Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam

 

 

 

ĐỰƠC CHỌN GIỮA LOÀI NGƯỜI
VÀ CHO LOÀI NGƯỜI  (x. Dt, 5.1)

 

GIÁO SĨ:

Xuất phát từ giáo dân, hiện diện vì giáo dân và cậy dựa vào giáo dân

 

ĐỂ CÙNG LÀM VINH DANH THIÊN CHÚA

 

www.conggiaovietnam.net                          giaosivietnam@gmail.com

Đặc San Điện Tử    Giáo Sĩ Việt Nam    Số 128, Chúa Nhật 19.09.2010


MỤC LỤC 

ĐỨC GIÊSU CỨU THẾ: MỘT QUà TặNG CHO Á CHÂU           ĐTC. Gioan Phaolô 2

NẾU ĐỒNG TIỀN BIẾT NÓI                                                                PM. CAO HUY HOÀNG

“GIÁO HỘI THUỘC VỀ CÁC CON!”                                                     THIÊN PHONG  (dịch)

Phải tôn trọng Giáo lý, Giáo luật, Phụng vụ và Kỷ luật Bí tích như thế nào?       Lm. PX. Ngô Tôn Huấn

NGỤ NGÔN THỜI BẤN LOẠN (KỲ 13)                                                 Gioan Lê Quang Vinh

NGỪA THAI HAY PHÁ THAI - LỘT MẶT NẠ THUỐC PHÁ THAI “ELLA”       Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, M.D.

Căn Nhà                                                                                                       Br. Huynhquảng

NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA HÔN NHÂN (2)                                           Lm Lê Văn Quảng Psy.D.

SỐNG TỐT MỐI TƯƠNG QUAN VỚI CHỒNG LÀ TỰ HOÀN HẢO HÓA BẢN THÂN     Lm. Minh Anh biên tập

KỸ NĂNG CHUYÊN BIỆT: LINH HƯỚNG                   Lm. Micae-Phaolo Trần Minh Huy, pss.

SỐNG VỚI THẬN SUY                                                                  Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức M.D.

DẠY VỢ HAY VỢ DẠY -                                                               Chuyện phiếm của Gã Siêu


ĐỨC GIÊSU CỨU THẾ: MỘT QUà TặNG CHO Á CHÂU

 

TÔNG HUẤN "GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU" (ECCLESIA IN ASIA)

Nguồn:  http://www.simonhoadalat.com

 

CHƯƠNG II

ĐỨC GIÊSU CỨU THẾ: MỘT QUà TặNG CHO Á CHÂU

Quà tặng Đức Tin

10.    Trong quá trình thảo luận của Thượng Hội Đồng về những thực tại phức tạp tại Á Châu, thì điều càng ngày càng trở nên rõ ràng đối với mọi người là: sự đóng góp duy nhất của Giáo Hội cho các dân tộc trên lục địa là rao giảng về Đức Giêsu Kitô, Thiên Chúa thật và người thật, Đấng Cứu Thế độc nhất và duy nhất cho mọi dân tộc (35). Điều phân biệt Giáo Hội với những cộng đồng tôn giáo khác, đó là niềm tin của Giáo Hội vào Đức Giêsu Kitô; và Giáo Hội không thể cất dấu ánh sáng đức tin quí báu dưới cái thùng (x. Mt 5, 15), bởi vì sứ mạng Giáo Hội là chia sẻ ánh sáng đó với mọi người. "[Giáo hội] muốn trao tặng đời sống mới Giáo Hội đã gặp được trong Đức Giêsu Kitô, cho tất cả các dân tộc tại Á Châu đang đi tìm sự viên mãn của cuộc sống, để họ có thể sống hiệp thông với Chúa Cha và Con của Người là Đức Giêsu Kitô trong quyền năng Chúa Thánh Thần" (36). Niềm tin vào Đức Giêsu là điều gợi hứng cho công trình phúc âm hoá của Giáo Hội tại Á Châu, một công trình thường được thực thi trong những hoàn cảnh khó khăn và còn nguy hiểm nữa. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng ghi nhận rằng việc rao giảng Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế duy nhất, có thể gây nên những khó khăn đặc biệt trong nền văn hoá của các ngài, lý do là nhiều tôn giáo ở Á Châu dạy chính mình là những biểu lộ thần linh đem lại ơn cứu rỗi. Thay vì làm nản lòng các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, những thách đố mà các ngài gặp phải khi nỗ lực Phúc Âm hoá, lại là một động cơ lớn hơn giúp các ngài cố gắng chuyển đạt "đức tin mà Giáo Hội tại Á Châu đã lãnh nhận từ các Tông đồ và bảo tồn cùng với Giáo Hội của mọi thế hệ và mọi nơi" (37). Thật vậy, các Ngài bày tỏ xác tín rằng "con tim của Giáo Hội tại Á Châu sẽ không an nghỉ cho tới khi toàn cõi Á Châu được an nghỉ trong bình an của Đức Kitô, Chúa Phục Sinh" (38).

Đức tin của Giáo Hội vào Đức Giêsu là một quà tặng đã lãnh nhận và một quà tặng cần được chia sẻ; đó là quà tặng lớn lao nhất mà Giáo Hội có thể trao tặng cho Á Châu. Chia sẻ chân lý của Đức Giêsu Kitô với kẻ khác, là một bổn phận chính thức của tất cả những ai đã lãnh nhận quà tặng đức tin. Trong thông điệp Redemptoris Missio, tôi đã viết rằng: "Giáo Hội, và tất cả Kitô hữu trong Giáo hội, không thể che giấu hay giữ riêng cho mình sự mới mẻ và giàu có này mà họ đã nhận được do lòng nhân từ của Thiên Chúa, để truyền thông cho toàn thể nhân loại (39). Cũng trong thông điệp đó tôi đã viết: "Những ai đã gia nhập vào Giáo Hội Công Giáo, phải tự coi mình là những con người được đặc ân và, do đó, họ phải càng dấn thân làm chứng bằng niềm tin và đời sống Kitô hữu, chứng tá này là việc phục vụ anh chị em mình và là lời đáp trả xứng hợp với Thiên Chúa" (40).

Xác tín sâu xa về điều đó, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng ý thức đến trách nhiệm riêng của mình cần nắm vững chân lý vĩnh cửu của Đức Giêsu qua việc học hỏi, cầu nguyện và suy tư, hầu mang lại sức mạnh và sức sống của chân lý đó vào giữa những thách đố hiện tại và tương lai của việc Phúc Âm Hoá tại Á Châu.

Đức Giêsu Kitô, Con Người-Thiên Chúa, Đấng Cứu độ

11.    Kinh Thánh làm chứng rằng Đức Giêsu đã sống một cuộc sống con người đích thực. Đức Giêsu mà chúng ta loan báo là Đấng Cứu Độ duy nhất, đã hành trình trên mặt đất như là Thiên Chúa-Con Người (God-Man) với đầy đủ bản tính nhân loại. Người giống như chúng ta mọi đàng chỉ trừ tội lỗi. Được sinh ra bởi một người Mẹ Đồng Trinh trong một thôn xóm nhỏ bé tại Bêlem, Người cũng yếu đuối như bất cứ một trẻ nào khác, và còn chịu số phận của một kẻ tị nạn lẩn trốn cơn lôi đình của một kẻ cầm quyền tàn nhẫn (x. Mt 2,13-15). Người vâng phục cha mẹ là những con người, không phải luôn hiểu được đường lối của Người, nhưng Người tin tưởng và yêu mến vâng phục (x. Lc 2,41-52). Luôn luôn cầu nguyện, Người ở trong sự hiệp thông thân mật với Thiên Chúa mà người gọi là Abba, "Cha", làm cho những thính giả của Người khó chịu (x. Ga 8, 34-59).

Người sống gần kẻ nghèo, kẻ bị bỏ rơi và thấp bé, Người tuyên bố họ thật sự có phúc, vì Thiên Chúa ở với họ. Người ăn uống với kẻ tội lỗi, bảo đảm với họ rằng tại bàn ăn của Cha có chỗ cho họ, khi họ từ bỏ đường tội lỗi và trở về với Người. Khi đụng chạm tới kẻ ô uế và cho phép họ đụng chạm tới mình, Người cho họ hiểu rằng Chúa ở gần họ. Người than khóc một người bạn đã qua đời, Người hoàn lại đứa con trai đã chết cho bà mẹ goá của nó, Người đón tiếp những trẻ nhỏ, và Người rửa chân các môn đệ mình. Lòng thương xót của Thiên Chúa chưa từng gần gũi cách trực tiếp như thế.

Người bệnh tật, người què, người mù, người điếc và người câm tất cả đều được chữa lành và được ơn tha thứ khi tiếp xúc với Người. Để làm thành những người bạn và những cộng sự viên thân cận nhất, Người đã tuyển chọn một nhóm người bất thường, gồm có những kẻ đánh cá lẫn người thu thuế, những người nhiệt thành và những kẻ không hiểu biết Luật, và cả phụ nữ nữa. Một gia đình mới được thiết lập dưới tình yêu che chở và đáng kinh ngạc của Chúa Cha. Đức Giêsu giảng dạy cách đơn sơ, sử dụng những ví dụ rút ra từ cuộc sống hằng ngày để nói về tình yêu Thiên Chúa và Vương Quốc của Người; và dân chúng nhận rằng Người nói có uy quyền.

Tuy nhiên Đức Giêsu bị tố cáo là kẻ phạm thượng, một người lỗi luật thánh, một kẻ phá rối công cộng cần loại bỏ. Sau lần xét xử dựa trên chứng gian (x. Mc 14,56), Người bị kết án tử hình trên thánh giá như một tên tội phạm, bị bỏ rơi và bị hạ nhục, bị xem như kẻ thất bại. Người được chôn cất cách hối hả trong một ngôi mộ mượn tạm. Nhưng ngày thứ ba sau khi chết, và mặc dầu có lính canh gác, ngôi mộ đó lại bị phát giác trống trơn! Đức Giêsu chỗi dậy từ kẻ chết, rồi hiện ra với các môn đệ trước khi trở về với Chúa Cha, chính từ Chúa Cha mà Người đã đến.

Cùng với tất cả mọi Kitô hữu, chúng ta tin rằng đời sống lạ thường đó, một mặt thấy thật tầm thường và đơn sơ, nhưng mặt khác thì hoàn toàn lạ lùng và che khuất trong mầu nhiệm, (cuộc sống đó) đưa Vương Quốc Thiên Chúa vào lịch sử loài người và "làm cho quyền lực của nó ảnh hưởng trên mọi mặt của cuộc sống nhân loại và của xã hội đang bị tội lỗi và cái chết bao vây" (41). Qua lời nói và việc làm, nhất là qua cuộc khổ nạn, cái chết và sự sống lại, Đức Giêsu hoàn thành ý muốn của Chúa Cha là giao hoà toàn thể nhân loại với Người, sau khi tội nguyên tổ đã cắt đứt mối tương quan giữa Đấng Sáng Tạo và thọ tạo. Trên thánh giá, Đức Giêsu gánh lấy tội lỗi của thế giới -tội quá khứ, hiện tại và tương lai. Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta rằng, do tội mà chúng ta đã chết và sự chết của Người đã đem lại sự sống cho chúng ta: "Thiên Chúa đã cho anh em cùng sống với Đức Kitô: Thiên Chúa đã ban ơn tha thứ mọi sa ngã lỗi lẫm của chúng ta. Người đã xoá sổ nợ bất lợi cho chúng ta, sổ nợ mà các giới luật đã đưa ra chống lại chúng ta. Người đã hủy bỏ nó đi, bằng cách đóng đinh nó vào thập giá (Cl 2,13-14). Bằng cách đó, ơn cứu rỗi được đóng ấn một lần thay cho tất cả. Đức Giêsu là Đấng Cứu độ chúng ta theo ý nghĩa đầy đủ nhất, bởi vì những lời nói và việc làm của Người, nhất là sự sống lại từ kẻ chết, đã mạc khải Người là Con Thiên Chúa, là Ngôi Lời đã có từ trước, Đấng hiển trị mãi mãi như là Chúa và Đấng Cứu Thế.

Thân Thế và Sứ Mạng của Con Thiên Chúa

12.    "Cớ vấp phạm" của Kitô giáo là tin rằng Thiên Chúa toàn thánh, toàn năng và toàn tri, lại mặc lấy bản tính loài người chúng ta và chịu thương khó và chịu chết để chiếm đoạt phần rỗi cho mọi người (x. 1Cr 1,23). Đức tin mà chúng ta đã lãnh nhận, tuyên xưng rằng Đức Giêsu Kitô đã mạc khải và đã hoàn thành kế hoạch cứu độ thế giới và toàn thể nhân loại của Chúa Cha, do bởi "cái Người là" (who he is) và "cái Người làm do bởi cái Người là" (what he does because of who he is). "Cái Người là" và "cái Người làm" chỉ đạt được ý nghĩa trọn vẹn khi được đặt vào trong mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Trong triều giáo hoàng của tôi, tôi luôn luôn lưu tâm nhắc nhở người tín hữu về sự hiệp thông sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi và sự hiệp nhất của Ba Ngôi trong chương trình sáng tạo và cứu chuộc. Các thông điệp của tôi Redemptor Hominis, Dives in Misericordia Dominum et Vivificantem là những suy tư tuần tự về Chúa Con, Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, và về vai trò các Ngài trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Tuy nhiên chúng ta không thể cách ly hay tách biệt Ngôi này với các Ngôi khác, bởi vì mỗi Ngôi chỉ được mạc khải trong sự hiệp thông sự sống và hành động của Thiên Chúa Ba Ngôi. Hành động cứu rỗi của Đức Giêsu bắt nguồn từ sự hiệp thông của các Ngôi vị Thiên Chúa, và mở đường cho tất cả những ai tin vào Người cũng được hiệp thông mật thiết với Ba Ngôi và với nhau trong Ba Ngôi.

"Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha", Đức Giêsu khẳng định như thế (Ga 14,9). Chỉ nơi Đức Giêsu Kitô, sự viên mãn của Thiên Chúa hiện diện cách cụ thể (x. Col 2,9), làm cho Người thành Ngôi lời cứu độ duy nhất và tuyệt đối của Thiên Chúa (x. Dt 1,1-4). Là Lời cuối cùng của Chúa Cha, Đức Giêsu làm cho Thiên Chúa và ý muốn cứu độ của Người được biết đến cách đầy đủ nhất. "Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy" Đức Giêsu nói (Ga 14,6). Người là "Đường, là sự Thật và là sự Sống" (Ga 14,6), bởi vì, như chính Người nói "Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những công việc của mình" (Ga 10,14). Chỉ trong con người Đức Giêsu, lời cứu độ của Thiên Chúa xuất hiện cách trọn vẹn, phán dạy vào thời kỳ sau hết (x. Dt 1,1-2). Vì thế, trong những ngày đầu của Giáo Hội, Thánh Phêrô mới có thể tuyên bố: "Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được ơn cứu độ" (Cv 4,12).

Sứ vụ của Đấng Cứu Thế đạt cao điểm trong Mầu Nhiệm Vượt Qua. Trên Thánh Giá, khi "giang tay ra làm dấu hiệu giữa trời và đất, dấu hiệu muôn đời về giao ước [của Chúa Cha] (42), Đức Giêsu thốt ra lời kêu xin cuối cùng với Chúa Cha, xin Người tha tội cho nhân loại: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm" (Lc 23,34). Đức Giêsu tiêu diệt tội lỗi bằng quyền lực tình yêu của Người đối với Chúa Cha và cả nhân loại. Ngài mang lấy trên mình vết thương do tội giáng xuống trên nhân loại, và Người ban ơn giải phóng qua sự hoán cải. Những hoa quả đầu tiên của điều đó được thấy rõ trong người ăn trộm sám hối treo trên cây thập giá kia bên cạnh Người (x. 23,43). Lời thốt ra cuối cùng của Người là tiếng kêu của người con trung tín: "Lạy Cha, con xin phó dâng linh hồn con trong tay Cha" (Lc 23,46). Trong lời diễn tả tình yêu tột cùng ấy, Ngài trao toàn diện sự sống và sứ vụ của mình trong tay Chúa Cha, Đấng đã sai mình. Như thế, Người trao phó cho Chúa Cha toàn thể thọ tạo và toàn thể nhân loại, để Chúa Cha đón nhận lại trong tình yêu nhân hậu của Người.

Tất cả những gì Chúa Con là và đã hoàn thành, thì được Chúa Cha đón nhận, Đấng lại ban ân huệ này cho thế gian, khi cho Đức Giêsu chỗi dậy từ kẻ chết, và đặt Người ngồi bên hữu Mình, nơi mà tội lỗi và sự chết không còn quyền hành nào nữa. Qua Hy Lễ Vượt Qua của Đức Giêsu, Chúa Cha dứt khoát ban cho thế gian ơn hoà giải và sự sống tràn trề. Aân huệ lạ lùng này chỉ có thể được ban tặng nhờ Người Con yêu dấu, duy mình Người mới có thể đáp trả trọn vẹn tình yêu của Chúa Cha, tình yêu đã bị chối từ vì tội lỗi. Trong Đức Giêsu Kitô, nhờ quyền năng Chúa Thánh Thần, chúng ta được biết rằng Thiên Chúa không ở xa, ở trên và ở ngoài con người, nhưng ở rất gần, thật sự kết hợp với mỗi người và toàn thể nhân loại trong mọi hoàn cảnh đời sống. Đó là sứ điệp mà Kitô giáo trao ban cho thế giới, và đó là một nguồn an ủi và hy vọng vô song cho mọi người tín hữu.

Đức Giêsu Kitô: Chân Lý của Nhân Loại

13.    Nhân tính của Đức Giêsu và mầu nhiệm khôn tả Nhập Thể của Người Con Chúa Cha, rọi ánh sáng trên thân phận con người như thế nào? Người con Nhập Thể của Thiên Chúa không những mạc khải đầy đủ Chúa Cha và chương trình cứu độ của Người; Người còn "mạc khải đầy đủ con người cho chính con người" (43). Những lời nói và hành động của Người, và hơn hết, sự Chết và Phục Sinh của Người, mạc khải cách thâm sâu là người có ý nghĩa gì. Nhờ Đức Giêsu, cuối cùng con người có thể biết sự thật về chính mình. Khi dâng hiến trọn vẹn để yêu mến và phục vụ Chúa Cha và con người, cuộc đời làm người đích thực của Đức Giêsu nói lên rằng ơn gọi của mỗi người là nhận lãnh tình yêu và đáp lại bằng việc trao ban tình yêu. Trong Đức Giêsu, chúng ta kinh ngạc về khả năng vô tận của quả tim con người để yêu Chúa và yêu người, cho dầu khi yêu như thế là kéo theo nhiều đau khổ. Nhất là chính trên Thánh Giá mà Đức Giêsu bẻ gãy quyền lực của sự đối kháng với tình yêu đem lại chết chóc (self-destructive resistance), sự đối kháng mà tội lỗi gây nên nơi chúng ta. Về phần mình, Chúa Cha đáp trả bằng cách cho Đức Giêsu chỗi dậy như là người con đầu lòng của tất cả những ai được tiền định nên đồng hình đồng dạng với Con của Người (x. Rm 8,29). Vào lúc ấy, Đức Giêsu đã trở nên, một lần thay cho tất cả, vừa là sự mạc khải vừa là sự hoàn thành một nhân loại được tái tạo và đổi mới theo chương trình của Thiên Chúa. Trong Đức Giêsu, chúng ta khám phá sự cao cả và phẩm giá của mỗi con người trong con tim Thiên Chúa, Đấng đã dựng nên con người giống hình ảnh của Người (x. St 1,26), và chúng ta gặp được nguồn gốc của thụ tạo mới mà chúng ta đã trở nên nhờ ân sủng của Người.

