|
NGUYỄN HỌC TẬP
Công Đồng Vatican II được diễn tả như là "
Công Đồng của người tín hữu giáo dân ".
Đây là lần đầu tiên một Công Đồng đặc tâm
chú ý nhiều đến người tín hữu giáo dân như vậy. Người tín hữu
giáo dân chiếm một địa vị ưu đải trong phần trung tâm tín lý của
Công Đồng.
Nếu hai tài liệu Hiến Chế Ánh Sáng Muôn
Dân ( Constitutio Lumen Gentium, LG ) và Nghi ĐịnhThực
Hiện Tông Đồ ( Decretum, Apostolicam Actuositatem)
đặc biệt đề cập đến người tín hữu giáo dân, thì các tài liệu còn
lại của Công Đồng, khắp đó đây người tín hữu giáo dân được đề
cập đến trong nhiều lãnh vực truyền giáo khác nhau.
Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng ( Gaudium
et Spes, GS) chẳng hạn, một tài
liệu mới của Công Đồng, là một văn kiện cởi mở, đầy thiện cảm và
nói lên mối liên đới của Giáo Hội với thế giới hiện đại, ý chí
của Giáo Hội hợp tác với thế giới để xây dựng một trật tự nhân
loại công bình hơn.
Trong bối cảnh đó, Hiến Chế xác định vai
trò chủ động và thiết yếu của người tín hữu giáo dân.
Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng là bản văn
tuyên bố
- những nền tảng tín lý về người tín hữu
giáo dân,
- quan niệm về một Giáo Hội để tâm suy nghĩ
về vai trò của mình để phục vụ thế giới,
- mở rộng nhãn quang về các phận vụ của
người tín hữu giáo dân đối với môi trường họ sống.
Giáo Hội của Công Đồng Vatican II là Giáo
Hội hướng ngoại " ad extra ", mở rộng cửa sứ mạng của
mình để phục vụ thế giới.
1 - Định hướng nền tảng
về Giáo Hội của Công Đồng Vatican II.
Hai mục tiêu chính định hướng về Giáo Hội
được các Nghị Phụ Công Đồng lúc đó đưa ra là " Giáo Hội hướng
nội và Giáo Hội hướng ngoại " ( Ecclesia ad
intra et Ecclesia ad extra, xây dựng nội bộ Giáo Hội và sứ
mạng mở rộng phục vụ thế giới con người).
Với tâm thức vừa kể, người tín hữu giáo dân
là những người, mà nhờ họ, Giáo Hội hội nhập được vào xã hội
con người, để thực hiện nhiệm vụ đem Phúc Âm tình thương Thiên
Chúa và cứu rổi cho con người.
Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân ( LG ), dựa vào
Thánh Kinh và kho tàng truyền thống từ các Giáo Phụ, đã hướng
dẫn Giáo Hội thoát xuất khỏi quan niệm Giáo Hội phẩm trật và mở
đường cho một Giáo Hội mầu nhiệm và lịch sử, nhứt là Giáo Hội
Cộng Đồng Dân Chúa, để nhấn mạnh đến đặc tính cộng đồng, lữ hành
và cánh chung của Giáo Hội.
Đặc tính mầu nhiệm của Giáo Hội, hay chương
trình cứu rổi của Thiên Chúa được mạc khải trong lịch sử, nảy
sinh ra một Cộng Đồng Dân Chúa, bao gồm mọi người, mọi dân tộc,
mọi quốc gia và mọi ngôn ngữ.
Trong Cộng Đồng Dân Chúa được quy tựu như
vừa kể, chúng ta có hai tiêu chuẩn phân biệt:
- tiêu chuẩn năng động và thừa tác viên (
funtionalis - ministerialis),
- tiêu chuẩn trần thế và tôn giáo (
secularis - religiosus).
Với tiêu chuẩn năng động và thừa tác
viên, chúng ta phân biệt thành phần Dân Chúa thành
giáo phẩm ( clericus) và không giáo phẩm ( non clericus),
tức là phân biệt giữa hàng giáo phẩm và những ai không có
một chức vụ gì liên quan đến các
tác động thừa tác viên ( ministerialis).
Các thừa tác viên là những tín hữu Chúa Ki
tô được lãnh nhận chức vụ qua phép Truyền Chức.
Với tiêu chuẩn trần thế và tôn giáo
chúng ta có giáo dân và tu sĩ.
Nhưng qua các tiêu chuẩn vừa kể, không phải
là tiêu chuẩn để phân biệt phẩm trật và ngôi thứ trước mặt Chúa,
có chăng để phân biệt phận vụ và tác động để phục vụ cả cộng
đồng dân Chúa: mọi thành phần trong cộng động Dân Chúa đều có
địa vị ngang nhau và mọi người được kêu gọi trở nên thánh thiện.
Trở nên thánh thiện có nghĩa là thông hiệp
với Chúa, nhân chứng gương mẫu các huấn dụ Phúc Âm bằng đời sống
của mình, thể hiện chiều hướng cánh chung của sứ mạng Giáo Hội
và hiệp thông với Chúa Phục Sinh, khi Thiên Chúa trở thành tất
cả trong mọi sự ( G. Philips, La
Chiesa e il suo mistero nel Concilio Vaticano II, vo. 2., Jaca
Book, Milano 1969, 24).
Giáo Hội như vừa kể được Thiên Chúa đặt vào
dòng lịch sử con người, như là dấu chỉ và dụng cụ thực hiện ơn
cứu rỗi của Người.
Mỗi thành phần trong Cộng Đồng Dân Chúa
tham dự vào sứ mạng quy tựu cả nhân loại thành một thực thể hợp
nhứt mà Chúa Giêsu đến để thiết lập.
Sứ mạng của Giáo Hội là sứ mạng bẩm sinh,
được Chúa Giêsu giao phó cho Giáo Hội ngay từ lúc Giáo Hội được
sinh ra và sứ mạng đó là sứ mạng bắt nguồn từ chính sứ mạng của
Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
Nghị Định Truyền Giáo cho Muôn Dân (
Decretum Ad Gentes) đã tóm lược một cách tuyệt diệu sứ mạng của
Giáo Hội:
" Giáo Hội sống giữa dòng thời đại, tự
bản tính mình, là Giáo Hội truyền giáo, bởi vì từ chính sứ mạng
của Chúa Con và sứ mạng của Chúa Thánh Thần, theo chương trình
của Chúa Cha, mà Giáo Hội được khởi thủy " ( Ad Gentes, 2
).
Sứ mạng được thể hiện bằng các động tác
truyền giáo và nhằm đến với mọi người, để bất cứ ai cũng được
nghe nói đến sứ điệp cứu rỗi và thông hiệp với Chúa Ki Tô (
Giacomo Canobbio, Laici o
Cristiani?, Morcelliana, Brescia 1997, 215).
Được đặt vào dòng lịch sử của nhân loại,
Giáo Hội chia xẻ cùng một số phận trần thế với nhân loại và bước
đi theo dòng thời gian lấy vui mừng, hy vọng, mệt nhọc và đau
khỗ của nhân loại làm của mình. Bằng hành động và sứ điệp Giáo
Hội tìm cách đáp lại những câu hỏi sâu thẩm phát xuất từ đáy
lòng của con người:
- " Vui mừng và hy vọng, buồn thảm và lo
âu của con người ở thời đại nầy, nhứt là của những ai nghèo khó
và của những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, buồn thảm
và lo âu của các môn đệ Chúa Ki Tô, và không có gì thực sự thuộc
về con người mà không có âm hưởng trong lòng các môn đệ" (
GS, 1).
Theo gương Chúa Giêsu, vị Thầy của Giáo
Hội, Đấng đến để phục vụ chớ không phải để được phục vụ.
