn cứu độ ?

Trả lời: Thiên Chúa là tình thương như Thánh Gioan Tông Đồ đã quả quyết (1Ga 4:8). Ngài tạo dựng loài người chúng ta chỉ vì tình thương vô vị lợi này để chia sẻ cho con cái loài người  niềm vui và hạnh phúc vô biên của Chúa mà thôi. Nghĩa là Thiên Chúa   tuyệt đối không được  lợi lộc gì  hay muốn tìm lợi lãi gì cho riêng Người mà phải tạo dựng nên con người.trên trần thế này

Đó là điều căn bản trước hết chúng ta phải khẳng định và tin chắc chắn như vậy trước khi đi sâu vào nội dung câu hỏi.

Thật vậy, Thiên Chúa ví như người Cha nhân hậu, mong muốn cho con cái loài người  được hạnh phúc không những ở đời tạm gửi này mà nhất là “ được cứu độ và nhận biết chân lý” ( 1 Tm 2:4) để sống hạnh phúc đời đời với Người mai sau trên Nước Trời.

Nhưng Thiên Chúa không phải là người Cha nuông chiều con cái  đến mức cho con cái muốn làm gì, ăn uống ra sao tùy thích.

Thực tế trong mọi gia đình nhân loại thuộc mọi sắc tộc và văn hóa, có cha mẹ nào lại không muốn cho con cái học hành giỏi giang, xa tránh mọi thói hư tật xấu như xì-ke ma túy, cờ bạc hút xách, bỏ học để gia nhập các băng đảng trộm cắp , giết người, cướp của v.v.???

Mặt khác, cũng không có cha mẹ nào lại mua súng đạn về cho con cái chơi và muốn bắn ai tùy thích; nhất là mua phim ảnh  sách báo  dâm ô về cho con cái mặc sức  “giải trí” trong gia đình !!

Nếu cha mẹ  phàm trần , vì yêu thương và vì lợi ích đích thực của con cái,  mà không làm hay cho phép con cái làm những việc nói  trên, thì Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành,  lại càng  không muốn cho con cái loài người làm những gì có hại cho hạnh phúc đời này và nhất là đời sau của mỗi người chúng ta..Và đó là lý do tại sao Thiên Chúa ban Lề Luật cho ta phải tuân giữ và thi hành để được chúc phúc và đuợc cứu rỗi. Nói khác đi, nếu Thiên Chúa muốn ta sống ra sao hoặc ngăn cấm ta làm điều gì thì đó chính là vị lợi ích của ta chứ  tuyệt đối Thiên Chúa không được lợi lộc gì mà phải ngăm cấm con người  không được làm điều này việc kia.

Vậy qua Kịnh Thánh Thiên Chúa đã nói gì với loài người về những ý muốn của Người  để từ đó con người sẽ được chúc phúc hay bị luận phạt ?

Trước hết, với dân Do Thái vốn là Dân riêng của Người, Thiên Chúa đã dùng miệng ông Mai Sen để truyền cho họ những giới luật căn bản , sau khi Thiên Chúa đã giải phóng họ qua khỏi ách nô lệ, thống khổ bên Ai Cập. Ông Mai-Sen đã nói với dân Do Thái như sau :

   “ Anh  em lãy lo thực hành như ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh  em đã truyền cho anh  em, không đi trệch bên phải hay bên trái. Anh  em hãy đi đúng con đường mà ĐỨC CHÚA Thiên Chúa của anh  em đã truyền cho anh  em để anh  em được sống, được hạnh phúc và được sống lâu trên mặt đất mà anh  em sẽ chiếm hữu” ( Đnl  5: 32-33)

 Lời Chúa truyền cho dân Do Thái trên đây cũng  chính là lời Người dạy loài người nói chung  ngày nay phải nghiêm khắc thi hành để được chúc phúc và nhất là để được cứu rỗi  hầu  hưởng hạnh phúc Nước Trời mai sau

Thật vậy, nếu ai cũng được tự do cướp của. giết người, tự do giật chồng cướp vợ của người khác, gian dâm,  ăn gian nói dối, lừa đảo, bội tín, và  con cái không cần thảo kinh cha mẹ, vợ chồng không cần chung thủy với nhau để tự do thay đổi hôn nhân như thay áo quần thì xã hội loài người này  sẽ ra sao và đi về đâu ?

Như thế đủ cho thấy là Thiên Chúa , vì yêu thương và muốn cho con người  được hạnh phúc thực sự , nên đã ban những Lề Luật cần thiết như  yêu mến Chúa trên hết mọi sự, thảo kính cha mẹ , cầm giết người, cấm gian dâm, trộm cắp, cấm làm chứng gian và ước muốn vợ chồng và  tài sản của người khác. Như vậy, tuân giữ các Lề Luật này của Chúa  là bảo vệ hạnh phúc cho chính con người cũng như bảo đảm sự sống và văn minh của loài người trên trần thế này.

Nhưng đáng buồn thay cho nhân loại nói chung và cho người tín hữu Chúa Kitô nói riêng vì thực  tế của xã hội ngày nay, một thực tế với đầy thách đố cho cho những ai muốn tuân giữ và thực hành tốt những Lề Luật căn bản nói trên.

Thật vậy, “văn hóa sự chết” ngày một lan tràn mạnh mẽ ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Âu Mỹ -  đang là một thách đó to lớn cho những ai muốn sống niềm tin vào một Thiên Chúa cực tốt cực lành, công chính, thánh thiện và đầy yêu thương. Thiên Chúa tốt lành,  thánh thiện thì Người không thể khoan dung hay nhân nhượng (tolerate or compromise) những sự dữ như giết người, phá thai, gian manh, trộm cắp, bất công, bóc lột, tham ô, chà đạp nhân quyền và công lý,  cai trị khắc nghiệt, buôn bán phụ nữ và trẻ em cho các dịch vụ mãi dâm, tôn thờ vật chất  và mọi lạc thú vô luân, dửng dưng trước sự nghèo đói, đau khổ của  nạn nhân các chế độ độc ác, phi nhân.

Nhưng tiếc thay, những người có sứ mệnh  và trách nhiệm rao giảng Phúc Âm Sự Sống ( Gospel of Life) cũng như những người đang nắm quyền cai trị quốc gia lại làm ngơ,  im hơi lặng tiếng trước những sự dữ nói trên, thay vì phải can đảm thi hành sứ mệnh ngôn sứ và trách nhiêm cai trị  của mình để  mạnh mẽ  lên án và cấp cứu thực trạng tha hóa, tụt hậu thê thảm về luân lý đạo đức và tình người của một môi trường xã hội đã quá ung thối vì tham ô, bất công phi nhân và phi luân. Làm ngơ trước thực trạng nói trên của xã hội để được “an thân” đi kiếm tiền đó đây và âm thầm vui hưởng chút ân huệ nào đó là chối bỏ sứ mạng phúc âm hóa thế gian cũng như đánh mất  chức năng ngôn sứ của mình. Như thế vô tình đã “thỏa hiệp với  thế quyền” là nguyên nhân phát sinh thực trạng phi nhân vô đạo nói trên.

Riêng ở Hoa Kỳ, bộ mặt đáng ghê sợ của văn hóa sự chết  được nhìn  thấy rõ qua những sự kiện sau đây: hợp pháp và hợp hiến  cho phép  phá thai, giết hại hàng triệu thai nhi hàng năm ở Mỹ ,  chấp nhân hôn nhân đồng tính (same sex marriage) tự do ly dị, và làm ngơ hay dung dưỡng cho phép kỹ nghệ dâm ô, phim ảnh bạo động được mặc sức tung hoành trên Internet, Video, DVD và sách báo để xô đẩy biết bao triệu người lớn và trẻ em vào vòng trụy lạc , tội ác..

Thêm vào đó là  nhan nhản những quảng cáo về sửa sắc đẹp, sửa thân hình cho hấp dẫn, dậy khiêu vũ cho mọi lớp tuổi (riêng một số người Việt no cơm dửng mỡ cũng đang  đua đòi loại văn minh hạ cấp này để trể già ôm nhau nhẩy nhót trong mọi dịp vui chơi, hát cho nhau nghe.. ),  bên cạnh quảng cáo các loại  thuốc hay dược liệu kích thích dâm tính, và chỉ dẫn những nơi  cờ bạc giải trí  thiếu lành mạnh. ..

Đây chính là những nguy cơ khiến người tín hữu Chúa Kitô ngày nay dễ “ đi trệch Con Đường Chính Lô” mà Chúa muốn chúng ta đi để được gặp Người và được hạnh phúc đích thực..

Xưa kia  dân Do Thái, sau khi được giải thoát khỏi thống khổ bên Ai Cập, đã không được tiến vào “Đất Hứa” ngay mà phải tạm sống trong hoang địa suốt 40 năm để được thử thách về lòng tin, yêu của họ đối với Thiên Chúa , Người đã thương giải phóng cho họ qua bàn tay ông Mai Sen .Nhưng trong khi chờ được vào Đất Hứa, họ đã “đi trệch con Đường” Chúa muốn họ đi , bằng hành động xúc phạm nặng nề Thiên Chúa  khi “ họ  đúc con bê bằng vàng rồi sụp lậy nó” như vị thần đã đưa họ ra khỏi đất Ai Cập.! Chúa đã nổi giận muốn tiêu diệt dân vô ơn và cứng đầu này, nhưng nhờ ông Mai Sen  tha thiết van xin mà Thiên Chúa đã thương không giáng phạt dân Người, như Người đã đe.” ( Xh 32:  14)

Mặt khác, hình ảnh dân Do Thái vượt Biển đỏ, tức là đi qua nước để vào đất tự do, cũng  tiên báo trước sự kiện Dân mới của Thiên Chúa - tức Dân Tân Ước ngày nay -  được Chúa Giêsu , Đấng Thiên Sai, dẫn qua nước Rửa tội để được tái sinh trong sự sống mới trước khi được vào “Đất hứa” là Nước Trời để hưởng hạnh phúc bất diệt  với Thiên Chúa là Đấng đã cứu Dân Người nhờ Chúa Kitô.

Nói rõ hơn, qua bí tích Thanh Tẩy, chúng ta trở thành Dân Mới của Thiên Chúa. Nhưng chúng ta chưa được vào Đất Hứa là Nước Trời ngay mà còn phải sống “tạm trú’ trên trần thế này  một thới gian dài ngắn tùy số phận của mỗi người để được thử thách về niềm tin và lòng yêu mến Thiên Chúa đã giải phóng ta qua ách nô lệ của tội lỗi..

