|
Học Thuyết Xã Hội
của Giáo Hội (tiếp theo) |
|
TÔNG HUẤN "GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU" (ECCLESIA IN ASIA)
Nguồn: http://www.simonhoadalat.com
CHƯƠNG VI
PHỤC VỤ
CHO SỰ THĂNG TIẾN CON NGƯỜI
Học Thuyết Xã Hội
của Giáo Hội
(tiếp
theo)
Giáo Dục
37. Trên
khắp Á Châu, sự dấn thân của Giáo Hội trong việc giáo dục thật rộng rãi và thấy
được rõ ràng, và vì thế là một yếu tố chủ chốt nói lên sự hiện diện của Giáo
Hội giữa các dân tộc của lục địa. Trong nhiều quốc gia, các trường học công
giáo giữ vai trò quan trọng trong việc rao giảng Tin Mừng, hội nhập đức tin vào
văn hóa, dạy dỗ sự cởi mở và kính trọng, và cổ võ sự hiểu biết liên tôn. Các
trường của Giáo Hội thường cung cấp các cơ hội giáo dục duy nhất cho các thiếu
nữ, các dân tộc bộ lạc thiểu số, những trẻ em nhà quê nghèo và ít được ưu đãi.
Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng xác tín đến nhu cầu mở rộng và phát triển việc
tông đồ giáo dục tại Á Châu, với một sự lưu tâm đặc biệt đến những người xấu
số, hầu giúp họ có được chỗ đứng chính đáng, như một người công dân trọn vẹn
trong xã hội (187). Như các nghị Phụ Thượng Hội Đồng ghi nhận, điều đó có nghĩa
là hệ thống giáo dục Công giáo phải hướng cách rõ nét hơn tới việc thăng tiến
con người, tạo ra một môi trường cho các học sinh không chỉ nhận lấy những yếu
tố giáo dục chính thức, nhưng tổng quát hơn, nhận lãnh một sự đào tạo nhân bản
toàn vẹn, đặt nền tảng trên giáo huấn của Đức Kitô (188). Các trường Công giáo
phải tiếp tục là những nơi mà đức tin có thể được trình bày và nhận lãnh cách
tự do. Cũng vậy, các đại học Công giáo, ngoài việc theo đuổi sở trường học
thuật mà chúng được nổi tiếng, cần phải giữ lấy một căn tính Kitô hữu rõ rệt,
ngõ hầu trở nên men Kitô giáo trong các xã hội Á Châu (189).
Kiến Tạo Hoà Bình
38. Vào
cuối thế kỷ XX, thế giới vẫn còn bị đe doạ bởi các vũ lực làm phát sinh những
xung đột và chiến tranh, và Á Châu chắc chắn không thoát khỏi những điều đó.
Giữa những vũ lực đó có sự bất bao dung và mọi thứ loại trừ -xã hội, văn hoá,
chính trị, và cả tôn giáo nữa. Ngày qua ngày bạo lực mới ập xuống trên từng cá
nhân và toàn thể dân chúng, và nền văn hoá sự chết được thiết lập bằng việc sử dụng
bất chính bạo lực để giải quyết các căng thẳng. Trong hoàn cảnh xung đột khủng
khiếp ấy tại nhiều nơi trên thế giới, Giáo Hội được mời gọi dấn thân trong
những nỗ lực quốc tế và liên tôn để mang lại hoà bình, công lý và hoà giải.
Giáo Hội tiếp tục nhấn mạnh việc thương thuyết và không dùng quân sự để giải
quyết các cuộc xung đột, và trông đợi ngày mà các nước sẽ từ bỏ chiến tranh như
là một phương thế để đạt các yêu sách hay là phương tiện để giải quyết các khác
biệt. Giáo Hội xác tín rằng chiến tranh gây nên nhiều vấn đề hơn là giải quyết
chúng, rằng đối thoại là con đường đúng đắn và cao thượng duy nhất để đạt đến
thoả thuận và hoà giải, và cái tài kiên nhẫn và khôn ngoan của việc kiến tạo
hoà bình được Thiên Chúa chúc phúc cách riêng.
Điều đặc biệt lo lắng tại Á Châu là sự liên tục
chạy đua vũ trang có sức tàn phá hàng loạt, đó là chi phí vô luân và phí phạm
ngân sách quốc gia, ngân sách mà trong nhiều trường hợp không đủ thoả mãn các
nhu cầu cơ bản của dân chúng. Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng nói tới số
lượng mìn bẫy to lớn tại Á Châu, gây tàn tật và giết chết hàng trăm ngàn kẻ vô
tội, còn làm cằn cỗi mảnh đất phì nhiêu có thể dùng để sản xuất ra lương thực
(190). Đó là trách nhiệm của tất cả mọi người, nhất là những nhà lãnh đạo quốc
gia, là hành động tích cực hơn nữa để giải giáp vũ khí. Thượng Hội Đồng kêu gọi
ngưng sản xuất, bán và sử dụng vũ khí hạt nhân, hoá học và sinh học, và thúc
giục những kẻ đặt mìn bẫy phải tiếp tay trong công tác phục hồi và sửa chữa
(191). Trên hết mọi sự,ï các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cầu xin Thiên Chúa, Đấng
thấu suốt lương tâm mỗi người, đặt những tâm tình hoà bình trong con tim những
kẻ bị cám dỗ đi theo những con đường bạo lực, ngõ hầu điều mơ thấy trong Kinh
Thánh trở nên sự thật: "họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo
mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau và thiên
hạ thôi học nghề chinh chiến" (Is 2,4).
Thượng Hội Đồng đã nghe nhiều chứng từ liên can tới
những đau khổ của dân Iraq, và về sự kiện là nhiều người dân Iraq, đặc biệt các
trẻ em, đã chết vì thiếu thuốc men và những mặt hàng cơ bản do việc cấm vận
tiếp diễn. Cùng với các Nghị Phụ của Thượng Hội Đồng, tôi muốn một lần nữa diễn
tả sự liên đới của tôi với dân tộc Iraq và tôi đặc biệt gần gũi trong kinh
nguyện và hy vọng, với các con cái nam nữ của Giáo Hội tại xứ này. Thượng Hội
Đồng cầu xin Chúa soi sáng tâm trí của tất cả những người mang lấy trách nhiệm
tìm kiếm một giải pháp chính đáng cho cuộc khủng hoảng, ngõ hầu dân tộc đã bị
thử thách cay đắng có thể thoát khỏi đau khổ và ưu phiền hơn nữa (192).
