|
HIỆP THÔNG VÀ ĐỐI
THOẠI
ĐỂ TRUYỀN GIÁO |
|
TÔNG HUẤN "GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU" (ECCLESIA IN ASIA)
Nguồn: http://www.simonhoadalat.com
CHƯƠNG V
HIỆP THÔNG VÀ ĐỐI
THOẠI
ĐỂ TRUYỀN GIÁO
Hiệp Thông và
Truyền Giáo Đi Đôi Với Nhau
24. Theo kế
hoạch đời đời của Chúa Cha, Giáo Hội, được tiên báo từ lúc khởi đầu thế giới,
được chuẩn bị trong Cựu Ước, được Đức Giêsu thiết lập và được Chúa Thánh Thần
làm cho hiện diện trong thế gian vào ngày lễ Ngũ Tuần, "lữ hành giữa cơn
bách hại của thế gian và trong niềm an ủi của Thiên Chúa" (113), đang khi
tiến đến sự trọn lành trong vinh quang thiên quốc. Bởi vì Thiên Chúa muốn
"toàn thể nhân loại trở nên một Dân của Thiên Chúa, làm thành một Thân Thể
của Đức Kitô, và được xây dựng thành một đền thờ của Chúa Thánh Thần"
(114), nên Giáo Hội là "kế hoạch hữu hình của tình yêu Thiên Chúa đối với
nhân loại, là bí tích cứu rỗi" (115) trong trần gian. Do đó Giáo Hội không
thể được hiểu thuần tuý như là một tổ chức xã hội hay là cơ quan trợ cấp cho
con người. Mặc dầu gồm những con người nam và nữ tội lỗi, Giáo Hội phải được
xem như là một nơi dành riêng cho sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người, nơi
Thiên Chúa chọn để mạc khải mầu nhiệm sự sống bên trong của Người và thi hành
kế hoạch cứu rỗi cho thế gian.
Mầu nhiệm kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa được
làm cho hiện diện và sinh động trong cộng đồng những người nam và người nữ là
những kẻ được mai táng trong cái chết với Đức Kitô qua bí tích Rửa Tội, để như
Đức Kitô đã chỗi dậy từ kẻ chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha thì họ có
thể bước đi trong đời sống mới (x. Rm 6,4). Tại trung tâm của mầu nhiệm Giáo
Hội, là sợi dây hiệp thông nối kết Đức Kitô, vị Tân Lang, với tất cả những
người được rửa tội. Nhờ sự hiệp thông sống động và ban sự sống này, "các
Kitô hữu không thuộc về mình nữa, mà là những người thuộc riêng về Chúa"
(116). Được hợp nhất với Chúa Con trong sợi dây tình yêu của Chúa Thánh Thần,
các Kitô hữu được hiệp nhất với Chúa Cha, và từ sự hiệp thông này tuôn tràn sự
hiệp thông mà các Kitô hữu chia sẻ với nhau nhờ Đức Kitô trong Chúa Thánh
Thần" (117). Như vậy mục đích đầu tiên của Giáo Hội là nên bí tích của sự hợp
nhất mật thiết của con người với Thiên Chúa, và bởi vì sự hiệp thông giữa
con người với nhau được đâm rễ trong sự hiệp nhất với Thiên Chúa, nên Giáo Hội
cũng là bí tích hiệp nhất của loài người (118). Nơi Giáo Hội, sự hiệp
nhất này đã bắt đầu; và đồng thời Giáo Hội là "dấu chỉ và khí cụ" của
sự thực hiện trọn vẹn sự hiệp nhất còn phải đạt đến (119).
Một đòi hỏi thiết yếu của sự sống trong Đức Kitô là
bất cứ ai đi vào sự hiệp thông với Chúa, thì cần phải sinh hoa trái: "Ai ở
lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa
trái" (Ga 15,5). Lời nói đó thật đúng đến nỗi người nào không sinh hoa
trái thì không ở trong sự hiệp thông: "Cành nào gắn liền với Thầy mà không
sinh hoa trái, thì Người chặt đi" (Ga 15,2). Sự hiệp thông với Đức Giêsu,
nguồn gốc của sự hiệp thông giữa các Kitô hữu với nhau, là điều kiện cần thiết
để sinh hoa trái; và sự hiệp thông với kẻ khác, một ân huệ của Đức Kitô và Thần
khí của Người, là hoa trái tốt đẹp nhất mà các cành có thể cho. Theo nghĩa này,
sự hiệp thông và việc truyền giáo liên kết với nhau không thể phân ly. Chúng
thâm nhập và bao hàm lẫn nhau, đến nỗi "sự hiệp thông diễn tả vừa là nguồn
suối vừa là hoa trái của việc truyền giáo: sự hiệp thông phát sinh việc truyền
giáo và sự truyền giáo được hoàn tất trong sự hiệp thông" (120).
Sử dụng khoa thần học về sự hiệp thông, Công đồng
Vatican II có thể diễn tả Giáo Hội như là dân lữ hành của Thiên Chúa mà tất cả
các dân tộc đều có liên hệ theo một cách nào đó (121). Dựa trên căn bản này,
các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh tới mối liên hệ mầu nhiệm giữa Giáo Hội
và những người đi theo các tôn giáo khác tại Á Châu, mà lưu ý rằng họ
"liên hệ với Giáo Hội trong những cấp độ và cách thức khác nhau"
(122). Giữa bao nhiêu dân tộc, văn hoá và tôn giáo khác nhau, "đời sống
của Giáo Hội như sự hiệp thông có tầm quan trọng lớn nhất" (123). Quả
thực, việc phục vụ hiệp thông của Giáo Hội là việc làm đặc biệt thích đáng tại
Á Châu, nơi có nhiều căng thẳng, chia rẽ và xung đột, do những khác biệt chủng
tộc, xã hội, văn hoá, ngôn ngữ, kinh tế và tôn giáo. Chính trong bối cảnh này
mà các Giáo Hội địa phương tại Á Châu, cùng hiệp thông với Đấng kế vị thánh
Phêrô, cần cổ võ một sự hiệp thông lòng trí sâu xa hơn, bằng cách cộng tác chặt
chẽ với nhau. Mối liên hệ với những Giáo Hội và các cộng đồng Giáo Hội Kitô
khác, và với những người theo các tôn giáo khác cũng rất quan trọng với việc
rao giảng Tin Mừng (124). Do đó, Thượng Hội Đồng tái xác định sự dấn thân của
Giáo Hội tại Á Châu trong công việc cải thiện cả những liên hệ đại kết lẫn sự
đối thoại liên tôn, bằng cách nhìn nhận rằng xây dựng sự hiệp nhất, thực hiện
sự hoà giải, tạo ra những sợi dây liên đới, cổ võ đối thoại giữa các tôn giáo
và các nền văn hoá, loại bỏ những thành kiến và đem lại sự tin tưởng giữa các
dân tộc, tất cả những điều đó là thiết yếu cho sứ mạng Phúc âm hoá của Giáo Hội
trên lục địa này. Tất cả những điều đó đòi hỏi cộng đồng công giáo phải thành
thật xét lại lương tâm, can đảm tìm kiếm sự hoà giải và một sự dấn thân mới mẻ
cho việc đối thoại. Tại ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba, thật rõ ràng rằng khả năng
Phúc âm hoá của Giáo Hội đòi buộc Giáo Hội phải ra sức phục vụ sự hiệp nhất
trong tất cả mọi chiều kích. Sự hiệp thông và truyền giáo đi đôi với nhau.
Hiệp Thông Trong Lòng Giáo Hội
25. Tập họp
xung quanh Đấng kế vị Thánh Phêrô, cầu nguyện và làm việc với nhau, các Giám
Mục dự Hội Nghị Đặc Biệt về Á Châu, cách nào đó đã nhân cách hoá sự hiệp thông
của Giáo Hội, trong tất cả sự khác biệt phong phú của các Giáo Hội địa phương
mà các ngài lãnh đạo với tình bác ái. Sự hiện diện của chính tôi trong các Khoá
Họp Khoáng Đại Thượng Hội Đồng, là một cơ hội tốt để chia sẻ niềm vui và hy
vọng, những khó khăn và âu lo của các Giám Mục, và đồng thời là việc thi hành
đầy nhiệt huyết và rất sâu sắc về chính thừa tác vụ của tôi. Trên thực tế,
chính trong viễn tượng hiệp thông Giáo Hội mà quyền bính phổ quát của Đấng kế
vị thánh Phêrô toả sáng rõ ràng hơn, không phải chủ yếu như là một quyền tài
phán trên các Giáo Hội địa phương, nhưng trước hết như là một quyền ưu tiên mục
vụ, để phục vụ sự hiệp nhất đức tin và sự sống của toàn thể Dân Chúa. Ý thức
đầy đủ rằng "chức vụ Phêrô có nhiệm vụ duy nhất là bảo đảm và cổ võ sự
hiệp nhất của Giáo Hội" (125) nên các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng công nhận
sự phục vụ mà các cơ quan của Giáo triều Roma và Bộ Ngoại Giao của Toà Thánh
mang lại cho các Giáo Hội tại địa phương, trong tinh thần hiệp thông và đồng
đoàn (126). Một nét chính yếu của sự phục vụ này là sự kính trọng và nhạy cảm
mà các cộng tác viên gần của Đấng kế vị thánh Phêrô bày tỏ trước sự khác biệt
chính đáng của Giáo Hội địa phương và sự đa dạng của các nền văn hoá và dân tộc
mà các vị đó tiếp xúc.
Mỗi một Giáo Hội riêng phải được
đặt nền móng trên chứng tá của sự hiệp thông Giáo hội, vì sự hiệp thông cấu tạo
nên chính bản tính của Giáo Hội. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng muốn diễn tả Giáo
phận như là một sự hiệp thông các cộng đoàn bao quanh vị Chủ Chăn, nơi
đây hàng giáo sĩ, những người sống đời thánh hiến và giáo dân dấn thân vào một
"đối thoại đời sống và con tim" được nâng đỡ nhờ ân sủng của Chúa
Thánh Thần (127). Chính trong Giáo phận mà cái nhìn về sự hiệp thông các cộng
đoàn được thực hiện giữa những thực tại xã hội, chính trị, tôn giáo, văn hoá,
và kinh tế phức tạp tại Á Châu. Sự hiệp thông Giáo Hội bao hàm rằng mỗi Giáo
Hội địa phương phải trở nên điều mà các Nghị phụ Thượng Hội Đồng gọi là
"một Giáo Hội tham gia" (participatory Church), có nghĩa là một Giáo
Hội trong đó mọi người đều sống ơn gọi của riêng mình và chu toàn vai trò của
mình. Để xây dựng "sự hiệp thông để truyền giáo" và "sự truyền
giáo của sự hiệp thông", thì ơn đoàn sủng độc nhất của mỗi thành viên phải
được nhìn nhận, phát triển và sử dụng cho hữu ích (128). Cách riêng, cần phải
để cho người giáo dân và các người nam nữ sống đời thánh hiến, dấn thân nhiều
trong việc đặt kế hoạch mục vụ và đưa ra quyết định, nhờ các cơ cấu tham gia
như Hội Đồng Mục Vụ và các Hội Đoàn Giáo Xứ (129).
Trong mỗi Giáo Phận, Giáo xứ vẫn là nơi bình
thường để người tín hữu tập hợp và lớn lên trong đức tin, sống mầu nhiệm hiệp
thông Giáo Hội và dự phần trong sứ mạng của Giáo Hội. Cho nên, các Nghị Phụ
Thượng Hội Đồng thúc giục các Chủ Chăn tìm ra những phương thế mới và hữu hiệu
để chăn dắt người tín hữu, làm thế nào để mỗi người, cách riêng người nghèo, sẽ
cảm thấy mình thật sự là một thành phần của Giáo xứ và của toàn thể dân Chúa.
Sự tham gia của người giáo dân trong việc lên kế hoạch mục vụ phải là một nét
bình thường của tất cả các Giáo xứ (130). Thượng Hội Đồng chọn riêng giới trẻ
làm những người mà "Giáo xứ phải dành cho nhiều cơ hội hơn, để họ sống
tình bạn và hiệp thông. như tổ chức hiệp hội tông đồ và câu lạc bộ giới
trẻ" (131). Không một người nào bị loại trừ cách tiên thiên, khỏi
sự chia sẻ đầy đủ vào đời sống và sứ mạng của Giáo xứ, chỉ vì quá trình xã hội,
kinh tế, chính trị, văn hoá hay giáo dục của họ. Vì mỗi người theo Đức Kitô đều
có một quà tặng để trao ban cho cộng đoàn, nên cộng đoàn phải có thiện chí đón
nhận và hưởng nhờ tặng vật của mỗi người.
Trong bối cảnh này, và theo kinh nghiệm mục vụ của
mình, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhấn mạnh giá trị của những cộng đoàn
Giáo Hội cơ bản như là một phương thức hiệu nghiệm để cổ võ sự hiệp thông
và tham gia trong các Giáo xứ và Giáo phận, và như là một lực lượng đích thực
cho việc rao giảng Tin Mừng (132). Những nhóm nhỏ này giúp người tín hữu sống
thành những cộng đoàn tin, cầu nguyện và yêu thương như các Kitô hữu thời đầu
(x. Cv 2,44-47; 4,32-35). Các cộng đoàn này có mục đích là giúp đỡ các thành
viên của mình sống Tin Mừng trong một tinh thần yêu thương huynh đệ và phục vụ,
và do đó chúng là khởi điểm vững chắc để xây dựng một xã hội mới, một diễn tả
của nền văn minh tình thương. Cùng với Thượng Hội Đồng, tôi khuyến khích Giáo
Hội tại Á Châu, nơi nào có thể, thì xem những cộng đoàn cơ bản này như là một
nét tích cực của hoạt động truyền giáo của Giáo Hội. Đồng thời, các cộng đoàn
này chỉ có thể mang lại hiệu quả đích thực nếu -như Đức ĐGH Phaolô VI viết-
chúng hiệp nhất với Giáo Hội địa phương và Giáo Hội hoàn vũ, trong sự hiệp
thông chân tình với các vị Chủ Chăn của Giáo Hội và với Huấn Quyền, biết dấn
thân mở rộng việc truyền giáo và không theo chủ nghĩa biệt lập hay sự khai thác
ý thức hệ (133). Sự hiện diện của những cộng đoàn nhỏ này không làm cho vô hiệu
những thể chế và cơ cấu đã được thiết lập, vẫn còn cần thiết để Giáo Hội hoàn
thành sứ vụ của mình.
Thượng Hội Đồng cũng nhìn nhận vai trò của những
phong trào canh tân, để xây dựng sự hiệp thông, để tạo điều kiện thuận lợi
giúp có kinh nghiệm thân mật hơn với Thiên Chúa qua đức tin và các Bí Tích, và
để cổ võ việc hoán cải đời sống (134). Trách nhiệm của các Chủ Chăn là hướng
dẫn, đồng hành và khích lệ những nhóm đó để họ có thể hội nhập vào đời sống và
sứ mạng của Giáo xứ và Giáo phận. Những ai dấn thân vào trong các hiệp hội và
phong trào, phải trợ giúp Giáo Hội tại địa phương và đừng có coi mình như là
những gì thay thế cho những cơ cấu Giáo phận và đời sống Giáo xứ. Sự hiệp thông
lớn mạnh hơn khi các lãnh đạo địa phương của các phong trào này làm việc chung
với các vị Chủ Chăn trong tinh thần bác ái vì lợi ích chung (x. 1 Cr 1,13).
Tình Liên Đới Giữa Các Giáo Hội
26. Sự hiệp
thông nội bộ góp phần tạo ra tình liên đới giữa các Giáo Hội địa
phương. Việc chú ý tới các nhu cầu địa phương là điều chính đáng và cần
thiết, nhưng sự hiệp thông đòi hỏi các Giáo Hội địa phương cởi mở đón tiếp lẫn
nhau và cộng tác với nhau, để trong sự khác biệt, họ có thể gìn giữ và tỏ bày
rõ ràng mối giây hiệp thông với Giáo Hội hoàn vũ. Sự hiệp thông đòi hỏi phải
hiểu biết lẫn nhau và một đường lối truyền giáo có phối hợp, mà không làm tổn
hại sự độc lập và các quyền của các Giáo Hội, theo truyền thống thần học, phụng
vụ và thiêng liêng của riêng từng Giáo Hội. Tuy nhiên lịch sử cho thấy rằng các
mối chia rẽ thường đã làm tổn thương sự hiệp thông của các Giáo Hội tại Á Châu.
Suốt bao thế kỷ, các mối liên hệ giữa các Giáo Hội địa phương thuộc các quyền
tài phán khác nhau, các truyền thống phụng vụ và các phương cách truyền giáo,
nhiều khi căng thẳng và khó khăn. Các Giám Mục hiện diện tại Thượng Hội Đồng
nhìn nhận rằng, ngay cả ngày hôm nay, trong nội bộ và giữa các Giáo Hội địa
phương tại Á Châu, thỉnh thoảng xảy ra những chia rẽ đáng tiếc, thường liên can
đến những khác biệt về nghi lễ, ngôn ngữ, chủng tộc, đẳng cấp và ý thức hệ. Một
số vết thương đã được chữa lành phần nào, nhưng chưa lành hẳn. Nhìn nhận rằng
nơi nào sự hiệp thông bị suy yếu, thì chứng tá của Giáo Hội và công việc truyền
giáo bị thiệt hại, nên các Nghị Phụ đề nghị những bước cụ thể để gia tăng mối
liên hệ giữa các Giáo Hội địa phương tại Á Châu. Ngoài những diễn tả cần thiết
về mặt thiêng liêng như cổ vũ và khuyến khích, các ngài gợi ý có sự phân bổ đều
hơn các linh mục, sự liên đới tài chánh hữu hiệu hơn, những trao đổi văn hoá và
thần học, và tăng thêm những dịp thông hiệp giữa các Giáo phận (135).
Những hiệp hội Giám mục cấp vùng hay cấp lục địa,
đáng chú ý là Hội Đồng các Thượng Phụ Giáo Chủ Trung Đông và Liên Hội Đồng Giám
Mục Á Châu, đã góp phần cổ võ sự hiệp nhất giữa các Giáo Hội địa phương và đã
là nơi gặp gỡ để cộng tác giải quyết những vấn đề mục vụ. Cũng vậy, có nhiều
trung tâm thần học, tu đức và hoạt động mục vụ tại Á Châu đã cổ võ sự hiệp
thông và hợp tác cụ thể (136). Tất cả phải quan tâm lo cho các sáng kiến đầy
hứa hẹn đó được phát triển hơn nữa vì lợi ích vừa của Giáo Hội vừa của xã hội
tại Á Châu.
Những Giáo Hội Công Giáo Đông Phương
27. Hoàn
cảnh các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, nhất là ở Trung Đông và Ấn độ đáng lưu
ý cách riêng. Từ thời các Tông Đồ, các Giáo Hội đó đã nắm giữ một gia sản
thiêng liêng, phụng vụ và thần học quí báu. Những truyền thống và nghi lễ của
các Giáo Hội ấy, phát sinh từ việc hội nhập văn hoá sâu xa của đức tin trong
phần đất của nhiều quốc gia Á Châu, đáng được sự kính trọng nhất. Cùng với các
Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, tôi kêu gọi mọi người nhìn nhận những tập quán chính
đáng và sự tự do chính đáng của các Giáo Hội này trong các vấn đề kỷ luật và
phụng vụ, như được qui định trong bộ giáo luật của các Giáo Hội Đông Phương
(137). Theo giáo huấn của Công Đồng Vatican II, có một nhu cầu cấp bách vượt
thắng những sợ hãi và hiểu lầm thỉnh thoảng xuất hiện giữa các Giáo Hội Công
Giáo Đông Phương và Giáo Hội La tinh, và giữa các Giáo Hội này với nhau, đặc
biệt trong việc chăm sóc mục vụ cho các tín hữu của mình, cả bên ngoài địa hạt
của mình (138). Là con cái của một Giáo Hội duy nhất, được tái sinh vào sự sống
mới trong Đức Kitô, các tín hữu được mời gọi gánh vác mọi sự trong sự quan tâm
đến mục đích chung, trong một tinh thần tin tưởng và bác ái không lay chuyển.
Không nên để những xung đột tạo nên chia rẽ, nhưng ngược lại phải giải quyết
trong tinh thần chân lý và kính trọng, bởi vì không có sự thiện hảo nào đến mà
không do tình yêu (139).
Những Giáo Hội đáng kính này đã trực tiếp dấn thân
vào cuộc đối thoại đại kết với các Giáo Hội Chính Thống đàn chị, và các Nghị
Phụ Thượng Hội Đồng thúc giục họ tiếp tục con đường đó (140). Các Giáo Hội ấy
cũng đã có kinh nghiệm đáng giá trong việc đối thoại liên tôn, nhất là với Hồi
giáo. Điều đó có thể hữu ích cho các Giáo Hội khác tại Á Châu và bất cứ nơi nào
khác. Rõ ràng là các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương có một sự phong phú lớn lao
về truyền thống và kinh nghiệm có thể đem lại nhiều lợi ích cho toàn thể Giáo
Hội.
Chia Sẻ Những Hy Vọng Và Đau Khổ
28. Các
Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng ý thức về sự cần thiết giữ một sự hiệp thông và
hợp tác hữu hiệu với các Giáo Hội địa phương tại các phần đất Sô-viết cũ ở Á
Châu, những Giáo Hội đang tái thiết trong những hoàn cảnh đầy thử thách do thời
kỳ khó khăn lịch sử để lại. Giáo Hội đồng hành với họ trong lời cầu nguyện,
chia sẻ những đau khổ và hy vọng mới tìm lại được của họ. Tôi khuyến khích toàn
thể Giáo Hội nâng đỡ họ về mặt tinh thần, thiêng liêng và vật chất, và cung ứng
cho họ các thừa tác viên giáo sĩ hay giáo dân mà họ rất cần, để giúp đỡ những
cộng đồng này trong công tác chia sẻ với các dân tộc những vùng đất này tình
yêu của Thiên Chúa được mạc khải trong Đức Kitô (141).
Trong nhiều phần đất Á Châu, anh chị em chúng ta
tiếp tục sống đức tin giữa những hạn chế hay là có khi mất hoàn toàn tự do. Các
Nghị Phụ Thượng Hội Đồng bày tỏ sự quan tâm và lo lắng cách riêng đối với những
thành viên đang đau khổ này. Cùng với các Giám Mục Á Châu, tôi tha thiết
xin anh chị em của các Giáo Hội đang gặp khó khăn này, biết kết hợp các đau khổ
của mình với các đau khổ của Chúa chịu đóng đinh, bởi vì chúng ta và họ đều
biết duy chỉ có thánh giá, khi bằng lòng vác trong đức tin và tình yêu, mới là
con đường phục sinh và ban sự sống mới cho nhân loại. Tôi khuyến khích các Hội
đồng Giám Mục quốc gia tại Á Châu thiết lập một văn phòng để giúp đỡ các Giáo
Hội này, và tôi cam kết Toà Thánh tiếp tục gần gũi và lo lắng cho tất cả những
ai đang bị bắt bớ vì niềm tin vào Đức Kitô (142). Tôi kêu gọi các chính phủ và
các vị lãnh đạo quốc gia chấp nhận và thực hiện những chính sách bảo đảm tự do
tôn giáo cho tất cả các công dân của mình.
Trong nhiều dịp, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã
nghĩ tới Giáo Hội Công giáo tại lục địa Trung Hoa, và cầu nguyện cho sớm tới
ngày anh chị em Trung Hoa thân mến của chúng ta được hoàn toàn tự do thực hành
đức tin của mình trong sự hiệp thông hoàn toàn với Toà Thánh Phêrô và Giáo Hội
hoàn vũ. Hỡi những anh chị em Trung Hoa thân mến, tôi tha thiết gởi lời nhắn
nhủ này với anh chị em: đừng bao giờ để những gian khổ và buồn phiền làm giảm
sút lòng sốt mến của anh chị em đối với Đức Kitô và sự dấn thân của anh chị em
đối với quê hương vĩ đại của anh chị em (143). Thượng Hội Đồng cũng bày tỏ sự
liên đới chân tình với Giáo Hội công giáo tại Triều Tiên, và ủng hộ "những
nỗ lực của người công giáo nhằm trợ giúp dân chúng Bắc Triều Tiên đang thiếu thốn
những phương tiện tối thiểu để sống còn, và mang lại hoà giải giữa hai quốc gia
có cùng một chủng tộc, một ngôn ngữ và một gia sản văn hoá" (144).
Cũng vậy, Thượng Hội Đồng thường nghĩ tới Giáo Hội
tại Giêrusalem, một Giáo Hội có chỗ đứng đặc biệt trong con tim của mọi Kitô
hữu. Quả vậy, những lời nói của ngôn sứ Isaia vang dội trong con tim hàng triệu
người tín hữu khắp thế giới, đối với họ Giêrusalem chiếm một chỗ đứng duy nhất
và thân ái: "Hãy vui mừng với Giêrusalem, hãy vì thành Giêrusalem mà hoan
hỉ, hỡi tất cả những người yêu mến thành đô!. để được thoả thích nếm mùi sung
mãn vinh quang, như trẻ thơ bú no bầu sữa mẹ" (66,10-11). Giêrusalem, đô
thị của sự hoà giải con người với Thiên Chúa và với nhau, đã nhiều phen là một
nơi xung đột và chia rẽ. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng kêu gọi các Giáo Hội địa
phương biểu lộ một sự liên đới với Giáo Hội tại Giêrusalem, bằng cách chia sẻ
những đau buồn, cầu nguyện và hợp tác với Giáo Hội này nhằm phục vụ hoà bình,
công bình và hoà giải giữa hai dân tộc và ba tôn giáo hiện diện trong Thành
Thánh này (145). Tôi lập lại lời kêu gọi mà tôi thường gởi đến các vị lãnh đạo
chính trị và tôn giáo và mọi người thiện chí, nhằm tìm kiếm những phương thức
bảo đảm hoà bình và sự toàn vẹn cho Giêrusalem. Như tôi đã viết, tôi tha thiết
ước mong làm một chuyến hành hương tôn giáo tới đó, như vị Tiền Nhiệm của tôi
là Đức Phaolô VI, để cầu nguyện trong thành thánh nơi Đức Giêsu Kitô đã sống,
đã chết và đã chổi dậy và viếng nơi mà, trong quyền lực Chúa Thánh Thần, các
tông đồ đã ra đi rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu Kitô cho thế giới (146).
