Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam

 

 

 

ĐỰƠC CHỌN GIỮA LOÀI NGƯỜI
VÀ CHO LOÀI NGƯỜI  (x. Dt, 5.1)

 

GIÁO SĨ:

Xuất phát từ giáo dân, hiện diện vì giáo dân và cậy dựa vào giáo dân

 

ĐỂ CÙNG LÀM VINH DANH THIÊN CHÚA

 

www.conggiaovietnam.net                          giaosivietnam@gmail.com

Đặc San Điện Tử Giáo Sĩ Việt Nam  Số 131 - kỷ niệm "5 tuổi", Chúa Nhật 31.10.2010


MỤC LỤC 

HIỆP THÔNG VÀ ĐỐI THOẠI ĐỂ TRUYỀN GIÁO                  ĐTC. Gioan Phaolô 2

TÂM THƯ KỶ NIỆM ĐẶC SAN GIÁO SĨ VIỆT NAM "5 TUỔI"       Lm. Luca Phạm Quốc Sử

MẸ HẰNG CỨU GIÚP, XIN CỨU GIÚP CHÚNG CON                     Lm. LÊ QUANG UY, DCCT

TINH THẦN TRUYỀN GIÁO                                                     Lm. An-rê Đỗ xuân Quế o.p.  

TRUYỀN GIÁO                                                                                                                  KH

CHÚT SUY TƯ VỀ TRUYỀN GIÁO                                                                        Thanh Tâm

SỨ MỆNH TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI                  Lm. FX. Nguyễn Hùng Oánh

CHIẾC NHẪN THẦN                                                                                      Br. Huynhquảng

Người tín hữu giáo dân trong Công đồng Vatican 2 (Phần 2)         Tiến sĩ Nguyễn Học Tập

NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA HÔN NHÂN (4)                                            Lm Lê Văn Quảng Psy.D.

Tiến trình và nội dung đánh giá cuối cùng và gọi chịu chức        Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss

CƯ XỬ VỚI VỢ NHƯ MỘT NGƯỜI CHỒNG TỐT                               Lm. Minh Anh, biên tập

Khoáng Chất Trong Cơ Thể                                                          Bác sĩ Nguyễn Ý Đức M.D.

BẪY TÌNH -                                                                                 Chuyện phiếm của Gã Siêu


HIỆP THÔNG VÀ ĐỐI THOẠI ĐỂ TRUYỀN GIÁO

 

TÔNG HUẤN "GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU" (ECCLESIA IN ASIA)

Nguồn:  http://www.simonhoadalat.com

CHƯƠNG V

HIỆP THÔNG VÀ ĐỐI THOẠI ĐỂ TRUYỀN GIÁO

Hiệp Thông và Truyền Giáo Đi Đôi Với Nhau

24.    Theo kế hoạch đời đời của Chúa Cha, Giáo Hội, được tiên báo từ lúc khởi đầu thế giới, được chuẩn bị trong Cựu Ước, được Đức Giêsu thiết lập và được Chúa Thánh Thần làm cho hiện diện trong thế gian vào ngày lễ Ngũ Tuần, "lữ hành giữa cơn bách hại của thế gian và trong niềm an ủi của Thiên Chúa" (113), đang khi tiến đến sự trọn lành trong vinh quang thiên quốc. Bởi vì Thiên Chúa muốn "toàn thể nhân loại trở nên một Dân của Thiên Chúa, làm thành một Thân Thể của Đức Kitô, và được xây dựng thành một đền thờ của Chúa Thánh Thần" (114), nên Giáo Hội là "kế hoạch hữu hình của tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại, là bí tích cứu rỗi" (115) trong trần gian. Do đó Giáo Hội không thể được hiểu thuần tuý như là một tổ chức xã hội hay là cơ quan trợ cấp cho con người. Mặc dầu gồm những con người nam và nữ tội lỗi, Giáo Hội phải được xem như là một nơi dành riêng cho sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người, nơi Thiên Chúa chọn để mạc khải mầu nhiệm sự sống bên trong của Người và thi hành kế hoạch cứu rỗi cho thế gian.

Mầu nhiệm kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa được làm cho hiện diện và sinh động trong cộng đồng những người nam và người nữ là những kẻ được mai táng trong cái chết với Đức Kitô qua bí tích Rửa Tội, để như Đức Kitô đã chỗi dậy từ kẻ chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha thì họ có thể bước đi trong đời sống mới (x. Rm 6,4). Tại trung tâm của mầu nhiệm Giáo Hội, là sợi dây hiệp thông nối kết Đức Kitô, vị Tân Lang, với tất cả những người được rửa tội. Nhờ sự hiệp thông sống động và ban sự sống này, "các Kitô hữu không thuộc về mình nữa, mà là những người thuộc riêng về Chúa" (116). Được hợp nhất với Chúa Con trong sợi dây tình yêu của Chúa Thánh Thần, các Kitô hữu được hiệp nhất với Chúa Cha, và từ sự hiệp thông này tuôn tràn sự hiệp thông mà các Kitô hữu chia sẻ với nhau nhờ Đức Kitô trong Chúa Thánh Thần" (117). Như vậy mục đích đầu tiên của Giáo Hội là nên bí tích của sự hợp nhất mật thiết của con người với Thiên Chúa, và bởi vì sự hiệp thông giữa con người với nhau được đâm rễ trong sự hiệp nhất với Thiên Chúa, nên Giáo Hội cũng là bí tích hiệp nhất của loài người (118). Nơi Giáo Hội, sự hiệp nhất này đã bắt đầu; và đồng thời Giáo Hội là "dấu chỉ và khí cụ" của sự thực hiện trọn vẹn sự hiệp nhất còn phải đạt đến (119).

Một đòi hỏi thiết yếu của sự sống trong Đức Kitô là bất cứ ai đi vào sự hiệp thông với Chúa, thì cần phải sinh hoa trái: "Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái" (Ga 15,5). Lời nói đó thật đúng đến nỗi người nào không sinh hoa trái thì không ở trong sự hiệp thông: "Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi" (Ga 15,2). Sự hiệp thông với Đức Giêsu, nguồn gốc của sự hiệp thông giữa các Kitô hữu với nhau, là điều kiện cần thiết để sinh hoa trái; và sự hiệp thông với kẻ khác, một ân huệ của Đức Kitô và Thần khí của Người, là hoa trái tốt đẹp nhất mà các cành có thể cho. Theo nghĩa này, sự hiệp thông và việc truyền giáo liên kết với nhau không thể phân ly. Chúng thâm nhập và bao hàm lẫn nhau, đến nỗi "sự hiệp thông diễn tả vừa là nguồn suối vừa là hoa trái của việc truyền giáo: sự hiệp thông phát sinh việc truyền giáo và sự truyền giáo được hoàn tất trong sự hiệp thông" (120).

Sử dụng khoa thần học về sự hiệp thông, Công đồng Vatican II có thể diễn tả Giáo Hội như là dân lữ hành của Thiên Chúa mà tất cả các dân tộc đều có liên hệ theo một cách nào đó (121). Dựa trên căn bản này, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh tới mối liên hệ mầu nhiệm giữa Giáo Hội và những người đi theo các tôn giáo khác tại Á Châu, mà lưu ý rằng họ "liên hệ với Giáo Hội trong những cấp độ và cách thức khác nhau" (122). Giữa bao nhiêu dân tộc, văn hoá và tôn giáo khác nhau, "đời sống của Giáo Hội như sự hiệp thông có tầm quan trọng lớn nhất" (123). Quả thực, việc phục vụ hiệp thông của Giáo Hội là việc làm đặc biệt thích đáng tại Á Châu, nơi có nhiều căng thẳng, chia rẽ và xung đột, do những khác biệt chủng tộc, xã hội, văn hoá, ngôn ngữ, kinh tế và tôn giáo. Chính trong bối cảnh này mà các Giáo Hội địa phương tại Á Châu, cùng hiệp thông với Đấng kế vị thánh Phêrô, cần cổ võ một sự hiệp thông lòng trí sâu xa hơn, bằng cách cộng tác chặt chẽ với nhau. Mối liên hệ với những Giáo Hội và các cộng đồng Giáo Hội Kitô khác, và với những người theo các tôn giáo khác cũng rất quan trọng với việc rao giảng Tin Mừng (124). Do đó, Thượng Hội Đồng tái xác định sự dấn thân của Giáo Hội tại Á Châu trong công việc cải thiện cả những liên hệ đại kết lẫn sự đối thoại liên tôn, bằng cách nhìn nhận rằng xây dựng sự hiệp nhất, thực hiện sự hoà giải, tạo ra những sợi dây liên đới, cổ võ đối thoại giữa các tôn giáo và các nền văn hoá, loại bỏ những thành kiến và đem lại sự tin tưởng giữa các dân tộc, tất cả những điều đó là thiết yếu cho sứ mạng Phúc âm hoá của Giáo Hội trên lục địa này. Tất cả những điều đó đòi hỏi cộng đồng công giáo phải thành thật xét lại lương tâm, can đảm tìm kiếm sự hoà giải và một sự dấn thân mới mẻ cho việc đối thoại. Tại ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba, thật rõ ràng rằng khả năng Phúc âm hoá của Giáo Hội đòi buộc Giáo Hội phải ra sức phục vụ sự hiệp nhất trong tất cả mọi chiều kích. Sự hiệp thông và truyền giáo đi đôi với nhau.

Hiệp Thông Trong Lòng Giáo Hội

25.    Tập họp xung quanh Đấng kế vị Thánh Phêrô, cầu nguyện và làm việc với nhau, các Giám Mục dự Hội Nghị Đặc Biệt về Á Châu, cách nào đó đã nhân cách hoá sự hiệp thông của Giáo Hội, trong tất cả sự khác biệt phong phú của các Giáo Hội địa phương mà các ngài lãnh đạo với tình bác ái. Sự hiện diện của chính tôi trong các Khoá Họp Khoáng Đại Thượng Hội Đồng, là một cơ hội tốt để chia sẻ niềm vui và hy vọng, những khó khăn và âu lo của các Giám Mục, và đồng thời là việc thi hành đầy nhiệt huyết và rất sâu sắc về chính thừa tác vụ của tôi. Trên thực tế, chính trong viễn tượng hiệp thông Giáo Hội mà quyền bính phổ quát của Đấng kế vị thánh Phêrô toả sáng rõ ràng hơn, không phải chủ yếu như là một quyền tài phán trên các Giáo Hội địa phương, nhưng trước hết như là một quyền ưu tiên mục vụ, để phục vụ sự hiệp nhất đức tin và sự sống của toàn thể Dân Chúa. Ý thức đầy đủ rằng "chức vụ Phêrô có nhiệm vụ duy nhất là bảo đảm và cổ võ sự hiệp nhất của Giáo Hội" (125) nên các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng công nhận sự phục vụ mà các cơ quan của Giáo triều Roma và Bộ Ngoại Giao của Toà Thánh mang lại cho các Giáo Hội tại địa phương, trong tinh thần hiệp thông và đồng đoàn (126). Một nét chính yếu của sự phục vụ này là sự kính trọng và nhạy cảm mà các cộng tác viên gần của Đấng kế vị thánh Phêrô bày tỏ trước sự khác biệt chính đáng của Giáo Hội địa phương và sự đa dạng của các nền văn hoá và dân tộc mà các vị đó tiếp xúc.

Mỗi một Giáo Hội riêng phải được đặt nền móng trên chứng tá của sự hiệp thông Giáo hội, vì sự hiệp thông cấu tạo nên chính bản tính của Giáo Hội. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng muốn diễn tả Giáo phận như là một sự hiệp thông các cộng đoàn bao quanh vị Chủ Chăn, nơi đây hàng giáo sĩ, những người sống đời thánh hiến và giáo dân dấn thân vào một "đối thoại đời sống và con tim" được nâng đỡ nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần (127). Chính trong Giáo phận mà cái nhìn về sự hiệp thông các cộng đoàn được thực hiện giữa những thực tại xã hội, chính trị, tôn giáo, văn hoá, và kinh tế phức tạp tại Á Châu. Sự hiệp thông Giáo Hội bao hàm rằng mỗi Giáo Hội địa phương phải trở nên điều mà các Nghị phụ Thượng Hội Đồng gọi là "một Giáo Hội tham gia" (participatory Church), có nghĩa là một Giáo Hội trong đó mọi người đều sống ơn gọi của riêng mình và chu toàn vai trò của mình. Để xây dựng "sự hiệp thông để truyền giáo" và "sự truyền giáo của sự hiệp thông", thì ơn đoàn sủng độc nhất của mỗi thành viên phải được nhìn nhận, phát triển và sử dụng cho hữu ích (128). Cách riêng, cần phải để cho người giáo dân và các người nam nữ sống đời thánh hiến, dấn thân nhiều trong việc đặt kế hoạch mục vụ và đưa ra quyết định, nhờ các cơ cấu tham gia như Hội Đồng Mục Vụ và các Hội Đoàn Giáo Xứ (129).

Trong mỗi Giáo Phận, Giáo xứ vẫn là nơi bình thường để người tín hữu tập hợp và lớn lên trong đức tin, sống mầu nhiệm hiệp thông Giáo Hội và dự phần trong sứ mạng của Giáo Hội. Cho nên, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng thúc giục các Chủ Chăn tìm ra những phương thế mới và hữu hiệu để chăn dắt người tín hữu, làm thế nào để mỗi người, cách riêng người nghèo, sẽ cảm thấy mình thật sự là một thành phần của Giáo xứ và của toàn thể dân Chúa. Sự tham gia của người giáo dân trong việc lên kế hoạch mục vụ phải là một nét bình thường của tất cả các Giáo xứ (130). Thượng Hội Đồng chọn riêng giới trẻ làm những người mà "Giáo xứ phải dành cho nhiều cơ hội hơn, để họ sống tình bạn và hiệp thông. như tổ chức hiệp hội tông đồ và câu lạc bộ giới trẻ" (131). Không một người nào bị loại trừ cách tiên thiên, khỏi sự chia sẻ đầy đủ vào đời sống và sứ mạng của Giáo xứ, chỉ vì quá trình xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá hay giáo dục của họ. Vì mỗi người theo Đức Kitô đều có một quà tặng để trao ban cho cộng đoàn, nên cộng đoàn phải có thiện chí đón nhận và hưởng nhờ tặng vật của mỗi người.

Trong bối cảnh này, và theo kinh nghiệm mục vụ của mình, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh giá trị của những cộng đoàn Giáo Hội cơ bản như là một phương thức hiệu nghiệm để cổ võ sự hiệp thông và tham gia trong các Giáo xứ và Giáo phận, và như là một lực lượng đích thực cho việc rao giảng Tin Mừng (132). Những nhóm nhỏ này giúp người tín hữu sống thành những cộng đoàn tin, cầu nguyện và yêu thương như các Kitô hữu thời đầu (x. Cv 2,44-47; 4,32-35). Các cộng đoàn này có mục đích là giúp đỡ các thành viên của mình sống Tin Mừng trong một tinh thần yêu thương huynh đệ và phục vụ, và do đó chúng là khởi điểm vững chắc để xây dựng một xã hội mới, một diễn tả của nền văn minh tình thương. Cùng với Thượng Hội Đồng, tôi khuyến khích Giáo Hội tại Á Châu, nơi nào có thể, thì xem những cộng đoàn cơ bản này như là một nét tích cực của hoạt động truyền giáo của Giáo Hội. Đồng thời, các cộng đoàn này chỉ có thể mang lại hiệu quả đích thực nếu -như Đức ĐGH Phaolô VI viết- chúng hiệp nhất với Giáo Hội địa phương và Giáo Hội hoàn vũ, trong sự hiệp thông chân tình với các vị Chủ Chăn của Giáo Hội và với Huấn Quyền, biết dấn thân mở rộng việc truyền giáo và không theo chủ nghĩa biệt lập hay sự khai thác ý thức hệ (133). Sự hiện diện của những cộng đoàn nhỏ này không làm cho vô hiệu những thể chế và cơ cấu đã được thiết lập, vẫn còn cần thiết để Giáo Hội hoàn thành sứ vụ của mình.

Thượng Hội Đồng cũng nhìn nhận vai trò của những phong trào canh tân, để xây dựng sự hiệp thông, để tạo điều kiện thuận lợi giúp có kinh nghiệm thân mật hơn với Thiên Chúa qua đức tin và các Bí Tích, và để cổ võ việc hoán cải đời sống (134). Trách nhiệm của các Chủ Chăn là hướng dẫn, đồng hành và khích lệ những nhóm đó để họ có thể hội nhập vào đời sống và sứ mạng của Giáo xứ và Giáo phận. Những ai dấn thân vào trong các hiệp hội và phong trào, phải trợ giúp Giáo Hội tại địa phương và đừng có coi mình như là những gì thay thế cho những cơ cấu Giáo phận và đời sống Giáo xứ. Sự hiệp thông lớn mạnh hơn khi các lãnh đạo địa phương của các phong trào này làm việc chung với các vị Chủ Chăn trong tinh thần bác ái vì lợi ích chung (x. 1 Cr 1,13).

Tình Liên Đới Giữa Các Giáo Hội

26.    Sự hiệp thông nội bộ góp phần tạo ra tình liên đới giữa các Giáo Hội địa phương. Việc chú ý tới các nhu cầu địa phương là điều chính đáng và cần thiết, nhưng sự hiệp thông đòi hỏi các Giáo Hội địa phương cởi mở đón tiếp lẫn nhau và cộng tác với nhau, để trong sự khác biệt, họ có thể gìn giữ và tỏ bày rõ ràng mối giây hiệp thông với Giáo Hội hoàn vũ. Sự hiệp thông đòi hỏi phải hiểu biết lẫn nhau và một đường lối truyền giáo có phối hợp, mà không làm tổn hại sự độc lập và các quyền của các Giáo Hội, theo truyền thống thần học, phụng vụ và thiêng liêng của riêng từng Giáo Hội. Tuy nhiên lịch sử cho thấy rằng các mối chia rẽ thường đã làm tổn thương sự hiệp thông của các Giáo Hội tại Á Châu. Suốt bao thế kỷ, các mối liên hệ giữa các Giáo Hội địa phương thuộc các quyền tài phán khác nhau, các truyền thống phụng vụ và các phương cách truyền giáo, nhiều khi căng thẳng và khó khăn. Các Giám Mục hiện diện tại Thượng Hội Đồng nhìn nhận rằng, ngay cả ngày hôm nay, trong nội bộ và giữa các Giáo Hội địa phương tại Á Châu, thỉnh thoảng xảy ra những chia rẽ đáng tiếc, thường liên can đến những khác biệt về nghi lễ, ngôn ngữ, chủng tộc, đẳng cấp và ý thức hệ. Một số vết thương đã được chữa lành phần nào, nhưng chưa lành hẳn. Nhìn nhận rằng nơi nào sự hiệp thông bị suy yếu, thì chứng tá của Giáo Hội và công việc truyền giáo bị thiệt hại, nên các Nghị Phụ đề nghị những bước cụ thể để gia tăng mối liên hệ giữa các Giáo Hội địa phương tại Á Châu. Ngoài những diễn tả cần thiết về mặt thiêng liêng như cổ vũ và khuyến khích, các ngài gợi ý có sự phân bổ đều hơn các linh mục, sự liên đới tài chánh hữu hiệu hơn, những trao đổi văn hoá và thần học, và tăng thêm những dịp thông hiệp giữa các Giáo phận (135).

Những hiệp hội Giám mục cấp vùng hay cấp lục địa, đáng chú ý là Hội Đồng các Thượng Phụ Giáo Chủ Trung Đông và Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu, đã góp phần cổ võ sự hiệp nhất giữa các Giáo Hội địa phương và đã là nơi gặp gỡ để cộng tác giải quyết những vấn đề mục vụ. Cũng vậy, có nhiều trung tâm thần học, tu đức và hoạt động mục vụ tại Á Châu đã cổ võ sự hiệp thông và hợp tác cụ thể (136). Tất cả phải quan tâm lo cho các sáng kiến đầy hứa hẹn đó được phát triển hơn nữa vì lợi ích vừa của Giáo Hội vừa của xã hội tại Á Châu.

Những Giáo Hội Công Giáo Đông Phương

27.    Hoàn cảnh các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, nhất là ở Trung Đông và Ấn độ đáng lưu ý cách riêng. Từ thời các Tông Đồ, các Giáo Hội đó đã nắm giữ một gia sản thiêng liêng, phụng vụ và thần học quí báu. Những truyền thống và nghi lễ của các Giáo Hội ấy, phát sinh từ việc hội nhập văn hoá sâu xa của đức tin trong phần đất của nhiều quốc gia Á Châu, đáng được sự kính trọng nhất. Cùng với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, tôi kêu gọi mọi người nhìn nhận những tập quán chính đáng và sự tự do chính đáng của các Giáo Hội này trong các vấn đề kỷ luật và phụng vụ, như được qui định trong bộ giáo luật của các Giáo Hội Đông Phương (137). Theo giáo huấn của Công Đồng Vatican II, có một nhu cầu cấp bách vượt thắng những sợ hãi và hiểu lầm thỉnh thoảng xuất hiện giữa các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương và Giáo Hội La tinh, và giữa các Giáo Hội này với nhau, đặc biệt trong việc chăm sóc mục vụ cho các tín hữu của mình, cả bên ngoài địa hạt của mình (138). Là con cái của một Giáo Hội duy nhất, được tái sinh vào sự sống mới trong Đức Kitô, các tín hữu được mời gọi gánh vác mọi sự trong sự quan tâm đến mục đích chung, trong một tinh thần tin tưởng và bác ái không lay chuyển. Không nên để những xung đột tạo nên chia rẽ, nhưng ngược lại phải giải quyết trong tinh thần chân lý và kính trọng, bởi vì không có sự thiện hảo nào đến mà không do tình yêu (139).

Những Giáo Hội đáng kính này đã trực tiếp dấn thân vào cuộc đối thoại đại kết với các Giáo Hội Chính Thống đàn chị, và các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng thúc giục họ tiếp tục con đường đó (140). Các Giáo Hội ấy cũng đã có kinh nghiệm đáng giá trong việc đối thoại liên tôn, nhất là với Hồi giáo. Điều đó có thể hữu ích cho các Giáo Hội khác tại Á Châu và bất cứ nơi nào khác. Rõ ràng là các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương có một sự phong phú lớn lao về truyền thống và kinh nghiệm có thể đem lại nhiều lợi ích cho toàn thể Giáo Hội.

Chia Sẻ Những Hy Vọng Và Đau Khổ

28.    Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng ý thức về sự cần thiết giữ một sự hiệp thông và hợp tác hữu hiệu với các Giáo Hội địa phương tại các phần đất Sô-viết cũ ở Á Châu, những Giáo Hội đang tái thiết trong những hoàn cảnh đầy thử thách do thời kỳ khó khăn lịch sử để lại. Giáo Hội đồng hành với họ trong lời cầu nguyện, chia sẻ những đau khổ và hy vọng mới tìm lại được của họ. Tôi khuyến khích toàn thể Giáo Hội nâng đỡ họ về mặt tinh thần, thiêng liêng và vật chất, và cung ứng cho họ các thừa tác viên giáo sĩ hay giáo dân mà họ rất cần, để giúp đỡ những cộng đồng này trong công tác chia sẻ với các dân tộc những vùng đất này tình yêu của Thiên Chúa được mạc khải trong Đức Kitô (141).

Trong nhiều phần đất Á Châu, anh chị em chúng ta tiếp tục sống đức tin giữa những hạn chế hay là có khi mất hoàn toàn tự do. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng bày tỏ sự quan tâm và lo lắng cách riêng đối với những thành viên đang đau khổ này. Cùng với các Giám Mục Á Châu, tôi tha thiết xin anh chị em của các Giáo Hội đang gặp khó khăn này, biết kết hợp các đau khổ của mình với các đau khổ của Chúa chịu đóng đinh, bởi vì chúng ta và họ đều biết duy chỉ có thánh giá, khi bằng lòng vác trong đức tin và tình yêu, mới là con đường phục sinh và ban sự sống mới cho nhân loại. Tôi khuyến khích các Hội đồng Giám Mục quốc gia tại Á Châu thiết lập một văn phòng để giúp đỡ các Giáo Hội này, và tôi cam kết Toà Thánh tiếp tục gần gũi và lo lắng cho tất cả những ai đang bị bắt bớ vì niềm tin vào Đức Kitô (142). Tôi kêu gọi các chính phủ và các vị lãnh đạo quốc gia chấp nhận và thực hiện những chính sách bảo đảm tự do tôn giáo cho tất cả các công dân của mình.

Trong nhiều dịp, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã nghĩ tới Giáo Hội Công giáo tại lục địa Trung Hoa, và cầu nguyện cho sớm tới ngày anh chị em Trung Hoa thân mến của chúng ta được hoàn toàn tự do thực hành đức tin của mình trong sự hiệp thông hoàn toàn với Toà Thánh Phêrô và Giáo Hội hoàn vũ. Hỡi những anh chị em Trung Hoa thân mến, tôi tha thiết gởi lời nhắn nhủ này với anh chị em: đừng bao giờ để những gian khổ và buồn phiền làm giảm sút lòng sốt mến của anh chị em đối với Đức Kitô và sự dấn thân của anh chị em đối với quê hương vĩ đại của anh chị em (143). Thượng Hội Đồng cũng bày tỏ sự liên đới chân tình với Giáo Hội công giáo tại Triều Tiên, và ủng hộ "những nỗ lực của người công giáo nhằm trợ giúp dân chúng Bắc Triều Tiên đang thiếu thốn những phương tiện tối thiểu để sống còn, và mang lại hoà giải giữa hai quốc gia có cùng một chủng tộc, một ngôn ngữ và một gia sản văn hoá" (144).