Công Đồng Vatican II dạy rằng "chính Con Thiên Chúa khi Nhập Thể, một cách nào đó đã kết hợp với tất cả mọi người" (44). Trong cái nhìn thâm sâu này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhận ra nguồn suối cơ bản của hy vọng và nghị lực cho người dân Á Châu trong các cuộc chiến đấu và những nghi hoặc của họ. Khi những người nam và nữ, bằng đức tin sống động, đáp trả lại ơn huệ tình yêu của Thiên Chúa, thì sự hiện diện của Chúa mang đến tình yêu và bình an, biến đổi con tim nhân loại từ bên trong. Trong thông điệp Redemptor Hominis, tôi đã viết: "Sự cứu chuộc thế giới -mầu nhiệm đáng sợ của tình yêu, nhờ đó tạo vật được đổi mới- tại gốc rễ thâm sâu nhất của nó, là sự viên mãn của đức công chính trong một con tim nhân loại -con tim của Người Con trưởng tử- ngõ hầu nó có thể trở nên công chính trong tim của nhiều người, đã được tiền định từ thuở đời đời trong người Con trưởng tử đó, làm con Thiên Chúa và được gọi hưởng nhờ ân sủng, được kêu gọi sống yêu thương" (45).

Như vậy, sứ vụ của Đức Giêsu không những phục hồi sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và nhân loại, mà còn thiết lập một sự hiệp thông mới giữa những con người sống xa cách nhau vì tội lỗi. Trên mọi chia rẽ, Đức Giêsu làm cho mọi dân tộc có thể sống như anh chị em, bằng cách nhìn nhận chỉ có một Cha trên Trời (x. Mt 23,9). Trong Người, nảy sinh một sự hoà hợp mới, trong đó "không còn chuyện phân biệt, Do thái hay Hy lạp. nô lệ hay tự do. đàn ông hay đàn bà, nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô Giêsu" (Gl 3,28). Đức Giêsu là sự bình an của chúng ta, "Người đã liên kết đôi bên thành một, và đã phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét" (Ep 2,14). Trong tất cả những gì Người đã nói đã làm, Đức Giêsu là tiếng nói, là bàn tay và cánh tay của Chúa Cha, thu họp tất cả con cái Chúa thành một gia đình yêu thương. Người đã cầu nguyện cho môn đệ Người có thể sống trong hiệp thông, cũng như Người sống hiệp thông với Thiên Chúa Cha (Ga 17,11). Trong những lời nói cuối cùng của Người, chúng ta nghe Người nói: "Như Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. Đây là điều răn của Thầy: Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 15,9-12). Được sai đi bởi Thiên Chúa của sự hiệp thông, và trở nên Chúa thật và người thật, Đức Giêsu đã thiết lập sự hiệp thông giữa trời và đất trong chính thân thể của Người. Đức tin của chúng ta là "Thiên Chúa làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hoà giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời" (Cl 1,19-20). Ơn cứu độ có thể gặp được trong con người của Con Thiên Chúa làm người, và trong sứ vụ được giao phó cho Người mà thôi như Người Con, một sứ vụ phục vụ và yêu thương để mọi người được sống. Cùng chung với Giáo Hội toàn cầu, Giáo Hội tại Á Châu công bố chân lý đức tin: "Chỉ có một Thiên Chúa, có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: đó là một con người, Đức Giêsu Kitô, Đấng tự hiến làm giá chuộc cho mọi người" (1 Tm 2,5-6).

Tính Độc Nhất và Tính Phổ Quát của Ơn Cứu độ
trong Đức Giêsu

14.    Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhắc lại rằng Ngôi Lời có từ trước, Người Con sinh ra từ thuở đời đời của Thiên Chúa, "đã hiện diện trong sáng tạo, trong lịch sử và trong mọi ước muốn điều thiện của con người" (46). Nhờ Ngôi Lời, hiện diện trong vũ trụ ngay cả trước lúc nhập thể, mà thế giới hiện hữu (x. Ga 1,1-4; Cl 1,15-20). Nhưng trong tư cách là Ngôi Lời Nhập Thể đã sống, chết và chỗi dậy từ kẻ chết, Đức Giêsu Kitô bây giờ được tuyên xưng là sự viên mãn của mọi tạo vật, mọi lịch sử và mọi ước muốn được sống dồi dào của con người (47). Chỗi dậy từ kẻ chết, Đức Giêsu Kitô "hiện diện trong tất cả và trong toàn thể tạo vật, cách mới mẻ và mầu nhiệm" (48). Trong Người "những giá trị chân chính của mọi truyền thống tôn giáo và văn hoá, chẳng hạn như lòng thương xót và sự tùng phục ý muốn Thiên Chúa, lòng trắc ẩn và tính ngay thẳng, bất bạo động và công chính, lòng hiếu thảo và sự hài hoà với tạo vật, tìm thấy sự viên mãn và thực hiện" (49). Từ khởi đầu cho đến kết thúc thời gian, Đức Giêsu là Vị Trung Gian phổ quát duy nhất. Dù với những kẻ không công khai tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu như là Đấng Cứu Thế, ơn cứu độ vẫn đến với họ như là một ân sủng do Đức Giêsu Kitô, nhờ sự thông truyền của Chúa Thánh Thần.

Chúng ta tin rằng Đức Giêsu Kitô, Chúa thật và người thật, là Đấng Cứu Thế độc nhất bởi vì chỉ duy mình Người -Người Con- đã hoàn thành chương trình cứu độ phổ quát của Chúa Cha. Như là sự tỏ bày chung cuộc về mầu nhiệm tình yêu của Chúa Cha đối với mọi người, Đức Giêsu quả thực là độc nhất và "chính sự độc nhất đó của Đức Kitô cho Người một tầm vóc tuyệt đối và phổ quát, qua đó, vì ở trong lịch sử, Người là trung tâm và cùng đích của lịch sử (50).

Không cá nhân nào, không quốc gia nào, không nền văn hoá nào mà không bị tác động bởi lời mời gọi của Đức Giêsu thốt lên từ chính giữa lòng của thân phận con người. "Chính đời sống của Người đã thốt lên, nhân tính của Người, lòng trung thành của Người đối với chân lý, tình yêu bao quát của Người. Hơn nữa sự chết của Người trên Thánh Giá đã thốt lên, nghĩa là bề sâu khôn dò của sự đau khổ và bị bỏ rơi của Người" (51). Khi chiêm ngắm Đức Giêsu trong bản tính nhân loại của Người, dân chúng tại Á Châu gặp được câu trả lời cho tất cả những câu hỏi sâu sắc nhất của họ, hy vọng của họ được hoàn thành, nhân phẩm của họ được nâng cao và sự ngã lòng của họ được vượt thắng. Đức Giêsu là Tin Mừng đối với các người nam nữ của mọi thời đại và mọi nơi chốn, trong cuộc tìm kiếm ý nghĩa của sự hiện hữu và sự thật về bản tính nhân loại của mình.

còn tiếp

VỀ MỤC LỤC
NẾU ĐỒNG TIỀN BIẾT NÓI
 

(suy niệm Tin Mừng CN 25 TN C) 

Có người chia sẻ với tôi: Nếu đồng tiền biết nói, nó sẽ vui mừng tố cáo tôi, tố cáo bạn vì chúng ta đã sử dụng nó để  phạm những tội gian ác. Cả những phương tiện ta có, nếu nó biết nói, nó cũng sẽ là vật chứng tố cáo chúng ta, vì chúng ta đã sử dụng nó như phương tiện phạm tội, phương tiện gây án: án phạt ngàn đời.

Nghĩ lại cũng thật thấm thía. Tội nghiệp cho con người có trí khôn mà chịu làm nô lệ cho những đồng tiền vô tri vô giác, nô lệ cho những phương tiện hoàn toàn vật chất, lại còn bị nó làm chứng tố cáo những tội tày trời! Đã vậy, còn suy tôn tiền bạc, vật chất lên ngôi thành một chủ nghĩa, chẳng khác nào con người đang la lên rằng: “mừng quá, tôi được làm nô lệ”.

Nếu đồng tiền  biết nói… Vâng, thiết tưởng cũng đúng với thực trạng xã hội hôm nay. Một lần, anh em thân hữu chúng tôi họp mặt tại Nha Trang và chia sẻ chuyện đời thường của nhau, có câu hỏi được đặt ra: “vợ, chồng, con cái của bạn bắt đầu “hư” từ khi nào?”.

Những câu trả lời thật xót ruột:

-“từ khi ảnh mua chiếc xe con, đi sớm về muộn, có khi vài ba ngày không về, đến lúc về, trong xe, mùi nước hoa còn nồng sặc….”,

-“từ khi cô ta quyết định mua thêm một căn nhà ở Vũng Tàu, một cảnh hai quê, tuần cô ở Vũng Tàu, tuần cô ở Sài Gòn, sau đó, cô bảo tôi ký giấy ly hôn…”,

-“từ lúc sắm điện thoại di động, sắm xe tay ga cho con, rồi những cuộc liên lạc, hẹn hò, đi không thưa, về chẳng trình…đến khi trình, thì trình rằng con đã có bầu ba tháng ”

-“Từ lúc nhà em bán được lô đất “sốt” ở Bình Dương, giàu lên, phung phí, phần ảnh ảnh xài, phần em em xài, ảnh kiếm thêm được bà nữa, thì em dại gì chứ”.

-“Từ khi mua cho con cái vi tính, rồi nối mạng nữa chứ…nó ngồi trên máy cả đêm, tưởng học hành, hóa ra xem phim tầm phào”.

-“Từ lúc em buôn bán khá hơn tí, có đồng ra đồng vào đồng cất để, ảnh thong thả bia rượu nhiều hơn, có luôn cả chuyện bia ôm rượu ẵm, đến lúc xơ gan mới chịu nằm một chỗ”.

…….

Và còn biết bao nhiêu nguyên nhân khác, tựu chung, cũng vì sử dụng tiền bạc của cải phương tiện vào những mục đích không có lợi ích gì cho đời này và cả đời sau nữa: vừa mất nhân phẩm vừa mất linh hồn. 

Lời Chúa Giêsu hôm nay cảnh cáo sự dại dột của con người khi sử dụng tiền bạc của cải vật chất làm băng hoại đời sống con người hôm nay và mai sau. Và Chúa muốn mượn hình ảnh người quản lý để gửi đến cho tôi, cho bạn một thông điệp quan trọng: mỗi người là một người quản lý của Thiên Chúa, người quản lý phải khôn ngoan biết làm lợi cho Thiên Chúa, người quản lý phải biết tích lũy cho mai sau. 

Những người không muốn biết Thiên Chúa thì họ cho rằng thân xác, trí khôn, của cải, phương tiện họ có, là của họ làm ra. Họ làm chủ tất cả. Họ muốn sử dụng sao là quyền của họ. Họ thật lầm tưởng: tưởng họ làm ra và tưởng họ có quyền, hóa ra, họ không giữ được gì cho mình cả, kể cả thân xác, và hóa ra, họ đang làm nô lệ cho thân xác, cho tiền bạc, cho những phương tiện.

Đối với con cái của Thiên Chúa, thì Chúa chúng ta biết rằng tất cả những gì chúng ta sở hữu trong cuộc đời đều là của Chúa ban cho. Và mỗi người chỉ là người quản lý. Có người quản lý một thân xác vạm vỡ khỏe mạnh, hay duyên dáng yêu kiều, nhưng cũng có người quản lý một thân xác yếu đuối, hay xấu xí thua người… Có người quản lý một gia tài kếch xù, nhưng cũng có người lại quản lý mấy đồng tiền lẻ.

Và dù quản lý ít hay nhiều cũng phải làm lợi cho Thiên Chúa. Làm lợi cho Thiên Chúa là biết dùng của cải thế gian mà làm cho Thiên Chúa được vinh danh, mà làm cho Nước Chúa trị đến, và làm cho ý Chúa được thể hiện khắp nơi. Cụ  thể hơn, nếu như người quản lý bất trung kia còn biết khôn ngoan mà tích lũy cho mình để phòng cho những ngày điêu linh sắp tới, thì con cái Chúa càng phải biết khôn ngoan mà tích lũy cho mình một gia sản cho đời sau. Bằng không, thì thật là uổng phí, là dại dột.

Mỗi người được ơn cứu rỗi, mỗi người được sống lại ở đời sau, là chương trình của Thiên Chúa. Và vì thế, biết dùng của cải đời nầy mà lo cho phần rỗi đời đời của mình và của mọi người, chính là làm sáng danh Thiên Chúa, làm Nước Chúa Trị đến, làm cho ý Chúa thể hiện vậy.

Nếu đồng tiền biết nói, hẳn nó sẽ chê cười chúng ta, loài người có trí khôn giống hình ảnh Thiên Chúa mà phải làm nô lệ cho một đồng tiền, một tờ bạc vô tri vô giác.

Nếu đồng tiền biết hát, hẳn nó sẽ hát bài ca chiến thắng rằng chủ nghĩa duy vật đã lên ngôi và đồng tiền trở nên sức mạnh vô song đưa con người của Thiên Chúa xuống vực thẳm         

Không thể như thế được, kế hoạch của ma quỷ đang luồn lách vào trí khôn của con người để phá hoại chương  trình cứu rỗi của Thiên Chúa  từ việc tham lam mỗi đồng tiền lẻ đến những xấp bạc tỉ, rồi dương dương tự đắc ngủ ngon trên đống vàng tưởng như là hạnh phúc. Một sự lầm tưởng đáng sợ, nếu không nói là gây tai họa khủng khiếp cho con người ở đời này và đời sau.

Phải làm thế nào để nếu đồng tiền biết nói, hẳn nó sẽ phải chắp tay bái quỳ chào thua chúng ta vì nó đã không sai khiến được chúng ta, và ngược lại, nó phải hoan hô tán thưởng vì chúng ta sử dụng nó vào mục đích hoàn thiện nhân phẩm, xây dựng công ích, sẻ chia yêu thương, và nhất là bảo đảm được phần rỗi đời đời: không sử dụng đồng tiền làm phương tiện phạm tội, gây án. 

Lạy Chúa Giêsu, ơn cứu rỗi là cùng đích cuộc đời chúng con. Xin cho chúng con là người quản lý của Chúa, biết sử dụng tiền bạc của cải Chúa ban để hoàn thiện nhân phẩm con cái Chúa bằng đời sống bác ái yêu thương, để làm sáng danh Thiên Chúa, để Nước Chúa trị đến và Ý Chúa thể hiện khắp nơi, và cuối cùng là để chúng con được hân hoan vào Nước Trời với Chúa. A men.  

PM. CAO HUY HOÀNG - Đăktik, 16-9-2010

VỀ MỤC LỤC
“GIÁO HỘI THUỘC VỀ CÁC CON!”

 

Đức Thánh Cha Kêu Gọi Các Bạn Trẻ - Hãy Cảnh Giác Đối Với Những Thứ Phù Phiếm 

Glasgow, thứ Năm, 16-9-2010 – Chiều hôm nay, thứ Năm, trong ngày đầu tiên của bốn ngày viếng thăm mục vụ Vương Quốc Anh, Đức Bênêđictô XVI cử hành Thánh Lễ tại Bellahouston Park, Scotland. Đức Thánh Cha đã kêu gọi các bạn trẻ cảnh giác đối với những gì không thực sự có giá trị trong đời sống. Ngài mời gọi các bạn trẻ, thay vào đó, hãy nhận hiểu phẩm giá đích thực của mình là con cái Thiên Chúa và hãy sống phù hợp với phẩm giá này.

Buổi chiều nắng đẹp ở Glasgow, Đức Thánh Cha đưa ra lời kêu gọi ấy cho các bạn trẻ khi ngài cử hành phụng vụ tại đúng nơi mà vị tiền nhiệm của ngài là Đức Gioan Phaolô II cũng đã cử hành trong chuyến viếng thăm Vương Quốc Anh hồi năm 1982.

Khi Đức Thánh Cha đến nơi, một đám đông tràn ngập vẫy cờ chào mừng ngài. Ngài dừng xe lại, ôm hôn một em bé, rồi tiến đến nơi hành lễ. Trước Thánh Lễ, đã diễn ra một nghi thức chào mừng long trọng và cảm động.
Trong bài giảng của ngài, Đức Thánh Cha đề cập đến vô số những thách đố mà giới trẻ phải đương đầu. Và ngài hướng về các bạn trẻ để nhấn mạnh với họ sự cần thiết phải cầu nguyện cho các ơn gọi linh mục và tu sĩ: “Các bạn trẻ Công Giáo Scotland thân mến, Cha khích lệ các con hãy sống một đời sống xứng đáng với Chúa và với chính bản thân mình.”  

Hãy Gạt Bỏ Những Gì Phù Phiếm    

Đức Thánh Cha nhắc đến “rất nhiều cám dỗ mà các con, những người trẻ, phải đương đầu hằng ngày – như ma túy, tiền tài, tình dục, hình ảnh khiêu dâm, rượu chè – những thứ mà người đời thường cho là đem lại cho các con hạnh phúc, nhưng thực ra chỉ dẫn đến hủy hoại và chia rẽ”.

“Chỉ có một điều có giá trị bền vững thôi – Đức Thánh Cha khẳng định – đó là tình yêu biệt vị Đức Kitô dành cho từng người trong các con. Hãy tìm kiếm Ngài, hãy nhận biết và yêu mến Ngài, và Ngài sẽ giải phóng các con khỏi ách nô lệ của những điều hấp dẫn nhưng bèo bọt mà xã hội hôm nay thường chào mời các con.”

“Các con hãy gạt bỏ những gì phù phiếm và hãy ý thức phẩm giá của các con là con cái Thiên Chúa.”

Cử hành lễ Thánh Ninian, một trong những nhà rao giảng Tin Mừng đầu tiên của vùng đất này, Đức Thánh Cha nhắc rằng bài Tin Mừng hôm nay có bao gồm lời Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện cho các ơn gọi.

Ngài nói với các bạn trẻ: “Ước gì, qua việc gặp gỡ Đức Giêsu Kitô, nhiều người trong các con sẽ nhận biết và yêu mến Ngài, đến mức hiến thân hoàn toàn cho Thiên Chúa theo cách thế đặc biệt mà nhiều người trong các con đã được gọi để đảm nhận: đó là sống đời linh mục và tu sĩ.” Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Đây là sự thách thức mà Chúa đặt ra cho các con hiện nay: Giáo Hội hôm nay thuộc về các con!”.

Những Gương Sáng

Trước khi ngỏ lời với các bạn trẻ, Đức Thánh Cha đã có một thông điệp dành riêng cho các giám mục và các linh mục, khuyến dụ các vị cầu nguyện đặc biệt cho các ơn gọi.

Nói với các giám mục, Đức Thánh Cha đã kêu gọi các ngài ưu tiên dành quan tâm cho các linh mục và cho sự thánh hóa các linh mục.

“Anh em hãy sống tròn đầy đức ái của Chúa Kitô trong sứ vụ huynh đệ đối với các linh mục của anh em. Hãy cộng tác với họ, nhất là với những linh mục không có nhiều điều kiện gặp gỡ tiếp xúc với anh em đồng sự của mình. Cùng với các linh mục, anh em hãy cầu nguyện cho các ơn gọi, để Chủ ruộng sai thêm nhiều thợ gặt ra cánh đồng cùa Ngài.”

Đức Thánh Cha cũng kêu gọi các giám mục trực tiếp chăm lo cho việc đào tạo linh mục, và chăm sóc các phó tế.

“Đối với họ, anh em là những hiền phụ và là những hướng dẫn viên trên con đường nên thánh. Anh em hãy khích lệ họ lớn lên trong nhận thức cũng như trong thực hành sứ mạng của người rao giảng, sứ mạng mà họ đã được mời gọi đảm nhận” – Đức Thánh Cha khuyến dụ.