Một Sứ Mạng Đối Thoại
29. Chủ đề
chung của các Thượng Hội Đồng "lục địa" khác nhau nhằm chuẩn bị Đại
Năm Thánh năm 2000, đó là Tân Phúc Âm hoaù. Một thời kỳ mới của việc
loan báo Tin Mừng là cần thiết, không những vì, sau hai ngàn năm, một phần lớn
gia đình nhân loại còn chưa biết Đức Kitô, nhưng cũng vì hoàn cảnh mà Giáo Hội
và thế giới đang sống ở ngưỡng cửa ngàn năm thứ ba, gợi lên những thách đố đặc
biệt đối với niềm tin tôn giáo và những chân lý luân lý phát sinh từ đó. Gần
như nơi nào cũng có khuynh hướng xây dựng sự tiến bộ và sự thịnh vượng mà không
hề qui chiếu về Thiên Chúa, và khuynh hướng thu gọn chiều kích tôn giáo của con
người vào lãnh vực riêng tư. Xã hội nào tách biệt khỏi chân lý nền tảng nhất về
con người, nghĩa là mối tương quan với Đấng Tạo hoá và sự cứu chuộc do Đức Kitô
thực hiện trong Chúa Thánh Thần thì chỉ có thể càng ngày càng lạc xa nguồn mạch
đích thật của sự sống, tình yêu và hạnh phúc. Thế kỷ đầy tàn bạo này, đang đến
hồi kết thúc, đưa ra một chứng tá khủng khiếp về cái gì có thể xảy ra khi chân
lý và sự thiện bị bỏ qua, để chạy theo sự tham lam quyền lực và mở rộng quyền
hành cho mình. Việc tân Phúc Âm hoá, như là một lời mời gọi hoán cải, hướng về
ân sủng và khôn ngoan, là niềm hy vọng đích thực và duy nhất về một thế giới
tốt đẹp hơn và một tương lai sáng sủa hơn. Vấn đề không phải là Giáo Hội có
điều gì căn bản để nói với những con người nam nữ của thời đại chúng ta, nhưng
Giáo Hội có thể nói điều đó cách nào cho rõ ràng và xác tín!
Thời gian họp Công đồng Vatican II, vị tiền nhiệm
của tôi là Đức Phaolô VI, trong thông điệp Ecclesiam suam, đã tuyên bố
rằng vấn đề mối tương quan giữa Giáo Hội và thế giới Tân thời, là một trong
những vấn đề quan trọng nhất của thời đại chúng ta. Ngài viết rằng "sự
hiện hữu của nó và sự cấp bách của nó, như thể tạo nên một gánh nặng trên tâm
hồn chúng ta, tạo ra một kích thích, một ơn gọi" (147). Kể từ Công Đồng,
Giáo Hội luôn tỏ ra rằng mình muốn theo đuổi mối tương quan đó trong tinh thần
đối thoại. Tuy nhiên ước muốn đối thoại không phải đơn thuần là một chiến lược
để chung sống hoà bình giữa các dân tộc, nó còn là một phần chủ yếu của sứ mạng
Giáo Hội, bởi vì nó bắt nguồn từ sự đối thoại cứu rỗi đầy yêu thương của Chúa
Cha với nhân loại qua Chúa Con trong quyền năng Chúa Thánh Thần. Giáo Hội chỉ
có thể hoàn thành sứ mạng mình theo một cách thức phù hợp với cách thức mà
Thiên Chúa đã hành động trong Đức Giêsu Kitô: trở nên người phàm, chia sẻ đời
sống nhân loại chúng ta và nói bằng ngôn ngữ con người để truyền thông sứ điệp
cứu rỗi của Người. Sự đối thoại mà Giáo Hội đề nghị, đặt nền tảng trên cái
lô-gích của mầu nhiệm Nhập Thể. Do đó, không gì ngoài tình liên đới nhiệt thành
và vô vị lợi thúc giục Giáo Hội đối thoại với những người nam nữ Á Châu, là
những người đang tìm kiếm chân lý trong tình yêu.
Là bí tích hiệp nhất toàn thể nhân loại, Giáo Hội
không thể không đi vào cuộc đối thoại với các dân tộc, trong mọi lúc và mọi
nơi. Đáp trả với sứ mạng đã lãnh nhận, Giáo Hội dám đi gặp các dân tộc trên thế
giới, ý thức rằng mình là "một đoàn chiên bé nhỏ" giữa đám đông bao
la nhân loại (x. Lc 12,32), nhưng cũng là men trong đấu bột của thế giới (x. Mt
13,33). Trước hết, Giáo Hội cố gắng dấn thân đối thoại với những kẻ chia sẻ
niềm tin với mình vào Đức Giêsu Kitô, là Chúa và Đấng Cứu độ. Sự đối thoại trải
rộng ra ngoài thế giới Kitô giáo, tới những kẻ theo mọi truyền thống tôn giáo
khác, dựa trên nền tảng là khát vọng tôn giáo có trong tâm hồn mọi người. Đối
thoại đại kết và đối thoại liên tôn tạo thành một ơn gọi đích thật của Giáo
Hội.
Đối Thoại Đại Kết
30. Đối
thoại đại kết là một thách đố và là một lời mời gọi hoán cải đối với toàn thể
Giáo Hội, cách riêng đối với Giáo Hội tại Á Châu, nơi mà dân chúng trông chờ
nơi người Kitô hữu một dấu chỉ rõ nét hơn về sự hợp nhất. Để cho mọi dân tộc
qui tụ lại dưới tác động của ân sủng Chúa, thì cần phải khôi phục sự hiệp thông
giữa những kẻ, trong đức tin, đã nhìn nhận Đức Giêsu Kitô là Chúa. Chính Đức
Giêsu đã cầu nguyện và không ngừng kêu gọi các môn đệ hợp nhất với nhau, để thế
gian có thể tin rằng Chúa Cha đã sai Người (x. Ga 17,21) (148). Nhưng ý của
Chúa muốn cho Giáo Hội nên một, còn trông chờ sự đáp trả hoàn toàn và can đảm
từ phía các môn đệ của Người.
Tại Á Châu, do số Kitô hữu tương đối ít, nên sự
chia rẽ càng làm cho công việc truyền giáo trở nên khó khăn hơn. Các Nghị Phụ
Thượng Hội Đồng nhìn nhận rằng "gương xấu của một Kitô giáo chia rẽ, là
một ngăn trở lớn cho việc rao giảng Tin Mừng tại Á Châu" (149). Quả thực,
nhiều người tại Á Châu đang đi tìm sự hoà hợp và hiệp nhất qua các tôn giáo và
văn hoá của họ, coi sự chia rẽ giữa các Kitô hữu như là một phản chứng với Đức
Giêsu Kitô. Do đó Giáo Hội Công Giáo tại Á Châu đặc biệt cảm thấy bị thúc đẩy
hợp nhất với các Kitô hữu khác, và nhận thức rằng tìm kiếm sự hoà hợp đầy đủ
đòi hỏi mỗi người phải có lòng bác ái, sự biện phân, lòng can đảm và niềm hy
vọng. "Muốn trở nên xác thực và mang lại kết quả, phong trào đại kết đòi
hỏi một số trạng thái tinh thần cơ bản về phía người tín hữu Công Giáo: trước
hết là đức ái, với một cái nhìn đầy thiện cảm và ước muốn hăng say hợp tác, nơi
nào có thể được, với tín hữu của các Giáo Hội và của các cộng đoàn Giáo Hội
khác; hai là, lòng trung thành với Giáo Hội Công Giáo, không vì thế mà phớt lờ
hoặc phủ nhận những khuyết điểm nơi một số thành phần của Giáo Hội; ba là, một
tinh thần biết biện phân để thấy giá trị của tất cả những gì là tốt và đáng
ngợi khen. Sau cùng, một ước muốn thanh tẩy và đổi mới chân thành cũng là điều
cần thiết" (150).
Đang khi công nhận những khó khăn còn tồn tại trong
các liên hệ giữa người Kitô hữu, những khó khăn đó bao gồm không những các
thành kiến trong quá khứ, mà còn những phê phán ăn rễ sâu trong các niềm xác
tín đụng chạm tới lương tâm, (151) các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng chỉ rõ
những dấu chỉ về các liên hệ được cải thiện giữa một số Giáo Hội Kitô giáo và
những cộng đồng Giáo Hội tại Á Châu. Những Kitô hữu Công giáo và Chính thống
giáo, chẳng hạn, thường nhìn nhận một sự thống nhất văn hoá với nhau, một cảm
thức chia sẻ các yếu tố quan trọng của một truyền thống Giáo Hội chung. Điều đó
làm thành một nền tảng vững chắc để tiếp tục cuộc đối thoại đại kết có hiệu quả
trong ngàn năm sắp tới. Chúng ta phải hy vọng và cầu nguyện cho ngàn năm sắp
tới này chấm dứt mọi chia rẽ của ngàn năm sắp kết thúc.
Trên bình diện thực hành, Thượng Hội Đồng đề nghị
các Hội Đồng Giám Mục quốc gia tại Á Châu, mời những Giáo Hội Kitô giáo khác
liên kết trong một tiến trình cầu nguyện và trao đổi, để nghiên cứu khả năng
hình thành các cơ cấu và hiệp hội đại kết nhằm cổ võ sự hiệp nhất Kitô giáo.
Gợi ý của Thượng Hội Đồng muốn cho Tuần lễ Cầu Nguyện cho sự Hiệp Nhất Kitô
giáo được cử hành cách có kết quả hơn, cũng là một trợ giúp. Các Giám Mục được
khích lệ thiết lập và trông nom các trung tâm đại kết để cầu nguyện và đối
thoại; và sự đào tạo thích đáng cho việc đối thoại đại kết cần phải được đem
vào chương trình giảng dạy tại các chủng viện, các nhà huấn luyện và những cơ
sở giáo dục.
Đối Thoại Liên Tôn
31. Trong
Tông Thư Tertio Millenio Adveniente, tôi đã trình bày rằng biến cố ngàn
năm mới là một dịp lớn để đối thoại liên tôn và để gặp gỡ các nhà lãnh đạo
những tôn giáo lớn thế giới (152). Tiếp xúc, đối thoại và hợp tác với những
người theo các tôn giáo khác, là một trách nhiệm mà Công Đồng Vatican II trối
lại cho toàn thể Giáo Hội như là một bổn phận và một thách đố. Những nguyên tắc
để tìm kiếm một tương giao tích cực với các truyền thống tôn giáo khác, đã được
trình bày trong Tuyên Ngôn Nostra Aetate của Công Đồng, ban hành ngày 28
tháng 10 năm 1965, đó là bản Đại Hiến Chương về đối thoại liên tôn của thời đại
chúng ta. Đứng từ quan điểm Kitô giáo, đối thoại kiên tôn còn hơn là một cách
thức cổ võ sự hiểu biết và làm giàu cho nhau; đó là thành phần của sứ mạng rao
giảng Tin Mừng của Giáo Hội, một diễn tả của sứ vụ đến với dân ngoại (Ad
Gentes) (153). Người Kitô hữu mang đến cho cuộc đối thoại liên tôn niềm xác tín
vững chắc rằng ơn cứu độ trọn vẹn chỉ đến từ Đức Kitô và cộng đoàn Giáo Hội mà
họ thuộc về, là một phương tiện bình thường của sự cứu rỗi (154). Ở đây
tôi lập lại điều tôi đã viết cho khoá họp khoáng đại lần thứ 5 của Liên Hội
Đồng Giám Mục Á Châu: "Mặc dầu Giáo Hội vui mừng công nhận bất cứ cái gì
là chân thật và thánh thiêng trong các truyền thống đạo Phật, đạo Hindu và đạo
Hồi, như là một phản ảnh của chân lý soi sáng muôn dân, điều đó không làm giảm
thiểu bổn phận và quyết tâm của Giáo Hội, đó là rao giảng không do dự về Đức
Giêsu Kitô, Đấng là "đường, là sự thật và là sự sống". Sự kiện những
kẻ theo các tôn giáo khác có thể nhận lãnh ân sủng của Thiên Chúa và được Đức
Kitô cứu độ không bằng những phương tiện bình thường Người đã thiết lập, không
vì thế mà hủy bỏ mời gọi lãnh nhận đức tin và phép Thánh tẩy mà Thiên Chúa muốn
cho mọi người" (155).
Trong quá trình đối thoại, như tôi đã viết trong
Thông Điệp Redemptoris Missio, "không thể loại bỏ các nguyên tắc,
cũng không nên chủ trương hoà giải giả tạo (irenicism), nhưng ngược lại, phải
làm chứng lẫn cho nhau để cùng nhau tiến bước trên con đường tìm kiếm và sống
kinh nghiệm tôn giáo, và đồng thời loại bỏ được những tiên kiến, bất bao dung
và hiểu lầm" (156). Chỉ những người có đức tin Kitô giáo trưởng thành và
xác tín, mới có tư cách dấn thân vào việc đối thoại liên tôn chân chính.
"Chỉ những Kitô hữu được dìm sâu vào trong mầu nhiệm Đức Kitô và sống hạnh
phúc trong cộng đồng đức tin của họ, mới có thể dấn thân vào việc đối thoại
liên tôn, mà tránh được sự liều lĩnh không đáng và có hy vọng hái được hoa quả
tích cực" (157). Do đó, điều quan trọng tại Á Châu là cung cấp những kiểu
mẫu xứng hợp cho cuộc đối thoại liên tôn -Phúc âm hoá trong đối thoại và đối
thoại để Phúc âm hoá- và sự đào tạo xứng hợp cho những ai dấn thân vào đó.
Khi đã nhấn mạnh về sự cần thiết của sự đối thoại
liên tôn để tiến tới một đức tin vững mạnh trong Đức Kitô, các Nghị Phụ Thượng
Hội Đồng nói tiếp về sự cần thiết phải đối thoại bằng cuộc sống và con tim
(dialogue of life and heart). Môn đệ Đức Kitô phải có tấm lòng hiền lành và
khiêm nhượng của Thầy mình, không bao giờ tỏ ra kiêu căng, không bao giờ có
thái độ hạ cố, khi gặp những đối tác trong cuộc đối thoại (x. Mt 11,29).
"Những liên hệ liên tôn được phát huy tốt nhất trong khung cảnh cởi mở với
những tín hữu khác, một thái độ saün sàng lắng nghe, ước muốn kính trọng và
hiểu biết kẻ khác trong sự khác biệt của họ. Để đạt được tất cả điều đó, cần
phải thương yêu kẻ khác. Điều đó phải dẫn đến sự hợp tác, hoà hợp và làm giàu
cho nhau" (158).
Để hướng dẫn những người dấn thân trong tiến trình
này, Thượng Hội Đồng gợi ý soạn thảo một cuốn kim chỉ nam về đối thoại liên tôn
(159). Đang khi Giáo Hội thăm dò những thể thức mới để gặp gỡ các tôn giáo
khác, tôi nhắc lại một số hình thức đối thoại đã thực hiện được và có kết quả
tốt, gồm có những trao đổi nghiên cứu giữa các chuyên viên trong nhiều truyền
thống tôn giáo khác nhau hay những đại diện của các truyền thống này, hành động
chung nhằm phát triển toàn diện con người và bênh vực các giá trị nhân bản và
tôn giáo (160). Tôi nhắc lại là thật quan trọng biết bao việc làm sinh động lại
sự cầu nguyện và chiêm ngưỡng trong quá trình đối thoại. Các người nam và nữ
trong đời sống thánh hiến, có thể góp phần rất có ý nghĩa trong việc đối thoại
liên tôn, bằng cách làm chứng cho sức mạnh của các truyền thống lớn Kitô giáo,
là chủ thuyết khổ chế và thần bí (161).
Cuộc gặp gỡ đáng ghi nhớ tại Assisi, thành phố của
thánh Phanxicô, ngày 27 tháng 10 năm 1986, giữa Giáo Hội Công giáo và đại biểu
các tôn giáo khác trên thế giới, chứng tỏ rằng các người nam nữ có tôn giáo,
tuy không bỏ các truyền thống riêng của mình, vẫn còn có thể dấn thân vào việc
cầu nguyện và kiến tạo hoà bình thịnh vượng cho nhân loại (162). Giáo Hội phải
tiếp tục cố gắng gìn giữ và cổ võ, ở mọi cấp bậc, tinh thần gặp gỡ và hợp tác
giữa các tôn giáo đó.
Sự hiệp thông và đối thoại là hai khía cạnh thiết
yếu của sứ mạng Giáo Hội. Sứ mạng đó có một tấm gương vô cùng nổi bật trong mầu
nhiệm Ba Ngôi, từ đó phát xuất mọi sứ mạng và từ đó mọi sứ mạng phải hướng tới.
Một trong những món quà "sinh nhật" quý báu mà các thành viên của
Giáo Hội, và nhất là các vị Chủ chăn của Giáo Hội, có thể dâng lên Đức Chúa của
lịch sử nhân dịp kỷ niệm hai ngàn năm của mầu nhiệm Nhập Thể, là tăng cường
tinh thần hiệp nhất và hiệp thông ở mọi cấp bậc đời sống Giáo Hội, là sự
"hãnh diện thánh thiện" được đổi mới qua sự liên lỉ trung thành của
Giáo Hội đối với những sự gì đã được ban cho, và là một sự tin tưởng mới mẻ vào
ân sủng và sứ mạng bất biến đã sai Giáo Hội đi giữa các dân tộc trên thế giới
để làm chứng cho tình yêu cứu chuộc và lòng thương xót của Thiên Chúa. Chỉ khi
nào Dân Chúa nhìn nhận ân huệ là của mình trong Đức Kitô, thì họ mới có khả
năng thông truyền ân huệ đó sang cho kẻ khác nhờ sự rao giảng và đối thoại.
còn tiếp
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
TÂM THƯ KỶ NIỆM ĐẶC SAN GIÁO SĨ VIỆT NAM "5 TUỔI". |
|
Mọi
người chúng ta ai ai cũng biết rõ : "THỜI GIỜ LÀ VÀNG
BẠC" (Time is Gold and Money).
Quả thật, Thời gian rất
đáng quí và trân trọng, vì nó đã từng làm biến đổi
con người ta cách kỳ diệu không thể
tưởng
tượng nổi : từ nhỏ dại nên khôn lớn, ngu dốt thành thông
minh sáng suốt, nghèo hèn nên giàu sang phú quí, kém hiểu biết
thành mở rộng
được tầm nhìn và có đầy đủ kiến thức cách đa dạng nữa,
rồi từ không có gì trong tay đến có đầy đủ mọi sự
như ý, từ sáng kiến
này đến sáng kiến khác, từ phát minh nọ tới phát minh kia
không bao giờ ngừng nghỉ, và mỗi lúc một tiến bộ
hơn, văn minh hơn, tốt đẹp
hơn... nếu con người ta biết sử dụng Thời
gian mà Thiên Chúa đã ban tặng cho mỗi
con người chúng ta cách đúng đắn
và
đúng mức, không hoang phí một chút Thời giờ nào của Chúa
cả.
Chính vì thế mà Thế giới chúng ta đang sống đã biến đổi không
ngừng và thành một Thế giới có Văn minh tiến bộ
vượt xa thời
xưa biết
bao : đơn giản nhất
là phương tiện truyền
thông, trước kia rất
khó khăn đưa tin tức cho nhau mà còn phải mất một thời
gian khá lâu mới nhận
được tin tức
! Nhưng ngày nay chỉ trong nháy mắt cả Thế giới đã nhận
được tin tức mà mình muốn chuyển đi... Chính nhờ
phương tiện này mà mọi
người chúng ta có thể tự phát triển
con
người đến toàn diện cách rất dễ dàng.
Chính nhờ
trào lưu tiến bộ
vượt bực của Văn minh nhân loại
ngày nay mà Đặc san GIÁO SĨ VIỆT NAM đã ra đời, nhằm mục
đích đóng góp một phần nhỏ bé cho mọi Thành phần Dân Chúa có một
cái gì làm hành trang, để có thể làm biến đổi
được Cuộc đời mình thêm dễ yêu dễ mến, đáng sống và sống
thật Hạnh Phúc
hơn trong Tình
Yêu Thương quan phòng kỳ diệu của
Thiên Chúa đã xuống Thế
làm Người và ở giữa chúng ta.
Bởi vì LỜI CHÚA phải là "Kim Chỉ Nam" cho mọi
người chúng ta tiến
bước
trên con đường tìm về Nhà Cha của chúng ta ở trên Trời :
-"Hãy tìm kiếm
Nước Thiên Chúa và sự công chính của
Người trước đã, còn các sự khác sẽ
được
ban thêm cho các ngươi" (Math.6,33).
-"Tôi sống,
nhưng không phải tôi, mà là chính Đức Kitô sống trong
tôi" (Ga.2,20).
-"Chính nơi điều này mà mọi
người sẽ biết
các ngươi là môn đệ Ta : ấy là nếu
các ngươi có lòng yêu mến lẫn nhau" (Jn.13,35).
Đặc san Giáo Sĩ Việt Nam
luôn là nơi gặp gỡ, chia sẻ cuộc sống chứng tá Tin Mừng,
là mối dây liên lạc giữa Hàng Giáo
sĩ và Giáo dân, là phương tiện chuyển thông Lời Chúa đến
Quí Độc giả với những
đường
hướng và lối đi kỳ diệu của Thiên Chúa và Giáo Hội trong
cuộc sống hằng
ngày, để mỗi
người chúng ta có thể giữ vững Đức Tin của mình, và có
thể đem áp dụng, làm phát triển con người toàn diện về mọi mặt của
cuộc sống mỗi ngày, hầu tất cả
chúng ta được Thiên Chúa mời vào dự Tiệc
Nước Trời mai sau, vì đã biết dùng Thời giờ mà sống Lời
Chúa mỗi ngày một tốt đẹp
hơn.
Nhân dịp kỷ niệm
Đs. GSVN được 5 tuổi: chúng tôi xin chân
thành cám ơn Quí Cha, Quí vị trợ bút, Quí cộng tác viên
và tất cả Quí độc giả đã ủng hộ, nâng đỡ và tích cực cộng tác
với chúng tôi.
Suốt 5 năm qua, Đs. GSVN đã nhận
được nhiều ý kiến đóng góp, chỉ
giáo và nâng đỡ khích lệ... Nhiều vị trợ bút đã không
quản ngại hy sinh vất vả, để
đem tài năng, tài trí mà ca tụng Thiên Chúa và Mẹ Maria,
rao truyền tin vui, và chia sẻ kinh nghiệm hiểu biết với tha
nhân... Chính vì thế, số độc giả
dành cho Đs. GSVN mỗi ngày một
đông hơn mà chúng tôi không thể ngờ
được
như vậy ! Thật là cảm tạ
Ơn Thiên Chúa và Mẹ Maria.
Chắc chắn trong thời gian qua, chúng tôi đã không thể tránh khỏi
những thiếu sót và lỗi lầm, xin Quí Độc giả miễn thứ, bỏ qua cho
chúng tôi và tích cực đóng góp dồi dào ý kiến, để
Đs. GSVN càng ngày càng trở nên hữu
ích hơn.
Cũng nhân dịp
này, qua Năm Thánh Linh Mục
và Năm Thánh 2010 kỷ niệm những biến cố trọng đại của
Giáo Hội Việt Nam, chúng tôi cầu chúc :
Hàng Giáo Sĩ VN và khắp
nơi trên Thế giới luôn mãi vững mạnh là Một Vị Mục Tử
"Nhân Dũng" sống hiền lành,
khiêm nhường,
đơn sơ chất phát, nhưng luôn dũng cảm sống chết
vì Chân Lý Chúa Kitô cho
Đoàn Chiên của mình
được
hưởng Hạnh Phúc trong Công Bằng, Bình Đẳng và Tự Do của
con cái Chúa.
Tu sĩ nam nữ và toàn thể Giáo dân VN và khắp
nơi trên Thế giới luôn vững Tin vào Tình Yêu và sự Quan
Phòng kỳ diệu của
Thiên Chúa, để
hoàn toàn đoàn kết một lòng một dạ với Vị Mục Tử "Nhân
Dũng" của mình mà quyết chiến thắng mọi gian tà, dối trá, lừa
đảo của ba thù : Xác Thịt, Thế gian và Ma quỉ.
Xin Thiên Chúa là Cha rất nhân từ
và đầy lòng khoan dung luôn sẵn sàng giang cánh tay rộng
mở đón nhận mọi tâm hồn
đau thương, sầu khổ và tội lỗi,
ban Ơn tha thứ, Bình an và Tình Bác ái yêu thương
cho tất cả chúng ta, để từ đây trở nên một
Đoàn Chiên duy nhất
trong Chúa Giêsu Kitô có đủ sức mạnh xây dựng một Giáo
Hội Công Giáo vững Đức
Tin, tràn đầy Tình Yêu thương
với niềm Cậy trông vững bền, hầu biến đổi cả Xã hội nên
tốt đẹp, có một Cuộc sống
vui tươi, Hạnh Phúc trong Công Bằng, Bình Đẳng và Tự Do ,
biết tôn trọng Nhân vị và Nhân quyền của
Con người đúng mức
hơn.
Thay mặt Đs. Giáo Sĩ Việt Nam :
Lm. Luca Phạm Quốc Sử. |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
MẸ HẰNG CỨU GIÚP, XIN CỨU GIÚP
CHÚNG CON
|
|
Tôi
sinh ra là đứa út ít trong nhà. Bố mẹ tôi đã chủ trương đặt tên
Thánh cho các con, hễ con trai thì ngoài tên riêng được thêm tên
của bố, hễ con gái thì ngoài tên riêng được thêm tên của Mẹ. Thế
là tôi có được tên Thánh thật dài: Giuse Maria Antôn. Ba mươi ba
năm sau, khấn DCCT ngày 1 tháng 8, tôi được thêm tên Thánh An
Phong. Thế là tôi luôn khoe với mọi người, rằng tôi được mừng
Bổn Mạng gần như... quanh năm: Thánh Giuse 2 lần, Thánh Antôn và
Thánh An Phong, mỗi vị 1 lần, riêng Đức Mẹ thì ngoài các lễ
trọng còn thêm 52 lần thứ bảy hằng tuần.
Nghe vậy cứ ngỡ tôi đạo đức sốt sắng ghê lắm, con cưng Đức Mẹ mà
! Thưa, không được như thế đâu,
tôi viết bài này
không phải như một hồi ký, nhưng xin được như một hồi ức về Mẹ,
chia sẻ với mọi người nhưng thật ra là để chính mình có cơ hội
để quỳ xuống cúi đầu xin lỗi Mẹ, để rồi sẽ yêu mến gắn bó với Mẹ
nhiều hơn, thật hơn, sâu hơn.
Đọc
những lời bộc bạch tâm sự này, nếu quý độc giả thấy có thể đồng
cảm được ở một góc nào, một mảnh nào, tôi sẽ mừng ghê lắm và
chúng ta sẽ càng thân nhau hơn trong tình nghĩa cùng là con cái
của Mẹ.