Đặt sứ mạng trong trương độ đó, chúng ta sẽ
hiểu được sứ mạng của Giáo Hội
- không những chỉ là sứ mạng tôn giáo, chỉ
lo giảng dạy giáo lý cho con người,
- mà là sứ mạng liên quan đến con người
toàn diện, bởi vì Chính Ngôi Lời đã nhận lãnh lấy và hướng dẫn
cả tạo vật vũ trụ đến hoàn hảo.
Hiểu như vậy, chúng ta hiểu được cả thế
giới tạo vật được Chúa dựng nên và cả con người là đối tượng sứ
mạng của Giáo Hội.
Những gì chúng ta vừa đề cập là nội dung
của Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng ( GS).
Đặt định hướng của Giáo Hội trong nhãn
quang vừa kể, chúng ta thấy được Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng (
GS ) đặt người tín hữu giáo dân ở một địa vị nổi bậc:
chính qua người tín hữu giáo dân, mà Giáo
Hội có ý cộng tác bằng các động tác của mình vào các lãnh vực
mênh mông và khác nhau trong cuộc sống xã hội của con người.
Động tác truyền giáo của Giáo Hội đối với
xã hội con người
- không những chỉ giới hạn ở lãnh vực giảng
dạy luân lý, phê bình, tố giác các cách ăn thói ở, hành xử bất
chính,
- mà tích cực cộng tác, tìm hiểu học hỏi
chung, là bạn đồng hành với con người.
Mục đích của Giáo Hội không phải là xâm
chiếm hay phòng thủ tự vệ, cho bằng được tràn đầy ân sủng và mạc
khải của Thiên Chúa, Giáo Hội tự nhận thức mình được Chúa giao
phó cho trách nhiệm là men bột của môi trường xã hội con người,
làm dậy men thực tại cấu trúc của con người, dẫn con người đến
triển nở hoàn hảo mầm mống sự thiện tốt lành mà Chúa đã gieo vào
lòng con người, khi Ngài dựng nên họ ( Gn 1, 27).
Đó là những gì Đức Thánh Cha Phaolồ VI đã
nói với các Nghị Phụ Công Đồng:
- " Thái độ của Giáo Hội là thái độ rất
lạc quan: một dòng thác thương yêu và cảm mến của Công Đồng đang
tuôn tràn ra trên thế giới hiện đại. Khiển trách các sai trái,
đúng! Giáo Hội phải khiển trách, đó là vì đức bác ái và chân lý
đòi buộc. Nhưng đối với con người, Giáo Hội chỉ nhắc nhở, kính
trọng và thương yêu. Thay vì có cái nhìn chuẩn định làm chán
nản, Giáo Hội đề nghị những phương thức sửa chữa đầy phấn khởi;
thay vì tiên đoán với những triệu chứng thảm đạm, Công Đồng đã
tuyên bố cho thế giới hiện đại những sứ điệp đầy tin tưởng: các
giá trị mà thế giới đạt được không những được Giáo Hội tôn
trọng, mà còn được Giáo Hội vinh danh, các cố gắng của con người
được Giáo Hội trợ lực, các ước vọng của họ được thanh tẩy và
chúc lành" ( Phaolo VI, Omelia del 17.12.1965, Enchiridion
I, 47).
Trước viễn ảnh lạc quan, đầy phấn khởi vừa
kể của Công Đồng, qua lời Đức Thánh Cha Phaolo VI, mọi tín hữu
Chúa Ki Tô, không phân biệt ở đấng bậc nào, đều được mời gọi
tham dự vào sứ mạng của Giáo Hội, mỗi người tùy theo thể thức
được Chúa sắp đặt, người thì qua:
- các động tác thừa tác viên các Bí Tích và
lời giảng dạy,
- các ân sủng trong đời sống tận hiến,
- các ơn kêu gọi đặc biệt, trong hoàn cảnh
sống cộng tác và hổ trợ người khác.
Như vậy Giáo Hội là một thực thể rộng mở:
- rộng mở theo chiều cao, từ trên cao Giáo
Hội nhận được thực thể của mình, được sinh ra và thiết định hình
thái của mình.
- rộng mở theo chiều rộng, từ dòng lịch sử
con người Giáo Hội tiếp nhận được ngôn ngữ, văn hóa và tâm thức
của con người. Và vào dòng lịch sử, Giáo Hội phổ biến thẩm thấu
đời sống của Thiên Chúa để biến con người và thế giới con người
nên hoàn hảo như ý Chúa muốn.
Giáo Hội là thân thể của Chúa Giêsu, trong
đó mỗi thành phần cộng tác hoạt động nhằm đem lại lợi ích chung
cho cả thân thể.
Trong nhãn quang đó, người tín hữu giáo dân
là thành phần của Cộng Đồng Dân Chúa với đầy đủ địa vị của
mình.
Người tín hữu giáo dân có ơn gọi và tác
động đặc biệt, ơn gọi sống và hành động giữa trần thế, dấu chứng
Giáo Hội hiện diện trong hoàn cảnh sống thường nhật của con
người.
2 - Người tín hữu giáo
dân tham dự vào sứ mạng của Giáo Hội.
Đọc lại những tài liệu lịch sử của thời kỳ
tiền Công Đồng cũng như thời kỳ Công Đồng đang nhóm họp, chúng
ta thấy mối lo âu của các chuyên viên cũng như của Nghị Phụ là
làm sao xác định được địa vị và vai trò người tín hữu giáo dân,
để Giáo Hội có thể hoạt động chu toàn sứ mạng và đạt được mục
đích được đề cập ở trên:
- rao giảng Phúc Âm,
- cộng tác và thánh hoá thế giới hiện đại,
như men bột thẩm thấu và làm bột dậy men Phúc Âm,
- tạo được một xã hội công chính, thánh
thiện xứng đáng với con người.
Dự án thứ nhứt của Ủy ban soạn thảo tiền
Công Đồng về người tín hữu giáo dân, chúng ta có những tư tưởng
như sau:
- " ...với từ ngữ người tín hữu giáo
dân, chúng ta có thể hiểu là con cái của Giáo Hội, được hội nhập
vào cộng đồng dân Chúa qua phép rửa, nhưng vẫn sống giữa trần
thế, được hướng dẫn bằng những lề luật chung của đời sống Ki Tô
Hữu. Như vậy Công Đồng đề cập đến các tín hữu đó, là những tín
hữu không được Chúa gọi vào phẩm trật giáo sĩ, cũng không vào
đời sống tu sĩ được Giáo Hội chuẩn nhận, mà phải sống đời sống
thánh thiện Ki Tô Giáo, làm rạng danh Thiên Chúa, dưới hình thức
đặc biệt của họ, qua các đông tác trần thế. Dấn thân vào các
động tác trần thế, được tinh thần Phúc Âm hướng dẫn, họ chiến
đấu một cách hữu hiệu chống lại thế giới man dại, hay nói đúng
hơn, với ơn gọi Ki Tô giáo của họ, họ thánh hoá thế giới từ bên
trong" ( I Schema preparato dalla Commissione
Preconciliare, cit. by Giacomo Canobbio, Laici o cristiani,
Morcelliana, Brescia 1997, 218).
Dự án vừa kể được đưa vào Nghị Hội, được
các Nghị Phụ bàn cải và một vài tư tưởng nhấn mạnh được hoán
chuyển.
Việc hoán chuyển đầu tiên là hoán chuyển
liên quan đến vai trò tham dự vào sứ mạng của Giáo Hội.
Trong dự án vừa được trích dẫn, chúng ta
thấy Ủy ban soạn thảo nhấn mạnh đến việc thánh hoá của người tín
hữu giáo dân:
- "...sống đời sống thánh thiện...qua
các động tác trần thế ", thì ở Dự Án thứ hai, trong bàn hội
nghị, dự án đặc biệt chú ý đến vai trò sứ mạng của người tín hữu
giáo dân:
- "...người tín hữu giáo dân tham dự vào
sứ mạng của Giáo Hội cả các hoạt động tôn giáo ..." (
II Schema, id., 219.).