Rồi, ngỏ lời với các linh mục, Đức Thánh Cha nhắc nhở về tiếng gọi nên thánh và về việc rập khuôn đời sống mình theo mầu nhiệm Thập Giá Chúa Kitô.

“Anh em hãy rao giảng Phúc Âm với một con tim tinh tuyền và một ý thức đúng đắn. Anh em hãy hiến thân cho một mình Thiên Chúa thôi; và hãy nên gương sáng cho giới trẻ bằng một đời sống thánh thiện, giản dị và vui tươi. Nhờ đó, đến lượt các bạn trẻ, chắc chắn họ sẽ quyết định sát cánh với anh em khi anh em cần mẫn phục vụ cho dân Chúa.”   

THIÊN PHONG (17.9.2010) 

dịch theoIl Papa ai giovani: La Chiesa appartiene a voi” trong Zenit.org ngày 16.9.2010

VỀ MỤC LỤC
PHẢI TÔN TRỌNG GIÁO LÝ, GIÁO LUẬT, PHỤNG VỤ VÀ KỶ LUẬT BÍ TÍCH NHƯ THẾ NÀO ?

       

 Có nhiều người tắc mắc về những vấn đề sau đây:

1.     Có sự khác biệt giữa linh mục này với linh mục khác trong việc cử hành các nghi thức phụng vụ và bí tích.

2.     Nghi thức “tắm trong Thánh Thần” là nghi thức gì?

3.     Giáo lý, Giáo Luật và Luật phụng vụ có giống nhau ở khắp nơi không?

Để trả lời cụ thể cho những thắc mắc nêu trên, xin được đi vào chi tiết của từng vấn nạn như sau:

1-Trước hết, về việc cử hành các nghi thức phụng vụ - nhất là cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn, Giáo Hội mong muốn các linh mục và Giám Mục cử hành theo đúng lễ qui (Canon of  Mass) đã được ghi rõ từng phần bằng chữ Đỏ (Rubric).  Nghĩa là không ai được phép tự ý “phăng” ra nghi thức nào riêng của mình khi cử hành Thánh lễ Tạ Ơn.  Cụ thể,trong phần mở đầu Thánh lễ, nghi thức sám hối (penitential rite) được cử hành  với hai chọn lựa như sau:

a.      Một là theo qui định như đọc kinh cáo mình và kinh xin Chúa thương xót (Kyrie Eleison)

b.     Hai là rảy nước phép (sprinkling of the Holy water) (ngày Chúa nhật và các ngày Lễ trọng)

Nghi thức này chỉ có mục đích chuẩn bị tâm hồn Chủ Tế, Đồng tế, Phó tế và cộng đoàn tham dự Thánh Lễ, khiêm tốn nhìn nhận mình là kẻ có tội lỗi để xin Chúa tha thứ những lỗi lầm nhẹ không tránh được trong đời sống thường ngày, hầu xứng đáng hiệp nhất với Chúa Kitô và  toàn thể Giáo Hội trong việc diễn lại Hy Tế Thập giá và Bữa Tiệc Ly của Chúa, để Tạ Ơn Chúa Cha và xin Người thương ban những ơn trọng đại qua việc cử hành Thánh Lễ “là đỉnh cao và là nguồn sống của Giáo Hội và đời sống Kitô giáo”.  Nhưng nghi thức này không phải là bí tích hòa giải (xưng tội)  nhằm tha thứ mọi tội nặng và nhẹ (mortal and venial sins) cho ai đang tham dự Thánh Lễ. Do đó, nếu ai ý thức rằng mình đang có tội trọng thì “không được cử hành thánh lễ và rước Mình Máu Thánh Chúa nếu chưa được ơn tha thứ qua bí tích hòa giải” (x. giáo luật số 916, Sách Giáo Lý Công Giáo (SGLGHCG-số 1415)

Vì lý do trên, nếu linh mục nào “phăng” ra giáo lý riêng của mình, để mời hết mọi người tham dự Thánh Lễ, lên rước Mình Máu Thánh Chúa, lấy cớ Chúa đã tha thứ hết qua nghi thức sám hối lúc đầu Lễ, là sai trái hoàn toàn, vì biết đâu có những người tham dự đang mắc tội trọng mà chưa được tha thứ qua bí tích hòa giải như giáo lý và giáo luật của Hội Thánh đòi hỏi.  Lại nữa, có thể có những người đã ly dị nhưng chưa được tháo gỡ hôn phối cũ (Annulment) mà lại đang sống chung với người khác như vợ chồng.  Những người này không thể lãnh các bí tích hòa giải và Thánh Thể bao lâu tình trạng hôn phối của họ chưa được giải quyết hợp pháp theo giáo luật.

Linh mục có bổn phận nhắc nhở giáo dân tham dự Thánh lễ về những điều quan trọng này, cũng như lưu ý những ai không phải là người Công giáo nhưng đến tham dự Thánh lễ thì xin miễn lên rước Lễ; vì phần này chỉ dành riêng cho các tín hữu Công Giáo đang  sống  trong tình trạng ơn phúc (không có tội trọng) mà thôi. Ai mời mọi người tham dự lên rước Lễ hết không phân biệt có Đạo hay không là đi ngược lại với giáo lý của Giáo Hội Công Giáo. Cũng không thể cho tất cả trẻ em tham dự Thánh Lễ với cha mẹ, được rước Mình Thánh Chúa mà không cần biết các em đó đã được rước lễ lần đầu chưa, như một số linh mục Mỹ và Canada đã làm. Các trẻ em phải được học hỏi giáo lý về bí tích hòa giải và Thánh Thể trước khi được rước Mình Thánh Chúa lần đầu và các lần sau.  Mình Thánh Chúa Kitô không phải là bánh kẹo, để phân phát vô ý thức cho tất cả các trẻ em tham dự Thánh lễ với phụ huynh.

Riêng về phần linh mục, kỷ luật bí tích và nghi thức Thánh Lễ Tạ Ơn không cho phép linh mục  đọc lời truyền Phép (consecration) ngoài lễ qui của Thánh lễ. Nghĩa là, không thể đổ thêm rượu nho vào chén Máu Thánh đã truyền phép, như một linh mục kia đã bảo thừa tác viên thánh thể làm khi thấy chén Máu Thánh đã cạn trong lúc đang cho giáo dân rước Lễ! Cũng không thể đọc thêm lời truyền phép, để có đủ Mình Thánh cho giáo dân rước khi thiếu Mình Thánh.

Theo lễ qui, và giáo luật thì tuyệt đối cấm truyền phép riêng một chất thể (bánh hay rượu) hay cả hai chất thể ngoài khuôn khổ Thánh Lễ, nghĩa là lời truyền phép chỉ được đọc một lần trong Thánh lễ mà thôi. (can. no. 927)

Về các kinh và lời nguyện trong Thánh Lễ, thì chỉ có Chủ tế và Đồng tế đọc chung Kinh Nguyện Thánh Thể (Tạ Ơn) cùng giơ tay trên của lễ, và cùng đọc lời Truyền phép. Phó Tế và giáo dân không được phép đọc chung  kinh nguyện nào của Thánh Lễ;  trừ kinh cáo mình ở đầu Lễ và kinh Lạy Cha sau Truyền Phép.

2-Về việc cử hành các bí tích khác:

Khi có linh mục hiện diện thì giáo dân và ngay cả các tu sĩ nam nữ (các Sơ, thầy Dòng) không được phép rửa tội cho ai cả. Phó tế chỉ rửa tội cho trẻ em, theo yêu cầu của cha xứ. Nhưng trong trường hợp khẩn cấp (nguy tử) và nếu không có linh mục hay phó tế, thì bất cứ ai kể cả người chưa được rửa tội cũng được phép rửa tội miễn là phải theo ý Giáo Hội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi. (SGLGHCG số 1256)

Giáo Hội chỉ có hai bí tích chữa lành: đó là bí tích hòa giải và xức dầu bệnh nhân. Cũng chỉ có bí thêm sức, thông ban các ơn sủng đặc biệt của Chúa Thánh Thần, để  giúp tín hữu sống và thực hành những cam kết của bí tích Rửa tội hầu được cứu rỗi. Ngoài ra, không có “bí tích” hay nghi thức nào gọi là “ Tắm trong Thánh Thần” như một vài linh mục đã tự ý “phăng” ra  trò “ảo thuật” này, mượn danh Chúa Thánh Thần để tụ họp giáo dân, cầu nguyện lâm râm và đặt tay cho một số người té ngã, bất tỉnh rồi một số người khác cầm khăn ướt đắp trên mặt những người té ngã để vực họ đứng lên, và nói là họ được “tắm trong Thánh Thần”!

Tôi khẳng định: không hề có nghi thức nào của Giáo Hội gọi là “Tắm trong Thánh Thần” như trên, do một vài linh mục đang làm ở một vài giáo xứ ỏ Mỹ hiện nay. Chúng ta cầu xin ơn Thánh Linh là việc đạo đức rất tốt lành, cần được khuyến khích và thực hành.  Chúa Thánh Thần là Đấng phù trợ và an ủi dịu hiền. Ngài đến với ai, thì ban ơn soi sáng cho người ấy biết đường thật nẻo chính, để đi hầu được cứu độ và sống hạnh phúc đời đời với Thiên Chúa là Cha nhân lành. Do đó, người tín hữu phải luôn cầu xin ơn Thánh Linh để biết sống đẹp lòng Chúa.  Nhưng không thể phù phép hóa ơn Chúa Thánh Thần với nghi thức quái dị gọi là “tắm trong Thánh Thần” như một vài linh mục đang làm và hướng dẫn sai lầm giáo dân về ơn Chúa Thánh Linh.

3-Giáo lý và giáo luật

Giáo Hội Công Giáo chỉ có một giáo lý duy nhất, gói ghém trong Sách Giáo Lý của Giáo Hội được Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II ký ban hành ngày 10 tháng 11 năm 1992.

Đây là cuốn chỉ nam duy nhất về những giáo thuyết căn bản giúp hướng dẫn đời sống đức tin của người tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo.  Do đó, muốn được hiệp thông với Giáo Hội để được ơn cứu độ của Chúa Kitô, mọi tín hữu đều được mong đợi sống và thực hành đúng những giáo lý được ghi trong Sách này.

Những người có trách nhiệm dạy dỗ như Giám mục và linh mục, đều có bổn phận và trách nhiệm dạy đúng giáo lý của Giáo Hội.  Nhưng tiếc thay, đã có những sai trái trong việc giảng dạy và thực hành ở nhiều nơi trong Giáo Hội. Thí dụ, có linh mục kia đã đặt vấn đề “tội Nguyên Tổ”( original sin) và cho rằng, theo tâm lý và công bằng, thì không thể có chuyện “quýt làm cam chịu”, nghĩa là không thể vì nguyên tổ loài người là Adam và Eva phạm tội, mà bắt mọi người phải chịu chung hậu quả của tội do hai người đã phạm. Đó là điều bất công, không chấp nhận được!

Nhưng người tín hữu phải nghe ai: nhà thần học, giáo sư Kinh Thánh hay nghe Giáo Hội dạy với quyền Giáo Huấn (Magisterium)?

Liên quan đến vấn đề nêu trên, giáo lý của Giáo Hội nói rõ như sau:

 “Câu chuyện sa ngã (St 3) sử dụng một thứ ngôn ngữ bóng bẩy, nhưng khẳng định một biến cố hàng đầu, một sự kiện đã xảy ra lúc khởi đầu lịch sử loài người. Mặc khải cho chúng ta sự chắc chắn của đức tin rằng tất cả lịch sử loài người đã bị đánh dấu bởi sự sa ngã nguyên thủy, một sai phạm tự do của các nguyên tổ chúng ta.” (x. SGLGHCG số 390)

Nghĩa là, căn cứ vào Kinh Thánh (St 3) và mặc khải, thì tội tổ tông hay nguyên tổ (Original sin) là sự kiện đã xảy ra trong buổi ban đầu, khi Nguyên tổ loài người bất tuân mệnh lệnh của Thiên Chúa để “ăn trái cấm bấy giờ mắt hai người mở ra và họ thấy mình trần truồng: họ mới lấy lá làm khố che thân.” (St 3 :6-7)

Thánh Phaolô cũng nói rõ về tội của Nguyên Tổ và hậu quả của tội này gây ra cho toàn thể nhân loại như sau:

 “Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội gây nên sự chết; như thế sự chết đã lan tràn tới mọi người bởi vì một người đã phạm tội.” (Rm 5: 12)

Như vậy, nếu lý luận theo linh mục kia  là không thể áp đặt nguyên tắc “quýt làm cam chịu”, thì tất cả những lời dạy trên của Giáo Hội và Kinh Thánh về tội Nguyên Tổ sẽ trở nên vô nghĩa và phi lý.

 Và nguy hại hơn nữa là toàn bộ công cuộc cứu chuộc loài người của Chúa Kitô và Phép Rửa sẽ sụp đổ hết, vì sở dĩ Chúa Giêsu vâng lời Chúa Cha để sinh xuống làm Con Người và chịu khổ hình thập giá là vì tội của loài người nói chung mà Chúa phải hy sinh chính mạng sống của mình để “làm giá chuộc muôn người” (Mt 20: 28).

Và cũng vì tội đã xâm nhập trần gian do một người duy nhất đã phạm tội mà “Thiên Chúa đã lên án tội trong thân xác Con mình” như Thánh Phaolô đã viết. (Rm 8: 3).

Vậy không thể dựa vào khoa học để  bác bỏ sự kiện tội nguyên tổ và hệ lụy của tội này đối với toàn thể nhân loại như có người đã đặt vấn nạn.

Mặt khác, cũng có linh mục Dòng đã nói với giáo dân là không có điều gì gọi là   các Thiên Thần bản mệnh cả, nhân lễ mừng kính các Thiên Thần bản mệnh ngày 2 tháng 10 hàng năm!

Giáo Lý của Giáo Hội nói rất rõ về sự hiện diện và vai trò của các Thiên Sứ  như Michael, Grabiel, Rafael và các Thiên Thần bản mệnh (Guardian Angels) (x. SGLGHCG số 334-335). Vậy mà có người dám phủ nhận điều này để gây hoang mang cho giáo dân!

Cũng liên quan đến vấn đề giáo lý và tín lý,  xin nói rõ một lần nữa về điều có người gọi là ‘thiên tính của người Kitô hữu, một “giải mã” tưởng tượng của người không am hiểu thần học và giáo lý của Giáo Hội, cũng như không có trách nhiệm giảng dạy giáo lý, tín lý, thần  học và Kinh Thánh cho ai, nhưng cứ nói như người am hiểu chắc chắn và dạy dỗ người khác về sự sai lầm to lớn của mình.

Tôi khẳng định một lần nữa là không có tín lý (dogma) và giáo lý (doctrine) nào của Giáo Hội từ xưa đến nay dạy  là “người Kitô hữu có thiên tính” như ai đã “thông thái” hơn cả Giáo Hội khám phá ra. Đây là sự sai lầm đưa đến lạc giáo (heresy) nếu không phục thiện mà kịp thời sửa sai. Con người chỉ có hy vọng được “thông phần bản tính của Thiên Chúa sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian” này như Thánh Phêrô dạy mà thôi. (2 Pr 1:4)

Nhưng thông phần Thiên tính ở đây chỉ có nghĩa là được trở nên giống Chúa trong mọi sự tốt lành, thánh thiện cũng như được trọn vẹn vui hưởng Thánh Nhan Người, sau khi đã toàn thắng tội lỗi trong quyết tâm sống tin yêu Chúa trên trần thế này, cho đến hơi thở cuối cùng.  Nghĩa là bao lâu còn sống trong thân xác có ngày phải chết này, thì bấy lâu chúng ta còn phải chiến đấu để thuộc về Chúa, sống theo đường lối của Chúa để xứng đáng là con cái Người, xứng đáng là Dân Thánh, là “Hàng tư tế vương giả “phát sinh từ Phép Rửa.  Nhưng nếu ta không cộng tác với ơn Chúa để trở nên hoàn thiện mỗi ngày, thì những ơn ích lớn lao của Phép rửa và cả công cuộc cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, cũng sẽ trở nên vô ích vì con người còn có tự do, để cộng tác và bước đi theo Chúa hay khước từ Người sau khi được rửa tội và thêm sức.

Đây là thực tế không ai có thể phủ nhận được trong tiến trình muốn nên thánh nghĩa là được cứu rỗi nhờ công nghiệp của Chúa Kitô.  

 Trong tinh thần và mục đích đó, Giáo Hội cầu nguyện như sau trong Thánh lễ Tạ Ơn, khi chủ tế hay phó tế pha chút nước vào chén rượu nho:

“Nhờ dấu chỉ nước hòa rượu này, xin cho chúng con được tham dự vào thần tính (divinitatis=divinity) của Đấng đã đoái thương thông phần nhân tính (humanitatis=humanity) của chúng con.”

Như vậy, nếu đã có “thiên tính” thì còn cầu nguyện cho được “tham dự vào thần tính” làm gì nữa, hỡi ai vẫn nhắm mắt  nói sai lầm là “con người có thiên tính”?

Một lần nữa, ước mong người anh  em  bình tĩnh nghĩ lại và khiêm tốn nhìn nhận sai lầm của mình, nếu không muốn làm trò cười cho những người hiểu biết vô tình đọc những lý luận thiếu căn bản thần học và giáo lý của mình.

3.     Giáo Luật (Canon law)

Bộ Giáo Luật ban hành năm 1983  là luật áp dụng chung ở khắp nơi trong Giáo Hội Công Giáo.

Liên quan đến việc áp dụng Giáo luật, ta cần phân biệt hai điều căn bẳn sau đây:

a.      Luật tòng nhân (personal ) có nghĩa là đi bất cứ nơi nào trong Giáo Hội thì vẫn phải theo luật này : thí dụ, ai biết mình đang có tội trọng mà chưa được tha tội qua bí tích hòa giải (xưng tội) thì không được rước Mình Thánh Chúa. Linh mục cũng không được cử hành thánh lễ nếu biết mình đang có tội trọng. (giáo luất số 916).

Thêm nữa, Luật buộc giữ ngày Chúa nhật là luật chung áp dụng cho mọi tín hữu ở khắp nơi, nghĩa là sống ở đâu thì cũng buộc giữ luật này (giáo luật số 1246).

b.     Luật tòng thổ (territorial) áp dụng cho từng quốc gia, theo qui đinh của Hội Đồng Giám Mục địa phương, với sự cho phép của Tòa Thánh. Thí dụ, luật ăn chay kiêng thịt, luật buộc xem Lễ các ngày Lễ Trọng như Lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, Đức Mệ Hồn Xác lên Trời, Lễ Thăng Thiên, Lễ Các Thánh Nam Nữ, Lễ Thánh Giuse,  Lễ hai Thánh Phêrô Phaolô. v.v.  ở Mỹ, nếu những ngày lễ trên rơi vào ngày thứ bảy hay thứ hai thì được dời vào ngày Chúa Nhật để giáo dân không phải đi Lễ hai lần. Nhưng nếu rơi vào ngày khác trong tuần thì không được dời sang ngày Chúa nhật. (giáo luật số 1246 triệt 2)

Lại nữa , việc ăn chay kiêng thịt,  giáo luật chỉ buộc phải giữ hai ngày Lễ Tro và Thứ  Sáu Tuần Thánh, còn các ngày thứ sáu khác thì tùy Hội Đồng Giám Mục đia phương quyết định phải giữ hay được tha,( giáo luật số.1251).

Ở Mỹ , không buộc kiêng thịt và ăn chay các ngày thứ sáu.