Cũng vậy, Thượng Hội Đồng thường nghĩ tới Giáo Hội tại Giêrusalem, một Giáo Hội có chỗ đứng đặc biệt trong con tim của mọi Kitô hữu. Quả vậy, những lời nói của ngôn sứ Isaia vang dội trong con tim hàng triệu người tín hữu khắp thế giới, đối với họ Giêrusalem chiếm một chỗ đứng duy nhất và thân ái: "Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy vì thành Giêrusalem mà hoan hỉ, hỡi tất cả những người yêu mến thành đô!. để được thoả thích nếm mùi sung mãn vinh quang, như trẻ thơ bú no bầu sữa mẹ" (66,10-11). Giêrusalem, đô thị của sự hoà giải con người với Thiên Chúa và với nhau, đã nhiều phen là một nơi xung đột và chia rẽ. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng kêu gọi các Giáo Hội địa phương biểu lộ một sự liên đới với Giáo Hội tại Giêrusalem, bằng cách chia sẻ những đau buồn, cầu nguyện và hợp tác với Giáo Hội này nhằm phục vụ hoà bình, công bình và hoà giải giữa hai dân tộc và ba tôn giáo hiện diện trong Thành Thánh này (145). Tôi lập lại lời kêu gọi mà tôi thường gởi đến các vị lãnh đạo chính trị và tôn giáo và mọi người thiện chí, nhằm tìm kiếm những phương thức bảo đảm hoà bình và sự toàn vẹn cho Giêrusalem. Như tôi đã viết, tôi tha thiết ước mong làm một chuyến hành hương tôn giáo tới đó, như vị Tiền Nhiệm của tôi là Đức Phaolô VI, để cầu nguyện trong thành thánh nơi Đức Giêsu Kitô đã sống, đã chết và đã chổi dậy và viếng nơi mà, trong quyền lực Chúa Thánh Thần, các tông đồ đã ra đi rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu Kitô cho thế giới (146).

Một Sứ Mạng Đối Thoại

29.    Chủ đề chung của các Thượng Hội Đồng "lục địa" khác nhau nhằm chuẩn bị Đại Năm Thánh năm 2000, đó là Tân Phúc Âm hoaù. Một thời kỳ mới của việc loan báo Tin Mừng là cần thiết, không những vì, sau hai ngàn năm, một phần lớn gia đình nhân loại còn chưa biết Đức Kitô, nhưng cũng vì hoàn cảnh mà Giáo Hội và thế giới đang sống ở ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba, gợi lên những thách đố đặc biệt đối với niềm tin tôn giáo và những chân lý luân lý phát sinh từ đó. Gần như nơi nào cũng có khuynh hướng xây dựng sự tiến bộ và sự thịnh vượng mà không hề qui chiếu về Thiên Chúa, và khuynh hướng thu gọn chiều kích tôn giáo của con người vào lãnh vực riêng tư. Xã hội nào tách biệt khỏi chân lý nền tảng nhất về con người, nghĩa là mối tương quan với Đấng Tạo hoá và sự cứu chuộc do Đức Kitô thực hiện trong Chúa Thánh Thần thì chỉ có thể càng ngày càng lạc xa nguồn mạch đích thật của sự sống, tình yêu và hạnh phúc. Thế kỷ đầy tàn bạo này, đang đến hồi kết thúc, đưa ra một chứng tá khủng khiếp về cái gì có thể xảy ra khi chân lý và sự thiện bị bỏ qua, để chạy theo sự tham lam quyền lực và mở rộng quyền hành cho mình. Việc tân Phúc Âm hoá, như là một lời mời gọi hoán cải, hướng về ân sủng và khôn ngoan, là niềm hy vọng đích thực và duy nhất về một thế giới tốt đẹp hơn và một tương lai sáng sủa hơn. Vấn đề không phải là Giáo Hội có điều gì căn bản để nói với những con người nam nữ của thời đại chúng ta, nhưng Giáo Hội có thể nói điều đó cách nào cho rõ ràng và xác tín!

Thời gian họp Công đồng Vatican II, vị tiền nhiệm của tôi là Đức Phaolô VI, trong thông điệp Ecclesiam suam, đã tuyên bố rằng vấn đề mối tương quan giữa Giáo Hội và thế giới Tân thời, là một trong những vấn đề quan trọng nhất của thời đại chúng ta. Ngài viết rằng "sự hiện hữu của nó và sự cấp bách của nó, như thể tạo nên một gánh nặng trên tâm hồn chúng ta, tạo ra một kích thích, một ơn gọi" (147). Kể từ Công Đồng, Giáo Hội luôn tỏ ra rằng mình muốn theo đuổi mối tương quan đó trong tinh thần đối thoại. Tuy nhiên ước muốn đối thoại không phải đơn thuần là một chiến lược để chung sống hoà bình giữa các dân tộc, nó còn là một phần chủ yếu của sứ mạng Giáo Hội, bởi vì nó bắt nguồn từ sự đối thoại cứu rỗi đầy yêu thương của Chúa Cha với nhân loại qua Chúa Con trong quyền năng Chúa Thánh Thần. Giáo Hội chỉ có thể hoàn thành sứ mạng mình theo một cách thức phù hợp với cách thức mà Thiên Chúa đã hành động trong Đức Giêsu Kitô: trở nên người phàm, chia sẻ đời sống nhân loại chúng ta và nói bằng ngôn ngữ con người để truyền thông sứ điệp cứu rỗi của Người. Sự đối thoại mà Giáo Hội đề nghị, đặt nền tảng trên cái lô-gích của mầu nhiệm Nhập Thể. Do đó, không gì ngoài tình liên đới nhiệt thành và vô vị lợi thúc giục Giáo Hội đối thoại với những người nam nữ Á Châu, là những người đang tìm kiếm chân lý trong tình yêu.

Là bí tích hiệp nhất toàn thể nhân loại, Giáo Hội không thể không đi vào cuộc đối thoại với các dân tộc, trong mọi lúc và mọi nơi. Đáp trả với sứ mạng đã lãnh nhận, Giáo Hội dám đi gặp các dân tộc trên thế giới, ý thức rằng mình là "một đoàn chiên bé nhỏ" giữa đám đông bao la nhân loại (x. Lc 12,32), nhưng cũng là men trong đấu bột của thế giới (x. Mt 13,33). Trước hết, Giáo Hội cố gắng dấn thân đối thoại với những kẻ chia sẻ niềm tin với mình vào Đức Giêsu Kitô, là Chúa và Đấng Cứu độ. Sự đối thoại trải rộng ra ngoài thế giới Kitô giáo, tới những kẻ theo mọi truyền thống tôn giáo khác, dựa trên nền tảng là khát vọng tôn giáo có trong tâm hồn mọi người. Đối thoại đại kết và đối thoại liên tôn tạo thành một ơn gọi đích thật của Giáo Hội.

Đối Thoại Đại Kết

30.    Đối thoại đại kết là một thách đố và là một lời mời gọi hoán cải đối với toàn thể Giáo Hội, cách riêng đối với Giáo Hội tại Á Châu, nơi mà dân chúng trông chờ nơi người Kitô hữu một dấu chỉ rõ nét hơn về sự hợp nhất. Để cho mọi dân tộc qui tụ lại dưới tác động của ân sủng Chúa, thì cần phải khôi phục sự hiệp thông giữa những kẻ, trong đức tin, đã nhìn nhận Đức Giêsu Kitô là Chúa. Chính Đức Giêsu đã cầu nguyện và không ngừng kêu gọi các môn đệ hợp nhất với nhau, để thế gian có thể tin rằng Chúa Cha đã sai Người (x. Ga 17,21) (148). Nhưng ý của Chúa muốn cho Giáo Hội nên một, còn trông chờ sự đáp trả hoàn toàn và can đảm từ phía các môn đệ của Người.

Tại Á Châu, do số Kitô hữu tương đối ít, nên sự chia rẽ càng làm cho công việc truyền giáo trở nên khó khăn hơn. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhìn nhận rằng "gương xấu của một Kitô giáo chia rẽ, là một ngăn trở lớn cho việc rao giảng Tin Mừng tại Á Châu" (149). Quả thực, nhiều người tại Á Châu đang đi tìm sự hoà hợp và hiệp nhất qua các tôn giáo và văn hoá của họ, coi sự chia rẽ giữa các Kitô hữu như là một phản chứng với Đức Giêsu Kitô. Do đó Giáo Hội Công Giáo tại Á Châu đặc biệt cảm thấy bị thúc đẩy hợp nhất với các Kitô hữu khác, và nhận thức rằng tìm kiếm sự hoà hợp đầy đủ đòi hỏi mỗi người phải có lòng bác ái, sự biện phân, lòng can đảm và niềm hy vọng. "Muốn trở nên xác thực và mang lại kết quả, phong trào đại kết đòi hỏi một số trạng thái tinh thần cơ bản về phía người tín hữu Công Giáo: trước hết là đức ái, với một cái nhìn đầy thiện cảm và ước muốn hăng say hợp tác, nơi nào có thể được, với tín hữu của các Giáo Hội và của các cộng đoàn Giáo Hội khác; hai là, lòng trung thành với Giáo Hội Công Giáo, không vì thế mà phớt lờ hoặc phủ nhận những khuyết điểm nơi một số thành phần của Giáo Hội; ba là, một tinh thần biết biện phân để thấy giá trị của tất cả những gì là tốt và đáng ngợi khen. Sau cùng, một ước muốn thanh tẩy và đổi mới chân thành cũng là điều cần thiết" (150).

Đang khi công nhận những khó khăn còn tồn tại trong các liên hệ giữa người Kitô hữu, những khó khăn đó bao gồm không những các thành kiến trong quá khứ, mà còn những phê phán ăn rễ sâu trong các niềm xác tín đụng chạm tới lương tâm, (151) các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng chỉ rõ những dấu chỉ về các liên hệ được cải thiện giữa một số Giáo Hội Kitô giáo và những cộng đồng Giáo Hội tại Á Châu. Những Kitô hữu Công giáo và Chính thống giáo, chẳng hạn, thường nhìn nhận một sự thống nhất văn hoá với nhau, một cảm thức chia sẻ các yếu tố quan trọng của một truyền thống Giáo Hội chung. Điều đó làm thành một nền tảng vững chắc để tiếp tục cuộc đối thoại đại kết có hiệu quả trong ngàn năm sắp tới. Chúng ta phải hy vọng và cầu nguyện cho ngàn năm sắp tới này chấm dứt mọi chia rẽ của ngàn năm sắp kết thúc.

Trên bình diện thực hành, Thượng Hội Đồng đề nghị các Hội Đồng Giám Mục quốc gia tại Á Châu, mời những Giáo Hội Kitô giáo khác liên kết trong một tiến trình cầu nguyện và trao đổi, để nghiên cứu khả năng hình thành các cơ cấu và hiệp hội đại kết nhằm cổ võ sự hiệp nhất Kitô giáo. Gợi ý của Thượng Hội Đồng muốn cho Tuần lễ Cầu Nguyện cho sự Hiệp Nhất Kitô giáo được cử hành cách có kết quả hơn, cũng là một trợ giúp. Các Giám Mục được khích lệ thiết lập và trông nom các trung tâm đại kết để cầu nguyện và đối thoại; và sự đào tạo thích đáng cho việc đối thoại đại kết cần phải được đem vào chương trình giảng dạy tại các chủng viện, các nhà huấn luyện và những cơ sở giáo dục.

Đối Thoại Liên Tôn

31.    Trong Tông Thư Tertio Millenio Adveniente, tôi đã trình bày rằng biến cố ngàn năm mới là một dịp lớn để đối thoại liên tôn và để gặp gỡ các nhà lãnh đạo những tôn giáo lớn thế giới (152). Tiếp xúc, đối thoại và hợp tác với những người theo các tôn giáo khác, là một trách nhiệm mà Công Đồng Vatican II trối lại cho toàn thể Giáo Hội như là một bổn phận và một thách đố. Những nguyên tắc để tìm kiếm một tương giao tích cực với các truyền thống tôn giáo khác, đã được trình bày trong Tuyên Ngôn Nostra Aetate của Công Đồng, ban hành ngày 28 tháng 10 năm 1965, đó là bản Đại Hiến Chương về đối thoại liên tôn của thời đại chúng ta. Đứng từ quan điểm Kitô giáo, đối thoại kiên tôn còn hơn là một cách thức cổ võ sự hiểu biết và làm giàu cho nhau; đó là thành phần của sứ mạng rao giảng Tin Mừng của Giáo Hội, một diễn tả của sứ vụ đến với dân ngoại (Ad Gentes) (153). Người Kitô hữu mang đến cho cuộc đối thoại liên tôn niềm xác tín vững chắc rằng ơn cứu độ trọn vẹn chỉ đến từ Đức Kitô và cộng đoàn Giáo Hội mà họ thuộc về, là một phương tiện bình thường của sự cứu rỗi (154). Ở đây tôi lập lại điều tôi đã viết cho khoá họp khoáng đại lần thứ 5 của Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu: "Mặc dầu Giáo Hội vui mừng công nhận bất cứ cái gì là chân thật và thánh thiêng trong các truyền thống đạo Phật, đạo Hindu và đạo Hồi, như là một phản ảnh của chân lý soi sáng muôn dân, điều đó không làm giảm thiểu bổn phận và quyết tâm của Giáo Hội, đó là rao giảng không do dự về Đức Giêsu Kitô, Đấng là "đường, là sự thật và là sự sống". Sự kiện những kẻ theo các tôn giáo khác có thể nhận lãnh ân sủng của Thiên Chúa và được Đức Kitô cứu độ không bằng những phương tiện bình thường Người đã thiết lập, không vì thế mà hủy bỏ mời gọi lãnh nhận đức tin và phép Thánh tẩy mà Thiên Chúa muốn cho mọi người" (155).

Trong quá trình đối thoại, như tôi đã viết trong Thông Điệp Redemptoris Missio, "không thể loại bỏ các nguyên tắc, cũng không nên chủ trương hoà giải giả tạo (irenicism), nhưng ngược lại, phải làm chứng lẫn cho nhau để cùng nhau tiến bước trên con đường tìm kiếm và sống kinh nghiệm tôn giáo, và đồng thời loại bỏ được những tiên kiến, bất bao dung và hiểu lầm" (156). Chỉ những người có đức tin Kitô giáo trưởng thành và xác tín, mới có tư cách dấn thân vào việc đối thoại liên tôn chân chính. "Chỉ những Kitô hữu được dìm sâu vào trong mầu nhiệm Đức Kitô và sống hạnh phúc trong cộng đồng đức tin của họ, mới có thể dấn thân vào việc đối thoại liên tôn, mà tránh được sự liều lĩnh không đáng và có hy vọng hái được hoa quả tích cực" (157). Do đó, điều quan trọng tại Á Châu là cung cấp những kiểu mẫu xứng hợp cho cuộc đối thoại liên tôn -Phúc âm hoá trong đối thoại và đối thoại để Phúc âm hoá- và sự đào tạo xứng hợp cho những ai dấn thân vào đó.

Khi đã nhấn mạnh về sự cần thiết của sự đối thoại liên tôn để tiến tới một đức tin vững mạnh trong Đức Kitô, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nói tiếp về sự cần thiết phải đối thoại bằng cuộc sống và con tim (dialogue of life and heart). Môn đệ Đức Kitô phải có tấm lòng hiền lành và khiêm nhượng của Thầy mình, không bao giờ tỏ ra kiêu căng, không bao giờ có thái độ hạ cố, khi gặp những đối tác trong cuộc đối thoại (x. Mt 11,29). "Những liên hệ liên tôn được phát huy tốt nhất trong khung cảnh cởi mở với những tín hữu khác, một thái độ saün sàng lắng nghe, ước muốn kính trọng và hiểu biết kẻ khác trong sự khác biệt của họ. Để đạt được tất cả điều đó, cần phải thương yêu kẻ khác. Điều đó phải dẫn đến sự hợp tác, hoà hợp và làm giàu cho nhau" (158).

Để hướng dẫn những người dấn thân trong tiến trình này, Thượng Hội Đồng gợi ý soạn thảo một cuốn kim chỉ nam về đối thoại liên tôn (159). Đang khi Giáo Hội thăm dò những thể thức mới để gặp gỡ các tôn giáo khác, tôi nhắc lại một số hình thức đối thoại đã thực hiện được và có kết quả tốt, gồm có những trao đổi nghiên cứu giữa các chuyên viên trong nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau hay những đại diện của các truyền thống này, hành động chung nhằm phát triển toàn diện con người và bênh vực các giá trị nhân bản và tôn giáo (160). Tôi nhắc lại là thật quan trọng biết bao việc làm sinh động lại sự cầu nguyện và chiêm ngưỡng trong quá trình đối thoại. Các người nam và nữ trong đời sống thánh hiến, có thể góp phần rất có ý nghĩa trong việc đối thoại liên tôn, bằng cách làm chứng cho sức mạnh của các truyền thống lớn Kitô giáo, là chủ thuyết khổ chế và thần bí (161).

Cuộc gặp gỡ đáng ghi nhớ tại Assisi, thành phố của thánh Phanxicô, ngày 27 tháng 10 năm 1986, giữa Giáo Hội Công giáo và đại biểu các tôn giáo khác trên thế giới, chứng tỏ rằng các người nam nữ có tôn giáo, tuy không bỏ các truyền thống riêng của mình, vẫn còn có thể dấn thân vào việc cầu nguyện và kiến tạo hoà bình thịnh vượng cho nhân loại (162). Giáo Hội phải tiếp tục cố gắng gìn giữ và cổ võ, ở mọi cấp bậc, tinh thần gặp gỡ và hợp tác giữa các tôn giáo đó.

Sự hiệp thông và đối thoại là hai khía cạnh thiết yếu của sứ mạng Giáo Hội. Sứ mạng đó có một tấm gương vô cùng nổi bật trong mầu nhiệm Ba Ngôi, từ đó phát xuất mọi sứ mạng và từ đó mọi sứ mạng phải hướng tới. Một trong những món quà "sinh nhật" quý báu mà các thành viên của Giáo Hội, và nhất là các vị Chủ chăn của Giáo Hội, có thể dâng lên Đức Chúa của lịch sử nhân dịp kỷ niệm hai ngàn năm của mầu nhiệm Nhập Thể, là tăng cường tinh thần hiệp nhất và hiệp thông ở mọi cấp bậc đời sống Giáo Hội, là sự "hãnh diện thánh thiện" được đổi mới qua sự liên lỉ trung thành của Giáo Hội đối với những sự gì đã được ban cho, và là một sự tin tưởng mới mẻ vào ân sủng và sứ mạng bất biến đã sai Giáo Hội đi giữa các dân tộc trên thế giới để làm chứng cho tình yêu cứu chuộc và lòng thương xót của Thiên Chúa. Chỉ khi nào Dân Chúa nhìn nhận ân huệ là của mình trong Đức Kitô, thì họ mới có khả năng thông truyền ân huệ đó sang cho kẻ khác nhờ sự rao giảng và đối thoại.

còn tiếp

VỀ MỤC LỤC
TÂM THƯ KỶ NIỆM ĐẶC SAN GIÁO SĨ VIỆT NAM "5 TUỔI".

 

Mọi người chúng ta ai ai cũng biết rõ : "THỜI GIỜ LÀ VÀNG BẠC" (Time is Gold and Money).

Quả thật, Thời gian rất đáng quí và trân trọng, vì nó đã từng làm biến đổi con người ta cách kỳ diệu không thể ng tượng nổi : từ nhỏ dại nên khôn lớn, ngu dốt thành thông minh sáng suốt, nghèo hèn nên giàu sang phú quí, kém hiểu biết thành mở rộng được tầm nhìn và có đầy đủ kiến thức cách đa dạng nữa, rồi từ không có gì trong tay đến có đầy đủ mọi sự như ý, từ sáng kiến này đến sáng kiến khác, từ phát minh nọ tới phát minh kia không bao giờ ngừng nghỉ, và mỗi lúc một tiến bộ hơn, văn minh hơn, tốt đẹp hơn... nếu con người ta biết sử dụng Thời gian mà Thiên Chúa đã ban tặng cho mỗi con người chúng ta cách đúng đắn và đúng mức, không hoang phí một chút Thời giờ nào của Chúa cả.

Chính vì thế mà Thế giới chúng ta đang sống đã biến đổi không ngừng và thành một Thế giới có Văn minh tiến bộợt xa thời xưa biết bao : đơn giản nhất là phương tiện truyền thông, trước kia rất khó khăn đưa tin tức cho nhau mà còn phải mất một thời gian khá lâu mới nhận được tin tức ! Nhưng ngày nay chỉ trong nháy mắt cả Thế giới đã nhận được tin tức mà mình muốn chuyển đi... Chính nhờ phương tiện này mà mọi người chúng ta có thể tự phát triển con người đến toàn diện cách rất dễ dàng.

Chính nhờ trào lưu tiến bộợt bực của Văn minh nhân loại ngày nay mà Đặc san GIÁO SĨ VIỆT NAM đã ra đời, nhằm mục đích đóng góp một phần nhỏ bé cho mọi Thành phần Dân Chúa có một cái gì làm hành trang, để có thể làm biến đổi được Cuộc đời mình thêm dễ yêu dễ mến, đáng sống và sống thật Hạnh Phúc hơn trong Tình Yêu Thương quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa đã xuống Thế làm Người và ở giữa chúng ta.

Bởi vì LỜI CHÚA phải là "Kim Chỉ Nam" cho mọi người chúng ta tiến bưc trên con đường tìm về Nhà Cha của chúng ta ở trên Trời :

-"Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngưi trước đã, còn các sự khác sẽ đưc ban thêm cho các ngươi" (Math.6,33).

-"Tôi sống, nhưng không phải tôi, mà là chính Đức Kitô sống trong tôi" (Ga.2,20).

-"Chính nơi điều này mà mọi người sẽ biết các ngươi là môn đệ Ta : ấy là nếu các ngươi có lòng yêu mến lẫn nhau" (Jn.13,35).

 Đặc san Giáo Sĩ Việt Nam luôn là nơi gặp gỡ, chia sẻ cuộc sống chứng tá Tin Mừng, là mối dây liên lạc giữa Hàng Giáo sĩ và Giáo dân, là phương tiện chuyển thông Lời Chúa đến Quí Độc giả với những đưng hướng và lối đi kỳ diệu của Thiên Chúa và Giáo Hội trong cuộc sống hằng ngày, để mỗi người chúng ta có thể giữ vững Đức Tin của mình, và có thể đem áp dụng, làm phát triển con người toàn diện về mọi mặt của cuộc sống  mỗi ngày, hầu tất cả chúng ta được Thiên Chúa mời vào dự Tiệc Nước Trời mai sau, vì đã biết dùng Thời giờ mà sống Lời Chúa mỗi ngày một tốt đẹp hơn.

Nhân dịp kỷ niệm Đs. GSVN được 5 tuổi: chúng tôi xin chân thành cám ơn Quí Cha, Quí vị trợ bút, Quí cộng tác viên và tất cả Quí độc giả đã ủng hộ, nâng đỡ và tích cực cộng tác với chúng tôi.

Suốt 5 năm  qua, Đs. GSVN đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp, chỉ giáo và nâng đỡ khích lệ... Nhiều vị trợ bút đã không quản ngại hy sinh vất vả, để đem tài năng, tài trí mà ca tụng Thiên Chúa và Mẹ Maria, rao truyền tin vui, và chia sẻ kinh nghiệm hiểu biết với tha nhân... Chính vì thế, số độc giả dành cho Đs. GSVN mỗi ngày một đông hơn mà chúng tôi không thể ngờ đưc như vậy ! Thật là cảm tạ Ơn Thiên Chúa và Mẹ Maria.

Chắc chắn trong thời gian qua, chúng tôi đã không thể tránh khỏi những thiếu sót và lỗi lầm, xin Quí Độc giả miễn thứ, bỏ qua cho chúng tôi và tích cực đóng góp dồi dào ý kiến, để Đs. GSVN càng ngày càng trở nên hữu ích hơn.

Cũng nhân dịp này, qua Năm Thánh Linh Mc và Năm Thánh 2010 kỷ niệm những biến cố trọng đại của Giáo Hội Việt Nam, chúng tôi cầu chúc :

Hàng Giáo Sĩ VN và khắp nơi trên Thế giới luôn mãi vững mạnh là Một Vị Mục Tử "Nhân Dũng" sống hiền lành, khiêm nhưng, đơn sơ cht phát, nhưng luôn dũng cảm sống chết vì Chân Lý Chúa Kitô cho Đoàn Chiên của mình đưc hưởng Hạnh Phúc trong Công Bằng, Bình Đẳng và Tự Do của con cái Chúa.

Tu sĩ nam nữ và toàn thể Giáo dân VN và khắp nơi trên Thế giới luôn vững Tin vào Tình Yêu và sự Quan Phòng kỳ diệu của Thiên Chúa, đ hoàn toàn đoàn kết một lòng một dạ với Vị Mục Tử "Nhân Dũng" của mình mà quyết chiến thắng mọi gian tà, dối trá, lừa đảo của ba thù : Xác Thịt, Thế gian và Ma quỉ.

Xin Thiên Chúa là Cha rất nhân từ và đầy lòng khoan dung luôn sẵn sàng giang cánh tay rộng mở đón nhận mọi tâm hồn đau thương, sầu khổ và tội lỗi, ban Ơn tha thứ, Bình an và Tình Bác ái yêu thương cho tất cả chúng ta, để từ đây trở nên một Đoàn Chiên duy nhất trong Chúa Giêsu Kitô có đủ sức mạnh xây dựng một Giáo Hội Công Giáo vững Đức Tin, tràn đầy Tình Yêu thương với niềm Cậy trông vững bền, hầu biến đổi cả Xã hội nên tốt đẹp, có một Cuộc sống vui tươi, Hạnh Phúc trong Công Bằng, Bình Đẳng và Tự Do , biết tôn trọng Nhân vị và Nhân quyền của Con người đúng mức hơn.

Thay mặt Đs. Giáo Sĩ Việt Nam :

Lm. Luca Phạm Quốc Sử.

VỀ MỤC LỤC
MẸ HẰNG CỨU GIÚP, XIN CỨU GIÚP CHÚNG CON

 

Tôi sinh ra là đứa út ít trong nhà. Bố mẹ tôi đã chủ trương đặt tên Thánh cho các con, hễ con trai thì ngoài tên riêng được thêm tên của bố, hễ con gái thì ngoài tên riêng được thêm tên của Mẹ. Thế là tôi có được tên Thánh thật dài: Giuse Maria Antôn. Ba mươi ba năm sau, khấn DCCT ngày 1 tháng 8, tôi được thêm tên Thánh An Phong. Thế là tôi luôn khoe với mọi người, rằng tôi được mừng Bổn Mạng gần như... quanh năm: Thánh Giuse 2 lần, Thánh Antôn và Thánh An Phong, mỗi vị 1 lần, riêng Đức Mẹ thì ngoài các lễ trọng còn thêm 52 lần thứ bảy hằng tuần.