Toàn Cầu Hoá
39. Khi đề
cập đến vấn đề thăng tiến con người tại Á Châu, các Nghị phụ Thượng Hội Đồng
công nhận tầm quan trọng của quá trình toàn cầu hoá về mặt kinh tế. Tuy nhìn
nhận nhiều kết quả tích cực của nó, các ngài cho thấy rằng việc toàn cầu hoá
cũng đã gây thiệt hại cho kẻ nghèo (193), có khuynh hướng đẩy những nước nghèo
ra bên lề những liên hệ kinh tế và chính trị quốc tế. Nhiều nước Á Châu không
có khả năng giữ được nền kinh tế của riêng mình trong một nền kinh tế thị
trường thế giới. Và có lẽ điều còn có ý nghĩa hơn, là cũng có khía cạnh toàn
cầu hoá về mặt văn hoá, thực hiện được là nhờ những phương tiện truyền
thông tân thời, mau chóng lôi kéo các xã hội Á Châu vào trong một nền văn hoá
toàn cầu về chủ nghĩa tiêu thụ, nền văn hoá chủ trương tục hoá và duy vật. Kết
quả là sự xói mòn gia đình truyền thống và các giá trị xã hội mà cho tới ngày
nay vẫn nâng đỡ các dân tộc và các xã hội. Tất cả những sự việc đó cho thấy rõ
rằng những khía cạnh đạo đức và luân lý của việc toàn cầu hoá cần được
các nhà lãnh đạo quốc gia và những tổ chức liên can tới việc thăng tiến con
người đề cập đến cách trực tiếp hơn.
Giáo Hội nhấn mạnh đến sự cần thiết của việc
"toàn cầu hoá mà không loại trừ" (194). Cùng với các Nghị Phụ Thượng
Hội Đồng, tôi kêu gọi các Giáo Hội địa phương khắp nơi, và cách riêng các Giáo
Hội ở các nước Phương Tây, hành động để làm cho học thuyết xã hội của Giáo Hội
có tác động thích đáng trong việc soạn thảo các quy tắc đạo đức và pháp lý, để
điều hoà các thị trường tự do trên thế giới và các phương tiện truyền thông xã
hội. Những nhà lãnh đạo và những nhà chuyên nghiệp Công giáo phải thúc giục các
chính phủ, các cơ quan tài chính và thương mại, nhìn nhận và tôn trọng những
quy tắc đó (195).
Nợ Nước Ngoài
40. Hơn
nữa, trong việc tìm kiếm sự công bằng trong một thế giới bị các bất bình đẳng
xã hội và kinh tế làm hư hỏng, Giáo Hội không thể không biết đến gánh nặng nợ
nần mà các nước đang mở mang tại Á Châu mắc phải, với ảnh hưởng tác động trên
hiện tại và tương lai. Trong nhiều trường hợp, những xứ này bị bắt buộc cắt
giảm chi tiêu trong những nhu cầu cần thiết để sống như lương thực, sức khoẻ,
nhà ở, giáo dục, ngõ hầu có thể trả các món nợ cho các cơ quan tài chánh quốc
tế và ngân hàng. Điều này có nghĩa là nhiều người dân bị đặt vào trong những
điều kiện sống gây nhục nhã đối với nhân phẩm con người. Tuy ý thức những phức
tạp về mặt chuyên môn của vấn đề này, Thượng Hội Đồng nhìn nhận rằng sự việc đó
là một trắc nghiệm về khả năng của các dân tộc, các xã hội và các chính quyền
có biết coi trọng con người và sự sống của hàng triệu con người hơn lợi lộc tài
chánh và vật chất không (196).
Đại năm thánh 2000 gần tới, là một thời gian thuận
tiện để các Hội Đồng Giám Mục thế giới, cách riêng ở tại những nước giàu có
hơn, khuyến khích các cơ quan tài chánh thế giới và ngân hàng, khảo sát phương
cách làm nhẹ bớt hoàn cảnh nợ nần quốc tế. Trong những phương cách hiển nhiên
hơn, thấy có sự điều chỉnh lại nợ nần, với việc giảm phần đáng kể hoặc xoá nợ
toàn bộ, xem đó như những dự án kinh doanh và đầu tư để giúp nền kinh tế của
những nước nghèo hơn (197). Đồng thời các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng cũng ngõ lời
với các nước đang mắc nợ. Các ngài nhấn mạnh đến nhu cầu phát triển ý thức
trách nhiệm quốc gia, nhắc họ nhớ tới tầm quan trọng của kế hoạch kinh tế lành
mạnh, sự trong sáng và quản lý tốt, và mời gọi họ mở chiến dịch quyết liệt
chống tham nhũng (198). Các Nghị Phụ kêu gọi các Kitô hữu Á Châu lên án mọi
hình thức tham nhũng và biển thủ công quĩ, do những kẻ nắm quyền lực chính trị
(199). Các công dân của những quốc gia đang mắc nợ thường là nạn nhân của sự
lãng phí và vô hiệu năng tại quốc gia họ, trước khi trở nên nạn nhân của cuộc
khủng hoảng nợ nần quốc tế.
Môi Trường
41. Khi mối
quan tâm đến sự phát triển kinh tế và kỹ thuật không đi kèm theo mối quan tâm
đến sự cân bằng của hệ thống sinh thái, quả đất chúng ta chắc chắn bị hứng chịu
những thiệt hại nghiêm trọng về môi trường, với những hậu quả tai hại cho con
người. Sự thiếu kính trọng hiển nhiên đối với môi trường sẽ tiếp tục bao lâu mà
quả đất và tiềm năng của nó bị coi như những đồ vật để sử dụng và tiêu dùng tức
thời, bị thao túng bởi lòng ham muốn vô độ tìm lợi nhuận (200). Nhiệm vụ của
các Kitô hữu và của tất cả những ai nhìn nhận Chúa là Đấng Sáng Tạo, là bảo vệ
môi trường, bằng cách phục hồi một cảm thức tôn kính đối với toàn thể thọ tạo
của Thiên Chúa. Ý muốn Đấng Tạo Hoá là con người đối đãi với thiên nhiên không
như một nhà khai thác tàn nhẫn, nhưng như một nhà quản trị tài trí và có trách
nhiệm (201). Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nài xin cách đặc biệt những nhà lãnh
đạo quốc gia, những nhà làm luật, những nhà kinh doanh và tất cả những ai dấn
thân trực tiếp trong việc quản trị tài nguyên của trái đất hãy có một tinh thần
trách nhiệm lớn hơn (202). Các ngài nhấn mạnh đến sự cần thiết phải giáo dục
dân chúng, cách riêng giới trẻ, có tinh thần trách nhiệm đối với môi trường,
bằng cách huấn luyện họ cách thức quản trị thọ tạo mà Thiên Chúa đã giao phó
cho nhân loại. Việc bảo vệ môi trường không chỉ là một vấn đề kỹ thuật,
nó cũng là và hơn hết là một vấn đề đạo đức. Mọi người đều có bổn phận
luân lý phải chăm lo môi trường, không những vì lợi ích cho riêng mình, nhưng
cũng vì lợi ích cho các thế hệ mai sau.