Tôi xin chia
sẻ thành hai phần:
Phần đầu tôi chọn tiêu đề là “Trong vòng
tay cứu giúp của Mẹ...” là những hồi ức với Mẹ từ tấm bé cho đến
năm tôi được 20 tuổi ( 1959 – 1979 )
Phần sau tôi xác tín “Đường đời tay Mẹ dẫn
đi...” với những cột mốc đánh dấu cuộc đời tôi hơn 30 năm qua (
1979 – 2009 ) trong vòng yêu thương của Mẹ, nhất là giai đoạn
tôi được Mẹ dẫn vào Dòng Chúa Cứu Thế của Mẹ.
PHẦN MỘT:
TRONG VÒNG TAY
CỨU GIÚP CỦA MẸ...
Trước ngày 30
tháng 4, tôi chỉ là một chú bé học sinh thành phố, ham chơi, lắm
trò nghịch ngợm, tuy nhiên cũng đã bắt đầu nếm trải những nỗi
kinh sợ máu lửa và bom đạn của cuộc đảo chính 1963, của Tết Mậu
Thân 1968, của mùa hè đỏ lửa 1972, và của những ngày tranh tối
tranh sáng 1975.
Mới ba, bốn
tuổi đầu, đi ông nha sĩ quen ở gần chợ Tân Định để nhổ mấy cái
răng sữa bị sâu, tôi đã chứng kiến những cuộc biểu tình phất
phới những tấm áo vàng của Nhà Phật với gạch đá, ống nước bằng
sắt và lựu đạn cay trước cuộc đảo chính 1 tháng 11 năm 63, lật
đổ ông Ngô Đình Diệm.
Mới chín,
mười tuổi, mê mẩn với trò đốt pháo đêm giao thừa Tết Mậu Thân
1968 thì ngay sau đó đã được nghe súng AK47 và B40 của quân Giải
Phóng nằm vùng nổ rền ngay trước hiên nhà. Sau đó, thì hằng đêm,
cả nhà tôi 8 người cùng chui vào cái hầm nổi diện tích chỉ có 4
mét vuông, chất đầy bao cát ngay giữa nhà, để may ra thoát chết
nếu có pháo kích của “mấy ổng” bằng hỏa tiễn 122 ly từ miệt Hóc
Môn rót vô tội vạ vào nội ô Sàigòn.
Và, may quá,
giữa cái không khí binh biến và chiến tranh chết chóc hãi hùng
ấy, ký ức niên thiếu của tôi còn được ghi dấu không phai những
kỷ niệm về Đức Mẹ.
Vâng, năm
1965, lúc ấy tôi mới lên sáu, bé xíu, đang học tiểu học với các
Nữ Tu Dòng Đức Bà Truyền Giáo ( Notre Dame des Missions ) ở Thị
Nghè, đi học được nghe các dì kể chuyện, về nhà lại được ba mẹ
tôi cho xem ảnh, cho đọc báo Thăng Tiến nên bây giờ còn nhớ rõ
lắm. Pho tượng Đức Mẹ Fatima gương mặt thật đẹp nhưng cũng thật
buồn, một giọt nước mắt luôn đọng nơi cánh mũi, ánh mắt nhìn sâu
thăm thẳm, hai cánh tay đưa ra với một tràng chuỗi lấp lánh long
lanh, như muốn trao, lại nửa như muốn níu, muốn kéo, muốn vớt
lấy đàn con khốn khổ.
Tôi
nghe gọi tên “Đức Mẹ Thánh Du”, rằng Mẹ đã đi khắp các nước trên
thế giới, rồi nay Mẹ đến thăm dân Việt, đất Việt. Mẹ không chỉ
đến các Trung Tâm Hành Hương lớn và các Nhà Thờ Chính Tòa của
các Giáo Phận, Mẹ vào cả Khám Chí Hòa gặp các tù nhân, vào Tổng
Y Viện Công Hòa gặp các thương bệnh binh. Mẹ đến tận cầu Hiền
Lương, sông Bến Hải, nơi lúc ấy còn cắt đôi đất nước... Bài
Thánh Ca của nhạc sĩ Hải Linh sáng tác từ xa xưa ngoài Bắc trước
thời di cư, nay được cất lên trong đầm đìa nước mắt: “Mẹ ơi,
đoái thương xem nước Việt Nam, trời u ám chiến tranh điêu tàn,
Mẹ hãy giơ tay ban phúc Bình An, nước Việt Nam qua phút nguy
nan”.
Ở Giáo Xứ
Phanxicô Đakao của tôi khi ấy có tổ chức cho từng gia đình đón
Đức Mẹ Fatima về nhà, rồi cả xóm, các liên gia kéo đến, cả những
người Phật Giáo ở gần đó, tất cả quây quần bên Mẹ đọc kinh lần
chuỗi, hát Thánh Ca thật là sốt sắng. Ngay đám nhóc tì chúng tôi
ngày thường hò hét chạy nhảy linh tinh, bỗng nhiên cũng biết
ngồi chăm chú khoanh tay xếp bằng trên những chiếc chiếu trải
dưới n ền nhà, sát ngay bàn thờ đặt tượng Mẹ. Của đáng tội, có
buồn ngủ quá thì nằm xoài ra đấy cũng chẳng ai la mắng, mắt nhắm
tịt nhưng mà có chịu ngủ đâu, tai vẫn lắng nghe từng vần hát
cung kinh ngân nga da diết.
Đầu năm 1974,
Đức Mẹ Fatima lại Thánh Du đến Việt Nam một lần nữa. Lúc ấy
chiến sự Bắc Nam đã dữ dội lắm rồi. Mẹ lại khóc, cả đất nước,
người giáo người lương cùng khóc. Trong một buổi cung nghinh tại
Nhà Thờ Đức Bà Sàigòn, đám đông hàng vạn người đã vây kín các
lối đi, các cửa ngõ, không cách nào đưa Đức Mẹ ra đi.
Sau này tôi
nghe kể một giai thoại: cha Tiến Lộc, DCCT, đã nẩy ra sáng kiến,
đề nghị Ban Tổ Chức cho ngay một xe cứu thương hụ còi chạy đến,
rẽ đám đông để đưa được đuôi xe đến một ngách bên hông Nhà Thờ
Chính Tòa. Và Đức Mẹ đã được bọc kín bằng mấy tấm vải trắng, đặt
nằm lên băngca khiêng ra xe như một người bệnh đang cần đưa đi
cấp cứu. Và thế là Mẹ đã được “cứu giúp” kịp thời như Mẹ đã và
vẫn luôn cứu giúp con cái của Mẹ trong những khoảnh khắc tử
sinh.
Sang năm
1975, vừa hết Tết thì gần như mỗi ngày, lại thêm một tỉnh chìm
trong lửa khói, đoàn dân tỵ nạn vừa chạy từ tỉnh bên cạnh về,
chưa kịp dựng xong lều bạt tạm cư, đã lại nháo nhào bỏ chạy
tiếp. Người Sàigòn chúng tôi lúc ấy đâm ra ngơ ngác. Khắp nơi
người ta chạy về thành phố của mình, đến phiên mình thì biết
chạy đi đâu ?
Tôi đã từng
được bố tôi cho xem bức ảnh bà cụ di cư 54 từ Bắc vào Nam, của
nả chẳng có gì ngoài một giỏ cói gánh vai, thế mà tay vẫn cặp
theo bằng được bức ảnh Mẹ Hằng Cứu Giúp. Bây giờ hơn mươi năm
sau, tôi lại thấy cũng một bà già hao hao như thế, cũng chít
khăn mỏ quạ, cũng răng đen mã tấu, chạy từ Dốc Mơ, Gia Kiệm về,
thấy đất Sàigòn có lẽ cũng không ổn, lại loay hoay định tìm
đường chạy tỵ nạn tiếp về đến Rạch Giá, tay khư khư ôm một pho
tượng Đức Mẹ Fatima mà hình như lòng thì tin chắc rằng chính Mẹ
mới là người đang ôm mình vào lòng.
Ngày 8 tháng
4, tôi đang ôn bài chuẩn bị cho kỳ thi Brevet thì bom nổ ngay
giữa lòng Sàigòn. Tấm sàn gác gỗ tôi đang nằm như thụng xuống
rồi bật dội lên. Người ta ném bom Dinh Độc Lập. Cả thành phố
kinh hoàng xôn xao. Lính bắt đầu đóng chốt, giăng kẽm gai các
cửa ngõ vào Sàigòn. Tin tức lan nhanh, nhật báo bán đắt như tôm
tươi, vật giá gạo sữa và xăng nhớt tăng chóng mặt.
Hôm sau, gia
đình tôi được tin ông anh rể là sĩ quan bị phục kích bắn chết ở
Hóc Môn. Cả nhà lên nhận xác người thân trên Nghĩa Trang Quân
Đội giữa tiếng khóc như ri của mấy chục bà vợ lính ôm ghì xác
chồng, mấy trăm đứa trẻ con lính tròn xoe mắt nhìn xác bố. Buổi
chiều mây mù ảm đạm, chợt có tiếng mẹ tôi bắt kinh Kính Mừng,
thế là mọi người râm ran đọc theo, cả những gia đình không Công
Giáo cũng như lắng nỗi đau lại, kìm nén và chịu đựng.
Chiều 28
tháng 4, tôi đang dự Thánh Lễ chiều ở Nhà Thờ Phanxicô Đakao thì
bom lại nổ như sấm rền, súng đại liên và cao xạ giật đùng đùng
như nhịp chày giã từng tràng tức muốn vỡ lồng ngực. Sau này mới
biết có lại có máy bay phản lực ném bom Dinh Độc Lập. Sau khi
cho rước Lễ, cha Sở cho anh chị em Giáo Dân chạy lên hẳn Cung
Thánh để vào nấp sâu trong Tu Viện, riêng tôi thì liều lĩnh chạy
về nhà, cứ nép sát các bức tường dọc phố mà đi, tránh những lằn
đạn nảy tung trên mặt đường nhựa.
Tôi về được
đến nhà thì thấy cả gia đình đang ngồi xệp dưới đất ở phòng
trong, hướng mắt lên bàn thờ mà líu ríu đọc kinh. Vôi vữa trên
trần rơi xuống từng đợt, bức tượng Đức Mẹ đặt trên bệ cao như
rung rinh theo nhịp bom đạn hung hãn. Không ai bình tĩnh để nhớ
mà đọc được một kinh nào cho ra đầu ra đuôi, cuối cùng lại
vẫn... “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có
tội, khi nay và trong giờ lâm tử.”
Cứ thế, mấy
ngày liên tiếp, dân Sàigòn sống trong hoang mang sợ hãi của một
cuộc chiến đã gần tàn, tiếng máy bay gầm rú trên trời, tiếng xe
chạy hỗn loạn trên đường, tiếng người lạc nhau gọi nhau í ới,
tiếng trẻ con sơ sinh khóc ngằn ngặt, thỉnh thoảng nơi này chỗ
kia lại bùng lên một vụ nổ, một đám cháy và những cuộc xô xát
hôi của hỗn loạn.
Rồi 30 tháng
4... Không biết bao nhiêu người đã ra đi và bao nhiêu người ở
lại. Cũng chưa có ai thống kê được chính xác bao nhiêu người đã
nằm xuống, phía bên này lẫn phía bên kia...
Tôi học ba
năm cuối cấp 3 ở ba trường khác nhau. Trùng hợp thật dễ thương,
tôi đã khởi đầu với một trường tiểu học của các Nữ Tu Dòng Đức
Bà Truyền Giáo ( Notre Dame des Missions ), đến năm lớp 12 kết
thúc quãng đời Trung Học, tôi lại được gặp các Nữ Tu Dòng Đức Bà
( Dòng các nữ Kinh Sĩ Thánh Augustin ), vẫn quen được gọi là
Regina Mundi. Đức Mẹ tuy được tôn dương như một bà quý phái sang
trọng ( Notre Dame, Our Lady ) nhưng với nhận thức của một chú
thiếu niên mới lớn, tôi đã đồng hóa một số Nữ Tu hiền hòa nhân
hậu, lại vui vẻ nhỏ nhẹ, cởi mở dễ thương với chính Đức Mẹ, Đấng
cứ ngỡ là cao xa cách biệt, triều thiên lóng lánh đứng trên bệ
cao là cả và cõi đất này.
Hình như tất
cả để chuẩn bị cho sau này tôi được đến với Đức Mẹ gần hơn nữa,
thân tình hơn nữa, trong DCCT với Mẹ Hằng Cứu Giúp, tước hiệu
nếu được dịch sát, cũng phải được vinh danh là Đức Bà ( Notre
Dame du Perpétuel Secours – Our Lady of Perpetual Help ).
Với hai Nhà
Dòng Đức Bà, tôi xin ghi nhớ mãi công ơn của các Nữ Tu đã dạy dỗ
tôi, đặc biệt là các vị đã được Chúa gọi về: Sr. Jeanne de
Valois, Sr. Raphael, Sr. Paul, Sr. Joseph Lê Thị Thơm và cô giáo
Tâm Lý Chiều Sâu, Sr. Tô Thị Ánh.
Còn nhớ những
năm 1977 – 1978, vừa mới qua biến cố 75 không lâu, bao nhiêu là
xáo trộn trong xã hội và trên toàn đất nước, vậy mà sao buổi
sáng hễ cứ lọt được vào khoảng sân trường trải sỏi và nhiều bóng
cây râm mát của Dòng Đức Bà, lũ học trò con trai chúng tôi như
thể tìm được một không gian bình yên và nhân ái, thanh cao và
thánh thiện, thoát khỏi mọi thứ mít-tinh, cờ quạt, khẩu hiệu, ồn
ào xôn xao.
Chắc có lẽ
bên Sở Giáo Dục cũng không thể lường được là một ngôi Nguyện
Đường xinh xắn ấm áp nằm lọt ngay giữa khuôn viên một trường học
cấp 3 của Nhà Nước XHCN lại có một tác dụng tâm linh sâu xa
tuyệt vời như thế nào đối với chúng tôi lúc ấy, cả dân Công Giáo
cũng như bên lương, cả đối với các đoàn viên Thanh Niên Cộng Sản
!
Thi tốt
nghiệp Phổ Thông ( nay gọi là Tú Tài ) vừa xong, cũng là lúc bạn
bè chúng tôi xa nhau, mất nhau, một loạt đi vượt biên, khá nhiều
bạn phải theo gia đình đi Kinh Tế Mới hoặc phải vào đời sớm để
mưu sinh vì trong nhà còn có người đi học tập cải tạo. Chiến
tranh biên giới Tây Nam nổ bùng, một số bạn trai phải đi bộ đội
hoặc thanh niên xung phong sang tận Kampuchea. Chỉ còn một số ít
lọt được vào Đại Học.
Bản thân tôi
cũng đinh ninh mình đi thi vào trường Kiến Trúc chơi cho vui vậy
thôi, lý lịch gồm đủ bộ: Bắc Kỳ, Công Giáo di cư, bố ngụy quyền,
anh ngụy quân, thành phần tiểu tư sản trí thức thành thị... thì
làm gì mà dám mơ tưởng đến chuyện làm sinh viên ?
Hôm ấy, tôi
đi chơi lông bông với mấy đứa bạn, đến trưa về nhà, chị tôi bảo:
“Sáng nay mẹ đang quét sân thì có thư, ba mở xem thì ra giấy báo
cậu được gọi trình diện trường Kiến Trúc. Ba đã bắt cả nhà vào
quỳ gối trước bàn thờ đọc kinh lần chuỗi tạ ơn Đức Mẹ đấy ! Ba
bảo đây là đứa con đầu tiên trong dòng họ nội ngoại được Mẹ
thương cầu bầu cho vào được Đại Học !”
Mà đúng thật là phép lạ, sau này tôi vào
trường rồi, tìm hiểu mới biết bài vẽ của tôi rất tốt nhưng vẫn
bị đánh rớt vì lý lịch quá xấu, thế nhưng sau khi gọi tập trung
đợt một, có quá nhiều bạn không ra trình diện, có lẽ vì đã vượt
biên, thiếu túc số trầm trọng, trường phải xét đậu vớt. Và thế
là tôi được công nhận là sinh viên của Nhà Nước, hàng tháng lãnh
học bổng 18 đồng, được mua gạo, mua nhu yếu phẩm với giá cực rẻ,
lại được cho cha mẹ “ăn theo” mấy chục ký lương thực ngay trong
giai đoạn bao cấp, cả nước đang phải ăn bo bo với khoai lang trừ
cơm !
Hai mươi năm
đầu đời của tôi cuối cùng được lại ghi dấu bằng một biến cố sinh
tử mà tôi tin chắc mình đã được Đức Mẹ gìn giữ. Xập tối một ngày
cuối năm 1979, tôi phải vào Nhà Thương Sàigòn cấp cứu, cứ ngỡ là
đau bụng lình xình, không ngờ chỉ tý nữa thôi là vỡ ruột thừa !
Ca mổ của tôi là ca thứ tư, các bác sĩ và y tá đã quá đuối sức
với những ca phức tạp trước đó, nhưng mạng sống tôi đã được cứu
kịp thời.
Nằm trong
phòng hậu phẫu, tôi vẫn còn thiêm thiếp trong cơn nửa tỉnh nửa
mê, chỉ biết tay mình đang nắm thật chắc một bàn tay ai đó để
bình an thiếp vào giấc ngủ. Đến sáng, tôi mở mắt thì thấy ba tôi
đang ngồi gục đầu lên giường bệnh của tôi, một tay nắm chặt bàn
tay tôi, một tay cầm xâu chuỗi, như thể ba tôi muốn làm một gạch
nối giữa đứa con trai út đang thập tử nhất sinh với Đức Mẹ, Mẹ
Hằng Cứu Giúp.
Vậy đó, bây giờ nhìn lại đã mấy mươi năm
trôi qua, ký ức tôi cũng một phần nhạt phai, chỉ còn giữ lại
những nét hằn sâu của lịch sử và những vết sẹo từ các thương
tích của chính đời mình, của bạn bè tôi, của từng gia đình, từng
con người thời chiến tranh loạn ly và cả thời hậu chiến, tưởng
là đã hòa bình nhưng vẫn có quá nhiều tang tóc đổ vỡ.
Và tôi cảm nhận rõ, tất cả, những người
quanh tôi, lương lẫn giáo, miền Bắc miền Nam, người thắng kẻ
thua, vô thần hãy tín hữu, bản thân tôi và mọi người, đều đã
sống, đã khóc đã cười, đã bước đi trong vòng tay cứu giúp của
Mẹ, cho dù có thể thâm tâm vẫn chưa nhìn ra Mẹ, thậm chí vẫn
chống đối Mẹ ra mặt. Mẹ vẫn là Mẹ, mà lại là Hằng Cứu Giúp nữa
cơ chứ... Mẹ luôn là Mẹ của tất cả, tất cả đều là những đứa con
cần có tình thương của Mẹ nuôi cho lớn khôn...
Lạy Mẹ Hằng Cứu Giúp, xin tiếp tục cứu giúp
chúng con. Amen.
Lm. LÊ
QUANG UY, DCCT, Lễ Đức Mẹ Thăng Thiên, Chúa Nhật 15.8.2010
Xin hẹn đến PHẦN HAI ( 1979 – 2009 ), ĐƯỜNG
ĐỜI TAY MẸ DẪN ĐI...
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
TINH THẦN TRUYỀN GIÁO |
|
Người ta thường nói tinh thần
đức tin, tinh thần tông đồ, tinh thần truyền giáo. Tinh thần là cái gì ẩn giấu
bên trong, bên ngoài chỉ nghe nói mà không thấy được. Chúng ta biết người này
người kia có tinh thần. Tinh thần của người ấy biểu lộ ra bên ngoài bằng các
việc làm. Ta chỉ trông thấy việc làm, còn tinh thần của người ấy ta không thấy.
1,
Tinh thần là sức sống bên trong
Tinh thần là sức sống bên
trong phát xuất ra bên ngoài qua các hành động. Nó là động lực, là cái hồn ở
trong con người, linh hoạt mọi tư tưởng và việc làm của người ấy. Người có tinh
thần là người đáng nể. Muốn là người đáng nể thì phải rèn luyện tinh thần, đem
tinh thần vào trong công việc và đời sống. Người có tinh thần thì làm việc đến
nơi đến chốn, không hời hợt, luôn sửa soạn trước cho công việc được chu đáo.
Người có tinh thần làm cho người khác được yên tâm vì tính nghiêm túc và cẩn
thận của mình.
Nay áp dụng vào công việc tông
đồ thì tinh thần truyền giáo là gì ? Thưa là hết lòng hết sức với công việc rao
truyền lời Chua, gây dựng Giáo Hội ở nơi nào chưa có, hay đã có mà ngả nghiêng,
xiêu vẹo, như các nhà truyền giáo vẫn làm từ trước đến nay. Các vị đó đã để hết
tâm lực vào công việc này khiến cho có thể nói cuộc đời của các vị tập trung và
thu gọn lại trong đó.
Mới đây, tình cờ tôi có gặp
một linh mục dòng Chúa Cưu Thế trẻ, mới chịu chức được vài năm nay. Hiện linh
mục này đang làm việc cho ngươì Thượng trên vùng Đà lạt. Ông đã nói chuyện say
sưa với tôi về những công việc ông đã làm và đang làm cho những người này. Tôi
thấy trong ông như có một ngọn lửa. Chính ngọn lửa ấy đã đốt cháy cuộc đời ông,
không phải cháy tiêu tan mà cháy bừng lên ngọn lửa hy sinh nhiệt thành cho công
việc. Bên cạnh đó là lòng tin vào sức mạnh phù trì của Chúa.
Ban đầu, người ta không cho
ông ở với dân. Mỗi lần đi lễ, dân kéo cả làng đi và phải đi bộ 6 tiếng mới tới
nơi hành lễ. Như vậy, mỗi lần đi lễ phài mất cả một ngày. Về sau, Nhà Nước thấy
dân đi đông như thế rất khó kiểm soát, nên cuối cùng đã cho ông đến ở giữa dân.
Hiện ông đang làm nhà thờ cho họ. Tôi có hỏi ông khi người ta đi lễ, ông có cho
họ ăn không. Ông nói có, vì thường họ ở đến hôm sau mới về. Tôi hỏi tiếp : thế
lấy tiền đâu ra để nuôi họ. Ông nói : lạ lắm! Không làm thì thôi mà hẽ làm thì
tiền bạc từ đâu tới không biết nữa, chỉ thấy người thì cho tiền, người cho quần
áo, người cho gạo. Ngay cả việc làm nhà thờ hiện nay cũng thế. Cứ làm rồi có
người giúp. Như thế có phải là việc Chúa làm không ? Mình làm việc cho Chúa thì
Chúa làm việc cho mình. Chính nhờ thế mà nhà truyền giáo thêm tin tưởng và tìm
được niềm vui trong công việc của mình.
Một linh mục khác cũng còn trẻ
thuộc dòng Đa Minh, bây giờ tự ý bỏ nơi yên ổn đi vào vùng sâu vùng xa trên Buôn
ma thuột. Ông này cũng đang gặp khó khăn với chính quyền địa phương, nhưng kiên
trì ở lại giũa những người Thượng. Lâu dần người ta thấy ông lo cho dân, giúp họ
làm nhà, dựng chợ, nên cũng đã cho qua.
Thường chính quyền vốn dị ứng
với việc giảng đạo, nhu mới đây tôi đến xin tạm trú cho một nhóm y bác sĩ đến
nhà An hạ tĩnh tâm. Họ là nhóm người thiện nguyện lo giúp cho các bệnh nhân HIV.
Một nữ công an hỏi ngay là có giảng đạo không đấy, không được giảng đạo đâu
nhé!Tôi bảo người ta đến nghỉ ngơi thư giãn;sau những ngày làm việc mệt mỏi, họ
cần ra khỏi thành phố, tìm nơi thoáng mát để thay đổi không khí. Lúc đó họ mới
chịu.
Trở lại trường hợp linh mục
dòng Chúa Cứu Thế ở trện. Ông cho tôi biết là ông thích việc truyền giáo cho
người Thượng ngay từ khi đang ở học viện. Lúc ấy ông đã bắt đầu học tiếng Thượng
và tâm trí lúc nào cũng vẩn vơ với công việc này.
Như vậy tinh thần truyền giáo
có nghĩa là mối bận tâm suy nghĩ tìm tòi về công việc truyền giáo và luôn hướng
lòng về đó mà chuẩn bị cho mình biết chịu khó, tập thích nghi với hoàn cảnh và
sẵn sàng để được sai đi.
Cách đây ít hôm có một thầy
thuộc Dòng Chúa Thánh Thần đến gặp tôi và tỏ ý lo ngại về ơn gọi của mình. Thầy
nói dòng của thầy là dòng truyền giáo. Anh em trong dòng của thầy được huấn
luyện để gửi đi làm việc ở nước ngoài. Vì vậy mọi người phải học tiếng Anh ráo
riết. Bây giờ thầy đã lớn rồi, việc học ngoại ngữ có phần khó khăn, sức tiếp thu
không được nhanh nhạy. Thầy thấy sợ không biết có đáp ứng nổi ơn gọi này không.
Mối lo ngại của thầy là chính
đáng. Nó cho thấy một khía cạnh thực tế của ơn gọi truyền giáo. Đó là phải tạo
cho mình một khả năng thích ứng. Mối bận tâm lo cho mình có thể thích ứng với ơn
gọi cũng là một nét biểu dương tinh thần truyền giáo, nghĩa là tìm hết cách để
có thể làm tốt công việc này. Bởi vậy, tinh thần truyền giáo là thích nghi để
đáp ứng. Việc thích nghi đòi phải hy sinh luyện tập cho quen với môi trường mình
phải sống và ở với những người mình được sai đến. Mới nghĩ thì tự nhiên củng
thấy sợ và ngại. Nhưng với ơn Chúa giúp thì cái sợ cái ngại kia lại có thể trở
thành niềm vui và một sự hấp dẫn : vui vì có dịp cho đi cái phần tốt nhất của
mình và hấp dẫn vì khám phá ra nhiều điều mới lạ nơi những người mình phục vụ và
trong khu vực mình sinh sống.
2. Làm thế
nào để gây được tinh thần truyền giáo ?
Truyền giáo lá một ơn gọi đặc
biệt. Muốn đáp ứng ơn gọi này, phải có tinh thần. Tinh thần này có được là do
cầu xin và tập luyện.
2,1 Cầu xin
Hàng ngày nhà truyền giáo phải
cầu xin cho mình có khả năng nuôi dưỡng và giữ được ơn gọi truyền giáo. Đi
truyền giáo là thi hành và đáp lại lệnh truyền của Chúa : “Anh em hãy đi và
làm cho muôn dân trờ thành môn đệ, làm phép Rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa
Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.”