Nghe vậy cứ ngỡ tôi đạo đức sốt sắng ghê lắm, con cưng Đức Mẹ mà ! Thưa, không được như thế đâu, tôi viết bài này không phải như một hồi ký, nhưng xin được như một hồi ức về Mẹ, chia sẻ với mọi người nhưng thật ra là để chính mình có cơ hội để quỳ xuống cúi đầu xin lỗi Mẹ, để rồi sẽ yêu mến gắn bó với Mẹ nhiều hơn, thật hơn, sâu hơn.

Đọc những lời bộc bạch tâm sự này, nếu quý độc giả thấy có thể đồng cảm được ở một góc nào, một mảnh nào, tôi sẽ mừng ghê lắm và chúng ta sẽ càng thân nhau hơn trong tình nghĩa cùng là con cái của Mẹ.

Tôi xin chia sẻ thành hai phần:

Phần đầu tôi chọn tiêu đề là “Trong vòng tay cứu giúp của Mẹ...” là những hồi ức với Mẹ từ tấm bé cho đến năm tôi được 20 tuổi ( 1959 – 1979 )

Phần sau tôi xác tín “Đường đời tay Mẹ dẫn đi...” với những cột mốc đánh dấu cuộc đời tôi hơn 30 năm qua ( 1979 – 2009 ) trong vòng yêu thương của Mẹ, nhất là giai đoạn tôi được Mẹ dẫn vào Dòng Chúa Cứu Thế của Mẹ.

PHẦN MỘT: TRONG VÒNG TAY CỨU GIÚP CỦA MẸ...

Trước ngày 30 tháng 4, tôi chỉ là một chú bé học sinh thành phố, ham chơi, lắm trò nghịch ngợm, tuy nhiên cũng đã bắt đầu nếm trải những nỗi kinh sợ máu lửa và bom đạn của cuộc đảo chính 1963, của Tết Mậu Thân 1968, của mùa hè đỏ lửa 1972, và của những ngày tranh tối tranh sáng 1975.

Mới ba, bốn tuổi đầu, đi ông nha sĩ quen ở gần chợ Tân Định để nhổ mấy cái răng sữa bị sâu, tôi đã chứng kiến những cuộc biểu tình phất phới những tấm áo vàng của  Nhà Phật  với gạch đá, ống nước bằng sắt và lựu đạn cay trước cuộc đảo chính 1 tháng 11 năm 63, lật đổ ông Ngô Đình Diệm.

Mới chín, mười tuổi, mê mẩn với trò đốt pháo đêm giao thừa Tết Mậu Thân 1968 thì ngay sau đó đã được nghe súng AK47 và B40 của quân Giải Phóng nằm vùng nổ rền ngay trước hiên nhà. Sau đó, thì hằng đêm, cả nhà tôi 8 người cùng chui vào cái hầm nổi diện tích chỉ có 4 mét vuông, chất đầy bao cát ngay giữa nhà, để may ra thoát chết nếu có pháo kích của “mấy ổng” bằng hỏa tiễn 122 ly từ miệt Hóc Môn rót vô tội vạ vào nội ô Sàigòn.

Và, may quá, giữa cái không khí binh biến và chiến tranh chết chóc hãi hùng ấy, ký ức niên thiếu của tôi còn được ghi dấu không phai những kỷ niệm về Đức Mẹ.

Vâng, năm 1965, lúc ấy tôi mới lên sáu, bé xíu, đang học tiểu học với các Nữ Tu Dòng Đức  Bà Truyền Giáo ( Notre Dame des Missions ) ở Thị Nghè, đi học được nghe các dì kể chuyện, về nhà lại được ba mẹ tôi cho xem ảnh, cho đọc báo Thăng Tiến nên bây giờ còn nhớ rõ lắm. Pho tượng Đức Mẹ Fatima gương mặt thật đẹp nhưng cũng thật buồn, một giọt nước mắt luôn đọng nơi cánh mũi, ánh mắt nhìn sâu thăm thẳm, hai cánh tay đưa ra với một tràng chuỗi lấp lánh long lanh, như muốn trao, lại nửa như muốn níu, muốn kéo, muốn vớt lấy đàn con khốn khổ.

Tôi nghe gọi tên “Đức Mẹ Thánh Du”, rằng Mẹ đã đi khắp các nước trên thế giới, rồi nay Mẹ đến thăm dân Việt, đất Việt. Mẹ không chỉ đến các Trung Tâm Hành Hương lớn và các Nhà Thờ Chính Tòa của các Giáo Phận, Mẹ vào cả Khám Chí Hòa gặp các tù nhân, vào Tổng Y Viện Công Hòa gặp các thương bệnh binh. Mẹ đến tận cầu Hiền Lương, sông Bến Hải, nơi lúc ấy còn cắt đôi đất nước... Bài Thánh Ca của nhạc sĩ Hải Linh sáng tác từ xa xưa ngoài Bắc trước thời di cư, nay được cất lên trong đầm đìa nước mắt: “Mẹ ơi, đoái thương xem nước Việt Nam, trời u ám chiến tranh điêu tàn, Mẹ hãy giơ tay ban phúc Bình An, nước Việt Nam qua phút nguy nan”.

Ở Giáo Xứ Phanxicô Đakao của tôi khi ấy có tổ chức cho từng gia đình đón Đức Mẹ Fatima về nhà, rồi cả xóm, các liên gia kéo đến, cả những người Phật Giáo ở gần đó, tất cả quây quần bên Mẹ đọc kinh lần chuỗi, hát Thánh Ca thật là sốt sắng. Ngay đám nhóc tì chúng tôi ngày thường hò hét chạy nhảy linh tinh, bỗng nhiên cũng biết ngồi chăm chú khoanh tay xếp bằng trên những chiếc chiếu trải dưới n ền nhà, sát ngay bàn thờ đặt tượng Mẹ. Của đáng tội, có buồn ngủ quá thì nằm xoài ra đấy cũng chẳng ai la mắng, mắt nhắm tịt nhưng mà có chịu ngủ đâu, tai vẫn lắng nghe từng vần hát cung kinh ngân nga da diết.

Đầu năm 1974, Đức Mẹ Fatima lại Thánh Du đến Việt Nam một lần nữa. Lúc ấy chiến sự Bắc Nam đã dữ dội lắm rồi. Mẹ lại khóc, cả đất nước, người giáo người lương cùng khóc. Trong một buổi cung nghinh tại Nhà Thờ Đức Bà Sàigòn, đám đông hàng vạn người đã vây kín các lối đi, các cửa ngõ, không cách nào đưa Đức Mẹ ra đi.

Sau này tôi nghe kể một giai thoại: cha Tiến Lộc, DCCT, đã nẩy ra sáng kiến, đề nghị Ban Tổ Chức cho ngay một xe cứu thương hụ còi chạy đến, rẽ đám đông để đưa được đuôi xe đến một ngách bên hông Nhà Thờ Chính Tòa. Và Đức Mẹ đã được bọc kín bằng mấy tấm vải trắng, đặt nằm lên băngca khiêng ra xe như một người bệnh đang cần đưa đi cấp cứu. Và thế là Mẹ đã được “cứu giúp” kịp thời như Mẹ đã và vẫn luôn cứu giúp con cái của Mẹ trong những khoảnh khắc tử sinh.

Sang năm 1975, vừa hết Tết thì gần như mỗi ngày, lại thêm một tỉnh chìm trong lửa khói, đoàn dân tỵ nạn vừa chạy từ tỉnh bên cạnh về, chưa kịp dựng xong lều bạt tạm cư, đã lại nháo nhào bỏ chạy tiếp. Người Sàigòn chúng tôi lúc ấy đâm ra ngơ ngác. Khắp nơi người ta chạy về thành phố của mình, đến phiên mình thì biết chạy đi đâu ?

Tôi đã từng được bố tôi cho xem bức ảnh bà cụ di cư 54 từ Bắc vào Nam, của nả chẳng có gì ngoài một giỏ cói gánh vai, thế mà tay vẫn cặp theo bằng được bức ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp. Bây giờ hơn mươi năm sau, tôi lại thấy cũng một bà già hao hao như thế, cũng chít khăn mỏ quạ, cũng răng đen mã tấu, chạy từ Dốc Mơ, Gia Kiệm về, thấy đất Sàigòn có lẽ cũng không ổn, lại loay hoay định tìm đường chạy tỵ nạn tiếp về đến Rạch Giá, tay khư khư ôm một pho tượng Đức Mẹ Fatima mà hình như lòng thì tin chắc rằng chính Mẹ mới là người đang ôm mình vào lòng.

Ngày 8 tháng 4, tôi đang ôn bài chuẩn bị cho kỳ thi Brevet thì bom nổ ngay giữa lòng Sàigòn. Tấm sàn gác gỗ tôi đang nằm như thụng xuống rồi bật dội lên. Người ta ném bom Dinh Độc Lập. Cả thành phố kinh hoàng xôn xao. Lính bắt đầu đóng chốt, giăng kẽm gai các cửa ngõ vào Sàigòn. Tin tức lan nhanh, nhật báo bán đắt như tôm tươi, vật giá gạo sữa và xăng nhớt tăng chóng mặt.

Hôm sau, gia đình tôi được tin ông anh rể là sĩ quan bị phục kích bắn chết ở Hóc Môn. Cả nhà lên nhận xác người thân trên Nghĩa Trang Quân Đội giữa tiếng khóc như ri của mấy chục bà vợ lính ôm ghì xác chồng, mấy trăm đứa trẻ con lính tròn xoe mắt nhìn xác bố. Buổi chiều mây mù ảm đạm, chợt có tiếng mẹ tôi bắt kinh Kính Mừng, thế là mọi người râm ran đọc theo, cả những gia đình không Công Giáo cũng như lắng nỗi đau lại, kìm nén và chịu đựng.

Chiều 28 tháng 4, tôi đang dự Thánh Lễ chiều ở Nhà Thờ Phanxicô Đakao thì bom lại nổ như sấm rền, súng đại liên và cao xạ giật đùng đùng như nhịp chày giã từng tràng tức muốn vỡ lồng ngực. Sau này mới biết có lại có máy bay phản lực ném bom Dinh Độc Lập. Sau khi cho rước Lễ, cha Sở cho anh chị em Giáo Dân chạy lên hẳn Cung Thánh để vào nấp sâu trong Tu Viện, riêng tôi thì liều lĩnh chạy về nhà, cứ nép sát các bức tường dọc phố mà đi, tránh những lằn đạn nảy tung trên mặt đường nhựa.

Tôi về được đến nhà thì thấy cả gia đình đang ngồi xệp dưới đất ở phòng trong, hướng mắt lên bàn thờ mà líu ríu đọc kinh. Vôi vữa trên trần rơi xuống từng đợt, bức tượng Đức Mẹ đặt trên bệ cao như rung rinh theo nhịp bom đạn hung hãn. Không ai bình tĩnh để nhớ mà đọc được một kinh nào cho ra đầu ra đuôi, cuối cùng lại vẫn... “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử.”

Cứ thế, mấy ngày liên tiếp, dân Sàigòn sống trong hoang mang sợ hãi của một cuộc chiến đã gần tàn, tiếng máy bay gầm rú trên trời, tiếng xe chạy hỗn loạn trên đường, tiếng người lạc nhau gọi nhau í ới, tiếng trẻ con sơ sinh khóc ngằn ngặt, thỉnh thoảng nơi này chỗ kia lại bùng lên một vụ nổ, một đám cháy và những cuộc xô xát hôi của hỗn loạn.

Rồi 30 tháng 4... Không biết bao nhiêu người đã ra đi và bao nhiêu người ở lại. Cũng chưa có ai thống kê được chính xác bao nhiêu người đã nằm xuống, phía bên này lẫn phía bên kia...

Tôi học ba năm cuối cấp 3 ở ba trường khác nhau. Trùng hợp thật dễ thương, tôi đã khởi đầu với một trường tiểu học của các Nữ Tu Dòng Đức Bà Truyền Giáo ( Notre Dame des Missions ), đến năm lớp 12 kết thúc quãng đời Trung Học, tôi lại được gặp các Nữ Tu Dòng Đức Bà ( Dòng các nữ Kinh Sĩ Thánh Augustin ), vẫn quen được gọi là Regina Mundi. Đức Mẹ tuy được tôn dương như một bà quý phái sang trọng ( Notre Dame, Our Lady ) nhưng với nhận thức của một chú thiếu niên mới lớn, tôi đã đồng hóa một số Nữ Tu hiền hòa nhân hậu, lại vui vẻ nhỏ nhẹ, cởi mở dễ thương với chính Đức Mẹ, Đấng cứ ngỡ là cao xa cách biệt, triều thiên lóng lánh đứng trên bệ cao là cả và cõi đất này.

Hình như tất cả để chuẩn bị cho sau này tôi được đến với Đức Mẹ gần hơn nữa, thân tình hơn nữa, trong DCCT với Mẹ Hằng Cứu Giúp, tước hiệu nếu được dịch sát, cũng phải được vinh danh là Đức Bà ( Notre Dame du Perpétuel Secours – Our Lady of Perpetual Help ).

Với hai Nhà Dòng Đức Bà, tôi xin ghi nhớ mãi công ơn của các Nữ Tu đã dạy dỗ tôi, đặc biệt là các vị đã được Chúa gọi về: Sr. Jeanne de Valois, Sr. Raphael, Sr. Paul, Sr. Joseph Lê Thị Thơm và cô giáo Tâm Lý Chiều Sâu, Sr. Tô Thị Ánh.

Còn nhớ những năm 1977 – 1978, vừa mới qua biến cố 75 không lâu, bao nhiêu là xáo trộn trong xã hội và trên toàn đất nước, vậy mà sao buổi sáng hễ cứ lọt được vào khoảng sân trường trải sỏi và nhiều bóng cây râm mát của Dòng Đức Bà, lũ học trò con trai chúng tôi như thể tìm được một không gian bình yên và nhân ái, thanh cao và thánh thiện, thoát khỏi mọi thứ mít-tinh, cờ quạt, khẩu hiệu, ồn ào xôn xao.

Chắc có lẽ bên Sở Giáo Dục cũng không thể lường được là một ngôi Nguyện Đường xinh xắn ấm áp nằm lọt ngay giữa khuôn viên một trường học cấp 3 của Nhà Nước XHCN lại có một tác dụng tâm linh sâu xa tuyệt vời như thế nào đối với chúng tôi lúc ấy, cả dân Công Giáo cũng như bên lương, cả đối với các đoàn viên Thanh Niên Cộng Sản !

Thi tốt nghiệp Phổ Thông ( nay gọi là Tú Tài ) vừa xong, cũng là lúc bạn bè chúng tôi xa nhau, mất nhau, một loạt đi vượt biên, khá nhiều bạn phải theo gia đình đi Kinh Tế Mới hoặc phải vào đời sớm để mưu sinh vì trong nhà còn có người đi học tập cải tạo. Chiến tranh biên giới Tây Nam nổ bùng, một số bạn trai phải đi bộ đội hoặc thanh niên xung phong sang tận Kampuchea. Chỉ còn một số ít lọt được vào Đại Học.

Bản thân tôi cũng đinh ninh mình đi thi vào trường Kiến Trúc chơi cho vui vậy thôi, lý lịch gồm đủ bộ: Bắc Kỳ, Công Giáo di cư, bố ngụy quyền, anh ngụy quân, thành phần tiểu tư sản trí thức thành thị... thì làm gì mà dám mơ tưởng đến chuyện làm sinh viên ?

Hôm ấy, tôi đi chơi lông bông với mấy đứa bạn, đến trưa về nhà, chị tôi bảo: “Sáng nay mẹ đang quét sân thì có thư, ba mở xem thì ra giấy báo cậu được gọi trình diện trường Kiến Trúc. Ba đã bắt cả nhà vào quỳ gối trước bàn thờ đọc kinh lần chuỗi tạ ơn Đức Mẹ đấy ! Ba bảo đây là đứa con đầu tiên trong dòng họ nội ngoại được Mẹ thương cầu bầu cho vào được Đại Học !”

Mà đúng thật là phép lạ, sau này tôi vào trường rồi, tìm hiểu mới biết bài vẽ của tôi rất tốt nhưng vẫn bị đánh rớt vì lý lịch quá xấu, thế nhưng sau khi gọi tập trung đợt một, có quá nhiều bạn không ra trình diện, có lẽ vì đã vượt biên, thiếu túc số trầm trọng, trường phải xét đậu vớt. Và thế là tôi được công nhận là sinh viên của Nhà Nước, hàng tháng lãnh học bổng 18 đồng, được mua gạo, mua nhu yếu phẩm với giá cực rẻ, lại được cho cha mẹ “ăn theo” mấy chục ký lương thực ngay trong giai đoạn bao cấp, cả nước đang phải ăn bo bo với khoai lang trừ cơm !

Hai mươi năm đầu đời của tôi cuối cùng được lại ghi dấu bằng một biến cố sinh tử mà tôi tin chắc mình đã được Đức Mẹ gìn giữ. Xập tối một ngày cuối năm 1979, tôi phải vào Nhà Thương Sàigòn cấp cứu, cứ ngỡ là đau bụng lình xình, không ngờ chỉ tý nữa thôi là vỡ ruột thừa ! Ca mổ của tôi là ca thứ tư, các bác sĩ và y tá đã quá đuối sức với những ca phức tạp trước đó, nhưng mạng sống tôi đã được cứu kịp thời.

Nằm trong phòng hậu phẫu, tôi vẫn còn thiêm thiếp trong cơn nửa tỉnh nửa mê, chỉ biết tay mình đang nắm thật chắc một bàn tay ai đó để bình an thiếp vào giấc ngủ. Đến sáng, tôi mở mắt thì thấy ba tôi đang ngồi gục đầu lên giường bệnh của tôi, một tay nắm chặt bàn tay tôi, một tay cầm xâu chuỗi, như thể ba tôi muốn làm một gạch nối giữa đứa con trai út đang thập tử nhất sinh với Đức Mẹ, Mẹ Hằng Cứu Giúp.

Vậy đó, bây giờ nhìn lại đã mấy mươi năm trôi qua, ký ức tôi cũng một phần nhạt phai, chỉ còn giữ lại những nét hằn sâu của lịch sử và những vết sẹo từ các thương tích của chính đời mình, của bạn bè tôi, của từng gia đình, từng con người thời chiến tranh loạn ly và cả thời hậu chiến, tưởng là đã hòa bình nhưng vẫn có quá nhiều tang tóc đổ vỡ.

Và tôi cảm nhận rõ, tất cả, những người quanh tôi, lương lẫn giáo, miền Bắc miền Nam, người thắng kẻ thua, vô thần hãy tín hữu, bản thân tôi và mọi người, đều đã sống, đã khóc đã cười, đã bước đi trong vòng tay cứu giúp của Mẹ, cho dù có thể thâm tâm vẫn chưa nhìn ra Mẹ, thậm chí vẫn chống đối Mẹ ra mặt. Mẹ vẫn là Mẹ, mà lại là Hằng Cứu Giúp nữa cơ chứ... Mẹ luôn là Mẹ của tất cả, tất cả đều là những đứa con cần có tình thương của Mẹ nuôi cho lớn khôn... 

Lạy Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin tiếp tục cứu giúp chúng con. Amen.

Lm. LÊ QUANG UY, DCCT, Lễ Đức Mẹ Thăng Thiên, Chúa Nhật 15.8.2010

Xin hẹn đến PHẦN HAI ( 1979 – 2009 ), ĐƯỜNG ĐỜI TAY MẸ DẪN ĐI...

 
VỀ MỤC LỤC
TINH THẦN TRUYỀN GIÁO

 

Người ta thường nói tinh thần đức tin, tinh thần tông đồ, tinh thần truyền giáo. Tinh thần là cái gì ẩn giấu bên trong, bên ngoài chỉ nghe nói mà không thấy được. Chúng ta biết người này người kia có tinh thần. Tinh thần của người ấy biểu lộ ra bên ngoài bằng các việc làm. Ta chỉ trông thấy việc làm, còn tinh thần của người ấy ta không thấy.

1, Tinh thần là sức sống bên trong

Tinh thần là sức sống bên trong phát xuất ra bên ngoài qua các hành động. Nó là động lực, là cái hồn ở trong con người, linh hoạt mọi tư tưởng và việc làm của người ấy. Người có tinh thần là người đáng nể. Muốn là người đáng nể thì phải rèn luyện tinh thần, đem tinh thần vào trong công việc và đời sống. Người có tinh thần thì làm việc đến nơi đến chốn, không hời hợt, luôn sửa soạn trước cho công việc được chu đáo. Người có tinh thần làm cho người khác được yên tâm vì tính nghiêm túc và cẩn thận của mình.

Nay áp dụng vào công việc tông đồ thì tinh thần truyền giáo là gì ? Thưa là hết lòng hết sức với công việc rao truyền lời Chua, gây dựng Giáo Hội ở nơi nào chưa có, hay đã có mà ngả nghiêng, xiêu vẹo, như các nhà truyền giáo vẫn làm từ trước đến nay. Các vị đó đã để hết tâm lực vào công việc này khiến cho có thể nói cuộc đời của các vị tập trung và thu gọn lại trong đó.

Mới đây, tình cờ tôi có gặp một linh mục dòng Chúa Cưu Thế trẻ, mới chịu chức được vài năm nay. Hiện linh mục này đang làm việc cho ngươì Thượng trên vùng Đà lạt. Ông đã nói chuyện say sưa với tôi về những công việc ông đã làm và đang làm cho những người này. Tôi thấy trong ông như có một ngọn lửa. Chính ngọn lửa ấy đã đốt cháy cuộc đời ông, không phải cháy tiêu tan mà cháy bừng lên ngọn lửa hy sinh nhiệt thành cho công việc. Bên cạnh đó là lòng tin vào sức mạnh phù trì của Chúa.

Ban đầu, người ta không cho ông ở với dân. Mỗi lần đi lễ, dân kéo cả làng đi và phải đi bộ 6 tiếng mới tới nơi hành lễ. Như vậy, mỗi lần đi lễ phài mất cả một ngày. Về sau, Nhà Nước thấy dân đi đông như thế rất khó kiểm soát, nên cuối cùng đã cho ông đến ở giữa dân. Hiện ông đang làm nhà thờ cho họ. Tôi có hỏi ông khi người ta đi lễ, ông có cho họ ăn không. Ông nói có, vì thường họ ở đến hôm sau mới về. Tôi hỏi tiếp : thế lấy tiền đâu ra để nuôi họ. Ông nói : lạ lắm! Không làm thì thôi mà hẽ làm thì tiền bạc từ đâu tới không biết nữa, chỉ thấy người thì cho tiền, người cho quần áo, người cho gạo. Ngay cả việc làm nhà thờ hiện nay cũng thế. Cứ làm rồi có người giúp. Như thế có phải là việc Chúa làm không ? Mình làm việc cho Chúa thì Chúa làm việc cho mình. Chính nhờ thế mà nhà truyền giáo thêm tin tưởng và tìm được niềm vui trong công việc của mình.

Một linh mục khác cũng còn trẻ thuộc dòng Đa Minh, bây giờ tự ý bỏ nơi yên ổn đi vào vùng sâu vùng xa trên Buôn ma thuột. Ông này cũng đang gặp khó khăn với chính quyền địa phương, nhưng kiên trì ở lại giũa những người Thượng. Lâu dần người ta thấy ông lo cho dân, giúp họ làm nhà, dựng chợ, nên cũng đã cho qua.

Thường chính quyền vốn dị ứng với việc giảng đạo, nhu mới đây tôi đến xin tạm trú cho một nhóm y bác sĩ đến nhà An hạ tĩnh tâm. Họ là nhóm người thiện nguyện lo giúp cho các bệnh nhân HIV. Một nữ công an hỏi ngay là có giảng đạo không đấy, không được giảng đạo đâu nhé!Tôi bảo người ta đến nghỉ ngơi thư giãn;sau những ngày làm việc mệt mỏi, họ cần ra khỏi thành phố, tìm nơi thoáng mát để thay đổi không khí. Lúc đó họ mới chịu.

Trở lại trường hợp linh mục dòng Chúa Cứu Thế ở trện. Ông cho tôi biết là ông thích việc truyền giáo cho người Thượng ngay từ khi đang ở học viện. Lúc ấy ông đã bắt đầu học tiếng Thượng và tâm trí lúc nào cũng vẩn vơ với công việc này.

Như vậy tinh thần truyền giáo có nghĩa là mối bận tâm suy nghĩ tìm tòi về công việc truyền giáo và luôn hướng lòng về đó mà chuẩn bị cho mình biết chịu khó, tập thích nghi với hoàn cảnh và sẵn sàng để được sai đi.

Cách đây ít hôm có một thầy thuộc Dòng Chúa Thánh Thần đến gặp tôi và tỏ ý lo ngại về ơn gọi của mình. Thầy nói dòng của thầy là dòng truyền giáo. Anh em trong dòng của thầy được huấn luyện để gửi đi làm việc ở nước ngoài. Vì vậy mọi người phải học tiếng Anh ráo riết. Bây giờ thầy đã lớn rồi, việc học ngoại ngữ có phần khó khăn, sức tiếp thu không được nhanh nhạy. Thầy thấy sợ không biết có đáp ứng nổi ơn gọi này không.

Mối lo ngại của thầy là chính đáng. Nó cho thấy một khía cạnh thực tế của ơn gọi truyền giáo. Đó là phải tạo cho mình một khả năng thích ứng. Mối bận tâm lo cho mình có thể thích ứng với ơn gọi cũng là một nét biểu dương tinh thần truyền giáo, nghĩa là tìm hết cách để có thể làm tốt công việc này. Bởi vậy, tinh thần truyền giáo là thích nghi để đáp ứng. Việc thích nghi đòi phải hy sinh luyện tập cho quen với môi trường mình phải sống và ở với những người mình được sai đến. Mới nghĩ thì tự nhiên củng thấy sợ và ngại. Nhưng với ơn Chúa giúp thì cái sợ cái ngại kia lại có thể trở thành niềm vui và một sự hấp dẫn : vui vì có dịp cho đi cái phần tốt nhất của mình và hấp dẫn vì khám phá ra nhiều điều mới lạ nơi những người mình phục vụ và trong khu vực mình sinh sống.