Để kết luận, cũng nên nhắc lại rằng, khi kêu gọi
các Kitô hữu hành động và hy sinh chính mình để phục vụ việc phát triển con
người, các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng đã qui chiếu về một vài giá trị nền tảng
của truyền thống Kinh Thánh và Giáo Hội. Dân Israen xưa kia nhấn mạnh đến mối
ràng buộc không thể phân rẽ giữa việc thờ phượng Chúa và chăm sóc người yếu
đuối, điển hình trong Kinh Thánh là "người goá bụa, người ngoại kiều, và
kẻ mồ côi" (x. Xh 22,21-22, Đnl 1018; 27,19), là những người trong các xã
hội thời đó, dễ bị đối xử bất côngï. Nhiều lần trong các sách Ngôn Sứ, chúng ta
nghe tiếng kêu gào đến công lý, đến sự tổ chức đúng đắn xã hội con người, mà
không có những thứ đó thì không thể có sự thờ phượng Chúa đích thực (x. Is
1,10-17; Am 5,21-24). Trong lời mời gọi của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, chúng
ta nghe tiếng vang của các vị ngôn sứ đầy Thần Khí Thiên Chúa, Đấng muốn
"lòng thương xót chứ không cần nghi lễ" (Hs 6,6). Đức Giêsu lấy những
lời đó làm của mình (x. Mt 9,13), và các thánh trong mọi thời và mọi nơi cũng
làm như vậy. Hãy suy nghĩ những lời nói của thánh Gioan Kim Khẩu: "Anh có
muốn tôn vinh thân thể Đức Kitô không? Vậy thì đừng phớt lờ Người khi Người
trần truồng. Đừng tôn vinh Người trong đền thờ bằng hàng nhung lụa, mà lại để
Người ở bên ngoài lạnh cóng và trần truồng. Đấng đã nói: "Này là mình
Ta", cũng là Đấng đã nói, "Anh thấy Ta đói mà không cho Ta ăn".
Ích gì nếu Bàn Tiệc Thánh Thể đầy chén thánh bằng vàng, khi Đức Kitô đang chết
đói? Anh hãy khởi sự thoả mãn cơn đói của Người, rồi với cái gì còn lại, anh
hãy lấy đó mà trang hoàng bàn thờ cũng được" (203). Trong lời mời gọi của
Thượng Hội Đồng về việc phát triển con người và thực thi công bình trong các
tương quan nhân loại, chúng ta nghe một tiếng nói vừa cũ vừa mới. Cũ vì nó xuất
phát từ bề sâu của truyền thống Kitô giáo, mong có sự hoà hợp sâu xa mà Đấng
Tạo Hoá muốn; còn mới, vì nó nói về hoàn cảnh hiện thời của vô số dân tộc tại Á
Châu ngày hôm nay.
còn tiếp
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Tầm quan trọng của “LECTIO DIVINA” trong Tông Huấn «VERBUM
DOMINI» |
|
Một số Độc giả thắc
mắc về Gia Đình Lectio Divina, chúng con xin trả lời vắn tắt:
"Lectio divina" là tiếng La tinh, nghĩa (đen) đơn giản là "đọc
sách thiêng liêng", hay nói đúng hơn là Đọc Sách Kinh Thánh vì
Sách chúng ta đọc không là gì khác ngoài Sách Kinh Thánh. Nhưng
không chỉ đọc suông mà dùng Lời Chúa để đi vào cầu nguyện. Đây
là một truyền thống lâu đời và cốt lõi của Giáo Hội, đặc biệt
trong các đan viện. Trong thực hành thì Lectio divina đã trở nên
một gia tài vô cùng phong phú cho Giáo Hội, thậm chí người ta
cảm thấy không thể dịch đầy đủ ý nghĩa của hạn từ này, nên cần
phải gọi bằng tên gốc đã có tính cách quốc tế "Lectio divina".
Tuy nhiên, có vài cách gọi dễ nhớ và khá chuẩn mực bằng tiếng
Việt như: "Cầu nguyện với Lời Chúa" hoặc
"Cầu nguyện dưới tác động của Lời
Chúa", nghĩa thứ 2 vừa nêu được GĐLD chọn. Như
vậy tóm tắt công việc Lectio divina là
"đọc một đoạn Lời Chúa, lắng nghe Chúa nói, và cầu nguyện
với Chúa"
"Gia Đình Lectio Divina" là một sáng kiến do Đan Viện Xitô Mỹ Ca
(Nha Trang) vừa cố gắng xây dựng nên, với thực tế là "vừa học,
vừa làm, vừa cố vũ cho mọi người cùng nhau thực hành Lectio
divina hằng ngày trong đời sống Kitô hữu", với trọn niềm tin như
lời ĐGH
Biển Đức XVI, ngày 16.09.2005:
“Việc thực hành Lectio Divina, nếu
được làm cách hữu hiệu, sẽ đem lại cho Hội Thánh một mùa xuân
thiêng liêng mới mẻ, tôi đoan chắc như thế”.
Nói cách khác, đây chỉ là một gia đình ảo
(qua email) nhưng lại hết sức thật trong tình yêu thương tuyệt
vời của Thiên Chúa chúng ta.
Trong gia đình này, chúng ta không
cần làm gì cả, ngoại trừ hằng ngày cùng nhau trung thành cầu
nguyện với Lời Chúa. Chúng
ta xin mượn phương tiện truyền thông hiện đại này để giúp nhau
thực hiện. GĐLD sẽ thường xuyên cung cấp tài liệu và sẵn lòng
giúp giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu Quí vị
muốn gia nhập Gia Đình Lectio Divina, xin vui lòng gởi email ghi
danh tại lecdiv@gmail.com.
Mọi thắc mắc liên quan tới thực hành Lectio divina, quí vị có
thể email về địa chỉ lecdiv@gmail.com
hoặc trực tiếp với cha Bảo Tịnh, Ocist: revbao@gmail.com
Xin chân thành cám ơn.
Gia Đình Lectio Divina
TẦM QUAN TRỌNG CỦA “LECTIO DIVINA” TRONG
TÔNG HUẤN « VERBUM DOMINI »
Nguồn:
http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2010/11/13/tam-quan-trong-cua-lectio-divina/
XBVN – Ngày 11-11-2010, Đức
Thánh Cha Bênêđictô XVI đã cho công bố Tông huấn “Verbum
Domini” (“Lời Chúa”), hoa trái của Thượng Hội Đồng Giám Mục
về Lời Chúa vào năm 2008. Tông huấn này diễn tả mối ưu tư của
Đức Thánh Cha đối với tầm quan trọng và tính cấp bách của việc
tái khám phá Lời Chúa như là trung tâm của đời sống của Giáo
Hội, của mọi thành phần dân Chúa (x. các số 77- 85).