(Mt 28,19) Ơn gọi và nhiệm vụ này không dễ thực thi, nếu không được ơn Chúa phù
trì. Vì vậy, ưu tiên số một là cầu xin mỗi ngày cho ơn gọi truyền giáo của mình,
sao cho ơn này luôn sống động mạnh mẽ, thúc đẩy mình ham mê dấn thân hoạt động,
dù gặp khó khăn hay cản trở. Lời cầu nguyện này phải được tỏ bày trong thánh lễ
mỗi ngày, trong các sinh hoạt đạo đức hay trong những giờ phút yên lặng mình tự
chọn.
2,2 Tập
luyện
Ngoài cầu nguyện ra là tập
luyện, tập luyện hàng ngày trong giai đoạn đào tạo theo đường hướng tu đức
truyền giáo. Tập luyện bằng hai hình thức : lý thuyết và thực hành. Lý thuyết là
nền thần học về truyền giáo và thực hành là đi thực tập tại các thí điểm truyền
giáo ; một đàng thì thấm nhuần lý thuyết, một đàng thì trưởng thành trong thực
nghiệm. Tập mãi sẽ quen rồi thành nếp. Khi đã thành nếp thì mọi sự sẽ trở nên dễ
dàng hơn lúc ban đầu như trường hợp em bé ở lớp mẫu giáo tập đánh vần hay tập
viết chữ. Lúc đầu thật khó khăn cho em nhưng sau một thời gian, em sẽ không còn
lúng túng nữa. Vì thế, luyện tập là cần thiết và phải được kiên trì theo đuổi.
Kết luận
Muốn làm giỏi công việc của
mình, người thợ phải yêu nghề và luyện tập cho tay nghề mỗi ngày một cao. Khi
đó, người ấy sẽ thành một tay thợ lành nghề. Lành nghề thì làm hay, làm nhanh,
làm tốt công việc của mình, tạo ra được những sản phẩm đẹp và bền, làm vừa ý
người tiêu dùng. Nhà truyền giáo có tinh thần thì cũng giống như người thợ yêu
nghề và lành nghề. Cái lành nghề trong bộ môn của mình là chính niềm vui cho
mình và cho người khác : vui cho mình vì thấy mình được việc và vui cho người
khác vì họ được nhờ cái thành thạo của mình mà lấy làm ưng ý.
Vậy nhà truyền giáo hiện tại
cũng như tương lai nên rèn luyện cho mình một tinh thần truyền giáo và dấn thân
theo tinh thần này, để hạt giống Tin Mừng được gieo vãi khắp nơi và nhiều người
được đón nhận ơn cứu độ.
L.m. An-rê
Đỗ xuân Quế o.p.
|
|
VỀ MỤC LỤC |
|
TRUYỀN GIÁO.
|
|
Tôi còn nhớ,
thuở ấy vì cha mẹ mất sớm , tôi phải sống dưới sự chăm nom của
người Cậu, anh ruột của Mẹ tôi , nhưng Cậu tôi lại là một Linh
Mục, nên tôi luôn được gởi vào các trường nội trú . Chỉ những khi
Hè về , hay những ngày nghĩ Tết tôi mới được về sống gần bên Cậu
thôi .
Cậu tôi là
Cha Sở một xứ Đạo, nằm vùng ngoại ô thành phố Đà Nẵng . Vì là
một làng rặt người Công giáo, nên Cậu tôi xem Giáo xứ ấy như là
gia đình riêng của mình .
Những ngày ở
bên Cậu, tôi mới thấy Cậu tôi bận bịu suốt ngày . Từ việc nhà
thờ, đến việc trong thôn, trong xóm, việc ruộng nương, hoa màu,
cho đến từng việc bất hòa với lối xóm, việc dựng vợ gã chồng ,
việc gia đình lục đục, cha mẹ con cái xung khắc nhau … tất cả họ
đều nhờ đến cha Sở giải quyết .
Tôi không
biết rỏ Giáo xứ ấy có bao nhiêu gia đình ? Mà nguyên một cái
làng rộng lớn như thế, Cậu tôi biết rất rỏ từng bụi tre của mỗi
nhà, bụi tre này thuộc nhà ai , và ai là người đã trồng nên bụi
tre ấy. Nhà nào bao nhiêu đứa con ? Học hành, làm ăn ra sao? Cậu
tôi đều biết rỏ.
Vì am hiểu
tường tận như thế, nên mọi chuyện to nhỏ trong Giáo xứ họ đều
cậy nhờ đến ông không cần đến Chính quyền . Bên lỗi cũng như bên
không lỗi, họ cứ đưa vào Nhà thờ cho Cha giải quyết là mọi việc
đâu vào đó êm thắm cả làng . Họ sống như thế với ông suốt quãng
đời dài 47 năm qua bao thế hệ trong gia đình một cách bình an
trên vùng đất hiền hòa của Giáo xứ Cồn Dầu . (từ 1954 đến
24/8/2010)
Giáo xứ Cồn
Dầu lọt ngay giữa, chung quanh là những làng lương dân . Nhìn
vào bức hình trên, quí vị sẽ thấy rỏ một con đường nối liền xóm
nhà thờ và xóm nghĩa trang . Sau lưng xóm Nhà thờ là làng Trung
Lương và sau lưng xóm Nghĩa trang là làng Lỗ Gián .
Trước năm
1975 những làng quanh giáo xứ Cồn Dầu đều mất an ninh. Họ thường
xin trú ngụ qua đêm ở Giáo xứ Cồn Dầu . Cứ độ 5g chiều dân làng
ở Trung Lương , Lỗ Gián trong diện tuổi lao động, họ đều khăn
gói vào Giáo xứ Cồn Dầu ngũ nhờ, sáng hôm sau mới trở về làng
để lao động, kẻ thì công nhân, người thì làm ruộng …
Nhiều năm
trong chiến tranh, họ mang ơn giáo xứ Cồn Dầu đã cưu mang họ,
thân thiện với họ và gần gũi họ như anh em cùng làng, không ai
còn phân biệt lương giáo .
Vào mùa lũ
lụt tháng chín tháng mười như hôm nay, họ đưa nhau vào Cồn Dầu
chạy lũ . Họ ghé vào những nhà có gác cao xin trú lại , hay vào
ngay trong nhà thờ có ông Cha lúc nào cũng sẵn sàng đón tiếp họ
. Trong cơn hoạn nạn “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”
giáo dân Cồn Dầu luôn san sẽ cho họ, giáo dân hưởng được điều gì
họ cũng có được điều đó không khác gì giáo dân . Vì thế dân các
vùng lân cận rất quí mến dân Cồn Dầu cũng như ông Cha nhà thờ
Cồn dầu . Các Sư Thầy những Chùa quanh đó cũng cảm mến cái tình
đồng bào với nhau, mà năng lui tới thăm hỏi cha Sở và đàm đạo
cùng nhau rất thân tình . Và cũng nhiều người Lương dân ấy đã
trở thành giáo dân của Cồn Dầu
Tôi còn nhớ
có một Đại Đức làng bên vẫn thường ghé thăm Cậu và luôn được Cậu
tôi mời tham dự các buổi Lễ long trọng của nhà thờ. Ông rất đau
buồn khi nghe tin Cậu tôi qua đời và Ông cũng cố lặn lội đến
thăm viếng, đưa tiễn Cậu tôi đến nơi an nghĩ cuối cùng .
Suốt bao
nhiêu năm trôi qua . Cái Đạo trong con người của giáo dân Cồn
Dầu đã làm cho những lương dân ấy tin tưởng và quí trọng họ, tôi
tin rằng cái tình nghĩa của giáo dân Cồn Dầu vẫn không phai mờ
trong cuộc sống của những người dân quê vùng lân cận ấy cho đến
bây giờ.
Nếu sự đời
không đảo điên thì cuộc sống cứ mãi yên bình như thế . Trong
cách sống đùm bọc và chia sẻ, giáo dân Cồn Dầu cũng đã làm được
việc Rao Giảng Tin Mừng đến với các dân Ngoại .
Giáo dân Cồn
dầu không ai chú tâm đến việc đó , nhưng chính những việc nhỏ
nhặt thường ngày trong cuộc sống ấy, họ đã làm sáng danh Chúa
mà họ không hay biết . Họ đã làm cho các dân ngoại quanh họ hiểu
như thế nào là người Công Giáo .
Ánh Sáng Đức
Tin chưa chiếu soi vào tâm trí họ, nhưng trong lòng họ rất tin
tưởng những người Công Giáo , họ không sợ người Công Giáo nói
dối , họ không sợ người Công giáo bất tín , hay tham lam .. Như
thế cũng là thành công lớn cho người có bổn phận mang sứ vụ
Truyền giáo đến cho mọi người .
Một Giáo xứ
đạo đức như thế mà phải mất đi .
Một ngôi Làng
nằm ngay trong vùng Truyền Giáo rất thuận tiện như thế mà phải
xóa sổ .
Giáo dân vì
muốn giữ lại làng mạc yên bình của Cha Ông để lại , của Giáo xứ
thân yêu gắn bó bao đời mà nhận biết bao tai ương , khốn khó. Có
người phải chết, có người phải tù tội đòn roi, có người phải bỏ
xứ ly hương … Và lại chuẩn bị đem ra Tòa xử vì tội cố ý giữ gìn
lại Xóm Đạo, giữ gìn lại Quê hương , Làng xóm.
Sao Giáo Hội
không cố gắng tìm mọi cách để giữ lại Giáo xứ Cồn Dầu ?
Sao ta không
có biện pháp nào để gìn giữ lại Giáo xứ tốt đẹp ấy ? Một địa
điểm thuận lợi, là tâm điểm cho những nơi mà ta “Có nghĩa vụ tạo
môi trường cho Tin Mừng được truyền đạt tới và từ đó Tin Mừng
được lan tỏa ra” như lời Đức Phaolô VI dạy bảo ?
Sao ta không
cùng nhau thắp ngọn nến cầu nguyện, xin Chúa giữ lại Cồn Dầu và
xóa tan đi nỗi bất hạnh của giáo dân Cồn Dầu?
Đó phải chăng
không phải là mục đích Truyền Giáo? là nơi không cần phải gieo
vải hạt Giống Tin Mừng của Chúa nữa?
Mà mọi người
đành im lặng làm ngơ để cho những cái đang có cũng bị tước đi.
Những công sức của người gieo vải bao đời, đến mùa thu hoạch
cũng lặng im cho thú rừng tràn về dày phá ?
Vậy thì nhiệm
vụ Gieo Trồng, Thiên Chúa giao phó lại cho ta là điều gì?
Là nằm đó chờ
sung rụng ?
Hay đứng trên
bục thật cao mà đọc Lời Chúa thật to thì hạt giống Tin Mừng ấy
cứ tự đâm chồi nảy lộc, sinh sôi nảy nở, cho ta mùa thu hoạch
dồi dào để ta tha hồ mà gặt hái ?... .
Trả lời sao
với Chúa đây ???
Chủ Nhật
Truyền Giáo 2010
27/10/2010
Ngày Đáng Nhớ của GX Cồn Dầu
KH |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
CHÚT SUY TƯ VỀ TRUYỀN GIÁO
|
|
Tự bản chất
Giáo Hội là truyền giáo cho nên từ thuở ban sơ cho đến ngày tận
thế Giáo Hội không thể nào đánh mất bản chất của mình.
Trải qua biết
bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời, trải qua bao nhiêu nổi trôi
của lịch sử, sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội có lúc thành công
và có lúc không thành công, có lúc mỹ mãn nhưng cũng có lúc còn
nhiều suy tư. Cùng với những thăng trầm của lịch sử, sứ mạng
truyền giáo cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều của thời cuộc, của văn
hoá, của kinh tế, của chính trị.
Tại Việt Nam,
qua rồi những năm tháng bách hại đạo công khai. Hiện nay, Giáo
Hội xem ra thoáng hơn một chút để rồi sứ mạng truyền giáo nó
cũng khác đi một chút.
Tất cả những
yếu tố ảnh hưởng đến truyền giáo, có lẽ yếu tố kinh tế là yếu tố
quan trọng nhất mà Giáo Hội muôn ngàn đời phải đối mặt.
“Có thực mới
vực được đạo”, câu nói tự ngàn xưa mà ngày nay vẫn còn giữ
nguyên giá trị của nó. Khi đời sống kinh tế bấp bênh bữa no bữa
đói thì quả thật chuyện đạo nghĩa thường bị xem nhẹ. Làm sao mà
có thể lê bước đến Nhà Thờ với cái bụng bữa cơm bữa cháo được.
Làm sao có thể hân hoan đến Nhà Thờ trong khi thùng gạo ở nhà
vơi mà chưa có tiền đong, hồ nước ở nhà cạn mà không có tiền
bơm. Biết bao nhiêu vấn nạn về cuộc sống, về kinh tế cứ làm cho
sứ mạng truyền giáo cứ ngã nghiêng.
Đã một thời
sử sách còn ghi : Đạo ông Diệm ! Tìm hiểu kỹ một chút là vào cái
thời đói khổ ấy, ai theo Đạo Công Giáo (Đạo mà ông Diệm và gia
đình ông theo) thì được ông cấp gạo cho. Theo đạo kiểu đó ai mà
không theo, cứ gật đầu theo đại đi để rồi ông Diệm cấp cho dăm
ba lon gạo cứu khổ cứu nạn bữa đói bữa no. Với cái thói quen ấy,
ít lâu người ta lại đồn đãi với nhau “theo đạo có gạo mà ăn” hay
nói tắt đi một lời là “đạo gạo”. Nghe như thế để ta thấy thế nào
là sự ảnh hưởng, tầm quan trọng của nền kinh tế trong sứ mạng
truyền giáo.
Tâm lý hết
sức thường tình của con người nói chung và nói riêng với đạo
Kitô giáo là tình thương, tình người. Một nhà truyền giáo đến
vùng truyền giáo mà không chia sẻ vật chất cho bà con dân nghèo
ở đấy thì đừng nói gì đến truyền giáo. Hay nói khác đi một chút
là không chia cơm sẻ áo thì đừng hòng tồn tại ở vùng truyền
giáo.
Chuyện chia
cơm sẻ áo cũng là chuyện hết sức bình thường trong cuộc sống chứ
đừng nói gì đến đạo Kitô giáo, đạo của tình thương. Nhưng, nếu
ta không tỉnh táo, không khéo một chút ta sẽ tạo ra một làn sóng
“đạo gạo thời hiện đại”. Thôi thì ta tạm gọi những người theo
đạo là vì gạo đi cũng được nhưng còn tệ hơn thế nữa, họ không
theo đạo vì gạo mà họ chỉ đến với đạo để lấy gạo. Không cẩn
thận, đạo mà ta truyền bá nó sẽ thành cái đạo, cái nơi mà người
ta đến để hưởng một chút gì đó cho vui, cho qua ngày dẫu rằng
dưới mắt nhiều người phần gạo, phần quà ấy chẳng đáng là bao.
Của đáng tội
! Người nghèo, người túng thì với họ bao nhiêu cũng quý cả. Các
vị truyền giáo sẽ cố gắng hết sức của mình để gọi là chia sẻ với
người nghèo. Với những vùng nghèo, miệng truyền miệng, tai
truyền tai, chẳng hiểu sao danh sách hộ nghèo ngày càng tăng.
Những người nghèo mà có quà thì ai chả mừng, khi được quà bảo
cái gì cũng dạ cũng vâng chứ đừng nói là thưa 3 lần tin trong
nghi thức Thanh Tẩy Kitô giáo.
Vấn đề ở chỗ
là sau khi hồ hởi đến để nhận gạo ấy, 3 lần thưa tin trong ngày
lãnh bí tích Thanh Tẩy còn đâu.
Tâm lý hết
sức bình thường là để làm vui nhà truyền giáo, những người nghèo
ấy háo hức, hân hoan nhận Bí tích Thanh Tẩy. Và tâm lý hết sức
bình thường của nhà truyền giáo là ta có trong sổ Rửa tội của ta
càng nhiều càng tốt, càng đông càng vinh dự. Thế nhưng, thi
thoảng ta cần nhìn lại con số mà ta Thanh Tẩy ấy, ta Thêm Sức ấy
còn lui tới nhà thờ, còn kinh kệ, còn giữ đạo được bao nhiêu ?
Giả sử cho là
người ta đi đạo vì gạo cũng còn tốt, nghĩa là sáng người ta nhận
gạo, chiều người ta đến Nhà Thờ cũng tạm gọi là chút an ủi cho
“cái ông Giêsu chịu chết treo đóng đinh trên thánh giá vì tội
lỗi hân loại, tạm gọi là chút an ủi cho bao mồ hôi và nước mắt
của nhà truyền giáo nhưng đôi khi lại là không. Sáng nhận gạo
thật là đông nhưng chiều về ngôi nguyện đường khang trang đồ sộ
ấy lại trở nên “vắng tanh như chùa bà đanh”.
Ta có thể mở
rộng vòng tay để chia sẻ với người nghèo bất kỳ lương giáo nhưng
vấn đề theo đạo nên chăng ta để “thủng thẳng”. Để đến một lúc
nào đó chín muồi, đến một lúc nào đó tự lương tâm, tự đáy lòng
cộng thêm kiến thức về Chúa, về Đạo tạm gọi là “ổn” ta mới “dội
nước” cho họ. Ta có thể chia sẻ với họ với một tấm lòng thơm
thảo, đừng bao giờ đặt vấn đề “dội nước” để ta và họ đều thanh
thản. Vì lẽ, nếu vì chút quà của ta mà họ “dội nước” để sau này
họ không giữ đạo được thì họ cũng ngại mà ta cũng ngẫn ngơ !
Ngẫn ngơ là vì số lượng “dội nước” quá lớn mà số người lui tới
Đền Thờ quá vắn vỏi !
Nói tới gạo,
nhắc tới kinh tế tôi lại nhớ đến lời của cha giáo môn Giáo Hội
học thời còn mài ghế nhà trường: “Anh em nên nhớ rằng anh em
là mục tử chứ anh em không phải là nhà kinh tế. Khi anh em ra
trường, được sai đến một vùng nào đó, anh em nên nhớ sứ mạng của
anh em là làm sao cho đời sống bà con giáo dân ngày càng yêu
thương nhau hơn chứ không phải là làm cho đời sống bà con giáo
dân ngày càng giàu hơn ! Anh em không phải là nhà kinh tế ! Kinh
tế là chuyện của xã hội chứ không phải là chuyện của anh em
!”.
Ngẫm nghĩ,
lời của Cha giáo xem ra đúng lắm chứ ! Là mục tử, chuyện căn
cốt, chuyện quan trọng là làm sao cho đời sống của con chiên
ngày càng gắn kết với nhau, yêu thương nhau hơn chứ không phải
là làm cho đời sống kinh tế của con chiên tăng lên.
Nhắc tới
chuyện quà cáp, cũng không giấu được nỗi đau của nó.
Ở xứ nọ, vừa
ôm quà ra khỏi nhà thờ là bà con cãi nhau ngay. Người thì bảo
người này xứng đáng nhận, người thì bảo người kia không xứng
đáng, người thì bảo ông cha dại vì cho nhà kia vì nhà đó giàu,
người thì bảo ông cha không có mắt vì nhà kia nghèo mà không cho
…
Ở xứ kia có
hai cha, cha này cho nhóm này thì nhóm này phò cha này, cha kia
cho nhóm kia thì nhóm kia phò chia kia. Bài sai đến, cha này đi,
cha kia ở lại. Thế là cái nhóm của cha này bỏ nhà thờ và nói xấu
cha kia đủ thứ đủ điều trên đời.
Thế đấy, đôi
khi vì muôn có những con số thật đông, thật nhiều mà ta không
thể nào lường trước được hậu quả. Chắc chắn, chẳng vị mục tử nào
muốn điều này điều kia xảy ra trong đám chiên mà mình chăn dắt
nhưng thực tế, chiên tan tác sau những phần quà của mình. Với
lương tâm, với cái nhìn của cha thì cha cho như thế là đúng, là
chính đáng và phải đạo nhưng phần con chiên, con chiên nó có
cách nghĩ và có cách làm của nó để rồi nó lại cấu xé nhau trước
những phần quà thân thương của chủ chiên.
Đôi khi ta cứ
chạy theo con số nhưng những con số ấy chỉ là “lượng” ảo. Đôi
khi ta chạy theo con số nhưng số ấy chứa đầy “chất” ảo.
Đối diện với
“chất” và “lượng” ảo ấy có khi ta biếu họ quà tặng vô điều kiện
có lẽ hay hơn vì nếu ta cứ “dội nước” đại trà như thế thì sẽ rất
khó khăn ! Với vốn giáo lý không đủ gọi là cơ sở để hiểu đạo làm
sao mà sống đạo được ! Làm dấu thánh giá đôi khi làm ngược, khi
vào toà xưng tội chẳng hề biết cách xưng tội. Khi hỏi Kinh Ăn
Tội thì xin thưa “con chỉ biết có kinh Lạy Cha” !
Và vấn đề nữa
là ta chạy theo địa hình, chạy theo không gian. Ta chưa lo cho
chỗ này xong nhưng với máu và lửa truyền giáo rạo rực trong ta
làm ra muốn dấn thân thêm nữa. Thế nhưng, sự dấn thân ấy không
khéo lại là nỗi khổ cho bà con bởi lẽ nhà truyền giáo không kham
nổi.
Nhớ lại cách
đây vài năm, chân ướt chân ráo đặt chân lên Tây Nguyên. Lần đầu
tiên với biết bao ngỡ ngàng, ngạc nhiên với mảnh đất đỏ bazan
này nên tôi cứ mon men các bậc đàn anh. Lần ấy, một tuần, tôi và
một bậc đàn anh “kinh lý” chưa xong 1 làng. Ấy vậy mà bậc đàn
anh kia trong 1 tuần đi hết 5 làng ! Quả thật bậc đàn anh ấy quá
tuyệt vời và được Ban Giám Đốc đánh giá cao về tinh thần truyền
giáo của anh.
Đôi khi ta
mãn nguyện về con số, về địa bàn hoạt động của ta nhưng tế con
số và địa bàn ấy đượm một vẻ man mác buồn. Buồn là vì con số ấy
chỉ là con số báo cáo, địa bàn ấy là địa bàn nằm trên mặt
chữ.
Lẽ thường của
cuộc đời, lẽ thường của con người, nhà truyền giáo luôn luôn
mang trong mình những hoài bão, những ước mơ của mình nhưng “lực
bất tòng tâm”. Chẳng ai mà không ham mình rửa tội được nhiều,
chẳng ai mà không ham mình ghi dấu “tiên khởi” nhưng cần sự cộng
tác của nhiều người ta mới thực hiện được ước mơ, được hoài bão
ấy.
Hoài bão và
mơ ước ở các vùng truyền giáo rất là chính đáng và hợp tình hợp
lý nhưng cần có nhiều bàn tay nối dài, nhiều tấm lòng rộng mở để
chia sẻ không chỉ là vật chất mà là tinh thần, mà là kiến thức
giáo lý, mà là đời sống đức tin cho những người chưa biết Chúa
mà nay tìm hiểu Chúa.
Nếu không
thực tế, nếu không nhìn lại chặng đường đã qua ta sẽ sống trên
những con số hoành tráng, những vùng đất mở rộng nhưng thực chất
chẳng là bao.
Vùng truyền
giáo còn mênh mông, sứ mạng truyền giáo còn bao la, thợ gặt còn
thưa thớt. Nguyện xin Chủ ruộng ban nhiều và thật nhiều thợ để
cùng chung tay ôm về cho Chủ những bó lúa vàng thơm ngát.
Thanh Tâm |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
SỨ MỆNH TRUYỀN GIÁO CỦA GIÁO HỘI |
|
Công Đồng Vatican II xác định lại sứ
mệnh của Giáo hội: Ecclesia peregrinans natura sua missionaria
est (Ad gentes , 2 : tự bản tính , Giaó hội lữ hành là truyền
giáo) nên công việc truyền giáo là công việc chính của Giáo hội
tức là của mọi tín hữu Chúa Kytô : bao gồm tất cả hàng giáo sỹ
và giáo dân .
Tại Việt nam , quan điểm về tôn giáo ,
nhà nước đã thay đổi . Trước đây , theo ông Bảy Việt , Trưởng
Ban Tôn Giáo thành phố Hồ Chí Minh nói : vì tôn giáo sẽ không
còn nữa nghĩa là chẳng có ai theo tôn giáo nào nữa trong quốc
gia xã hội chủ nghĩa khoa học được thành lập (quan niệm chủ
nghĩa xã hội khoa học làm cho tôn giáo biến mất một cách tự
nhiên ) nên giúp tôn giáo được biến nhanh đi là tốt nhất ,
nhưng bây giờ Đảng đã thấy rõ tôn giáo là nhu cầu của một bộ
phận nhân dân . Ông còn nói theo ý ông “không có tôn giáo thì
ai cản nổi điều xấu điều ác “ . Ông Trần Trung Tính , phó Chủ
tịch Mặt trận thành phố Hồ Chí Minh đọc quan điểm của những nhà
trí thức của nhà nước nói về giá trị của tôn giáo trong đất nước
để xây dựng con người . Thay đổi cái nhìn vể tôn giáo như thế
nầy phải có sự đóng góp sống đạo của các tôn giáo .
Dĩ nhiên là nhà nước vẫn kiểm soát nhặt
các tôn giáo nhất là Công giáo và Tin lành hơn là Phật giáo và
theo tôi thì Phật giáo được ưu đãi hơn . Công giáo thì sống
thời buổi nào cũng là Công giáo . Vua quan không có đạo hay
có đạo , Chính phủ có đạo hay không có đạo , Giáo lý Công giáo
vẫn dạy cầu nguyện cho nhà cầm quyền và thi hành luật pháp quốc
gia trừ những đều nghịch với Giáo lý Công giáo (thí dụ như ly
dị, phá thai , bạo loạn ).
Dầu hoàn cảnh nào , Giáo hội vẫn thúc
giục mọi tín hữu Chúa Kytô sống theo lời thánh Phaolô dạy Timôtê
:” Hãy rao giảng Lời Chúa , hãy rao giảng lúc thuận tiện hay
không thuận tiện , hãy biện bác, khuyên răn với tất cả lòng
kiên nhẫn và chủ tâm dạy dỗ. Sẽ đến thời người ta không chịu
nghe giáo lý lành mạnh, nhưng theo những dục vọng riêng mình
nên tìm đến thầy nọ thầy kia làm vui tai mình . Họ sẽ ngoảnh tai
đi không nghe chân lý, nhưng hướng về chuyện hoang đường “( 2
Timôtê 4, 2-4) .