2. Làm thế nào để gây được tinh thần truyền giáo ?

Truyền giáo lá một ơn gọi đặc biệt. Muốn đáp ứng ơn gọi này, phải có tinh thần. Tinh thần này có được là do cầu xin và tập luyện.

2,1 Cầu xin

Hàng ngày nhà truyền giáo phải cầu xin cho mình có khả năng nuôi dưỡng và giữ được ơn gọi truyền giáo. Đi truyền giáo là thi hành và đáp lại lệnh truyền của Chúa : “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trờ thành môn đệ, làm phép Rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” (Mt 28,19) Ơn gọi và nhiệm vụ này không dễ thực thi, nếu không được ơn Chúa phù trì. Vì vậy, ưu tiên số một là cầu xin mỗi ngày cho ơn gọi truyền giáo của mình, sao cho ơn này luôn sống động mạnh mẽ, thúc đẩy mình ham mê dấn thân hoạt động, dù gặp khó khăn hay cản trở. Lời cầu nguyện này phải được tỏ bày trong thánh lễ mỗi ngày, trong các sinh hoạt đạo đức hay trong những giờ phút yên lặng mình tự chọn.

2,2 Tập luyện

Ngoài cầu nguyện ra là tập luyện, tập luyện hàng ngày trong giai đoạn đào tạo theo đường hướng tu đức truyền giáo. Tập luyện bằng hai hình thức : lý thuyết và thực hành. Lý thuyết là nền thần học về truyền giáo và thực hành là đi thực tập tại các thí điểm truyền giáo ; một đàng thì thấm nhuần lý thuyết, một đàng thì trưởng thành trong thực nghiệm. Tập mãi sẽ quen rồi thành nếp. Khi đã thành nếp thì mọi sự sẽ trở nên dễ dàng hơn lúc ban đầu như trường hợp em bé ở lớp mẫu giáo tập đánh vần hay tập viết chữ. Lúc đầu thật khó khăn cho em nhưng sau một thời gian, em sẽ không còn lúng túng nữa. Vì thế, luyện tập là cần thiết và phải được kiên trì theo đuổi.

Kết luận

Muốn làm giỏi công việc của mình, người thợ phải yêu nghề và luyện tập cho tay nghề mỗi ngày một cao. Khi đó, người ấy sẽ thành một tay thợ lành nghề. Lành nghề thì làm hay, làm nhanh, làm tốt công việc của mình, tạo ra được những sản phẩm đẹp và bền, làm vừa ý người tiêu dùng. Nhà truyền giáo có tinh thần thì cũng giống như người thợ yêu nghề và lành nghề. Cái lành nghề trong bộ môn của mình là chính niềm vui cho mình và cho người khác : vui cho mình vì thấy mình được việc và vui cho người khác vì họ được nhờ cái thành thạo của mình mà lấy làm ưng ý.

Vậy nhà truyền giáo hiện tại cũng như tương lai nên rèn luyện cho mình một tinh thần truyền giáo và dấn thân theo tinh thần này, để hạt giống Tin Mừng được gieo vãi khắp nơi và nhiều người được đón nhận ơn cứu độ.

L.m. An-rê Đỗ xuân Quế o.p.  

 

VỀ MỤC LỤC
TRUYỀN GIÁO.

 

Tôi còn nhớ, thuở ấy vì cha mẹ mất sớm , tôi phải sống dưới sự chăm nom của người Cậu, anh ruột của Mẹ tôi , nhưng Cậu tôi lại là một Linh Mục, nên tôi luôn được gởi vào các trường nội trú . Chỉ những khi Hè về , hay những ngày nghĩ Tết tôi mới được về sống gần bên Cậu thôi .

Cậu tôi là Cha Sở một xứ Đạo, nằm vùng ngoại ô thành phố Đà Nẵng . Vì là một làng rặt người Công giáo, nên Cậu tôi xem Giáo xứ ấy như là gia đình riêng của mình .

Những ngày ở bên Cậu, tôi mới thấy Cậu tôi bận bịu suốt ngày . Từ việc nhà thờ, đến việc trong thôn, trong xóm, việc ruộng nương, hoa màu, cho đến từng việc bất hòa với lối xóm, việc dựng vợ gã chồng , việc gia đình lục đục, cha mẹ con cái xung khắc nhau … tất cả họ đều nhờ đến cha Sở giải quyết .

Tôi không biết rỏ Giáo xứ ấy có bao nhiêu gia đình ? Mà nguyên một cái làng rộng lớn như thế, Cậu tôi biết rất rỏ từng bụi tre của mỗi nhà, bụi tre này thuộc nhà ai , và ai là người đã trồng nên bụi tre ấy. Nhà nào bao nhiêu đứa con ? Học hành, làm ăn ra sao? Cậu tôi đều biết rỏ.

Vì am hiểu tường tận như thế, nên mọi chuyện to nhỏ trong Giáo xứ họ đều cậy nhờ đến ông không cần đến Chính quyền . Bên lỗi cũng như bên không lỗi, họ cứ đưa vào Nhà thờ cho Cha giải quyết là mọi việc đâu vào đó êm thắm cả làng . Họ sống như thế với ông suốt quãng đời dài 47 năm qua bao thế hệ trong gia đình một cách bình an trên vùng đất hiền hòa của Giáo xứ Cồn Dầu . (từ 1954 đến 24/8/2010)  

Giáo xứ Cồn Dầu lọt ngay giữa, chung quanh là những làng lương dân . Nhìn vào bức hình trên, quí vị sẽ thấy rỏ một con đường nối liền xóm nhà thờ và xóm nghĩa trang . Sau lưng xóm Nhà thờ là làng Trung Lương và sau lưng xóm Nghĩa trang là làng Lỗ Gián .

Trước năm 1975 những làng quanh giáo xứ Cồn Dầu đều mất an ninh. Họ thường xin trú ngụ qua đêm ở Giáo xứ Cồn Dầu . Cứ độ 5g chiều dân làng ở Trung Lương , Lỗ Gián trong diện tuổi lao động, họ đều khăn gói vào Giáo xứ Cồn Dầu ngũ nhờ, sáng hôm sau mới trở về làng  để lao động, kẻ thì công nhân, người thì làm ruộng …

Nhiều năm trong chiến tranh, họ mang ơn giáo xứ Cồn Dầu đã cưu mang họ, thân thiện với họ và gần gũi họ như anh em cùng làng, không ai còn phân biệt lương giáo .

Vào mùa lũ lụt tháng chín tháng mười như hôm nay, họ đưa nhau vào Cồn Dầu chạy lũ . Họ ghé vào những nhà có gác cao xin trú lại , hay vào ngay trong nhà thờ có ông Cha lúc nào cũng sẵn sàng đón tiếp họ . Trong cơn hoạn nạn “Một miếng khi đói bằng một gói khi no” giáo dân Cồn Dầu luôn san sẽ cho họ, giáo dân hưởng được điều gì họ cũng có được điều đó không khác gì giáo dân . Vì thế dân các vùng lân cận rất quí mến dân Cồn Dầu cũng như ông Cha nhà  thờ Cồn dầu . Các Sư Thầy những Chùa quanh đó cũng cảm mến cái tình đồng bào với nhau, mà năng lui tới thăm hỏi cha Sở và đàm đạo cùng nhau rất thân tình . Và cũng nhiều người Lương dân ấy đã trở thành giáo dân của Cồn Dầu

Tôi còn nhớ có một Đại Đức làng bên vẫn thường ghé thăm Cậu và luôn được Cậu tôi mời tham dự các buổi Lễ long trọng của nhà thờ. Ông rất đau buồn khi nghe tin Cậu tôi qua đời và Ông cũng cố lặn lội đến thăm viếng, đưa tiễn Cậu tôi đến nơi an nghĩ cuối cùng .

Suốt bao nhiêu năm trôi qua . Cái Đạo trong con người của giáo dân Cồn Dầu đã làm cho những lương dân ấy tin tưởng và quí trọng họ, tôi tin rằng cái tình nghĩa của giáo dân Cồn Dầu vẫn không phai mờ trong cuộc sống của những người dân quê vùng lân cận ấy cho đến bây giờ.

Nếu sự đời không đảo điên thì cuộc sống cứ mãi yên bình như thế . Trong cách sống đùm bọc và chia sẻ, giáo dân Cồn Dầu cũng đã làm được việc Rao Giảng Tin Mừng đến với các dân Ngoại .

Giáo dân Cồn dầu không ai chú tâm đến việc đó , nhưng chính những việc nhỏ nhặt  thường ngày trong cuộc sống ấy, họ đã làm sáng danh Chúa mà họ không hay biết . Họ đã làm cho các dân ngoại quanh họ hiểu như thế nào là người Công Giáo .

Ánh Sáng Đức Tin chưa chiếu soi vào tâm trí họ, nhưng trong lòng họ rất tin tưởng những người Công Giáo , họ không sợ người Công Giáo nói dối , họ không sợ người Công giáo bất tín , hay tham lam .. Như thế cũng là thành công lớn cho người có bổn phận mang sứ vụ Truyền giáo đến cho mọi người  . 

Một Giáo xứ đạo đức như thế mà phải mất đi .

Một ngôi Làng nằm ngay trong vùng Truyền Giáo rất thuận tiện như thế mà phải xóa sổ .

Giáo dân vì muốn giữ lại làng mạc yên bình của Cha Ông để lại , của Giáo xứ thân yêu gắn bó bao đời mà nhận biết bao tai ương , khốn khó. Có người phải chết, có người phải tù tội đòn roi, có người phải bỏ xứ ly hương … Và lại chuẩn bị đem ra Tòa xử vì tội cố ý giữ gìn lại Xóm Đạo, giữ gìn lại Quê hương , Làng xóm. 

Sao Giáo Hội không cố gắng tìm mọi cách để giữ lại Giáo xứ Cồn Dầu ?

Sao ta không có biện pháp nào để gìn giữ lại Giáo xứ tốt đẹp ấy ? Một địa điểm thuận lợi, là tâm điểm cho những nơi mà ta “Có nghĩa vụ tạo môi trường cho Tin Mừng được truyền đạt tới và từ đó Tin Mừng được lan tỏa ra” như lời Đức Phaolô VI dạy bảo ?

Sao ta không cùng nhau thắp ngọn nến cầu nguyện, xin Chúa giữ lại Cồn Dầu và xóa tan đi nỗi bất hạnh của giáo dân Cồn Dầu? 

Đó phải chăng không phải là mục đích Truyền Giáo? là nơi không cần phải gieo vải hạt Giống Tin Mừng của Chúa nữa?

Mà mọi người đành im lặng làm ngơ để cho những cái đang có cũng bị tước đi. Những công sức của người gieo vải bao đời, đến mùa thu hoạch cũng lặng im cho thú rừng tràn về dày phá ?

Vậy thì nhiệm vụ Gieo Trồng, Thiên Chúa giao phó lại cho ta là điều gì?

Là nằm đó chờ sung rụng ?

Hay đứng trên bục thật cao mà đọc Lời Chúa thật to thì hạt giống Tin Mừng ấy cứ tự đâm chồi nảy lộc, sinh sôi nảy nở, cho ta mùa thu hoạch dồi dào để ta tha hồ mà gặt hái ?... .

Trả lời sao với Chúa đây ???

 

Chủ Nhật Truyền Giáo 2010

27/10/2010 Ngày Đáng Nhớ của GX Cồn Dầu 

KH

VỀ MỤC LỤC
CHÚT SUY TƯ VỀ TRUYỀN GIÁO
 

Tự bản chất Giáo Hội là truyền giáo cho nên từ thuở ban sơ cho đến ngày tận thế Giáo Hội không thể nào đánh mất bản chất của mình.

Trải qua biết bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời, trải qua bao nhiêu nổi trôi của lịch sử, sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội có lúc thành công và có lúc không thành công, có lúc mỹ mãn nhưng cũng có lúc còn nhiều suy tư. Cùng với những thăng trầm của lịch sử, sứ mạng truyền giáo cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều của thời cuộc, của văn hoá, của kinh tế, của chính trị.

Tại Việt Nam, qua rồi những năm tháng bách hại đạo công khai. Hiện nay, Giáo Hội xem ra thoáng hơn một chút để rồi sứ mạng truyền giáo nó cũng khác đi một chút.

Tất cả những yếu tố ảnh hưởng đến truyền giáo, có lẽ yếu tố kinh tế là yếu tố quan trọng nhất mà Giáo Hội muôn ngàn đời phải đối mặt.

“Có thực mới vực được đạo”, câu nói tự ngàn xưa mà ngày nay vẫn còn giữ nguyên giá trị của nó. Khi đời sống kinh tế bấp bênh bữa no bữa đói thì quả thật chuyện đạo nghĩa thường bị xem nhẹ. Làm sao mà có thể lê bước đến Nhà Thờ với cái bụng bữa cơm bữa cháo được. Làm sao có thể hân hoan đến Nhà Thờ trong khi thùng gạo ở nhà vơi mà chưa có tiền đong, hồ nước ở nhà cạn mà không có tiền bơm. Biết bao nhiêu vấn nạn về cuộc sống, về kinh tế cứ làm cho sứ mạng truyền giáo cứ ngã nghiêng.

Đã một thời sử sách còn ghi : Đạo ông Diệm ! Tìm hiểu kỹ một chút là vào cái thời đói khổ ấy, ai theo Đạo Công Giáo (Đạo mà ông Diệm và gia đình ông theo) thì được ông cấp gạo cho. Theo đạo kiểu đó ai mà không theo, cứ gật đầu theo đại đi để rồi ông Diệm cấp cho dăm ba lon gạo cứu khổ cứu nạn bữa đói bữa no. Với cái thói quen ấy, ít lâu người ta lại đồn đãi với nhau “theo đạo có gạo mà ăn” hay nói tắt đi một lời là “đạo gạo”. Nghe như thế để ta thấy thế nào là sự ảnh hưởng, tầm quan trọng của nền kinh tế trong sứ mạng truyền giáo.

Tâm lý hết sức thường tình của con người nói chung và nói riêng với đạo Kitô giáo là tình thương, tình người. Một nhà truyền giáo đến vùng truyền giáo mà không chia sẻ vật chất cho bà con dân nghèo ở đấy thì đừng nói gì đến truyền giáo. Hay nói khác đi một chút là không chia cơm sẻ áo thì đừng hòng tồn tại ở vùng truyền giáo.

Chuyện chia cơm sẻ áo cũng là chuyện hết sức bình thường trong cuộc sống chứ đừng nói gì đến đạo Kitô giáo, đạo của tình thương. Nhưng, nếu ta không tỉnh táo, không khéo một chút ta sẽ tạo ra một làn sóng “đạo gạo thời hiện đại”. Thôi thì ta tạm gọi những người theo đạo là vì gạo đi cũng được nhưng còn tệ hơn thế nữa, họ không theo đạo vì gạo mà họ chỉ đến với đạo để lấy gạo. Không cẩn thận, đạo mà ta truyền bá nó sẽ thành cái đạo, cái nơi mà người ta đến để hưởng một chút gì đó cho vui, cho qua ngày dẫu rằng dưới mắt nhiều người phần gạo, phần quà ấy chẳng đáng là bao.

Của đáng tội ! Người nghèo, người túng thì với họ bao nhiêu cũng quý cả. Các vị truyền giáo sẽ cố gắng hết sức của mình để gọi là chia sẻ với người nghèo. Với những vùng nghèo, miệng truyền miệng, tai truyền tai, chẳng hiểu sao danh sách hộ nghèo ngày càng tăng. Những người nghèo mà có quà thì ai chả mừng, khi được quà bảo cái gì cũng dạ cũng vâng chứ đừng nói là thưa 3 lần tin trong nghi thức Thanh Tẩy Kitô giáo.

Vấn đề ở chỗ là sau khi hồ hởi đến để nhận gạo ấy, 3 lần thưa tin trong ngày lãnh bí tích Thanh Tẩy còn đâu.

Tâm lý hết sức bình thường là để làm vui nhà truyền giáo, những người nghèo ấy háo hức, hân hoan nhận Bí tích Thanh Tẩy. Và tâm lý hết sức bình thường của nhà truyền giáo là ta có trong sổ Rửa tội của ta càng nhiều càng tốt, càng đông càng vinh dự. Thế nhưng, thi thoảng ta cần nhìn lại con số mà ta Thanh Tẩy ấy, ta Thêm Sức ấy còn lui tới nhà thờ, còn kinh kệ, còn giữ đạo được bao nhiêu ?

Giả sử cho là người ta đi đạo vì gạo cũng còn tốt, nghĩa là sáng người ta nhận gạo, chiều người ta đến Nhà Thờ cũng tạm gọi là chút an ủi cho “cái ông Giêsu chịu chết treo đóng đinh trên thánh giá vì tội lỗi hân loại, tạm gọi là chút an ủi cho bao mồ hôi và nước mắt của nhà truyền giáo nhưng đôi khi lại là không. Sáng nhận gạo thật là đông nhưng chiều về ngôi nguyện đường khang trang đồ sộ ấy lại trở nên “vắng tanh như chùa bà đanh”.

Ta có thể mở rộng vòng tay để chia sẻ với người nghèo bất kỳ lương giáo nhưng vấn đề theo đạo nên chăng ta để “thủng thẳng”. Để đến một lúc nào đó chín muồi, đến một lúc nào đó tự lương tâm, tự đáy lòng cộng thêm kiến thức về Chúa, về Đạo tạm gọi là “ổn” ta mới “dội nước” cho họ. Ta có thể chia sẻ với họ với một tấm lòng thơm thảo, đừng bao giờ đặt vấn đề “dội nước” để ta và họ đều thanh thản. Vì lẽ, nếu vì chút quà của ta mà họ “dội nước” để sau này họ không giữ đạo được thì họ cũng ngại mà ta cũng ngẫn ngơ ! Ngẫn ngơ là vì số lượng “dội nước” quá lớn mà số người lui tới Đền Thờ quá vắn vỏi !  

Nói tới gạo, nhắc tới kinh tế tôi lại nhớ đến lời của cha giáo môn Giáo Hội học thời còn mài ghế nhà trường: “Anh em nên nhớ rằng anh em là mục tử chứ anh em không phải là nhà kinh tế. Khi anh em ra trường, được sai đến một vùng nào đó, anh em nên nhớ sứ mạng của anh em là làm sao cho đời sống bà con giáo dân ngày càng yêu thương nhau hơn chứ không phải là làm cho đời sống bà con giáo dân ngày càng giàu hơn ! Anh em không phải là nhà kinh tế ! Kinh tế là chuyện của xã hội chứ không phải là chuyện của anh em !”.

Ngẫm nghĩ, lời của Cha giáo xem ra đúng lắm chứ ! Là mục tử, chuyện căn cốt, chuyện quan trọng là làm sao cho đời sống của con chiên ngày càng gắn kết với nhau, yêu thương nhau hơn chứ không phải là làm cho đời sống kinh tế của con chiên tăng lên.

Nhắc tới chuyện quà cáp, cũng không giấu được nỗi đau của nó.

Ở xứ nọ, vừa ôm quà ra khỏi nhà thờ là bà con cãi nhau ngay. Người thì bảo người này xứng đáng nhận, người thì bảo người kia không xứng đáng, người thì bảo ông cha dại vì cho nhà kia vì nhà đó giàu, người thì bảo ông cha không có mắt vì nhà kia nghèo mà không cho …

Ở xứ kia có hai cha, cha này cho nhóm này thì nhóm này phò cha này, cha kia cho nhóm kia thì nhóm kia phò chia kia. Bài sai đến, cha này đi, cha kia ở lại. Thế là cái nhóm của cha này bỏ nhà thờ và nói xấu cha kia đủ thứ đủ điều trên đời.

Thế đấy, đôi khi vì muôn có những con số thật đông, thật nhiều mà ta không thể nào lường trước được hậu quả. Chắc chắn, chẳng vị mục tử nào muốn điều này điều kia xảy ra trong đám chiên mà mình chăn dắt nhưng thực tế, chiên tan tác sau những phần quà của mình. Với lương tâm, với cái nhìn của cha thì cha cho như thế là đúng, là chính đáng và phải đạo nhưng phần con chiên, con chiên nó có cách nghĩ và có cách làm của nó để rồi nó lại cấu xé nhau trước những phần quà thân thương của chủ chiên.      

Đôi khi ta cứ chạy theo con số nhưng những con số ấy chỉ là “lượng” ảo. Đôi khi ta chạy theo con số nhưng số ấy chứa đầy “chất” ảo.

Đối diện với “chất” và “lượng” ảo ấy có khi ta biếu họ quà tặng vô điều kiện có lẽ hay hơn vì nếu ta cứ “dội nước” đại trà như thế thì sẽ rất khó khăn ! Với vốn giáo lý không đủ gọi là cơ sở để hiểu đạo làm sao mà sống đạo được ! Làm dấu thánh giá đôi khi làm ngược, khi vào toà xưng tội chẳng hề biết cách xưng tội. Khi hỏi Kinh Ăn Tội thì xin thưa “con chỉ biết có kinh Lạy Cha” !

Và vấn đề nữa là ta chạy theo địa hình, chạy theo không gian. Ta chưa lo cho chỗ này xong nhưng với máu và lửa truyền giáo rạo rực trong ta làm ra muốn dấn thân thêm nữa. Thế nhưng, sự dấn thân ấy không khéo lại là nỗi khổ cho bà con bởi lẽ nhà truyền giáo không kham nổi.

Nhớ lại cách đây vài năm, chân ướt chân ráo đặt chân lên Tây Nguyên. Lần đầu tiên với biết bao ngỡ ngàng, ngạc nhiên với mảnh đất đỏ bazan này nên tôi cứ mon men các bậc đàn anh. Lần ấy, một tuần, tôi và một bậc đàn anh “kinh lý” chưa xong 1 làng. Ấy vậy mà bậc đàn anh kia trong 1 tuần đi hết 5 làng ! Quả thật bậc đàn anh ấy quá tuyệt vời và được Ban Giám Đốc đánh giá cao về tinh thần truyền giáo của anh.

Đôi khi ta mãn nguyện về con số, về địa bàn hoạt động của ta nhưng tế con số và địa bàn ấy đượm một vẻ man mác buồn. Buồn là vì con số ấy chỉ là con số báo cáo, địa bàn ấy là địa bàn nằm trên mặt chữ.   

Lẽ thường của cuộc đời, lẽ thường của con người, nhà truyền giáo luôn luôn mang trong mình những hoài bão, những ước mơ của mình nhưng “lực bất tòng tâm”. Chẳng ai mà không ham mình rửa tội được nhiều, chẳng ai mà không ham mình ghi dấu “tiên khởi” nhưng cần sự cộng tác của nhiều người ta mới thực hiện được ước mơ, được hoài bão ấy.

Hoài bão và mơ ước ở các vùng truyền giáo rất là chính đáng và hợp tình hợp lý nhưng cần có nhiều bàn tay nối dài, nhiều tấm lòng rộng mở để chia sẻ không chỉ là vật chất mà là tinh thần, mà là kiến thức giáo lý, mà là đời sống đức tin cho những người chưa biết Chúa mà nay tìm hiểu Chúa.

Nếu không thực tế, nếu không nhìn lại chặng đường đã qua ta sẽ sống trên những con số hoành tráng, những vùng đất mở rộng nhưng thực chất chẳng là bao.  

Vùng truyền giáo còn mênh mông, sứ mạng truyền giáo còn bao la, thợ gặt còn thưa thớt. Nguyện xin Chủ ruộng ban nhiều và thật nhiều thợ để cùng chung tay ôm về cho Chủ những bó lúa vàng thơm ngát. 

Thanh Tâm

VỀ MỤC LỤC
SỨ MỆNH  TRUYỀN GIÁO  CỦA GIÁO HỘI

 

Công Đồng Vatican II xác định lại sứ mệnh của Giáo hội: Ecclesia peregrinans  natura sua  missionaria  est  (Ad gentes , 2 : tự bản tính , Giaó hội lữ hành là truyền giáo) nên công việc truyền giáo là công việc chính của Giáo hội tức là của mọi tín hữu Chúa Kytô : bao gồm tất cả hàng giáo sỹ và giáo dân .

Tại Việt nam , quan điểm về tôn giáo , nhà nước đã thay đổi . Trước đây , theo ông Bảy Việt , Trưởng Ban Tôn Giáo thành phố Hồ Chí Minh nói : vì  tôn giáo sẽ không còn nữa  nghĩa là chẳng có ai theo tôn giáo nào nữa trong  quốc gia xã hội chủ nghĩa khoa học được thành lập (quan niệm chủ nghĩa xã hội khoa học  làm cho tôn giáo biến mất một cách tự nhiên )  nên giúp  tôn giáo  được biến nhanh đi là tốt nhất , nhưng bây giờ  Đảng đã thấy rõ tôn giáo là nhu cầu của một bộ phận nhân dân . Ông còn nói theo ý ông  “không có tôn giáo thì ai cản nổi điều xấu điều ác “ . Ông Trần Trung Tính , phó Chủ tịch Mặt trận thành phố Hồ Chí Minh  đọc quan điểm của những nhà trí thức của nhà nước nói về giá trị của tôn giáo trong đất nước để xây dựng con người . Thay đổi cái nhìn vể tôn giáo như thế nầy phải có sự đóng góp sống đạo  của các tôn giáo .

Dĩ nhiên là nhà nước vẫn kiểm soát nhặt các tôn giáo nhất là Công giáo và Tin lành  hơn là Phật giáo và theo tôi thì  Phật giáo được ưu đãi hơn  . Công giáo thì sống thời buổi nào cũng là Công  giáo .  Vua quan  không có đạo hay có đạo , Chính phủ có đạo hay không có đạo , Giáo lý Công giáo vẫn dạy cầu nguyện cho nhà cầm quyền và thi hành luật pháp quốc gia trừ những đều nghịch với Giáo lý Công giáo (thí dụ như  ly dị, phá thai , bạo loạn ).