Qua cách chuyển đổi đó, chúng ta thấy được,
Dự Án I nhấn mạnh đến giá trị của hoạt động trần thế liên qua
việc thánh hoá bản thân của người tín hữu giáo dân.
Trong khi đó thì Dự Án II nhắc nhở đến
phận vụ sứ mạng tôn giáo, đặc biệt của Giáo Hội và người tín
hữu giáo dân được mời gọi tham dự, "...
cả qua các hoạt động tôn giáo".
Và rồi hai khuynh hướng khác nhau hoạt
động " trần thế và tôn giáo" được đút kết trong Dự Án
III chung kết, trước khi đưa vào Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân ( LG
):
_ " ...người tín hữu giáo dân ( qua Phép Rửa) được biến thành
người có quyền và bổn phận tham dự theo cách thức của họ vào
chức vụ tư tế, tiên tri và vương tước của Chúa Giêsu, hành xử
trong Giáo Hội và giữa trần thế sứ mạng của cả Cộng Đồng Dân
Chúa tùy theo phần của mình" ( III Schema, cit. Giacomo
Canobbio, op. cit., 218-219).
Như vậy trong Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân (
LG), đặc tính trần thế của người tín hữu giáo dân tham dự sứ
mạng của Giáo Hội sẽ được xác định rõ rệt, " ...hành xử
trong Giáo Hội và giữa trần thế...tùy theo phần của mình ",
so với hành giáo phẩm và tu sĩ trong Cộng Đồng Dân Chúa.
Người tín hữu giáo dân là người có địa vị
trong thành phần Cộng Đồng Dân Chúa, như bất cứ ai khác.
Ý nghĩa trên càng thể hiện rõ rệt hơn nữa,
nếu chúng ta nhìn qua cấu trúc của Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân (
LG ), Hiến Chế nền tảng tín lý của Cộng Đồng Dân Chúa.
Trong Dự án được trình diện cho các Nghị
Phụ bàn thảo ở chu kỳ hội thảo lần thứ hai, chương liên quan đến
Cộng Đồng Dân Chúa được xếp vào chương III của Hiến Chế, sau khi
đề cập đến Mầu Nhiệm của Giáo Hội ở chương I và Hàng Giáo Phẩm ở
chương II.
Cách xếp đặt vừa kể chịu ảnh hưởng của quan
niệm về Giáo Hội của các năm ở thập niên '50 cũng như trước đó,
tiếp tục theo truyền thống có từ thời Trung Cỗ về Giáo Hội, theo
đó thì Hàng Giáo Phẩm là những Đấng Bậc đứng trung gian giữa
Chúa Giêsu và Dân Chúa.
Sau những cuộc bàn thảo trong chu kỳ vừa
kể, các Nghị Phụ đã đi đến kết luận chung kết cấu trúc của Hiến
Chế, đảo ngược chương III về Cộng Đồng Dân Chúa thành chương
II, đem chương II về hàng Giáo Phẩm xuống chương III và chương
IV nói về người tín hữu giáo dân.
Cách xếp đặt vừa kể cấu trúc của Hiến Chế
Ánh Sáng Muôn Dân ( LG ) cho thấy,
- sau chương I nói về Mầu Nhiệm của Giáo
Hội ( mạc khải Thiên Chúa và đem ơn cứu rỗi đến cho con người),
- chương II kế tiếp của Hiến Chế đề cập đến
Cộng Đồng Dân Chúa, trong đó gồm tất cả các thành phần giáo sỉ,
tu sĩ cũng như giáo dân. Người tín hữu giáo dân là thành phần
của Cộng Đồng Dân Chúa với đủ tư cách như bất cứ ai. Giáo sĩ và
tu sĩ cũng là thành phần của Cộng Đồng Dân Chúa.
- Kế đến chương III bàn về Hàng Giáo Phẩm
- và chương IV nói về người tín hữu giáo
dân.
Điều đó cho thấy, sau khi đề cập đến địa vị
với đầy đủ tư cách, quyền và trách nhiệm của mỗi thành phần Cộng
Đồng Dân Chúa, Công Đồng bàn đến
* động tác của Hàng Giáo Phẩm (c. III)
* và động tác của người tín hữu giáo dân (
c. IV ), mỗi người trong lãnh vực của mình để cùng cộng tác xây
dựng Cộng Đồng Dân Chúa và chu toàn sứ mệnh của Giáo Hội.
Đặt Cộng Đồng Dân Chúa ở chương II, Công
Đồng Vatican II có ý đặt Hàng giáo Phẩm và giáo dân cùng trên
một nền tảng chung như nhau, đều thuộc Cộng Đồng Dân Chúa như
nhau.
Bất cứ vị giáo sĩ nào, trước khi là giáo
sĩ, vị đó đã người tín hữu Chúa Ki Tô trước đã, qua phép Rửa (S.
Dianich, Laici e laicità nella Chiesa, Dossier sui laici;
Queriniana, Brescia 1987, 151).
Sau đó, qua phép Truyền Chức, phận vụ của
vị giáo sĩ khác phận vụ của người tín hữu giáo dân, môi trường,
phương thức và động tác khác nhau, nhưng cùng hoạt động, để tham
dự vào sứ mạng đem lời Chúa và đem ơn cứu rỗi thánh hoá con
người và thánh hoá thế giới được Chúa dựng nên.
Như vậy người tín hữu giáo dân không phải
là những kẻ từ bên ngoài được thu vào, cộng thêm vào Cộng Đồng
Dân Chúa như kẻ " ăn nhờ ở đậu ", " ăn cơm ngụi, ở
nhà ngoài ", mà là thành phần Dân Chúa với đủ tư cách do sức
mạnh tác động thánh hoá của Chúa trong Phép Rửa, ban cho họ tham
dự vào đời sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, ngay từ lúc họ nhận phép
Rửa:
- " Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn
dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con
và Thánh Thần" ( Mt 28, 19).
Qua những gì vừa đề cập, những suy luận
cũng như cách cấu trúc của Hiến Chế, chúng ta hiểu được mối liên
hệ giữa Chúa Giêsu và Giáo Hội hay giữa Chúa Giêsu và Cộng Đồng
Dân Chúa là mối tương giao trực tiếp ( c. I: Mầu Nhiệm Giáo Hội;
c. II: Cộng Đồng Dân Chúa).
Trong khi đó Hàng Giáo Phẩm được Công Đồng
suy nghĩ đến kế tiếp ( c. III), liên quan đến phận vụ để phục
vụ Cộng Đồng Dân Chúa.
Như vậy, cả Cộng Đồng Dân Chúa được Công
Đồng Vatican II xác nhận cho trách nhiệm mà trước kia chỉ được
quy trách cho Hàng Giáo Phẩm (
Giacomo Canobbio, id., 220).
Cộng Đồng Dân Chúa được Chúa Giêsu thiết
lập nên là Dân Chúa tham dự chức tư tế, tiên tri và vương giả
của Chúa Giêsu, Người Lãnh Đạo Cộng Đồng.
2 - Đặc tính trần thế
của người tín hữu giáo dân.
(Tất cả Cộng Đồng Dân Chúa tham dự vào chức
tư tế, tiên tri và vương giả của Chúa Giêsu là Đầu của mình như
thế nào và với ý nghĩa gì, chúng ta sẽ có dịp bàn đến trong
những lần tới).