Nghĩa là đời sống của Dân Chúa trong Giáo Hội và trên trần thế ngày nay cũng được ví như thời gian 40 năm dân Do Thái sống trong hoang địa  chờ ngày tiến vào Đất Hứa, “ miền đất tràn trề sữa và mật” ( Đnl 6: 3) mà Thiên Chúa đã hứa ban cho các Tổ Phụ của Dân Do Thái xưa kia. Nhưng như đã nói ở trên, Dân Do Thái đã đi trệch con đường Thiên Chúa  truyền cho họ phải đi khị họ phạm những tội nghich cùng Người .Vì thế, Thiên Chúa đã phải than trách họ như sau:

 “Suốt  bốn mươi năm  Dòng giống này làm Ta chán ngán

Ta đã nói : đây là dân tâm hồn lầm lạc

Chúng nào biết đến đường lối của Ta

Nên Ta mới thịnh nộ thề rằng :

Chúng sẽ không được vào chốn yên nghỉ của Ta.” ( Tv 94: 10-11)

Chúa Kitô đến trần gian như một Tân Adong  và Tân Mai-Sen trong tinh thần vâng phục Chúa Cha và với sứ mạng cứu chuộc  cho toàn thể nhân loại khỏi  tội và khỏi chết như Thánh Phaolô đã dạy : “  ..vì một người duy nhất (tức Adam) đã sa ngã mà mọi người bị Thiên Chúa kết án, thì nhờ một người duy nhất ( Chúa Kitô) đã thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng sẽ được Thiên Chúa làm cho nên công chính, nghĩa là được sống.” ( Rm 5:18).

Nhưng muốn được sống hạnh phúc với Chúa , chúng ta cần ý thức rõ điều này: Khi tạo dựng con người Thiên Chúa không cần sự ưng thuận và cộng tác của ai. Nhưng để cứu chuộc con người nhờ công nghiệp của Chúa Kitô, thì Thiên Chúa lại cần sự cộng tác của con người,

Thật vậy, mặc  dù tình thương vô vị lợi của Thiên Chúa và cộng nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô đã quá đủ cho ta được phần rỗi. Tuy nhiên, vì Thiên Chúa không tạo dựng con người như những người máy Robots mà là những tạo vật có lý trí và  ý muốn tự do ( intelligence and freewill) nên Thiên Chúa lại cần sự cộng tác của con người vào việc mưu tìm hạnh phúc đời đời  qua ơn cứu độ. Nói khác đi, Nếu không cậy nhờ lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc  của Chúa Kitô thì không ai có thể làm gì để xứng đáng được cứu rỗi. Nhưng nếu con người không cộng tác vào ơn cứu độ bằng quyết tâm từ bỏ mọi tội lỗi  để sống theo đường lối của Thiên Chúa thì Chúa không thể cứu ai được. Nghĩa là, không thể ỷ lại vào lòng thương xót của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô để rồi không  làm gì hết về phần mình, hay tệ hại hơn nữa là cứ buông thả sống theo ý riêng mình để phạm đủ mọi  thứ tội , thay vì phải  “ chiên đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì có nhiều người  tìm cách vào mà không thể được.” như Chúa Giêsu đã giảng dạy.( Lc13: 24)

Qua cửa hẹp mà vào có nghĩa là khép mình sồng theo đường lối của Chúa và thực thi thánh Ý của Người  để được vào Nước Trời.    

Đó cũng chính là lý do tại sao Chúa Giêsu đã nói với các Tông Đồ xưa kia : “ Không phải bất cứ ai thưa vói Thầy : Lậy Chúa, Lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu ; nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là  Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi.” ( Mt 7 : 21)

Thi hành ý muốn của Thiên Chúa Cha trên trời là thực tâm yêu mến Chúa, cụ thể bằng chính đời sống của mình. Nghĩa là không thể chỉ nói tin yêu Chúa bằng môi miệng bề ngoài mà cần thiết phải diễn tả cách trung thức niềm tin yêu  ấy qua lời nói và việc làm, nhất là  qua việc thi hành với lòng yêu mến những Lề Luật mà Thiên Chúa đã truyền cho Dân Do Thái xưa mà Giáo Hội ngày nay vẫn  đang dạy chúng ta phải tuân giữ và thực hành không sai trệch để được cứu rỗi.

Nói khác đi, không thể nói tôi tin có Chúa, tin Chúa Kitô là Đầng Cứu Chuộc mà lại sống  “văn hóa của sự chết”  để tôn thờ vật chật, tiền bạc, và vui thú vô luân. Không thể tin yêu Chúa và tuân giữ Lề Luật của Người  mà  lai đua đòi theo thói hư tật xấu của những kẻ không có niềm tin để làm ăn bất lương, trộm cắp , lường gạt, gian dối,  rẫy vợ bỏ chồng dù đã có con cái khôn lớn, hay tệ hại hơn nữa là ly dị hay bỏ vợ già để về Việt nam du hý hoặc cưới gái trẻ  đáng tuổi con cháu mình, bất chấp sự chê cười, khinh bỉ của dư luận và thân bằng quyến thuộc...

Tưởng cũng nên nhắc lại Lề Luật của Chúa về phép Hôn Phối, một ơn gọi (vocation) cao quí không thua kém gì các ơn gọi làm linh mục hay nữ tu của những người được thánh hiến để phục vụ cho dân Chúa trong Giáo Hội.Chính Chúa Giêsu đã nâng hôn phối lên bậc bí tích và không cho phép tháo gỡ  khi những người Biệt phái đến hỏi Chúa xem có được phép ly dị vì bất cứ lý do gì không. Chúa đã trả lời rõ như sau: “ ..Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp , loài người không được phân ly.” (Mt 19: 6). Do đó, những ai có ơn gọi sống bậc hôn nhân , phải hết sức quí trọng ơn gọi này để trước hết công tác với Thiên Chúa trong Chương Trình sáng tạo loài người, nghĩa là làm  sinh sôi nẩy nở thêm nhiều người cho đầy mặt đất  ( procreation) và làm chứng cho tình yêu không hề thay đổi của Thiên Chúa đối với nhân loại. Bậc sống nào cũng có những khó khăn và thử thách. Nếu không biết hy sinh, nhẫn nhục, chiu đựng và tha thứ cho nhau, như Chúa luôn chịu đựng và tha thứ cho chúng ta, thì không một hôn phối nào có thể tồn tại lâu bền được. Và nếu cứ hơi xích  mích và bất đồng với nhau  lại đòi ly hôn, ly dị để kiếm người khác thì sẽ chẳng bao giờ tìm được người nào hoàn hảo như mình mong muốn. Vả lại, thử hỏi chính mình đã hoàn hảo chưa mà đòi người khác phải hoàn toàn để sống lâu bền ?

Liên quan đến vấn đề hôn nhân của người Việt, mấy năm  nay đã có rất nhiều đàn ông lớn tuổi và thanh niên Việt Nam đã và đang thi nhau về Việt Nam để “du hí” vô luân và tìm những cô gái trẻ muốn đi Mỹ, đi ÚC hay Canada  để kết hôn. Lại còn có những  người bỏ tiền ra “ mướn” người kết hôn có quốc tịch để được xuất ngoại nữa !. Do đó, những ai có trách nhiệm chuẩn bị hôn phôi và chứng hôn cho họ cần lưu ý là theo giáo luật, nếu đôi hôn phối không thực tâm muốn sống trọn đời mục đích của  hôn nhân mà chỉ lợi dụng  việc kết hôn để thực hiện ý đồ riêng tư,  thì hôn phối ấy  sẽ không thể thành sự được (valid) ( x. Giáo luật số 1096). Vì thể, không thể vì quen biết , nể nang hay được dâng cúng hậu hỹ mà chứng hôn đại cho ai ở vào trường hợp này.

Một điều đáng nói sau hết nữa là, không thể nói  mến Chúa  và tuân giữ Lề Luật của Chúa  mà lại thường xuyên bỏ Lễ ngày Chúa Nhật và các ngày  Lễ buộc quanh năm, nhất là không siêng năng xưng tội và rước Mình Máu Chúa Kitô, là thần lương dưỡng nuôi linh hồn ta trong cuộc lữ hành  tiến về Đất Hứa là Nước Trời mai sau..Thực trạng sống Đạo ngày nay thật đáng buồn đối với nhiều người Công giáo ở nhiều nơi. Họ có thì giờ dư thừa để đi dạ hội dạ vũ, ăn uống vui chơi nhưng không có giờ đi Lễ ngày Chua Nhật, hoặc có đi thì cũng không có giờ để tham dự trọn vẹn một Thánh Lễ. Đó là những người đến trễ sau hai bài đọc hoặc sau cả bài Phúc Âm, và vội ra về đang khi người khác còn lên rước Lễ ! Như vậy làm sao nói được là chu toàn Lề Luật về thờ phượng Thiên Chúa như Giáo Hội dạy ?

Tóm lại, Chúa yêu thương và tha thứ, nhưng chúng ta phải tỏ thiện chí muốn thực tâm  mến  Chúa yêu người, tuân giữ mọi Lề Luật của Chúa để được cứu rỗi. Dĩ nhiên là phải quyết tâm từ bỏ mọi tội lỗi và khước từ văn hóa sự chết để sống Phúc Âm Sự Sống mà Chúa Kitô đã rao giảng và trả giá bằng chính mạng sống của Người qua khổ nạn và tử nạn trên thập giá năm xưa. 

Lm Phanxicô  Xaviê Ngô Tôn Huấn. 

VỀ MỤC LỤC
THA THỨ LÀ MỘT BỔN PHẬN
 

Gia đình ông bà An định cự tại Hoa Kỳ vào đầu thập niên 70 khi 6 người con của họ còn chưa trưởng thành. Sau hơn 35 năm, giờ đây những người con đã thành đạt với những tấm bằng bác sĩ, tiến sĩ, kỹ sư. Có thể nói, già đình ông bà An được cho là có phúc và gặp nhiều may mắn vì sự thành đạt của con cái. Nhưng thực ra, gia đình vẫn không có được sự bình an và hạnh phúc như mong ước. Ông bà vẫn muốn những người con của ông bà phải hoàn hảo hơn, làm nhiều tiền hơn và phải cung cấp ông bà đầy đủ hơn. Điều đáng buồn là ông bà thường hay nói xấu con cái mình với những người bạn. Việc này làm cho tình cảm giữa những người con với ông bà ngày càng rạn nứt. Họ quyết định cung cấp tiền bạc cho ông bà hằng tháng, nhưng sẽ không ghé thăm ông bà vì mỗi lần ghé thăm là mỗi lần diễn ra cãi vã do sự đòi hỏi của ông bà.

Thật không may, một trong những người con của ông bà là cô T. bị thất nghiệp và muốn về sinh sống với ông bà trong một thời gian. Ông bà nhận lời nhưng với điều kiện là cô T. phải trả tiền “thuê” nhà xòng phẳng. Cô T. chấp nhận điều kiện và một thời gian sau, cô đã tìm được việc làm và đã di chuyển về một tiểu bang khác.

Sau khi ổn định, cô T. đã suy nghĩ về ba má mình, về những hành động của ba má mình và đặt câu hỏi. Tại sao ba má mình đã đối xử với mình như vậy. Khi mình có tiền thì đối xử với mình như người con, khi mình thất bại trong cuộc đời thì đối xử mình như là người lạ. Cô T. đặt câu hỏi là mình có nên tha thứ cho ba má mình và tiếp tục giúp đỡ ông bà hay không? Gần đây, do thời tiết lạnh giá ở miền Bắc, cô T. lại nghĩ tới chuyện là mình có nên đưa ba má mình về sinh sống với mình hay không? – Sau khi suy nghĩ, cô T. đã quyết định mời ba má mình về mộtt tiểu bang ở Miền Nam sống chung với mình.