Nói với các thừa tác vụ
chức thánh (Giám mục, linh mục, phó tế), Tông huấn khẳng định:
“Lời Thiên Chúa không thể thiếu đối với việc đào tạo tâm hồn của
một Mục tử tốt lành, Thừa tác viên của Lời Chúa”. Các giám mục,
linh mục, phó tế, trong bất cứ cách nào, không thể nghĩ sống ơn
gọi và sứ mạng của mình mà không có sự dấn thân nên thánh cương
quyết và đổi mới, tìm thấy một trong những trụ cột của nó trong
sự tiếp xúc với Thánh Kinh.” (số 78).
Với
các giám mục
Đối với các giám mục, Tông
huấn nhắc nhở rằng “để nuôi dưỡng và tiến bộ trong đời sống
thiêng liêng của mình, Giám mục phải luôn đặt “ở vị trí hàng đầu
việc đọc và suy niệm Lời Chúa…” (số 79). Và “trước khi là một
người rao truyền Lời Chúa, Giám mục, cùng với các linh mục của
mình và cũng như mọi tín hữu…phải là một người lắng nghe Lời
Chúa. Giám mục phải là như “ở trong” Lời Chúa, để để mình được
hướng dẫn và nuôi dưỡng bởi Lời Chúa, như ở trong dạ mẹ” (số
78). Đức Thánh Cha khuyên “các anh em của tôi trong hàng giám
mục đọc cá nhân thường xuyên và nghiên cứu đều đặn Thánh Kính”.
Với
các linh mục
Với các linh mục, Đức Thánh
Cha nhắc lại rằng « linh mục trước hết là Thừa tác viên của Lời
Chúa…Chính vì thế, chính linh mục trước hết phải thủ đắc một sự
thân mật sâu xa với Lời Chúa. Việc biết khía cạnh ngôn ngữ hay
chú giải mà thôi thì không đủ, dù là cần thiết », nhưng còn phải
đón nhận Lời Chúa với một tâm hồn ngoan ngoãn và cầu nguyện, để
Lời Chúa thấm nhập vào trong tư tưởng và tình cảm của mình và
nảy sinh nơi mình một tinh thần mới, « tư tưởng của Chúa Kitô »
(1Cor 2, 16) ».
Với
các phó tế
Đối với linh đạo đặc thù
này, được trình bày chủ yếu như là « linh đạo phục vụ » bén rễ
sâu nơi Chúa Kitô, Đức Thánh Cha cho thấy « một yếu tố đặc điểm
của linh đạo phó tế là Lời Chúa, mà phó tế được kêu gọi trở nên
người loan báo có thẩm quyền, bằng cách tin điều mình công bố,
dạy điều mình tin, sống điều mình dạy ». Bởi thế, Đức Thánh Cha
khuyên các phó tế « nuôi dưỡng cuộc sống của mình bằng việc tin
tưởng đọc Thánh Kinh với việc học hỏi và cầu nguyện » (số 81).
Với
các ứng viên chức thánh
Tông huấn « đã dành một chỗ
quan trọng đặc biệt cho vai trò quyết định của Lời Chúa trong
đời sống thiêng liêng của các ứng viên linh mục : « Các ứng viên
linh mục phải học yêu mến Lời Chúa. Thánh Kinh do đó phải là
linh hồn của việc đào tạo thần học của họ, bằng cách nhấn mạnh
tính tuần hoàn không thể thiếu giữa khoa chú giải, thần học,
linh đạo và sứ vụ ». Các chủng sinh cũng được kêu gọi có một
« tương quan cá nhân sâu xa với Lời Chúa, đặc biệt trong
Lectio divina, để chính ơn gọi của họ được nuôi dưỡng bởi
tương quan này : chính trong ánh sáng và sức mạnh của Lời Chúa
mà mỗi người có thể khám phá, hiểu, yêu mến và bước theo ơn gọi
riêng của mình và thực hiện sứ vụ, làm lớn lên trong tâm hồn
mình những tư tưởng của Thiên Chúa, đến độ đức tin, như là lời
đáp trả lại Lời Chúa, trở nên tiêu chí mới mẻ phán đoán và đánh
giá con người và sự vật, các biến cố và các vấn đề » (số 82).
Tuy nhiên, Tông huấn cũng
nhắc nhở rằng « Sự chú ý đến việc đọc cầu nguyện Thánh Kinh (tức
Lectio divina) không được bằng bất cứ cách nào nuôi dưỡng cho
việc chẽ đôi đối với việc nghiên cứu chú giải được đòi hỏi vào
thời gian đào tạo. Thượng Hội Đồng đã khuyên nhủ rằng các chủng
sinh cần được trợ giúp cách cụ thể để thấy mối
tương quan giữa việc nghiên cứu Thánh Kinh và cầu nguyện với
Thánh Kinh. Nghiên cứu Thánh Kinh phải làm cho ý thức hơn
về Mầu Nhiệm Mạc Khải của Thiên Chúa và nuôi dưỡng một thái độ
đáp trả cầu nguyện với Chúa, Đấng đang nói. Cũng thế, một đời
sống cầu nguyện đích thực chỉ sẽ có thể làm cho lớn lên trong
tâm hồn của ứng viện ước muốn được biết luôn hơn nữa vị Thiên
Chúa đã tỏ mình ra trong Lời của Ngài như là tình yêu vô tận.
Bởi thế, sẽ phải mang lại sự chăm lo chu đáo nhất cho việc vun
trồng trong đời sống của các chủng sinh tính hỗ tương giữa
việc học hỏi và cầu nguyện này. Theo mục đích này, các ứng
viên cần phải được khai dẫn vào một việc học hỏi Thánh Kinh bằng
những phương pháp tạo điều kiện cho một lối tiếp cận toàn diện
như thế ».
Với
đời sống dâng hiến
Ở số 83, Tông huấn nhắc lại
rằng đời sống dâng hiến « trước hết nảy sinh từ việc lắng nghe
Lời Chúa và đón nhận Tin Mừng như là quy luật sống ». « Sống
theo chân Chúa Kitô, khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục, như thế
là một “sự chú giải”
sống động Lời Chúa ». Thánh Thần, nhờ đó Thánh Kinh đã được
viết, là chính Thánh Thần soi sáng « Lời Chúa cho các vị sáng
lập bằng một ánh sáng mới. Từ Lời Chúa, mọi đặc sủng được nảy
sinh và từ Lời Chúa, mọi quy luật muốn nên lời diễn tả ».