Qua những gì được trình bày ở trên, chúng
ta thấy rằng Công Đồng Vatican II xác nhận rằng người tin hữu
giáo dân là
- người tín hữu Chúa Ki Tô, thành phần của
Cộng Đồng Dân Chúa như bất cứ thành phần, đấng bậc nào khác
- và tham dự vào sứ mạng của Giáo Hội với
đủ tư cách phát xuất từ bản tính bẩm sinh của mình, từ ngày mình
nhận phép Rửa, để thông hiệp với Chúa Giêsu, thông hiệp với đời
sống Ba Ngôi Thiên Chúa.
Một khi xác nhận được như vậy, chúng ta
phải tìm hiểu thêm đặc tính của phận vụ tham dự vào sứ mạng rao
giảng Phúc Âm và đem ơn cứu rỗi đến cho nhân loại đó của Giáo
Hội, đối với người tín hữu giáo dân gồm những gì.
Điều vừa kể chúng ta có thể tìm hiểu được
dựa theo những hiểu biết về Ki Tô học ( Christologia) và
Giáo Hội Học ( Ecclesiologia).
Đặc tính của người tín hữu giáo dân tham
dự vào sứ mạng truyền giáo và đem ơn cứu rỗi của Giáo Hội như
vậy, trước tiên được diển tả theo mối tương quan: người tín hữu
giáo dân tác động tương quan với hàng giáo phẩm và tu sĩ; liên
hệ giữa người tín hữu giáo dân và thế giới được Chúa dựng nên.
- tương quan giữa người tín hữu giáo dân và
hàng giáo phẩm và tu sĩ được Công Đồng diển tả bằng từ thành ngữ
" tùy theo phần của mình".
- mối liên hệ giữa người tín hữu giáo dân
và xã hội trần thế được diển tả bằng tư tưởng, nhờ họ và qua
họ ( người tín hữu giáo dân) Giáo Hội có thể hiện diện được giữa
xã hội con người và soi sáng hướng dẫn con người trong cuộc sống
bằng ánh sáng Phúc Âm.
Đối với hàng giáo phẩm và tu sĩ, người tín
hữu giáo dân là người sống giữa trần thế ( dĩ nhiên giáo sĩ và
tu sĩ cũng sống giữa trần thế), nhưng người tín hữu giáo dân có
cách sống và môi trường sống đặc thù của mình, được Hiến Chế Ánh
Sáng Muôn Dân diển tả:
- " Nơi đó ( ở giữa trần thế),
người tín hữu giáo dân được Chúa kêu gọi, như là cách thức của
men bột từ bên trong, góp phần thánh hoá thế gian, qua việc hành
xử các phận vụ của chính mình, dưới sự hướng dẫn của tinh thần
Phúc Âm. Và như vậy,( người tín hữu giáo dân) làm cho người khác
nhận ra Chúa Ki Tô nhứt là chứng nhân bằng đời sống của mình và
bằng ánh chớp sáng lạng của đức tin, của niềm hy vọng và đức bác
ái " ( LG, 31).
Hình ảnh men bột được rút ra từ Phúc Âm
Thánh Matthêu,
" Nước Trời cũng giống như chuyện nắm
men bột bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột
dậy men" ( Mt 13, 33). cho thấy giá trị của đời sống thường
nhật người tín hữu giáo dân,
- ngay cả chỉ bằng cuộc sống Ki Tô hữu
thôi, cũng đã là cuộc sống nhân chứng truyền giáo trong xã hội,
- chưa cần phải nói đến phải hô hào, rao
giảng, hội họp, rước kiệu, biểu tình, tổ chức
- và hoạt động trong các cơ quan từ thiện
hay chung sức với những người khác trong môi trường xã hội,
chính trị tranh đấu cho mình và cho đồng bào mình có được cuộc
sống xứng đáng với nhân phẩm con người.
Người tín hữu giáo dân, sống trong các điều
kiện và hoàn cảnh thường nhật của cuộc sống theo tinh thần Phúc
Âm, đã là nền tảng và khởi đầu để thăng tiến và hoán cải xã hội
con người và thực tại trần thế.
Ơn gọi và sứ mạng của người tín hữu giáo
dân là "...hành động đối với các
thực tại trần thế và quy hướng chúng theo thánh ý của Thiên Chúa
".
Đó là phương thức tìm kiếm Nước Trời của
người tín hữu giáo dân.
Tìm kiếm Nước Chúa trong tinh thần vừa kể
là lo lắng thực hiện những gì Chúa muốn, như Chúa Giêsu đã
khuyên dạy chúng ta trong Phúc Âm thánh Matthêu:
- " Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên
Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những điều khác,
Người sẽ thêm cho" ( Mt 6, 33).
Điều vừa kể cho thấy người tín hữu giáo dân
sống đời sống ơn kêu gọi thánh hóa chính mình và thánh hóa thực
tại trần thế như Chúa muốn, là sống hội nhập, đươn kết và đồng
trách nhiệm với môi trường trần thế, xa hẵn với quan niệm "
thoát tục " mới tìm được Chúa.
Cuộc sống thường nhật, với hoàn cảnh vui
buồn và trách nhiệm của mình, sống trong ánh sáng Phúc Âm, là
chính cuộc sống ơn Chúa kêu gọi người tín hữu giáo dân, đặt họ
vào chính môi trường sống để họ gặp được Ngài, phục vụ Ngài và
phục vụ anh em.
Tách rời cuộc sống thường nhật giữa trần
thế và cuộc sống tâm linh tôn giáo, bị Hiến Chế Vui Mừng và Hy
Vọng ( Gaudium et Spes, GS) cảnh cáo như là một trong những sai
lầm rất nguy hại trong thời đại chúng ta, là lối thoái thác diện
cớ nguy hại cho cả phần rỗi của mình:
- " Công
Đồng khuyến khích các tín hữu Chúa Ki tô, là công dân của thị xã
nầy và cũng của thị xã kia, hãy cố gắng trung thành chu toàn các
bổn phận trần thế của mình, dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc
Âm. Thật là sai lầm, những ai nhận thức được rằng ở đây dưới
trần thế, chúng ta không có quyền công dân cố định, từ đó bỏ đi
tìm quyền công dân ở của thị xã tương lai, từ đó nghĩ rằng mình
có thể chểnh mảng các phận vụ trần thế. Những người đó, trái
lại, không nghĩ rằng chính đức tin đòi buộc họ hơn nữa phải chu
toàn các bổn phận đó, mỗi người tùy theo ơn gọi của mình (...).
Sự tách biệt, không phải chỉ đối với một
số ít người, giữa đức tin mình tuyên xưng và đời sống thưòng
nhật của mỗi người phải được coi là một trong những sự sai lầm
hệ trọng nhứt trong thời đại chúng ta ( ...). Đừng ai cho rằng
giữa các hoạt động nghề nghiệp và xã hội một bên và đời sống tôn
giáo phía bên kia, có những tương phản. Người tín hữu Chúa Ki Tô
chểnh mảng các phận vụ trần thế của mình, chểnh mảng các bổn
phận của mình đối với anh em, đúng hơn là đối với chính Chúa, là
người đặt phần rổi vĩnh cửu của mình vào nguy hiểm"
( GS, 43).
Hoàn cảnh sống của người tín hữu giáo dân,
như vậy, được Công Đồng giải thích như là ơn gọi.
Chuyên cần thực hiện các phận vụ của mình,
trong hoàn cảnh sống thường nhật theo tinh thần Phúc Âm, là chu
toàn thánh ý Chúa.
Dĩ nhiên các giáo sĩ và tu sĩ cũng sống
giữa trần thế, không bị coi là " người ngoại cuộc" đối
với các bổn phận của người tín hữu giáo dân, nhưng các đấng giáo
sĩ và tu sĩ có thể thực hiện các bổn phận đó với tư cách là
những người hổ trợ hay thay thế ( ...per modum suppletivum).