Thưa quí bạn, tưởng chừng như đó là câu chuyện không có thật, nhưng đáng buồn thay, đó là chuyện thật đang diễn ra trong cuộc sống chúng ta. Vậy động cơ  nào đã thúc đẩy cô T. từ thái độ tủi giận chuyển qua thái độ tha thứ và đặc biệt là sống tha thứ một cách cao thượng như vậy?! Cô T. đã tâm sự rằng dù cô có giận ba má và lòng cô dù có chai đá bao nhiêu đi nữa, nhưng khi nghĩ đến giây phút ông bà nằm trên giường bệnh, thì không điều gì có thể ngăn cản việc cô đến thăm ông bà. Vậy nếu sự thật là như thế, thì tại sao mình không làm hòa và chu toàn bổn phận của người con ngay bây giờ hơn là phải đợi đến những giây phút cuối của đời ba má mình? Cô T. đã nhận ra sự thật rằng tha thứ nó không chỉ là một việc như trao tặng một món quà, nhưng còn hơn thế nữa, đối với cô T. tha thứ là một bổn phận. Chính điều này làm cho giá trị con người của cô T. lớn hơn và cao quí hơn.

Thật vậy, con người có lý trí và biết dùng lý trí cho đúng thì sẽ làm cho giá trị con người mình thêm đẹp và hoàn hảo. Người không ngoan là người biết nhìn ra sự thật của cuộc đời và hành xử nó theo tiêu chuẩn vĩnh cửu. Họ biết rằng, những ghen ghét, giận hờn chẳng qua cũng chỉ là những cách cư xử của những người chưa trưởng thành. Còn người trưởng thành nhận ra rằng, tha thứ là một bổn phận mà mình phải thực hiện để tiến trình làm người của mình được trọn vẹn hơn và hoàn mỹ hơn.

Sống Sao Cho Đẹp kỳ này mời gọi chúng ta suy nghĩ về bổn phận của mình, nhất là bổn phận của người con với cha mẹ, và bổn phận giữa anh chị em với nhau. Chính bổn phận giúp cho con người chúng ta sống đúng phẩm giá làm người, chứ không phải việc hơn thua nhau trong cách cư xử.

Lạy Chúa, xin giúp con ý thức bổn phận làm người của mình, nhất là bổn phận phải tha thứ cho người thân của chúng con. Amen.

 

Br. Huynhquảng

VỀ MỤC LỤC
CẦN HIỂU CHỒNG HƠN NỮA

 

Tác phẩm: Cẩm  Nang  Hạnh  Phúc Gia  Đình  Kitô - MỤC VỤ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Tác giả: D. WAHRHEIT (Lm. Minh Anh, GP. Huế tổng hợp biên tập)

 

A6. CẦN HIỂU CHỒNG HƠN NỮA

Chuyện hôn nhân của các vị Hoàng tử, Công chúa luôn là những tin sốt dẻo trên báo chí. Chưa hết xôn xao bàn tán về cơn khủng hoảng trong đời sống vợ chồng của Hoàng tử Charles và Công chúa Diane bên Anh quốc, người ta lại chú ý đến chuyện Công chúa Caroline của tiểu vương quốc Monaco.

Người ta kháo lên rằng, Công chúa Caroline sẽ thành hôn với tài tử Vincent, và lần này hôn lễ sẽ công khai diễn ra trong nhà thờ. Bởi vì mới đây, tòa án tối cao của Giáo Hội Rôma đã tuyên bố cuộc hôn phối của cô vào năm 1978 là không thành. Cô và người chồng đầu tiên đã ly dị ở tòa án dân sự năm 1982. Cô đã làm đơn xin Giáo Hội cứu xét để tuyên bố hôn nhân của cô không thành.

Sau 10 năm điều tra, tòa án tối cao của Giáo Hội xác quyết hôn phối đầu tiên của cô đã không thành sự vì thiếu phán đoán và không trưởng thành.

Thiếu phán đoán về nghĩa vụ trong đời sống vợ chồng, và không trưởng thành để có thể nói lên một sự ưng thuận đầy đủ là hai lý do có thể làm cho hôn phối không thành sự. Nhiều người bước vào đời sống hôn nhân nhưng chưa trưởng thành đầy đủ để đảm nhận những bổn phận của đời sống vợ chồng. Nhiều người cũng chưa trưởng thành đầy đủ để xây dựng tình yêu hôn nhân. Một trong những dấu hiệu của sự thiếu trưởng thành đó là họ không hiểu hoặc không muốn hiểu những khác biệt nơi người phối ngẫu của mình. Những xung khắc đưa đến đổ vỡ thường bắt nguồn từ chỗ không hiểu nhau.

Tiếp tục bàn đến những khác biệt giữa vợ chồng, hôm nay chúng tôi xin được khuyên người vợ trẻ hãy cố gắng hiểu và cảm thông với chồng mình.

1. Một trong những điều cơ bản nhất mà người vợ trẻ nên nhớ, đó là người đàn ông không muốn được đối xử như trẻ con. Dĩ nhiên ai cũng muốn được yêu thương, chiều chuộng, săn sóc. Nhưng người đàn ông không chờ đợi nơi vợ mình một thứ tình yêu mà mẹ ông đã dành cho ông.

Người đàn bà nào cũng có khuynh hướng cư xử với chồng như một người mẹ. Họ lo cho chồng từng li từng tí. Thoạt tiên người đàn ông dễ cảm động về sự chú ý và săn sóc của người vợ. Nhưng người đàn bà càng đối xử với chồng bằng tình mẫu tử thì người đàn ông lại càng cảm thấy mình nhỏ bé lại. Hãy thử tưởng tượng một người đàn ông lúc nào cũng có một người đàn bà bên cạnh mình để nhắc nhở, khuyên răn mình mọi chuyện, từ việc ăn uống đến việc phục sức.

Thái độ cực đoan nào cũng dễ làm cho người khác bực mình. Người đàn ông thèm được săn sóc chiều chuộng. Nhưng một sự chiều chuộng thái quá sẽ cho họ có cảm tưởng họ không phải là một người đàn ông cứng rắn, một người trưởng thành và đáng tin cậy.

2. Người đàn ông tự bản chất thích được độc lập. Kinh Thánh nói, người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ mình để luyến ái và nên một với vợ mình. Lìa bỏ cha mẹ, phải chăng đó không phải là một hình ảnh nói lên nỗi khát khao muốn được tự lập của người đàn ông? Hôn nhân chính là cơ hội để người đàn ông thể hiện nỗi khát khao độc lập ấy.

Một gia đình riêng, một mái nhà riêng, một công việc riêng, đó là thể hiện của tinh thần độc lập nơi người đàn ông. Vai trò chủ động trong gia đình cũng xác quyết tư thế độc lập của người đàn ông. Người đàn ông nào cũng muốn có sự tùng phục của mọi người trong gia đình. Nếu không phải là con người bệnh hoạn thì cũng phải là người có cá tính rất mạnh mẽ để người đàn ông có thể chấp nhận vai trò lu mờ sau lưng người vợ của mình. Người ta hay nói đến những ông Quận công ngớ ngẩn phải làm chồng của các nữ hoàng hoặc của những người đàn bà có chức vụ quan trọng trong một quốc gia.

Người chồng nào cũng cần sự trợ giúp của người vợ. Nhưng lắm khi sự trợ giúp ấy không đáp lại được những chờ đợi của người chồng. Đôi khi sự săn sóc chiều chuộng thái quá của người vợ lại làm tổn thương tự ái của người chồng. Cái khuynh hướng độc lập nơi người đàn ông thường khiến họ tìm mọi cách để thoát khỏi sự kiềm tỏa trong gia đình, nhất là của người vợ.

Những người vợ trẻ nên lưu ý, sự hỏi han ân cần của họ làm cho người chồng cảm thấy thoải mái, nhất là khi gặp những căng thẳng ngoài xã hội. Nhưng khi sự ân cần hỏi han ấy biến thành một thứ hạch sách, điều tra thì dĩ nhiên người chồng sẽ cảm thấy bị tổn thương và mặc cảm. Từ đó họ dễ đi đến chỗ khép kín đối với người vợ.

Cái duyên dáng của người đàn bà chính là sự dịu dàng kín đáo. Bao lâu người vợ vẫn còn giữ được nét dịu dàng kín đáo ấy, họ vẫn còn thu hút và giữ được người chồng.

3. Tự bản chất, người đàn ông nào cũng ích kỷ. Thường họ không nhận ra rằng, họ ích kỷ, vì họ vẫn cảm thấy bị lôi cuốn bởi những chuyện đại sự, những lý tưởng cao đẹp. Do đó, người đàn ông không bao giờ tỏ ra ích kỷ vì tính toán suy nghĩ. Lòng tốt vẫn trổi vượt trong tâm hồn họ. Nhưng dĩ nhiên lòng tốt ấy không được diễn tả một cách trực tiếp như nơi người đàn bà. Đó là điều mà người vợ trẻ nên cố gắng tìm hiểu ở chồng mình.

Lòng tốt nơi người đàn ông thường được thể hiện một cách kín đáo, nhưng cương quyết và bền vững. Một người sẵn sàng hy sinh tất cả để lo cho sinh kế của gia đình. Một người cha sẵn sàng đánh đổi tất cả để cho con cái được nên người. Hình ảnh của một người đàn ông đầu tắt mặt tối ngoài đồng, tại công xưởng, hoặc chạy đôn chạy đáo giữa phố chợ, hẳn đó chỉ có thể là biểu lộ của lòng tốt mà thôi.

Lòng tốt ấy đôi khi cũng được thể hiện bằng sự nghiêm khắc. Người cha nào cũng thương con. Nhưng có thể sẽ lạnh lùng và khe khắt với con để chỉ mong sao cho con nên người. Lòng tốt của người đàn ông khiến họ chú tâm vào công việc đến độ hờ hững, lạnh lùng trong cách biểu lộ tình cảm. Họ có thể quên không nói một lời cám ơn. Họ có thể vô tư đến độ không biết nói một lời khen tặng với vợ. Họ cũng có thể không quan tâm đến những kỷ niệm đáng nhớ, những dịp đáng mừng trong gia đình. Nhưng không phải vì thế mà người vợ sẽ suy diễn rằng, chồng mình không còn yêu thương mình nữa. Đó có thể là một thiếu sót, vụng về nơi người chồng. Nhưng đó không hẳn là dấu hiệu của sự nguội lạnh hay sự thiếu tình yêu nơi chồng.

4. Chúng ta thường nói “gần chùa gọi bụt bằng anh”. Càng gần gũi thân mật, người ta càng dễ coi thường nhau. Điều này càng đúng hơn trong đời sống vợ chồng. Sự gần gũi thân mật giúp hai người hiểu nhau hơn, nhưng đồng thời cũng có thể đưa họ đến chỗ chỉ còn thấy những khyết điểm của nhau.