Tóm lại, mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo Hội đều được mong đợi  tuân thủ trọn vẹn những gì Giáo Hội dạy trong mọi phạm vi giáo lý, tín lý, luân lý, giáo luật, phụng vụ và bí tích. Ai không tôn trọng điều nào là tự ý mình tách ra khỏi Quyên Giáo Huấn ( Magisterium) của Giáo Hội và có nguy cơ lạc giáo (heresy) nếu dạy sai một giáo lý nào của Giáo Hội.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

VỀ MỤC LỤC
NGỤ NGÔN THỜI BẤN LOẠN (KỲ 13)
  

Ngụ ngôn 42

Các loài chim chóc trong khu rừng bỗng dưng nhốn nháo vì rừng ô nhiễm và bao nhiêu những nguy cơ đe doạ sinh thái đến từ tứ phương. Họp bàn mãi không xong, các loài chim quyết định mở đại hội trên đỉnh non cao để bàn kế hoạch bảo vệ môi trường.

Ngọn núi thì quá cao mà tiện nghi thì không có đủ, vả lại tất cả các loài chim mà có mặt hết thì sẽ khó cho ban tổ chức. Do đó có ý kiến đề nghị là đại hội lần này nên giới hạn các loài chim tham dự.

Nhưng tiêu chí nào để phân loại? Khó quá. Không lẽ chọn theo ngoại hình. Cũng không thể chọn theo dân số. Và càng không thể chọn theo kiểu ngẫu nhiên.

Cuối cùng, một vị trong ban tổ chức vuốt lông đuôi cười khà khà: “Thế thì ta quyết định không cho loài vẹt tham dự là được rồi”.

Các loài chim vốn có cảm tình với các chú vẹt dễ mến, đồng loạt hỏi tại sao, thì ban tổ chức trả lời: “Vì loài vẹt biết nói tiếng người và luôn nói khi cần, nên không thể tham dự đại hội được!”

Ngụ ngôn 43

Triều đình mở khoa thi năm ấy nhằm tuyền chọn người tài đức làm quan coi sóc tình hình xã hội. Khoa thi mở ra, lớp lớp người tài ứng thí và số trúng tuyển khá đông. Chẳng biết chọn ai trong số các hiền nhân, nên một vị quan nghĩ ra cách là chọn theo tướng mạo.

Các pháp sư lừng danh được mời đến. Các vị hiền tài được tuyển theo tướng mạo cũng còn nhiều, mà triều đình thì chỉ chọn một.

Trong tình huống khó khăn ấy, quan thái giám bước ra và nói: “Thần có cách chọn người phù hợp”. Nói xong, ông nhắm mắt đến nắm cổ từng vị hiền tài mà lắc lên lắc xuống. Mấy canh giờ sau, ông hoan hỉ báo tin là đã chọn được người xứng đáng.

Được hỏi vì sao vị ấy xứng đáng làm quan coi sóc xã hội, quan thái giám trả lời: “À, vì anh này cổ cao và mềm, chuyện gật đầu dễ như ăn nước mắm”.

Cả triều đình vỗ tay tán thành.

Ngụ ngôn 44

Sợi thun được đặt bên sợi thép. Thun bảo: “Tôi đây vốn mềm dẻo nên dể sử dụng. Ông cứng như… thép thế kia chỉ làm móc treo ba đồ lặt vặt”. Thép cười không nói.

Hôm sau thun lại bảo: “Tôi đây ai muốn kéo muốn co tôi đều đáp ứng. Còn ông mà bị kéo là chỉ gãy”. Thép cười không nói.

Bỗng trẻ con rước đèn đi ngang. Một chiếc đèn bị cháy, chúng sợ quá quăng ngay chỗ anh thun và anh thép. Anh thun co rúm lại thành đám bùi nhùi. Anh thép vẫn hiên ngang, nhưng thấy thương anh thun đang đối thoại với lửa. Lần này thép không cười không nói.

Gioan Lê Quang Vinh

Mời thăm www.giaoducconggiao.net

VỀ MỤC LỤC
NGỪA THAI HAY PHÁ THAI - LỘT MẶT NẠ THUỐC PHÁ THAI “ELLA”

 

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, M.D.

 

Ngừa thai bằng thuốc và ngay cả bằng bao cao su cũng bị Giáo Hội cấm. Dù vậy vấn đề vẫn còn đang được tranh cãi ngay cả trong giới giáo sĩ.

 

Hiện nay có rất nhiều thuốc gọi là “ngừa thai” đang lưu hành trên thế giới, nhưng dân thường nhiều người không biết thuốc nào là ngừa thai và thuốc nào là phá thai.

 

Trong bài này người viết không bàn về vấn đề Giáo Hội cấm dùng những thứ đó có đúng hay hợp lý không mà muốn chia sẻ với độc giả về tác dụng hóa học thực của những thuốc hiện đang lưu hành trên thị trường thường được quảng bá, dán nhãn hiệu là thuốc “Ngừa Thai”. Nó thực sự có phải là ngừa thai hay là phá thai?.

 

Hai thứ thuốc ngừa thai: Dài hạn và Ngắn hạn (Khẩn Cấp )

 

Hiện nay có hai loại thuốc ngừa thai, loại dài hạn và ngắn hạn hay gọi là khẩn cấp. Thuốc ngừa thai dài hạn có rất nhiều hiệu và người mua  phải có toa bác sĩ. Còn loại gọi là “Ngừa thai khẩn cấp” (emergency contraceptive) thì lại không cần toa bác sĩ, chỉ cần người mua phải từ 17 tuổi trở lên như thuốc Plan B, Escapelle, Norlevo hoặc Next Choice v.v…

 

Ngày 13 tháng 8 năm 2010 vừa qua cơ quan kiểm soát Thức Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA / Food and Drug Administration) loan tin vừa chấp thuận một loại thuốc mới gọi là ngừa thai khẩn cấp  (emergency contraceptive) có tên là ELLA. Trước đây đã có thuốc Plan B cũng được nói là để “ngừa thai khẩn cấp” nhưng hiệu quả chỉ đến 3 ngày (72 giờ) sau khi giao hợp, nay thuốc Ella được quảng bá là có hiệu quả tới 5 ngày (120 giờ) sau khi giao hoan. Thuốc do công ty dược phẩm HRA Pharma tại Paris, Pháp sáng chế và sẽ được công ty dược phẩm Watson ở Morrison thuộc bang New Jersey, Hoa Kỳ tung ra thị trường. Các cố vấn và chuyên viên của Cơ quan FDA đã chấp nhận thuốc này với tỷ số thuận đồng nhất 100%.

 

Chúng ta chẳng còn lạ gì những lời bóng bảy điêu luyện, đầy vẻ nhân nghĩa làm mờ mắt  khách hàng của phe chủ trương phá thai. Nhưng với 100% FDA vừa mới chấp thuận chắc chắn đòi hỏi những người chủ trương bảo vệ sự sống, phải có nhiều can trường và kiên nhẫn mới hy vọng có thể tranh đấu thành công được. Cái bí quyết của nhà sáng chế thuốc Ella cũng như phe chủ trương phá thai là không muốn chúng ta biết rõ tác dụng đích thực của thuốc. Nó không phải là thuốc “ngừa thai khẩn cấp” mà chính là thuốc “Phá Thai”.

 

Tác dụng phá thai của thuốc ngừa thai

 

Thuốc ngừa thai, dài hạn cũng như khẩn cấp, đều dùng loại hóa chất nhân tao (synthetic) được biến đổi từ kích thích tố progestin là chất có tác dụng giống như kích thích tố progesterone. Chất này là chất cần thiết để điều hòa kinh nguyệt của người đàn bà và giúp cho thụ thai. Chất progestin dù là một mình hay phối hợp với estrogen cũng có tác dụng ngăn ngừa trứng rụng. Đây chính là đặc tính ngừa thai sơ khởi. Những loại thuốc ngừa thai khẩn cấp có chất progestin thông thường nhất là levonorgestrel, một hóa chất nhân tạo và là yếu tố chính có tác dụng tích cực trong nhiều thuốc quen thuộc như: Plan B, Escapelle, Levonelle, Norlevo và Next Choice[1]. Cơ quan kiểm soát Thức Phẩm và Dược Phẩm (FDA) đã giới thiệu thuốc Ella là thuốc ngừa thai khẩn cấp, và lại so sánh nó với chất levonorgestrel ngay trong bản chỉ dẫn tính chất và cách dùng của thuốc.

 

Thuốc Ella thực chất là thuốc phá thai

 

Nhưng thuốc Ella có tên hóa học là ulipristal acetate không phải là kích thích tố progestin nhân tạo có tác dụng giống như tác dụng của kích thích tố progesterone. Trong bản tin phổ biến cho báo chí, cơ quan FDA lại quả quyết thuốc Ella là chất chống-progesterone (progesterone antagonist)[2]. Không giống như progestin, chất chống-progesterone là chất cản tác dụng của progesterone. Thuốc này khi tiếp cận với progesterone sẽ cản không cho progesterone tác dụng khiến tác dụng của nó bị vô hiệu. Ta biết rằng kích thích tố progesterone là chất nuôi dưỡng và bồi bổ cần thiết của màng / thành tử cung để nó sẵn sàng đón nhận thai phôi một cách an toàn, nghĩa là khi tinh trùng nam kết hợp với noãn sào / trứng của người đàn bà thành công để cho ra thai phôi, thai phôi này phải được trú ẩn an toàn trong tử cung người đàn bà. Khi progesterone không còn hiệu lực nữa thì tử cung người đàn bà không thể nào chứa chấp và nuôi dưỡng thai phôi được, tất nhiên thai phôi sẽ chết và bị đào thải ra ngoài. Một chất chống tác dụng của progesterone có trong thuốc rất thịnh hành hiện nay trên thị trường là thuốc phá thai RU-486 có tên hóa học là mifepristone.

 

Trong bản trình bày thuốc Ella, Cơ quan FDA nhấn mạnh là tác dụng của thuốc Ella là “ngừa thai”, không phải “phá thai”. Vậy thì rõ ràng “Thuốc Ella không được dùng để phá thai”[3]. Nhưng chúng ta thấy rằng, tuy chất chống-progesterone có thể ngăn ngừa trứng rụng, nhưng trong kỹ nghệ kế hoạch hóa gia đình người ta đã và đang dùng nó làm   thuốc chính để phá thai. Chúng ta cũng thấy rõ ràng như vậy trong những bản trình bày tính chất của thuốc ở thập niên 1980 [4].

 

Tử cung mất màng nuôi dưỡng thì thai phôi chỉ có chết đói mà thôi. Dù mặc cho thuốc cái áo “ngừa thai” với bất cứ màu sắc gì đi nữa thì chất chống-progesterone cũng là thuốc phá thai.

 

Tác dụng Phá Thai của  thuốc ngừa thai giả tạo

 

Hiển nhiên là cơ quan FDA đã dùng lập luận của Hiệp Hội Sản Phụ Khoa Hoa Kỳ (được quốc hội chấp nhận) , viện Guttmacher và Hiệp Hội Kế Hoạch Phụ Mẫu để xác định thế nào là thụ thai. Họ định nghĩa: “Thụ Thai được coi là hoàn thành chỉ sau khi thai phôi   bám được vào thành tử cung một cách trọn vẹn[5]. Do đó họ lý luận: Ngừng chỉ hoặc làm gián đoạn việc thụ thai không bao gồm việc giết thai phôi khi nó chưa bám được vào thành tử cung của người đàn bà.

 

Nhưng Giáo Hội coi thai phôi đã có sự sống rồi. Làm ngưng sinh hoạt của thai phôi tức hủy giệt sự sống, giết thai phôi tức là giết người. Bởi lẽ khi tinh trùng của người đàn ông kết hợp thành công với noãn sào (trứng) của người đàn bà và tạo ra thai phôi, thì tiến trình phát triển đầu tiên của cái thai, sự sống con người đã bắt đầu. Hủy giệt nó tức là phá thai, giết người.

 

Như vậy quí vị đã thấy rõ cái thâm ý trong câu chuyện này chưa?. Chỉ vì cái danh từ, cái định nghĩa mà thuốc Ella, khác với thuốc RU-486 thoát được việc hạn chế ngân khoản của liên bang dưới tu chính án Hyde. Nó vẫn được liên bang cấp cho ngân khoản trong kế hoạch ngừa thai.

 

Mặc dù nhiều điều khoản của chương trình Y Tế của TT Obama phải nhiều năm nữa mới có hiệu lực, nhưng một số ít sẽ áp dụng trong tháng 9 này. Trong số những điều khoản này là đòi hỏi những hãng bảo hiểm sức khỏe mới của tư nhân (nghĩa là được thiết lập và có thay đổi sau ngày 22 tháng 9 năm 2010) phải cung cấp / trả chi phí cho những dịch vụ gọi là “phòng ngừa” và “tìm bệnh” cho đàn bà và trẻ con. Những điều lệ cuối cùng được coi là “phòng ngừa” thì hiện đang được biên soạn và sẽ công bố vào tháng sau. Còn những dịch vụ về kế hoạch hóa gia đình thì đã có rồi. Nếu thuốc Ella vẫn tiếp tục được xếp vào loại thuốc ngừa thai cấp kỳ, thì chắc chắn nó sẽ được tài trợ với ý nghĩa phòng ngừa cho phụ nữ.

 

Nói tóm lại, liên bang sẽ tài trợ thuốc Ella để phá thai và các hăng bảo hiểm sức khỏe tư sẽ buộc phải tài trợ cho dịch vụ này.

 

Tật bẩm sinh, hậu quả của thuốc ngừa thai.

 

Nếu thuốc, vì một lý do nào đó không có hiệu quả và đứa bé sinh ra do người mẹ đã uống Ella thì có bị dị tật không? Chúng tôi không biết. Nhưng có điều đặc biệt là, cơ quan FDA, dù biết rõ có sự liên đới tương quan dược học với thuốc RU-486, mà vẫn thử nghiệm thuốc Ella trên người với những nghiên cứu không có kiểm soát về thai phôi và bào thai được cấy vào thành tử cung. Một trong những cố vấn của Hội đồng FDA đã cảnh cáo chống lại những nghiên cứu dù có kiểm soát đi nữa. Ông cho rằng những nghiên cứu này có thể sai lầm bởi vì những người có vấn đề thường hay bá cáo kết quả hơn là những người chẳng có vấn đề gì cả[6]. Đúng là tin vào lời bá cáo của đàn bà là hư chuyện!

 

Tuy nhiên, nghiên cứu trên súc vật thì FDA cho biết chuột bị 100% và thỏ bị 50% hư thai  do hậu quả của thuốc Ella[7]. Do đó trên nhãn hiệu của thuốc đã có báo động cấm người có thai không được dùng thuốc. Cho dù quan sát trên thỏ con sinh ra không bị dị tật nhưng chẳng có ai mà không nghi ngờ cái hậu quả tai hại trầm trọng của thuốc Ella trên  thai nhi của người dùng thuốc.

 

ĐÔI LỜI KẾT

   

Xem vậy, câu hỏi được đặt ra là những thuốc ngừa thai cấp cứu có chất gốc progestin như thuốc Plan B đôi khi có tác dụng phá thai hay không vẫn còn đang trên bàn tranh cãi gay gắt. Do đó về phạm vi luân lý đạo đức Công Giáo cũng đang có những cuộc hội luận bàn cãi xem những thuốc đó có được dùng cho những nạn nhân bị hiếp dâm hay không[8]. Nhưng tác dụng làm hư thai hiển nhiên của những thuốc có chất chống kích tố progesterone như thuốc Ella thì đã rõ ràng rồi. Như vậy câu hỏi đặt ra đã có câu trả lời và vấn đề luân lý đạo đức cũng đã được giải quyết.

 

Về những thuốc ngừa thai và phá thai này, thiết nghĩ giới chức có trách nhiệm chỉ dẫn và giáo dục giáo dân cũng nên tìm hiểu cho tường tận để có thể hướng dẫn người tín hữu và phán quyết một cách hữu hiệu và hợp lý, hợp khoa học và hợp luân lý đạo đức.

 

 

Fleming Island, Florida

August 31, 2010

NTC

 


[1] Levonogestrel cũng là chất có trong vòng xoán Mirena đặt trong tử cung và trong thuốc cấy dưới da Norplant and Jadelle.

 

[3] Ella is not indicated for termination of an existing pregnancy. www.accessdata.fda.gov/drugsatfda_docs/label/2010/022474s000lbl.pdf; see sec.5.1.

[4] Nieman et al., “The Progesterone Antagonist RU 486”, New England Journal of Medicine, vol.316,no.4 (January 22, 1987), 187-191; see also Marie Hillard, “Ulipristal and Catholic Hospital,” Ethics & Medics, vol.35, no.9 (Sept.2010), p.2, especially footnotes 13-15.

[5] A pregnancy is considered to be established only after implantation is complete. Quoted in Rachel B.Gold, “The implication of Definition when a woman is pregnant”, The Guttmacher report on public policy, vol.8,no.2 (May 2005),8;see also www.plannedparenthood.org/health-topics/pregnancy/how-pregnancy-happens-4252.htm

[8] Những ai  thích đàm thoại/bàn luận với những nhà Đạo Đức Luân Lý Sinh học Công Giáo thì nên đọc chương 11 trong tập Catholic Health Care Ethics Manual do Trung Tâm National Catholic Bioethics Center ở Philadelphia phát hành năm 2009.

VỀ MỤC LỤC
CĂN NHÀ
 

Người Philipines có kể câu chuyện ngụ ngôn để nói lên sự quan trọng của tinh thần hiệp nhất trong một tập thể như sau.[1]

Một ngày nọ, các bộ phận của căn nhà đã tranh cãi nhau xem thử thành phần nào là quan trọng nhất trong một căn nhà. Những chiếc cột thì cho rằng, chúng quan trọng nhất vì chúng là những cột trụ giúp căn nhà đứng vững. Bốn bức tường cũng cho rằng, chúng mới quan trọng nhất vì chính chúng giúp che gió và giúp cho các cây cột đứng vững được. Mái nhà cũng không chịu thua khi tranh cãi rằng, mái nhà là quan trọng nhất vì không có mái nhà thì không ai ở trong đó. Nếu không có mái nhà thì căn nhà sẽ chịu mưa nắng và không phải là nơi trú ẩn an toàn cho con người. Những chiếc đinh dù rất nhỏ bé nhưng cũng lý luận rằng, chúng mới là quan trọng vì chúng biết liên kết những cây cột với các bức tường, chúng giúp cho mái nhà vững chắc.

Cuộc tranh cãi kéo dài ngày này qua ngày khác cho đến một hôm chúng quyết định không ở chung với nhau nữa. Nghĩa là mỗi thành phần trong căn nhà tự tách mình ra đứng riêng. Chúng quyết định nhờ chị gió, chị mưa và động đất giúp chúng tách mình ra khỏi căn nhà. Chỉ sau một vài giây đồng hồ, căn nhà sập đổ hoàn toàn. Những chiếc cột không còn đứng vững; những vách tường không có sức mạnh để cản gió; mái nhà không còn che mưa nắng được; và những chiếc đinh bị lăn lóc và không còn dùng vào được việc gì.

* * *

Quí bạn thân mến, một căn nhà được xây dựng bằng nhiều thành phần khác nhau. Những cây cột, những bức tường, những mái tranh, và những chiếc đinh. Dù xem chừng như cái này quan trọng hơn cái kia, nhưng thực ra, chúng chỉ thực sự quan trọng khi chúng biết đứng chung với nhau. Sự đứng chung với nhau giúp cho vai trò và giá trị của chúng thêm quan trọng, chứ không phải khi đứng riêng một mình làm chúng quan trọng. Nói cách khác, khi biết đứng chung với nhau thì làm cho vai trò của mỗi thành viên thêm giá trị, nhưng khi đứng riêng, thì những giá trị cá nhân sẽ chẳng là gì cả.