 Dầu hoàn cảnh nào , Giáo hội vẫn thúc giục mọi tín hữu Chúa Kytô sống theo lời thánh Phaolô dạy Timôtê :” Hãy rao giảng Lời Chúa , hãy  rao giảng  lúc thuận  tiện hay không thuận tiện ,  hãy biện bác,  khuyên răn với tất cả lòng kiên nhẫn  và chủ tâm dạy dỗ. Sẽ đến thời người ta không chịu nghe giáo lý lành mạnh, nhưng theo những dục vọng  riêng mình nên tìm đến thầy nọ thầy kia làm vui tai mình . Họ sẽ ngoảnh tai đi không nghe chân lý, nhưng hướng về chuyện hoang đường “(  2 Timôtê 4,  2-4) .

Nhìn lại công việc truyền giáo ở Việt nam , ta thấy các nhà truyển giáo mấy thế kỷ đầu gieo tin Mừng tại nước ta gồm ngoại quốc và bản xứ rất vất vả , nhưng hết sức hy sinh và quảng đại nên các ngài gạt hái hơn ngày nay nhiều . Các ngài đã thấy được con người Việt nam có quan niệm về Ông Trời,  thờ trời và các thần thánh khác. Thí dụ : Chiếu dời đô của vua Lý Thái tổ viết :” Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm,  mưu cầu nghiệp lớn  , kế sách muôn đời cho con cháu  nên  phải vâng mệnh trời và theo lòng dân , thấy thuận thì dời ... Hai nhà Đinh và Lê theo ý riêng mình , không theo mệnh trời , không  bắt chước  Thương , Chu  thời xưa …” (thời Nhà Thương ( I783-1135 trước Công nguyên), thời Nhà Chu ( 1137-770 trCN) nhà vua đã lập đàn Nam giao tế Trời) . Vì thế Lý Thi tổ lấy niên hiệu Thuận Thiên  đặt nền tảng cho đạo lý trị nước . Các vua Chúa ta cũng theo đó , sau nầy vua con xưng là Thiên tử .

Các ngài đã khai thác lòng tin vào Trời để giảng Tin Mừng và dùng khoa học  giải thich hiện tượng nhật thực, nguyệt thực cho cả vua chúa để  xoá  đa thần một cách tự nhiên .

Ngày nay, truyền giáo cho “người đã có đạo” trừ ra đôi nơi dành cho người thiểu số . Đừng  đổ tội cho hoàn cảnh . Trước năm 1975 , ở miền xuôi cũng vậy thôi : làm cái gì cũng chỉ cho người có đạo : sách báo, bài hát v.v .  Ngay  trận lụt lịch sử  tại miền Trung đang xảy ra,  cứu  đói cũng vậy thôi .

Thiết nghỉ phải xét lại cách truyền giáo của mình đề làm thế nào đi vào giới “mộ điệu” như giơi trẻ thích thần tượng  nên phải trình bày Chúa Kytô thế nào cho họ mộ mến tôn thờ , giới già thích đời sống an vui phải trình bày đời sống hạnh phúc trong Chúa , ngay cả với cán bộ , người ta thích  “sống cho và vì mọi người”, cho quê hương , ta phải trở thành chứng nhân “cho mọi người” như thánh Phaolo nói “ tôi thành Do thái cho người Do thái , tôi thành Hy lạp cho người Hylap  “ ( xem I Corinto  9, 19-23)   như  thánh Phêrô nói “sống với thể chế do loài người đặt ra” (I Phêrô  2,  13-17) .

 Truyền giáo đòi hỏi đầu  tiên là cách sống nơi nhà truyền giáo như  Đức Phaolo nói:

“ Homo nostrae huius  aetatis  libentius  testes  quam  magistros  audit  quodsi  suas  bisce  praebet  aures  , ita facit  , quoniam  testes  sunt “ (Evangelii Nuntiandi, 41) 

Modern man  listens  more  willingly  to  witnesses  than  to  teachers , and  if  he  does  listen  to  teachers ,  it  is  because  they  are  witnesses .

L’ homme  contemporain   écoute  plus volontiers  les  témoins   que  les  maitres  -- disons - Nous  récemment  à  un  groupe  de  laics  -- ou s’ il   écoute  les  maitres ,  c’ est  parce  qu’  ils  sont  des   témoins . 

Người thời nay sẵn sàng nghe  nhân  chứng hơn nghe thầy dạy và nếu họ  nghe thầy dạy  là tại vì  thầy dạy  cũng  là nhân chứng .

 Lm. Fx Nguyễn hùng Oánh

 
VỀ MỤC LỤC
CHIẾC NHẪN THẦN

 

Thưa quí bạn, chúng ta đang cùng nhau học hỏi về chủ đề Sống Hiện Tại. Hôm nay mục Sống Sao Cho Đẹp mời bạn suy nghĩ về sự chóng qua của những giá trị vật chất hay những hư danh hảo huyền để tập trung vào giá trị thật của giây phút hiện tại. 

* * *

Truyền thuyết người Do Thái có kể câu chuyện như sau. Beneiah là vị quan vốn thường hãnh diện cho rằng ông sẽ chu toàn mọi nhiệm vụ mà nhà vua giao phó. Nghe như vậy, vua Solomon ra lệnh cho quan Benaiah trong vòng sáu tháng, ông phải tìm cho nhà vua một chiếc nhẫn thần vừa có khả năng mà làm cho ai mang nó thì đều cảm thấy mình hạnh phúc và cũng cảm thấy mình đau buồn.

Dù là người rất tài giỏi, Benaiah cảm thấy lo âu vì làm sao có thể tìm chiếc nhẫn nào vừa làm cho người ta hạnh phúc và đau buồn được! Thời gian thấm thoát trôi qua, Benaiah miệt mài bôn ba tìm kiếm chiếc nhẫn thần khắp mọi nơi mà cũng không nghe ai nói là có chiếc nhẫn thần như vậy. Ngày qua ngày, Benaiah càng hiểu rằng mạng sống của mình sắp bị lấy đi, vì không thể tìm cho nhà vua chiếc nhẫn thần được. Cuối cùng, khi đang ngồi nghỉ chân trong quán nước, ông chia sẻ câu chuyện này với người chủ quán nhằm tìm sự cảm thông và trút bớt phần nào nổi phiền muộn lo sợ trong lòng ông. Nghe xong câu chuyện, ông già chủ quán thưa lại. “Tôi đang có chiếc nhẫn mà ông đang kiếm tìm.” Nghe vậy, Benaiah sáng mắt và quì xuống van xin được mua lại chiếc nhẫn đó với bất kỳ giá nào. Ông già đáp, “Tôi không bán, nhưng tôi chỉ tặng vì dù giá trị nó có lớn lao bao nhiêu đi chăng nữa, nó cũng sẽ qua đi.” Ông già trao cho Benaiah chiếc nhẫn, chiếc nhẫn thần rất đẹp với hàng chữ: “Cũng vậy, nó cũng sẽ qua đi.”

Hôm sau, Benaiah trình nhà vua với chiếc nhẫn, nhà vua hoan hỹ và trọng thưởng cho Benaiah. Cầm chiếc nhẫn trên tay, niềm vui hiện rõ trên khuôn mặt của nhà vua, nhưng khi đeo chiếc nhẫn thần vào, nhà vua thấy hàng chữ: “Cũng vậy, nó cũng sẽ qua đi” điều này làm cho nhà vua buồn, vì ông hiểu rằng, chính địa vị của ông, vương quốc của ông, danh tiếng của ông rồi cũng sẽ qua đi như hàng chữ trên chiếc nhẫn nhắc nhở: “Cũng vậy, nó cũng sẽ qua đi.”[i] 

* * *

Quí bạn thận mến, câu chuyện trên cho chúng ta thấy rằng không có gì là bất biến vĩnh hằng trong kiếp nhân sinh. Niềm vui hay nỗi buồn, giàu sang hay nghèo hèn, được tán dương hay bị khinh chê,… Cũng vậy, tất cả chúng cũng sẽ qua đi. Thông điệp “Cũng vậy, nó cũng sẽ qua đi” là một thông điệp đơn sơ nhưng hùng hồn để nhắc nhở chúng ta về sự thật của cuộc đời.

Trong tiến trình làm người, nhiều người thường trải qua hai giai đoạn suy nghĩ đối lập nhau. Những người trẻ tuổi nhìn cuộc đời như bất biến, vĩnh hằng. Họ tin rằng sức khỏe, sắc đẹp, và sức sống của mình sẽ mãi mãi không thay đổi. Ngược lại, đối với những người lớn tuổi, họ âu lo, sợ hãi cho sức khỏe, cho sắc đẹp của mình; cuộc đời không còn là bất biết vĩnh hằng như họ đã từng suy nghĩ như trước đây. Như vậy, thái độ nào là hợp lý và giúp ta nhận ra giá trị thật khi ta quan sát cuộc đời? Xin thưa, có thể nói rằng thái độ hợp lý đó là trân trọng giây phút hiện tại nhưng không bám víu vào chúng. Nói cách khác, sống trân trọng tức là sống từng giây phút hiện tại với tất cả khí lực của tuổi trẻ. Mỗi giây phút hiện tại dẫn ta đi vào hành trình khám phá giá trị con người. Mỗi giây phút hiện tại cũng đẩy lùi những bám víu vào quá khứ, dù là những giây phút huy hoàng hay xót xa cho những lầm lỗi. Và cũng chỉ có giây phút hiện tại mới thực sự giúp ta xây dựng tương lai cho đời ta một cách thực nhất.

Thưa bạn, Sư Cô Ayya Khema trong tác phẩm “Being Nobody, Going Nowhere” đã chia sẻ rằng. “Hành trình tâm linh không phải hành trình để học nhằm đạt được điều này điều nọ, nhưng là học biết từ bỏ.”[ii] Cũng vậy, học làm người không gì khác hơn chính là học biết cách biết bỏ đi, thả xuống chứ không phải nhặt lên và gop giữ lại. Biết thả xuống quá khứ và đừng gop giữ tương lai. Bạn thử nắm bàn tay bạn lại thì sẽ biết. Bàn tay nắm lại là bàn tay nóng, không hưởng được khí thiên nhiên; bàn tay mở là bàn tay mát vì hưởng được khí trời ban tặng. Sống hiện tại là sống mở ra như bàn tay mà không giữ lại quá khứ và cũng không cố gắng bắt chộp tương lai. 

Br. Huynhquảng

Mời bạn ghé thăm trang  http://brhuynhquang.org/.

Email liên lạc: brhq@brhuynhquang.org

VỀ MỤC LỤC
NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN TRONG CÔNG ĐỒNG VATICAN II ( PHẦN II ).
 

( Tư tế, Tiên Tri và Vương Giả)   

NGUYỄN HỌC TẬP 

Một khi đã xác nhận người tín hữu giáo dân là thành phần Cộng Đồng Dân Chúa, là phần Thân Thể Mầu Nhiệm Chúa Giêsu, tham dự vào ba tước vị của Người, tư tế, tiên tri và vương giả, phần I,  cần phải xác định tham dự thế nào và có sự khác biệt nào giữa sự tham dự của họ, khác với sự tham dự của hàng giáo phẩm, nhứt là trong tước vị tư tế.

A- Tư Tế.

Vấn đề được đặt ra là sự khác biệt giữa thiên chức tư tế chung ( comune) của các thành phần trong Cộng Đồng Dân Chúa và thiên chức tư tế thừa tác vụ (ministérielle) của hàng giáo phầm.

Chương II của Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân ( Lumen Gentium, LG ) đề cập đến vấn đề đang bàn ở số 10.

   *Trước tiên Hiến Chế LG, qua những trích dẫn Tân Ước, nói lên tước vị tư tế của mọi tín hữu Chúa Ki Tô ( giáo sĩ cũng như giáo dân), với đặc tính liên quan đến đời sống trước khi liên quan đến động tác tế tự:  

- " Thật vậy, những người chịu phép rửa, qua biến cố tái sinh và được Chúa Thánh Thần xức dầu, họ được thánh hoá để trở nên nơi cư ngụ thiên  thánh và biến thành tư tế thánh thiện, để qua các tác động Ki Tô hữu của họ, họ dâng lên Chúa những của lễ thiên thánh và loan báo những kỳ công của Đấng từ bóng tối đã gọi họ vào ánh sáng diệu huyền" ( LG II, 10). 

   * Kế đến, Hiến Chế LG đề cập đến sự khác biệt giữa thiên chức tư tế chung của mọi tín hữu và chức tư tế thừa tác vụ của hàng giáo phẩm: 

- " Chức tư tế chung ( comune  ) của các tín hữu và chức tư tế thừa tác vụ ( ministérielle) hay tư tế phẩm trật, mặc dầu khác biệt nhau tự bản chất chớ không phải khác nhau về thứ bậc, cả hai đều được thiết lập liên đới nhau: thật vậy, mỗi thiên chức tùy theo cách hành xử của mình, nhưng cả hai đều cùng tham dự vào chức tư tế duy nhứt của Chúa Ki Tô" ( LG 2, id.). 

 Sự khác biệt đó được gọi là quyền năng, qua đó chức tư tế thừa tác vụ được giao cho phận vụ:

- xây dựng và hướng dẫn Cộng Đồng Dân Chúa tư tế,

- tác động dâng hiến Thánh Thể nhân danh Chúa Ki Tô.

- và dâng hiến Thánh Thể nhân danh Cộng Đồng Dân Chúa.

Nhưng dù cho có sự khác biệt tự bản thể, chức tư tế chung của các tín hữu cũng như chức tư tế thừa tác vụ của hàng giáo phẩm đều được đặt trên một nền tàng chung, trên chức tư tế của Chúa Ki Tô mà mọi thành phần dân Chúa đều tham dự, tín hữu cũng như thừa tác viên.

Như vậy, chức tư tế chung không phải chỉ là của người tín hữu giáo dân, mà là của cả Cộng Đồng Dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ cũng như giáo dân.

Chức tư tế thừa tác vụ là để tác động cho Cộng Đồng Dân Chúa, ở một thứ bậc và bản chất khác.

Diễn tả như vậy, Công Đồng Vatican II đã lấy lại hình ảnh Cộng Đồng Dân Chúa theo truyền thống Cựu Ước, cả dân Do Thái là dân thánh dâng lễ ngợi khen và cảm tạ những gì Thiên Chúa đã làm cho mình.

Đồng thời cũng giữ được đặc tính đặc biệt của chức tư tế thừa tác vụ của hàng giáo phẩm, so với những gì các Ki Tô hữu khác có thể tham dự vào chức tư tế của Chúa Giêsu. 

Sau khi đề cập đến chức tư tế thừa tác vụ của hàng giáo phẩm, nhứt là của các Giám Mục, ở chương III, Công Đồng đề cập đến chức tư tế chung của các tín hữu giáo dân ở chương IV, số 34, một cách ngắn gọn, nhưng rất súc tích: 

   - " Chúa Giêsu Ki Tô, Vị Tư Tế Thượng Phẩm và Vĩnh Viễn, cũng muốn tiếp tục qua các động tác của giáo dân, nhân chứng và phục vụ của mình, làm cho họ sống động bằng Thánh Thần của mình và không ngừng thúc đầy họ trong mọi hành động tốt lành và trọn hảo. Thật vậy, qua họ Người liên hệ mật thiết với đời sống và sứ mạng, cũng ban cho họ một phần phận vụ tư tế của Người để họ thực hiện động tác tế tự thiêng liêng, để Thiên Chúa được tôn vinh và cứu rỗi con người. Do đó, các tín hữu giáo dân, được dâng hiến cho Chúa Ki tô và được Chúa Thánh Thần thánh hoá, họ được mời gọi và huấn dạy một cách tuyệt hảo để Chúa Thánh Thần thực hiện nơi họ những kết quả luôn luôn sung túc nhứt. Thật vậy, mọi hoạt động, lời cầu nguyện và các sáng kiến tông đồ của họ, đời sống hôn nhân và gia đình, công việc hằng ngày, các nâng đở tinh thần và thể xác, nếu được thực hiện trong Chúa Thánh Thần, và ngay cả đến những vấn đề phiền nảo trong cuộc sống, nếu họ biết nhẫn nại chịu đựng, tất cả đều trở nên của lễ hy sinh dâng hiến đẹp lòng Thiên Chúa nhờ Chúa Giêsu. Và những gì vừa kể, trong Thánh Lễ là những của lễ rất tốt đẹp dâng lên Chúa Cha cùng chung với Thánh Thể Chúa Giêsu. Như vậy người tín hữu giáo dân, tác động thánh thiện ở mọi nơi như là những người tôn thờ Thiên Chúa, họ dâng hiến chính thế giới cho Chúa" ( LG 4, 34).   

Nói cách khác, người tín hữu giáo dân là người sống chức tư tế của Chúa Giêsu trong cuộc sống của họ. Họ dâng hiến mình, động tác của mình, cả môi trường sống của mình và thánh hoá anh em, để dâng hiến tất cả cho Chúa.

Chức tư tế của người tín hữu giáo dân  trùng hợp với đời sống tác động  thánh hoá môi trường mình đang sống và dâng cho Chúa.

Sống trong Chúa Thánh Thần là hướng về Chúa, dâng hiến cho Chúa đời sống và động tác sống của mình.

Những gì vừa kể cho chúng ta thấy

- vai trò của Chúa Thánh Thần: trong Chúa Thánh Thần, chúng ta có thể hướng về Chúa Cha trong tâm tình con cái.

- chiều hướng theo khuôn mẫu Chúa Ki tô của đời sống Ki Tô giáo: sống hướng về Chúa Cha là sống như Chúa Giêsu.

- dâng hiến thế giới cho Chúa: sống và hành động làm cho tốt đẹp, hoàn thiện môi trường sống của mình để hướng tất cả về cho Chúa.

Sống cuộc sống thánh thiện đối với người tín hữu giáo dân, không cần phải loại thế gian ra khỏi đời sống mình, sống lánh xa thế tục, mà là sống giữa thế gian, hành động tốt đẹp để thánh hoá thế gian và quy hướng thế gian về với Chúa, để mọi yếu tố trần thế đều có ý nghĩa hiện hữu và cùng đích của mình nơi Chúa.

Tác động thánh thiện trong mọi hoàn cảnh là đã dâng hiến cho Chúa, quy hướng thế gian về với Chúa, sống chức tế tự của mình tham dự vào chức tế tự của Chúa Ki Tô. 

B - Tiên tri.

Thiên chức tiên tri trong Cộng Đồng Dân Chúa, trải qua nhiều thế kỷ, dường như bị lãng quên. Bởi lẽ

- tiên trị, được hiểu là loan báo biến cố Ki Tô giáo trong tương lai, tuyên bố về ngày cánh chung. Chúa Giêsu là tiên tri, bởi vì Người thực hiện các lời được các tiên tri báo trước.

- tiên tri, được hiểu như là mạc khải những gì mới lạ, trong khi đó thì giáo lý dạy chúng ta là những gì Chúa muốn, Chúa đã mạc khải cho chúng ta tất cả, mạc khải được kết thúc với cái chết của vị Tông Đồ cuối cùng.

Trái lại đối với Công Đồng Vatican II, tiên tri là loan truyền và làm nhân chứng sống về Chúa Ki Tô, bằng chính đời sống đức tin và bác ái của mình, như là dâng lên Chúa của lễ ngợi khen, " ...bằng chính miệng lưỡi mà ca tụng Danh Thánh Chúa" ( Heb 13, 15).

Như vậy, tiên tri là nhân chứng và tuyên xưng đức tin.

Nhân chứng không chỉ có nghĩa là loan truyền đức tin, mà hàm chứa cả việc thực hiện đức bác ái:  

   - " Người tín hữu giáo dân chứng tỏ mình là con cái của lời Chúa hứa, nếu họ có đức tin vững mạnh và niềm hy vọng không lay chuyển, biết hành động có kết quả trong hiện tại  ( Eph 5, 16; Co 4, 5) và với lòng kiên nhẫn biết trông đợi vinh quang tương lai ( Rom 8, 5). Và niềm hy vọng vừa kể họ không chôn giấu trong tâm hồn, nhưng luôn luôn biết tiếp tục hối cải và chiến đấu chống lại những kẻ thống trị thế giới tối tăm nầy và chống lại các tinh thần quái ác ( Eph 6, 12), diễn tả niềm hy vọng đó qua các cấu trúc của đời sống trần thế". 

Như vậy sống năng chức tiên tri là sống bằng đời sống nhân chứng đạo đức, hành thiện, được đặt nền tảng trên đức tin, nhờ đó người tín hữu Chúa Ki tô tự bẩm sinh mình có thể cách hành xử và đem ra thực hiện, nhờ sức mạnh của Thánh Thần chân lý ( LG 12).

Khả năng bẩm sinh đó khiến cho người tín hữu

- gắn bó với đức tin,

- thấu hiểu thâm sâu vào các mầu nhiệm đức tin,

- đem ra thực hành một cách hoàn hảo trong cuộc sống.

Trong các bản văn trích dẫn, chúng ta không thấy Công Đồng đề cập đến cá nhân như là người có đặc sủng tiên đoán được tương lai, mà là phận vụ chung để loan báo và làm nhân chứng của Cộng Đồng Dân Chúa.

Chương 12 của Hiến Chế LG nhắc nhở chúng ta là " cả dân Chúa, từ Giám Mục đến người tín hữu giáo dân cuối cùng" đều được Chúa ban cho đức tin, hiểu biết ý nghĩa đức tin, đều đồng thuận chấp nhận những gì thuộc về đức tin và luân lý.

Hiểu biết nội dung ý nghĩa đức tin được mạc khải và cùng nhau tin  những gì được Chúa mạc khải cho qua các Thánh Tông Đồ và qua Giáo Hội, tiếp tục sứ mạng truyền bá đức tin của các Ngài, hàng giáo phẩm và giáo dân không thể nào không đồng nhứt với nhau về đức tin.

Mỗi thành phần Dân Chúa đều tham dự vào thiên chức tiên tri duy nhứt của Chúa Giêsu, mỗi người tùy theo phần của mình: 

   - " Chúa Ki Tô là Đấng Tiên Tri Cả, chứng nhân bằng chính đời sống mình và bằng sức mạnh của lời giảng dạy đã tuyên xưng vương quốc của Chúa Cha, tiếp tục chu toàn phận vụ duy nhứt của Ngài cho đến khi vinh quang Thiên Chúa được tỏ rạng trọn vẹn, không những qua hàng giáo phẩm, là những vị giảng dạy nhân danh và với quyền năng của Ngài, mà còn qua các tín hữu giáo dân, qua họ Ngài thiết lập những nhân chứng của Ngài, giáo huấn họ trong ý nghĩa đức tin và trong ân sủng của lời giảng dạy ( Act 2, 17-18; Ap 19, 10), nhờ đó sức mạnh Phúc Âm được chiếu sáng trong cuộc sống hằng ngày, trong gia đình và xã hội" ( LG 4, 35).  

Như vậy phận vụ tiên tri được thực hiện bằng nhân chứng.

Phận vụ đó không chỉ thể hiện trong một vài thời điểm nào đó trong đời sống, mà gắn liền với cả sự hiện hữu con người, bởi vì không có gì thuộc về con người mà không được ảnh hưởng cứu rỗi của Chúa Ki Tô liên quan đến và không liên hệ đến niềm hy vọng tốt lành.

Nhân chứng hay phận vụ tiên tri được thể hiện bằng đời sống và bằng ngôn từ: người tín hữu giáo dân cũng có phận sự rao giảng Phúc Âm, 

    - " ...phận sự đó mang tính cách đặc biệt và đặc biệt hữu hiệu, bởi vì là phận vụ được thực hiện ngay trong những hoàn cảnh sống thông thường giữa trần thế " ( LG 4, 35). 

Đặc tính đó của người tín hữu giáo dân trong phận vụ rao giảng Phúc Âm còn được Công Đồng Vatican II nêu rõ hơn nữa, là phận vụ rao giảng Phúc Âm liên hệ đến các động tác của họ chuyên lo trong các lãnh vực trần thế: 

   - " Người tín hữu giáo dân, ngay cả khi họ chuyên lo các lãnh vực trần thế, họ cũng có thể và  phải thực hiện động tác qúy báu rao giảng Phúc Âm cho thế gian" ( LG 4, 35). 

Như vậy động tác rao giảng Phúc Âm không chỉ được dành riêng trong một vài khoản không gian, đặc ân hay trong một vài chức năng chính thức nào đó, mà là động tác được ấn tín trên cấu trúc cuộc sống đức tin hằng ngày của người tín hữu: " trong cuộc sống hôn nhân và gia đình", như Công Đồng đề cập, để nói  đến môi trường nào tinh thần Phúc Âm có thể thẩm thấu được.

Như vậy, nơi thực hiện phận vụ tiên tri của mình cũng là nơi huấn luyện tuyệt hảo cho người tín hữu giáo dân thi hành phận vụ tông đồ của họ. Đó cũng là môi trường đức tin Ki Tô Giáo thẩm thấu mọi cách sống và mỗi ngày biến đổi cuộc sống thế trần của người tín hữu Chúa Ki Tô thành cuộc sống trần thế thấm đầy ánh sáng Phúc Âm.

Như vậy, đôi vợ chồng tín hữu Chúa Ki Tô được mời gọi người nầy trở thành tiên tri ( nhân chứng Phúc Âm) cho người kia và cha mẹ là tiên tri ( nhân chứng Phúc Âm) cho con cái, nhân chứng đức tin và tình thương của Chúa Ki Tô.

Với cách hành xử đó, gia đình Ki Tô giáo lớn tiếng tuyên xưng các đức tính hiện tại của Nước Thiên Chúa và niềm hy vọng vào cuộc sống diễm phúc trên Thiên Quốc.

Và hiểu như vậy, chúng ta hiểu được phận vụ tiên tri ( nhân chứng Phúc Âm) không phải chỉ được thể hiện dưới hình thức cộng đồng trong Cộng Đồng Dân Chúa.

Đặc tính chung của Cộng Đồng Dân Chúa được thể hiện trong cuộc sống và trong lãnh vực nghề nghiệp của mỗi người tín hữu giáo dân. 

Ý thức được phận vụ của mình tham dự vào sứ mạng rao giảng Phúc Âm của Giáo Hội, mặc nhiên hàm chứa việc các tín hữu giáo dân phải được học hỏi, chuẩn bị trưởng thành về đức tin, ngoài ra được soi sáng bởi ánh sáng khôn ngoan Ki Tô giáo.

Và đó là phận vụ hàng giáo phẩm phải cung cấp cho họ:  

   - " Họ trên trông đợi ở các vị linh mục ánh sáng và sức mạnh thiêng liêng" ( GS, 43).   