Người ta chỉ có thể cứu vãn được đời sống vợ chồng khi biết tỏ ra khoan dung và thông cảm. Thông cảm ở đây không chỉ có nghĩa là chấp nhận và tha thứ cho những khuyết điểm của người phối ngẫu, mà còn biết nhìn vào những khuyết điểm ấy cách lạc quan hơn. Nghĩa là coi những khuyết điểm ấy như một cách biểu lộ của những đức tính tốt.

Với một cái nhìn như thế, hẳn người vợ sẽ dễ dàng chấp nhận, thông cảm và tha thứ cho chồng mình hơn. Đạt được một cái nhìn và cách cư xử như vậy là người vợ đã đạt được một bước trong sự trưởng thành nhân cách của mình. Và sống được như thế, tức là thể hiện được ơn gọi làm người của mình hơn. 

Tác giả: D. WAHRHEIT (Lm. Minh Anh, GP. Huế tổng hợp biên tập)

VỀ MỤC LỤC
NHỮNG YẾU TỐ NỒNG CỐT CỦA TRƯỞNG THÀNH TÌNH CẢM

 

[BẢN THẢO]

LINH MỤC GIÁO PHẬN SỐNG TU ĐỨC TOÀN DIỆN

TRONG BỐI CẢNH THỰC TẾ CỦA GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HÔM NAY

Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss

CHƯƠNG MỘT 

LINH MỤC GIÁO PHẬN TƯƠNG LAI

sỐng TỐT đỜi SỐNG đỘc thân LINH MỤC

TRONG BỐI CẢNH GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HÔM NAY

(tiếp theo)

 

F. NHỮNG YẾU TỐ NỒNG CỐT CỦA TRƯỞNG THÀNH TÌNH CẢM

 

F.I. DẤu hiỆu cỦa sỰ thiẾu trưỞng thành 

Có thể xác định được cái tạo nên sự trưởng thành tình cảm không? Ta hãy cố gắng xem xét các thành phần cấu tạo nền tảng của nó để có thể định nghĩa trưởng thành tình cảm như sự hòa điệu giữa trí óc và con tim. Trí óc (Lý trí): là phía hữu lý của con người; khả năng suy nghĩ hợp lý; khả năng theo đuổi mục đích; khả năng lấy quyết định; khả năng điểu chỉnh với thực tại (đối với Freud, đây là “tiến trình đệ nhị”). Con tim: là phía tình cảm của con người; các cảm nhận, các nhu cầu, các ước vọng, các thúc đẩy, các giấc mơ (đối với Freud, đây là “tiến trình đệ nhất”). 

Sự hòa điệu hay hội nhập giữa hai chiều kích căn bản của con người mang lại bình an nội tâm, và đến phiên nó, sự bình an nội tâm tạo nên sự bình an với tha nhân và khả dĩ hòa điệu với thực tại. Để hiểu thấu đáo trưởng thành là gì, chúng ta hãy nhìn hai hình thức không trưởng thành mà cả con tim và lý trí đều mắc phải. 

F.I.1 Sự bốc đồng, hấp tấp

Bộc lộ tình cảm ra bên ngoài và hành động theo sự thúc đẩy, không tự chủ thích đáng, như một đứa trẻ con... là cái người ta thường hiểu là “không trưởng thành”: Coi sự thỏa mãn các nhu cầu là ưu tiên để thỏa mãn các ham muốn; Sự thiếu tự chủ, chẳng hạn trong việc kiềm chế cơn giận bùng nổ hay những khó khăn giới tính. 

Có thể có nhiều cách bộc lộ khác nhau của hình thức không trưởng thành này, tùy thuộc vào các nhu cầu và cảm xúc thoát khỏi sự kiểm soát. Việc này có thể dẫn đến xung đột với tha nhân và xã hội, nếu các hành động do bản năng tác hại cho người khác (như không thể kiểm soát cơn giận hay trạng thái buồn rầu ủ rũ); hoặc xung đột trong bản thân mình, nếu thái độ ứng xử là không thể chấp nhận được đối với lương tâm mình hay ý thức tự trọng (không có khả năng vượt thắng một cảm nhận oán giận đối với người khác).

F.I.2 Sự khắt khe cứng cỏi

Sự hoàn toàn kiểm soát trên cảm xúc và ước muốn của mình sẽ đưa tới hậu quả là đánh mất tính tự phát và thích thú. Người tự kiểm soát được mình thường xem ra “trưởng thành và có trách nhiệm”, như đối nghịch lại với người bị thúc đẩy, bốc đồng. Nhưng một sự kiểm soát như thế thường được bắt rễ trong sự ức chế và được đặc trưng bởi sự khắt khe cứng cỏi. 

Trong sự không trưởng thành có ứng xử nghèo nàn hoặc vì sử dụng không thích hợp hoặc vì sự sử dụng thái quá cơ chế tự vệ. Căn nguyên của tự vệ là sự lo âu. Để kiểm soát nỗi lo âu, người ta cố che đậy chính mình và kẻ khác cái mà người ta không thích. Khi mọi sự tự vệ bị đập tan, người ta gặp phải sự tê liệt hoàn toàn - đuợc gọi là nỗi lo âu hay sự hoảng loạn tấn công, rất giống với cơn đau tim. 

F.I.3 Những chỉ dẫn của sự thiếu trưởng thành

Những chỉ dẫn sau đây có thể giúp khám phá sự có mặt của vài bệnh lý nhẹ hay vài nhược điểm căn bản trong nhân cách bên dưới lối ứng xử không trưởng thành - mặc dù cho đến nay vẫn bình thường.

1) Trong tương quan với bản thân

·        Tinh thần phòng vệ thái quá;

·        Luôn luôn cảm thấy mình bị coi thường;

·        Có những phản ứng mạnh không thích hợp làm tình hình căng thẳng;

·        Tình trạng trống rỗng và khô khan thường xuyên;

·        Thiếu xác tín cá nhân;

·        Cẩu thả và thiếu xác thực trong cuộc sống hằng ngày và trong các nhiệm vụ thông thường. 

2) Trong tương quan với tha nhân.

·        Thui thủi một mình, dường như sống trong một thế giới khép kín của riêng mình;

·        Có khuynh hướng đánh giá thấp kẻ khác và nhìn họ cách tiêu cực, nhất là khi quá lý tưởng hóa bản thân;

·        Người hay gây rối;

·        Tính cáu kỉnh trẻ con khi không vừa ý hay co mình lại;

·        Mánh khoé lôi kéo kẻ khác cho các nhu cầu tập trung của mình;

·        Sự thiếu căn tính bản thân được nhìn thấy trong khuynh hướng lý tưởng hóa các khuôn mặt quyền bính và đồng hóa với họ. 

3) Trong tương quan với thực tại

·        Không có khả năng đối phó cách xây dựng với thực tại;

·        Thường xuyên thiếu óc tập trung;

·        Không có khả năng kiên trì trong nhiệm vụ đơn giản, trừ khi được thường xuyên hướng dẫn hay giám sát. 

    F.I.4 Kết quả đáng suy nghĩ của một cuộc nghiên cứu

·        Thời gian mới vào có 60-80% ứng sinh có những mâu thuẫn. Họ vào với lý tưởng bản thân nhưng bị tác động bởi các mâu thuẫn của mình.

·        Sau một thời gian khá dài, chỉ có một số nhỏ các ứng sinh trên đã lớn lên trong sự trưởng thành tình cảm. Trong số những người còn lại, các mâu thuẫn vẫn thắng thế và các xung đột vẫn không được giải quyết.

·        Thách đố: chương trình đào tạo phải nhìn vào cái tôi sâu xa hơn của mỗi con người. 

F.II. TiẾn đẾn sỰ trưỞng thành

F.II.1 Bốn đường lối căn bản để bảo vệ chính mình

1) Đường lối thứ nhất: Phủ nhận

Chúng ta gạt bỏ sự hiện hữu của chính mối đe dọa hoặc tính nghiêm trọng của nó, nhờ đó chúng ta không để nó ảnh hưởng lên cuộc đời chúng ta. Chẳng hạn “suy tưởng cách tích cực” (dựa trên sự phủ nhận) cho phép chúng ta nhìn khía cạnh thú vị của cuộc đời, nhờ đó chúng ta thấy được bầu trời sáng bạc sau đám mây (trong cái rủi vẫn có cái may, họa trung hữu phúc). 

2) Đường lối thứ nhì: Trốn chạy

Mối đe dọa quá nghiêm trọng khiến chúng ta trốn chạy khỏi nó, và trốn đi càng xa càng tốt nếu chúng ta có thể (tam thập lục kế, vi tẩu thượng sách). Cảm nhận bên trong về sự không an toàn có thể được đặt sai chỗ trên thực tại bên ngoài, khiến chúng ta phải sợ và tránh nó. Đây là những ám ảnh về ma quái, bóng tối, gặp người nọ kẻ kia…

3) Đường lối thứ ba: Chiến đấu

Thay vì chạy trốn, chúng ta chuẩn bị mình để chiến đấu. Chúng ta dùng sự hiểu biết để kiểm soát nỗi lo âu và bất cứ cái gì nó gây nên, chẳng hạn đọc nhiều về thần học luân lý để biết hầu tránh tội. Chúng ta hỏi ý kiến những người khôn ngoan từng trải để tìm sự an toàn, hoặc chúng ta nỗ lực kiểm soát làm chủ tình hình.  

4) Đường lối thứ tư: Mỉm cười

Như cây tre đong đưa theo gió, chúng ta làm cho mình ra  mềm mại để tránh bị nghiền nát. Chúng ta có thể làm như trẻ con để tránh xung đột hay vẫn ở như trẻ con để tránh thách đố. Chúng ta mỉm cười trước những mối đe dọa và tránh những cuộc tấn công bởi tính ngoan ngoãn, dễ phục tùng.  

F.II.2 Tiêu chuẩn đánh giá sự trưởng thành

1) Bốn phương diện của sự trưởng thành

·        Tự ý thức

·        Tự hiểu mình

·        Tự chấp nhận mình

·        Tự thay đổi và tự do quyết định

2) Các tiêu chuẩn đánh giá

     Danh sách 12 tiêu chuẩn sau đây như những chỉ dẫn ứng xử có lẽ tương đối dễ thực hiện, được chia ra ba nhóm chính:

·        Thái độ đối với bản thân

-     Tinh thần cởi mở và hiểu biết chính mình (ngược lại tinh thần phòng vệ);

-     Sự kiểm soát mềm dẻo trên các nhu cầu, cảm xúc, các thúc đẩy (ngược lại tính bốc đồng hấp tấp);

-     Giá trị cam kết;

-     Cách ứng xử có dự đoán trước, không khắt khe cứng cỏi và căng thẳng quá đáng.