Bởi đó Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng không
quả quyết một cách siết chặt, dành quyền lãnh vực trần thế cho
giáo dân độc quyền:
- " Các phận vụ và hoạt động trần thế là
lãnh vực chính của người tín hữu giáo dân, mặc dầu không phải là
dành riêng cho một mình họ" ( GS, 43 ).
Trong các lãnh vực trần thế, người tín hữu
giáo dân được dành cho một vị trí đặc biệt, bởi vì chính hoàn
cảnh và điều kiện sống của họ, họ là người hiểu biết, có kinh
nghiệm, có thẩm quyền ( compétents) đối với những vấn đề liên hệ
với cuộc sống trần thế.
Trong một vài trường hợp, Giáo Hội chỉ có
thể hiện diện được qua người tín hữu giáo dân, như muối đất, ít
nhứt là trong điều kiện sống thông thường.
Sự hiện diện của Giáo Hội không phải chỉ
hiện diện bằng Hàng Giáo Phẩm hay tu sĩ với áo dòng, áo lễ,
hiện diện bằng lời giảng dạy, nghi thức phụng tự, mà cũng có thể
hiện diện bằng ảnh hưởng qua cuộc sống và hành
động của người tín hữu giáo dân, thể hiện theo tinh thần Phúc
Âm, ảnh hưởng bằng phương thức " men bột, muối đất ".
Người tín hữu giáo dân biến đổi và thánh
hóa xã hội và thực tại trần thế từ bên trong.
Với phận vụ không ai có thể thay thế được
đó của người tín hữu giáo dân, Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng ( GS
) , trong phần hai, liệt kê một loạt các lãnh vực mà người tín
hữu giáo dân là mắc xích cần thiết, để Giáo Hội có thể hiện diện
và thực hiện sứ mạng của mình.
Nói đúng hơn trong các môi trường sống đó,
sứ mạng của Giáo Hội được chính người tín hữu giáo dân, thành
phần của Giáo Hội thực hiện. Đó là những lãnh vực
- " ...hôn nhân và gia đình, văn hoá con
người, đời sống kinh tế và xã hội, lãnh vực chính trị, liên đới
và hoà bình giữa các dân tộc..." (cfr. GS, 43).
Trong những lãnh vực vừa kể, người tín hữu
giáo dân hành xử như là người có trách nhiệm, được soi sáng bởi
ánh sáng Phúc Âm và tôn trọng bản chất của các sự vật, không
trông đợi những giải đáp thoả đáng của các chủ chăn, khi có vấn
đề phải giải quyết. Bởi lẽ đó không phải là nhiệm vụ và có thẩm
quyền của chủ chăn:
- " Họ ( người tín hữu giáo dân)
nên trông đợi ở các linh mục ánh sáng và sức mạnh thiêng liêng.
Nhưng họ đừng nghĩ rằng các vị chủ chăn của họ có thẩm quyền để
có thể cung cấp cho họ một giải pháp thiệt thực và tức thời đối
với bất cứ vấn đề gì, ngay cả vấn đề quan trọng cũng vậy, xảy ra
cho họ, hay đó là sứ mạng của các vị. Đúng hơn, được soi sáng
bằng đức khôn ngoan Ki Tô giáo, biết trung thành lắng nghe lời
giáo huấn của Giáo Hội, chính họ hãy đứng ra nhận lãnh trách
nhiệm" ( GS 43, 2).
Như vậy đối với Công Đồng Vatican II, người
tín hữu giáo dân không phải là hạng người " vị thành niên
", cần luôn luôn được " nắm tay " hướng dẫn và " xách
lỗ tai " để khiển trách và chỉ đường, như người thừa hành "
lệnh trên " của các Đấng Bản Quyền.
Người tín hữu giáo dân, trong các lãnh vực
trần thế, là người tự đứng ra quyết định, hành động và " ...đứng
ra nhận lãnh trách nhiệm của mình ".
Chính họ là những người có khả năng làm cho
Giáo Hội hội nhập và hiện diện trong xã hội con người, giảng dạy
và ảnh hưởng đến con người qua chính đời sống và động tác chứng
nhân của họ trước mọi lãnh vực trần thế.
Người tín hữu giáo dân là thành phần tham
dự và hoạt động tích cực thực hiện sứ mạng của Giáo Hội, "...
tùy theo phần của mình" ( III Schema, id.).
Hiểu được như vậy, chúng ta hiểu được tại
sao Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân ( Lumen Gentium), dành cả chương
IV đề cập đến địa vị của người tín hữu giáo dân, sau khi đã diển
giải về Hàng Giáo Phẩm ở chương III:
- " Thánh Công Đồng, sau khi đã xác định
về phận vụ của Hàng Giáo Phẩm, rất hài lòng được quy hướng tư
tưởng của mình về địa vị của các tín hữu được gọi là giáo dân"
( LG, 30).
Qua những gì vừa tìm hiểu, chúng ta thấy
được người tín hữu giáo dân không phải là " công dân hạng hai
" trong Cộng Đồng Dân Chúa ( c. II LG : Cộng Đồng Dân Chúa
gồm cả giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân), cùng được sinh ra như nhau
trong phép Rửa và do đó có bổn phận như nhau tham dự vào sứ mạng
của Giáo Hội, không phải là tham dự sứ mạng " thừa lệnh trên".
Mọi tín hữu Chúa Ki Tô, không phân biệt
phẩm trật, từ lúc mình được sinh ra trong phép Rửa, trở thành
phần Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa Giêsu, là thành phần với đầy đủ
tư cách và trách nhiệm tham dự vào sứ mạng và tước vị tư tế,
tiên tri và vương giả của Chúa Giêsu, là Đầu của thân thể.
3 - Người tín hữu giáo
dân và chủ chăn.
Những gì được đề cập cho thấy Công Đồng
Vatican II dựa trên nền tảng thần học để diển tả các thành phần
trong Cộng Đồng Dân Chúa:
- địa vị và phẩm giá như nhau, đều là con
cái Chúa,
- phận vụ khác nhau để phục vụ Chúa và phục
vụ anh em ( Giacomo Canobbio, id., 232).
Những điều vừa kể được diển tả đều khắp
trong điều 37 Hiến Chế Ánh Muôn Dân ( LG 4, 37): đề cập đến
quyền và bổn phận của người tín hữu giáo dân đối với vị chủ chăn
và ngược lại quyền và nhiệm vụ của vị chủ chăn đối với họ:
a) quyền và bổn phận người tín hữu
giáo dân đối với vị chủ chăn:
- quyền được lãnh nhận các của cải thiêng
liêng của Giáo Hội: lời Chúa và các Bí Tích,
- quyền và bổn phận nói lên ý kiến của mình
đối với những gì liên quan đến lợi ích cho Giáo Hội,
- bổn phận vâng phục các lời huấn dạy của
giáo quyền về tín lý và luân lý.
Quyền và bổn phận phát biểu ý kiến của mình
liên hệ đến những gì lợi ích cho Giáo Hội, được nêu lên một cách
nổi bậc ở điều 37 đối với Hàng Giáo Phẩm cho thấy xác tính của
Công Đồng rằng người tính hữu giáo dân cũng là thành phần của
Giá Hội.
Những gì thuộc lãnh vực của mình, ngưòi tín
hữu giáo dân có bổn phận như mọi thành phần khác để mưu ích
chung cho cả thân thể Chúa Ki Tô.
Dĩ nhiên không phải quyền và bổn phận "
phát ngôn bừa bãi " mà những gì đòi buộc phải có hiểu biết,
can đảm, khôn ngoan, kính trọng và bác ái.
Muốn được như vậy, người tín hữu giáo dân
phải
- được học hỏi, huấn luyện, có được các
hiểu biết chuyên môn nghề nghiệp,
- mà cũng phải được huấn luyện về thần học,
được các vị chủ chăn giúp đở, khuyến khích và hướng dẫn.