Ai  cũng biết rằng qua nhiều thế kỷ, do sự dốt nát và không có thẩm quyền về tín lý, các tín hữu giáo dân bị đặt ra bên lề việc tham dự vào sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội. 

C - Vương giả.

Ở chương II Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân ( LG ), chương đề cập đến Cộng Đồng Dân Chúa, Công Đồng không đề cập đến việc tham dự của Dân Chúa vào thiên tước vương giả của Chúa Ki Tô.

Ở số 13  chương II, Công Đồng nói lướt qua về các thành phần Cộng Đồng Dân Chúa tham dự vào thiên tước vương giả của Người.

Điều vừa kể cho thấy chủ ý của Ủy Ban Tín Lý là không muốn áp đặt một nền thần học về ba tước vị của Chúa Ki Tô như một sơ đồ cứng rắn.

Trong ba tước vị của Chúa Ki Tô, lấy lại tư tưởng của Thánh Kinh, thiên chức vương giả được đề cập đến ở chương IV, đoạn 16.

Và Ủy Ban Tín Lý cũng lưu ý đến cách hiểu của Công Đồng Vatican II về ba tước vị đó: phượng tự, nhân chứng và phục vụ trong Cộng Đồng Dân Chúa: 

   - " Quyền năng nầy ( quyền năng vương giả) Chúa Giêsu đã thông ban cho các môn đệ Người, để một khi họ có được địa vị trong tự do vương giả, chính họ cũng loại bỏ được quyền năng của tội lỗi nơi chính họ bằng cuộc sống hy sinh từ bỏ và thánh thiện ( Rom 6, 12), hơn nữa, để phục vụ Chúa Giêsu nơi người khác, trong khiêm nhường và nhẫn nại, họ có thể hướng dẫn anh em họ đến vị Vua, mà thần dân của Người, chính họ cũng là những nhà vua" ( LG IV, 36).   

Như vậy vương tước được thể hiện dưới hình thức phục vụ.

Mẫu gương và tiêu chuẩn để đối chiếu của vương tước đó chính là Chúa Ki Tô. Người đã đạt đến tước vị vương giả của Người qua đức vâng lời. Giờ đây Người đang ngự trị ( Mt 28, 20) và ban cho các môn đệ Người tham dự vào vương tước của Người.

Tham dự vào vương tước đó là làm cho người tín hữu Chúa Ki tô ở vào địa vị " tự do vương giả ": chiến thắng trên vương quyền tội lỗi và phục vụ Chúa Ki Tô trong người khác, để hướng dẫn mọi người đến với Người.

Phục vụ, tự do và vương giả, đó là những ý niệm để diễn tả địa vị của những ai thuộc về vương quyền của Chúa Ki Tô và hành xử trong địa vị vương tước của mình.

Nước Thiên Chúa dần dần được thực hiện trong dòng lịch sử con người, cũng qua chính động tác của người tín hữu giáo dân.

Động tác để thực hiện Nước Thiên Chúa được thể hiện

- đối với các chủ thể con người,

- đối với các tạo vật được dựng nên.

Động tác đem Nước Thiên Chúa đến với con người để biến hoá con người và thánh hoá tạo vật như vừa kể, được Công Đồng lấy lại các tư tưởng của nền thần học trước Công Đồng, liên quan đến việc

- nhận biết giá trị của mỗi tạo vật được dựng nên, " Và Thiên Chúa nhìn thấy đó là điều tốt đẹp" ( Gn 1, 4.10.12.18.21.25. 31).

- hưóng dẫn và sắp đặt thiết định các tạo vật để ngợi khen Thiên Chúa.

Ủy Ban Tín Lý còn cho biết: 

     - " nói lên giá trị của mọi tạo vật để nhấn mạnh sứ mạng tông đồ trên của cải vật chất, nhắc nhớ rằng sứ mạng tông đồ của người tín hữu giáo dân không phải là tự mình gán cho các tạo vật những giá trị từ bên ngoài " ( Giacomo Canobbio, Laico o cristiani, Morcelliana, Brescia 1997, p. 226).

như là gán cho tạo vật những giá trị thiêng liêng ngoại lai nào đó.

Các tạo vật được dựng nên, như Chúa đã tạo nên, chính chúng đã thể hiện vinh quang của Thiên Chúa. 

     - " Động tác của các tín hữu giáo dân đối với tạo vật hệ tại ở việc biến đổi chúng qua việc làm của mình và phân phát chúng thế nào để góp phần thăng tiến nhân loại trong tự do và trong tự do tinh thần Ki Tô giáo" ( Giacomo Canobbio, id.). 

Như vậy, 

   - " Qua các thành phần của Giáo Hội, Chúa Ki Tô càng ngày càng chiếu toả ánh sáng cứu rỗi của Người cho cả  cộng đồng nhân loại " ( LG, 36).

Động tác cứu rỗi của Chúa Ki Tô được thực hiện giữa xã hội loài người và nhờ động tác của người tín hữu giáo dân. 

   - " Chúa Ki Tô càng ngày càng chiếu toả ánh sáng cứu rỗi của Người cho cả cộng đồng nhân loại ", 

 nói cách khác, 

   -  " tác động cứu rỗi của Chúa Ki Tô...cho cả cộng đồng nhân loại ".  

Động tác cứu rỗi đó không những không giới hạn ở việc rao giảng tín lý, mà còn bao gồm cả động tác biến cải,

   - giải thoát  ý nghĩa và địa vị cao cả của con người " được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa" ( Gn 1, 27) và là " con Thiên Chúa" ( Mt 6, 9), khỏi ách nô lệ của tội lỗi và sự chết,

- và giải thoát ý nghĩa chính đáng nguyên thủy và cao cả của mọi toại vật, được Thiên Chúa đặt để nơi chúng, khi Chúa dựng nên chúng. 

Trong nhãn quang vừa kể, câu khẳng định căn bản của Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân ( LG ) về sứ mạng truyền giáo của người tín hữu giáo dân được đặt trên nền tảng Ki Tô Luận   ( Christologia): 

    - " Sứ mạng tông đồ của người tín hữu giáo dân là tham dự vào chính sứ mạng cứu rỗi của Giáo Hội. Và đối với sứ mạng nầy, tất cả đều được chính Chúa ủy thác cho qua phép Rửa và phép Thêm Sức " ( LG IV, 33). 

Và Nghị Định Thực Hiện Truyền Giáo ( Decretum Apostolicam Actuositatem, AA) còn thêm: 

   - " Ơn kêu gọi Ki Tô hữu (...) do bản tính của mình là ơn kêu gọi tông đồ " ( AA, 2). 

Trở nên giống Chúa Ki Tô, qua phép Rửa, thành phần thân thể mầu nhiệm của Người, làm cho người tín hữu Chúa Ki Tô, tham dự vào phận vụ cứu rỗi của Người.

Chúng ta không thể tách rời thực tại bản thể ( réalité ontologique) của Chúa Ki Tô ra khỏi phận vụ cứu rỗi của Người, cũng vậy chúng ta không thể tách rời thực thể trở nên giống Chúa Ki Tô ( conforme au Chirst) của người tín hữu ra khỏi phận vụ tham dự vào sứ mạng cứu rỗi.

Không có một động tác đích thực chính đáng  nào của người tín hữu Chúa  Ki Tô mà không là tác động một cách nào đó, thực thi sứ mạng cứu rỗi của Người.

Không thể tách rời động tác nội bộ nào của Giáo Hội ( intraecclesialis), mà không liên hệ một cách nào đó đến động tác hướng ngoại ( extraecclesialis) không có giá trị tông đồ và thuộc về sứ mạng của Giáo Hội. 

Với một nhãn quang tổng quát: cả Cộng Đồng Giáo Hội đều tham dự vào sứ mạng của Chúa Ki Tô; mỗi người tín hữu Chúa Ki Tô ( giáo sĩ, tu sĩ cũng như giáo dân), mỗi người tùy theo phần của mình, thực hiện toàn diện sứ mạng nầy, bởi vì qua Giáo Hội, mỗi người được tháp ghép vào Chúa Ki tô và thông hiệp, trở nên giống như Người ( conforme au Christ).

Mỗi người có những đặc tính sống và hành động tham dự vào sứ mạng của Giáo Hội của mình, được xác định do hoàn cảnh và điều kiện của cuộc sống, tại vị trí đó mỗi người được ơn gọi của mình cắt đặt mình và do ân sủng Chúa Thánh Linh xếp đặt cho mình.

 

VỀ MỤC LỤC
NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA HÔN NHÂN (4)
 

NHỮNG KHÓ KHĂN VỀ KINH TẾ

Cần phân biệt sự xáo trộn thật và cái có vẻ như là xáo trộn trong việc phân tích các nguồn gốc khác của việc bất ổn trong hôn nhân. Những khó khăn về kinh tế thường bị đổ tội cho sự hủy hoại mối bất hòa trong hôn nhân. Khi sự nghèo đi vào cữa trước, tình yêu đi ra cữa sau. Câu ấy nghe thật xuôi tai nhưng có thật như vậy không? Tôi đã thấy nhiều hôn nhân trong đó sự căng thẳng về kinh tế ngăn ngừa được sự đổ vỡ. Không phải vì họ không thể cung cấp những chi phí, cũng không phải vì có khả năng kinh tế mà nâng số ly dị lên cao. Cái khó nghèo có thể mang hai người gần lại hơn cũng như dễ làm cho sợi giây hôn nhân của họ tan vỡ hơn. Cuộc sống khó khăn đã kết hợp một số hôn nhân nhưng cũng làm tan vỡ một số khác. Bất cứ một sự không may mắn nào cũng là một thử thách của sự can đảm và sự trung thành của cả hai. Đó là một thử thách về nền tảng mà trên đó hôn nhân đã được xây dựng. Nếu người vợ lấy chồng vì lý do bảo đảm kinh tế, dĩ nhiên sự mất thu nhập cũng làm mất nền tảng mà trên đó hôn nhân được xây cất. Trái lại, nếu họ có cảm giác thuộc về, sự khó khăn sẽ làm mạnh thêm cảm giác đó. Dưới những điều kiện khó khăn, nhiều đụng độ nho nhỏ thường có hại cho sự cảm thông hỗ tương sẽ biến mất. Tai họa thật không có chỗ cho việc quan tâm đến thể diện cá nhân. Mọi ước muốn cho cuộc sống được tốt đẹp hơn, hay mọi sợ hãi mang nhiều mặc cảm đều mất ý nghĩa khi sự sống còn bị đe dọa về mặt thể lý, kinh tế, hay xã hội. Các bà trước đây quan tâm về giải trí, dáng vẻ bên ngoài, và sự giàu sang lại trở thành những người bạn đồng hành thật với chồng mình, và họ sẵn sàng hy sinh sự thoải mái để giúp đỡ chồng, ngay cả dấn thân đi làm để cung ứng sự nâng đỡ về kinh tế. Nhiều cặp dưới những trường hợp như thế đã khám phá ra những tính chất và những đặc nét đáng yêu trong nhau mà họ không bao giờ nhìn thấy trước đây

Tuy nhiên, cũng không thể chối từ những khủng hoảng về kinh tế thường là nền tảng ngay tức khắc cho sự sụp đổ hôn nhân. Nhưng kinh nghiệm dạy cho chúng ta: hãy nhìn xa hơn những xung đột có tính cách tức thời để đi tìm những lý do đằng sau đó. Như chúng ta đã nói trước đây, có thể việc thiết lập nền tảng của hôn nhân như thế không đủ để chịu đựng bất cứ một sự căng thẳng nào, hoặc đã bị xoi mòn bỡi những xung đột trước đến nỗi chỉ một chút nặng nhọc thêm vào cũng đủ làm tan vỡ tất cả. Chúng ta phải xem xét đằng sau bất cứ sự sụp đổ hôn nhân nào, bấy giờ chúng ta sẽ khám phá ra và rất có thể đây là nguyên nhân sâu xa: quá nhấn mạnh đến thể diện, danh tiếng cá nhân. Bằng cách nào khủng hoảng kinh tế ảnh hưởng đến thể diện cá nhân? Để hiểu vấn đề nầy, chúng ta phải nhận ra nguồn gốc sâu xa của nhiều bất hòa trong hôn nhân mà xem ra có nền tảng bắt nguồn từ những khủng hoảng về kinh tế.

NGƯỜI ĐÀN ÔNG NHƯ MỘT NGƯỜI CUNG CẤP

Quan niệm hiện hành của các ông cũng như các bà đối với vấn đề kinh tế có một màu sắc đặc biệt. Nhiều bà xem giá trị của họ được đánh giá trong từ ngữ của đồng đô la mà một người đàn ông cần phải chi tiêu cho họ với tư cách là một người vợ hay một người bồ. Chính vì thế, sự khủng hoảng về kinh tế của người chồng được coi như một sự tổn thương không thể chấp nhận được về phương diện xã hội. Bất cứ một người đàn ông nào dám đe dọa tình trạng xã hội của nàng phải chịu nhiều rắc rối bỡi sự giận dữ và thất sủng của nàng. Trên căn bản nầy, những cuộc cãi cọ và tố cáo lẫn nhau bắt đầu. Mặt khác, đàn ông thường coi vị thế của họ liên kết với tiền họ làm ra. Quan niệm rất thông thường là: bất cứ người đàn ông nào không kiếm ra tiền thì được xem là thất bại. Không có công ăn việc làm đối với đàn ông khó chấp nhận hơn là đối với các bà. Mặc cảm thất nghiệp bỡi thiếu khả năng của người đàn ông mất việc làm tăng sự căng thẳng trong việc chiến đấu cho sự bảo vệ thể diện cá nhân trong gia đình và làm rối loạn sự quân bình trong hôn nhân.

Nếu người chồng không thể nâng đỡ gia đình một cách thích hợp, cần phải có can đảm nhiều cũng như cần có một cảm giác sâu xa về phẩm giá đối với cả hai bên để giữ được sự hài hòa trong hôn nhân. Người vợ có khuynh hướng nhìn khuyết điểm của chồng như là một hành động xúc phạm cá nhân, thường cắt nghĩa sự không làm ra tiền là một sự sao nhãng bổn phận đối với vợ và gia đình. Người chồng về phía mình, cảm thấy sự bất lực của mình một cách đau đớn ngay dù ông muốn cố che giấu sự tủi nhục. Nhưng những hành động của ông cho thấy rõ ràng những cố gắng vô ích để đền bù cho sự thất bại bị lên án của ông. Ông có thể phản đối một cách tích cực hay thụ động bằng cách ở trên giường và chối từ bất cứ loại đóng góp nào về phía bên ông; hoặc ông có thể đóng vai bạo chúa đòi hỏi và ra lệnh những phần tử khác trong gia đình. Bà vợ thường không hiểu tại sao ông lại cư xử như vậy, và sự giận dữ của nàng tăng lên khi ông ngày càng ít muốn giúp việc nhà. Nàng nghĩ rằng chàng có bổn phận gánh vác những trách nhiệm trong nhà nếu chàng không đi làm. Nàng không nhận ra rằng quan niệm của chàng về công việc nhà được xem như là của các bà, và vì thế mặc cảm đó càng làm cho chàng cảm thấy xấu hổ. Sự chán nản đó càng đẩy chàng chìm sâu hơn trong sự chống đối và thất vọng.

Nếu các ông được huấn luyện xem công việc nhà không là của các bà, và các bà xem việc nuôi sống gia đình không hoàn toàn là của các ông, bấy giờ sự thất nghiệp của ông chồng khó tạo nên sự khủng hoảng. Đối với những người có nghề nghiệp chuyên môn thì cuộc sống lại là một cái gì khác nữa, vì ở đó vai trò quan trọng của người chồng như là một nghệ sĩ, văn sĩ, ca sĩ, luật sư, nghệ thuật gia, hay khoa học gia ít tùy thuộc trên số tiền họ kiếm được. Trong những lãnh vực như thế, một người có thể có địa vị chuyên môn nhưng vẫn nghèo, và người vợ có thể hảnh diện về chồng ngay cả dẫu nàng nâng đỡ cuộc sống của chàng. Nhưng nếu các bà thuộc nhóm người có quan niệm rằng chỉ những người đàn ông là có bổn phận chính trong việc nuôi sống gia đình, chắc chắn không tránh khỏi việc coi thường những người đàn ông thất nghiệp.

Những thay đổi trong quan niệm về người đàn ông như là một nguồn cung cấp duy nhất dẫn đến những khó khăn mới trong chiều hướng khác. Nhiều ông giận dữ vì các bà ước muốn đi làm bên ngoài để kiếm tiền. Họ coi điều đó là một sỉ nhục nếu để bà vợ đi làm. Thật ra, đó chỉ là một sự tranh chấp cho quyền tối thượng và thể diện của họ. Khắc phục một trở ngại như thế thì không dễ đối với một người đàn bà muốn đóng góp một chút gì cho xã hội và cho gia đình. Chiến tranh hoặc nhường nhịn cả hai đều không mang lại lợi ích gì. Chiến tranh có thể dẫn đến sự sụp đổ của những ràng buộc hôn nhân. Ngay cả khi nàng thắng, chàng sẽ tiếp tục hận thù sự thành công của nàng, và trong vài trường hợp chàng có thể trở nên thất vọng trong việc cạnh tranh với nàng đến nỗi sự thích nghi cuộc sống của chàng cũng bị tổn thương. Nhưng nếu đầu hàng, sự đầu hàng của nàng có thể đưa đến một sự giận dữ và sẽ đưa nàng đến một đời sống trống rỗng và bất hạnh, hoặc đưa đến một sự độc lập xem ra vô vị không cần thiết.

Cuộc đụng độ giữa hai người phối ngẫu không làm cản trở một sự đồng ý có thể đạt được trong thế quân bình hoàn toàn mãn nguyện. Nhiều bà có khả năng và ước muốn đi làm, đã tự nguyện tước bỏ điều đó vì họ nhận thấy thật là phiền toái và rắc rối biết bao cho sự hạnh phúc của hôn nhân họ nếu họ ra đi làm. Tuy nhiên, một sự quyết định như thế không thể được xem như là đầu hàng. Điều đó được làm một cách hữu ý trong sự ý thức hoàn toàn về những lợi ích đạt được. Nhưng nếu người đàn bà thật lòng thích thú một công việc nào đó và nhất định làm, sự nhân nhượng trước những đe dọa hoặc khủng bố sẽ không giải quyết vấn đề. Nàng nên tìm cách giữ hôn nhân của nàng phù hợp với sự phát triển một nghề nghiệp. Điều nầy đòi hỏi khả năng thuyết phục được sự chấp nhận của người chồng. Cãi cọ và nước mắt, đe dọa và tố cáo chỉ gây hận thù mà thôi. Đàn bà can đảm dấn thân vào một nghề nghiệp có thể khéo léo và mạnh đủ để thuyết phục người chồng rằng chàng không mất gì cả ngay cả ưu thế của người đàn ông, nếu nàng tìm được lãnh vực riêng của nàng để hoạt động.

Không kể sự xung khắc được tạo nên bỡi sự không cung cấp của người chồng hay bỡi ước muốn trở nên người cung cấp duy nhất, những nguyên tắc trên đây có giá trị và cần phải được giữ lấy nếu không muốn tai họa xảy đến. Trước nhất, người vợ phải nhận ra khủng hoảng của người chồng và giúp chàng giải quyết vấn đề. Chàng cần sự khích lệ ngay cả khi chàng cố gắng đóng vai bạo chúa. Người chồng ngăn cản người vợ không cho đi làm cho thấy sự thất vọng của chàng cũng như cho thấy rằng chàng lo sợ sẽ không thể giữ được thế thượng tôn. Cho chàng thấy chàng sai biết bao trong việc đòi hỏi quá mức của chàng là giúp chàng nhận thức được sự hy sinh và tận hiến quá nhiều của nàng. Bất cứ khi nào những vấn đề về thể diện, mất tin tưởng, hoặc thiếu sự trung thành nổi lên, hãy nhớ rằng những tranh cãi hay lý luận chẳng mang lại lợi ích gì. Sự nhục mạ không thể tránh được nếu mình đi mạ lỵ người khác. Bày tỏ tình cảm chân thành hay chứng tỏ tình yêu sẽ làm tăng cường cảm giác thuộc về và chuẩn bị cho một sự thõa thuận giữa hai ngưòi với nhau. Trong bầu khí tin tưởng chân thành, những vấn đề mâu thuẫn nhất cũng có thể được giải quyết một cách tốt đẹp. Dĩ nhiên, một người vợ không tin rằng người chồng sẽ đồng ý, cũng không tin rằng bà có thể làm cho người chồng bà hiểu được quan điểm của bà, chỉ chuẩn bị cho sự giao chiến và sự thất vọng mà thôi.

Lm Lê Văn Quảng Psy.D.

VỀ MỤC LỤC
TIẾN TRÌNH VÀ NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ CUỐI CÙNG VÀ GỌI CHỊU CHỨC

 

[BẢN THẢO]

LINH MỤC GIÁO PHẬN SỐNG TU ĐỨC TOÀN DIỆN

TRONG BỐI CẢNH THỰC TẾ CỦA GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HÔM NAY

Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss

 

CHƯƠNG HAI  

ỨNG SINH LINH MỤC GIÁO PHẬN

CỦNG CỐ NHỮNG BƯỚC ĐẦU PHÂN ĐỊNH VÀ SỐNG ƠN GỌI

C. KỸ NĂNG CHUYÊN BIỆT: LINH HƯỚNG

(tiếp theo)

C.viii.  TIẾN TRÌNH VÀ NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ CUỐI CÙNG VÀ GỌI CHỊU CHỨC 

Họ phải được thử thách trước đã, rồi mới được thi hành chức vụ…” ( 1 Tm 3: 10)

 

Việc đào tạo linh mục phải theo tiến trình bốn chiều kích căn bản: nhân bản, thiêng liêng, tri thức và mục vụ. Việc đào tạo này nhằm giúp ứng sinh trưởng thành và cung cấp một đánh giá xác thực và hữu ích cho việc Đấng Bản Quyền gọi ứng sinh lên chịu chức linh mục.

 

Mục đích của việc Hội đồng Chủng viện nhận xét hàng năm là để giúp ứng sinh tự suy nghĩ và đánh giá, nhờ đó, trong cái nhìn xác thực về đời mình, anh có thể thấy những gì cần phải thay đổi và lên kế hoạch cụ thể để việc thay đổi ấy được hiệu quả.

 

Đức Gioan Phaolô II đề cao: Tính thích hợp của ứng sinh, trên hết, nhắm đến tinh thần cầu nguyện, sự thấm nhuần sâu xa giáo lý đức tin, khả năng sống tình huynh đệ và khả năng sống đời độc thân linh mục. Vì thế, bên cạnh các nhận xét của ban đào tạo, người ta cũng mong muốn có sự tham khảo các bạn đồng môn, và những người ứng sinh thi hành sứ vụ (tham khảo thôi, chứ không có giá trị quyết định). Mọi người phải tôn trọng chặt chẽ phận vụ của toà trong và toà ngoài. Các giá trị và kỹ năng đánh giá dựa trên giáo huấn của Hội Thánh và chương trình đào tạo của Chủng viện.

 

Hội đồng Chủng viện và tất cả các nhà đào tạo cố gắng hiểu biết đầy đủ về từng ứng sinh để giáo dục anh và giúp anh phát huy nỗ lực tự đào tạo của anh. Các ngài góp phần vào công việc chung của Giáo Hội bằng việc đánh giá cuối cùng và giới thiệu ứng sinh lên chịu chức linh mục.

 

            Việc đánh giá này nhấn mạnh những lãnh vực chủ yếu:

-         Trưởng thành toàn diện: thể lý cũng như tâm lý, tình cảm;

-         Trưởng thành thiêng liêng được diễn tả bởi cam kết dấn thân cầu nguyện và sống mật thiết với Chúa Kitô, siêng năng lãnh nhận các bí tích;

-         Hiểu biết đầy đủ về chức linh mục và chấp nhận giáo huấn của Hội Thánh về đức tin và luân lý;

-         Sẵn sàng chấp nhận cuộc sống bất định của kẻ được sai đi (tới nơi không muốn, ở với người không ưa và làm việc không thích);

-         Sẵn sàng chấp nhận trách nhiệm tiếp tục được đào tạo và tự đào tạo;

-         v.v...

 

Khoa tâm lý giáo dục đương thời cung cấp nhiều kỹ thuật để đánh giá cách thích hợp hơn sự phát triển thực sự của ứng sinh.

 

Vì bí mật của việc linh hướng, vị linh hướng bị ràng buộc bởi toà trong và do đó, không được bàn cãi khi đánh giá và nhận xét về tính thích hợp của ứng sinh trong việc chịu chức. Còn các vị khác đã tương tác làm việc với ứng sinh cách công khai ở toà ngoài  buộc tham dự tiến trình đánh giá này: không những cho biết thái độ ứng xử bên ngoài của ứng sinh (những gì anh nói và làm, cũng như đạt được những kiến thức đòi hỏi), mà còn đánh giá tính thích hợp của việc anh chịu chức linh mục, vì đó là trách nhiệm đã được trao phó cho các ngài.

 

Là những thừa tác viên hợp luật của Hội Thánh được trao trách nhiệm phán đoán tính thích hợp của các ứng sinh, Hội đồng chủng viện bỏ phiếu trong buổi đánh giá cuối cùng. Phiếu bầu có nhiều loại: khẳng định, khẳng định có ghi chú, tiêu cực và loại. Khẳng định có ghi chú nghĩa là còn có khiếm khuyết cần phải sửa chữa và trau dồi thêm, nghĩa là bị dừng lại chưa cho chịu chức. Nếu là phiếu loại thì nên giải thích đầy đủ. Nên nhắm giáo dục hơn là loại bỏ: Mỗi vị thánh đều có một quá khứ, và mỗi tội nhân đều có một tương lai. Giáo dục nhắm biến đổi người xấu thành người tốt và người tốt thành người tốt hơn, phó thác cho quyền năng của ơn Chúa. Đối với con người thì không thể, nhưng với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể.