·        Thái độ đối với tha nhân

-     Khả năng yêu thương, vừa tình cảm vừa hữu hiệu;

-     Các mối tương quan tốt với đồng nghiệp;

-     Các mối tương quan tốt với người khác phái;

-     Thái độ tốt đối với quyền bính;

-     Khả năng lãnh đạo.

·        Thái độ đối với thực tại

-     Xét đoán phân minh;

-     Khả năng làm việc tốt;

-     Ý thức hài hước

F.III. ThẾ nào là trưỞng thành?

F.III.1 Các đặc tính của sức khoẻ tinh thần

Một nhóm các nhà phân tâm học liệt kê các yếu tố của sức khoẻ tinh thần như sau:

            -   Sự phấn khởi, hoan hỉ

            -   Tinh thần thanh thản lạc quan

-   Khả năng vui thích làm việc

            -   Khả năng vui thích giải trí

            -   Khả năng yêu thương

            -   Khả năng đạt tới mục đích

            -   Không bộc lộ cảm xúc thái quá

            -   Tự biết mình cách sâu sắc

            -   Trách nhiệm xã hội

            -   Phản ứng thích hợp với mọi cảnh huống. 

F.III.2 Các chuẩn mực của một con người trưởng thành

-         Mở rộng ý thức về bản thân: Tham gia vào vài lãnh vực ý nghĩa của nỗ lực nhân loại định hướng cho cuộc sống. Sự trưởng thành tiến tới cân xứng với cuộc sống trở nên tử tế từ cái trực tiếp ồn ào của thân xác và của cái tôi lấy mình làm trung tâm điểm. 

-         Liên kết bản thân với tha nhân có hai khía cạnh: Khả năng sống thân mật sâu xa với tha nhân và Khả năng sống thanh thoát làm cho mình trở thành người không có khuynh hướng chiếm hữu nhưng tôn trọng kẻ khác cách sâu xa. 

-         An toàn tình cảm (chấp nhận chính mình): khả năng mang nổi sự thất vọng (thất bại), chấp nhận lầm lỗi của mình mà không phản ứng quá dữ dội với tha nhân và các biến cố bên ngoài. Một con người như thế đã học được để sống với các trạng thái tình cảm của mình, nhờ đó không bị chúng phản bội lại bằng cách đưa mình vào những hành động bốc đồng quấy rầy cuộc sống hạnh phúc của tha nhân. Người như thế bộc lộ các xác tín và cảm nhận của mình với lòng trân trọng các xác tín và cảm nhận của người khác.

-         Nhận thức thực tế, các kỹ năng, phận vụ: khả năng đánh giá thực tại đúng như nó là, chứ không như mình mong muốn nó trở thành; có những kỹ năng thích hợp để giải quyết các vấn đề khách quan; có khả năng quên mình vì một nhiệm vụ quan trọng. Tóm lại, một người trưởng thành sẽ va chạm gần gũi với một “thế giới thực”, nghĩa là nhìn xem sự vật, con người và các hoàn cảnh theo cái mà chúng là.  

-         Thể hiện mình cách khách quan: Biết rõ mình và hài hước. Biết rõ mình, một sự hiểu biết đầy đủ về những điểm mạnh và những điểm yếu của mình. Luôn luôn có tinh thần hài hước đi cùng. Có khả năng coi thường những cái mình yêu thích (dĩ nhiên bao gồm cả bản thân và tất cả những gì liên quan đến bản thân), và vẫn yêu thích chúng. Cái trái ngược là sự giả bộ màu mè, tức là khuynh hướng xuất hiện bề ngoài mình là cái gì đó mà thực ra không thể.  

-         Triết lý thống nhất đời sống: một sự hiểu biết rõ ràng về mục đích của cuộc đời trong những hạn từ của một lý thuyết dễ hiểu. Nói cách khác, một hệ thống ý nghĩa và trách nhiệm, một định hướng giá trị, trong đó các hoạt động chủ yếu của cuộc sống được thực hiện. 

F.III.3 Một con người trưởng thành thể hiện tốt chính mình

-     Nhận thức cao về thực tại và có những liên hệ thoải mái với nó. Người này phán đoán về các tình huống và con người cách chính xác. Họ không bị đe dọa và hoảng sợ, như người không trưởng thành tỏ ra quá cần thiết đến thê thảm sự chắc chắn, sự an toàn, sự chính xác và mệnh lệnh. 

-     Sự chấp nhận bản thân và thiên nhiên: Họ cảm thấy thoải mái với thiên nhiên và bản tính con người. Họ chấp nhận toàn bộ các nhu cầu và tiến trình tự nhiên, không chán ghét, nhưng trân trọng các đức tính cao hơn làm nên sự trưởng thành nhân bản.

-     Tính tự phát: Khả năng thưởng thức nghệ thuật, những thời kỳ tốt lành, cuộc sống thú vị. Không quá câu nệ tập tục, nhưng có thể nắm lấy những kinh nghiệm tột đỉnh về cuộc đời. 

-     Vấn đề tập trung: Làm việc hiệu quả và kiên trì trong những nhiệm vụ khách quan; có thể hy sinh chính mình trong các vấn đề đích thực mà không bận tâm đến bản thân. 

-     Sự thanh thoát: Cần sự riêng tư và tự lập. Tình bạn và sự gắn bó đối với gia đình không bám dai dẳng, không xâm phạm hay chiếm hữu.  

-     Độc lập với văn hóa và môi trường: Liên hệ gần gũi là khả năng để lấy hay để bỏ các thần tượng của thương trường. Dù nịnh hót hay chỉ trích cũng chẳng làm xáo trộn quá trình phát triển căn bản của mình. 

-     Tính chất mới mẻ trong việc đánh giá: dễ cảm với kinh nghiệm mới.

-     Chân trời không biên giới: quan tâm với bản chất tối hậu của thực tại; những cảm nhận thần bí hay bao la như đại dương là yếu tố tôn giáo trong sự trưởng thành. 

-     Cảm thức xã hội: có một cảm nhận căn bản về thiện cảm và tình thương, bất kể sự giận dữ hay thiếu nhẫn nại thỉnh thoảng xảy ra. Lòng cảm thông đối với đồng loại là một dấu hiệu của sự trưởng thành. 

-     Tương quan xã hội sâu xa và có chọn lựa: có thể có những sự gắn bó cá nhân sâu xa khác thường. Vòng tròn các gắn bó gần gũi có thể nhỏ hẹp, nhưng cũng có thể nhẹ nhàng mở ra với những mối liên hệ bên ngoài quỹ đạo này.  

-     Đặc tính tự do: cảm nhận và tỏ lòng kính trọng đối với bất cứ người nào chỉ vì đó là một cá vị con người; tỏ ra độ lượng trong lãnh vực đạo đức và tôn giáo.

-     Sự chắc chắn đạo đức: biết sự khác biệt giữa cái đúng và cái sai trong cuộc sống thường ngày; không lẫn lộn phương tiện và mục đích, và cương quyết theo đuổi cho bằng được những mục đích mà mình thấy là đúng.  

-     Ý thức thân thiện của tính hài hước: Không chơi chữ, giễu cợt hay mưu kế thù nghịch, nhưng tự phát hài hước.

-     Tính sáng tạo: Cách sống có một sức mạnh chắc chắn và một cá tính gây ấn tượng trên bất cứ cái gì mình làm (viết lách, sáng tác hay công việc).

còn tiếp

VỀ MỤC LỤC
ÔNG BÀ VÀ CÁC CHÁU

 

Con người có bố có ông

Như cây có cội, như sông có nguồn

(Thi Ca Bình Dân) 

Ngày nay, ta ít thấy hình ảnh một “Ông tôi năm nay đã ngoài sáu mươi tuổi. Đầu râu tóc bạc, da đã nhăn, má đã lõm, lưng đã còng, đi đâu cũng phải chống gậy. Ông tôi không phải làm việc gì nặng nhọc nữa”.

Mà là  hình ảnh một ông tôi bây giờ, cũng tuổi đó, tráng kiện hơn, vẫn còn đi làm, tham gia vào công việc xã hội, đồng thời, cùng với  Bà tôi,  rất siêng năng việc đi thăm và góp phần chăm sóc các cháu.

Lập gia đình sớm, có con sớm, lại nhờ tăng tuổi thọ, nên nhiều người, ngoài bốn mươi đã hãnh diện làm ông, bà. Nhiều bà  khi được con gái báo tin có bầu, đã thảng thốt kêu lên: tôi mà sắp làm bà ngoại hay sao! Và nghĩ đến việc sẽ được lên chức, làm bà cả ba, bốn chục năm nữa. Thế là sẽ có rất nhiều thời giờ vui chơi với các cháu nội ngoại, mà lòng thấy rộn ràng.

Niềm vui làm Ông Bà

Lên chức ông, bà có nhiều điều thích thú nhưng cũng mang nhiều trách nhiệm, cả vật chất lẫn tinh thần.

Cháu là quá khứ của ta, là hiện tại và quan trọng hơn, là tương lai của chúng ta.Ta nhìn thấy con ta tái sinh trong đôi mắt của cháu, nghe thấy âm vang của người cha trong tiếng cười của cháu, và cả một nguồn tài năng  phong phú trong tương lai của cháu.

Xưa cũng như nay, ông bà đã có những việc làm rất cao đẹp. “Ông thường ở nhà coi sóc cho cha mẹ tôi và dạy bảo chúng tôi. Thỉnh thoảng lại kể chuyện cổ tích cho chúng tôi nghe, chúng tôi lấy làm thích lắm. Những khi đi học về, thường thường tôi lại đem những chuyện nhà tràng nóí cho ông tôi nghe. Ông tôi lại nhân đó giảng giải cho tôi học được nhiều điều khác nữa.”- Quốc Văn Giáo Khoa Thư.-

Với học giả Nguyễn Hiến Lê: “ Bà đã thay má tôi, nuôi nấng, săn sóc chúng tôi, lại thay cả ba tôi trong sự dạy dỗ chúng tôi nữa. Ngày nay anh em tôi, con cháu tôi, có ai giữ được một chút cái tính khí khái cuả bà, không chịu lụy ai, cái đức cần cù, tiết kiệm, cố chiến đấu để vượt khỏi cảnh nghèo, cái nếp sống đạm bạc, cái tinh thần thanh khiết của nhà Nho, phần lớn là do bà ”.

Muốn làm ông bà cũng đâu có dễ, vì còn tùy thuộc ở các con. Bao giờ chúng dự định có con, và bao nhiêu đứa. Bây giờ các cô các cậu ấy tính toán có kế hoạch lắm. Ưu tiên hàng đầu là dành dụm đủ tiền mua căn nhà lớn, nhỏ cho đôi trái tim vàng. Rồi vợ chồng còn vui chơi, du lịch Á, Âu cho thoả thích sau đó mới nghĩ đến việc có con, nuôi con. Ông bà chẳng quyết định được gì. Chỉ một ngày nào đó, con gái điện thoại, mẹ ơi con đã có bầu, thì vui mừng mà sửa soạn làm bà.