Các lớp thần học dành cho giáo dân hiện nay
được mở ra đầy dẫy ở Âu Châu đáp ứng lại nhu cầu vừa kể, ai cũng
có thể tham dự được.
Quyền và bổn phận trong Cộng Đồng Dân Chúa
khác với quan niệm thông thường của các tổ chức trần thế.
Trong Giáo Hội không có gì mỗi người có "
quyền và bổn phận ", kỳ vọng cho chính mình, mà không mưu
đem lại lợi ích cho anh em khác.
Như vậy quyền và bổn phận " bày tỏ tư
tưởng của mình ", phải là những gì
- phát xuất từ đời sống thánh đức
- và thẩm quyền hiểu biết lãnh vực trần thế
của mình.
Bổn phận vâng phục của người tín hữu giáo
dân đối với vị chủ chăn là vì vị chủ chăn là người đại diện cho
Chúa Ki Tô giảng dạy và hướng dẫn mình, trong tín lý và luân
lý.
b) bổn
phận của vị chủ chăn đối với giáo dân.
Bổn phận của vị chủ chăn đối với giáo dân
là nhận biết và phát huy địa vị và trách nhiệm của người giáo
dân.
Cử cthỉ đó được thể hiện qua động tác
- lắng nghe ý kiến và lời khuyên của giáo
dân, nhứt là những gì thuộc thẫm quyền chuyên môn của họ.
- tin cậy, ủy thác cho họ những phận vụ
trong Cộng Đồng,
- để họ được tự do có sáng kiến hành động,
dĩ nhiên nhứt là những gì thuộc lãnh vực của họ,
- trợ lực, khuyến khích và hướng dẫn học
hỏi và sống đời sống tôn giáo bằng lời Chúa và bằng các Phép Bí
Tích.
( 1 ) Người tín hữu giáo dân
trong lãnh vực trần thế.
Lãnh vực cá biệt của giáo dân là lãnh vực
trần thế, có luật lệ và phương cách thực hiện phù hợp với bản
tính của tạo vật được Chúa dựng nên:
- " Nếu đối với các thực tại trần thế,
tự lập có nghĩa là tạo vật và xã hội con người có những luật lệ
và giá trị của chúng, mà con người dần dần phải khám phá ra, xử
dụng và sắp đặt, thì đó là điều đòi buộc chính đáng, không phải
chỉ do con người áp đặt phải tuân theo, mà đòi buộc đó hợp với
thánh ý của Đấng Tạo Hoá. Thật vậy từ điều kiện của các tạo vật,
mà mọi sự vật nhận được thực thể, chân lý và sự tốt đẹp, luật lệ
và thứ bậc của mình: đó là những gì con người bị bắt buộc phải
tôn trọng, nhận biết được mỗi khoa học và nghệ thuật đều có
phương pháp của nó" ( GS, 36 ).
Qua những gì vừa trích dẫn của Hiến Chế Vui
Mừng và Hy Vọng ( Gaudium et Spes, GS), mọi sự vật được Chúa
dựng nên, cũng như xã hội con người, đều có " bản chất, luật
lệ và phương thế để thực hiện " con người phải biết để hành
xử.
Điều đó hàm chứa việc các vị chủ chăn,
trong các lãnh vực trần thế, phải để cho người tín hữu giáo dân
hành động theo khả năng hiểu biết và tự do quyết định của họ.
Giữa Giáo Hội và xã hội trần thế có những
khác biệt về luật lệ và tổ chức cơ chế:
- Giáo Hội có sứ mạng tôn giáo, mặc dầu sứ
mạng đó những liên hệ dân sự,
- Giáo Hội không can thiệp, xác định khuôn
mẫu tổ chức cuộc sống dân sự, nếu hiểu theo ý nghĩa lựa chọn hệ
thống chính trị nầy hay hệ thống khác, ủng hộ đảng phái nầy hay
không ủng hộ đảng phái khác.
Tuy nhiên Giáo Hội không thể không lên
tiếng
- trước những thể chế chính trị đàn áp, tha
hoá, đê tiện hoá nhân phẩm con người, khuyến khích con người chỉ
biết sống vật chất,
- không xứng đáng với phẩm giá con người,
xa rời Thiên Chúa, bởi vì con người được dựng nên giống hình ảnh
Thiên Chúa ( Gn 1, 27 ) và là con Thiên Chúa ( Mt 6, 9 ).
Vì vậy, sống xứng đáng với nhân phẩm con
người,
- ngoài cuộc sống dân chủ, tự do, vật chất
đầy đủ, đời sống cá nhân và gia đình được bảo đảm,
- còn là sống luôn luôn hướng thiện, hoàn
hảo hoá mình, mỗi ngày càng tiến đến và trở nên giống như Chúa,
gương mẫu của sự trọn hảo và là cùng đích hạnh phúc tuyệt đỉnh
và bất diệt của con người.
* " Anh em hãy trở nên trọn hảo như Cha
anh em trên trời là Đấng trọn hảo" ( Mt 5, 48).
Bởi lẽ đối những thể chế chính trị dàn áp,
tha hoá và đê tiện hoá con người đi ngược lại tín lý và luân lý
của Giáo Hội,
- Giáo Hội không thể nào vì lý do "
có sứ mạng tôn giáo", " không làm chính
trị ",
- mà
lặng thinh để ai bị bốc lột, đau khổ, cuộc sống chỉ còn thu gọn
vào lối sống vật chất như sút vật, mặc kệ.
Giáo Hội phải lên tiếng, Toà Thánh hay Giáo
Hội địa phương cũng vậy, chống lại các ý thức hệ, thể chế tha
hoá và đê tiện hoá con người.
Nhưng Giáo Hội không liên hệ với một hình
thức tổ chức cơ chế chính trị nào.
Do đó Giáo Hội mời gọi người tín hữu giáo
dân dấn thân vào chính trị không nên " đưa ra phương thức tổ
chức chính trị của mình, được coi như là phương thức có uy tính
được Giáo Hội ủng hộ ", bởi lẽ cùng dựa theo ánh sáng Phúc
Âm, nhiều người khác cũng có thể đưa ra những giải pháp khác, có
thể không hẵn đồng thuận với giải pháp mà mình cho rằng "
được Giáo Hội ủng hộ ":
- " Hơn nữa cũng cùng một quan điểm Ki
Tô giáo về thực tại trần thế hướng dẫn họ, trong một vài trường
hợp, đi đến một giải pháp xác định. Tuy nhiên những tín hữu
khác, cũng thành tâm thiện chí như họ, có thể có một phán đoán
khác trên cùng một vấn đề, điều đó rất thường xảy ra và cũng là
điều chính đáng. Các giải pháp được phía bên nầy hay phía bên
kia đưa ra, ngoài ra dự tính của phe nhóm, còn được liên kết với
sứ điệp Phúc Âm. Nhưng trong các trường hợp vừa kể, họ nên nhớ
rằng không ai được độc quyền cho rằng giáo quyền hoàn toàn đứng
về phía ý kiến của họ" ( GS 43,3).
Nhiều khuôn mẫu có thể được lựa chọn, tất
cả đều được phát hoạ và tổ chức theo ánh sáng Phúc Âm, hàm chứa
việc không có một khuôn mẫu nào có thể tự cho mình là tiếng nói
cuối cùng của Phúc Âm.
Nói như vậy không có nghĩa là người tín hữu
Chúa Ki Tô, nhứt là tín hữu giáo dân,
- muốn đưa ra lý thuyết tư tưởng suy nghĩ
nào cũng được,
- gia nhập chính đảng nào cũng được,
- " ủng hộ và nhất trí " với chủ
thuyết và với " Đảng và Nhà Nước" nào cũng được, mà là
suy nghĩ, quyết định và hành động luôn luôn " được ánh sáng
Phúc Âm hướng dẫn".