 

Các ứng sinh cũng phải được biết về những lầm lỗi của mình, đặc biệt là những lầm lỗi quan trọng; được phép giải thích và biện hộ lý do của mình (x. Cv 25,16); cũng cần có thời gian và cơ hội để thực hiện sự hoán cải cần thiết. Đây là mệnh lệnh của Tin Mừng đối với việc tha thứ và biến đổi. Điều mà tổ tiên người Việt Nam quan tâm là “làm người, không ai thoát khỏi lầm lỗi; có lầm lỗi thì phải sửa mình; và khi đã sửa rồi thì không còn lầm lỗi nữa.”

 

Tin Mừng chứng tỏ nhiều tội nhân trở thành thánh nhân nhờ sự trợ giúp quyền năng của ân sủng Thiên Chúa (Ga 8,7). Đây là tình yêu thương xót của Chúa (Mt 9,12-13). Trên thực tế, những người đã hoán cải mà có lòng khiêm tốn còn tốt hơn những ai không hề có lỗi lầm nào đáng kể, mà mắc phải chứng kiêu hãnh và tự phụ.

 

Mọi nỗ lực và sự quan tâm đặc biệt đối với việc đào tạo là nhằm cung cấp cho các ứng sinh những phương tiện để biện phân ơn gọi của mình, để họ thu thập được kiến thức, thái độ và những kỹ năng cần thiết cho một linh mục tốt, trong niềm tin tưởng rằng Thiên Chúa sẽ hoàn tất công việc quan trọng này của Hội Thánh bằng những ơn huệ của Chúa Thánh Thần.

 

Nhưng trong sự cảm thông với Giáo Hội, việc đánh giá không dừng lại ở đó, mà còn quan tâm đến các khuynh hướng đặc biệt, những khả năng và đức tính của ứng sinh nữa, ngõ hầu giúp Bề Trên “dùng” và bổ nhiệm anh phù hợp với các ân huệ Chúa ban cho anh và các nhu cầu của Giáo Hội địa phương. Ban đào tạo cũng có thể gợi ý và đề nghị cho phép một số ứng sinh đẩy xa việc học hơn nữa hầu có thể cống hiến cho Giáo Hội những nhà đào tạo tương lai bén nhạy với các nhu cầu thiêng liêng hiện nay, bởi vì không phải bất cứ ai cũng có thể trở thành nhà đào tạo, nhất là linh hướng. Đây là sự chuẩn bị nhân sự thích hợp. Vì sự sống còn và phát triển Giáo Hội, Bề Trên nên chọn những linh mục ưu tú để được huấn luyện thành các nhà đào tạo tương lai. Ai được chọn thì phải sẵn sàng “trả lại” cả vốn lẫn lãi nén bạc Chúa đã trao cho.

  

C.IX. Ứng Sinh Không Thích HỢp

(Hát Chúa cất tiếng gọi con)

 

Trong việc biện phân ơn gọi của một ứng sinh, phải phân biệt hai yếu tố lòng ước muốn và tính thích hợp. Lòng ước muốn thuộc bình diện tình cảm, trong khi sự thích hợp đòi hỏi phẩm chất và khả năng. Một thanh niên có thể rất muốn trở thành linh mục, nhưng anh lại không đủ phẩm chất và khả năng khiến anh có thể làm một linh mục xứng đáng. Vì thế, toà ngoài phải phán đoán tính thích hợp này, ngõ hầu đón nhận hay từ chối một ứng sinh.

 

Còn ở toà trong, lòng ước muốn phải được vị linh hướng xét xem có phù hợp với ước muốn của Chúa Thánh Thần không. Việc này giao phó ứng sinh cho hoạt động của Chúa Thánh Thần, và sự tiếp nhận lắng nghe những gì được nói với anh ở toà ngoài. Toà ngoài cũng phải tìm biết những dấu chỉ của hoạt động của Chúa Thánh Thần trong đời sống của ứng sinh.

 

Ứng sinh nào bị phát hiện là không thích hợp, vì khiếm khuyết thể lý, quân bình tâm lý hay luân lý, thì nên nhanh chóng đưa anh ra khỏi con đường theo đuổi ơn gọi. Cả hai phía, các nhà đào tạo và ứng sinh, không được phép nuôi dưỡng những hy vọng hảo huyền và những ảo tưởng nguy hiểm. Cũng không ai được tự phụ rằng ơn thánh sẽ thay thế cho những khiếm khuyết tự nhiên.

 

Tuy nhiên, người ta sẽ cho ứng sinh không thích hợp ra đi một cách tôn trọng, bằng cách nhấn mạnh về sự không thích hợp với đời sống và sứ vụ linh mục hơn là những khiếm khuyết hay lỗi lầm, làm tổn thương nhân phẩm và danh dự của họ. Các cựu ứng sinh nầy cũng là kho tàng của Giáo Hội, họ sẽ hỗ trợ, cộng tác vào công cuộc đào tạo các ứng sinh cách này hay cách khác.

 

Không phải tất cả những ai vào Chủng viện đều nhất thiết trở thành linh mục: Chúa gọi thì nhiều, nhưng chọn thì ít. Người nào không thích hợp với đời sống linh mục sẽ được gợi ý cho một cuộc sống mới, trong niềm tin tưởng rằng Chúa sẽ dùng anh cách tốt đẹp cho lợi ích của Giáo Hội, đền đáp những gì anh đã lãnh nhận từ Chúa và Giáo Hội của Ngài, qua những năm tháng được đào tạo trong Chủng viện. Hãy tạo cơ hội cho họ góp phần cách tích cực và hữu hiệu vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội, về nhân lực cũng như vật lực.

 

Vậy vấn đề quan trọng là giúp ứng sinh CHỌN LỰA LÀM SAO CHO ĐÚNG con đường ơn gọi của mình? Có thể nói một cách chính xác là cả ứng sinh lẫn các nhà đào tạo đều phải xem xét từng ứng sinh có thực sự thích và hợp với chức vụ và đời sống linh mục không.

 

Trong bất cứ chọn lựa nào cho suốt cuộc đời, chúng ta phải làm nổi bật hai yếu tố quan trọng THÍCH và HỢP. Thích là ý muốn chủ quan nói lên hứng thú và nguyện vọng, ước mơ. Hợp là yêu cầu khách quan đòi hỏi năng lực và phẩm chất, để có thể theo đuổi suốt cuộc đời lựa chọn hôm nay. Nhưng Thích và Hợp có những mức độ khác nhau liên quan đến chọn lựa của ta, được mô tả như sau: 

 

Th   Thích/Hợp

Không thích

Thích ít

Thích vừa

Rất thích

Không hợp

1

2

3

4

Tg đối hợp

5

6

7

8

Rất hợp

9

10

11

12

           

 

Các ô từ 1-12 biểu thị các mức độ thích và hợp, đồng thời xác định sự lựa chọn:

-         Nếu vô tình hay buộc lòng chọn các ô 1 2 3 4 5 6 và 9 thì đó là quyết định sai lầm có ảnh hưởng xấu đến tương lai cuộc đời.

-         Nếu phải chấp nhận số 7 và 10 thì chọn lựa đó có thể được với nỗ lực bản thân rất lớn.       

-         Chọn số 8 và 11 là chọn lựa tương đối ổn định, có khả năng hoàn thiện với cố gắng liên lĩ. Đa số ở vào trường hợp này.

-         Chọn số 12 là chọn lựa lý tưởng. 

            Tóm lại:

            -  Nếu chỉ thích mà không hợp là không tốt, đừng chọn.

            -  Nếu chỉ hợp mà không thích thì không hay, đừng chọn.

            - Chỉ chọn cái ta thích và hợp với ta. Đó là một quyết định không lầm lẫn. 

Vấn đề quan trọng là xác định thế nào là thích và hợp?

Thích thuộc lãnh vực tình cảm. Có những sở thích nhất thời, không ổn định, theo phong trào: đừng nghĩ đó là hứng thú có thật hay một khát vọng đã được tôi luyện qua nhiều năm tháng, có khả năng kích thích và thôi thúc thực hiện bền bĩ. 

Hợp thuộc lãnh vực phẩm chất và năng lực. Cần phải biết chính mình, xem phẩm chất và năng lực của mình có phù hợp với con đường mình muốn dấn thân vào không? Tự mình có thể ngộ nhận, nên ta cần có sự giúp đỡ chuyên môn của khải đạo, linh hướng, cố vấn tâm lý, trắc nghiệm hướng nghiệp…

  

C. X. NHỮNG NGUYÊN TẮC KHI CẦN THAY ĐỔI VỊ LINH HƯỚNG         

Có thể xảy ra trường hợp thiếu hoặc mất tín nhiệm, thì “việc thay đổi linh hướng là luôn có thể và đôi khi đáng ao ước nữa.” Ứng sinh có thể đề nghị trước. Đôi khi, vị linh hướng sẽ yêu cầu ứng sinh đi linh hướng với người khác, bởi vì ngài nghĩ rằng ngài sẽ không thể tiếp tục trách nhiệm ấy nữa.”

 

Vì lợi ích của người thụ hướng, những nguyên tắc sau đây giúp anh phân định xem có nên tiếp tục hay không gặp một vị linh hướng cá biệt. Anh thẳng thắn xem xét các động lực khiến anh muốn thay đổi vị linh hướng của anh:

-   Có phải do mâu thuẫn cá nhân?

-   Có phải anh muốn thoát khỏi bị thách đố?

-   Có phải anh đang phóng chiếu những tính tiêu cực như hách dịch, vô cảm, thiếu thông cảm và hiểu biết lên vị linh hướng của anh?

-   Có những mong đợi không thực tiễn chăng?

-   Có phải vì vị linh hướng từ chối cung cấp thêm ảo tưởng cho anh?

-   Anh cần tranh luận với vị linh hướng về những khó khăn mà anh đang trải nghiệm trong giao tế?

-   Anh có tiếp tục nhận được ích lợi thiêng liêng từ việc hướng dẫn này không?

-   Có vị linh hướng khác mà anh bị lôi cuốn chăng?

-   Đâu là những lý do khác nữa?

 

Người thụ hướng cần phải có đủ thời gian để suy nghĩ về toàn bộ vấn đề trước khi đưa ra một quyết định. Anh không nên vội vả, nhưng nên bàn hỏi vấn đề này với một người trung lập.

-   Có phải đó là sự chấm dứt tự nhiên, vì sự hướng dẫn tìm kiếm đã được thực hiện?

-   Liệu đây có phải là thời gian để thay đổi vì hoàn cảnh của anh hay của vị linh hướng, hoặc của cả hai? Do thay đổi sự bổ nhiệm, chuyển sang giai đoạn huấn luyện khác? Hay còn những việc khác xem ra gặp phải trên đường tương quan linh hướng như: lòng tín nhiệm, hấp dẫn giới tính, đổ vỡ giá trị?

 

    C.XI. VỊ LINH HƯỚNG TỐT 

    C.XI.1 Các Đức Tính của vị  Linh Hướng Tốt

Theo Mẹ Têrêsa Avila, một vị linh hướng tốt phải được đào tạo kỹ lưỡng và thành thạo, với nền đào tạo vững chắc về thần học và kinh nghiệm cầu nguyện cao (cầu nguyện yên tĩnh, cầu nguyện nhiệm hiệp), bởi vì mẹ đã phải đau khổ rất nhiều trong tay những người học hành nửa vời.

 

Vị linh hướng phải có kiến thức vững chắc về thần học, về linh đạo và về Kinh Thánh, một ít hiểu biết căn bản về kỹ năng tư vấn, quen thuộc các vấn đề tâm lý và tâm thần. Vị linh hướng nên có cái nhìn quân bình trong kinh nghiệm cầu nguyện và ý thức rằng chán nản trong cầu nguyện là có thể có, đồng thời nên biết phân biệt các an ủi và chán nản từ các kinh nghiệm đích thực về Chúa.

 

Vị linh hướng cũng nên quan tâm thực sự về cảm nhận bình an thoải mái của người thụ hướng. Thánh Gioan Thánh Giá nhấn mạnh rằng vị linh hướng phải giúp người thụ hướng lắng nghe Chúa Thánh Thần, Đấng là người hướng dẫn chính đang làm việc nơi người thụ hướng. Chính Thần Khí Chúa Giêsu là trung tâm của đời sống thiêng liêng và của việc linh hướng.

 

Vị linh hướng thành thạo giúp người thụ hướng cởi mở hoàn toàn cho hoạt động bên trong của Chúa, sẵn sàng thay đổi ý kiến và cuộc sống. Vị linh hướng phải ngoan ngoãn nghe theo những gì Chúa Thánh Thần đang làm nơi người thụ hướng, hầu có thể khẳng định và xác nhận việc Chúa Thánh Thần làm đó.

 

Vị linh hướng dạy cho người thụ hướng làm sao áp dụng Lời Chúa vào hoàn cảnh cụ thể và đặc biệt của cuộc sống mỗi ngày; đồng thời biết quan tâm đến những gì Thiên Chúa nghĩ hơn là những gì con người nghĩ. Thiên Chúa có thể hành động trực tiếp, nhưng Ngài thích dạy con người qua con người hơn, chẳng hạn như trường hợp Saolô ngã ngựa (x. Cv 9, 1-19).

 

Thánh Gioan Thánh giá đồng quan điểm với thánh Têrêsa Avila rằng vị linh hướng cần được đào tạo, nhạy cảm, tín cẩn, có kinh nghiệm trong đời sống cầu nguyện và kiến thức chắc chắn về tâm lý thực hành.

 

Tóm lại, những đức tính của một vị linh hướng tốt là:

-         Một con người có trí phán đoán lành mạnh và lương tri tốt,

-         đủ tự tin để khơi dậy lòng tín nhiệm nơi người khác.

-         kinh nghiệm Thần Khí và mở rộng kinh nghiệm ấy qua việc quan sát kinh nghiệm của người thụ hướng.

-         khiêm tốn tập việc dưới sự hướng dẫn của người có kỹ năng.

-         có sự trưởng thành cá nhân trong cầu nguyện và xác tín tầm quan trọng của cầu nguyện.

-         luôn luôn cập nhận hoá việc học với tinh thần cầu tiến.

-         sẵn sàng chất vấn và cũng sẵn sàng để được chất vấn.

-         có khả năng khích lệ và thúc đẩy người thụ hướng.

-         biết chăm chú lắng nghe với lòng thiện cảm, khiêm tốn và yêu thương.

-         có khả năng sống thành thật với chính mình và với người khác, với khả năng gây tín nhiệm nơi người thụ hướng.

 

C.XI.2. Những gì vị Linh Hướng Tốt phải tránh

·    Vị linh hướng tốt không áp đặt giá trị lên người thụ hướng, nhưng phải rõ ràng với những giá trị quan trọng. Ngài nhắc lại những giá trị ấy, nhưng để người thụ hướng tự do, ngõ hầu anh có thể chọn lựa một giá trị cho mình cách tự do.

·    Vị linh hướng tốt không gài bẫy người thụ hướng, nhưng rất thẳng thắn với anh. Vị linh hướng tốt không cố trở thành người giải quyết vấn đề.

·    Vị linh hướng tốt không bắt người thụ hướng phải chịu thẩm vấn. Vị linh hướng tốt không cố chứng minh điều gì đó với người thụ hướng mà ngài biết rằng anh không sẵn sàng chấp nhận vào lúc đó.

·    Vị linh hướng tốt không sợ thinh lặng, bởi vì thoải mái thinh lặng chứng tỏ rằng mình đang cảm thấy dễ chịu.

·    Vị linh hướng tốt không nhắm đến mục đích cứng nhắc: “Tôi muốn hướng dẫn anh và đưa anh phải đi lối này.”

·    Vị linh hướng tốt không quá bộc lộ tình cảm hoặc lạnh lùng như người vô cảm.

·    Vị linh hướng tốt không vội vàng chỉnh sửa tất cả những quan niệm sai lầm của người thụ hướng ngay lập tức. Vị linh hướng tốt không lên án người thụ hướng.

·    Vị linh hướng tốt không lợi dụng người khác để thỏa mãn nhu cầu của riêng mình. Vị linh hướng tốt không kỳ vọng quá nhiều việc ngay một lần.

·    Vị linh hướng tốt không bảo đảm cho người thụ hướng cách quá nhanh chóng, vì thái độ này làm cho anh bị lệ thuộc.

·    Vị linh hướng tốt không vội vã trả lời những vấn nạn của người thụ hướng. Vị linh hướng tốt đôi khi nên gửi trả lại câu hỏi: “Đây là một câu hỏi hay.”

 

C.XI.3 Những gì vị Linh Hướng Tốt phải làm

·    Vị linh hướng tốt phải lắng nghe người thụ hướng, để cho anh cơ hội thấu hiểu kinh nghiệm của chính anh.

·    Vị linh hướng tốt cùng người thụ hướng lắng nghe lời mang tính hiện sinh, ngôn sứ và thời sự của Chúa.

·    Vị linh hướng tốt chuẩn bị đất cho một cam kết hoàn toàn tự do, hoặc tái cam kết với giá trị và ý nghĩa của toàn bộ đời sống của người thụ hướng, hầu kiến tạo căn tính cá biệt của một con người, nhờ sự trung thành có tính cách sáng tạo.

·    Vị linh hướng tốt phải ý thức rằng một quyết định của một đời người phải được thực hiện trong lúc tự do.

·    Vị linh hướng tốt ý thức rằng lối sống và cách giải thích kinh nghiệm của một con người phải được kiểm chứng bởi những kinh nghiệm lặp đi lặp lại được giải thích và đánh giá cùng với nhau.


[1] x. Phương pháp nguyện gẫm Xuân Bích.

VỀ MỤC LỤC
CƯ XỬ VỚI VỢ NHƯ MỘT NGƯỜI CHỒNG TỐT

 

Tác phẩm: Cẩm  Nang  Hạnh  Phúc Gia  Đình  Kitô - MỤC VỤ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Tác giả: D. WAHRHEIT (Lm. Minh Anh, GP. Huế tổng hợp biên tập)

A15. CƯ XỬ VỚI VỢ NHƯ MỘT NGƯỜI CHỒNG TỐT

Chuyện hy hữu xảy ra tại Hoa Kỳ:

Có một người đàn bà không chấp nhận ngủ cạnh một người chồng có đôi bàn chân lạnh. Người chồng phải đi làm ca đêm, gần sáng ông về nhà, lên giường nằm bên cạnh vợ với đôi bàn chân lạnh ngắt. Người vợ không chịu được cho nên một đêm nọ bà ta đá chồng té xuống khỏi giường. Kết quả là người chồng bị gãy một cánh tay, ông ta đưa vợ ra tòa và xin ly dị. Dĩ nhiên tòa chấp nhận cho ly dị nhưng qui lỗi cho người đàn ông bởi vì theo luật pháp Hoa Kỳ, người đàn bà có quyền quyết định ai được phép ngủ với mình trên một giường.

Những người đàn ông theo dõi câu chuyện hẳn phải nghĩ rằng: người vợ trên đây là người đàn bà quá khó tính. Nhưng có lẽ ông chồng trong câu chuyện cũng phải tự vấn xem mình đã cư xử với vợ như một người chồng tốt chưa. Khi người vợ trẻ trở nên khó tính và bất thường, thiết tưởng thay vì trách móc, người chồng nên tự xét mình; cũng có thể sự thay đổi tính khí của người vợ là do những thiếu sót của người đàn ông tạo nên. Hãy tự xét mình, đó là điều mà một lần nữa chúng tôi xin phép đề nghị với những người chồng trẻ.

1. Những mối tội đầu, những thiếu sót mà người đàn ông cần phải xét đến trước tiên. Đó là tính ích kỷ, thay đổi bất thường, tự phụ và thiếu óc khôi hài. Những thiếu sót ấy người vợ khó mà tha thứ được.

Không gì làm thất vọng cho bằng phải sống bên người đàn ông chỉ biết nghĩ đến mình. Không gì làm mất hứng khởi cho bằng phải sống bên cạnh người đàn ông tính khí bất thường. Không gì tủi nhục cho bằng phải sống bên cạnh người đàn ông huênh hoang tự phụ. Và dĩ nhiên, không gì nhàm chán cho bằng sống bên cạnh người đàn ông không biết cười và cũng không biết làm cho người khác cười. Đó là những mối tội đầu trong đời sống vợ chồng.

Có những thiếu sót khác, tuy không ảnh hưởng trầm trọng tới mối tương giao vợ chồng nhưng sẽ làm cho người đàn ông thành một người bạn đường tầm thường. Trước hết là những lời nói tục tằn và những cử chỉ thô bạo. Chắc chắn không có người vợ nào ưa thích và đề cao mẫu người đàn ông như thế. Thứ đến, sự chểnh mảng trong cách ăn mặc. Cho rằng, phục sức lịch sự là chuyện riêng của người đàn bà là một sai lầm lớn. Lịch sự trong cách ăn mặc là một đòi hỏi của tình yêu. Ăn mặc lịch sự là thể hiện sự tôn trọng đối với mọi người, nhất là đối với người mình yêu.

2. Một khuyết điểm khác mà người ta cũng thường thấy nơi nhiều người chồng, đó là thiếu tinh thần kỷ luật và trật tự trong gia đình. Họ vất bừa bãi các đồ vật trong nhà, họ không đúng giờ khi có hẹn. Ngược lại với sự bừa bãi, là tính quá tỉ mỉ, khiến cho những người chung quanh không thấy thoải mái khi đến gần.

Bên cạnh những khuyết điểm ấy, người chồng còn có thể làm cho bầu khí gia đình trở nên nặng nề hơn nếu ông là một người khép kín, ít nói, nhất là đối với vợ. Sự dè dặt cẩn trọng quá đáng của người chồng dễ làm cho người vợ thiếu tự tin. Tính thiếu cởi mở của người chồng sẽ gây ra sự nghi ngờ nơi người vợ và từ đó biến bầu khí gia đình trở nên nặng nề.

Có những điều mà người chồng nên tránh. Tránh nói ngược lại với vợ trước mặt con cái hay người khác, tránh trút xuống trên vợ những lo âu và gánh nặng của công việc riêng của mình, tránh nhai lại những lầm lẫn trong quá khứ của vợ, và nhất là tránh nói đến gia đình thấp kém của vợ, tránh nhắc đến sự quan tâm mà mình dành cho một người đàn bà khác.

3. Người chồng nên nhớ, “nhân vô thập toàn”. Người vợ không phải là một người đàn bà hoàn hảo. Có những khuyết điểm gắn liền với cá tính, nhưng cũng có những khuyết điểm do đời sống chung tạo nên. Người chồng cần phải chấp nhận những khuyết điểm của vợ và thích nghi, hơn là chống chọi. Thích nghi có nghĩa là đáp lại bằng cố gắng cải thiện của chính mình. Một người chồng thực tế, thay vì mất giờ để than phiền và trách móc những thiếu sót của vợ, hãy luôn chú ý đến những đức tính của vợ cũng như loại bỏ những khuyết điểm của chính mình.

Đời sống vợ chồng là một lò luyện nhân cách chung. Khuyết điểm của người này gây hại cho người khác và tính tốt của người này xây dựng cho người kia. Mỗi người phối ngẫu cần phải xác tín rằng, khuyết điểm của một người cũng là khuyết điểm chung mà họ phải chia sẻ với nhau; và đức tính tốt của một người cũng là kho tàng chung của hai người. Vì nhau mà phát huy những đức tính tốt, và vì nhau mà mỗi người chiến đấu chống lại những khuyết điểm riêng của mình. Người chồng phải luôn có cái nhìn như thế đối với những đức tính và những khuyết điểm của vợ.

4. Một văn sĩ Pháp đã viết về người đàn bà như sau: “Người ta bảo rằng, đàn bà phức tạp. Không phải thế. Họ rất đơn giản và trong suốt. Đôi cánh tay của người đàn ông giương ra là có thể ôm trọn lấy họ, một nụ hôn của người đàn ông có thể đi sâu vào tâm hồn họ. Chính những người đàn ông là những người làm cho mọi việc nên phức tạp”.

Điều mà người đàn ông bảo là phức tạp nơi người đàn bà, chẳng qua chỉ là sự bất lực của họ để hiểu được sự đơn giản nơi người đàn bà. Để hiểu được người đàn bà, có lẽ người đàn ông phải đặt mình vào địa vị của họ. Đó chính là đòi hỏi của đời sống vợ chồng. Người đàn ông không chỉ nên một với vợ trong thân xác mà còn phải cố gắng nên một với vợ trong tâm hồn. Nên một với vợ trong tâm hồn chính là thông cảm và chấp nhận những đức tính tốt cũng như những khuyết điểm của vợ.

còn tiếp

VỀ MỤC LỤC
Khoáng Chất Trong Cơ Thể

 

Trên truyền thanh truyền hình, ta thường thấy các nhà sản xuất quảng cáo là các món điểm tâm cereal của họ đã được tăng cường đầy đủ các sinh tố, khoáng chất mà cơ thể cần. Rồi những nước uống thể thao (sports drinks) cũng khoe là chứa nhiều sinh tố khoáng chất có thể giúp vận động viên biểu diễn bền bỉ, mạnh mẽ hơn.

Vậy thì các chất này là gì mà được nhấn mạnh như vậy. Chắc là quý độc giả đã quá quen thuộc với sinh tố rồi, cho nên trong bài viết sau đây, xin nói về Khoáng Chất Trong Cơ Thể. 

Trước hết, cần lưu ý sự khác biệt giữa khoáng chất (minerals) và sinh tố (vitamin), ít nhất là ở hai điểm:

- Vitamin là những chất hữu cơ có phân tử carbon do cây cỏ và động vật tạo ra còn khoáng chất là các chất vô cơ không có carbon.

- Cơ thể có thể tạo ra một vài loại sinh tố nhưng không sản xuất được một khoáng chất nào.

Khoáng chất rất cần thiết cho sự hấp thụ các loại vitamin. Dù rất quan trọng nhưng vitamin sẽ trở thành vô dụng nếu không có sự hỗ trợ của khoáng chất.  

 Khoáng chất không phải chỉ có trong thực phẩm mà còn thấy trong đất như là sắt, kẽm…Cây cỏ kết hợp khoáng từ đất vào các tế bào của chúng. Do đó, trái cây, các loại rau, hạt là nguồn cung cấp khoáng chất rất phong phú..              

Vì là chất vô cơ, cho nên khoáng chất có sức chịu đựng với nhiệt độ cao và vẫn hiện diện trong thực phẩm hoặc tế bào bị đốt cháy.