Nhìn lại công việc truyền giáo ở Việt
nam , ta thấy các nhà truyển giáo mấy thế kỷ đầu gieo tin Mừng
tại nước ta gồm ngoại quốc và bản xứ rất vất vả , nhưng hết sức
hy sinh và quảng đại nên các ngài gạt hái hơn ngày nay nhiều .
Các ngài đã thấy được con người Việt nam có quan niệm về Ông
Trời, thờ trời và các thần thánh khác. Thí dụ : Chiếu dời đô
của vua Lý Thái tổ viết :” Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm,
mưu cầu nghiệp lớn , kế sách muôn đời cho con cháu nên phải
vâng mệnh trời và theo lòng dân , thấy thuận thì dời ... Hai nhà
Đinh và Lê theo ý riêng mình , không theo mệnh trời , không bắt
chước Thương , Chu thời xưa …” (thời Nhà Thương ( I783-1135
trước Công nguyên), thời Nhà Chu ( 1137-770 trCN) nhà vua đã lập
đàn Nam giao tế Trời) . Vì thế Lý Thi tổ lấy niên hiệu Thuận
Thiên đặt nền tảng cho đạo lý trị nước . Các vua Chúa ta cũng
theo đó , sau nầy vua con xưng là Thiên tử .
Các ngài đã khai thác lòng tin vào Trời
để giảng Tin Mừng và dùng khoa học giải thich hiện tượng nhật
thực, nguyệt thực cho cả vua chúa để xoá đa thần một cách tự
nhiên .
Ngày nay, truyền giáo cho “người đã có
đạo” trừ ra đôi nơi dành cho người thiểu số . Đừng đổ tội cho
hoàn cảnh . Trước năm 1975 , ở miền xuôi cũng vậy thôi : làm cái
gì cũng chỉ cho người có đạo : sách báo, bài hát v.v . Ngay
trận lụt lịch sử tại miền Trung đang xảy ra, cứu đói cũng vậy
thôi .
Thiết nghỉ phải xét lại cách truyền
giáo của mình đề làm thế nào đi vào giới “mộ điệu” như giơi trẻ
thích thần tượng nên phải trình bày Chúa Kytô thế nào cho họ mộ
mến tôn thờ , giới già thích đời sống an vui phải trình bày đời
sống hạnh phúc trong Chúa , ngay cả với cán bộ , người ta thích
“sống cho và vì mọi người”, cho quê hương , ta phải trở thành
chứng nhân “cho mọi người” như thánh Phaolo nói “ tôi thành Do
thái cho người Do thái , tôi thành Hy lạp cho người Hylap “ (
xem I Corinto 9, 19-23) như thánh Phêrô nói “sống với thể
chế do loài người đặt ra” (I Phêrô 2, 13-17) .
Truyền giáo đòi hỏi đầu tiên là cách sống nơi nhà truyền giáo
như Đức Phaolo nói:
“ Homo nostrae huius aetatis libentius testes quam
magistros audit quodsi suas bisce praebet aures , ita
facit , quoniam testes sunt “ (Evangelii Nuntiandi, 41)
Modern man listens more willingly to witnesses than to
teachers , and if he does listen to teachers , it is
because they are witnesses .
L’ homme contemporain écoute plus volontiers les témoins
que les maitres -- disons - Nous récemment à un groupe
de laics -- ou s’ il écoute les maitres , c’ est parce
qu’ ils sont des témoins .
Người thời nay sẵn sàng nghe nhân
chứng hơn nghe thầy dạy và nếu họ nghe thầy dạy là tại vì
thầy dạy cũng là nhân chứng .
Lm. Fx Nguyễn hùng Oánh
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
CHIẾC NHẪN THẦN
|
Thưa quí bạn,
chúng ta đang cùng nhau học hỏi về chủ đề Sống Hiện Tại. Hôm nay
mục Sống Sao Cho Đẹp mời bạn suy nghĩ về sự chóng qua của
những giá trị vật chất hay những hư danh hảo huyền để tập trung
vào giá trị thật của giây phút hiện tại.
* * *
Truyền thuyết
người Do Thái có kể câu chuyện như sau. Beneiah là vị quan vốn
thường hãnh diện cho rằng ông sẽ chu toàn mọi nhiệm vụ mà nhà
vua giao phó. Nghe như vậy, vua Solomon ra lệnh cho quan Benaiah
trong vòng sáu tháng, ông phải tìm cho nhà vua một chiếc nhẫn
thần vừa có khả năng mà làm cho ai mang nó thì đều cảm thấy mình
hạnh phúc và cũng cảm thấy mình đau buồn.
Dù là người
rất tài giỏi, Benaiah cảm thấy lo âu vì làm sao có thể tìm chiếc
nhẫn nào vừa làm cho người ta hạnh phúc và đau buồn được! Thời
gian thấm thoát trôi qua, Benaiah miệt mài bôn ba tìm kiếm chiếc
nhẫn thần khắp mọi nơi mà cũng không nghe ai nói là có chiếc
nhẫn thần như vậy. Ngày qua ngày, Benaiah càng hiểu rằng mạng
sống của mình sắp bị lấy đi, vì không thể tìm cho nhà vua chiếc
nhẫn thần được. Cuối cùng, khi đang ngồi nghỉ chân trong quán
nước, ông chia sẻ câu chuyện này với người chủ quán nhằm tìm sự
cảm thông và trút bớt phần nào nổi phiền muộn lo sợ trong lòng
ông. Nghe xong câu chuyện, ông già chủ quán thưa lại. “Tôi đang
có chiếc nhẫn mà ông đang kiếm tìm.” Nghe vậy, Benaiah sáng mắt
và quì xuống van xin được mua lại chiếc nhẫn đó với bất kỳ giá
nào. Ông già đáp, “Tôi không bán, nhưng tôi chỉ tặng vì dù giá
trị nó có lớn lao bao nhiêu đi chăng nữa, nó cũng sẽ qua đi.”
Ông già trao cho Benaiah chiếc nhẫn, chiếc nhẫn thần rất đẹp với
hàng chữ: “Cũng vậy, nó cũng sẽ qua đi.”
Hôm sau,
Benaiah trình nhà vua với chiếc nhẫn, nhà vua hoan hỹ và trọng
thưởng cho Benaiah. Cầm chiếc nhẫn trên tay, niềm vui hiện rõ
trên khuôn mặt của nhà vua, nhưng khi đeo chiếc nhẫn thần vào,
nhà vua thấy hàng chữ: “Cũng vậy, nó cũng sẽ qua đi” điều này
làm cho nhà vua buồn, vì ông hiểu rằng, chính địa vị của ông,
vương quốc của ông, danh tiếng của ông rồi cũng sẽ qua đi như
hàng chữ trên chiếc nhẫn nhắc nhở: “Cũng vậy, nó cũng sẽ qua
đi.” [i]
* * *
Quí bạn thận
mến, câu chuyện trên cho chúng ta thấy rằng không có gì là bất
biến vĩnh hằng trong kiếp nhân sinh. Niềm vui hay nỗi buồn, giàu
sang hay nghèo hèn, được tán dương hay bị khinh chê,… Cũng vậy,
tất cả chúng cũng sẽ qua đi. Thông điệp “Cũng vậy, nó cũng sẽ
qua đi” là một thông điệp đơn sơ nhưng hùng hồn để nhắc nhở
chúng ta về sự thật của cuộc đời.
Trong tiến
trình làm người, nhiều người thường trải qua hai giai đoạn suy
nghĩ đối lập nhau. Những người trẻ tuổi nhìn cuộc đời như bất
biến, vĩnh hằng. Họ tin rằng sức khỏe, sắc đẹp, và sức sống của
mình sẽ mãi mãi không thay đổi. Ngược lại, đối với những người
lớn tuổi, họ âu lo, sợ hãi cho sức khỏe, cho sắc đẹp của mình;
cuộc đời không còn là bất biết vĩnh hằng như họ đã từng suy nghĩ
như trước đây. Như vậy, thái độ nào là hợp lý và giúp ta nhận ra
giá trị thật khi ta quan sát cuộc đời? Xin thưa, có thể nói rằng
thái độ hợp lý đó là trân trọng giây phút hiện tại nhưng không
bám víu vào chúng. Nói cách khác, sống trân trọng tức là sống
từng giây phút hiện tại với tất cả khí lực của tuổi trẻ. Mỗi
giây phút hiện tại dẫn ta đi vào hành trình khám phá giá trị con
người. Mỗi giây phút hiện tại cũng đẩy lùi những bám víu vào quá
khứ, dù là những giây phút huy hoàng hay xót xa cho những lầm
lỗi. Và cũng chỉ có giây phút hiện tại mới thực sự giúp ta xây
dựng tương lai cho đời ta một cách thực nhất.
Thưa bạn, Sư
Cô Ayya Khema trong tác phẩm “Being Nobody, Going Nowhere” đã
chia sẻ rằng. “Hành trình tâm linh không phải hành trình để học
nhằm đạt được điều này điều nọ, nhưng là học biết từ bỏ.” [ii]
Cũng vậy, học làm người không gì khác hơn chính là học biết cách
biết bỏ đi, thả xuống chứ không phải nhặt lên và gop giữ lại.
Biết thả xuống quá khứ và đừng gop giữ tương lai. Bạn thử nắm
bàn tay bạn lại thì sẽ biết. Bàn tay nắm lại là bàn tay nóng,
không hưởng được khí thiên nhiên; bàn tay mở là bàn tay mát vì
hưởng được khí trời ban tặng. Sống hiện tại là sống mở ra như
bàn tay mà không giữ lại quá khứ và cũng không cố gắng bắt chộp
tương lai.
Br.
Huynhquảng
Mời bạn
ghé thăm trang
http://brhuynhquang.org/.
Email liên
lạc:
brhq@brhuynhquang.org
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN TRONG CÔNG ĐỒNG VATICAN II ( PHẦN II ).
|
|
( Tư tế,
Tiên Tri và Vương Giả)
NGUYỄN HỌC
TẬP
Một khi đã
xác nhận người tín hữu giáo dân là thành phần Cộng Đồng Dân
Chúa, là phần Thân Thể Mầu Nhiệm Chúa Giêsu, tham dự vào ba tước
vị của Người, tư tế, tiên tri và vương giả, phần I, cần phải
xác định tham dự thế nào và có sự khác biệt nào giữa sự tham dự
của họ, khác với sự tham dự của hàng giáo phẩm, nhứt là trong
tước vị tư tế.
A- Tư Tế.
Vấn đề được
đặt ra là sự khác biệt giữa thiên chức tư tế chung ( comune)
của các thành phần trong Cộng Đồng Dân Chúa và thiên chức tư
tế thừa tác vụ (ministérielle) của hàng giáo phầm.
Chương II
của Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân ( Lumen Gentium, LG ) đề
cập đến vấn đề đang bàn ở số 10.
*Trước
tiên Hiến Chế LG, qua những trích dẫn Tân Ước, nói lên tước vị
tư tế của mọi tín hữu Chúa Ki Tô ( giáo sĩ cũng như giáo dân),
với đặc tính liên quan đến đời sống trước khi liên quan đến động
tác tế tự:
- " Thật
vậy, những người chịu phép rửa, qua biến cố tái sinh và được
Chúa Thánh Thần xức dầu, họ được thánh hoá để trở nên nơi cư ngụ
thiên thánh và biến thành tư tế thánh thiện, để qua các tác
động Ki Tô hữu của họ, họ dâng lên Chúa những của lễ thiên thánh
và loan báo những kỳ công của Đấng từ bóng tối đã gọi họ vào ánh
sáng diệu huyền" ( LG II, 10).
* Kế đến,
Hiến Chế LG đề cập đến sự khác biệt giữa thiên chức tư tế chung
của mọi tín hữu và chức tư tế thừa tác vụ của hàng giáo phẩm:
- " Chức
tư tế chung ( comune ) của các tín hữu và chức tư tế thừa tác
vụ ( ministérielle) hay tư tế phẩm trật, mặc dầu khác biệt nhau
tự bản chất chớ không phải khác nhau về thứ bậc, cả hai đều được
thiết lập liên đới nhau: thật vậy, mỗi thiên chức tùy theo cách
hành xử của mình, nhưng cả hai đều cùng tham dự vào chức tư tế
duy nhứt của Chúa Ki Tô" ( LG 2, id.).
Sự khác
biệt đó được gọi là quyền năng, qua đó chức tư tế thừa tác vụ
được giao cho phận vụ:
- xây dựng
và hướng dẫn Cộng Đồng Dân Chúa tư tế,
- tác động
dâng hiến Thánh Thể nhân danh Chúa Ki Tô.
- và dâng
hiến Thánh Thể nhân danh Cộng Đồng Dân Chúa.
Nhưng dù cho
có sự khác biệt tự bản thể, chức tư tế chung của các tín hữu
cũng như chức tư tế thừa tác vụ của hàng giáo phẩm đều được đặt
trên một nền tàng chung, trên chức tư tế của Chúa Ki Tô mà mọi
thành phần dân Chúa đều tham dự, tín hữu cũng như thừa tác viên.
Như vậy,
chức tư tế chung không phải chỉ là của người tín hữu giáo dân,
mà là của cả Cộng Đồng Dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ cũng như giáo
dân.
Chức tư tế
thừa tác vụ là để tác động cho Cộng Đồng Dân Chúa, ở một thứ bậc
và bản chất khác.
Diễn tả như
vậy, Công Đồng Vatican II đã lấy lại hình ảnh Cộng Đồng Dân Chúa
theo truyền thống Cựu Ước, cả dân Do Thái là dân thánh dâng lễ
ngợi khen và cảm tạ những gì Thiên Chúa đã làm cho mình.
Đồng thời
cũng giữ được đặc tính đặc biệt của chức tư tế thừa tác vụ của
hàng giáo phẩm, so với những gì các Ki Tô hữu khác có thể tham
dự vào chức tư tế của Chúa Giêsu.
Sau khi đề
cập đến chức tư tế thừa tác vụ của hàng giáo phẩm, nhứt là của
các Giám Mục, ở chương III, Công Đồng đề cập đến chức tư tế
chung của các tín hữu giáo dân ở chương IV, số 34, một cách ngắn
gọn, nhưng rất súc tích:
- "
Chúa Giêsu Ki Tô, Vị Tư Tế Thượng Phẩm và Vĩnh Viễn, cũng muốn
tiếp tục qua các động tác của giáo dân, nhân chứng và phục vụ
của mình, làm cho họ sống động bằng Thánh Thần của mình và không
ngừng thúc đầy họ trong mọi hành động tốt lành và trọn hảo. Thật
vậy, qua họ Người liên hệ mật thiết với đời sống và sứ mạng,
cũng ban cho họ một phần phận vụ tư tế của Người để họ thực hiện
động tác tế tự thiêng liêng, để Thiên Chúa được tôn vinh và cứu
rỗi con người. Do đó, các tín hữu giáo dân, được dâng hiến cho
Chúa Ki tô và được Chúa Thánh Thần thánh hoá, họ được mời gọi và
huấn dạy một cách tuyệt hảo để Chúa Thánh Thần thực hiện nơi họ
những kết quả luôn luôn sung túc nhứt. Thật vậy, mọi hoạt động,
lời cầu nguyện và các sáng kiến tông đồ của họ, đời sống hôn
nhân và gia đình, công việc hằng ngày, các nâng đở tinh thần và
thể xác, nếu được thực hiện trong Chúa Thánh Thần, và ngay cả
đến những vấn đề phiền nảo trong cuộc sống, nếu họ biết nhẫn nại
chịu đựng, tất cả đều trở nên của lễ hy sinh dâng hiến đẹp lòng
Thiên Chúa nhờ Chúa Giêsu. Và những gì vừa kể, trong
Thánh Lễ là những của lễ rất tốt đẹp dâng lên Chúa Cha cùng
chung với Thánh Thể Chúa Giêsu. Như vậy người tín hữu giáo dân,
tác động thánh thiện ở mọi nơi như là những người tôn thờ Thiên
Chúa, họ dâng hiến chính thế giới cho Chúa" ( LG 4, 34).
Nói cách
khác, người tín hữu giáo dân là người sống chức tư tế của Chúa
Giêsu trong cuộc sống của họ. Họ dâng hiến mình, động tác của
mình, cả môi trường sống của mình và thánh hoá anh em, để dâng
hiến tất cả cho Chúa.
Chức tư tế
của người tín hữu giáo dân trùng hợp với đời sống tác động
thánh hoá môi trường mình đang sống và dâng cho Chúa.
Sống trong
Chúa Thánh Thần là hướng về Chúa, dâng hiến cho Chúa đời sống và
động tác sống của mình.
Những gì vừa
kể cho chúng ta thấy
- vai trò
của Chúa Thánh Thần: trong Chúa Thánh Thần, chúng ta có thể
hướng về Chúa Cha trong tâm tình con cái.
- chiều
hướng theo khuôn mẫu Chúa Ki tô của đời sống Ki Tô giáo: sống
hướng về Chúa Cha là sống như Chúa Giêsu.
- dâng hiến
thế giới cho Chúa: sống và hành động làm cho tốt đẹp, hoàn thiện
môi trường sống của mình để hướng tất cả về cho Chúa.
Sống cuộc
sống thánh thiện đối với người tín hữu giáo dân, không cần phải
loại thế gian ra khỏi đời sống mình, sống lánh xa thế tục, mà là
sống giữa thế gian, hành động tốt đẹp để thánh hoá thế gian và
quy hướng thế gian về với Chúa, để mọi yếu tố trần thế đều có ý
nghĩa hiện hữu và cùng đích của mình nơi Chúa.
Tác động
thánh thiện trong mọi hoàn cảnh là đã dâng hiến cho Chúa, quy
hướng thế gian về với Chúa, sống chức tế tự của mình tham dự vào
chức tế tự của Chúa Ki Tô.
B - Tiên tri.
Thiên chức
tiên tri trong Cộng Đồng Dân Chúa, trải qua nhiều thế kỷ, dường
như bị lãng quên. Bởi lẽ
- tiên trị,
được hiểu là loan báo biến cố Ki Tô giáo trong tương lai, tuyên
bố về ngày cánh chung. Chúa Giêsu là tiên tri, bởi vì Người thực
hiện các lời được các tiên tri báo trước.
- tiên tri,
được hiểu như là mạc khải những gì mới lạ, trong khi đó thì giáo
lý dạy chúng ta là những gì Chúa muốn, Chúa đã mạc khải cho
chúng ta tất cả, mạc khải được kết thúc với cái chết của vị Tông
Đồ cuối cùng.
Trái lại đối
với Công Đồng Vatican II, tiên tri là loan truyền và làm
nhân chứng sống về Chúa Ki Tô, bằng chính đời sống đức
tin và bác ái của mình, như là dâng lên Chúa của lễ ngợi khen, "
...bằng chính miệng lưỡi mà ca tụng Danh Thánh Chúa" (
Heb 13, 15).
Như vậy,
tiên tri là nhân chứng và tuyên xưng đức tin.
Nhân chứng
không chỉ có nghĩa là loan truyền đức tin, mà hàm chứa cả việc
thực hiện đức bác ái:
- "
Người tín hữu giáo dân chứng tỏ mình là con cái của lời Chúa
hứa, nếu họ có đức tin vững mạnh và niềm hy vọng không lay
chuyển, biết hành động có kết quả trong hiện tại ( Eph 5, 16;
Co 4, 5) và với lòng kiên nhẫn biết trông đợi vinh quang tương
lai ( Rom 8, 5). Và niềm hy vọng vừa kể họ không chôn giấu trong
tâm hồn, nhưng luôn luôn biết tiếp tục hối cải và chiến đấu
chống lại những kẻ thống trị thế giới tối tăm nầy và chống lại
các tinh thần quái ác ( Eph 6, 12), diễn tả niềm hy vọng đó qua
các cấu trúc của đời sống trần thế".
Như vậy sống
năng chức tiên tri là sống bằng đời sống nhân chứng đạo đức,
hành thiện, được đặt nền tảng trên đức tin, nhờ đó người tín hữu
Chúa Ki tô tự bẩm sinh mình có thể cách hành xử và đem ra thực
hiện, nhờ sức mạnh của Thánh Thần chân lý ( LG 12).
Khả năng bẩm
sinh đó khiến cho người tín hữu
- gắn bó với
đức tin,
- thấu hiểu
thâm sâu vào các mầu nhiệm đức tin,
- đem ra
thực hành một cách hoàn hảo trong cuộc sống.
Trong các
bản văn trích dẫn, chúng ta không thấy Công Đồng đề cập đến cá
nhân như là người có đặc sủng tiên đoán được tương lai, mà là
phận vụ chung để loan báo và làm nhân chứng của Cộng Đồng Dân
Chúa.
Chương 12
của Hiến Chế LG
nhắc nhở
chúng ta là " cả dân Chúa, từ Giám Mục đến người tín hữu giáo
dân cuối cùng" đều được Chúa ban cho đức tin, hiểu biết ý
nghĩa đức tin, đều đồng thuận chấp nhận những gì thuộc về đức
tin và luân lý.
Hiểu biết
nội dung ý nghĩa đức tin được mạc khải và cùng nhau tin những
gì được Chúa mạc khải cho qua các Thánh Tông Đồ và qua Giáo Hội,
tiếp tục sứ mạng truyền bá đức tin của các Ngài, hàng giáo phẩm
và giáo dân không thể nào không đồng nhứt với nhau về đức tin.
Mỗi thành
phần Dân Chúa đều tham dự vào thiên chức tiên tri duy nhứt của
Chúa Giêsu, mỗi người tùy theo phần của mình:
- "
Chúa Ki Tô là Đấng Tiên Tri Cả, chứng nhân bằng chính đời sống
mình và bằng sức mạnh của lời giảng dạy đã tuyên xưng vương quốc
của Chúa Cha, tiếp tục chu toàn phận vụ duy nhứt của Ngài cho
đến khi vinh quang Thiên Chúa được tỏ rạng trọn vẹn, không những
qua hàng giáo phẩm, là những vị giảng dạy nhân danh và với quyền
năng của Ngài, mà còn qua các tín hữu giáo dân, qua họ Ngài
thiết lập những nhân chứng của Ngài, giáo huấn họ trong ý nghĩa
đức tin và trong ân sủng của lời giảng dạy ( Act 2, 17-18; Ap
19, 10), nhờ đó sức mạnh Phúc Âm được chiếu sáng trong cuộc sống
hằng ngày, trong gia đình và xã hội" ( LG 4, 35).
Như vậy phận
vụ tiên tri được thực hiện bằng nhân chứng.
Phận vụ đó
không chỉ thể hiện trong một vài thời điểm nào đó trong đời
sống, mà gắn liền với cả sự hiện hữu con người, bởi vì không có
gì thuộc về con người mà không được ảnh hưởng cứu rỗi của Chúa
Ki Tô liên quan đến và không liên hệ đến niềm hy vọng tốt lành.
Nhân chứng
hay phận vụ tiên tri được thể hiện bằng đời sống và bằng ngôn
từ: người tín hữu giáo dân cũng có phận sự rao giảng Phúc Âm,
- " ...phận
sự đó mang tính cách đặc biệt và đặc biệt hữu hiệu, bởi vì là
phận vụ được thực hiện ngay trong những hoàn cảnh sống thông
thường giữa trần thế " ( LG 4, 35).
Đặc tính đó
của người tín hữu giáo dân trong phận vụ rao giảng Phúc Âm còn
được Công Đồng Vatican II nêu rõ hơn nữa, là phận vụ rao giảng
Phúc Âm liên hệ đến các động tác của họ chuyên lo trong các lãnh
vực trần thế:
- "
Người tín hữu giáo dân, ngay cả khi họ chuyên lo các lãnh vực
trần thế, họ cũng có thể và phải thực hiện động tác qúy báu rao
giảng Phúc Âm cho thế gian" ( LG 4, 35).
Như vậy động
tác rao giảng Phúc Âm không chỉ được dành riêng trong một vài
khoản không gian, đặc ân hay trong một vài chức năng chính thức
nào đó, mà là động tác được ấn tín trên cấu trúc cuộc sống đức
tin hằng ngày của người tín hữu: " trong cuộc sống hôn nhân
và gia đình", như Công Đồng đề cập, để nói đến môi trường
nào tinh thần Phúc Âm có thể thẩm thấu được.
Như vậy, nơi
thực hiện phận vụ tiên tri của mình cũng là nơi huấn luyện tuyệt
hảo cho người tín hữu giáo dân thi hành phận vụ tông đồ của họ.
Đó cũng là môi trường đức tin Ki Tô Giáo thẩm thấu mọi cách sống
và mỗi ngày biến đổi cuộc sống thế trần của người tín hữu Chúa
Ki Tô thành cuộc sống trần thế thấm đầy ánh sáng Phúc Âm.
Như vậy, đôi
vợ chồng tín hữu Chúa Ki Tô được mời gọi người nầy trở thành
tiên tri ( nhân chứng Phúc Âm) cho người kia và cha mẹ là tiên
tri ( nhân chứng Phúc Âm) cho con cái, nhân chứng đức tin và
tình thương của Chúa Ki Tô.
Với cách
hành xử đó, gia đình Ki Tô giáo lớn tiếng tuyên xưng các đức
tính hiện tại của Nước Thiên Chúa và niềm hy vọng vào cuộc sống
diễm phúc trên Thiên Quốc.
Và hiểu như
vậy, chúng ta hiểu được phận vụ tiên tri ( nhân chứng Phúc Âm)
không phải chỉ được thể hiện dưới hình thức cộng đồng trong Cộng
Đồng Dân Chúa.
Đặc tính
chung của Cộng Đồng Dân Chúa được thể hiện trong cuộc sống và
trong lãnh vực nghề nghiệp của mỗi người tín hữu giáo dân.
Ý thức được
phận vụ của mình tham dự vào sứ mạng rao giảng Phúc Âm của Giáo
Hội, mặc nhiên hàm chứa việc các tín hữu giáo dân phải được học
hỏi, chuẩn bị trưởng thành về đức tin, ngoài ra được soi sáng
bởi ánh sáng khôn ngoan Ki Tô giáo.
Và đó là
phận vụ hàng giáo phẩm phải cung cấp cho họ:
- " Họ
trên trông đợi ở các vị linh mục ánh sáng và sức mạnh thiêng
liêng" ( GS, 43).
Ai cũng
biết rằng qua nhiều thế kỷ, do sự dốt nát và không có thẩm quyền
về tín lý, các tín hữu giáo dân bị đặt ra bên lề việc tham dự
vào sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội.
C - Vương giả.
Ở chương
II Hiến Chế Ánh Sáng Muôn Dân ( LG
), chương đề cập đến Cộng Đồng Dân
Chúa, Công Đồng không đề cập đến việc tham dự của Dân Chúa vào
thiên tước vương giả của Chúa Ki Tô.