Con mang bầu, đợi con ra đời thì ông bà cũng nôn nóng đợi cháu. Đây là lúc bà truyền kinh nghiệm nuôi con cho mẹ. Đành rằng mẹ có đi học lớp hướng dẫn, nhưng sao bằng kinh nghiệm bản thân của bà với năm lần mang nặng đẻ đau. Bó bụng cho khỏi sệ. Ăn cháo chân giò heo cho có nhiều sữa....

Rồi ông bà cũng sửa soạn để làm bổn phận mình.

Có lớp hướng dẫn làm cha mẹ mà chẳng có lớp hướng dẫn làm ông bà nội ngoại. Mình cũng phải lập kế hoạch để thăm nom cháu, phụ các con chăm sóc cháu chứ. Chắc chắn là khi mẹ sanh thì thế nào bà cũng phải lên đưa mẹ đi nhà thương. Mà phải hỏi lại chàng rể coi nó có đồng ý không. Mẹ thì cứ muốn bà lên ở một tháng để giúp những ngày đầu bỡ ngỡ. Bà thì lại ngại ông ở nhà một mình, ai cơm nước cho ông. Nhiều ông bây giờ than phiền bị vợ bỏ rơi, đi chăm sóc đào, kép nhí cả mấy tháng. Nói vậy thôi chứ ông cũng thích thú chẳng kém gì bà. Được tin vui, ông đã vội vàng kiếm sách coi đặt tên, trai là gì, gái là gì. Cứ làm như con nó ít chữ thánh hiền, không tìm được tên có ý nghĩa.  Lại còn tính hàng tuần chẳng quản ngại đường xa lái xe lên chơi với cháu.

Ông bà xưa và nay

Nhớ lại thuở xa xưa, khi đất nước còn nặng về nghề nông, ông bà là người quyết định mọi việc trong gia đình.  Vì ông bà là chủ ruộng vườn, kiểm soát tài sản, lại nhiều kinh nghiệm trường đời. Con cháu chỉ là phụ thuộc.

Do nhu cầu nhân lực, con cháu nhiều thế hệ sống chung với nhau. Tam, tứ đại đồng đường lại còn được tiếng thơm như nhà đó có phúc. Ngay cả việc dựng vợ, gả chồng cho con cái đều do ông bà sắp xếp, sao cho môn đăng hộ đối, không nghịch với lễ giáo, gia phong của dòng họ.

Giờ đây, thì mọi sự đều thay đổi, theo nhịp tiến hóa chung của nhân loại, chứ chẳng riêng gì người mình. Có người đã chép miệng, nói, con cái đặt đâu, bố mẹ ngồi đó, ngăn cản cũng không xong. Tín ngưỡng, chủng tộc cũng bị coi nhẹ như không.

Theo thống kê, 70% dân bản xứ hiện giờ lập gia đình với người khác quốc tịch. Bảo thủ như người Nhật ở đây cũng gần 65% lập gia đình với ngoại nhân; người Do thái, Hồi giáo, cũng lấy người không cùng tôn giáo.Thành ra chỉ trừ khi mình mất định hướng, chứ việc đòi hỏi có cháu cùng dòng giống là chuyện khó khăn, nhất là khi ta đang sống trong môi trường văn hóa dị biệt.

Vả lại, cũng nên nghĩ rằng hạnh phúc của chúng là quan trọng hơn cả. Còn mọi việc nhờ ở số trời. Nhãn Hưng Yên trồng ở nước ngoài thì nó phải thích nghi với khí hậu ở đây, mong còn chút hương vị quê hương là quý rồi. Đòi hỏi nhiều quá, e rằng chẳng tổn thọ thì cũng mắc các chứng bệnh tâm thần.    

Do nhu cầu kinh tế cũng như kết quả của đòi hỏi nam nữ bình quyền, ngày nay 64% người mẹ vừa đi làm vừa nuôi con. Họ lại còn làm việc nhà nhiều hơn người chồng. Thì giờ dành cho con cũng ít đi. Nếu cách đây ba chục năm, cha mẹ dành 6 giờ một ngày cho con cái thì ngày nay chỉ còn một nửa. Chính ở khoảng trống này, ông, bà đóng một vai trò hữu ích.

Nhưng trưóc hết, nên giữ hai nguyên tắc:

        - không can thiệp vào việc nuôi cháu của các con,

        - dành sự độc lập, quyết định cho các con.

Mình đã có thời kỳ tự lựa chọn, thì bây giờ  nên để chúng cũng có cái quyền đó. Cụ thể hơn, ông, bà có thể giúp đỡ bố mẹ về tài chánh, nhà ở. Vì đa số ông bà ngày nay, nhờ chắt chiu, tằn tiện cũng như đầu tư, cuộc sống có đôi phần dư giả. Hoặc thiết yếu, nhẹ nhàng hơn, ông bà dành thì giờ săn sóc, dạy dỗ cháu, theo ý muốn của cha mẹ chúng 

Phân loại Ông Bà

Từ lâu, nhiều nhà xã hội học đã cố gắng phân loại các hình thái, mẫu mực ông bà. Bảng phân loại của hai tác giả Berniece Neugarten và Karol Wienstein được nhiều người tán thưởng vì tính cách thực tế, dựa trên kết quả của sự trực tiếp phỏng vấn những người đã được làm ông bà. Tài liệu nghiên cứu The Changing American Grandparent của họ, công bố năm 1964, đã được coi như bản hướng dẫn cho nhiều người quan tâm đến vấn đề này. Theo các tác giả trên, có năm mẫu ông bà chính:

1- Ông bà và cháu cùng vui chơi - Đây là mối liên hệ tương đối mới, ít thấy vào thập niên 60-70, và thường thấy ở lớp ông bà dưới 65 tuổi. Đôi bên không có trách nhiệm hay theo một khuôn phép, kiểu cách gì, chỉ lâu lâu gặp nhau, viếng thăm, tự do vui chơi với nhau, rồi chia tay. Ông bà được ngày vui thoải mái mà không có vương víu gì đến việc nuôi nấng cháu. Cháu kể với bố mẹ, hôm nay con chơi với ông bà vui quá.

2- Ông bà cư xử thân tình nhưng theo nghi thức - Tới thăm cháu, cho quà, giúp đỡ, nhiều khi ở lại trông cháu, nhưng không can thiệp, góp ý về việc nuôi cháu của cha mẹ. Đây là những ông bà gương mẫu, thường trên 65 tuổi, đòi hỏi sự lễ phép, sạch sẽ, tự chế của cháu cũng như sự con cháu kính trọng mình.

3- Ông bà là nguồn kinh nghiệm, có quyền uy với con cháu. Ông bà ở nhóm này, nhất là ông, có nhiều tài năng, kinh nghiệm, muốn con phụ thuộc vào mình, còn mình thì sẵn sàng giúp đỡ, khuyên nhủ, gửi gấm để con cháu khá hơn. Quý vị này rất nguyên tắc, đòi hỏi ở con cháu một tinh thần tự lập, lòng lương thiện danh dự, và ý thức trách nhiệm.

4- Gặp nhau trong lễ nghi. Ông bà chỉ gặp các cháu trong những ngày quan trọng  như tốt nghiệp ra trường, sinh nhật, để chung vui, chúc mừng rồi lại lui vào hậu trường. Ông bà đối xử rất tốt với các cháu nhưng giữ một khoảng cách, ít gặp và đặt nhẹ vấn đề quyền uy, trách nhiệm.

5- Mẫu ông bà thay thế cho cha mẹ .  Ông bà hầu như thay thế cha mẹ hoặc lãnh một phần lớn trách nhiệm trong việc nuôi nấng, dậy dỗ cháu. Bố mẹ sáng trước khi đi làm, đưa cháu lại nhà ông bà, rồi chiều về đón.

Nghiêm trọng hơn là khi bố mẹ vì lý do nào đó, như tâm bệnh, ghiền thuốc… không hoàn tất thỏa đáng việc nuôi con, ông bà tình nguyện  lãnh trách nhiệm hay sau khi có phán quyết của toà án. Đây là một sự hy sinh lớn lao của ông bà với những gịot máu của nhà mình, không muốn để chúng phải chịu ảnh hưởng xấu hay đi làm con nuôi người ngoài.

Ông, bà hãnh diện làm việc này, nhưng phải trả một giá quá đắt là mất phần riêng tư trong những ngày cuối của đời mình, cũng như không còn thì giờ giao du với bạn bè. Nhưng lương tâm, trách nhiệm được đặt lên hàng ưu tiên.Theo thống kê thì hiện nay ở Mỹ có hơn 4 triệu cháu ở với ông bà.

  Cháu đối với ông bà

Khi được hỏi các cháu nghĩ gì về ông bà thì câu trả lời thường là: ông bà vui tính, thông cảm được, thương yêu nhẹ nhàng. Ông bà là người tin cẩn để tâm sự khi có vấn đề không nói với cha mẹ được.

Ông bà thường kể lại nguồn gốc của gia đình, dòng họ. Những tư tưởng, khuôn phép về đạo đức, đặc tính cuả gia tộc thường được ông bà rỉ rả nói để gây dựng một căn bản tốt lành trong tâm khảm các cháu. Chỉ bằng sự có mặt thôi, ông bà cũng mang lại cho các cháu một niềm tin, một sự an tâm thế hệ, cũng như sự trường tồn của gia đình. Ông bà còn là mối trung gian, hòa giải khi các cháu có những khác biệt với cha mẹ.

Cháu nhìn ở ông bà như mẫu người để cháu noi gương, bắt chước, như người thầy truyền lại cho cháu những kinh nghiệm, kiến thức thu lượm trong suốt cuộc đời. Ông bà là nơi an toàn để cháu nương tựa, khi cần.

Nếu cứ thuận buồm xuôi gió thì tình giữa ông bà và các cháu cứ nhẹ nhàng diễn ra.  Ông bà tới thăm cháu, cháu tới thăm ông bà. Quà cáp trao đổi. Điện thoại thăm nom. Mà ông bà cũng đừng quên bố mẹ chúng. Con cái từng than phiền: Bây giờ bố mẹ tôi chỉ hỏi han đến thằng cu thôi, còn chúng tôi thì bị lãng quên rồi. Đến thăm cũng nên báo trước, tránh xáo trộn chương trình cuả con, cháu.

Ngang trái trong tình ông bà-cháu

Cuộc đời có những bất hạnh, rủi ro nhiều khi không hẹn mà đến. Cháu thiếu tình thương hoặc mẹ hoặc cha.  Đôi khi thiếu cả hai.

Ngày nay người ta ước lượng tới 24% con sống với mẹ, 3% sống với cha và 4% không cha không mẹ. Chỉ có 69% con có cả cha lẫn mẹ. Không còn yêu nhau nữa. Không hòa thuận, không còn cảm thấy thương yêu nhau. Sẩy đàn, tan nghé. Ông bà lại ghé vai gánh vác, lãnh trách nhiệm phụ giúp nuôi cháu mình. Thực là cháu bà nội tội bà ngoại hoặc ngược lại.

Cũng có trường hợp, con còn quá trẻ để có thai hoặc lập gia đình, rồi khi có cháu, lại cũng phải nhờ tới sự giúp đỡ của ông bà, cà vật chất cũng như tinh thần.