Đức Thánh Cha đặc biệt nhắc
đến Truyền thống đan tu « đã luôn xem việc suy niệm Thánh Kinh
như là một yếu tố cấu thành linh đạo riêng của mình, đặc biệt
dưới hình thức Lectio divina. » Ngài khẳng định : « Cả
ngày hôm nay nữa, những thực tại dâng hiến đặc thù cũ và mới đều
được kêu gọi trở nên những trường sống thiêng liêng đích thực
nơi mà Thánh Kinh được đọc theo Thánh Thần trong Giáo Hội, để
tất cả Dân Thiên Chúa có thể hưởng ích từ đó. Bởi vậy, Thượng
Hội Đồng khuyên nhủ rằng trong các cộng đoàn Đời sống thánh
hiến, không bao giờ thiếu việc đào tạo vững chắc việc đọc Thánh
Kinh với niềm tin tưởng ».
Đức Thánh Cha đặc biệt
hướng đến các nam nữ đan sĩ, « qua việc học tách rời khỏi thế
gian, trở nên kết hiệp thân mật hơn với Chúa Kitô, trung tâm của
thế giới. Hơn bao giờ hết, Giáo Hội cần đến chứng tá của những
ai dấn thân « không yêu thích gì hơn tình yêu Chúa Kitô » ».
Những người nam nữ sống đời chiêm niệm, « qua đời sống cầu
nguyện, lắng nghe và suy niệm Lời Chúa nhắc cho chúng ta rằng
con người không chỉ sống nhờ cơm bánh nhưng còn bởi mọi lời do
miệng Thiên Chúa phán ra (x. Mt 4, 4). Do đó, mọi tín hữu phải
nhớ rằng một hình thức sống như thế « chỉ ra cho thế giới hôm
nay điều quan trọng nhất, và thậm chí xét cho cùng đó là điều
quyết định duy nhát : có một lý trí tối hậu mà đáng sống cho, đó
là Thiên Chúa và tình yêu khôn dò thấu ».
Với
các giáo dân (số 84)
Đức Thánh Cha cho thấy
Thượng Hội Đồng « rất thường chú ý đến giáo dân, cám ơn sự quảng
đại dấn thân của họ trong việc truyền bá Tin Mừng trong những
nơi khác nhau của cuộc sống thường nhật của họ, ở nơi làm việc,
tại trường học, trong gia đình và trong giáo dục. » Vì ơn gọi
sống giữa đời của họ, nên « họ cần được đào tạo để phân định
thánh ý của Thiên Chúa nhờ sự thân mật với Lời Chúa, được đọc và
học hỏi trong Giáo Hội, dưới sự hướng dẫn của các Mục tử hợp
pháp. »
Hôn
nhân và gia đình (số 85)
Đức Thánh Cha cho thấy
« Thượng Hội Đồng đã cảm thấy sự cần thiết nhấn mạnh tương quan
giữa Lời Chúa, hôn nhân và gia đình kitô hữu. » Trong Tông huấn,
Lời Chúa được trình bày như là « căn tính đích thực » và là
« nguồn mạch của hôn nhân » và chính Chúa Giêsu đã nâng hôn nhân
lên hàng bí tích. Đứng trước những tấn công hôn nhân và gia
đình, trước những lối suy nghĩ tầm thường hóa thân xác con người
và sự khác biệt giới tính, « Lời Chúa tái khẳng định sự tốt lành
nguyên thủy của con người, được tạo dựng có nam và nữ, và được
kêu gọi đến tình yêu chung thủy, hỗ tương và phong nhiêu. »
Từ đó, Tông huấn nhắc nhở
các bậc cha mẹ, các đôi vợ chồng có nghĩa vụ trở nên « những sứ
giả Lời Chúa đầu tiên cho con cái của mình ». Và « cộng đồng
giáo hội phải nâng đỡ và trợ giúp họ phát triển việc cầu nguyên
trong gia đinh, lắng nghe Lời Chúa và hiểu biết Thánh Kinh ».
Các bậc vợ chồng cũng hãy nhớ rằng « Lời Chúa cũng là một sự
nâng đỡ quý giá trong những lúc khó khăn của đời sống vợ chồng
và gia đinh ».
Lectio divina, phương pháp suy niệm Thánh Kinh (số 86-87)
Tông huấn dành một phần
quan trọng trình bày Lectio divina như phương pháp suy
niệm Thánh Kinh. Đó là một “đòi hỏi tiếp cận cầu nguyện bản văn
thánh như là yếu tố nền tảng của đời sống thiêng liêng của mọi
tín hữu, trong những tác vụ và các bậc sống khác nhau”. Tông
huấn nhấn mạnh: “Lời Chúa là nền tảng cho mọi linh đạo kitô hữu
đích thực”. Bởi vì, như thánh Augustinô nói: “Lời cầu nguyện của
bạn là lời của bạn nói với Thiên Chúa. Khi bạn đọc, chính Thiên
Chúa đang nói với bạn; khi bạn cầu nguyện, chính bạn đang nói
với Thiên Chúa”.
Tuy nhiên, Tông huấn cũng
cảnh giác chúng ta trước một “lối tiếp cận” Thánh Kinh cách “cá
nhân chủ nghĩa” và cho thấy rằng Lời Chúa được ban cho chúng ta
là “để xây dựng sự hiệp thông, để kết hiệp chúng ta trong chân
lý suốt hành trình của chúng ta về với Thiên Chúa. Đó là một Lời
được nói với mỗi người cách cá nhân, nhưng đó cũng là một Lời
xây dựng cộng đoàn, xây dựng Giáo Hội. Chính vì thế, bản văn
thánh phải luôn được đề cập trong sự hiệp thông giáo hội”.
“Vì thế thật quan trọng việc đọc Thánh Kinh và bảo vệ Thánh Kinh
trong sự hiệp thông của Giáo Hội, tức là với tất cả các đại
chứng nhân của Lời này, bắt đầu bởi những Giáo Phụ đầu tiên
cho đến các thánh hôm nay, cho đến Huấn quyền hiện tại”.
Số 87 dành sự chú
ý đặc biệt cho phương pháp tiếp cận Thánh Kinh trong đức tin:
Lectio divina, một phương pháp “có khả năng mở ra cho tín hữu
kho tàng Lời Chúa, và như thế khơi lên cuộc gặp gỡ với Chúa
Kitô, Lời hằng sống của Thiên Chúa”.
Các giai đoạn căn bản của
Lectio divina đươc Tông huấn trình bày như sau:
+ Mở đầu là việc đọc bản
văn Lời Chúa (lectio), việc đọc này “gợi lên câu
hỏi về sự hiểu biết đích thực nội dung của nó: tự nó bản văn
Thánh Kinh nói gì? Không có giai đoạn này, bản văn có nguy
cơ chỉ trở nên một cái cớ để không bao giờ ra khỏi các tư tưởng
của chúng ta.”