Ở số 13
chương II, Công Đồng
nói lướt qua về các thành phần Cộng Đồng Dân Chúa tham dự vào
thiên tước vương giả của Người.
Điều vừa kể
cho thấy chủ ý của Ủy Ban Tín Lý là không muốn áp đặt một nền
thần học về ba tước vị của Chúa Ki Tô như một sơ đồ cứng rắn.
Trong ba
tước vị của Chúa Ki Tô, lấy lại tư tưởng của Thánh Kinh, thiên
chức vương giả được đề cập đến ở chương IV, đoạn 16.
Và Ủy Ban
Tín Lý cũng lưu ý đến cách hiểu của Công Đồng Vatican II về ba
tước vị đó: phượng tự, nhân chứng và phục vụ trong Cộng Đồng Dân
Chúa:
- "
Quyền năng nầy ( quyền năng vương giả) Chúa Giêsu đã
thông ban cho các môn đệ Người, để một khi họ có được địa vị
trong tự do vương giả, chính họ cũng loại bỏ được quyền năng của
tội lỗi nơi chính họ bằng cuộc sống hy sinh từ bỏ và thánh thiện
( Rom 6, 12), hơn nữa, để phục vụ Chúa Giêsu nơi người khác,
trong khiêm nhường và nhẫn nại, họ có thể hướng dẫn anh em họ
đến vị Vua, mà thần dân của Người, chính họ cũng là những nhà
vua" ( LG IV, 36).
Như vậy
vương tước được thể hiện dưới hình thức phục vụ.
Mẫu gương và
tiêu chuẩn để đối chiếu của vương tước đó chính là Chúa Ki Tô.
Người đã đạt đến tước vị vương giả của Người qua đức vâng lời.
Giờ đây Người đang ngự trị ( Mt 28, 20) và ban cho các môn đệ
Người tham dự vào vương tước của Người.
Tham dự vào
vương tước đó là làm cho người tín hữu Chúa Ki tô ở vào địa vị "
tự do vương giả ": chiến thắng trên vương quyền tội
lỗi và phục vụ Chúa Ki Tô trong người khác, để hướng dẫn mọi
người đến với Người.
Phục vụ, tự
do và vương giả, đó là những ý niệm để diễn tả địa vị của những
ai thuộc về vương quyền của Chúa Ki Tô và hành xử trong địa vị
vương tước của mình.
Nước Thiên
Chúa dần dần được thực hiện trong dòng lịch sử con người, cũng
qua chính động tác của người tín hữu giáo dân.
Động tác để
thực hiện Nước Thiên Chúa được thể hiện
- đối với
các chủ thể con người,
- đối với
các tạo vật được dựng nên.
Động tác đem
Nước Thiên Chúa đến với con người để biến hoá con người và thánh
hoá tạo vật như vừa kể, được Công Đồng lấy lại các tư tưởng của
nền thần học trước Công Đồng, liên quan đến việc
- nhận biết
giá trị của mỗi tạo vật được dựng nên, " Và Thiên Chúa nhìn
thấy đó là điều tốt đẹp" ( Gn 1, 4.10.12.18.21.25. 31).
- hưóng dẫn
và sắp đặt thiết định các tạo vật để ngợi khen Thiên Chúa.
Ủy Ban Tín
Lý còn cho biết:
- "
nói lên giá trị của mọi tạo vật để nhấn mạnh sứ mạng tông đồ
trên của cải vật chất, nhắc nhớ rằng sứ mạng tông đồ của người
tín hữu giáo dân không phải là tự mình gán cho các tạo vật những
giá trị từ bên ngoài " ( Giacomo Canobbio, Laico o
cristiani, Morcelliana, Brescia 1997, p. 226).
như là gán
cho tạo vật những giá trị thiêng liêng ngoại lai nào đó.
Các tạo vật
được dựng nên, như Chúa đã tạo nên, chính chúng đã thể hiện vinh
quang của Thiên Chúa.
- "
Động tác của các tín hữu giáo dân đối với tạo vật hệ tại ở việc
biến đổi chúng qua việc làm của mình và phân phát chúng thế nào
để góp phần thăng tiến nhân loại trong tự do và trong tự do tinh
thần Ki Tô giáo" ( Giacomo Canobbio, id.).
Như vậy,
- "
Qua các thành phần của Giáo Hội, Chúa Ki Tô càng ngày càng chiếu
toả ánh sáng cứu rỗi của Người cho cả cộng đồng nhân loại "
( LG, 36).
Động tác cứu
rỗi của Chúa Ki Tô được thực hiện giữa xã hội loài người và nhờ
động tác của người tín hữu giáo dân.
- "
Chúa Ki Tô càng ngày càng chiếu toả ánh sáng cứu rỗi của Người
cho cả cộng đồng nhân loại ",
nói cách
khác,
- "
tác động cứu rỗi của Chúa Ki Tô...cho cả cộng đồng nhân loại ".
Động tác cứu
rỗi đó không những không giới hạn ở việc rao giảng tín lý, mà
còn bao gồm cả động tác biến cải,
- giải
thoát ý nghĩa và địa vị cao cả của con người " được dựng nên
giống hình ảnh Thiên Chúa" ( Gn 1, 27) và là " con Thiên
Chúa" ( Mt 6, 9), khỏi ách nô lệ của tội lỗi và sự chết,
- và giải
thoát ý nghĩa chính đáng nguyên thủy và cao cả của mọi toại vật,
được Thiên Chúa đặt để nơi chúng, khi Chúa dựng nên chúng.
Trong nhãn
quang vừa kể, câu khẳng định căn bản của Hiến Chế Ánh Sáng
Muôn Dân ( LG ) về sứ mạng truyền giáo của người tín hữu
giáo dân được đặt trên nền tảng Ki Tô Luận ( Christologia):
- "
Sứ mạng tông đồ của người tín hữu giáo dân là tham dự vào chính
sứ mạng cứu rỗi của Giáo Hội. Và đối với sứ mạng nầy, tất cả đều
được chính Chúa ủy thác cho qua phép Rửa và phép Thêm Sức "
( LG IV, 33).
Và Nghị Định
Thực Hiện Truyền Giáo ( Decretum Apostolicam Actuositatem, AA)
còn thêm:
- " Ơn
kêu gọi Ki Tô hữu (...) do bản tính của mình là ơn kêu gọi tông
đồ " ( AA, 2).
Trở nên
giống Chúa Ki Tô, qua phép Rửa, thành phần thân thể mầu nhiệm
của Người, làm cho người tín hữu Chúa Ki Tô, tham dự vào phận vụ
cứu rỗi của Người.
Chúng ta
không thể tách rời thực tại bản thể ( réalité ontologique)
của Chúa Ki Tô ra khỏi phận vụ cứu rỗi của Người, cũng vậy chúng
ta không thể tách rời thực thể trở nên giống Chúa Ki Tô (
conforme au Chirst) của người tín hữu ra khỏi phận vụ tham
dự vào sứ mạng cứu rỗi.
Không có một
động tác đích thực chính đáng nào của người tín hữu Chúa Ki Tô
mà không là tác động một cách nào đó, thực thi sứ mạng cứu rỗi
của Người.
Không thể
tách rời động tác nội bộ nào của Giáo Hội ( intraecclesialis),
mà không liên hệ một cách nào đó đến động tác hướng ngoại (
extraecclesialis) không có giá trị tông đồ và thuộc về sứ
mạng của Giáo Hội.
Với một nhãn
quang tổng quát: cả Cộng Đồng Giáo Hội đều tham dự vào sứ mạng
của Chúa Ki Tô; mỗi người tín hữu Chúa Ki Tô ( giáo sĩ, tu sĩ
cũng như giáo dân), mỗi người tùy theo phần của mình, thực hiện
toàn diện sứ mạng nầy, bởi vì qua Giáo Hội, mỗi người được tháp
ghép vào Chúa Ki tô và thông hiệp, trở nên giống như Người (
conforme au Christ).
Mỗi người có
những đặc tính sống và hành động tham dự vào sứ mạng của Giáo
Hội của mình, được xác định do hoàn cảnh và điều kiện của cuộc
sống, tại vị trí đó mỗi người được ơn gọi của mình cắt đặt mình
và do ân sủng Chúa Thánh Linh xếp đặt cho mình.
|
|
VỀ MỤC LỤC |
|
NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA HÔN NHÂN (4)
|
|
NHỮNG KHÓ KHĂN VỀ KINH TẾ
Cần phân biệt sự xáo trộn thật và cái có vẻ như là xáo trộn
trong việc phân tích các nguồn gốc khác của việc bất ổn trong
hôn nhân. Những khó khăn về kinh tế thường bị đổ tội cho sự hủy
hoại mối bất hòa trong hôn nhân. Khi sự nghèo đi vào cữa trước,
tình yêu đi ra cữa sau. Câu ấy nghe thật xuôi tai nhưng có thật
như vậy không? Tôi đã thấy nhiều hôn nhân trong đó sự căng thẳng
về kinh tế ngăn ngừa được sự đổ vỡ. Không phải vì họ không thể
cung cấp những chi phí, cũng không phải vì có khả năng kinh tế
mà nâng số ly dị lên cao. Cái khó nghèo có thể mang hai người
gần lại hơn cũng như dễ làm cho sợi giây hôn nhân của họ tan vỡ
hơn. Cuộc sống khó khăn đã kết hợp một số hôn nhân nhưng cũng
làm tan vỡ một số khác. Bất cứ một sự không may mắn nào cũng là
một thử thách của sự can đảm và sự trung thành của cả hai. Đó là
một thử thách về nền tảng mà trên đó hôn nhân đã được xây dựng.
Nếu người vợ lấy chồng vì lý do bảo đảm kinh tế, dĩ nhiên sự mất
thu nhập cũng làm mất nền tảng mà trên đó hôn nhân được xây cất.
Trái lại, nếu họ có cảm giác thuộc về, sự khó khăn sẽ làm mạnh
thêm cảm giác đó. Dưới những điều kiện khó khăn, nhiều đụng độ
nho nhỏ thường có hại cho sự cảm thông hỗ tương sẽ biến mất. Tai
họa thật không có chỗ cho việc quan tâm đến thể diện cá nhân.
Mọi ước muốn cho cuộc sống được tốt đẹp hơn, hay mọi sợ hãi mang
nhiều mặc cảm đều mất ý nghĩa khi sự sống còn bị đe dọa về mặt
thể lý, kinh tế, hay xã hội. Các bà trước đây quan tâm về giải
trí, dáng vẻ bên ngoài, và sự giàu sang lại trở thành những
người bạn đồng hành thật với chồng mình, và họ sẵn sàng hy sinh
sự thoải mái để giúp đỡ chồng, ngay cả dấn thân đi làm để cung
ứng sự nâng đỡ về kinh tế. Nhiều cặp dưới những trường hợp như
thế đã khám phá ra những tính chất và những đặc nét đáng yêu
trong nhau mà họ không bao giờ nhìn thấy trước đây
Tuy nhiên, cũng không thể chối từ những khủng hoảng về kinh tế
thường là nền tảng ngay tức khắc cho sự sụp đổ hôn nhân. Nhưng
kinh nghiệm dạy cho chúng ta: hãy nhìn xa hơn những xung đột có
tính cách tức thời để đi tìm những lý do đằng sau đó. Như chúng
ta đã nói trước đây, có thể việc thiết lập nền tảng của hôn nhân
như thế không đủ để chịu đựng bất cứ một sự căng thẳng nào, hoặc
đã bị xoi mòn bỡi những xung đột trước đến nỗi chỉ một chút nặng
nhọc thêm vào cũng đủ làm tan vỡ tất cả. Chúng ta phải xem xét
đằng sau bất cứ sự sụp đổ hôn nhân nào, bấy giờ chúng ta sẽ khám
phá ra và rất có thể đây là nguyên nhân sâu xa: quá nhấn mạnh
đến thể diện, danh tiếng cá nhân. Bằng cách nào khủng hoảng kinh
tế ảnh hưởng đến thể diện cá nhân? Để hiểu vấn đề nầy, chúng ta
phải nhận ra nguồn gốc sâu xa của nhiều bất hòa trong hôn nhân
mà xem ra có nền tảng bắt nguồn từ những khủng hoảng về kinh tế.
NGƯỜI ĐÀN ÔNG NHƯ MỘT NGƯỜI CUNG
CẤP
Quan niệm hiện hành của các ông cũng như các bà đối với vấn đề
kinh tế có một màu sắc đặc biệt. Nhiều bà xem giá trị của họ
được đánh giá trong từ ngữ của đồng đô la mà một người đàn ông
cần phải chi tiêu cho họ với tư cách là một người vợ hay một
người bồ. Chính vì thế, sự khủng hoảng về kinh tế của người
chồng được coi như một sự tổn thương không thể chấp nhận được về
phương diện xã hội. Bất cứ một người đàn ông nào dám đe dọa tình
trạng xã hội của nàng phải chịu nhiều rắc rối bỡi sự giận dữ và
thất sủng của nàng. Trên căn bản nầy, những cuộc cãi cọ và tố
cáo lẫn nhau bắt đầu. Mặt khác, đàn ông thường coi vị thế của họ
liên kết với tiền họ làm ra. Quan niệm rất thông thường là: bất
cứ người đàn ông nào không kiếm ra tiền thì được xem là thất
bại. Không có công ăn việc làm đối với đàn ông khó chấp nhận hơn
là đối với các bà. Mặc cảm thất nghiệp bỡi thiếu khả năng của
người đàn ông mất việc làm tăng sự căng thẳng trong việc chiến
đấu cho sự bảo vệ thể diện cá nhân trong gia đình và làm rối
loạn sự quân bình trong hôn nhân.
Nếu người chồng không thể nâng đỡ gia đình một cách thích hợp,
cần phải có can đảm nhiều cũng như cần có một cảm giác sâu xa về
phẩm giá đối với cả hai bên để giữ được sự hài hòa trong hôn
nhân. Người vợ có khuynh hướng nhìn khuyết điểm của chồng như là
một hành động xúc phạm cá nhân, thường cắt nghĩa sự không làm ra
tiền là một sự sao nhãng bổn phận đối với vợ và gia đình. Người
chồng về phía mình, cảm thấy sự bất lực của mình một cách đau
đớn ngay dù ông muốn cố che giấu sự tủi nhục. Nhưng những hành
động của ông cho thấy rõ ràng những cố gắng vô ích để đền bù cho
sự thất bại bị lên án của ông. Ông có thể phản đối một cách tích
cực hay thụ động bằng cách ở trên giường và chối từ bất cứ loại
đóng góp nào về phía bên ông; hoặc ông có thể đóng vai bạo chúa
đòi hỏi và ra lệnh những phần tử khác trong gia đình. Bà vợ
thường không hiểu tại sao ông lại cư xử như vậy, và sự giận dữ
của nàng tăng lên khi ông ngày càng ít muốn giúp việc nhà. Nàng
nghĩ rằng chàng có bổn phận gánh vác những trách nhiệm trong nhà
nếu chàng không đi làm. Nàng không nhận ra rằng quan niệm của
chàng về công việc nhà được xem như là của các bà, và vì thế mặc
cảm đó càng làm cho chàng cảm thấy xấu hổ. Sự chán nản đó càng
đẩy chàng chìm sâu hơn trong sự chống đối và thất vọng.
Nếu các ông được huấn luyện xem công việc nhà không là của các
bà, và các bà xem việc nuôi sống gia đình không hoàn toàn là của
các ông, bấy giờ sự thất nghiệp của ông chồng khó tạo nên sự
khủng hoảng. Đối với những người có nghề nghiệp chuyên môn thì
cuộc sống lại là một cái gì khác nữa, vì ở đó vai trò quan trọng
của người chồng như là một nghệ sĩ, văn sĩ, ca sĩ, luật sư, nghệ
thuật gia, hay khoa học gia ít tùy thuộc trên số tiền họ kiếm
được. Trong những lãnh vực như thế, một người có thể có địa vị
chuyên môn nhưng vẫn nghèo, và người vợ có thể hảnh diện về
chồng ngay cả dẫu nàng nâng đỡ cuộc sống của chàng. Nhưng nếu
các bà thuộc nhóm người có quan niệm rằng chỉ những người đàn
ông là có bổn phận chính trong việc nuôi sống gia đình, chắc
chắn không tránh khỏi việc coi thường những người đàn ông thất
nghiệp.
Những thay đổi trong quan niệm về người đàn ông như là một nguồn
cung cấp duy nhất dẫn đến những khó khăn mới trong chiều hướng
khác. Nhiều ông giận dữ vì các bà ước muốn đi làm bên ngoài để
kiếm tiền. Họ coi điều đó là một sỉ nhục nếu để bà vợ đi làm.
Thật ra, đó chỉ là một sự tranh chấp cho quyền tối thượng và thể
diện của họ. Khắc phục một trở ngại như thế thì không dễ đối với
một người đàn bà muốn đóng góp một chút gì cho xã hội và cho gia
đình. Chiến tranh hoặc nhường nhịn cả hai đều không mang lại lợi
ích gì. Chiến tranh có thể dẫn đến sự sụp đổ của những ràng buộc
hôn nhân. Ngay cả khi nàng thắng, chàng sẽ tiếp tục hận thù sự
thành công của nàng, và trong vài trường hợp chàng có thể trở
nên thất vọng trong việc cạnh tranh với nàng đến nỗi sự thích
nghi cuộc sống của chàng cũng bị tổn thương. Nhưng nếu đầu hàng,
sự đầu hàng của nàng có thể đưa đến một sự giận dữ và sẽ đưa
nàng đến một đời sống trống rỗng và bất hạnh, hoặc đưa đến một
sự độc lập xem ra vô vị không cần thiết.
Cuộc đụng độ giữa hai người phối ngẫu không làm cản trở một sự
đồng ý có thể đạt được trong thế quân bình hoàn toàn mãn nguyện.
Nhiều bà có khả năng và ước muốn đi làm, đã tự nguyện tước bỏ
điều đó vì họ nhận thấy thật là phiền toái và rắc rối biết bao
cho sự hạnh phúc của hôn nhân họ nếu họ ra đi làm. Tuy nhiên,
một sự quyết định như thế không thể được xem như là đầu hàng.
Điều đó được làm một cách hữu ý trong sự ý thức hoàn toàn về
những lợi ích đạt được. Nhưng nếu người đàn bà thật lòng thích
thú một công việc nào đó và nhất định làm, sự nhân nhượng trước
những đe dọa hoặc khủng bố sẽ không giải quyết vấn đề. Nàng nên
tìm cách giữ hôn nhân của nàng phù hợp với sự phát triển một
nghề nghiệp. Điều nầy đòi hỏi khả năng thuyết phục được sự chấp
nhận của người chồng. Cãi cọ và nước mắt, đe dọa và tố cáo chỉ
gây hận thù mà thôi. Đàn bà can đảm dấn thân vào một nghề nghiệp
có thể khéo léo và mạnh đủ để thuyết phục người chồng rằng chàng
không mất gì cả ngay cả ưu thế của người đàn ông, nếu nàng tìm
được lãnh vực riêng của nàng để hoạt động.
Không kể sự xung khắc được tạo nên bỡi sự không cung cấp của
người chồng hay bỡi ước muốn trở nên người cung cấp duy nhất,
những nguyên tắc trên đây có giá trị và cần phải được giữ lấy
nếu không muốn tai họa xảy đến. Trước nhất, người vợ phải nhận
ra khủng hoảng của người chồng và giúp chàng giải quyết vấn đề.
Chàng cần sự khích lệ ngay cả khi chàng cố gắng đóng vai bạo
chúa. Người chồng ngăn cản người vợ không cho đi làm cho thấy sự
thất vọng của chàng cũng như cho thấy rằng chàng lo sợ sẽ không
thể giữ được thế thượng tôn. Cho chàng thấy chàng sai biết bao
trong việc đòi hỏi quá mức của chàng là giúp chàng nhận thức
được sự hy sinh và tận hiến quá nhiều của nàng. Bất cứ khi nào
những vấn đề về thể diện, mất tin tưởng, hoặc thiếu sự trung
thành nổi lên, hãy nhớ rằng những tranh cãi hay lý luận chẳng
mang lại lợi ích gì. Sự nhục mạ không thể tránh được nếu mình đi
mạ lỵ người khác. Bày tỏ tình cảm chân thành hay chứng tỏ tình
yêu sẽ làm tăng cường cảm giác thuộc về và chuẩn bị cho một sự
thõa thuận giữa hai ngưòi với nhau. Trong bầu khí tin tưởng chân
thành, những vấn đề mâu thuẫn nhất cũng có thể được giải quyết
một cách tốt đẹp. Dĩ nhiên, một người vợ không tin rằng người
chồng sẽ đồng ý, cũng không tin rằng bà có thể làm cho người
chồng bà hiểu được quan điểm của bà, chỉ chuẩn bị cho sự giao
chiến và sự thất vọng mà thôi.
Lm
Lê Văn Quảng Psy.D. |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
TIẾN TRÌNH VÀ NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ CUỐI CÙNG VÀ GỌI CHỊU CHỨC |
|
[BẢN THẢO]
LINH MỤC GIÁO PHẬN SỐNG TU ĐỨC TOÀN DIỆN
TRONG BỐI CẢNH THỰC TẾ CỦA GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HÔM NAY
Lm.
Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss
CHƯƠNG HAI
ỨNG SINH LINH MỤC
GIÁO PHẬN
CỦNG CỐ NHỮNG BƯỚC
ĐẦU
PHÂN ĐỊNH VÀ SỐNG
ƠN GỌI
C. KỸ NĂNG
CHUYÊN BIỆT: LINH HƯỚNG
(tiếp theo)
C.viii.
TIẾN TRÌNH VÀ NỘI DUNG ĐÁNH GIÁ CUỐI CÙNG VÀ GỌI CHỊU CHỨC
“Họ phải được thử thách
trước đã, rồi mới được thi hành chức vụ…” ( 1 Tm 3: 10)
Việc đào tạo linh mục phải theo
tiến trình bốn chiều kích căn bản: nhân bản, thiêng liêng, tri thức và mục vụ.
Việc đào tạo này nhằm giúp ứng sinh trưởng thành và cung cấp một đánh giá xác
thực và hữu ích cho việc Đấng Bản Quyền gọi ứng sinh lên chịu chức linh mục.
Mục đích của việc Hội đồng
Chủng viện nhận xét hàng năm là để giúp ứng sinh tự suy nghĩ và đánh giá, nhờ đó,
trong cái nhìn xác thực về đời mình, anh có thể thấy những gì cần phải thay đổi
và lên kế hoạch cụ thể để việc thay đổi ấy được hiệu quả.
Đức Gioan Phaolô II đề cao:
Tính thích hợp của ứng sinh, trên hết, nhắm đến tinh thần cầu nguyện, sự thấm
nhuần sâu xa giáo lý đức tin, khả năng sống tình huynh đệ và khả năng sống đời
độc thân linh mục. Vì thế, bên cạnh các nhận xét của ban đào tạo, người ta cũng
mong muốn có sự tham khảo các bạn đồng môn, và những người ứng sinh thi hành sứ
vụ (tham khảo thôi, chứ không có giá trị quyết định).
Mọi người phải tôn trọng
chặt chẽ phận vụ của toà trong và toà ngoài. Các giá trị và kỹ năng đánh giá dựa
trên giáo huấn của Hội Thánh và chương trình đào tạo của Chủng viện.
Hội đồng Chủng viện và tất cả
các nhà đào tạo cố gắng hiểu biết đầy đủ về từng ứng sinh để giáo dục anh và
giúp anh phát huy nỗ lực tự đào tạo của anh. Các ngài góp phần vào công việc
chung của Giáo Hội bằng việc đánh giá cuối cùng và giới thiệu ứng sinh lên chịu
chức linh mục.
Việc đánh giá này nhấn mạnh
những lãnh vực chủ yếu:
-
Trưởng thành toàn diện:
thể lý cũng như tâm lý, tình cảm;
-
Trưởng thành thiêng
liêng được diễn tả bởi cam kết dấn thân cầu nguyện và sống mật thiết với Chúa
Kitô, siêng năng lãnh nhận các bí tích;
-
Hiểu biết đầy đủ về chức
linh mục và chấp nhận giáo huấn của Hội Thánh về đức tin và luân lý;
-
Sẵn sàng chấp nhận cuộc
sống bất định của kẻ được sai đi (tới nơi không muốn, ở với người không ưa và
làm việc không thích);
-
Sẵn sàng chấp nhận trách
nhiệm tiếp tục được đào tạo và tự đào tạo;
-
v.v...
Khoa tâm lý giáo dục
đương thời cung cấp nhiều kỹ thuật để đánh giá cách thích hợp hơn sự phát triển
thực sự của ứng sinh.
Vì bí mật của việc
linh hướng, vị linh hướng bị ràng buộc bởi toà trong và do đó, không được bàn
cãi khi đánh giá và nhận xét về tính thích hợp của ứng sinh trong việc chịu
chức. Còn các vị khác đã tương tác làm việc với ứng sinh cách công khai ở toà
ngoài buộc tham dự tiến trình đánh giá này: không những cho biết thái độ
ứng xử bên ngoài của ứng sinh (những gì anh nói và làm, cũng như đạt được những
kiến thức đòi hỏi), mà còn đánh giá tính thích hợp của việc anh chịu chức linh
mục, vì đó là trách nhiệm đã được trao phó cho các ngài.
Là những thừa tác
viên hợp luật của Hội Thánh được trao trách nhiệm phán đoán tính thích hợp của
các ứng sinh, Hội đồng chủng viện bỏ phiếu trong buổi đánh giá cuối cùng. Phiếu
bầu có nhiều loại: khẳng định, khẳng định có ghi chú, tiêu cực và loại.
Khẳng định có
ghi chú nghĩa là còn có khiếm khuyết cần phải sửa chữa và trau dồi thêm, nghĩa
là bị dừng lại chưa cho chịu chức. Nếu là phiếu loại thì nên giải thích đầy đủ.
Nên nhắm giáo dục hơn là loại bỏ: Mỗi vị thánh đều có một quá khứ, và mỗi tội
nhân đều có một tương lai. Giáo dục nhắm biến đổi người xấu thành người tốt và
người tốt thành người tốt hơn, phó thác cho quyền năng của ơn Chúa. Đối với con
người thì không thể, nhưng với Thiên Chúa thì mọi sự đều có thể.