Chiếc cột, bức tường, mái nhà, cây đinh chỉ chu toàn bổn phận và sứ mạng của chúng khi chúng chấp nhận chia sẻ trách nhiệm cho nhau; khi chúng biết đứng chung với nhau; và chấp nhận sự quan trọng khác nhau nơi những thành phần xung quanh mình. Nếu chỉ nhận ra sự quan trọng của mình mà không nhận ra sự quan trọng của người khác thì sẽ dẫn đến cãi vả, tranh dành hơn thua, được mất. Và ngược lại, nếu chỉ nhận ra sự quan trọng của người khác mà không thấy vai trò quan trọng của mình trong tập thể, thì mình cũng làm hỏng đi căn nhà đại cuộc. Nói tóm lại, không ai quan trọng hơn ai, và cũng không ai kém quan trọng hơn ai. Chúng ta có sự khác biệt trong vai trò, nhưng chúng ta không có sự khác biệt trong trách nhiệm. Chúng ta có sự khác biệt trong vị trí của mội tập thể, nhưng chúng ta không có sự khác biệt trong sứ mạng. Tất cả đều cần nhau, và tất cả đều lệ thuộc vào nhau. Nếu không cần nhau, không hợp tác với nhau, thì dù thiếu đi một cây đinh, căn nhà cũng có thể bị phá sập bất cứ lúc nào.

Bạn thân mến, mục Sống Sao Cho Đẹp mời bạn nhận ra vai trò của mình và của người khác, cũng như trách nhiệm của mình và cũng như của họ. Chúng ta nên nhìn vào trách nhiệm và sứ mạng của họ hơn là vị trí tước hiệu bên ngoài. Dù vai trò của họ quan trọng đến bao nhiêu đi chăng nữa, họ vẫn phải cần bạn. Và vai trò của bạn có nhỏ bé đến đâu đi chăng nữa, trách nhiệm của bạn cũng lớn như họ vậy.

Thưa bạn, tiếng vỗ tay của khán thính giả cũng quan trọng như khả năng trình diễn của người nghệ sĩ. Nếu có khác nhau chẳng qua cũng chỉ là khác ở vị trí: kẻ đứng người ngồi. Còn thực ra cả hai cũng chỉ phục vụ cho nghệ thuật và đem niềm vui đến cho nhau, phải không bạn?

Br. Huynhquảng

Mời bạn ghé thăm trang  http://brhuynhquang.org/.

Email liên lạc: brhq@brhuynhquang.org


[1] Biên tập lại từ The Parts of the House Argue in Wisdom Tales (Atlanta: August House, Inc., 1996), 101.

VỀ MỤC LỤC
NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA HÔN NHÂN (2)
  

NỀN TẢNG CỦA NHỮNG XUNG KHẮC HÔN NHÂN 

Tất cả những vấn đề thuọc về hôn nhân đều có nền tảng xã hội của thời đại chúng ta. Đây là lý do tại sao, như chúng ta đã lưu ý, những vấn đề của hàng ngàn, hàng vạn người đàn ông cũng như đàn bà đều giống nhau. Những mẫu xung đột giữa vợ và chồng phản ảnh ảnh hưởng của vấn đề chung mà nhân loại ngày hôm nay đang đối đầu: kinh tế bất ổn, sự vô dụng mà nhiều người cảm thấy đối với những vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế của thời đại chúng ta, sự thiếu vững chắc được gây nên bỡi những thay đổi sâu xa về giá trị và đạo đức luân lý, sự chia rẻ của xã hội thành những đơn vị nhỏ mà mỗi đơn vị lo đi tìm lợi ích cho riêng mình, sự nghi ngờ nhau được gây nên bỡi sự tranh giành và đọ sức nhau, và trên hết là sự tranh đấu cho sự ưu thế của nam và nữ. Đây là những yếu tố mang lại chiều sâu và ý nghĩa cho những tranh luận vô nghĩa và không quan trọng. Biết những yếu tố nầy giúp được chút ít trong việc khuất phục những tình thế khó khăn của chồng và vợ. Để hữu ích, kiến thức phải được áp dụng. Không may, chỉ lời khuyên về kỷ thuật thì có giá trị giới hạn vì thái độ cá nhân là động lực quan trọng nhất đàng sau bối cảnh. Hiểu về chính mình và người bạn cũng như sự hiểu rõ những bộ măt liên quan đến bản tính con người sẽ mang lại một sự giúp ích hữu hiệu mà con người có thể tìm thấy trong công việc phải đối phó với cuộc sống và với việc đã kết hôn.  

BẤT TƯƠNG XỨNG VỀ TÍNH DỤC

Trong khi thảo luận đâu là những trở ngại cho hạnh phúc hôn nhân, chúng ta hãy mở mắt xem những nhu cầu và những xung khắc của con người nằm sâu xa bên dưới. Sự tương hợp về tính dục được xem là một trong những căn bản của việc hiểu biết về hôn nhân, vì hôn nhân là luật thiết định hợp lý để cung cấp cho sự thỏa mãn về tính dục. Sự thỏa mãn hỗ tương về tính dục là luật trừ hơn là qui luật trong những hôn nhân của thời đại chúng ta. Vì sự rất thông thường của việc không thỏa mãn về tính dục trở nên quá rõ ràng nên nhiều sách được viết để giúp thăng tiến về liên hệ tình dục trong hôn nhân. Nhiều cuốn đã được viết về những khó khăn trong việc hài hòa tính dục giữa nam và nữ, và làm thế nào để khắc phục được những trở ngại đó. Nhiều người đã khát vọng loại văn chương nầy, hy vọng nhận được câu trả lời cho những khát vọng mong thõa mãn được những nhu cầu cần thiết đó. Nhiều cặp vợ chồng có thể đã tìm được một vài thoải mái từ những cuốn sách đó. Nhưng tôi vẫn còn lấy làm lạ: có phải cái ký kết mới của họ về hạnh phúc hôn nhân đến từ lời khuyên về kỷ thuật hay từ thái độ mới của một cặp vợ chồng đã được nối kết lại bỡi sự tò mò và mạo hiểm muốn chia xẻ cùng một trách nhiệm chung. Có thể là sự chia xẻ nầy sẽ mang lại một sự hợp nhất sâu xa hơn, lâu dài hơn về mục đích và lợi ích hơn là sự hiệp nhất được thiết lập bỡi đám cưới. Nhưng nếu chỉ có kỷ thuật mà thôi không thể có hiệu quả lâu dài cũng không thể cứu được một sự hợp nhất ngày càng xuống cấp. 

Câu bất tương xứng trong tính dục đã được dùng và thường bị lạm dụng như một cớ để che dấu sự khước từ. Mỗi cá nhân bị lôi cuốn về tính dục bỡi một vài nét nào đó của một người khác phái hơn là bỡi những người khác. Những kinh nghiệm trước đây và những khuynh hướng cá nhân giúp họ chọn lựa những sở thích của họ. Khi một người cảm thấy mình bị lôi cuốn bỡi một loại người nào đó, sự thích thú như thế có thể nói là quan trọng trong suốt tiến trình ve vãn. Sau khi đám cưới, những yếu tố khác điều khiển liên hệ phái tính. Có loại cử chỉ ái ân một thời được yêu chuộng nhất có thể không bao lâu lại mất đi sự hấp dẫn. Chúng ta đã lưu ý đến một trường hợp trong đó người chồng lại tái khám phá ra người vợ có một sức hấp dẫn về tính dục cho dẫu ông đã bị thuyết phục rằng nàng có thể không bao giờ kích thích ông được nữa. Thiếu sự thích thú về tính dục nói chung, thiếu sự kích thích, sự khác biệt về những nhu cầu tính dục, không có khả năng hay lạnh cảm, những cái đó không là nguyên nhân của sự bất tương xứng về tính dục nhưng là kết quả của những xung khắc cá nhân. Chúng phản ảnh những thái độ đối nghịch nhau giữa vợ và chồng, những thái độ nầy ảnh hưởng đến những hành vi liên quan đến tính dục. Không có một chỉ dạy về kỷ thuật nào toàn hảo, mà chỉ do hai người nếu yêu nhau chân thành có thể khám phá ra về vấn đề nầy và có thể giữ được mãi sự lôi cuốn hấp dẫn nhau về chuyện tình ái. 

Những nhà theo chủ nghĩa vật chất đánh giá quá cao sự quan trọng của qui luật tình ái và sự thõa mãn tròn đầy của nó. Họ tin vào sự an bài từ trước về tính dục và tin vào sự tận hưởng triệt để nguồn khát vọng đó. Nhưng chúng ta hãy xem những kinh nghiệm xảy ra. Rất thường, đêm tân hôn là đêm thất vọng nhất và đánh dấu sự khởi đầu của sự bất hạnh và thực tại hôn nhân. Cô dâu và chú rể không thể tìm thấy sự thỏa mãn hỗ tương và sau đó cũng không học hiểu biết, cảm thông nhau hơn. Qui luật tình ái của họ thì quá khác biệt. Họ cảm thấy mình bị đốt cháy bỡi đam mê, lôi cuốn vào mê hồn trận, và chỉ sau một lúc thì ngọn lửa tàn đi. Khát vọng của họ được thõa mãn. Họ đi tìm kích thích mới, mạo hiểm mới, kinh nghiệm mới. Ngay trong những trường hợp bình thường hơn, nhiều người tin rằng sự kích thích không thể làm sống lại thói quen hằng ngày, rằng kinh nghiệm mới thì cần để làm nóng bỏng dục vọng, và rằng sự cũ kỹ không có gì mới mẻ, sẽ làm chết khoái cảm. Hàng triệu người tin vào sự tương hợp bẩm sinh về tính dục và sự thụ hưởng tự nhiên về dục vọng, vì kinh nghiệm của họ xem ra phù hợp với niềm tin như thế và không thể nhìn sâu xa hơn vào những cảm nghiệm đó.

SỰ THỎA MÃN ĐÒI HỎI SỰ THÍCH ỨNG LẪN NHAU 

Khi hai người đi vào liên hệ tình ái, mỗi người mang vào cá tính của mình, một số những kinh nghiệm quá khứ, và dĩ nhiên toàn thể con người họ. Phải nói là một điều quá lạ lùng nếu họ phù hợp với nhau. Chuyện ân ái là một nghệ thuật, mà nghệ thuật thì cần phải được phát triển bỡi sự huấn luyện như mọi nghệ thuật khác. Càng là những họa sĩ khá, họ càng phải phù hợp nhau hơn. Nhưng nếu họ không biết nghệ thuật chút nào, và ngay dầu họ khác biệt trong thái độ lúc đầu, họ cũng có thể học hỏi với nhau. Mỗi liên hệ tình ái là một tiến trình thích nghi lẫn nhau. 

Chúng ta có thể tường thuật một vài sự khác biệt mà hai người gặp thấy nơi nhau. Mỗi người có thể là chủ động hoặc thụ động, phục tùng hay chỉ huy, hướng dẫn hay tòng theo. Họ có thể là hung hăng hay nhẫn nại nhịn nhục, nhạy cảm hay man rợ, ích kỷ hay quan tâm. Tất cả những bản tính nầy được biểu lộ trong khi làm chuyện tình ái. Trong một ít tập quán, có thể có một sự đồng thuận tự nhiên, một sự hài hòa hỗ tương. Chúng ta có thể mong đợi điều đó trong mọi thói quen và mọi hành động cá nhân không? Họ biết về nhau quá ít trước khi họ muốn hòa tan trong nhau và vì thế họ thất vọng quá dễ dàng. Hơn nữa, họ thấy nơi người bạn của mình toàn thể quá khứ cá nhân của họ. Điều mà họ đã trải qua, đã thích, đã mơ chợt xuất hiện trong lúc họ cùng nhau nên một. Hàng trăm người gặp nhau trong một đôi vợ chồng. 

Nhưng họ không nhận thấy những tham dự viên của chính mình và họ thất vọng nếu đám đông không phù hợp với họ. Tất cả những tình cảm được cho và nhận, những cảm xúc đối với những người mình yêu, những hình ảnh của bố mẹ, anh chị, bồ bịch, tất cả đều tập trung nơi một người mà chúng ta thấy yêu. Chúng ta không có một con người thật, nhưng là biểu tượng của cái chúng ta đã yêu và cái chúng ta đã mong đợi. Nếu môi trường thuận lợi và người bạn có thể sống phù hợp với mọi yêu cầu, chúng ta sớm muộn rồi cũng tỉnh giấc mộng. Bấy giờ chúng ta phải học nhận ra người bạn chúng ta và yêu người bạn đó. Nhưng nếu chúng ta yêu họ vì cái mà nó biểu tượng trong đầu chúng ta, chúng ta sẽ chán nản và rút lui. Tình yêu chúng ta có thể kéo dài nếu kinh nghiệm mới thì mạnh đủ để chinh phục quá khứ và mở một chương mới về những đòi hỏi và mong đợi của chúng ta. Nếu những người bạn không có những thích ứng hỗ tương cần thiết, sự thất vọng về liên hệ tình ái và sự bất hòa gia tăng đó là kết quả đương nhiên. 

Anh chị Nguyễn đến gặp bác sĩ tâm lý liên quan đến vấn đề không thỏa mãn trong việc chăn gối. Họ tận hiến cho nhau. Tinh thần cộng tác giúp họ hiểu nhau và đồng ý trong việc giải quyết những vấn đề trong cuộc sống chung của họ. Nhưng về chuyện chăn gối họ hoàn toàn hửng hờ với nhau và bây giờ đi đến chỗ họ không còn thích nhau chút nào nữa. Yếu tố quan trọng trong sự thất vọng của họ là sự khác biệt trong việc huấn luyện cảm xúc. Chị Nguyễn là con một của một người mẹ rất tình cảm và đã lớn lên trong bầu khí dịu dàng và tận hiến được biểu lộ một cách cởi mở. Tuy nhiên, anh Nguyễn đã xa gia đình khi mới 13 tuổi, đã tự mình sinh sống từ lúc đó, và đã trải qua tuổi trẻ nay đây mai đó. Cuối cùng anh muốn định cư, có nhà, và có gia đình. Chị Nguyễn gây cho anh ta một ấn tượng với sự tận hiến của một người mẹ và anh ta đã yêu cô. Cô nàng cũng yêu chàng vì anh chàng là một con người cứng rắn hứa hẹn cho nàng một sự bảo vệ và ổn định cuộc sống. Cả hai đều có lý theo cái nhìn mong đợi của họ, nhưng vẫn còn thiếu một điều gì đó. Cô ta không thể thỏa mãn trong việc vuốt ve mà không gợi lên một sự ham muốn tình dục nơi người chồng. Anh ta từ chối đòi hỏi của nàng chỉ muốn gần chàng, muốn được hôn và vuốt ve, và nàng giận dữ quyền lực quá đáng của chàng đối với nàng. Suốt bao nhiêu năm, sự giận dữ lẫn nhau ngày càng lớn mạnh cho đến nỗi người chồng không còn khả năng ấy nữa và hoàn toàn mất đi sự ham muốn tình dục vì anh cảm thấy sự phục tùng của nàng đầy đau khổ và miễn cưỡng. Cả hai đã không học yêu cái mà người kia thích. Mỗi người cảm thấy bị lừa dối trong những đòi hỏi chính đáng của riêng mình. Cả hai muốn nhận sự thỏa mãn mà không muốn cho. 

THÁI ĐỘ QUAN TRỌNG HƠN KỶ THUẬT 

Sự phấn đấu để được thỏa mãn là chuyện bình thường và là nguồn của sự đụng độ và chán nản. Ít người nhận ra sự thỏa mãn trong việc tình ái nằm trong sự biết thỏa mãn. Không phải họ không có ý hướng thỏa mãn nhưng họ không sống cho nhau và sống trong nhau. Vấn đề ở đây là họ chỉ thấy cảm giác riêng họ, khả năng riêng họ, cái tôi của họ bị tổn thương hoặc bị khước từ. Họ không ra khỏi chính họ. Tình yêu thỏa mãn có nghĩa là cảm nghiệm được cái cảm giác của người mình yêu. Bao lâu người ta có cảm giác đòi hỏi, đầu óc họ ra khỏi người mình yêu và chỉ tập trung chung quanh cái tôi của họ. 

Cũng vậy, nếu cảm giác về bổn phận hoặc về tai họa đối với danh tiếng của họ phát triển thì trường hợp tương tự cũng xảy ra như vậy. Dẫu người ta xem ra thích thú trong việc làm tròn bổn phận của họ, cảm giác về bổn phận thì không tương hợp với việc cảm được cách tròn đầy cái cảm giác của người bạn mình. Bất cứ lợi ích nào ngoài sự vui hưởng và thỏa mãn với nhau đều làm phân tán và giết chết cảm xúc. Sự lạnh cảm và không khả năng là kết quả của việc giết chết xúc cảm đó. Đó là những phản ứng tự nhiên về thần kinh và che giấu những ý hướng thật như bất cứ một triệu chứng thần kinh nào. Trong lúc người ta quan tâm đến sự thỏa mãn, người ta thường chú trọng hơn đến tiếng tăm hoặc thất bại và những vấn đề bảo vệ khác. Sự giận dữ đối với vai trò phụ nữ của họ làm nhiều phụ nữ do dự đóng vai trò phụ nữ trong việc ân ái và sự giận dữ nầy tạo nên sự lạnh cảm. Thường thì phụ nữ không ý thức rằng họ lạnh cảm vì họ yêu chồng và cảm thấy bị kích thích về chuyện tình ái, nhưng họ thiếu mất cái cảm xúc tột đỉnh. Những người khác mong đợi cách luống công một sự kích thích nào đó vì họ không nhận thấy rằng chính họ làm cản trở những xúc cảm họ đi đến chỗ tột đỉnh. Sự bất khả của nam giới cũng giống như vậy. Sự bất khả có nghĩa là: hoặc là giữ khoảng cách hoặc là phản ảnh một sự nghi ngờ sâu xa: họ có là một người đàn ông thật hay không? Thiếu sự kích thích tính dục hoặc không có chiều sâu của cảm xúc luôn có nghĩa là co rút và muốn giữ khoảng cách thường là do bỡi sự không hài lòng, không thỏa mãn trong cuộc sống. 

Thật đáng để xem sự khác biệt thể lý về nhịp điệu giữa nam và nữ trong việc ân ái là một điều cần thiết và được bàn cãi rất nhiều trong thời gian gần đây. Vấn đề là cả nam và nữ trong mọi trường hợp phải thích ứng với nhau vì không phải hai người có cùng một sự huấn luyện. Cái nguy hiểm trong tương quan tính dục là chiều hướng đòi hỏi trên nhau. Chàng và nàng nên hành động và đáp trả cách khác nhau tùy theo tình huống. Chúng ta giáo dục cho nhau nhưng không bao giờ bằng đòi hỏi. Đòi hỏi chỉ làm giận dữ và tạo nên sự bất đồng cũng như sự chống đối. 

Nếu sự thỏa mãn hỗ tương không đạt được cách tự động, người ta phải bắt đầu tiến trình thích nghi bỡi chính họ. Hãy nhớ rằng các bà dễ thất vọng hơn các ông. Vấn đề là: phản ứng chậm trễ của họ là do thể lý hay là do thái độ do dự chung của họ trong việc liên hệ tình ái. Lối huấn luyện thụ động khiến các bà có khuynh hướng đòi hỏi và dễ cảm thấy chán nản hơn nên mong đợi một sự giải quyết từ phía đối phương. Cái vòng lẩn quẩn ác độc đó đưa đến sự giận dữ và rối loạn sâu xa trong liên hệ tình ái. 