Khoáng chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển bình thường của cơ thể và cần phải được cung cấp đầy đủ từ thức ăn mà ta tiêu thụ mỗi ngày.

Tất cả các loại tế bào và dung dịch chất lỏng trong cơ thể đều chứa một số nhiều ít khoáng chất khác nhau. Khoáng chất là thành phần cấu tạo của xương, răng, tế bào mềm, cơ bắp, máu, tế bào thần kinh. Nói chung, khoáng  có vai trò quan trọng duy trì tốt tình tạng tinh thần cũng như thể chất của cơ thể.

Phân loại

Về phương diện dinh dưỡng, khoáng chất được chia ra làm hai nhóm, căn cứ theo nhu cầu của cơ thể:

- Vĩ khoáng (macromineral) hay khoáng chất đa lượng, là những chất mà cơ thể cần đến với lượng khá lớn, mỗi ngày có thể trên 250 mg. Đó là calci, phospho, sulfur, magnesium và ba chất điện phân natri, chlor và kali.

- Vi khoáng (microminerals) hay khoáng chất vi lượng tuy rất cần thiết nhưng nhu cầu không nhiều, mỗi ngày chỉ cần dưới 20 mg. Như là sắt, đồng, bạc, kẽm, crôm, magan, selen, cobalt, fluor, silic, molybden, boron...

 Khoáng chất được ruột non hấp thụ từ thực phẩm, rồi dự trữ và lưu truyền trong máu, trong các loại tế bào. Phần không dùng đến sẽ được nước tiểu loại ra ngoài.

Khi số lượng khoáng chất mang vào cơ thể quá cao và được giữ lại quá lâu thì chúng có thể gây ra một số tác hại.

Vai trò của khoáng chất

Nói chung, vai trò của khoáng chất như sau:

- Cần cho sự tăng trưởng và sự vững chắc của xương;

- Điều hòa hệ thống tim mạch, tiêu hóa và các phản ứng hóa học;

- Để làm chất xúc tác chế biến diếu tố ( enzyme);

- Là thành phần của chất đạm, chất béo trong các mô, tế bào;

- Có tác dụng phối hợp với các sinh tố, kích thích tố trong các chức năng của cơ thể;

- Giữ thăng bằng các thể dịch lỏng trong cơ thể. 

Công dụng của khoáng chất đã được người đời xưa biết tới và dùng để trị bệnh, mặc dù họ không giải thích được tại sao.

Trước Công nguyên, các thầy thuốc Trung Hoa đã khuyên bệnh nhân bướu cổ ăn rong biển (seaweed) có chứa iod. Các vị lương y Hy Lạp cho bệnh nhân thiếu máu uống nước nhúng sắt nung.

Kết quả nghiên cứu của khoa học hiện nay đã tìm ra và chứng minh được vai trò của khoáng chất. Ngoài công dụng dinh dưỡng, mỗi khoáng còn có một vai trò khác nữa trong cơ thể.

Gần đây nhiều thí nghiệm cho thấy có mối liên hệ giữa khoáng chất và các bệnh kinh niên như bệnh cao huyết áp, bệnh giòn xương, bệnh tim mạch, thậm chí cả bệnh ung thư. Do đó nhiều người đã vội vã đi mua khoáng chất dưới dạng thực phẩm phụ (food supplement) để uống. Họ tin tưởng rằng khoáng chất có thể chữa hết các chứng bệnh đó.

Trong thực tế, cơ thể không cần khoáng chất dưới dạng thực phẩm phụ và cũng không cần khoáng chất với liều lượng quá lớn (megadose). Sự tác động qua lại trong cơ thể của khoáng chất, sinh tố, các chất dinh dưỡng và nhiều chất khác, rất là phức tạp. Cho nên một lượng lớn của bất cứ một thành phần nào cũng đều gây ra sự mất cân bằng và cản trở hấp thụ bình thường các chất dinh dưỡng.

Hậu quả thiếu khoáng chất

Khi thiếu khoáng chất, một số bệnh có thể xẩy ra, như là:

- Gia tăng khả năng mắc các bệnh cảm cúm, nhiễm trùng

- Cao huyết áp

- Trầm cảm, lo âu

- Không tăng trưởng hoặc xương yếu

- Đau nhức bắp thịt, khớp xương

- Rối loạn tiêu hóa như ợ chua, táo bón, buồn nôn.

Nhu cầu hàng ngày

Tại Hoa Kỳ, viện Hàn Lâm Khoa Học Quốc Gia khuyến cáo chỉ nên giữ mức tiêu thụ bảy khoáng chất hằng ngày như sau đối với những người tuổi cao :

Calci (Ca)                  800 mg         

Phospho (P)              800 mg

Magnesium (Mg)      350 mg      

Sắt (Fe)                   10 mg

Kẽm (zinc)               15 mg                

Iod (I)                      150 mcg 

Selen (Se)               70 mcg.  

Với các khoáng chất khác, viện này chỉ đưa ra những ước lượng về mức an toàn cho cơ thể với số lượng được hấp thụ.

Cách tốt nhất để có một lượng vừa phải các khoáng cần thiết là cân đối bữa ăn với nhiều loại thực phẩm có đầy đủ chất dinh dưỡng.

Vài khoáng chất căn bản

Trong cơ thể có trên 60 loại khoáng chất nhưng chỉ có 20 loại được xem là cần thiết. Khoáng chất chỉ chiếm 4 % trọng lượng cơ thể.

Sau đây là một số khoáng chất quan trọng:

1. Calci

Calci đặc biệt có nhiều trong sữa và các phó sản như pho mát, sữa chua. Cho tới tuổi 20, xương có thể hấp thụ và dự trữ cần thiết cho sự tăng trưởng cơ thể và duy trì các chức năng khác.  Sau đó thì cơ thể dùng nhiều calci hơn để xương cứng chắc. Do đó, nếu ta không tiêu thụ đầy đủ calci, xương sẽ bị rỗng loãng, dễ gẫy cũng như rụng răng.

2. Phospho

Phopho cần thiết để duy trì tốt sự tiêu hóa, tuần hoàn, nuôi dưỡng tế bào thần kinh, mắt, cơ bắp, não bộ.

Phospho có nhiều trong các thực phẩm như sữa, thịt cá, cám, ngô bắp…

Thiếu phopho sẽ gây ra một số rối loạn như xương ròn dễ gẫy, răng lung lay, đau nhức cơ bắp…

3. Sắt

Sắt cần thiết để giúp máu chuyên chở và phân phối dưỡng khí tới khắp các bộ phận của cơ thể.

Thiếu sắt đưa tới kém tăng trưởng, tóc và móng tay móng chân ròn, thiếu hồng cầu, thiếu máu.

Sắt có nhiều trong thịt, cá, trứng …

4. Magnesium

Magnesium là một trong những khoáng chất mà cơ thể cần. May mắn là khoáng này hiện diện trong nhiều loại thực phẩm như trái cây, sữa, pho mát.

Thiếu Mg có thể làm cho cơ bắp đau nhức, rối loạn tim và huyết áp.

5. Iodine

Iodine có trong muối được tăng cường i-ốt ( iodized salt), hải sản, rau spinach, rong biển.

Mặc dù cơ thể chỉ cần số lượng rất ít, nhưng khi thiếu iod sẽ đưa tới rối loạn tăng trưởng cả thể chất lẫn tinh thần cũng như tuyến giáp (thyroid).

6. Kẽm

Kẽm có vai trò quan trọng trong việc tạo ra tính miễn dịch mạnh cho cơ thể để chống lại với cảm lạnh, cúm. Thiếu kẽm cũng gây ra bệnh ngoài da, vết thương chậm lành.

Nguồn cung cấp chính của kẽm là hải sản như sò hến, thịt, gan, trứng, sữa, mầm lúa mạch.

7. Selenium

Selenium là một chất chống oxi- hóa giúp cơ thể ngăn chặn được ung thư, trì hoãn sự hóa già và các bệnh thoái hóa. Selen rất cần thiết cho hệ thống miễn nhiễm và sự hoạt động của cơ tim, giúp cân bằng kích thích tố và tạo ra chất prostaglandin, làm da và tóc khỏe mạnh.

Selenium có nhiều trong cá, sò hến, thịt, ngũ cốc, trứng, tỏi và gan, cật. Rau và trái cây có rất ít selenium.

Kết Luận

Khoáng chất là những phần tử cần thiết cho các chức năng của cơ thể, từ hệ thần kinh cơ bắp tới điều hòa tiêu hóa hấp thụ chất dinh dưỡng, duy trì cân bằng chất lỏng trong và ngoài tế bào. Mặc dù cơ thể chỉ cần một số lượng khiêm tốn, nhưng thiếu chúng là cơ thể trở nên suy yếu, kém hoạt động.

Vậy thì ta nên tiêu thụ đầy đủ các chất này, có sẵn trong thực phẩm mà tạo hóa đã dành cho con người.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức M.D. - Texas- Hoa Kỳ

 
VỀ MỤC LỤC
BẪY TÌNH - Chuyện phiếm của Gã Siêu

 

Trong những năm gần đây, bàn dân thiên hạ thường dùng hai chữ “sập bẫy” để nói lên sự việc bị trúng kế của kẻ gian hay kẻ địch, khiến cho mình phải ngậm đắng nuốt cay, cúi đầu chấp nhận những thiệt hại về phương diện vật chất, cũng như những sứt mẻ về phương diện tinh thần. Và đôi khi đi đoong cả một cuộc đời.

Theo nghĩa hẹp thì cái bẫy chính là cái cạm, một vật được chế tạo có thể sập xuống hay bật lên để bắt thú vật và những kẻ gian. Theo nghĩa rộng thì đó là những phương tiện cũng như những cách thức để bắt thú vật hay lấy đi tiền bạc của người khác. Còn theo nghĩa bóng thì đó là tất cả những mưu mô tính toán, những ý đồ đen tối được giăng ra để hãm hại người ngay lành.

Trong phim ảnh, gã đã từng được nhìn thấy những chiếc bẫy sập thật lớn được làm bằng sắt, hay những chiếc bẫy bật được làm bằng dây thừng, để bắt hươu nai và cả hổ cọp nữa.

Người ta cũng có thể đào những chiếc hố vừa sâu lại vừa rộng, bên trên được ngụy trang bằng lá rừng và cây que. Con vật đi tới đó, nếu không tinh ý, sẽ bị rơi xuống hố và người ta chỉ việc đến bắt.

Gã nhớ lại vào khoảng năm 1958, vùng Cái Sắn còn là những cánh đồng hoang bạt ngàn với lau sậy và cỏ lác mọc ngập đầu. Nhà nước bắt đầu cho đào những con kênh để thoát phèn và đưa đồng bào tới đinh cư. Mỗi gia đình được cấp phát một nếp nhà lá và một chiếc xuồng. Hai ba gia đình lại được một con trâu. Và tiền trợ cấp mỗi đầu người cho một ngày là…bốn đồng. Cá, chim, chuột và rắn lúc bấy giờ thật ê hề.

Bố gã thường chọn những chỗ nước chảy để làm “nhạy”, bằng cách đắp chặn lại và ở giữa chôn một chiếc lu lớn. Cá lóc nhảy lên nhạy, trườn tới trườn lui và rơi tỏm vào trong chiếc lu. Mỗi đêm phải đi thăm nhạy hai ba lần và mỗi lần được tới một hai bao tải toàn cá lóc lớn. Phải chăng cái nhạy cũng là một thứ bẫy để bắt cá lóc.

Ngoài việc làm nhạy, chiều chiều bố thường dắt gã ra đồng để bẫy chim. Bẫy này thường được làm bằng tre, mồi là những con cá nhỏ được mắc vào lưỡi câu và thả xuống dòng nước. Cò và cuốc bay tới xơi cá, bẫy sẽ bật lên. Và sáng hôm sau chỉ việc bắt và đem về nhà là sẽ có được một bữa nhậu…hoành tráng.

Bây giờ việc bẫy chim có phần cải tiến và văn minh hơn. Khi mùa gặt hoàn tất, chim chóc thường bay tới để ăn những hạt thóc rơi rụng trên ruộng đồng. Và thế là người ta bước vào mùa bẫy chim.

Người ta giăng lưới thật cao ngoài đồng ruộng, sau đó đuổi dồn  cho chim bay tới, rồi kéo chụp lưới xuống.

Riêng đối với chim cu, người ta thường dùng chim mồi để dụ khị những con chim khác. Còn nếu không có chim mồi, người ta thu tiếng chim cu gáy vào băng cát xét. Sau khi giăng lưới thì mở máy để phát ra những tiếng gọi…tình. Nghe được tín hiệu gọi tình ấy, các chim cu khác liền xà xuống để tìm bạn…giao lưu.

Nhà gã ở nông thôn nên thường có chuột, nhất là lũ chuột nhắt chuyên môn cắn phá quần áo và đồ dùng. Cạm chuột là một chiếc lồng làm bằng lưới mắt cáo, trong gài mồi. Chuột vào ăn mồi, bẫy sẽ sập và nhốt chuột lại trong bẫy.

Riêng gã thì thường dùng bẫy cặp, tức là bẫy có lò xo, để kẹp chặt con chuột. Chỉ cần quan sát đường đi nước bước của con chuột. Nó thường chạy sát vách tường, nên chỉ cần đặt bẫy đúng chỗ, chuột đi  đụng phải bẫy và bẫy liền sập, chẳng cần phải dùng đến mồi màng chi cả.

Tới đây, gã xin ghi lại một cách bẫy vịt, đã được Toan Ánh ghi lại trong cuốn “Ăn trộm và nghệ thuật bắt trộm” như sau:

“Hai tiếng vớt vịt có lẽ làm bạn đọc ngạc nhiên, vì động từ vớt dùng để chỉ việc lấy một vật gì đang trôi hoặc chìm ở dưới nước lên, còn vịt là một giống vật bơi lội rất giỏi, có bao giờ đến nỗi bị chìm hoặc bị trôi ở dưới nước được đâu mà cần phải vớt.

Nhưng thưa các bạn, đây chỉ là tiếng lóng trong làng chích cược, để chỉ việc ăn trộm vịt ở ngay trước mặt người chăn vịt. Tuy là tiếng lóng, nhưng vớt vịt vẫn đúng theo nghĩa đen của động từ vớt và của danh từ vịt, như các bạn sẽ thấy ở dưới đây.

Một đàn vịt đang được chăn ở giữa cánh đồng bởi một người chăn vịt, ấy thế mà vịt vẫn cứ bị mất. Người chăn vịt không biết mất ở đâu, mất lúc nào và do ai bắt? Lạ nhất là vịt không mất một hai con, mà thường mất năm sáu con mỗi ngày.

Xanh không thủng thì cá đi đằng nào? Vịt không có người bắt thì nó biến đi đâu? Tất nhiên vịt phải có người bắt, nhưng người ấy là ai, đó là điều khó biết, và người lấy vịt đã lấy bằng cách nào?

Cánh đồng làng nào mà chẳng vậy, thường có một vài chiếc đầm hay chiếc ao.  Và đã  có đầm có ao, tất nhiên phải có người ngồi câu cá.

Những đàn vịt mỗi khi được chăn qua các ao đầm, chúng thường xuống nước để bơi lội vẫy vùng cho thỏa chí.

Chính nhưng người chăn vịt cũng muốn xua vịt xuống ao để chúng tắm rửa, ăn bèo tấm, mò tôm bắt cá. Vịt có được vẫy vùng ở nước mới mau lớn và người chăn vịt, khi cho vịt ăn no ở cánh đồng, thường tìm nơi hồ ao cho chúng xuống khuây khỏa. Chính ở những nơi ao hồ hoặc đầm, mà vịt đã bị chìm theo nghĩa đen, để rồi được vớt lên sau. Do đó mới có động từ vớt vịt.

…Nguyên ao bèo thường có nhiều cây hoa súng. Lá hoa súng xòe to như lá sen. Anh trộm vịt với vóc dáng người câu cá, đã đặt trên mỗi chiếc lá hoa súng một hòn gạch nhỏ đủ sức làm chìm một con vịt. Anh buộc vào hòn gạch một sợi dây. Ở đầu dây có buộc một con tôm hoặc một con cá nhỏ. Vịt đớp con tôm hoặc cá, đớp rồi, nhưng không sao nuốt trôi vì vướng sợi dây. Vịt phải vẫy vùng làm động đến hòn gạch. Hòn gạch lăn xuống nước kéo theo cả con vịt. Con vịt bị chìm nghỉm không kêu lên được một tiếng, đành chịu lặn ở dưới nước cho tới khi được vớt lên.

Hai tiếng vớt vịt tuy là tiếng lóng, mà thật đúng theo nghĩa đến vậy.

Sau khi đã kể lể cà kê dê ngỗng về các thứ bẫy thông thường, gã xin đề cập tới một thứ bẫy rất đặc biệt, mà gã tạm gọi là…bẫy tình.

Nếu sánh ví lãnh địa của tình yêu với một khu rừng, thì phe đờn bà, cách riêng những cô gái mới nhớn là những con nai vàng ngơ ngác, còn mấy gã đờn ông con giai là những tên thợ săn lão luyện. Tuy nhiên, để túm được con mồi, những gã thợ săn này đều phải kiên nhẫn giăng bẫy. Vậy đâu là những chiếc bẫy mà họ vốn thường hay giăng ra?

Dựa theo một bài báo đã được đang tải từ lâu trên tờ “Hạnh phúc Gia đình”, gã xin điểm qua môt vài loại bẫy.

 

Thứ nhất là “bẫy khổ nhục” 

Trong phạm vi chính trị và quân sự, đôi khi người ta phải sử dụng tới “khổ nhục kế”, tức là cái kế làm khổ thân xác để hoàn thành một mục đích nào đó.

Trong thời “Tam Quốc”, Châu Du lập trận Xích Bích hầu đốt binh của Tào Tháo. Để đạt được việc này, cần phải có một người tâm phúc qua đầu quân với Tào Tháo, làm nội ứng. Huỳnh Cái tình nguyện xin đi và thi hành phận sự. Hai người bàn bạc với nhau và nhất trì dùng khổ nhục kế.

Vào một buổi chiều, Châu Du họp với bá quan văn võ và trình bày ý định cử binh phạt Tháo. Huỳnh Cái vội chê trách và cho Châu Du là thiển cận. Châu Du làm ra vẻ giận dữ, sai lính hầu đánh đập Huỳnh Cái một cách tàn nhẫn và đuổi đi.

Huỳnh Cái buồn chán chạy sang đầu quân cho Tào Tháo và được tin dùng. Huỳnh Cái làm nội ứng và thực hiện ý định. Binh lính của Tào Tháo bị Châu Du đốt tan xác ở trận Xích Bích.

Trong lãnh vực tình yêu, khổ nhục bẫy thường được những anh đờn ông đã có vợ sử dụng. Anh ta làm quen với cô gái và không giấu giếm việc mình đã có gia đình. Tuy nhiên, trong khi trò chuyện, anh ta thường “vô tình” hé ra rằng mình không được hạnh phúc. Xen vào những câu chuyện thông thường, anh ta bộc lộ những chi tiết chứng tỏ người vợ đã làm cho anh ta thất vọng…

Đến khi đã tạo được một sự tin tưởng và cảm thông, anh ta sẽ vẽ ra một bức tranh đen tối về cuộc sống gia đình, rằng mình đã sai lầm, rằng mình rất cô đơn, rằng mình rất đau khổ, để rồi cuối cùng anh ta thố lộ:

- Anh không thể sống thiếu em và từ khi biết em, anh mới hiểu được thế nào là tình yêu thực sự. Và chỉ mình em mới đem lại cho cuộc đời anh một ý nghĩa…

Những lời lẽ như vậy thường khơi dậy tình thương và lòng nhân ái, vốn thuộc vào bổn tính của người phụ nữ, khiến họ không nỡ bỏ rơi người đờn ông đang tuyệt vọng, để rồi cuối cùng chính họ bị sập bẫy lúc nào cũng không hay biết.

 

Thứ hai là “bẫy cải lương” 

Đây là cái bẫy mà những anh chàng bẻm mép, hay ba hoa chích chòe thường dùng đến. Vừa mới quen nhau một thời gian ngắn, anh ta đã vội tuôn ra rông rổng những lời lẽ nặng mùi cải lương chi bảo:

- Anh đã yêu em ngay từ cái nhìn đầu tiên. Có lẽ đó là định mệnh của hai đứa mình…

Anh ta không tiếc lời ca tụng cô gái:

- Nơi em có những cái mà người khác không có…

Những lời lẽ tâng bốc này thường làm xiêu lòng những cô gái tuổi mười tám đôi mươi. Nhưng nếu có tí kinh nghiệm, người ta sẽ nhận ra đó chỉ là những lời lẽ sáo rỗng, sao chép lại những công thức tỏ tình đã…xưa rồi Diễm ơi!

Nếu cô gái vẫn ngoảnh mặt làm ngơ, anh ta không ngần ngại thề thốt:

- Anh sẽ chờ đợi em suốt đêm cho đến khi được một cai hẹn…

- Anh sẽ ở vậy suốt đời, hay sẽ treo cổ lên…cây cà chua, mà tự tử cho chết. 

Tới mức này, người con gái khó mà làm chủ được mình nữa và cuối cùng là…sập bẫy.

 

Thứ ba là “bẫy phớt tỉnh Ăng lê” 

Đây là cái bẫy của những tay săn tình có bản lãnh cao cường thuộc vào hàng sư phụ. Kinh nghiệm trận mạc cho anh ta thấy nhiều khi những lời lẽ hoa hòe hoa sói trở thành bôi bác, thái độ lăn xả và săn đón quá mức sẽ làm cho con mồi e ngại, hoảng sợ và lẩn trốn.

Vì thế, anh ta bèn tỏ ra phớt tỉnh Ăng lê, cóc cần chị nào hết, như một câu danh ngôn đã bảo:

- Tình yêu như chiếc bóng, càng đuổi theo nó, thì nó lại càng trốn chạy ta.

Có thể lúc đầu anh ta cũng đã quan tâm tới cô gái bằng những lời nói và những cử chỉ rất dễ thương. Đến khi cô gái bắt đầu chịu đèn và nhơ nhớ, thì anh ta lại tỏ ra như quên lãng, khiến cho cô gái ngày đêm như héo hắt và quay quyắt. Tới đây thì chỉ cần anh ta bố thí cho một cú liếc mắt, hay một nụ cười mỉm chi, lập tức cô gái sẽ ào ào chạy tới và bị sập bẫy dễ dàng  trở bàn tay.

 

Sau cùng là “bẫy tiền bạc” 

Đây là cái bẫy của những anh chàng hàng đại gia, hay ít nữa trong túi cũng rủng rỉnh đôi chút tiền bạc.

Đầu tiên anh ta sẽ tặng cô gái những kỷ vật nho nhỏ, rồi cùng với thời gian tình thân càng lớn, thì quà tặng càng có giá trị.

Cô gái cứ  “vô tư” nhận những món quà đắt tiền và cho đó là việc rất tự nhiên. Cô gái làm quen với việc tiêu xài hoang phí theo kiểu con nhà lính tính nhà quan, luôn đi với anh ta vào những nhà hàng sang trọng. Dần dần cô gái sẽ bị áp lực đồng tiền chi phối, rồi sẽ tới một lúc bị cưa đổ và sập bẫy trước những đòi hỏi của anh ta.

Dĩ nhiên, còn nhiều thứ bẫy khác nữa, nhưng điều quan trọng là làm thết nào để nhận diện đâu là tình yêu chân thành và đâu chỉ là những cái bẫy? Làm thế nào để biết được người ta yêu thương mình thực sự, hay chỉ bẫy mình để lợi dụng mà thôi?

Sở dĩ như vậy vì tình yêu chân thành nhiều lúc cũng xuất phát từ những đau khổ, từ những lời nói ngọt như đường cát và mát như đường phèn và từ những quà tặng trao gửi.

Theo tác giả bài báo thì phần lớn những cái bẫy trong tình yêu đều xuất phát từ những sự quen biết tình cờ và ngắn ngủi, không thích xuất hiện công khai một cách đường đường chính chính, mà chỉ thích gặp gỡ riêng tư ở những nơi kín đáo, thậm chí còn ở những nơi thiếu ánh sáng.

Và điều quan trọng hơn, đó là những cái bẫy này thường không tôn trọng những giá trị tinh thần và đạo đức, mà chỉ hướng tới nhu cầu hưởng thụ. Vì thế, sau một thời gian chinh phục và giăng bẫy một cách rất ngắn ngủi, những tên thợ săn bèn lộ rõ nguyên hình bằng những đòi hỏi về tình dục.

Cho nên, hỡi những cô gái mới nhớn, những con nai vàng ngơ ngác, hãy đề cao cảnh giác.

Gã Siêu   gasieu@gmail.com


VỀ MỤC LỤC

- Mọi liên lạc: Ghi danh, thay đổi địa chỉ, đóng góp ý kiến, bài vở..., xin gởi về địa chỉ

giaosivietnam@gmail.com

- Những nội dung sẽ được đề cao và chú ý bao gồm:

Trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong việc mục vụ của Giáo sĩ;  Những tài liệu của Giáo hội hoặc của các Tác giả nhằm mục đích Thăng tiến đời sống Giáo sĩ; Cổ võ ơn gọi Linh mục; Người Giáo dân tham gia công việc “Trợ lực Giáo sĩ” bằng đời sống cầu nguyện và cộng tác trong mọi lãnh vực; Mỗi  Giáo dân phải là những “Linh mục” không có chức Thánh; Đối thoại trong tinh thần Bác ái giữa Giáo dân và Giáo sĩ… (Truyền giáo hay xây pháo đài?)

- Quy vị cũng có thể tham khảo những số báo đã phát hành tại

www.conggiaovietnam.net

Rất mong được sự cộng tác, hưởng ứng của tất cả Quí vị

Xin chân thành cám ơn tất cả anh chị em đã sẵn lòng cộng tác với chúng tôi bằng nhiều cách thế khác nhau.

TM. Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam

Lm. Luca Phạm Quốc Sử  USA

 

 

Duoc chon giua loai nguoi va cho loai nguoi; GIAO SI: Xuat phat tu giao dan, hien dien vi giao dan va cay dua vao giao dan, de cung lam VINH DANH THIEN CHUA

*************