Các ứng sinh cũng
phải được biết về những lầm lỗi của mình, đặc biệt là những lầm lỗi quan trọng;
được phép giải thích và biện hộ lý do của mình (x. Cv 25,16); cũng cần có thời
gian và cơ hội để thực hiện sự hoán cải cần thiết. Đây là mệnh lệnh của Tin Mừng
đối với việc tha thứ và biến đổi. Điều mà tổ tiên người Việt Nam quan tâm là
“làm người, không ai thoát khỏi lầm lỗi; có lầm lỗi thì phải sửa mình; và khi đã
sửa rồi thì không còn lầm lỗi nữa.”
Tin Mừng chứng tỏ
nhiều tội nhân trở thành thánh nhân nhờ sự trợ giúp quyền năng của ân sủng Thiên
Chúa (Ga 8,7). Đây là tình yêu thương xót của Chúa (Mt 9,12-13). Trên thực tế,
những người đã hoán cải mà có lòng khiêm tốn còn tốt hơn những ai không hề có
lỗi lầm nào đáng kể, mà mắc phải chứng kiêu hãnh và tự phụ.
Mọi nỗ lực và sự quan
tâm đặc biệt đối với việc đào tạo là nhằm cung cấp cho các ứng sinh những phương
tiện để biện phân ơn gọi của mình, để họ thu thập được kiến thức, thái độ và
những kỹ năng cần thiết cho một linh mục tốt, trong niềm tin tưởng rằng Thiên
Chúa sẽ hoàn tất công việc quan trọng này của Hội Thánh bằng những ơn huệ của
Chúa Thánh Thần.
Nhưng trong sự cảm
thông với Giáo Hội, việc đánh giá không dừng lại ở đó, mà còn quan tâm đến các
khuynh hướng đặc biệt, những khả năng và đức tính của ứng sinh nữa, ngõ hầu giúp
Bề Trên “dùng” và bổ nhiệm anh phù hợp với các ân huệ Chúa ban cho anh và các
nhu cầu của Giáo Hội địa phương. Ban đào tạo cũng có thể gợi ý và đề nghị cho
phép một số ứng sinh đẩy xa việc học hơn nữa hầu có thể cống hiến cho Giáo Hội
những nhà đào tạo tương lai bén nhạy với các nhu cầu thiêng liêng hiện nay, bởi
vì không phải bất cứ ai cũng có thể trở thành nhà đào tạo, nhất là linh hướng.
Đây là sự chuẩn bị nhân sự thích hợp. Vì sự sống còn và phát triển Giáo Hội, Bề
Trên nên chọn những linh mục ưu tú để được huấn luyện thành các nhà đào tạo
tương lai. Ai được chọn thì phải sẵn sàng “trả lại” cả vốn lẫn lãi nén bạc Chúa
đã trao cho.
C.IX. Ứng Sinh Không Thích HỢp
(Hát Chúa cất tiếng
gọi con)
Trong việc biện phân
ơn gọi của một ứng sinh, phải phân biệt hai yếu tố lòng ước muốn và tính thích
hợp. Lòng ước muốn thuộc bình diện tình cảm, trong khi sự thích hợp đòi hỏi phẩm
chất và khả năng. Một thanh niên có thể rất muốn trở thành linh mục, nhưng anh
lại không đủ phẩm chất và khả năng khiến anh có thể làm một linh mục xứng đáng.
Vì thế, toà ngoài phải phán đoán tính thích hợp này, ngõ hầu đón nhận hay từ
chối một ứng sinh.
Còn ở toà trong, lòng
ước muốn phải được vị linh hướng xét xem có phù hợp với ước muốn của Chúa Thánh
Thần không. Việc này giao phó ứng sinh cho hoạt động của Chúa Thánh Thần, và sự
tiếp nhận lắng nghe những gì được nói với anh ở toà ngoài. Toà ngoài cũng phải
tìm biết những dấu chỉ của hoạt động của Chúa Thánh Thần trong đời sống của ứng
sinh.
Ứng sinh nào bị phát
hiện là không thích hợp, vì khiếm khuyết thể lý, quân bình tâm lý hay luân lý,
thì nên nhanh chóng đưa anh ra khỏi con đường theo đuổi ơn gọi. Cả hai phía, các
nhà đào tạo và ứng sinh, không được phép nuôi dưỡng những hy vọng hảo huyền và
những ảo tưởng nguy hiểm. Cũng không ai được tự phụ rằng ơn thánh sẽ thay thế
cho những khiếm khuyết tự nhiên.
Tuy nhiên, người ta
sẽ cho ứng sinh không thích hợp ra đi một cách tôn trọng, bằng cách nhấn mạnh về
sự không thích hợp với đời sống và sứ vụ linh mục hơn là những khiếm khuyết hay
lỗi lầm, làm tổn thương nhân phẩm và danh dự của họ. Các cựu ứng sinh nầy cũng
là kho tàng của Giáo Hội, họ sẽ hỗ trợ, cộng tác vào công cuộc đào tạo các ứng
sinh cách này hay cách khác.
Không phải tất cả
những ai vào Chủng viện đều nhất thiết trở thành linh mục: Chúa gọi thì nhiều,
nhưng chọn thì ít. Người nào không thích hợp với đời sống linh mục sẽ được gợi ý
cho một cuộc sống mới, trong niềm tin tưởng rằng Chúa sẽ dùng anh cách tốt đẹp
cho lợi ích của Giáo Hội, đền đáp những gì anh đã lãnh nhận từ Chúa và Giáo Hội
của Ngài, qua những năm tháng được đào tạo trong Chủng viện. Hãy tạo cơ hội cho
họ góp phần cách tích cực và hữu hiệu vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội, về
nhân lực cũng như vật lực.
Vậy vấn đề quan trọng
là giúp ứng sinh
CHỌN LỰA LÀM SAO CHO
ĐÚNG con
đường ơn gọi của mình? Có thể nói một cách chính xác là cả ứng sinh lẫn
các nhà đào tạo đều phải xem xét từng ứng sinh có thực sự thích và hợp với chức
vụ và đời sống linh mục không.
Trong bất cứ chọn lựa
nào cho suốt cuộc đời, chúng ta phải làm nổi bật hai yếu tố quan trọng THÍCH và
HỢP. Thích là ý muốn chủ quan nói lên hứng thú và nguyện vọng, ước mơ. Hợp là
yêu cầu khách quan đòi hỏi năng lực và phẩm chất, để có thể theo đuổi suốt cuộc
đời lựa chọn hôm nay. Nhưng Thích và Hợp có những mức độ khác nhau liên quan đến
chọn lựa của ta, được mô tả như sau:
Th
Thích/Hợp
|
Không thích
|
Thích
ít
|
Thích vừa
|
Rất thích
|
Không
hợp
|
1
|
2
|
3
|
4
|
Tg đối
hợp
|
5
|
6
|
7
|
8
|
Rất hợp
|
9
|
10
|
11
|
12
|
Các ô từ 1-12 biểu thị các mức
độ thích và hợp, đồng thời xác định sự lựa chọn:
- Nếu vô tình hay buộc
lòng chọn các ô 1 2 3 4 5 6 và 9 thì đó là quyết định sai lầm có ảnh hưởng xấu
đến tương lai cuộc đời.
- Nếu phải chấp nhận số
7 và 10 thì chọn lựa đó có thể được với nỗ lực bản thân rất lớn.
- Chọn số 8 và 11 là
chọn lựa tương đối ổn định, có khả năng hoàn thiện với cố gắng liên lĩ. Đa số ở
vào trường hợp này.
- Chọn số 12 là chọn
lựa lý tưởng.
Tóm lại:
- Nếu chỉ thích mà
không hợp là không tốt, đừng chọn.
- Nếu chỉ hợp mà
không thích thì không hay, đừng chọn.
- Chỉ chọn cái ta
thích và hợp với ta. Đó là một quyết định không lầm lẫn.
Vấn đề quan trọng là xác định
thế nào là thích và hợp?
Thích thuộc lãnh vực tình cảm.
Có những sở thích nhất thời, không ổn định, theo phong trào: đừng nghĩ đó là
hứng thú có thật hay một khát vọng đã được tôi luyện qua nhiều năm tháng, có khả
năng kích thích và thôi thúc thực hiện bền bĩ.
Hợp thuộc lãnh vực phẩm chất và
năng lực. Cần phải biết chính mình, xem phẩm chất và năng lực của mình có phù
hợp với con đường mình muốn dấn thân vào không? Tự mình có thể ngộ nhận, nên ta
cần có sự giúp đỡ chuyên môn của khải đạo, linh hướng, cố vấn tâm lý, trắc
nghiệm hướng nghiệp…
C. X. NHỮNG NGUYÊN TẮC KHI CẦN
THAY ĐỔI VỊ LINH HƯỚNG
Có thể xảy ra trường
hợp thiếu hoặc mất tín nhiệm, thì “việc thay đổi linh hướng là luôn có thể và
đôi khi đáng ao ước nữa.” Ứng sinh có thể đề nghị trước. Đôi khi, vị linh hướng
sẽ yêu cầu ứng sinh đi linh hướng với người khác, bởi vì ngài nghĩ rằng ngài sẽ
không thể tiếp tục trách nhiệm ấy nữa.”
Vì lợi ích của người
thụ hướng, những nguyên tắc sau đây giúp anh phân định xem có nên tiếp tục hay
không gặp một vị linh hướng cá biệt. Anh thẳng thắn xem xét các động lực khiến
anh muốn thay đổi vị linh hướng của anh:
-
Có phải do
mâu thuẫn cá nhân?
-
Có phải anh
muốn thoát khỏi bị thách đố?
-
Có phải anh
đang phóng chiếu những tính tiêu cực như hách dịch, vô cảm, thiếu thông cảm và
hiểu biết lên vị linh hướng của anh?
-
Có những
mong đợi không thực tiễn chăng?
-
Có phải vì
vị linh hướng từ chối cung cấp thêm ảo tưởng cho anh?
-
Anh cần
tranh luận với vị linh hướng về những khó khăn mà anh đang trải nghiệm trong
giao tế?
-
Anh có tiếp
tục nhận được ích lợi thiêng liêng từ việc hướng dẫn này không?
-
Có vị linh
hướng khác mà anh bị lôi cuốn chăng?
-
Đâu là
những lý do khác nữa?
Người thụ hướng
cần phải có đủ thời gian để suy nghĩ về toàn bộ vấn đề trước khi đưa ra một
quyết định. Anh không nên vội vả, nhưng nên bàn hỏi vấn đề này với một người
trung lập.
-
Có phải đó
là sự chấm dứt tự nhiên, vì sự hướng dẫn tìm kiếm đã được thực hiện?
-
Liệu đây có
phải là thời gian để thay đổi vì hoàn cảnh của anh hay của vị linh hướng, hoặc
của cả hai? Do thay đổi sự bổ nhiệm, chuyển sang giai đoạn huấn luyện khác? Hay
còn những việc khác xem ra gặp phải trên đường tương quan linh hướng như: lòng
tín nhiệm, hấp dẫn giới tính, đổ vỡ giá trị?
C.XI. VỊ LINH HƯỚNG TỐT
C.XI.1 Các Đức Tính của vị Linh Hướng Tốt
Theo Mẹ Têrêsa Avila, một vị linh hướng tốt phải được đào tạo kỹ lưỡng và thành
thạo, với nền đào tạo vững chắc về thần học và kinh nghiệm cầu nguyện cao (cầu
nguyện yên tĩnh, cầu nguyện nhiệm hiệp), bởi vì mẹ đã phải đau khổ rất nhiều
trong tay những người học hành nửa vời.
Vị linh hướng phải
có kiến thức vững chắc về thần học, về linh đạo và về Kinh Thánh, một ít hiểu
biết căn bản về kỹ năng tư vấn, quen thuộc các vấn đề tâm lý và tâm thần. Vị
linh hướng nên có cái nhìn quân bình trong kinh nghiệm cầu nguyện và ý thức rằng
chán nản trong cầu nguyện là có thể có, đồng thời nên biết phân biệt các an ủi
và chán nản từ các kinh nghiệm đích thực về Chúa.
Vị linh hướng cũng
nên quan tâm thực sự về cảm nhận bình an thoải mái của người thụ hướng. Thánh
Gioan Thánh Giá nhấn mạnh rằng vị linh hướng phải giúp người thụ hướng lắng nghe
Chúa Thánh Thần, Đấng là người hướng dẫn chính đang làm việc nơi người thụ
hướng. Chính Thần Khí Chúa Giêsu là trung tâm của đời sống thiêng liêng và của
việc linh hướng.
Vị linh hướng
thành thạo giúp người thụ hướng cởi mở hoàn toàn cho hoạt động bên trong của
Chúa, sẵn sàng thay đổi ý kiến và cuộc sống. Vị linh hướng phải ngoan ngoãn nghe
theo những gì Chúa Thánh Thần đang làm nơi người thụ hướng, hầu có thể khẳng
định và xác nhận việc Chúa Thánh Thần làm đó.
Vị linh hướng dạy
cho người thụ hướng làm sao áp dụng Lời Chúa vào hoàn cảnh cụ thể và đặc biệt
của cuộc sống mỗi ngày; đồng thời biết quan tâm đến những gì Thiên Chúa nghĩ hơn
là những gì con người nghĩ. Thiên Chúa có thể hành động trực tiếp, nhưng Ngài
thích dạy con người qua con người hơn, chẳng hạn như trường hợp Saolô ngã ngựa
(x. Cv 9, 1-19).
Thánh Gioan Thánh
giá đồng quan điểm với thánh Têrêsa Avila rằng vị linh hướng cần được đào tạo,
nhạy cảm, tín cẩn, có kinh nghiệm trong đời sống cầu nguyện và kiến thức chắc
chắn về tâm lý thực hành.
Tóm lại, những đức
tính của một vị linh hướng tốt là:
-
Một con
người có trí phán đoán lành mạnh và lương tri tốt,
-
đủ tự tin
để khơi dậy lòng tín nhiệm nơi người khác.
-
kinh nghiệm
Thần Khí và mở rộng kinh nghiệm ấy qua việc quan sát kinh nghiệm của người thụ
hướng.
-
khiêm tốn
tập việc dưới sự hướng dẫn của người có kỹ năng.
-
có sự
trưởng thành cá nhân trong cầu nguyện và xác tín tầm quan trọng của cầu nguyện.
-
luôn luôn
cập nhận hoá việc học với tinh thần cầu tiến.
-
sẵn sàng
chất vấn và cũng sẵn sàng để được chất vấn.
-
có khả năng
khích lệ và thúc đẩy người thụ hướng.
-
biết chăm
chú lắng nghe với lòng thiện cảm, khiêm tốn và yêu thương.
-
có khả năng
sống thành thật với chính mình và với người khác, với khả năng gây tín nhiệm nơi
người thụ hướng.
C.XI.2. Những
gì vị Linh Hướng Tốt phải tránh
·
Vị linh
hướng tốt không áp đặt giá trị lên người thụ hướng, nhưng phải rõ ràng với những
giá trị quan trọng. Ngài nhắc lại những giá trị ấy, nhưng để người thụ hướng tự
do, ngõ hầu anh có thể chọn lựa một giá trị cho mình cách tự do.
·
Vị linh
hướng tốt không gài bẫy người thụ hướng, nhưng rất thẳng thắn với anh. Vị linh
hướng tốt không cố trở thành người giải quyết vấn đề.
·
Vị linh
hướng tốt không bắt người thụ hướng phải chịu thẩm vấn. Vị linh hướng tốt không
cố chứng minh điều gì đó với người thụ hướng mà ngài biết rằng anh không sẵn
sàng chấp nhận vào lúc đó.
·
Vị linh
hướng tốt không sợ thinh lặng, bởi vì thoải mái thinh lặng chứng tỏ rằng mình
đang cảm thấy dễ chịu.
·
Vị linh
hướng tốt không nhắm đến mục đích cứng nhắc: “Tôi muốn hướng dẫn anh và đưa anh
phải đi lối này.”
·
Vị linh
hướng tốt không quá bộc lộ tình cảm hoặc lạnh lùng như người vô cảm.
·
Vị linh
hướng tốt không vội vàng chỉnh sửa tất cả những quan niệm sai lầm của người thụ
hướng ngay lập tức. Vị linh hướng tốt không lên án người thụ hướng.
·
Vị linh
hướng tốt không lợi dụng người khác để thỏa mãn nhu cầu của riêng mình. Vị linh
hướng tốt không kỳ vọng quá nhiều việc ngay một lần.
·
Vị linh
hướng tốt không bảo đảm cho người thụ hướng cách quá nhanh chóng, vì thái độ này
làm cho anh bị lệ thuộc.
·
Vị linh
hướng tốt không vội vã trả lời những vấn nạn của người thụ hướng. Vị linh hướng
tốt đôi khi nên gửi trả lại câu hỏi: “Đây là một câu hỏi hay.”
C.XI.3 Những gì
vị Linh Hướng Tốt phải làm
·
Vị linh
hướng tốt phải lắng nghe người thụ hướng, để cho anh cơ hội thấu hiểu kinh
nghiệm của chính anh.
·
Vị linh
hướng tốt cùng người thụ hướng lắng nghe lời mang tính hiện sinh, ngôn sứ và
thời sự của Chúa.
·
Vị linh
hướng tốt chuẩn bị đất cho một cam kết hoàn toàn tự do, hoặc tái cam kết với giá
trị và ý nghĩa của toàn bộ đời sống của người thụ hướng, hầu kiến tạo căn tính
cá biệt của một con người, nhờ sự trung thành có tính cách sáng tạo.
·
Vị linh
hướng tốt phải ý thức rằng một quyết định của một đời người phải được thực hiện
trong lúc tự do.
·
Vị linh
hướng tốt ý thức rằng lối sống và cách giải thích kinh nghiệm của một con người
phải được kiểm chứng bởi những kinh nghiệm lặp đi lặp lại được giải thích và
đánh giá cùng với nhau.
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
CƯ XỬ VỚI VỢ NHƯ MỘT NGƯỜI CHỒNG
TỐT
|
|
Tác phẩm: Cẩm Nang Hạnh Phúc Gia Đình
Kitô - MỤC VỤ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Tác
giả: D. WAHRHEIT (Lm. Minh Anh, GP. Huế tổng hợp biên tập)
A15. CƯ XỬ VỚI VỢ NHƯ MỘT NGƯỜI
CHỒNG TỐT
Chuyện hy hữu xảy ra tại Hoa Kỳ:
Có một người đàn bà không chấp
nhận ngủ cạnh một người chồng có đôi bàn chân lạnh. Người chồng
phải đi làm ca đêm, gần sáng ông về nhà, lên giường nằm bên cạnh
vợ với đôi bàn chân lạnh ngắt. Người vợ không chịu được cho nên
một đêm nọ bà ta đá chồng té xuống khỏi giường. Kết quả là người
chồng bị gãy một cánh tay, ông ta đưa vợ ra tòa và xin ly dị. Dĩ
nhiên tòa chấp nhận cho ly dị nhưng qui lỗi cho người đàn ông
bởi vì theo luật pháp Hoa Kỳ, người đàn bà có quyền quyết định
ai được phép ngủ với mình trên một giường.
Những người đàn ông theo dõi câu
chuyện hẳn phải nghĩ rằng: người vợ trên đây là người đàn bà quá
khó tính. Nhưng có lẽ ông chồng trong câu chuyện cũng phải tự
vấn xem mình đã cư xử với vợ như một người chồng tốt chưa. Khi
người vợ trẻ trở nên khó tính và bất thường, thiết tưởng thay vì
trách móc, người chồng nên tự xét mình; cũng có thể sự thay đổi
tính khí của người vợ là do những thiếu sót của người đàn ông
tạo nên. Hãy tự xét mình, đó là điều mà một lần nữa chúng tôi
xin phép đề nghị với những người chồng trẻ.
1.
Những mối tội đầu, những thiếu sót mà người đàn ông cần
phải xét đến trước tiên. Đó là tính ích kỷ, thay đổi bất thường,
tự phụ và thiếu óc khôi hài. Những thiếu sót ấy người vợ khó mà
tha thứ được.
Không gì làm thất vọng cho bằng
phải sống bên người đàn ông chỉ biết nghĩ đến mình. Không gì làm
mất hứng khởi cho bằng phải sống bên cạnh người đàn ông tính khí
bất thường. Không gì tủi nhục cho bằng phải sống bên cạnh người
đàn ông huênh hoang tự phụ. Và dĩ nhiên, không gì nhàm chán cho
bằng sống bên cạnh người đàn ông không biết cười và cũng không
biết làm cho người khác cười. Đó là những mối tội đầu trong đời
sống vợ chồng.
Có những thiếu sót khác, tuy không
ảnh hưởng trầm trọng tới mối tương giao vợ chồng nhưng sẽ làm
cho người đàn ông thành một người bạn đường tầm thường. Trước
hết là những lời nói tục tằn và những cử chỉ thô bạo. Chắc chắn
không có người vợ nào ưa thích và đề cao mẫu người đàn ông như
thế. Thứ đến, sự chểnh mảng trong cách ăn mặc. Cho rằng, phục
sức lịch sự là chuyện riêng của người đàn bà là một sai lầm lớn.
Lịch sự trong cách ăn mặc là một đòi hỏi của tình yêu. Ăn mặc
lịch sự là thể hiện sự tôn trọng đối với mọi người, nhất là đối
với người mình yêu.
2.
Một khuyết điểm khác mà người ta cũng thường thấy nơi
nhiều người chồng, đó là thiếu tinh thần kỷ luật và trật tự
trong gia đình. Họ vất bừa bãi các đồ vật trong nhà, họ không
đúng giờ khi có hẹn. Ngược lại với sự bừa bãi, là tính quá tỉ
mỉ, khiến cho những người chung quanh không thấy thoải mái khi
đến gần.
Bên cạnh những khuyết điểm ấy,
người chồng còn có thể làm cho bầu khí gia đình trở nên nặng nề
hơn nếu ông là một người khép kín, ít nói, nhất là đối với vợ.
Sự dè dặt cẩn trọng quá đáng của người chồng dễ làm cho người vợ
thiếu tự tin. Tính thiếu cởi mở của người chồng sẽ gây ra sự
nghi ngờ nơi người vợ và từ đó biến bầu khí gia đình trở nên
nặng nề.
Có những điều mà người chồng nên
tránh. Tránh nói ngược lại với vợ trước mặt con cái hay người
khác, tránh trút xuống trên vợ những lo âu và gánh nặng của công
việc riêng của mình, tránh nhai lại những lầm lẫn trong quá khứ
của vợ, và nhất là tránh nói đến gia đình thấp kém của vợ, tránh
nhắc đến sự quan tâm mà mình dành cho một người đàn bà khác.
3.
Người chồng nên nhớ, “nhân vô thập toàn”. Người vợ không
phải là một người đàn bà hoàn hảo. Có những khuyết điểm gắn liền
với cá tính, nhưng cũng có những khuyết điểm do đời sống chung
tạo nên. Người chồng cần phải chấp nhận những khuyết điểm của vợ
và thích nghi, hơn là chống chọi. Thích nghi có nghĩa là đáp lại
bằng cố gắng cải thiện của chính mình. Một người chồng thực tế,
thay vì mất giờ để than phiền và trách móc những thiếu sót của
vợ, hãy luôn chú ý đến những đức tính của vợ cũng như loại bỏ
những khuyết điểm của chính mình.
Đời sống vợ chồng là một lò luyện
nhân cách chung. Khuyết điểm của người này gây hại cho người
khác và tính tốt của người này xây dựng cho người kia. Mỗi người
phối ngẫu cần phải xác tín rằng, khuyết điểm của một người cũng
là khuyết điểm chung mà họ phải chia sẻ với nhau; và đức tính
tốt của một người cũng là kho tàng chung của hai người. Vì nhau
mà phát huy những đức tính tốt, và vì nhau mà mỗi người chiến
đấu chống lại những khuyết điểm riêng của mình. Người chồng phải
luôn có cái nhìn như thế đối với những đức tính và những khuyết
điểm của vợ.
4.
Một văn sĩ Pháp đã viết về người đàn bà như sau: “Người
ta bảo rằng, đàn bà phức tạp. Không phải thế. Họ rất đơn giản và
trong suốt. Đôi cánh tay của người đàn ông giương ra là có thể
ôm trọn lấy họ, một nụ hôn của người đàn ông có thể đi sâu vào
tâm hồn họ. Chính những người đàn ông là những người làm cho mọi
việc nên phức tạp”.
Điều mà người đàn ông bảo là phức
tạp nơi người đàn bà, chẳng qua chỉ là sự bất lực của họ để hiểu
được sự đơn giản nơi người đàn bà. Để hiểu được người đàn bà, có
lẽ người đàn ông phải đặt mình vào địa vị của họ. Đó chính là
đòi hỏi của đời sống vợ chồng. Người đàn ông không chỉ nên một
với vợ trong thân xác mà còn phải cố gắng nên một với vợ trong
tâm hồn. Nên một với vợ trong tâm hồn chính là thông cảm và chấp
nhận những đức tính tốt cũng như những khuyết điểm của vợ.
còn tiếp |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Khoáng Chất Trong Cơ Thể |
|
Trên truyền
thanh truyền hình, ta thường thấy các nhà sản xuất quảng cáo là
các món điểm tâm cereal của họ đã được tăng cường đầy đủ các
sinh tố, khoáng chất mà cơ thể cần. Rồi những nước uống thể thao
(sports drinks) cũng khoe là chứa nhiều sinh tố khoáng chất có
thể giúp vận động viên biểu diễn bền bỉ, mạnh mẽ hơn.
Vậy thì các
chất này là gì mà được nhấn mạnh như vậy. Chắc là quý độc giả đã
quá quen thuộc với sinh tố rồi, cho nên trong bài viết sau đây,
xin nói về Khoáng Chất Trong Cơ Thể.
Trước hết,
cần lưu ý sự khác biệt giữa khoáng chất (minerals) và sinh tố
(vitamin), ít nhất là ở hai điểm:
- Vitamin là
những chất hữu cơ có phân tử carbon do cây cỏ và động vật tạo ra
còn khoáng chất là các chất vô cơ không có carbon.
- Cơ thể có
thể tạo ra một vài loại sinh tố nhưng không sản xuất được một
khoáng chất nào.
Khoáng chất
rất cần thiết cho sự hấp thụ các loại vitamin. Dù rất quan trọng
nhưng vitamin sẽ trở thành vô dụng nếu không có sự hỗ trợ của
khoáng chất.
Khoáng chất
không phải chỉ có trong thực phẩm mà còn thấy trong đất như là
sắt, kẽm…Cây cỏ kết hợp khoáng từ đất vào các tế bào của chúng.
Do đó, trái cây, các loại rau, hạt là nguồn cung cấp khoáng chất
rất phong phú..
Vì là chất vô
cơ, cho nên khoáng chất có sức chịu đựng với nhiệt độ cao và vẫn
hiện diện trong thực phẩm hoặc tế bào bị đốt cháy.