Thật vậy, nam và nữ vẫn có cái gì giống nhau hơn là các nhà khoa học theo chủ nghĩa vật chất muốn tin. Hai cá nhân hòa hợp trong một sự chấp nhận hỗ tương hoàn toàn có một khả năng đồng nhất đáng kể. Bấy giờ, bất cứ điều gì xảy ra nơi người nầy cũng được chia xẻ bỡi người khác. Đây là một trong những phép lạ của con người: làm cách nào con người có khả năng chuyển những cảm giác và ngay cả những tư tưởng cho nhau ngang qua hàng rào ngăn trở của thân xác họ. Bao lâu họ không có gì phải vương vấn trong đầu óc, bao lâu họ vẫn còn chấp nhận nhau trong sự thoải mái hoàn toàn, bấy giờ mỗi động lực xúc cảm của một người đều ảnh hưởng cả hai như nhau. Dưới những điều kiện như thế, sự hồi hộp và thỏa mãn xảy ra cùng một lúc. Mức độ của sự thích ứng hỗ tương thì vô giới hạn. Nó tùy thuộc vào ý muốn chấp nhận nhau mà không có sự đòi hỏi và giận dữ, không có sự phàn nàn và khó chịu. Mọi sự đều tốt bao lâu cả hai đều thích thú. Nếu một bên mà sự thỏa mãn về tình dục của họ là sự lạm dụng phía bên kia thì chẳng khác gì một sự hiếp dâm. Tình yêu là một bổn phận hỗ tương. Tình ái là một sự hiểu biết lẫn nhau. 

Lm Lê Văn Quảng Psy.D.

VỀ MỤC LỤC
SỐNG TỐT MỐI TƯƠNG QUAN VỚI CHỒNG LÀ TỰ HOÀN HẢO HÓA BẢN THÂN

 

Tác phẩm: Cẩm  Nang  Hạnh  Phúc Gia  Đình  Kitô - MỤC VỤ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Tác giả: D. WAHRHEIT (Lm. Minh Anh, GP. Huế tổng hợp biên tập)

 

A12. SỐNG TỐT MỐI TƯƠNG QUAN VỚI CHỒNG LÀ TỰ HOÀN HẢO HÓA BẢN THÂN

Người ta gán cho Đức Giáo Hoàng Sixto V vào thế kỷ XVI câu nói đáng suy nghĩ như sau: “Tôi sẽ phong thánh ngay tức khắc cho người đàn bà mà người chồng không bao giờ than phiền”.

Có những người đàn ông hay than phiền về vợ. Nhưng có lẽ người vợ cũng nên tự vấn tại sao người chồng hay than phiền về mình. Biết mình thật sự là biết rõ những khuyết điểm của mình. Nhưng người vợ có sẵn sàng muốn biết rõ về mình để cải thiện mối quan hệ với chồng mình không?

Đời sống hôn nhân là lò đào luyện nhân cách. Người chồng không chỉ là một bổ túc cho những thiếu sót của người vợ mà còn là trường đào luyện nhân cách cho người vợ. Sự gặp gỡ trao đổi giữa hai người sẽ giúp họ khám phá được chính bản thân và làm cho mỗi người được thêm phong phú hơn. Đó là ý thức mà chúng tôi xin được gợi lên cho những người vợ trẻ, để mời gọi họ luôn có một cái nhìn lạc quan về đời sống vợ chồng.

1. Biết mình thực sự là biết rõ những khuyết điểm của mình. Nếu người vợ chợt nhận ra những lời than phiền của chồng về mình thì có lẽ họ nên bình tĩnh để tự vấn lương tâm và tìm ra những khuyết điểm của mình. Một nhật báo xuất bản bằng tiếng Pháp đã kê khai 10 sai lầm mà bất cứ một người đàn bà bình thường nào cũng có thể mắc phải như sau:

1) Chểnh mảng trong việc trang sức. Đa số nghĩ rằng, đã có chồng, nghĩa là đã chinh phục được người đàn ông, thì còn động lực nào để làm đẹp nữa. Thực ra người đàn bà phải nghĩ rằng, làm đẹp là yêu thương và tôn trọng chồng mình.

2) Khuyết điểm thứ hai mà dường như không có người đàn bà nào mà không mắc phải: đó là tính ghen tương.

3) Khuyết điểm thứ ba mà nhiều người vợ thường coi đó là điều mà người ta gọi là mặc cảm bị bách hại. Nhiều người vợ xem mình như là nạn nhân của không biết bao nhiêu đàn áp và hà hiếp của chồng.

4) Nhiều người vợ dành mọi săn sóc và âu yếm cho con cái mà quên những bổn phận đối với chồng. Đôi khi sự thay đổi tình cảm này tạo ra thảm trạng trong gia đình mà người vợ không hay biết.

5) Chính sách bế quan tỏa cảng, nghĩa là người vợ tìm cách cắt đứt mọi quan hệ mà người chồng có trước khi cưới vợ.

6) Tính ngăn nắp và sạch sẽ quá đáng. Dĩ nhiên đây là điều tốt. Nhưng nếu người vợ cốt yếu giữ cho ngôi nhà của họ sạch sẽ và ngăn nắp đến độ không còn ai dám bước chân vào nhà, thì không gì làm cho người chồng cảm thấy phiền lòng hơn.

7) Cắt đứt mọi quan hệ họ hàng, ngay cả với chính gia đình thân thuộc của mình.

8) Nhai lại những lỗi lầm quá khứ. Nhiều người đàn bà thường moi móc lại những lầm lỗi trong quá khứ của chồng để hù doạ và bắt chẹt chồng.

9) Cằn nhằn về những phiền toái xảy ra trong ngày, nhất là trong bàn ăn.

10) Khuynh hướng muốn đảo lộn lại câu châm ngôn “Những gì ngươi không muốn người khác làm cho ngươi, thì ngươi cũng đừng làm cho họ”. Có biết bao người đàn bà hành động ngược lại với lời khuyên ấy. Họ không muốn ai làm phiền mình nhưng lại sẵn sàng làm phiền người khác mà không hề hay biết.

2. Để biết chồng mình có than phiền hay không, tác giả của cuốn sách nổi tiếng Đắc Nhân Tâm, Dale Carnegie đã khuyến cáo các bà vợ hãy tự vấn lương tâm theo bản xét mình sau đây:

-   Tôi có cố gắng hết sức để làm vừa lòng chồng lúc chồng tôi có mặt ở nhà không?

-   Tôi có cố gắng thay đổi món ăn đến độ chồng tôi sẽ không thể đoán trước được không?

-   Tôi có cố gắng theo dõi để hiểu biết công việc của chồng, hầu có thể thảo luận và nếu cần đưa ra một vài lời khuyên hữu ích và đúng lúc không?

-   Tôi có đủ can đảm và bình tĩnh để không trách móc chồng vì những thiếu hụt kinh tế trong gia đình; và nhất là không so sánh chồng với những người đàn ông khác may mắn và giàu có hơn không?

-   Khi có dịp sắm sửa quần áo hoặc chọn quần áo để mặc, tôi có nghĩ đến sở thích của chồng tôi về thời trang và màu sắc không?

-   Tôi có cố gắng tìm hiểu và học hỏi những sở thích của chồng tôi để có thể chia sẻ với chồng trong những giờ nhàn rỗi không?

-   Tôi có theo dõi những vấn đề chính trị, sách báo mới, những trào lưu mới để có thể chia sẻ đời sống trí thức của chồng không?

3. Để được nên thánh trong bậc vợ chồng, để được phong thánh như lời Đức Giáo Hoàng Sixtô V đã đề nghị, thiết tưởng chìa khóa mà một người vợ phải nắm vững, đó là luôn sống vui tươi, linh hoạt và có đời sống tinh thần sâu sắc. Biết lắng nghe một cách nghiêm chỉnh và thích thú khi chồng nói đến những vấn đề chính trị, triết học hay bất cứ những gì mà chồng cho là quan trọng và lý thú. Thỉnh thoảng, nên đọc một quyển sách hay và trao đổi nội dung cuốn sách với chồng.

Ít nhất mỗi tuần một lần, dành trọn thời giờ cho chồng, để cho chồng thấy rằng: chồng là nơi nương tựa cần thiết của mình. Quên đi những phiền toái hằng ngày để luôn tạo ra cho chồng bầu khí vui tươi, lành mạnh. Luôn đề cao chồng trước mặt con cái. Sống và hành động như thế nào để không có gì phải giấu diếm với chồng. Nếu trong một đám đông hoặc trong một bữa tiệc, thấy chồng được nhiều người đàn bà khác chú ý thì hãnh diện hơn là tỏ dấu ghen tương. Người đàn ông hãnh diện vì một chút ghen tương của vợ, nhưng sẽ vô cùng đau khổ khi bị vợ làm mất mặt trước đám đông.

Hãy tránh hạch hỏi chồng. Người chồng nào cũng luôn muốn được sống trong bầu khí tin tưởng. Trước và trong bữa ăn đừng bao giờ có những lời cay chua với chồng. Đừng bao giờ nói về chồng rằng: Anh ấy quá già để có thể làm việc nọ hoặc việc kia. Thỉnh thoảng, nên lặp lại cho chồng nghe những lời dịu ngọt, những kỷ niệm của thời mới quen nhau hay đính hôn với nhau. Đừng quá thường xuyên hỏi chồng có còn yêu mình nữa không. Đừng lặp đi lặp lại với chồng về những hy sinh của mình cho gia đình.

4. Kể từ sau Công Đồng Vaticanô II, nên thánh không còn là độc quyền của một số người ưu tuyển mà là ơn gọi chung của mọi tín hữu. Điều đó có ý nghĩa, là mọi người phải nên thánh ngay trong bậc sống của mình. Đời sống gia đình là con đường nên thánh cho những người ở bậc vợ chồng. Chính do mối tương quan với người phối ngẫu và con cái mà người sống trong bậc vợ chồng tìm thấy và thực thi ý Chúa.

Một trong những việc thường làm của các vị thánh là không ngừng nhìn lại bản thân dưới ánh mắt từ nhân của Chúa. Thiết tưởng đó cũng là việc làm thường xuyên của các đôi vợ chồng tín hữu. Nhìn lại những thiếu sót và sai trái của mình để không ngừng cải tạo quan hệ với người phối ngẫu, đó không phải là bí quyết của hạnh phúc gia đình?
 

VỀ MỤC LỤC
KỸ NĂNG CHUYÊN BIỆT: LINH HƯỚNG

 

[BẢN THẢO]

LINH MỤC GIÁO PHẬN SỐNG TU ĐỨC TOÀN DIỆN

TRONG BỐI CẢNH THỰC TẾ CỦA GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HÔM NAY

Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss

 

CHƯƠNG HAI  

ỨNG SINH LINH MỤC GIÁO PHẬN

CỦNG CỐ NHỮNG BƯỚC ĐẦU PHÂN ĐỊNH VÀ SỐNG ƠN GỌI

(tiếp theo)

 

C. KỸ NĂNG CHUYÊN BIỆT: LINH HƯỚNG

Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ,

Biết cả khi con đứng con ngồi.
Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa,
Đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét,
Mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả.

Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời,
Thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết.
Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước,
Bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con.

 

Kỳ diệu thay, tri thức siêu phàm,
Quá cao vời, con chẳng sao vươn tới!
Đi mãi đâu cho thoát thần trí Ngài,
Ẩn nơi nào cho khuất được Thánh Nhan?

Con có lên trời, Chúa đang ngự đó,
Nằm dưới âm ty, vẫn gặp thấy Ngài.
Dù chắp cánh bay từ phía hừng đông xuất hiện,
Đến ở nơi chân trời góc biển phương tây,
Tại đó cũng tay Ngài đưa dẫn,
Cánh tay hùng mạnh giữ lấy con.

Tv 139, 1-10

 

C.I. NhỮng ý niỆm khỞi đẦu

(Slideshow Chúa ở khắp nơi)

Điều mà vị linh hướng khám phá về người thụ hướng ở toà trong sẽ không được tiết lộ ra ở toà ngoài. Dữ kiện này có cùng một qui chế như ấn toà giải tội. Điều này không những để bảo vệ người thụ hướng, mà còn cống hiến cho anh sự tín nhiệm và tin tưởng rằng điều gì anh đã bộc lộ ở tòa trong vẫn được giữ bí mật. Chính niềm tín nhiệm và bảo đảm này mang lại sự chữa lành tận gốc các căn bệnh.  

Đào tạo thiêng liêng là công việc của Chúa Thánh Thần và Ngài là vị linh hướng đích thực. Ngài dẫn dắt mỗi một người theo một con đường riêng biệt: đừng tìm cách giống như người khác và cũng đừng bắt người khác giống mình. Mỗi người phải tự khám phá ra con đường Chúa Thánh Thần dẫn dắt mình đi, nhờ vị linh hướng giúp đỡ, vì Ngài dùng người này để dẫn dắt người kia. 

Tiến trình đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng được đặt dưới sự hướng dẫn trực tiếp và được củng cố bằng các thực hành:

-         Bề Trên có những buổi huấn đức thường kỳ và bất thường,

-         Ứng sinh luôn được đồng hành và đều đặn linh hướng riêng tư,

-         Sự tương tác ảnh hưởng của các nhà đào tạo và nội dung của các môn học giúp suy niệm, cầu nguyện và sống đời sống tu đức.

-         Chia sẻ và trợ giúp theo nhóm, dưới sự hướng dẫn của một nhà đào tạo.  

Mỗi ứng sinh linh mục buộc phải có một vị linh hướng. Tu sĩ không nhất thiết buộc, nhưng nên có. Ngày nay, vị linh hướng có thể là linh mục, tu sĩ và giáo dân, vì nhiều lý do, miễn là được Chúa Thánh Thần dùng, được đào tạo thích đáng và được thẩm quyền ủy thác. Vị linh hướng chỉ là dụng cụ của Chúa Thánh Thần: ngài hướng dẫn ứng sinh, nhưng chính ngài cũng được hướng dẫn bởi Chúa Thánh Thần và vị đồng hành thiêng liêng của ngài.

Người hướng dẫn phải nỗ lực khám phá ra con đường Chúa Thánh Thần muốn cho người được hướng dẫn của mình, để giúp người đó nhận ra, điều chỉnh và theo sát con đường độc đáo đó, chứ không được áp đặt con đường của mình, dù tốt đến đâu chăng nữa, nhưng không tốt và thích hợp cho người thụ hướng.  

Người ta cần có sự tín nhiệm thật sự để bộc lộ hết cho nhau. Sự tín nhiệm nầy đòi hỏi sự hợp tác của cả hai phía, với ơn Chúa, để đi vào thế giới tâm hồn của nhau. Thông thường cần có thời gian cho lòng tín nhiệm triển nở, không thể đốt giai đoạn, áp đặt hay cưỡng bách được. Vậy khi người thụ hướng chưa nói hết được với vị linh hướng những gì cần thiết, phải kể như chưa nói vì chưa tín nhiệm nhau đủ, chứ không phải cố tình giấu giếm. Cả hai đều phải nghĩ như vậy để được bình an tâm hồn, không bị áy náy, mặc cảm “có lỗi” che đậy dối trá. Dĩ nhiên phải khắc phục chấm dứt tình trạng nầy, nếu không thì phải thay đổi người đồng hành, hầu đạt được đúng ý nghĩa và mục đích của việc linh hướng.

Việc linh hướng đòi chuẩn bị nghiêm túc về cả hai. Vị linh hướng sẽ rất an lòng và vui mừng làm linh hướng cho những người chuẩn bị nghiêm túc các vấn đề căn bản hướng về chiều sâu đời tu (cần ghi ra, kẻo quên). Nhưng lại rất ái ngại, lo âu và nặng lòng khi gặp người có vẻ hời hợt, thiếu chuẩn bị, đề cập những cái phụ tùy cho “qua giờ” hơn là đi vào trọng tâm con đường lý tưởng.  

Người nghệ sĩ chỉ dùng nguyên vật liệu có sẵn để làm nên tác phẩm nghệ thuật, chứ không sáng tạo ra được nguyên vật liệu, vốn là công việc chỉ thuộc về Đấng Tạo Hóa. Việc linh hướng quả là một nghệ thuật cao hơn nữa: vị linh hướng không lấy cái mình có, nhưng lấy cái của Chúa mà nắn đúc người thụ hướng. Đó là một công cuộc hợp tác hết sức quan trọng, không những giữa hai con người với nhau, mà còn với Chúa, và những người liên hệ khác nữa.

Có rất nhiều khía cạnh và vấn đề cần được đề cập đến trong tiến trình ơn gọi, trong đó có những vấn đề mà chính ứng sinh phải tự mình đối diện, trắc nghiệm bản thân, lượng lấy sức và tự giải quyết.  

Chỉ có Chúa Thánh Thần mới biết đầy đủ và có thể biến đổi một con người: “Bất cứ sự thay đổi đích thực và bền lâu nào cũng đều chỉ đến từ Chúa Thánh Thần, Đấng hoạt động trực tiếp trên mỗi người và trong mọi hoàn cảnh.” Nhưng đừng quên yếu tố thời gian: không ai một sớm một chiều mà nên thánh hay thành ác quỷ! Thiên Chúa luôn nhẫn nại hơn con người.

Do đó, ở toà trong, vị linh hướng không chỉ thụ động lắng nghe, song phải sẵn lòng và có khả năng thách đố và đối đầu, khi sự việc đòi hỏi, để giúp ứng sinh trải qua một tiến trình phân định ơn gọi đích thực.  

Khi đánh giá ứng sinh, vị linh hướng không bao giờ được lên tiếng để kết án, hay để bảo vệ; song phải im lặng khi hội đồng nói về người thụ hướng của mình, dù tòa ngoài không có được sự hiểu biết chắc chắn như tòa trong về nội tâm ứng sinh. Sự bảo mật này nhằm bảo đảm cho tự do nội tâm của ứng sinh. Nhưng nhờ nghe trong hội đồng những quan điểm khác quan điểm của mình về người thụ hướng, vị linh hướng có được thêm thông tin về những yếu tố khác, nhờ đó ngài sẽ phân định tốt hơn và chọn lựa sự giúp đỡ thích hợp hữu hiệu hơn cho người thụ hướng của mình.

Quyết định tòa ngoài phải được giải thích cho ứng sinh ấy, để anh cố gắng hiểu, chấp nhận quyết định đã được đưa ra, và nỗ lực khắc phục, biến đổi nên tốt. Ở Việt Nam, quyết định xuất tu chịu áp lực và ảnh hưởng sâu xa bởi gia đình, xã hội, cũng như bởi cảm thức xấu hổ, ân nghĩa và tình bạn bè. Thẩm quyền hữu trách nên quan tâm hướng dẫn anh làm một chọn lựa đúng đắn và giúp anh vượt qua các khó khăn ấy. 

Mọi người đều biết rằng quyết định dứt khoát của toà trong ăn khớp với lương tâm của ứng sinh. Điều này cần đào tạo một lương tâm trưởng thành và vị linh hướng phải dự phần trong đó. Việc linh hướng và phân định thiêng liêng rất tế nhị và khó khăn đối với con người trong việc đồng hành ứng sinh trên đường tới Chúa. Hoạt động này bao gồm mọi chiều kích của đời sống, nhân bản và thiêng liêng, tự nhiên và siêu nhiên.  

Sau khi đã chú ý lắng nghe với biện phân và khiêm tốn, vị linh hướng có thể khám phá được người thụ hướng được Chúa gọi hay không. Nếu có, ngài xác định cho anh tiếp tục đi tới với niềm vui tươi, hy vọng và hạnh phúc, mặc dù anh sẽ gặp thấy những khó khăn và đen tối trong cuộc sống lữ hành của anh. Nếu không, ngài nên gợi ý cho anh đổi hướng sống trong bình an, đồng thời bước theo con đường Chúa mời gọi anh đi với can đảm và hạnh phúc. 