+ Tiếp đến là “việc suy
niệm (meditatio), đặt ra câu hỏi sau: bản
văn Thánh Kinh nói gì với chúng ta? Ở đây, mỗi người cách
cá nhân, nhưng cũng xét như là thực tại cộng đoàn, phải để cho
mình được chạm đến và đặt lại vấn đề, vì nó không hệ tại xem xét
những lời được loan báo trong quá khư nhưng là trong hiện tại.”
+ Như vậy, chúng ta đi đến
giai đoạn cầu nguyện (oratio). Giai đoạn này
“giả thiết câu hỏi sau: Chúng ta nói gì với Chúa nhằm đáp
lại Lời Ngài? Việc cầu nguyện như là lời cầu xin, cầu bầu,
tạ ơn và ca ngợi, là cách thức đầu tiên qua đó Lời Chúa biến đổi
chúng ta.
+ Sau cùng, “Lectio
divina kết thúc bằng việc chiêm ngắm (contemplatio),
trong đó chúng ta chấp nhận, như là ân huệ của Thiên Chúa, chính
cái nhìn như Ngài để phán đoán thực tại, và chúng ta tự hỏi:
sự hoán cải tinh thần, tâm hồn và cuộc sống nào mà Chúa đòi hỏi
chúng ta? Thánh Phaolô trong thư gởi tín hữu Rôma khẳng
định: “Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con
người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu
là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì
hoàn hảo.” (12, 2). Quả thế, việc chiêm ngăm hướng đến việc tạo
nên trong chúng ta một cái nhìn khôn ngoan về thực tại, tuân
theo Thiên Chúa, và đào tạo trong chúng ta “tư tưởng của Chúa
Kitô” (1Cor 2, 16). Lời Chúa được trình bày ở đây như là tiêu
chí phân định: “Lời Thiên Chúa là lời sống động, hữu hiệu và sắc
bén hơn cả gươm hai lưỡi: xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh,
cốt với tuỷ; lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng
người”.
+ “Tiếp đến cần nhớ rằng
Lectio divina không hoàn tất trong sự năng động của nó
bao lâu nó không đổ ra trong hành động (actio)”,
đưa đời sống của người tín hữu đến chỗ “trở nên quà tặng cho
người khác trong đức ái”.
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Linh Mục Anrê Dũng Lạc Trần Cao Tường Đã về Nhà Cha |
|
VỀ NHÀ CHA
RIP
VỚI TÂM TÌNH PHÓ THÁC VÀ DÂNG
HIẾN
Tổng Giáo Phận New Orleans,
Giáo xứ Thánh Lê thị Thành
Họ Đức Mẹ Lên Trời, Avondale, Louisiana
Bà Cố Trần Thị Phán và Tang Quyến, Gia Đình Linh Tông
Trân Trọng Kính Báo:
Linh mục Andrê Dũng-Lạc TRẦN CAO TƯỜNG
sinh ngày 15 tháng 8 năm 1946 tại Ninh bình, Việt Nam
Thụ phong Linh mục ngày 6 tháng 4 năm 1975
tại nhà thờ Kim Hòa, Giáo phận Long Xuyên
đã về Nhà Cha vào lúc 11giờ 56 sáng
Chúa nhật ngày 21 tháng 11 năm 2010
tại Bệnh viện Ochsner,
Kenner, Louisiana
Hưởng thọ 64 tuổi.
Các Thánh lễ cầu nguyện sẽ được cử hành tại:
1. Nhà thờ Thánh Lê Thị Thành
6851 St. Le Thi Thanh St., Marrero, LA 70072
Vào lúc 6 pm thứ ba, 23 tháng 11.
Phân ưu và viếng xác sau Thánh lễ cho đến 9 pm
2. Nhà thờ Maria Nữ Vương Việt Nam
5069 Willowbrook Dr., New Orleans, LA 70129
Vào lúc 6 pm thứ tư, 24 tháng 11.
Phân ưu và viếng xác sau Thánh lễ cho đến 9 pm
3. Nhà thờ Họ Đức Mẹ Lên Trời
172 Noel Dr., Avondale, LA 70094
Vào lúc 6 pm thứ năm, 25 tháng 11.
Phân ưu và viếng xác sau Thánh lễ cho đến 9 pm
Thánh lễ An Táng sẽ được cử hành tại Nhà thờ Họ Đức Mẹ Lên Trời
vào lúc 10 giờ sáng thứ sáu, ngày 26 tháng 11
8 giờ đến
9:30 am: Viếng xác
9:30 am: Linh
mục và Tu sĩ đọc kinh nguyện
10 am: Thánh Lễ
- Linh cữu Cha
Anrê Dũng Lạc sẽ được an táng tại nghĩa trang Restlawn Park, Avondale, Louisiana
DUNG LAC
FOUNDATION
Để quật khởi và tiếp tục làm sống động sức
sống Dũng Lạc do LM Anrê Trần Cao Tường sáng lập,
DUNG LAC FOUNDATION (NGÂN QUỸ
DŨNG LẠC) đã được thành lập hầu có thể hỗ trợ
cho Mạng Lưới Dũng Lạc phát triển văn
hóa và văn học Công Giáo theo tinh thần Việt. Theo tinh thần của Dũng
Lạc, qũy sẽ được góp phần “Công giáo vào gia tài chung của Mẹ Việt Nam
để xiển dương đạo sống văn hóa Việt có sức vươn lên…vừa hội nhập văn hóa
vừa phải thăng tiến văn hóa.”
Thay
vì phúng điếu hoặc đặt vòng hoa, chúng tôi xin quý vị dâng cúng vào ngân
quỹ Dũng Lạc. Ngân phiếu xin đề: DUNG LAC FOUNDATION và gửi về địa chỉ:
DUNG LAC FOUNDATION/ 1000 Westwood Dr./
Marrero, LA 70072. Xin cám ơn.
(504) 606-3132 hoặc
(504) 472-7798
Phạm Văn Tuệ, Lm.
Vài dòng tiểu sử
Linh Mục Anrê Dũng Lạc Trần Cao Tường
Linh mục Anrê Trần Cao Tường sinh ngày 15 tháng 8 năm 1946 tại Phát
Diệm, Ninh Bình, Bắc Việt, là con cả trong gia đình bảy (7) anh em
của Ông Bà Cố Trần Văn Phán.
Lm. Andrê Trần Cao Tường
Em trai Trần Cao Thắng
Em gái Trần Thị Hường
Em trai Trần Cao Tài
Em gái Soeur Francis Trần Kim Cúc
Em gái Trần Ánh Tuyết
Em trai Trần Cao Toàn
Từ thuở nhỏ, lớn lên trong cảnh nghèo túng của gia đình miền quê Bắc
Việt, Cha Tường (tên thật là Tiến) rất hiếu học và thông minh khác
thường, nên vì muốn đầu tư cho con có tương lai về học vấn, Bố Mẹ cố
gắng chắt chiu dành dụm để Cha có cơ hội cắp sách đến trường. Di cư
vào Nam Việt cùng với gia đình năm 1954, Cha Tường vẫn tiếp tục theo
đuổi việc học vấn, đồng thời cùng phụ giúp bố mẹ nuôi nấng đàn em và
lo công việc ruộng nương cấy lúa kiếm tiền sinh sống.