Nhiều ông bà mang cháu về nuôi nấng, dậy dỗ, thay cha mẹ chúng. Các cháu khi tới tuổi hiểu biết, có những nỗi buồn vắng cha mẹ, cũng như bạn bè đàm tiếu, ông bà lại lo giải quyết. Nhiều nhà xã hội học cho ý kiến là ta nên nói rõ hoàn cảnh của bố mẹ chúng, kẻo khi chúng tìm ra sự thực thì sẽ mất nốt niềm tin chót còn lại ở mình.          

Cũng có trường hợp, khi vợ chồng chúng nó nửa đường đứt gánh, nó mang cháu mình ra đi, rồi giận cá chém thớt, không cho ông bà gặp cháu, gây đau lòng cho cả già lẫn trẻ.

Mong rằng những dứt tình này ít xẩy ra, ngõ hầu tấm thân già khỏi phải gia nhập các tổ chức nhân quyền.

Để đòi quyền làm ông bà, như hiện đang xẩy ra tại một vài quốc gia Âu Mỹ.

 

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức M.D.  Texas-Hoa Kỳ

 
VỀ MỤC LỤC
SĐB Chuyện phiếm của Gã Siêu

 

Trong tiếng Việt, người ta hay dùng kiểu viết tắt trong nhiều trường hợp. Chẳng hạn như về học vị hay chức tước :

Ts có nghĩa là Tiến sĩ.

Bs có nghĩa là Bác sĩ.

Gs có nghĩa là Giáo sư.

Lm có nghĩa là Linh mục…

Hiện giờ, người ta cũng hay dùng những chữ cái đầu tiên để đặt cho thương hiệu của mình.

Trong một bài báo mới đây bàn về phong trào xơi tiết canh lòng lợn, để có số đỏ và lấy hên cho công việc làm ăn, người ta đã nói đến những nhà hàng, những quán ăn tại Saigon nổi tiếng về món “lolotica”.

Cũng có công ti chuyên mua và bán hột vịt lộn đã tự đặt cho mình cái tên là “Hovilo”.

Gã còn nhớ vào khoảng năm 1981, cuộc sống còn chồng chất nhiều khó khăn. Công việc đồng ruộng thì nhiều vất vả, hơn nữa lại không quen, bởi vì lúc bấy giờ gã chỉ là một thư sinh, dài lưng tốn vải ăn no lại nằm, có trói gà thì cũng chẳng chặt, vì thế gã đành phải chuyển hệ, tập tễnh bước vào nghề nuôi heo.

Gã làm quen và học hỏi kinh nghiệm nơi những vị…thâm niên trong nghề, từ khâu chọn mua heo giống, đến khâu chế biến thực phẩm bằng công thức, dựa theo những sản phẩm của địa phương mình, như gạo, cám, cá, bột xương, bột xò…Từ việc xây dựng chuồng trại, đến việc chữa trị những chứng bệnh thông thường. Với một “bồ hiểu biết” như vậy, gã bèn lăn xả vào cái nghề bất đắc dĩ này.

Tuy nhiên, chuyện đầu tiên gã nghĩ tới để heo mau lớn, đó là phải xổ giun sán. Vì nếu thực phẩm vừa mới đưa vào đến ruột, đã bị bọn giun sán, loài ký sinh sống bám, sống nhờ… phỗng tay trên, thi nhau xơi trước, thì còn gì nữa đâu để con heo phát triển.

Và thế là lại một lần nữa, gã phải thỉnh ý những “chuyên viên chuồng trại” xem loại thuốc nào hiệu nghiệm hơn cả. Họ bảo :

- Ông cứ ra tiệm thú y, mua và quất cho mỗi con một liều TGS là xong ngay.

Gã ngẫm nghĩ không hiễu TGS là cái thuốc quái quỷ gì mà “linh” quá vậy ? Sau khi cầm những gói thuốc trong tay,  gã mới ngộ ra rằng :

- TGS chính là Trị Giun Sán.

Đơn giản chỉ có vậy mà gã cũng chậm…tiêu.

Cách đây khá lâu, để khử trừ nạn cướp bóc vốn xảy ra hằng ngày, nhất là vào những lúc đêm hôm khuya khoắt trên những còn đường vắng vẻ, ngành cảnh sát công an đã thành lập một lực lượng đặc biệt, mang tên gọi là SBC, có nghĩa là Săn Bắt Cướp.

Còn cách đây không lâu, báo Công An Thành Phố có một bài viết mang tựa đề “Theo chân tổ  SĐB”. Chỉ mới liếc qua cái tựa đề này mà thôi, gã đã phải bỏ ra cả phút đồng hồ để động não xem SĐB nghĩa là gì. Tức anh ách vì đầu óc mình tối tăm không đoán ra nổi. Đến khi đọc bài viết thì mới à lên một phát và rất lấy làm thú vị :

- SĐB có nghĩa là “Săn Đái Bậy”

Số là thành phố Sàigòn từ năm ngoái cho đến năm nay, thiên hạ vẫn còn đang phát động phong trào “Vì cuộc sống văn minh đô thị”. Và để cho khuôn mặt Sàigòn được văn minh và dễ thương, đúng với truyền thống của “Hòn ngọc Viễn Đông”, người dân cần phải giữ gìn vệ sinh công cộng, trật tự giao thông và nhiều chuyện lỉnh kỉnh khác nữa…Trong việc giữ gìn vệ sinh công cộng, ngoài việc không được xả rác bừa bãi, lại còn thêm cái việc không được…đái bậy.

Đúng thế, theo tác giả Hoài Giang – Thanh Thủy của bài viết, thì người ta đã thành lập Đội Quản lý Đô thị. Nhiệm vụ của những người làm công tác thuộc đội này, ngoài việc xử phạt những trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông, trật tự lòng lề đường, còn có chức năng khá đặc biệt là xử lý các trường hợp vi phạm liên quan đến vệ sinh môi trường, trong đó có việc đái bậy nơi công cộng.

Vì thế, tổ  SĐB được hình thành và trực thuộc Đội Quản lý Trật tự Đô thị. Dĩ nhiên SĐB chỉ là kiểu nói vui của những người trong tổ, để chỉ công việc rất đặc biệt này mà thôi.

Mục đích của SĐB là chuyên môn săn lùng những kẻ “trút bầu tâm sự” ở những gốc cây, những công viên, những tường vách…nghĩa là trút ở những nơi không được phép trút.

Tình trạng vô tư “giải quyết nỗi buồn” ngay giữa thanh thiên bạch nhật từ lâu đã trở thành một căn bệnh “mãn tính” và hiện đang có chiều hướng gia tăng và liên tục phát triển, bởi vì ngày càng có nhiều người, chẳng mắc bệnh “đái đường, thế mà lại thích đứng khơi khơi ngoài đường để “xả”, để “trút”!

Cũng theo tác giả bài viết, thì việc săn lùng và biên phạt những hành vi kể trên cũng nhiêu khê và rắc rối, chứ chẳng dễ dàng và ngon lành gì, bởi vì phải bắt tại trận, nghĩa là phải “tóm” được đúng nơi và đúng lúc, nghĩa là ngay khi can phạm đang “hành sự”, rồi lại còn phải thêm bằng chứng với hình ảnh cụ thể, để can phạm hết đường chối cãi…

Theo chân tổ SĐB của Quận 1, tác giả đã ghi lại một vài trường hợp điển hình :

Trường hợp thứ nhất : Săn hụt.

Vào một buổi chiều đẹp trời, sau chầu nhậu sương sương, một người đàn ông bèn tấp vào gốc cây…rồi vô tư kéo khóa quần “trút bầu tâm sự”.

Vừa lúc đó, tổ chuyên xử phạt những người đái bậy thuộc Đội Quản lý Trật tự Đô thị quận 1 xuất hiện. Vừa nhác thấy, người đàn ông đã ngay lập tức vội vã lủi nhanh vào khuôn viên Cung văn hóa Lao Động, khóa quần còn chưa kịp kéo lên.

Vì không kịp ghi lại chứng cứ bằng hình ảnh, nên những người làm công tác đặc biệt này đành chịu thua, không thể phạt được gì.

Khi được hỏi vì sao lại tè bậy, mà không vào nhà vệ sinh công cộng, các phạm nhân thường đưa ra những lý lẽ như sau :

- Nhà vệ sinh công cộng quá đông, quá xa và lại quá bẩn.    

- Vào nhà vệ sinh công cộng thì tốn tiền. Mỗi lần 2.000 đồng.

- Người khác cũng tè bậy chứ đâu phải chỉ có mình tôi.

- Đang gấp, nên đứng ngoài đường cho…lẹ.

Trường hợp thứ hai : Phụ nữ.

Có những phụ nữ bán hàng rong, khi “bí” cũng không chịu vào nhà vệ sinh công cộng, mà…quây mấy cái thúng đựng hàng hóa lại, rồi ngồi ở giữa mà…tè.

Gặp trường hợp này, thì tổ SĐB đành chào chua.

Cũng như trường hợp người tè bậy đưa giấy bác sĩ chứng nhận mắc bệnh về thận. Và tổ SĐB cũng đành phải bó tay.

Kết thúc bài viết, tác giả đã cho biết : Chỉ riêng quận 1, quận trung tâm của thành phố mà thôi, trong năm 2007 đã lập được một thành tích đáng nể :

Mức phạt cho mỗi lần đái bậy ngoài đường là 80.000 đồng. Nếu tái phạm sẽ bị phạt 100.000 đồng.

Trong năm 2007, Đội Quản lý Đô thị quận 1 đã xử lý 2.045 trường hợp liên quan đến vệ sinh môi trường, trong đó hành vi đái bậy nơi công cộng cũng không phải là ít.

Đọc xong bài báo và ghi lại một vài nét đại cương như ở trên, bỗng dưng gã cảm thấy buồn hơi bị nhiều. Gã tự hỏi :

- Chẳng biết có nước nào trên thế giới thành lập được một lực lượng đặc biệt như tổ SĐB của Việt Nam không nhỉ ?

Còn đâu nữa bài hát của Y Vân (?) :

- Sàigòn đẹp lắm, Sàigòn ơi, Sàigòn ơi!

Còn đâu nữa hình ảnh của “hòn ngọc Viễn đông” với những con đường có lá me bay, đi dưới những vòm cây đan chéo vào nhau, như đi trong lòng một ngôi thánh đường cổ kính.

Nhưng có lẽ điều đáng buồn hơn cả, đó là cái tinh thần chung, cũng như cái ý thức cộng đồng và trách nhiệm của người Việt mình hơi bị kém, thành thử mới ra…nông nỗi này.

Trong những năm vừa qua, ở Việt Nam gã thấy xuất hiện hai chữ, vốn được báo chí và nhiều người sử dụng, đó là hai chữ “của chùa”.

Chữ chùa ở đây chẳng liên quan đền miếu hay thánh thất chi cả, mà đơn giản chỉ có nghĩa là…chung. Của chùa là của chung và nhất là của nhà nước.