Đó là những gì Bản Văn " Ghi Chú Tín Lý
" của Bộ Tín Lý Đức Tin, lưu ý các tín hữu, gởi cho mọi tín
hữu ngày 16.1.2003 ( L'Osservatore Romano 17.01.2003), để
nhắc nhở cách hành xử phải có của người tín hữu Chúa Ki Tô, nhứt
là người tín hữu giáo dân dấn thân trong các lãnh vực trần thế.
Điều vừa kể cũng cho thấy tại sao Giáo Luật
nghiêm cấm các giáo sĩ dấn thân trực tiếp và tích cực vào các
chính đảng hay cơ chế dân sự,
" Cấm ngặt các giáo sĩ ( Clerici
vetantur...) liên hệ vào chính trị , mà sự dấn thân trực tiếp đó
đưa đến việc hành xử quyền lực Quốc Gia" ( Giáo Luật, n.
265).
Bởi lẽ việc liên hệ của các vị có thể làm
cho người khác nghĩ rằng các vị đang hành xử phận vụ cao cả của
mình, phận vụ của người đại diện Chúa Ki Tô, cô đọng ở một
phương thế tổ chức cố định, trong lãnh vực chung sống mà mọi
người đều có tự do bàn cải và tìm kiếm luôn luôn một giải pháp
khác nhau, khá hơn.
(2 ) Người tín hữu giáo dân cộng tác
với hàng giáo phẩm.
" Ad extra " ( đối ngoại ) , đối với
lãnh vực trần thế, người giáo dân thực hiện sứ mạng truyền giáo
của Giáo Hội , đem ánh sáng Phúc Âm và ơn cứu rỗi cho mọi người,
thánh hoá môi trường mình đang sống.
Người tín hữu giáo dân " được hướng dẫn
bằng đức khôn ngoan Ki Tô giáo " hành động tự lập, hành động
trong môi trường sống và môi trường chuyên môn chức nghiệp của
mình, và " ...chính mình đứng ra nhận lấy trách nhiệm công
việc của mình" ( GS 43, 3).
" Ad intra " ( về nội bộ Giáo Hội )
, để phục vụ và xây dựng Cộng Đồng Giáo Hội, họ là những người
cộng tác với chủ chăn.
Các công tác giúp lễ, làm ông từ thắp đèn,
quét nhà thờ, giựt chuông, chưng bông hoa, dọn kiệu Đức Mẹ, hợp
thành ca đoàn phụng vụ là những công việc có từ ngàn xưa do giáo
dân đảm nhận, ai trong chúng ta cũng biết.
Đọc lại các thư Thánh Phaolồ và sách Tông
Đồ Công Vụ, chúng ta cũng biết được người tín hữu giáo dân giúp
các Tông Đồ giải quyết những nhu cầu thường nhật, như việc lo tổ
chức, cư trú, ẩm thực cho cộng đoàn , nhứt là cho các tín hữu
hành hương từ xa đến và cho người nghèo.
Ở những Quốc Gia mà người tín hữu giáo dân
có trình độ văn hoá và thần học khá tiến triển, người ta không
lạ gì việc người tín hữu giáo dân được hàng giáo phẩm giao cho
trách nhiệm hướng dẫn,
- làm " hoạt náo viên" ( animatori)
cho hướng đạo và thanh thiếu niên,
- dạy giáo lý cho giới trẻ,
- huấn luyện lớp chuẩn bị hôn nhân,
- dạy giáo lý cho người trưởng thành hoặc
những nhóm chuyên viên cộng tác với chủ chăn,
- hợp nhau thành tổ chức để hoạt động văn
hoá, chính trị, xã hội theo tinh thần Phúc Âm như tổ chức
Pax Romana; JEC ( Jeunesse Étudiante
Catholique, Thanh Sinh Công) , JOC ( Jeunesse Ouvrière
Catholique, Thanh Lao Công) ở Pháp), Acli, Comunione e
Liberazione, Comunità di San Egidio ( Ý)...
Dĩ nhiên những giáo dân giảng dạy các lớp
giáo lý như vừa kể là những người đã qua các lớp huấn luyện thần
học và được Hàng Giáo Phẩm ủy quyền với " bài sai " (
mandato) thường là do Đức Giám Mục hay được Đức Giám Mục
giao cho Cha Sở tuy cơ lo liệu.
Với những cách thực hiện vừa kể cho thấy
lằn mức phân chia lãnh vực phận vụ của Hàng Giáo Phẩm và của
giáo dân, ngoài ra những gì liên quan đến phận vụ thừa tác viên
liên hệ trực tiếp với Bí Tích Truyền Chức, lằn mức phân chia
phận vụ chỉ còn được phân chia vì lý do thực dụng, tiện nghi. Sư
phân chia có thể vượt qua, dựa trên quan niệm nhận thức về ơn
gọi mọi tín hữu Chúa Ki Tô, tự bản năng bẩm sinh của mình ( qua
phép Rửa) đều có quyền và bổn phận tham dự vào sứ mạng của Giáo
Hội.
Những gì chúng ta vừa kể là kể theo cách
thức thực hành hiện tại.
Mối tương quan cộng tác giữa chủ chăn và
giáo dân trong việc thực hiện sứ mạng của Giáo Hội được Nghị
Định Truyền Giáo ( Apostolicam Actuositatem) của Công Đồng
Vatican II tóm kết và diển tả dưới hình thức năng động những
điều khoản tín lý của Hiến Chế
Ánh Sáng Muôn Dân ( Lumen Gentium).
Giáo sĩ và giáo dân được liên kết chặt chẻ
nhau trong một sứ mạng duy nhứt của Giáo Hội.
Sứ mạng đó "...không
những chỉ đem sứ điệp và ân sủng cho con người, mà còn sống động
hoá và hoàn hảo hóa lãnh vực trần thế bằng tin thần Phúc Âm " (
AA, 5 ).
Một sứ mạng duy nhứt với hai bình diện khác
biệt và do đó được thực hiện bằng những hình thức đặc biệt đối
với phương diện nầy cũng như phương diện kia.
- đối với Hàng Giáo Phẩm:
" ...được thực hiện bằng phận vụ của lời giảng dạy và
bằng các Bí Tích ", là lãnh vực " được giao phó đặc biệt
cho Hàng Giáo Phẩm" ( AA, 6 ).
Nói như vậy,không có nghĩa là trong các
lãnh vực " được giao phó đặc biệt cho Hàng Giáo Phẩm ",
người tín hữu giáo dân bị loại ra bên ngoài, " ngồi
chơi xơi nước ", các lớp giáo lý và chuẩn bị hôn nhân được
đề cập là những bằng chứng.
Người tín hữu giáo dân cũng có bổn phận rất
quan trọng của họ phải thực hiện.
Hiểu như vậy, " sứ mạng tông đồ của
người giáo dân và phận vụ chăn dắt của chủ chăn bổ túc cho nhau"
( AA, id.).
Khắp đó đây đã và đang xảy ra không ít
trường hợp, không có người tín hữu giáo dân, lời Phúc Âm và ơn
Chúa khó mà được chuyển đến người khác.
Điều vừa kể cho thấy phận vụ được giao phó
cho Hàng Giáo Phẩm không phải là của riêng, đặc quyền của Giáo
Sĩ mà là sứ mạng và phận vụ của Giáo Hội.
Và như vậy, phận vụ đó bất cứ ai đại diện
cho Giáo Hội, trong trường hợp cần thiết, đều bị đòi buộc phải
thực hành sứ mạng của Giáo Hội, dĩ nhiên là trừ các trường hợp
có liên hệ trực tiếp với Bí Tích Truyền Chức (
Marco Vergottini, I laici nel ministero
ecclesiale, in Corso di Teologia Sacramentaria, vol II,
Queriniana, Brescia 2000, 415-418).