Ngày 1 tháng 9 năm 1959, sau 5 năm vào Nam Việt, Cha Cố Simon Nguyễn
Quang Duy nhận Cha Tường làm con thiêng liêng và gửi đi học tại Tiểu
Chủng Viện Phát Diệm – Phú Nhuận. Trước khi gia nhập tiểu chủng
viện, Cha Tường (Tiến) lâm cảnh bịnh thương hàn hơn ba tháng bỏ học.
Ngày lên đường vào tiểu chủng viện để dự thi, Cha Bố bàn kế lấy tên
người em trai là Trần Cao Tường để ghi danh đi thi; vì sợ bỏ học lâu
quá nhỡ đi thi sẽ bị rớt vẫn có thể dùng lại tên thật là Tiến để ôn
bài thi lại. Việc gì Bề Trên an bài đều đã có tiền định. Trong lúc
ốm nặng, Cha Tường cuốn mền đi thi, và quả nhiên, chỉ thi một lần,
Cha đậu ngay và được nhận. Kể từ đấy, Cha đã bị dính liền với tên
cúng chuối đó là Trần Cao Tường và tên Tiến thật kia đã không bao
giờ được gọi tới nữa.
Tháng 10 năm 1967, Cha Tường đã được tuyển chọn trong những chủng
sinh xuất sắc của Địa Phận Long Xuyên đi du học 6 năm tại Trường
Truyền Giáo Roma, Italy. Năm 1972, Ông Cố của Cha qua đời trong lúc
Cha vẫn còn tu học bên Ý. Năm 1973 Cha Tường tốt nghiệp và trở lại
Việt Nam, chịu Chức Phó Tế và giúp xứ tại Phú Quốc.
Ngày 6 tháng 4 năm 1975, Cha Anrê Trần Cao Tường Thụ Phong Linh Mục
qua việc đặt tay và xức dầu truyền chức của Đức Cố Giám Mục Micae
Nguyễn Khắc Ngữ tại Nhà Thờ Kim Hòa, Địa Phận Long Xuyên. Hai tuần
sau khi lãnh nhận Thiên Chức Linh Mục, Cha Tường trở về Phú Quốc để
dâng Thánh Lễ Tạ Ơn. Cũng kể từ dịp đấy, Cha Tường cùng với hai
người em gái là Sơ Kim Cúc và cô Ánh Tuyết bị khóa đường trở về đất
liền và biến cố 30 tháng 4 xảy đến, Cha cùng với hai người em gái
lên đường định cư tại Hoa Kỳ cùng với bao nhiêu người tị nạn Cộng
sản Việt Nam khác.
Thời cuộc gian nan không nản chí nam nhi. Tháng 9 năm 1975 Cha Tường
đoàn tụ cùng với 11 gia đình Việt Nam đầu tiên, chọn miền nắng ấm
New Orleans làm tổ ấm và dọn về định cư kể từ ngày đó. Cộng Đồng Các
Thánh Tử Đạo Việt Nam được thành lập, và cũng chính từ nơi này, năm
1983 Giáo Xứ Việt Nam đầu tiên của Hoa Kỳ được thành lập dưới sự
điều hành của Cha Sở là Đức Cha Dominic Mai Thanh Lương. Cũng trong
thời gian mục vụ tại Giáo Xứ Maria Nữ Vương Việt Nam, còn có tên gọi
thật thô sơ là làng "Versailles,” Cha Tường bắt đầu chú tâm vào lãnh
vực tu đức, tĩnh tâm, và khởi đầu giấc mơ “Tinh Thần Dũng Lạc.” Các
khóa huấn luyện và đào tạo nhân lực tổ chức hàng tuần, lồng chung
với những khóa canh tân sống đạo cho người giáo dân trong giáo xứ và
các tiểu bang lân cận được hăng say linh động.
Tháng 2 năm 1991, theo sự xếp đặt của Tòa Giám Mục Tổng Giáo Phận
New Orleans, Cha Tường được chuyển tới một cộng đoàn nhỏ bé Miền Tây
Ngạn để làm Quản Nhiệm Cộng Đoàn Đức Mẹ Lên Trời. Thời gian làm việc
nơi này, ngoài lãnh vực mục vụ, Cha có nhiều giờ viết sách tu đức,
đào sâu vào những chương trình hữu ích cho giáo hội và cộng tác quật
khởi những phong trào văn hóa. Bên cạnh đó, Cha Tường còn được sự hỗ
trợ mãnh liệt từ bên gia đình và những người con nghĩa tử:
• Lm. Francis Bùi Quyết, SDD – Phụ trách Tu Viện Nguyễn Duy Khang,
Tu Đoàn Tông Đồ Giáo Sĩ Nhà Chúa, New Orleans
• Sơ Ann Catherine Nguyễn Hòa – Dòng Phanxicô – Giám Đốc các chi
nhánh Nhà Thương Our Lady of The Lake
• Lm. Trần Đức Huynh, SVD – Lm. Truyền Giáo tại Đài Loan và Việt Nam
• Lm. Phạm Tăng Tri – Vero Beach, Florida
• Lm. Phạm Anh Tuấn – Cha Sở Giáo Xứ St. Cletus, Gretna, Louisiana
• Lm. Bùi Đại – Cha Sở Giáo xứ Resurrection, Phoenix, Arizona
Những năm tháng gần đây, Cha Tường bắc nhịp cầu nối kết xứ đạo vào
các chương trình Canh tân Đặc sủng Thánh Linh và hoạt động liên lỉ
với những khóa học hỏi tĩnh tâm và giảng thuyết hàng tuần trên toàn
quốc Hoa Kỳ. Cha còn trực tiếp cộng tác với những chương trình quảng
bá sứ điệp “tin vui gửi thời đại mới” và truyền rao Tin Mừng qua các
mạng lưới toàn cầu. Bản tính đam mê công việc mục vụ đã khiến Cha si
mê Chúa và say xưa văn hóa.
Ngày 13 thán 10 năm 2010, Cha lâm cơn bệnh nhiễm trùng hiểm nghèo
trong mạch máu tim. Vào lúc 11 giờ 56 sáng Chúa Nhật Lễ Chúa Kitô
Vua, 21 tháng 11 năm 2010, Linh Mục Anrê Trần Cao Tường đã được Chúa
gọi về hưởng Thiên Nhan Ngài. Hưởng thọ 64 tuổi.