Chúa Giêsu là nhà đào tạo và vị linh hướng tuyệt vời: Cây lau đã rạp xuống Ngài không bẻ gãy, tim đèn còn leo lét khói Ngài không dập tắt; nhìn nhận thực tế, nhưng không dừng lại ở thực tế, mà hướng về tương lai được biến đổi tốt đẹp hơn; tha thứ, nhưng vẫn đòi hỏi gắt gao (“tội con đã được tha, hãy đi bằng an và đừng phạm tội nữa”; “Ngươi đã được lành bệnh, đừng phạm tội nữa, kẻo khốn khổ hơn trước); Quên lỗi quá khứ, cư xử như với một con người mới (không có lỗi) và tin tưởng giao trách nhiệm (cho Phêrô: hãy chăn chiên của thầy; cho Madalêna: hãy đi báo với anh em là họ sẽ gặp Thầy ở Galilê), v.v…  

Chúa Giêsu kết án tội, chứ không kết án người có tội. Giới biệt phái và luật sĩ nghiêm túc giữ và bảo vệ lề luật đạo đức, nhưng lại luôn chôn cứng và khóa chặt người ta trong lỗi lầm hiện tại và định kiến bất di bất dịch. Họ chỉ thấy tình trạng tội lỗi mà không thấy tình trạng được tha thứ và biến đổi; chỉ thấy tình trạng trước mà không muốn thấy tình trạng sau: “Mỗi vị thánh đều có một quá khứ, và mỗi tội nhân đều có một tương lai.” Đời người là cả một hành trình theo ánh sao đi tìm gặp Chúa, một cuộc gặp gỡ đổi đời, lật sang trang mới: Một linh hồn vươn mình lên được sẽ nâng cả thế giới lên.     

Có thể xảy ra trường hợp thiếu hoặc mất tín nhiệm, thì “việc đổi linh hướng là luôn có thể và đôi khi đáng ao ước nữa.” Ứng sinh có thể đề nghị trước. Đôi khi, vị linh hướng sẽ yêu cầu ứng sinh đi linh hướng với người khác, vì nghĩ rằng mình sẽ không thể tiếp tục trách nhiệm ấy được nữa.”

  

C.II. ĐỊnh nghĩa

Linh hướng là nghệ thuật của mọi nghệ thuật. Làm sao đi vào thế giới nội tâm của ứng sinh để khám phá được Chúa kêu gọi anh, từ các vấn đề thực tế đời sống của anh trong tương quan với Chúa và tha nhân? Làm sao phân định được điều Chúa nói với ứng sinh qua vị linh hướng? Làm sao giúp ứng sinh quyết định cuộc đời anh với ý thức, hiểu biết, trưởng thành và tự do nội tâm? Làm sao biết được ý Chúa cho vị linh hướng qua ứng sinh được đồng hành?  

Linh hướng là một công tác mục vụ đặc biệt nhằm:

-  giúp ứng sinh lớn lên trong tương quan với Chúa Cha,

-  cởi mở đáp lại Chúa Kitô

-  và sẵn sàng để Chúa Thánh Thần hướng dẫn,

-  ngõ hầu biết phân định ơn gọi của mình

-  và chuẩn bị cho sứ vụ của mình trong Giáo Hội.  

Linh hướng là một tiến trình trưởng thành liên nhân vị, qua đó tiếng gọi của Chúa được lắng nghe và đáp lại trong đức tin. Linh hướng nhằm nuôi dưỡng một con tim phân định can đảm đang tìm khám phá để đạt được ý Chúa. Linh hướng trước hết liên hệ với sự trưởng thành toàn diện trong đức tin, trong khi đối mặt kịp thời với các vấn đề và khủng hoảng để kích thích đức tin phát triển. Việc linh hướng sẽ hữu hiệu khi sự trưởng thành được biểu lộ rõ nét trong sự gia tăng tình thương, lòng trung thành và trách nhiệm. 

Việc linh hướng cung cấp một bầu khí yêu thương vô điều kiện, là môi trường của bầu khí cầu nguyện. Tiên vàn đó là công việc của Chúa Thánh Thần, và vị linh hướng phải học biết làm cho dễ dàng, chứ không cản trở hoạt động của ơn thánh. Dù có tính cách liên nhân vị, việc linh hướng mang chiều kích cộng đồng và Giáo Hội rất cao. Nó nuôi dưỡng viễn ảnh toàn diện và cánh chung, nội tại lẫn siêu việt.  

C.III. Các nguyên tẮc chung

Việc linh hướng thường nhắm đến những mục đích sau:

-         Giúp sống tương quan mật thiết với Chúa;

-         Giúp trực tiếp thưa chuyện với Chúa và lắng nghe những gì Ngài chỉ dạy;

-         Giúp nhận ra và sống những kinh nghiệm thực tế trong tương quan với Thiên Chúa: kinh nghiệm sống đạo đối với việc linh hướng cũng giống như thực phẩm đối với việc nấu nướng;

-         Giúp lưu tâm đáp lại tiếng Chúa mời gọi để càng ngày càng sống thân mật với Ngài hơn;

-         Giúp biết luôn đặt mình trước mặt Chúa bằng cả con người và trong suốt cuộc đời mình;

-         Giúp ý thức trách nhiệm của mình để duy trì và phát huy trong ánh sáng của Chúa Thánh Thần, Ngài vốn là vị linh hướng đích thực;

-         Giúp tìm được con đường mà Chúa mời gọi, để chọn lựa phù hợp ý Chúa, với ý thức và tự do nội tâm.  

Theo Đức Gioan Phaolô II, ta nên tạo ra thói quen sống thân mật với Chúa Kitô như là người bạn trong mọi chi tiết đời sống mình và sống mầu nhiệm phục sinh của Chúa để biết cách khai tâm cho những người được trao phó cho mình coi sóc (Pastores Dabo Vobis, số 45). 

Giai đoạn đào tạo thiêng liêng của Năm Tu Đức là giai đoạn khởi đầu nền tảng, và sẽ được tiếp tục khai triển, đào sâu trong những năm kế tiếp. Giai đoạn này được triển nở qua việc đào sâu và sống linh đạo linh mục triều (nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô để sống hết mình cho Chúa Cha trong sự dẫn dắt và tác động của Chúa Thánh Thần), làm linh hướng, đời sống cầu nguyện và đời sống nội tâm, thông qua việc thực hành hài hoà giữa toà ngoài và toà trong, nhằm giúp ứng sinh có đủ tự do lương tâm trong việc quyết định đời sống ơn gọi của mình.  

Tiến trình đào tạo và tự đào tạo thiêng liêng được đặt dưới sự hướng dẫn trực tiếp và được củng cố bằng ba cách thực hành:

-         Bề Trên có những buổi huấn đức thường kỳ và bất thường,

-         Ứng sinh luôn được đồng hành và đều đặn linh hướng riêng tư,

-         Chia sẻ và trợ giúp theo nhóm, dưới sự hướng dẫn của một nhà đào tạo.  

Trong tiến trình đào tạo này, việc linh hướng chiếm một chỗ rất quan trọng, nhằm giúp ứng sinh kinh nghiệm về Chúa và sự hiện diện của Ngài, khám phá ra đường lối Chúa kêu gọi và anh đáp lại với tự do nội tâm, dấn thân đi theo và sống tương quan thân mật với Chúa, nhận rõ trách nhiệm của mình và phát triển nó dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Hầu hết các văn kiện mới đây viết về việc linh hướng đều nhấn mạnh rằng người thụ hướng phải chủ động trong quan hệ với vị linh hướng. Lịch gặp gỡ và đề tài thảo luận phải đáp ứng được với nhu cầu của người thụ hướng.  

Vị linh hướng cũng phải tích cực làm cho việc đào tạo thiêng liêng của người thụ hướng được dễ dàng. Một số linh mục dòng được mời hướng dẫn các kỳ tĩnh tâm thường niên hay các khoá phân định ơn gọi để đảm bảo một sự đánh giá khách quan về mức độ trưởng thành của các ứng sinh.  

Cuộc sống nội tâm của ứng sinh cần được cổ vũ nhờ các phương tiện thiêng liêng để thánh hoá bản thân:

-   hợp nhất với Chúa Kitô trong mọi trạng huống của cuộc sống;

-   sống nhờ hai bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể, được cử hành trong Thánh Lễ và được sùng kính trong Nhà Tạm;

-   tự xét lương tâm hằng ngày;

-   đọc sách thiêng liêng để tìm ý Chúa nhờ tác động của Chúa Thánh Thần;

-   các dấu chỉ thời đại và các biến cố cuộc sống;

-   lòng sùng kính Trinh Nữ Maria, Nữ vương hàng giáo sĩ; 

-   các cuộc tĩnh tâm và linh hướng;

-   và các dạng khẩu nguyện, tâm nguyện và suy nguyện khác.

 

VỀ MỤC LỤC
SỐNG VỚI THẬN SUY
 

 

Thận Suy (Kidney Failure) là một bệnh rất trầm trọng, cần được chăm sóc, điều trị một cách chu đáo trong suốt cuộc đời.

Khi sanh ra, mỗi người có hai trái thận nằm phía dưới lồng ngực, khoảng giữa lưng. Đôi khi nhiều người chỉ có một trái thận và nếu toàn vẹn, vẫn đủ khả năng duy trì cơ thể trong tình trạng khỏe mạnh.

Thận phục vụ cơ thể bằng nhiều phương thức:

- Thận lọc máu, loại bỏ các chất phế thải rồi tái hấp thụ nước và một số chất cần thiết trở lại máu.

- Cân bằng nước và muối để duy trì lượng chất lỏng trong cơ thể.

- Giữ huyết áp ở mức độ trung bình.

- Giúp cơ thể cấu tạo hồng cầu và xương vững chắc.

- Kiểm soát lượng muối khoáng kali, calci, magnesium và phosphor trong máu.

 Thận không có nhiệm vụ gì trong hoạt động tình dục như nhiều người nghĩ.

Dấu hiệu của thận suy:

- Nhức đầu, mệt mỏi, biếng ăn

- Ứ nước trong cơ thể với phù sưng bàn tay bàn chân

- Khó thở

- Thay đổi tâm trạng

- Tiểu tiện khi nhiều khi ít

- Da có mầu sâm, ngứa, tê dại

- Huyết áp tăng cao.

- Lên cơn co giựt, kinh phong

- Ngây ngất, kém tập trung, mất định hướng

- Hôn mê nếu không điều trị.

Nguyên nhân gây suy thận

Thận bị suy nhược khi chúng không chu toàn nhiệm vụ loại bỏ ra khỏi cơ thể chất cặn bã và chất lỏng dư thừa. Các chất này sẽ tăng cao trong máu và đưa tới bệnh. Giảm chức năng dần dần sẽ đưa tới Suy-Thận-Mãn-Tính.

Có nhiều nguyên nhân đưa tới bệnh thận mãn tính, thông thường nhất là bệnh tiểu đường và cao huyết áp không được điều trị đúng cách.

Khi chức năng còn lại dưới 15%, thận ở giai đoạn cuối của sự tồn tại và cần được điều trị suốt đời bằng lọc máu hoặc thay ghép thận.

Điều trị thận suy

Có ba phương thức điều trị suy thận mãn tính:

a- Thẩm tách máu (hemodialysis), thông thường gọi là Lọc máu hoặc thận nhân tạo được thực hiện tại một trung tâm chuyên môn hoặc tại nhà, ba lần một tuần. Hiện nay có dụng cụ mới chữa ngắn thời gian nhưng nhiều lần trong ngày hoặc ban đêm.

Máu được đưa qua dụng cụ có màng thấm tách, phế chất có hại được một dung dịch ở bên kia màng lấy đi và máu tinh khiết được đưa trở lại cơ thể.

b- Lọc máu qua xoang phúc mạc bụng (Peritoneal dialysis) có thể thực hiện tại nhà, sở làm hoặc một nơi sạch sẽ kín đáo để có thể thay túi đựng dung dịch chất lọc.

c- Ghép thận (Kidney transplant) cho từ người còn sống hoặc lấy từ tử thi mới mệnh một.

Nên lưu ý là các phương thức lọc máu không chữa trái thận đã bị suy và mỗi phương pháp có những điểm tốt xấu mà bệnh nhân và gia đình cần biết.

Chăm sóc, điều trị

Khi được bác sĩ cho hay bị thận suy, bệnh nhân trải qua nhiều tâm trạng khác nhau.

Mới đầu là thái độ ngạc nhiên hoảng hốt, tự hỏi sao mình lại rơi vào tình trạng nan y này.

Rồi cảm thấy bất lực thất vọng, tiếc nuối thời kỳ khỏe mạnh khi xưa “giá kể mình để ý đến sức khỏe một chút thì đâu đến nỗi này”.

Cuối cùng thì đành chấp nhận và thích nghi với hoàn cảnh mới.

Lọc máu hoặc thay thận đều đưa tới nhiều thay đổi trong toàn bộ cơ thể người bệnh, từ thể chất tới tinh thần.

 

Để duy trì nếp sống khỏe mạnh, người bệnh phải chủ động trong việc tự chăm sóc nhưng họ cũng cần được sự điều trị, hướng dẫn của các nhà chuyên môn y học và sự hỗ trợ của thân nhân.

Bác sĩ chuyên về tiết niệu sẽ phối hợp với bác sĩ gia đình để lo việc điều trị thận suy. Bác sĩ gia đình tiếp tục chăm lo sức khỏe tổng quát.

Bệnh nhân đừng ngần ngại nói với bác sĩ về tình trạng bệnh, về điều mình mong muốn. Hỏi bác sĩ các điều không biết về bệnh và các biến chuyển có thể xảy ra. Ghi rõ các hướng dẫn của bác sĩ để khỏi quên.

Tại cơ sở lọc máu, nên có giao hảo tốt với chuyên viên điều khiển dụng cụ và theo dõi diễn tiến mà ta sẽ gặp mỗi tuần lễ 3 lần, mỗi lần kéo dài tới 3-4 giờ.

Lọc máu lấy đi chất phế thải và nước dư trong cơ thể. Nếu các chất này được loại đúng số lượng thì người bệnh sẽ khỏe mạnh hơn và có nhiều triển vọng sống lâu hơn.

Tại Hoa Kỳ, chi phí lọc máu được chương trình bảo hiểm của chính phủ hoặc bảo hiểm tư nhân đài thọ

Một số điều cần lưu ý:

1- Chế độ dinh dưỡng

Dù là lọc máu bằng thận nhân tạo hoặc qua xoang phúc mạc, bệnh nhân với suy thận đều cần tuân theo một chế độ dinh dưỡng đúng đắn. Chế độ này sẽ giúp bệnh nhân duy trì một sức khỏe tốt và giúp sự lọc máu  thành công hơn.

Mỗi bệnh nhân có một quy chế ăn uống riêng về các chất dinh dưỡng như nước, các muối khoáng  potassium, sodium, phosphor, chất đạm...  Các chuyên viên dinh dưỡng có thể giúp bệnh nhân lựa chọn một chế độ  thích hợp với tình trạng sức khỏe và bệnh trạng của mình.

a- Nước

Bệnh nhân cần lưu ý tới lượng nước tiêu thụ hằng ngày.

Với thận suy mà dùng quá nhiều nước sẽ đưa tới ứ nước, tăng huyết áp, tim sẽ phải làm việc nhiều hơn.

Giới hạn thực phẩm chứa nhiều nước như dưa hấu, thạch, kem, nước đá cục, thực phẩm đông lạnh.

b- Chất đạm

Khi bị suy thận, bệnh nhân thường được bác sĩ khuyên giới hạn tiêu thụ chất đạm, để giảm thiếu chất thải ure.

 Khi lọc máu, bệnh nhân lại được khuyến khích ăn nhiều hơn các loại chất đạm có phẩm chất tốt từ thịt, cá, gà vịt...vì các chất đạm này tạo ra ít ure. Lý do là cơ thể cần nhiều chất đạm để tăng cường sức khỏe

c- Muối

Muối ăn cần được hạn chế để tránh giữ nước trong cơ thể và để tránh tăng huyết áp.

Ăn thực phẩm tươi. Tránh thực phẩm đóng hộp, thịt cá muối.

Nên đọc nhãn hiệu để coi món ăn có bao nhiêu muối.

d- Potassium

Kali thường lên cao trong thời gian giữa hai lần lọc máu và gây ra rối loạn nhịp tim, đôi khi đưa tới ngưng tim.

Ðể giữ mức potassium bình thường trong máu, nên bớt ăn thực phẩm có nhiều khoáng này như chuối, cam, trái cây khô...

đ- Phospho

Giới hạn thực phẩm có nhiều phospho như sữa, pho mát, đậu khô.., vì khi dư thừa, khoáng này sẽ lấy calcium từ xương, làm cho xương yếu, giòn, dễ gẫy.

e- Sinh tồ, khoáng chất

Lọc máu đôi khi cũng lấy đi một vài loại sinh tố, khoáng chất của cơ thể. Bác sĩ sẽ chỉ định những chất nào mà người bệnh cần dùng thêm.

2- Tổ chức nếp sống

Người bệnh cần sắp xếp lại nếp sống cho thoải mái, bớt căng thẳng tinh thần, giới hạn các chất có thể gây hại cho thận, nói riêng, và toàn cơ thể nói chung.

- Nhớ vận động cơ thể đều đặn, hợp với khả năng để máu huyết lưu thông, xương khớp trơn tru, cơ bắp mạnh mẽ và tăng cường sức chịu đựng với thận suy. Nên hỏi ý kiến bác sĩ về chương trình vận động thích hợp.

- Không hút thuốc lá để tránh nhiều bệnh do thuốc là gây ra, như ung thư phổi, bệnh đường hô hấp. Riêng với thận suy, ngưng thuốc lá giảm rủi ro bị cao huyết áp, tăng làm việc cho tim và ảnh hưởng tới trái thận đã suy yếu.

- Người bệnh có thề đi du lịch đó đây, vì các trung tâm lọc máu đều có ở nhiều nơi. Ta chỉ cần biết sẽ ở nơi nào, lấy hẹn trước từ 6 tới 8 tuần lễ để việc điều trị không bị gián đoạn.

- Người bệnh cũng có thể tiếp tục công việc thường lệ, sau khi đã làm quen với sự lọc máu, nhưng nên tránh các việc cần nhiều sức mạnh như nâng vác vật nặng, đào đất...

Nói cho chủ nhân rõ tình trạng của mình để được thông cảm, hỗ trợ. Năm 1990, Quốc hội Hoa Kỳ đã biểu quyết đạo luật cấm kỳ thị vì bệnh hoạn.

- Về thuốc men, nên tránh thuốc trị ợ chua, acid dạ dày vì có nhiều muối natri; thuốc xổ táo bón vì có thể đưa tới khô nước và mất muối khoáng.

Hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng thuốc cây con thiên nhiên.

- Hình dáng bề ngoài có vài thay đổi: da lợt hoặc hơi vàng, khô tróc vẩy. Cần tắm mỗi ngày và thoa kem giữ hơi ẩm trên da.

- Thay đổi vị giác và khứu giác do ảnh hưởng chất thải quá cao trong máu. Miệng có mùi hôi. Cần giữ gìn vệ sinh răng miệng và đi khám nha sĩ 2 lần mỗi năm.

- Nam giới với thận suy có thể có rối loạn cương dương vì bệnh, do thiếu máu, tác hại của quá nhiều chất thải. Nên thảo luận với bác sĩ vì nhiều trường hợp có thể điều trị được.

- Phụ nữ lọc máu không nên mang thai e là có nhiều rủi ro cho cả mẹ lẫn thai nhi.

- Và đặc biệt là để ý tới tâm trạng. Những khó khăn sống với thận suy, lọc máu, ảnh hưởng của chất thải, của dược phẩm có thể làm tâm trí ta căng thẳng, trầm buồn, lo âu hơn. Đó là chuyện có thật, thường xảy ra và cần được biểu lộ, chia sẻ để nhẹ lòng mình cũng như thân nhân. Đừng nghĩ rằng mình là gánh nặng cho gia đình, vì thận suy có thể đến với mọi người.