Khoáng chất
cần thiết cho sự tồn tại và phát triển bình thường của cơ thể và
cần phải được cung cấp đầy đủ từ thức ăn mà ta tiêu thụ mỗi
ngày.
Tất cả các
loại tế bào và dung dịch chất lỏng trong cơ thể đều chứa một số
nhiều ít khoáng chất khác nhau. Khoáng chất là thành phần cấu
tạo của xương, răng, tế bào mềm, cơ bắp, máu, tế bào thần kinh.
Nói chung, khoáng có vai trò quan trọng duy trì tốt tình tạng
tinh thần cũng như thể chất của cơ thể.
Phân loại
Về phương
diện dinh dưỡng, khoáng chất được chia ra làm hai nhóm, căn cứ
theo nhu cầu của cơ thể:
- Vĩ khoáng
(macromineral) hay khoáng chất đa lượng, là những chất mà cơ thể
cần đến với lượng khá lớn, mỗi ngày có thể trên 250 mg. Đó là
calci, phospho, sulfur, magnesium và ba chất điện phân natri,
chlor và kali.
- Vi khoáng
(microminerals) hay khoáng chất vi lượng tuy rất cần thiết nhưng
nhu cầu không nhiều, mỗi ngày chỉ cần dưới 20 mg. Như là sắt,
đồng, bạc, kẽm, crôm, magan, selen, cobalt, fluor, silic,
molybden, boron...
Khoáng chất
được ruột non hấp thụ từ thực phẩm, rồi dự trữ và lưu truyền
trong máu, trong các loại tế bào. Phần không dùng đến sẽ được
nước tiểu loại ra ngoài.
Khi số lượng
khoáng chất mang vào cơ thể quá cao và được giữ lại quá lâu thì
chúng có thể gây ra một số tác hại.
Vai trò của khoáng chất
Nói chung,
vai trò của khoáng chất như sau:
- Cần cho sự
tăng trưởng và sự vững chắc của xương;
- Điều hòa hệ
thống tim mạch, tiêu hóa và các phản ứng hóa học;
- Để làm chất
xúc tác chế biến diếu tố ( enzyme);
- Là thành
phần của chất đạm, chất béo trong các mô, tế bào;
- Có tác dụng
phối hợp với các sinh tố, kích thích tố trong các chức năng của
cơ thể;
- Giữ thăng
bằng các thể dịch lỏng trong cơ thể.
Công dụng của
khoáng chất đã được người đời xưa biết tới và dùng để trị bệnh,
mặc dù họ không giải thích được tại sao.
Trước Công
nguyên, các thầy thuốc Trung Hoa đã khuyên bệnh nhân bướu cổ ăn
rong biển (seaweed) có chứa iod. Các vị lương y Hy Lạp cho bệnh
nhân thiếu máu uống nước nhúng sắt nung.
Kết quả
nghiên cứu của khoa học hiện nay đã tìm ra và chứng minh được
vai trò của khoáng chất. Ngoài công dụng dinh dưỡng, mỗi khoáng
còn có một vai trò khác nữa trong cơ thể.
Gần đây nhiều
thí nghiệm cho thấy có mối liên hệ giữa khoáng chất và các bệnh
kinh niên như bệnh cao huyết áp, bệnh giòn xương, bệnh tim mạch,
thậm chí cả bệnh ung thư. Do đó nhiều người đã vội vã đi mua
khoáng chất dưới dạng thực phẩm phụ (food supplement) để uống.
Họ tin tưởng rằng khoáng chất có thể chữa hết các chứng bệnh đó.
Trong thực
tế, cơ thể không cần khoáng chất dưới dạng thực phẩm phụ và cũng
không cần khoáng chất với liều lượng quá lớn (megadose). Sự tác
động qua lại trong cơ thể của khoáng chất, sinh tố, các chất
dinh dưỡng và nhiều chất khác, rất là phức tạp. Cho nên một
lượng lớn của bất cứ một thành phần nào cũng đều gây ra sự mất
cân bằng và cản trở hấp thụ bình thường các chất dinh dưỡng.
Hậu quả thiếu khoáng chất
Khi thiếu
khoáng chất, một số bệnh có thể xẩy ra, như là:
- Gia tăng
khả năng mắc các bệnh cảm cúm, nhiễm trùng
- Cao huyết
áp
- Trầm cảm,
lo âu
- Không tăng
trưởng hoặc xương yếu
- Đau nhức
bắp thịt, khớp xương
- Rối loạn
tiêu hóa như ợ chua, táo bón, buồn nôn.
Nhu cầu hàng ngày
Tại Hoa Kỳ,
viện Hàn Lâm Khoa Học Quốc Gia khuyến cáo chỉ nên giữ mức tiêu
thụ bảy khoáng chất hằng ngày như sau đối với những người tuổi
cao :
Calci
(Ca) 800 mg
Phospho
(P) 800 mg
Magnesium
(Mg) 350 mg
Sắt
(Fe) 10 mg
Kẽm
(zinc) 15 mg
Iod
(I) 150 mcg
Selen
(Se) 70 mcg.
Với các
khoáng chất khác, viện này chỉ đưa ra những ước lượng về mức an
toàn cho cơ thể với số lượng được hấp thụ.
Cách tốt nhất
để có một lượng vừa phải các khoáng cần thiết là cân đối bữa ăn
với nhiều loại thực phẩm có đầy đủ chất dinh dưỡng.
Vài khoáng chất căn bản
Trong cơ thể
có trên 60 loại khoáng chất nhưng chỉ có 20 loại được xem là cần
thiết. Khoáng chất chỉ chiếm 4 % trọng lượng cơ thể.
Sau đây là
một số khoáng chất quan trọng:
1. Calci
Calci đặc
biệt có nhiều trong sữa và các phó sản như pho mát, sữa chua.
Cho tới tuổi 20, xương có thể hấp thụ và dự trữ cần thiết cho sự
tăng trưởng cơ thể và duy trì các chức năng khác. Sau đó thì cơ
thể dùng nhiều calci hơn để xương cứng chắc. Do đó, nếu ta không
tiêu thụ đầy đủ calci, xương sẽ bị rỗng loãng, dễ gẫy cũng như
rụng răng.
2. Phospho
Phopho cần
thiết để duy trì tốt sự tiêu hóa, tuần hoàn, nuôi dưỡng tế bào
thần kinh, mắt, cơ bắp, não bộ.
Phospho có
nhiều trong các thực phẩm như sữa, thịt cá, cám, ngô bắp…
Thiếu phopho
sẽ gây ra một số rối loạn như xương ròn dễ gẫy, răng lung lay,
đau nhức cơ bắp…
3. Sắt
Sắt cần thiết
để giúp máu chuyên chở và phân phối dưỡng khí tới khắp các bộ
phận của cơ thể.
Thiếu sắt đưa
tới kém tăng trưởng, tóc và móng tay móng chân ròn, thiếu hồng
cầu, thiếu máu.
Sắt có nhiều
trong thịt, cá, trứng …
4. Magnesium
Magnesium là
một trong những khoáng chất mà cơ thể cần. May mắn là khoáng này
hiện diện trong nhiều loại thực phẩm như trái cây, sữa, pho mát.
Thiếu Mg có
thể làm cho cơ bắp đau nhức, rối loạn tim và huyết áp.
5. Iodine
Iodine có
trong muối được tăng cường i-ốt ( iodized salt), hải sản, rau
spinach, rong biển.
Mặc dù cơ thể
chỉ cần số lượng rất ít, nhưng khi thiếu iod sẽ đưa tới rối loạn
tăng trưởng cả thể chất lẫn tinh thần cũng như tuyến giáp
(thyroid).
6. Kẽm
Kẽm có vai
trò quan trọng trong việc tạo ra tính miễn dịch mạnh cho cơ thể
để chống lại với cảm lạnh, cúm. Thiếu kẽm cũng gây ra bệnh ngoài
da, vết thương chậm lành.
Nguồn cung
cấp chính của kẽm là hải sản như sò hến, thịt, gan, trứng, sữa,
mầm lúa mạch.
7. Selenium
Selenium là
một chất chống oxi- hóa giúp cơ thể ngăn chặn được ung thư, trì
hoãn sự hóa già và các bệnh thoái hóa. Selen rất cần thiết cho
hệ thống miễn nhiễm và sự hoạt động của cơ tim, giúp cân bằng
kích thích tố và tạo ra chất prostaglandin, làm da và tóc khỏe
mạnh.
Selenium có
nhiều trong cá, sò hến, thịt, ngũ cốc, trứng, tỏi và gan, cật.
Rau và trái cây có rất ít selenium.
Kết Luận
Khoáng chất
là những phần tử cần thiết cho các chức năng của cơ thể, từ hệ
thần kinh cơ bắp tới điều hòa tiêu hóa hấp thụ chất dinh dưỡng,
duy trì cân bằng chất lỏng trong và ngoài tế bào. Mặc dù cơ thể
chỉ cần một số lượng khiêm tốn, nhưng thiếu chúng là cơ thể trở
nên suy yếu, kém hoạt động.
Vậy thì ta
nên tiêu thụ đầy đủ các chất này, có sẵn trong thực phẩm mà tạo
hóa đã dành cho con người.
Bác sĩ Nguyễn
Ý Đức M.D. - Texas- Hoa Kỳ
|
|
VỀ MỤC LỤC |
|
BẪY TÌNH - Chuyện phiếm của Gã Siêu |
|
Trong những năm gần đây, bàn dân thiên hạ
thường dùng hai chữ “sập bẫy” để nói lên sự việc bị trúng kế của
kẻ gian hay kẻ địch, khiến cho mình phải ngậm đắng nuốt cay, cúi
đầu chấp nhận những thiệt hại về phương diện vật chất, cũng như
những sứt mẻ về phương diện tinh thần. Và đôi khi đi đoong cả
một cuộc đời.
Theo nghĩa hẹp thì cái bẫy chính là cái
cạm, một vật được chế tạo có thể sập xuống hay bật lên để bắt
thú vật và những kẻ gian. Theo nghĩa rộng thì đó là những phương
tiện cũng như những cách thức để bắt thú vật hay lấy đi tiền bạc
của người khác. Còn theo nghĩa bóng thì đó là tất cả những mưu
mô tính toán, những ý đồ đen tối được giăng ra để hãm hại người
ngay lành.
Trong phim ảnh, gã đã từng được nhìn thấy
những chiếc bẫy sập thật lớn được làm bằng sắt, hay những chiếc
bẫy bật được làm bằng dây thừng, để bắt hươu nai và cả hổ cọp
nữa.
Người ta cũng có thể đào những chiếc hố vừa
sâu lại vừa rộng, bên trên được ngụy trang bằng lá rừng và cây
que. Con vật đi tới đó, nếu không tinh ý, sẽ bị rơi xuống hố và
người ta chỉ việc đến bắt.
Gã nhớ lại vào khoảng năm 1958, vùng Cái
Sắn còn là những cánh đồng hoang bạt ngàn với lau sậy và cỏ lác
mọc ngập đầu. Nhà nước bắt đầu cho đào những con kênh để thoát
phèn và đưa đồng bào tới đinh cư. Mỗi gia đình được cấp phát một
nếp nhà lá và một chiếc xuồng. Hai ba gia đình lại được một con
trâu. Và tiền trợ cấp mỗi đầu người cho một ngày là…bốn đồng.
Cá, chim, chuột và rắn lúc bấy giờ thật ê hề.
Bố gã thường chọn những chỗ nước chảy để
làm “nhạy”, bằng cách đắp chặn lại và ở giữa chôn một chiếc lu
lớn. Cá lóc nhảy lên nhạy, trườn tới trườn lui và rơi tỏm vào
trong chiếc lu. Mỗi đêm phải đi thăm nhạy hai ba lần và mỗi lần
được tới một hai bao tải toàn cá lóc lớn. Phải chăng cái nhạy
cũng là một thứ bẫy để bắt cá lóc.
Ngoài việc làm nhạy, chiều chiều bố thường
dắt gã ra đồng để bẫy chim. Bẫy này thường được làm bằng tre,
mồi là những con cá nhỏ được mắc vào lưỡi câu và thả xuống dòng
nước. Cò và cuốc bay tới xơi cá, bẫy sẽ bật lên. Và sáng hôm sau
chỉ việc bắt và đem về nhà là sẽ có được một bữa nhậu…hoành
tráng.
Bây giờ việc bẫy chim có phần cải tiến và
văn minh hơn. Khi mùa gặt hoàn tất, chim chóc thường bay tới để
ăn những hạt thóc rơi rụng trên ruộng đồng. Và thế là người ta
bước vào mùa bẫy chim.
Người ta giăng lưới thật cao ngoài đồng
ruộng, sau đó đuổi dồn cho chim bay tới, rồi kéo chụp lưới
xuống.
Riêng đối với chim cu, người ta thường dùng
chim mồi để dụ khị những con chim khác. Còn nếu không có chim
mồi, người ta thu tiếng chim cu gáy vào băng cát xét. Sau khi
giăng lưới thì mở máy để phát ra những tiếng gọi…tình. Nghe được
tín hiệu gọi tình ấy, các chim cu khác liền xà xuống để tìm
bạn…giao lưu.
Nhà gã ở nông thôn nên thường có chuột,
nhất là lũ chuột nhắt chuyên môn cắn phá quần áo và đồ dùng. Cạm
chuột là một chiếc lồng làm bằng lưới mắt cáo, trong gài mồi.
Chuột vào ăn mồi, bẫy sẽ sập và nhốt chuột lại trong bẫy.
Riêng gã thì thường dùng bẫy cặp, tức là
bẫy có lò xo, để kẹp chặt con chuột. Chỉ cần quan sát đường đi
nước bước của con chuột. Nó thường chạy sát vách tường, nên chỉ
cần đặt bẫy đúng chỗ, chuột đi đụng phải bẫy và bẫy liền sập,
chẳng cần phải dùng đến mồi màng chi cả.
Tới đây, gã xin ghi lại một cách bẫy vịt,
đã được Toan Ánh ghi lại trong cuốn “Ăn trộm và nghệ thuật bắt
trộm” như sau:
“Hai tiếng vớt vịt có lẽ làm bạn đọc ngạc
nhiên, vì động từ vớt dùng để chỉ việc lấy một vật gì đang trôi
hoặc chìm ở dưới nước lên, còn vịt là một giống vật bơi lội rất
giỏi, có bao giờ đến nỗi bị chìm hoặc bị trôi ở dưới nước được
đâu mà cần phải vớt.
Nhưng thưa các bạn, đây chỉ là tiếng lóng
trong làng chích cược, để chỉ việc ăn trộm vịt ở ngay trước mặt
người chăn vịt. Tuy là tiếng lóng, nhưng vớt vịt vẫn đúng theo
nghĩa đen của động từ vớt và của danh từ vịt, như các bạn sẽ
thấy ở dưới đây.
Một đàn vịt đang được chăn ở giữa cánh đồng
bởi một người chăn vịt, ấy thế mà vịt vẫn cứ bị mất. Người chăn
vịt không biết mất ở đâu, mất lúc nào và do ai bắt? Lạ nhất là
vịt không mất một hai con, mà thường mất năm sáu con mỗi ngày.
Xanh không thủng thì cá đi đằng nào? Vịt
không có người bắt thì nó biến đi đâu? Tất nhiên vịt phải có
người bắt, nhưng người ấy là ai, đó là điều khó biết, và người
lấy vịt đã lấy bằng cách nào?
Cánh đồng làng nào mà chẳng vậy, thường có
một vài chiếc đầm hay chiếc ao. Và đã có đầm có ao, tất nhiên
phải có người ngồi câu cá.
Những đàn vịt mỗi khi được chăn qua các ao
đầm, chúng thường xuống nước để bơi lội vẫy vùng cho thỏa chí.
Chính nhưng người chăn vịt cũng muốn xua
vịt xuống ao để chúng tắm rửa, ăn bèo tấm, mò tôm bắt cá. Vịt có
được vẫy vùng ở nước mới mau lớn và người chăn vịt, khi cho vịt
ăn no ở cánh đồng, thường tìm nơi hồ ao cho chúng xuống khuây
khỏa. Chính ở những nơi ao hồ hoặc đầm, mà vịt đã bị chìm theo
nghĩa đen, để rồi được vớt lên sau. Do đó mới có động từ vớt
vịt.
…Nguyên ao bèo thường có nhiều cây hoa
súng. Lá hoa súng xòe to như lá sen. Anh trộm vịt với vóc dáng
người câu cá, đã đặt trên mỗi chiếc lá hoa súng một hòn gạch nhỏ
đủ sức làm chìm một con vịt. Anh buộc vào hòn gạch một sợi dây.
Ở đầu dây có buộc một con tôm hoặc một con cá nhỏ. Vịt đớp con
tôm hoặc cá, đớp rồi, nhưng không sao nuốt trôi vì vướng sợi
dây. Vịt phải vẫy vùng làm động đến hòn gạch. Hòn gạch lăn xuống
nước kéo theo cả con vịt. Con vịt bị chìm nghỉm không kêu lên
được một tiếng, đành chịu lặn ở dưới nước cho tới khi được vớt
lên.
Hai tiếng vớt vịt tuy là tiếng lóng, mà
thật đúng theo nghĩa đến vậy.
Sau khi đã kể lể cà kê dê ngỗng về các thứ
bẫy thông thường, gã xin đề cập tới một thứ bẫy rất đặc biệt, mà
gã tạm gọi là…bẫy tình.
Nếu sánh ví lãnh địa của tình yêu với một
khu rừng, thì phe đờn bà, cách riêng những cô gái mới nhớn là
những con nai vàng ngơ ngác, còn mấy gã đờn ông con giai là
những tên thợ săn lão luyện. Tuy nhiên, để túm được con mồi,
những gã thợ săn này đều phải kiên nhẫn giăng bẫy. Vậy đâu là
những chiếc bẫy mà họ vốn thường hay giăng ra?
Dựa theo một bài báo đã được đang tải từ
lâu trên tờ “Hạnh phúc Gia đình”, gã xin điểm qua môt vài loại
bẫy.
Thứ nhất là “bẫy khổ nhục”
Trong phạm vi chính trị và quân sự, đôi khi
người ta phải sử dụng tới “khổ nhục kế”, tức là cái kế làm khổ
thân xác để hoàn thành một mục đích nào đó.
Trong thời “Tam Quốc”, Châu Du lập trận
Xích Bích hầu đốt binh của Tào Tháo. Để đạt được việc này, cần
phải có một người tâm phúc qua đầu quân với Tào Tháo, làm nội
ứng. Huỳnh Cái tình nguyện xin đi và thi hành phận sự. Hai người
bàn bạc với nhau và nhất trì dùng khổ nhục kế.
Vào một buổi chiều, Châu Du họp với bá quan
văn võ và trình bày ý định cử binh phạt Tháo. Huỳnh Cái vội chê
trách và cho Châu Du là thiển cận. Châu Du làm ra vẻ giận dữ,
sai lính hầu đánh đập Huỳnh Cái một cách tàn nhẫn và đuổi đi.
Huỳnh Cái buồn chán chạy sang đầu quân cho
Tào Tháo và được tin dùng. Huỳnh Cái làm nội ứng và thực hiện ý
định. Binh lính của Tào Tháo bị Châu Du đốt tan xác ở trận Xích
Bích.
Trong lãnh vực tình yêu, khổ nhục bẫy
thường được những anh đờn ông đã có vợ sử dụng. Anh ta làm quen
với cô gái và không giấu giếm việc mình đã có gia đình. Tuy
nhiên, trong khi trò chuyện, anh ta thường “vô tình” hé ra rằng
mình không được hạnh phúc. Xen vào những câu chuyện thông
thường, anh ta bộc lộ những chi tiết chứng tỏ người vợ đã làm
cho anh ta thất vọng…
Đến khi đã tạo được một sự tin tưởng và cảm
thông, anh ta sẽ vẽ ra một bức tranh đen tối về cuộc sống gia
đình, rằng mình đã sai lầm, rằng mình rất cô đơn, rằng mình rất
đau khổ, để rồi cuối cùng anh ta thố lộ:
- Anh không thể sống thiếu em và từ khi
biết em, anh mới hiểu được thế nào là tình yêu thực sự. Và chỉ
mình em mới đem lại cho cuộc đời anh một ý nghĩa…
Những lời lẽ như vậy thường khơi dậy tình
thương và lòng nhân ái, vốn thuộc vào bổn tính của người phụ nữ,
khiến họ không nỡ bỏ rơi người đờn ông đang tuyệt vọng, để rồi
cuối cùng chính họ bị sập bẫy lúc nào cũng không hay biết.
Thứ hai là “bẫy cải lương”
Đây là cái bẫy mà những anh chàng bẻm mép,
hay ba hoa chích chòe thường dùng đến. Vừa mới quen nhau một
thời gian ngắn, anh ta đã vội tuôn ra rông rổng những lời lẽ
nặng mùi cải lương chi bảo:
- Anh đã yêu em ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Có lẽ đó là định mệnh của hai đứa mình…
Anh ta không tiếc lời ca tụng cô gái:
- Nơi em có những cái mà người khác không
có…
Những lời lẽ tâng bốc này thường làm xiêu
lòng những cô gái tuổi mười tám đôi mươi. Nhưng nếu có tí kinh
nghiệm, người ta sẽ nhận ra đó chỉ là những lời lẽ sáo rỗng, sao
chép lại những công thức tỏ tình đã…xưa rồi Diễm ơi!
Nếu cô gái vẫn ngoảnh mặt làm ngơ, anh ta
không ngần ngại thề thốt:
- Anh sẽ chờ đợi em suốt đêm cho đến khi
được một cai hẹn…
- Anh sẽ ở vậy suốt đời, hay sẽ treo cổ
lên…cây cà chua, mà tự tử cho chết.
Tới mức này, người con gái khó mà làm chủ
được mình nữa và cuối cùng là…sập bẫy.
Thứ ba là “bẫy phớt tỉnh Ăng lê”
Đây là cái bẫy của những tay săn tình có
bản lãnh cao cường thuộc vào hàng sư phụ. Kinh nghiệm trận mạc
cho anh ta thấy nhiều khi những lời lẽ hoa hòe hoa sói trở thành
bôi bác, thái độ lăn xả và săn đón quá mức sẽ làm cho con mồi e
ngại, hoảng sợ và lẩn trốn.
Vì thế, anh ta bèn tỏ ra phớt tỉnh Ăng lê,
cóc cần chị nào hết, như một câu danh ngôn đã bảo:
- Tình yêu như chiếc bóng, càng đuổi theo
nó, thì nó lại càng trốn chạy ta.
Có thể lúc đầu anh ta cũng đã quan tâm tới
cô gái bằng những lời nói và những cử chỉ rất dễ thương. Đến khi
cô gái bắt đầu chịu đèn và nhơ nhớ, thì anh ta lại tỏ ra như
quên lãng, khiến cho cô gái ngày đêm như héo hắt và quay quyắt.
Tới đây thì chỉ cần anh ta bố thí cho một cú liếc mắt, hay một
nụ cười mỉm chi, lập tức cô gái sẽ ào ào chạy tới và bị sập bẫy
dễ dàng trở bàn tay.
Sau cùng là “bẫy tiền bạc”
Đây là cái bẫy của những anh chàng hàng đại
gia, hay ít nữa trong túi cũng rủng rỉnh đôi chút tiền bạc.
Đầu tiên anh ta sẽ tặng cô gái những kỷ vật
nho nhỏ, rồi cùng với thời gian tình thân càng lớn, thì quà tặng
càng có giá trị.
Cô gái cứ “vô tư” nhận những món quà đắt
tiền và cho đó là việc rất tự nhiên. Cô gái làm quen với việc
tiêu xài hoang phí theo kiểu con nhà lính tính nhà quan, luôn đi
với anh ta vào những nhà hàng sang trọng. Dần dần cô gái sẽ bị
áp lực đồng tiền chi phối, rồi sẽ tới một lúc bị cưa đổ và sập
bẫy trước những đòi hỏi của anh ta.
Dĩ nhiên, còn nhiều thứ bẫy khác nữa, nhưng
điều quan trọng là làm thết nào để nhận diện đâu là tình yêu
chân thành và đâu chỉ là những cái bẫy? Làm thế nào để biết được
người ta yêu thương mình thực sự, hay chỉ bẫy mình để lợi dụng
mà thôi?
Sở dĩ như vậy vì tình yêu chân thành nhiều
lúc cũng xuất phát từ những đau khổ, từ những lời nói ngọt như
đường cát và mát như đường phèn và từ những quà tặng trao gửi.
Theo tác giả bài báo thì phần lớn những cái
bẫy trong tình yêu đều xuất phát từ những sự quen biết tình cờ
và ngắn ngủi, không thích xuất hiện công khai một cách đường
đường chính chính, mà chỉ thích gặp gỡ riêng tư ở những nơi kín
đáo, thậm chí còn ở những nơi thiếu ánh sáng.
Và điều quan trọng hơn, đó là những cái bẫy
này thường không tôn trọng những giá trị tinh thần và đạo đức,
mà chỉ hướng tới nhu cầu hưởng thụ. Vì thế, sau một thời gian
chinh phục và giăng bẫy một cách rất ngắn ngủi, những tên thợ
săn bèn lộ rõ nguyên hình bằng những đòi hỏi về tình dục.
Cho nên, hỡi những cô gái mới nhớn, những
con nai vàng ngơ ngác, hãy đề cao cảnh giác.
Gã Siêu
gasieu@gmail.com
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
- Mọi liên lạc: Ghi danh, thay đổi địa chỉ, đóng góp ý kiến,
bài vở..., xin gởi về địa chỉ
giaosivietnam@gmail.com
- Những nội dung sẽ được đề cao và chú ý bao gồm:
Trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong việc mục
vụ của Giáo sĩ; Những tài liệu của Giáo hội hoặc của các
Tác giả nhằm mục đích Thăng tiến đời sống Giáo sĩ; Cổ võ ơn
gọi Linh mục; Người Giáo dân tham gia công việc “Trợ lực
Giáo sĩ” bằng đời sống cầu nguyện và cộng tác trong mọi lãnh
vực; Mỗi Giáo dân phải là những “Linh mục” không có chức
Thánh; Đối thoại trong tinh thần Bác ái giữa Giáo dân và
Giáo sĩ… (Truyền giáo hay xây pháo đài?)
- Quy vị cũng có thể tham khảo những số báo đã phát hành tại
www.conggiaovietnam.net
Rất mong được sự cộng tác, hưởng ứng của tất cả Quí vị
Xin chân thành cám ơn tất cả anh chị em đã
sẵn lòng cộng tác với chúng tôi bằng nhiều cách thế khác
nhau.
TM. Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam
Lm. Luca
Phạm Quốc Sử
USA
|
|
|
*************
|
|