Mà đã là của chung, thì ta mặc sức xài, mặc sức dùng, chẳng cần phải tiếc xót, chẳng cần phải so đo tính toán.  Tiền bạc đã có người thanh toán. Hư hỏng đã có người sửa chữa. Cái “não trạng” cha chung không ai khóc”, dường như đã bén rễ sâu vào tim óc của người Việt chúng ta.

Chẳng hạn như tại công sở, thì điện do xí nghiệp của nhà nước cung cấp, nên được liệt vào hàng của chùa. Bởi đó,  ta cứ vô tư mở quạt, mở máy lạnh ở nơi làm việc và khi về cũng chẳng cần tắt. Của chùa mà.

Điện thoại trong công ty cũng là của chùa, nên ta cứ vô tư gọi để tán dóc với nhau, phe đờn ông con giai thì rủ nhau đi nhậu, còn phe đờn bà con gái thì tâm sự vụn đủ các thứ chuyện, từ chuyện trong nhà đến chuyện ngoài ngõ, từ chuyện trên trời đến chuyện dưới đất, từ chuyện vợ chồng đến chuyện bồ nhí…Lắm lúc như muốn nấu cháo nhừ cả chiếc điện thoại mà vẫn chưa chịu gác máy. Của chùa mà.

Cái não trạng này xuất phát từ một quan niệm sống, đó là đặt cái riêng lên trên cái chung, làm gì thì làm miễn là mình có lợi, miễn là mình được việc thì thôi. Quan niệm này được áp dụng vào nhiều lãnh vực khác nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, gã chỉ đề cập tới phạm vi đường phố mà thôi.

Trở lại vấn đề SĐB, một hướng dẫn viên du lịch đã tâm sự trên báo Phụ Nữ Chủ Nhật, số 32, ra ngày 21 tháng 8 năm 2005, như sau :

Một hôm, đoàn khách nước ngoài đang chụp hình lưu niệm tại nhà thờ Đưc Bà, bỗng có một chiếc xe @ chở hai thanh niên tấp vào bên hông nhà thờ, trước con mắt ngạc nhiên của những du khách, hai thanh niên kia vẫn cứ vô tư “trút bầu tâm sự” vào tường, rồi lên xe bỏ đi. Sự ngạc nhiên của những du khách đã được chuyển thành câu hỏi dành cho tôi :

- Bộ đó là thói quen của người thành phố bạn hả ?

Tôi chẳng biết giải thích ra sao, chỉ biết chống chế :

- Chắc hai người đó say rượu.

Sau đó, tôi mau chóng chuyển qua đề tài khác và tôi biết họ không hài lòng với cách trả lời của tôi.

Khi đoàn qua đường Đồng Khởi – Nguyễn Du, bỗng hai du khách lại gần tôi với dáng vẻ bối rối, họ nói ra chuyện họ đang cần :

- Xin lỗi! Bạn có thể cho tôi biết nhà vệ sinh ở đâu ?

Chẳng biết chỉ cho họ nhà vệ sinh nào, vì quanh đấy không có lấy một nhà vệ sinh công cộng, tôi đành dẫn hai du khách vào một quán ăn gần nhất, giải thích với họ để họ hiểu, rồi kêu một chai nước uống ngồi chờ. Xong việc trở ra, họ nói nhỏ với nhau :

- Thật kinh khủng.

Thiết tưởng hai chữ “kinh khủng” trên đã quá đủ để diễn tả tình trạng thiếu trách nhiệm, thiếu tinh thần chung của những người sử dụng nhà vệ sinh nơi đó.

Sàigòn là một thành phố xinh đẹp và hiện nay những tòa nhà nhiều tầng và hiện đại mọc lên như nấm, như để cạnh tranh với những thành phố lớn trên thế giới,  vậy mà gã vẫn bắt gặp đâu đó trên các bức tường hai chữ “Cấm đái” một cách thô thiển.

Và hình như chỗ nào có hai chữ đó, thì lại càng được chọn làm điểm hẹn để mà…tè. Thành thử đi qua những nơi ấy, thì phải bước cho thật nhanh, hay chịu khó bịt mũi và nín thở, vì xú khí bốc lên nồng nặc. Ai khó chịu mặc ai, miễn là ta xả được cái tâm sự buồn trong bụng thì thôi.

Cũng từ quan niệm “làm gì thì làm miễn là mình có lợi, miễn là mình được việc thì thôi”, một cái tật khác góp phần làm nhếch nhác thành phố, đó là cái tật khạc nhổ và xả rác một cách bừa bãi.

Mấy ông bạn nhậu, thì ngồi đâu nhổ đấy. Hình như họ phải nhổ bớt nước bọt đi cho đỡ nhạt miệng, thì nhậu mới ngon và mới được lâu, bất chấp những cái nhăn mật và khó chịu của những người chung quanh. Bởi vì đối với những người này,  thì đó là một thói quen, khó có thể sửa đổi.

Còn việc xả rác nơi công cộng, cũng chỉ là chuyện nhỏ. Quan sát một tiệm phở, gã thấy khách ngồi ăn vô tư cho giấy lau bát lau đũa, cũng như những thứ thừa thãi như cọng rau, chiếc tăm xuống đất…Và chỉ trong một thời gian rất ngắn, tiệm phở bỗng trở nên một bãi chiến trường, ngổn ngang những thứ phế thải.

Có lần bước vào một chung cư ở bến Phạm Thế Hiển gã đã phải một phen kinh hồn khiếp vía. Gầm cầu thang là nơi cắm dùi của những kẻ vô gia cư. Ban ngày đi kiếm ăn chỗ này chỗ khác. Ban tối kéo về địa chỉ trên làm chốn tựa đầu cho giấc ngủ qua đêm.

Dọc theo hành lang là những gói rác. To cũng có mà nhỏ cũng có. Ấy là chưa kể những rác rưởi rơi vãi chỗ nào cũng có. Hành lang hay lối đi là phần đất chùa, mặc sức oanh kích, miễn sao phòng mình sạch sẽ và thơm tho là được rồi. Thậm chí có những người ở lầu trên vô tư ném rác xuống dưới. Chẳng cần biết những thứ rác ấy phiêu bạt nơi nao.

Lòng lề đường cũng vậy, là phần đất chùa, nên ta cứ việc xả vì sẽ có người đến quét và thu hồi lại.

Chẳng hạn khi ngồi trên xe hơi, nhất là với mấy cô bạn gái, họ  xơi đủ thứ : Nào trái cây, nào bánh kẹo, hầm bà lằng xáng cấu. Khi xơi xong, họ cứ thản nhiên ném xuống đường các thứ rác rưởi từ vỏ nhãn, vỏ chôm chôm, lõi bắp…đến các thứ giấy gói bánh, gói kẹo.

Thậm chí có kẻ còn ném nguyên cả một bịch ni lông chứa đầy những thứ họ nôn ra vì bị say xe. Vô phúc cho ai đi qua, bị cái bịch ấy rơi vào đầu, thì cũng gắng mà chịu, chạy vội về nhà tắm gội và thay quần áo, chứ biết kiện ai bây giờ. 

Chính quan niệm “làm gì thì làm miễn là mình có lợi, miễn là mình được việc thì thôi”, đã góp phần cho nạn kẹt xe tại thành phố. Thực vậy,  sau khi tan sở, ai cũng muốn mau chóng trở về nhà. Vì vậy, vào giờ cao điểm, xe cộ ùn tắc là lẽ dĩ nhiên. Thế nhưng, nếu người người đều tuân thủ luật giao thông, thì sự ùn tắc đó sẽ từ từ được giải quyết, không đến nỗi bị kẹt cả tiếng đồng hồ.

Đàng này, người ta chỉ sợ ông cảnh sát đứng bên lề đường và lăm le biên phạt,  còn hệ thống đèn xanh đèn đỏ chỉ là chuyện nhỏ, người ta coi như pha, để rồi mặc sức luồn lách mà ngoi lên phía trước, được tí nào hay tí đó. Nếu không luồn lách được, thì tranh thủ leo lên vệ đường và dọt cho lẹ. Vì thế, đã kẹt lại càng kẹt hơn. Đã ùn tắc lại càng ùn tắc hơn.

Tóm lại, yếu tố quyết định cho mọi công việc, chính là yếu tố con người. Bởi đó, các cụ ta ngày xưa đã có lý khi khuyên nhủ con cháu :

- Phải tu thân trước đã, sau mới tề gia, trị quốc và bình thiên hạ.

Muốn đổi mới gia đình và xã hội, thì phải đổi mới tự bản thân. Muốn cho Sàigòn nói riêng và các thành phố khác trên đất nước này nói chung, có được một nếp sống văn minh, không hổ thẹn với bè bạn bốn phương, thì cần phải giáo dục con người Việt Nam có được cái tinh thần chung, cũng như cái ý thức cộng đồng và trách nhiệm.

Không biết có phải do giáo dục, hay do “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, mà những người Việt sống ở nước ngoài, khi về quê hương,  đã cư xử một phần nào giống với những người phương Tây, đó là trên môi miệng của họ  có những chữ như :

- Xin lỗi, cám ơn…

Khi mọi người đã có được cái tinh thần chung và ý thức trách nhiệm, thì chẳng cần phải sử dụng tới tổ SĐB, mà Sàigòn vẫn xứng đáng với tên gọi là hòn ngọc Viễn Đông :

- Sàigòn đẹp lắm, Sàigòn ơi, Sàigòn ơi!

Gã Siêu  gasieu@gmail.com

 

VỀ MỤC LỤC

- Mọi liên lạc: Ghi danh, thay đổi địa chỉ, đóng góp ý kiến, bài vở..., xin gởi về địa chỉ

giaosivietnam@gmail.com

- Những nội dung sẽ được đề cao và chú ý bao gồm:

Trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong việc mục vụ của Giáo sĩ;  Những tài liệu của Giáo hội hoặc của các Tác giả nhằm mục đích Thăng tiến đời sống Giáo sĩ; Cổ võ ơn gọi Linh mục; Người Giáo dân tham gia công việc “Trợ lực Giáo sĩ” bằng đời sống cầu nguyện và cộng tác trong mọi lãnh vực; Mỗi  Giáo dân phải là những “Linh mục” không có chức Thánh; Đối thoại trong tinh thần Bác ái giữa Giáo dân và Giáo sĩ… (Truyền giáo hay xây pháo đài?)

- Quy vị cũng có thể tham khảo những số báo đã phát hành tại

www.conggiaovietnam.net

Rất mong được sự cộng tác, hưởng ứng của tất cả Quí vị

Xin chân thành cám ơn tất cả anh chị em đã sẵn lòng cộng tác với chúng tôi bằng nhiều cách thế khác nhau.

TM. Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam

Lm. Luca Phạm Quốc Sử  USA

 

 

Duoc chon giua loai nguoi va cho loai nguoi; GIAO SI: Xuat phat tu giao dan, hien dien vi giao dan va cay dua vao giao dan, de cung lam VINH DANH THIEN CHUA

*************