Nếu có những dấu hiệu như trầm cảm kéo dài hơn hai tuần lễ, ý nghĩ quyên sinh, giảm khẩu vị, thay đổi giấc ngủ, bỏ thú vui thường lệ, luôn luôn buồn bực, không quyết định, tự cô lập…nên thảo luận với bác sĩ để được tư vấn, điều trị.

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức M.D.

Texas-Hoa Kỳ

www.bsnguyenyduc.com

 
VỀ MỤC LỤC
DẠY VỢ HAY VỢ DẠY - Chuyện phiếm của Gã Siêu

 

Phàm bất cứ anh đờn ông con giai nào, thì cũng hơn một lần ươm mơ những giấc mộng lớn, theo kiểu:

- Làm trai cho đáng nên trai,

  Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài yên.

Tuy nhiên, giấc mộng lớn ấy cần phải được xây dựng từ những cái nhỏ, đó là bản thân và gia đình, như các cụ ta ngày xưa đã khuyên nhủ:

- Phải tu thân và tề gia trước đã, rồi sau đó mới trị quốc và bình thiên hạ.

Thế nhưng, hai việc nhỏ này xem ra lại không dễ dàng chút nào.  

Trước hết là việc tu thân.  

Người đời thường bảo:

- Nhân vô thập toàn. Phàm đã là người, thì ai cũng có những sai lỗi khuyết điểm của mình.

Vì thế, việc tu thân là bổn phận của mọi người, ở mọi nơi, trong mọi lúc. Bổn phận này sẽ kéo dài bằng cả cuộc đời và không miễn trừ cho bất kỳ một ai.

Qua kinh nghiệm gã thấy nhiều khi mình hăng hái dốc quyết sửa đổi thói hư tật xấu này, uốn nắn lại thói hư  kia. Thế nhưng, thiện chí và sự dốc quyết của mình chỉ kéo dài dăm ba bữa đến nửa tháng là cùng, để rồi sau đó vẫn chứng nào tật ấy, chó đen vẫn giữ mục và mèo vẫn hoàn mèo mà thôi. Phải kiên nhẫn lắm chúng ta mới đổi mới được bản thân mình tí chút...

Một anh chàng, vốn là đệ tử của Lưu Linh, đã chừa bỏ được tật nghiện rượu bằng cách mỗi khi ngồi dự tiệc với bè bạn, anh ta đều nhỏ một giọt nến vào chiếc ly uống rượu. Ngày này qua ngày khác và tháng này qua tháng khác, sau một thời gian lâu dài, anh ta không còn say xỉn nữa.

Một anh chàng khác, vốn là một con người tầm thường và xoàng xĩnh đã thành công trong việc “tu thân” bằng cách cứ mỗi lần làm một việc tốt, anh ta liền bỏ một hạt đậu trắng, còn mỗi khi làm một việc xấu, thì  bỏ một hạt đậu đen vào trong một chiếc lọ. Ban tối trước khi đi ngủ, anh ta đổ ra và đếm. Lúc đầu toàn đậu đen. Nhưng rồi đậu đen cứ giảm dần và đậu trắng cứ tăng lên, cho tới khi chỉ còn toàn đậu trắng và anh đã trở thành một con người tốt lành.

Từ đó, chúng ta có thể kết luận:

- Sống là tranh đấu, là bơi ngược dòng nước. Nếu không cố gắng bơi, thì sẽ bị dòng nước là những đam mê sai trái cuốn trôi.

Hay như Napoléon đã xác quyết:

- Chiến thắng được cả Châu Âu còn dễ hơn là chiến thắng chính bản thân mình. 

Tiếp đến là việc tề gia. 

Việc này cũng không đơn giản tí nào. Suy gẫm về thân phận làm chồng, một anh đờn ông kia đã phải than thở cả tiếng trên báo “Tuổi Trẻ Cười” như sau:

- Làm chồng sao thật khó,

  Kiếm tiền phải hàng bó,

  Nhưng lại không được mó,

  Phải đưa cho “mẹ nó”.

  Không quĩ đen quĩ  đỏ,

  Đi đâu phải “xin xỏ”,

  Mặt mũi thì méo mó,

  Biết điều không bỏ xó.

  Về nhà cấm nhăn nhó,

  Không được chê này nọ.

  Vợ nói cấm cãi cọ,

  Văn hóa làm chồng đó.

  (Nguyễn Huyền. Nam Định).

Mặc dù biết rằng bổn phận làm chồng thật khó, nhưng cũng vẫn phải anh dũng bước vào, bởi vì chẳng nhẽ cứ cu ky một mình, thì làm sao mà tồn tại cho nổi. Hơn thế nữa, chính Thượng Đế cũng đã thầm nghĩ:

- Người đờn ông ở một mình không tốt.

Và trong lúc tập tễnh bước vào cuộc sống lứa đôi, có anh chàng nào mà  lại chẳng mơ ước sẽ “dinh tê” được một chị vợ vừa đẹp người lại vừa đẹp nết,  nghĩa là vừa phải xinh đẹp, lại vừa phải hiền lành.

Về cái vẻ xinh đẹp, thì đó là của trời ban cho. Bằng không, thoạt sinh ra đã lỡ mang thân phận “em là gái trời bắt xấu”, thì chỉ cần chắt bóp và ky cóp trong một thời gian, kiếm lấy một số tiền nào đó, rồi chạy ào vào mỹ viện, thực hiện một phát đại tu ngoại hình, chỗ nào muốn cao cho cao, chỗ nào muốn to cho to…đồng tiền sẽ làm cho mình được toại nguyện theo như ý muốn.

Còn về cái nết hiền lành, không phải bỗng dưng mà có. Muốn có thì phải học tập. Và muốn học tập thì phải có người dạy bảo, chỉ dẫn. Vì vậy, nhiều anh chàng lấy làm khoái chí với lời căn dặn của các cụ ta ngày xưa:

- Dạy con từ thuở còn thơ,

  Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về.

Đúng thế, chị vợ vừa mới khăn gói quả mướp về nhà chồng. Cái gì cũng lạ lẫm, cái gì cũng mới mẻ, bởi vì nhà chồng không giống như nhà mình, nhất là mẹ chồng thì lại càng không giống như mẹ mình và cô em gái của chồng cũng lại càng không giống như cô em gái của mình.

Cho nên, nhất cử nhất động đều phải so đo và dè chừng. Cái gì cũng phải học, cái gì cũng phải tập. Toàn bộ nếp sống phải được điều chỉnh cho phù hợp hoàn cảnh mới và nhiệm vụ mới, nếu muốn cho gia đình được trong ấm ngoài êm, bởi vì:

- Đáo giang phải tùy khúc và nhập gia phải tùy tục.

Chính vì thế, chị vợ rất cần được chỉ dạy. Và trong môi trường mới này, không ai gần gũi chị vợ cho bằng anh chồng. Vì thế, anh chồng bỗng nhiên trở thành một ”cố vấn…tối thui”, một gia sư đáng tin cậy cho chị vợ trong lời ăn tiếng nói, cũng như trong cung cách cư xử đối với mọi thành viên của gia đình.

Anh chồng phải chỉ dạy và chị vợ phải học tập, đó là là điều dĩ nhiên không cần phải bàn cãi. Thế nhưng, điều quan trọng ở đây đó là cách thức chỉ dạy..

Thực vậy, nhiều anh chồng, chẳng biết có phải vì bản tính vốn “vũ phu  chi cục mịch”, hay do ảnh hưởng của những cuốn phim bạo lực trên truyền hình và những tin tức khủng bố xảy ra hằng ngày trên thế giới, mà việc dạy vợ mang hơi bị nhiều tính cách…cơ bắp, áp đảo và cưỡng bức.

Nói thì phải nói cho thật lớn, thậm chí nếu chửi bới được thì càng tốt, bởi vì họ thầm nghĩ rằng sự thật và chân lý luôn thuộc về những kẻ…to mồm. Còn hành động thì phải nghiêng hẳn vềphía hành động như đánh đấm, hay đập nồi đập niêu, làm cho chị vợ phải răm rắp tuân theo.

Cung cách dạy vợ theo kiểu này đã được tác giả Đỉnh Rai diễn tả như sau:

- Ông kia dạy vợ dạy con,

  Chân thượng cẳng, tay hạ đòn tả tơi,

  Ông này miệng chửi khơi khơi,

  Hai mắt ngầu đỏ, phun lời khó nghe.

  Ông nọ quăng bát, liệng ve,

  Vỡ gương, bể cả ti vi trong nhà.

  Thôi thôi! Xin các ông nha,

  Dạy vợ kiểu đó, thật là…hết khôn.

Việc dạy như thế thì chỉ…”bắt nạt” được những chị vợ hiền lành và nhu mì mà thôi. Vì sợ mà chị vợ phải vâng lời. Ức quá, thì chị vợ chỉ biết khóc. Cùng lắm, thì chị vợ khăn gói quả mướp về vớ bu, hay cấm vận một thời gian nào đó.

Tuy nhiên, nếu gặp phải một chị vợ cứng tướng,  hình dong bên ngoài là hình dong đờn bà con gái, nhưng cái cốt bên trong lại là cốt đờn ông con giai, thì việc dạy như thế sẽ chẳng “si nhê” và cũng chẳng đem lại một kết quả nào sốt. Trái lại, còn gây thêm những đổ vỡ tan hoang:

- Bây giờ “bình đẳng” chả lo,

  Ông giơ cùi chỏ, bà thò cẳng chân.

- Văn thơ lại gặp thơ văn,

  Ông hay văng tục, bà hằng “xổ nho”

- Vợ chồng như lưỡi với răng,

  Khi răng cắn lưỡi,  lưỡi càng sưng to.

- Còn trời, còn nước, còn non,

  Còn chồng còn vợ, thì còn…đánh nhau.

Trong khi đó, có những anh chồng luôn ý thức:

- Bên thẳng thì bên phải chùng,

  Hai bên đều thẳng, thì cùng đứt dây.

- Mật ngọt chết ruồi. Với một giọt mật, người ta sẽ bắt được nhiều ruồi hơn cả một thùng dấm chua.

Và họ đã thay đổi chiến thuật, sử dụng phương pháp nhỏ nhẹ và êm dịu, theo kiểu “mưa dầm thấm đất”, thay vì dùng phương pháp bạo lực và khủng bố.

Một anh bạn tên là Ngô Nặng, đã tâm sự về quá trình dạy vợ của mình như sau:

Nhớ lời xưa các cụ đã phán: Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về. Thế nên ngay trong đêm tân hôn, tôi đã bắt tay vào việc…day vợ. Đầu tiên là chuyện nằm. Tôi muốn nằm bên phải, nhưng nàng bảo:

- Em thích nằm bên phải cơ.

Thế là tôi chuyển sang nằm bên kia, vì muốn dạy cho vợ bài học…nhường nhịn.

Sáng hôm sau, tôi thức giấc trước, trong khi vợ vẫn còn ngủ mê ngủ mệt, tôi rón rén xuống bếp lo bữa điểm tâm, rồi mới đánh thức nàng dậy. Làm như vậy, tôi muốn dạy cho nàng biết quan tâm tới “nửa kia của mình”.

Nàng đánh răng súc miệng, rồi ỏn ẻn nói với tôi:

- Anh ơi, sáng nào anh cũng làm thế này cho em nhá.

Tôi ú ớ, rồi đành…méo miệng gật đầu.

Rồi hai đứa chúng tôi cùng đi…chợ. Có sao? Nàng mới về chưa quen người, chưa quen cảnh, vả lại vợ chồng son, nỡ nào để vợ “đơn thân độc mã” trên đường. Nàng tung tăng đi, còn tôi vã mồ hôi với hai tay là hai giỏ xách nặng khủng khiếp. Chả là tôi muốn nàng hiểu thêm về cái gu ẩm thực tôi. Đấy là bài học “tìm hiểu đối tác” mà tôi muốn…dạy cho vợ.

Đang suy gẫm trong đầu về ý nghĩa sâu xa của bài học dạy vợ này, thì nàng quay sang tôi và nói:

- Anh ơi, chủ nhật nào hai đứa chúng mình cũng đi thế này nhá.

Dù mặt tái đi vì lời đề nghị…”khiếm nhã”của nàng, tôi cũng ráng gồng cơ cổ lên để mà…gật đầu.

Khi làm cơm cũng vậy. Phải dạy cho nàng biết cái đạo làm bếp của vợ.  Dù nóng nực, mệt mỏi cũng không được than van, rên rỉ…Thế là xắn tay áo xuống bếp thái thịt, nhặt rau với nàng. Nàng quay sang mỉm cười nói với tôi:

- Hôm nào em về muộn, anh cứ làm hộ em như thế này nhá.

Trời ạ, tôi lại phải lặng lẽ gật đầu tiếp.

Rồi khi tới thăm nhà họ hàng, bạn bè…dĩ nhiên là tôi luôn đóng vai người tháp tùng, còn nàng sẽ vào vai phát ngôn. Đấy là bài học giao tiếp tôi muốn dạy cho nàng.

Ngày này qua ngày khác, các bài học dạy vợ như trên, tôi luôn đem ra sử dụng. Ấy vậy mà không hiểu tại sao mọi người cứ bảo vợ tôi đã cải thiện được tôi, từ một kẻ lông bông lang bang trở thành một người chồng, một người cha…mẫu mực.

Hơn thế nữa, bản tính anh đờn ông vốn thường hay “ga lăng”, chẳng mấy ai sợ vợ, nhưng chiều vợ và nể vợ thì hơi bị nhiều. Cũng vì đặc tính nể vợ này, họ sẵn sàng “duyệt” và thông qua mọi ý kiến của vợ, bởi vì họ luôn tâm niệm rằng “một sự nhịn là chín sự lành”.

Miết rồi cái đặc tính đáng yêu ấy cứ âm thầm thấm vào tim gan phèo phổi, nhập vào lục phủ ngũ tạng của mấy anh chồng, khiến họ ngộ ra rằng phàm bất kỳ điều gì  vợ phán ra, đều là sự thật, đều là chân lý, đều đúng boong một chăm phần chăm. Thành thử ngu gì mà không chịu khó nghe lời vợ.

Một anh chồng chuyên môn làm tài xế đưa rước vợ đi lo công nọ việc kia đã chia sẻ chuyện riêng của mình như sau:

Tối hôm đó, trên đường về thì bị kẹt xe. Chị vợ nói như ra lệnh:

- Lách vào trong.

Anh chồng tăm tắp vâng theo, cho xe ôm sát lề, rồi cứ thế dần dần bò lên. Chỉ một lúc sau là đã thoát nạn. Chị vợ hả hê nói với anh chồng:

- Thấy chưa, nếu không chịu lách vào trong, thì đến khuya mới về đến nhà. Chay xe mà cứ hiền như anh, thì suốt đời ngửi khói bàn dân thiên hạ.

Anh chồng ngẫm nghĩ  và thấy vợ mình nói thế mà đúng.

Một lần khác, anh chồng đang chạy đúng tuyến, bỗng một chiếc xe buýt từ trong lách ra. Vừa mới chớm ga, thì chị vợ nói như hét lên:

- Cho nó vượt đi! Gặp xe buýt anh phải biết nhường chứ. Đi đường bây giờ sợ lắm. Anh phải cẩn thận. Nhanh một chút chẳng để làm gì.

Anh chồng lại ngẫm nghĩ và cũng thấy vợ mình nói thế mà đúng. Vợ bảo đi là đi, bảo thắng là thắng (Báo Tiếp Thị).

Chẳng vậy mà người xưa đã từng bảo:

- Lệnh ông không bằng cồng bà.

Thậm chí còn nói:

- Nhất vợ nhì trời.

Hẳn nhiều người trong chúng ta còn nhớ tới câu chuyện về ông Socrate:

Ông là một triết gia lừng danh thời cổ xưa của Hy lạp. Triết lý của ông ngày nay vẫn còn giá trị. Nhưng ác hại thay, đang khi ông là một  bậc thày đáng kính của đông đảo các môn đệ và sau này muôn thế hệ vẫn coi ông như một bậc tôn sư, thì ông lại là nạn nhân của một bà vợ. Bà đã chanh chua, khinh rẻ và coi ông chỉ là hạng troi gà không chặt, dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.

Lần kia ông muốn thiết đãi bạn bè một bữa tiệc. Khi mọi sự đã sẵn sàng, thì bà vợ hầm hầm bước vào, hất đổ tất cả bát đũa cùng với thịt thà cá mú ra ngoài sân, vì bà không muốn cho ông và các bạn ăn nhậu ở trong nhà. Ông chẳng nói chẳng rằng, lặng lẽ nhặt lên, món nào vào món nấy và thầm nghĩ:

- Không nhậu trong nhà thì nhậu ngoài sân, càng mát chứ sao.

Lần khác, không hiểu vợ chồng lục đục nhau về chuyện gì, nên sau khi đã chửi bới ông một trận hoành tráng, bà đã tặng cho ông nguyên cả một chậu nước dơ lên người, thế nhưng ông vẫn thản nhiên và nói:

- Tôi biết mà, sau khi đã có sấm chớp thì tất nhiên trời sẽ đổ mưa.

Tóm lại, một khi các anh chồng đã coi ý vợ là ý trời, hay nói cách khác vợ muốn là trời muốn, thì lúc bấy giờ vợ sẽ trở thành một người trên cả tuyệt vời:

- Vợ là tổng hợp bạn thân,

  Thủ trưởng, bảo mẫu, tình nhân, mẹ hiền

  Vợ là ngân khố, kho tiền

  Gởi vô nhanh gọn, hơi phiền rút ra

  Vợ là biển cả bao la

  Đôi khi nổi sóng khiến ta chìm phà

  Vợ là âm nhạc thi ca

  Vừa là cô giáo, vừa là luật sư

  Cả gan đấu khẩu vợ ư ?

  Cá ươn không muối, chồng hư cãi lời (vợ) !

  Chồng ơi ! Đừng có dại khờ

  Không vợ, đố biết cậy nhờ tay ai ?

  Vợ là phước, lộc, thọ, tài

  Thuộc trăm định nghĩa trả bài vợ khen....

Tới nước này, thì gã bèn phải tự hỏi:

- Ai dạy ai bây giờ?  Chồng dạy vợ, hay vợ đang dạy chồng?

Gã Siêu   gasieu@gmail.com  


VỀ MỤC LỤC

- Mọi liên lạc: Ghi danh, thay đổi địa chỉ, đóng góp ý kiến, bài vở..., xin gởi về địa chỉ

giaosivietnam@gmail.com

- Những nội dung sẽ được đề cao và chú ý bao gồm:

Trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong việc mục vụ của Giáo sĩ;  Những tài liệu của Giáo hội hoặc của các Tác giả nhằm mục đích Thăng tiến đời sống Giáo sĩ; Cổ võ ơn gọi Linh mục; Người Giáo dân tham gia công việc “Trợ lực Giáo sĩ” bằng đời sống cầu nguyện và cộng tác trong mọi lãnh vực; Mỗi  Giáo dân phải là những “Linh mục” không có chức Thánh; Đối thoại trong tinh thần Bác ái giữa Giáo dân và Giáo sĩ… (Truyền giáo hay xây pháo đài?)

- Quy vị cũng có thể tham khảo những số báo đã phát hành tại

www.conggiaovietnam.net

Rất mong được sự cộng tác, hưởng ứng của tất cả Quí vị

Xin chân thành cám ơn tất cả anh chị em đã sẵn lòng cộng tác với chúng tôi bằng nhiều cách thế khác nhau.

TM. Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam

Lm. Luca Phạm Quốc Sử  USA

 

 

Duoc chon giua loai nguoi va cho loai nguoi; GIAO SI: Xuat phat tu giao dan, hien dien vi giao dan va cay dua vao giao dan, de cung lam VINH DANH THIEN CHUA

*************