Điều vừa kể cho thấy không những dựa trên
các nguyên tắc tín lý của Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân ( Lumen
Gentium) trên đó, người tín hữu giáo dân nhận lãnh sứ mạng
truyền giáo của mình ngay từ lúc mình sinh ra trong Phép Rửa (
LG , c. II: Cộng Đồng Dân Chúa), mà " ...kinh nghiệm sống cho
thấy Phúc Âm chỉ được bảo tồn và truyền bá qua các động tác ngấm
ngầm của bao nhiêu giáo dân" ( AA, 17 ).
- đối với
các lãnh vực trần thế:
Mặc dầu trong một số lãnh vực, trong đó
người tín hữu giáo dân có kiến thức và kinh nghiệm nghề nghiệp
của họ, họ hoạt động tự lập không cần phải đợi " lệnh trên
" của Hàng Giáo Phẩm, vì đó " không phải là thẩm quyền và
sứ mạng của chính các chủ chăn" ( GS, 43 ).
Tuy nhiên lãnh vực trần thế không phải là
lãnh vực " độc quyền" của người tín hữu giáo dân và khai
trừ giáo sĩ, bởi lẽ
" bổn phận của cả Giáo Hội là giúp đở
con người, để họ trở thành có khả năng định hướng tất cả trật tự
trần thế và quy hướng chúng về với Chúa, nhờ Chúa Ki Tô" (
AA, 7 ).
Cũng như trên, người tín hữu giáo dân có
bổn phận tham dự vào các lãnh vực " dành riêng đặc biệt cho
Hàng Giáo Phẩm", với các điều kiện và hoàn cảnh được kể, thì
ở đây cũng vậy, trong các lãnh vực trần thế, giáo sĩ và giáo dân
cùng cộng tác nhau, mỗi người tác động theo phương thức chuyên
biệt của mình, để thực hiện tốt đẹp sứ mạng của Giáo Hội đối với
con người và đối với trần thế:
- " Bổn phận
của các chủ chăn là loan báo một cách rõ rệt các nguyên lý về
mục đích của sự tạo dựng và việc xử dụng thực tại trần thế, cung
cấp cho con người những trợ lực luân lý và thiêng liêng để trật
tự trần thế được thiệt lập trong Chúa Ki Tô.
Người tín hữu giáo dân, thiết lập trật
tự trần thế là bổn phận chuyên biệt của họ và trong trất tự trần
thế đó, được hướng dẫn bằng ánh sáng Phúc Âm và tư tưởng của
Giáo Hội, cũng như được thúc đẩy bởi đức bác ái Ki tô giáo, họ
có bổn phận tác động trực tiếp và thực tế: như là công dân, họ
cộng tác với các công dân khác tùy theo khả năng chuyên môn và
dưới trách nhiệm của mình: tìm kiếm bất cứ đâu và trong mọi việc
công lý của Nước Thiên Chúa" (
AA, 7)
Đọc đoạn văn vừa kể của Nghị Định Định
Truyền Giáo ( Apostolicam Actutositatem), chúng ta có thể tự
hỏi như vậy người tín hữu giáo dân chỉ là người đơn sơ thừa
hành phần lý thuyết tín lý được Hàng Giáo Phẩm khai triển và bàn
luận ra chăng?
Thật ra, Nghị Định có ý xác định phận vụ
giáo huấn của các chủ chăn hơn là loại trừ người giáo dân công
tác khai triển và chú giải tín lý.
Trong Giáo Hội, giữa Hàng Giáo Phẩm và giáo
dân, cùng được hướng dẫn bởi một đức tin và cùng hoạt động nhằm
lợi ích cho Giáo Hội, Cộng Đồng Dân Chúa, luôn luôn có sự hợp
nhứt, hổ trợ và bổ túc cho nhau, nhiều khi cả thay thế nhau, như
ở nhiều hoàn cảnh khó khăn được đề cập ở trên.
Ngoại trừ những gì liên hệ mật thiết với
Phép Truyền Chức, không có nguyên cớ cấu trúc bản thể ( causa
ontologica) nào cấm cản một phận vụ của Hàng Giáo Phẩm
không thể chuyển giao cho người tín hữu giáo dân thay thế thực
hiện.
Nguyên cớ cấu trúc duy nhứt là tham dự vào
sứ mạng của Chúa Giêsu, được giao cho cả Giáo Hội và được giao
cho mỗi người trong Giáo Hội (
Giacomo Canobbio, id., 237).
Chủ chăn và giáo dân đều là các phần của
chính thân thể Chúa Ki Tô, được sống động hoá bằng một Chúa
Thánh Thần duy nhứt.
Chủ chăn và giáo dân đều cùng nhau đồng
thuận nhau tác động để thế gian đạt đến cùng đích của mình như
Chúa muốn.
Phần kết.
Qua những gì đã đọc và suy tư dựa trên các
tài liệu Công Đồng Vatican II, chúng ta có thể kết luận rằng với
những suy tư về thần học của thời gian trước đó của
- Jacques
Maritain, Humanisme Intégral, trad. it. Studium, Roma 1946,
- Gusthave Thils, Teologia delle realtà
terrene, E.P. Alba 1951,
- Nền Thần Học Giáo Dân ( Teologia del
laicato) với các nhà thần học:
* Yves
de Montcheuil, Problemi di vita spirituale, Vita e Pensiero,
Milano 1956,
* Yves de Congar, Jalons pour une
théologie du laicat, Cert, Paris 1953,
* Yves de Congar, Il mio itinerario
nella teologia del laicato e dei ministeri, in Ministeri e
comunione ecclesiale, EDB, Bologna 1973,
* Edward Schillebeeck, La missione
nella chiesa, EP, Roma 1971,
* Gérard Philips, Le rôle du
laicat dans l'Église, Casterman, Tournai - Paris 1954,
* Karl Rahner, L'apostolat du
laics, in " Nouvelle Revue Théologique" 78 ( 1956),
các Nghị Phụ Công Đồng Vatican II đã biết
đúc kết và hội nhập người tín hữu giáo dân vào sứ mạng của Giáo
Hội bằng hai con đường:
- 1. căn nguyên của việc hội nhập vừa kể
phát xuất từ mối liên hệ cấu trúc giữa tất cả các tín hữu Chúa
Ki tô với Người, qua sức mạnh của phép Rửa và phép Thêm Sức.
- 2 . xác nhận đặc tính cá biệt phận sự
của người tín hữu giáo dân là đặc tính trần thế của họ, hoàn
cảnh, đời sống cũng như hoạt động của họ. Nhờ đó Giáo Hội thi
hành sứ mệnh cứu rỗi của mình cho tất cả mọi người.
Người tín hữu giáo dân tham dự vào sứ mạng
của Giáo Hội được phát xuất từ bản tính bẩm sinh của họ, phát
xuất từ Bí Tích Rửa Tội , và môi trường sống và hoạt động đặc
thù của họ là lãnh vực trần thế.
Đó là những gì Công Đồng Vatican II muốn
nói với chúng ta.
Từ những đặc tính tiên khởi đó, từ trên 40
năm nay, từ ngày Công Đồng đã kết thúc, nền thần học đã và đang
khám phá ra nhiều suy tư tuyệt tác khác về người tín hữu giáo
dân:
- thần học các phận vụ ( teologia dei
ministeri) chẳng hạn,
- có người giáo dân trong Giáo Hội không và
với ý nghĩa gì?
- giáo dân có phải là một địa vị không?
và còn nhiều suy tư khác nữa, hy vọng chúng
ta sẽ có dịp trở lại.
|