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
NGUY CƠ CỦA TIỀN BẠC ĐỐI VỚI NHIỀU
GIÁO SĨ, TU SĨ NGÀY NAY
|
|
Xưa Chúa Giêsu đã từng lưu ý các môn đệ của
Người về nguy cơ của tiền bạc như sau:
“Không ai có thể làm tôi hai chủ: vì hoặc
ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh
chê chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi
Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được. (Mt 6:24)
Hoặc nghiêm khắc hơn:
“Khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có,
vì các ngươi đã được phần an ủi của mình rồi” (Lc 6: 24)
Lời Chúa trên đây, về một phương diện, đã
chỉ cho chúng ta mối hiểm nguy của lòng tham mê tiền của, chuộng
giàu sang, phú quý ở trần gian này.
Nhưng thực sự có phải Chúa lên án những
người giàu có – và như vậy - có nhiều tiền của là một cái tội
hay sao?
Chắc chắn không phải vậy. Điều Chúa muốn
nói với các môn đệ xưa và mọi người chúng ta ngày nay, là ta
không được coi tiền của ở thế gian này trọng hợn phú quí giàu
sang trên Nước Trời. Và nếu có may mắn được giàu có, thì hãy
khôn ngoan mà biết dùng tiền của để "mua" hạnh phúc đời đời,
bằng cách thực thi bác ái cách quảng đại để thương giúp, chia sẻ
với những ai kém may mắn, thiếu thốn hơn mình, vì Chúa Kitô
thực sự hiện diện nơi những người nghèo đói, rách rưới, cô đơn,
ốm đau, bị tù đày và đang chờ chúng ta mở lòng thương cứu giúp
.(Mt 25: 31-46)
Phúc Âm Thánh Luca, kể lại cho chúng ta dụ
ngôn về một người giàu có bị phạt trong âm phủ trong khi người
nghèo La-za-rô được lên Thiên Đàng chung vui hạnh phúc với Tổ
phụ Abraham. Người giàu bị phạt không phải vì tội giàu có, mà
bị phạt vì đã không thương bố thí tí gì cho người nghèo
La-za-rô hàng ngày ngồi ăn xin ở cửa nhà mình. (Lc 16).
Như thế, đủ cho thấy rõ là nếu giàu có mà
không có bác ái đi kèm thì sẽ trở thành ích kỷ và vô cảm
(insensitive) trước sự đau khổ của biết bao người xấu số, nghèo
đói, bệnh tật đang mong muốn được cưu mang, giúp đỡ vì lòng
nhân đạo.
Là người tín hữu Chúa Kitô, hơn ai hết,
chúng ta được mời gọi thực thi đức tin bằng đức ái, hay nói khác
đi, bác ái là thước đo đức tin của mỗi người chúng ta theo lời
Thánh Giacô-bê Tông Đồ dạy như sau:
“Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức
tin mà không có hành động theo đức tin thì nào có ích gì?... Giả
sử có người anh em hay chị em không có cái áo che thân và không
đủ của ăn hàng ngày mà có ai trong anh em lại nói với họ: “hãy
đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no” nhưng lại không cho họ
những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích gì?” (Gc
2:14-16).
Như thế, đức tin phải được thể hiện cụ thể
bằng đức ái nồng nàn.
Sống trên trần gian này, không ai ngây thơ,
hay thiếu thực tế mà cho rằng tiền bạc và phương tiện vật chất
là không cần thiết. Ngược lại, trong giới hạn chính đáng của nó,
chúng ta cần có tiền, có nhà ở, xe cộ làm phương tiện di chuyển
để sống một đời sống phù hợp với nhân phẩm. Chúa không cấm chúng
ta tìm tiền của, để sử dụng cho những nhu cầu chính đáng ấy của
bản thân và cho gia đình.
Nhưng là người tin có Thiên Chúa, tin có
hạnh phúc đời đời trên Thiên Quốc, thì ưu tiên phải là tìm kiếm
Thiên Chúa và Vương Quốc hoan lạc của Người. Đó mới chính là
nơi, mà người tín hữu chúng ta phải ưu tiên đầu tư tâm trí, thì
giờ và tài năng để “sắm lấy những túi tiền chẳng bao
giờ cũ rách, một kho tàng ở trên trời, nơi trộm cướp không bén
bảng, mối mọt cũng không đục phá” (Lc 12: 33). Do đó, nếu
không lo tìm kiếm sự sang giàu, phú quí của Nước Trời mà chỉ lo
tìm kiếm của cải, tiền bạc chóng qua ở trần gian này, thì người
ta sẽ dễ dàng đi đến chỗ tôn thờ tiền bạc, làm nô lệ cho của cải
vật chất, hơn là tôn thờ Thiên Chúa là nguồn mạch của mọi giàu
sang, và vinh phúc mà chính Chúa Giêsu “Người vốn giàu sang
phú quí, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái
nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có.” (2 Cor
8: 9)
Cả cuộc đời của Chúa Giêsu, từ khi sinh ra
trong hang bò lừa, cho đến ngày chết tất tưởi không một mảnh vải
che thân trên thập giá, đã dạy cho chúng ta một bài học đích
đáng về sự hư vô của mọi vui thú và giàu sang trong trần thế
này.
Vậy mà người ta - người có đức tin cũng như
kẻ vô tín ngưỡng - vẫn nô nức nhau đi tìm tiền của bất chấp mọi
nguyên tắc công bình nhân đạo và bác ái để miễn sao có được
nhiều tiền thì thôi. Hãy nhìn xem những kẻ đang kiếm tiền, làm
giầu bằng kỹ nghệ cờ bạc, nhất là buôn bán phụ nữ và trẻ em cho
bọn người vô luân, vô đạo, môn đệ của Satan, đi tìm thú vui dâm
ô vô cùng khốn nạn này ở khắp nơi trên thế giới hiện nay. Phải
nói qủy satan đang thống trị bọn người môi giới để bán và mua
thú vui cực kỳ nhơ bẩn và tội lỗi này; kể cả những kẻ đang khai
thác kỹ nghệ sản xuất phim ảnh, sách báo khiêu dâm để đầu độc
hàng triệu người lớn và trẻ em chỉ vì mục đích tìm tiền để làm
giầu cách vô luân và vô đạo.
Người đời không có niềm tin thì
sống như vậy, còn người tín hữu Chúa Kitô, thì sao?
Chúng ta có sống khác với những người không
có đức tin hay cũng đồng lõa với họ trong việc mưu tìm tiền của
và làm giầu cách phi pháp, vô đạo?
Thực tế đáng buồn đã cho thấy là, cũng vì
tham tiền cách bất chánh, mà rất nhiều tín hữu đã làm những
nghề hay dich vụ không phù hợp với đức tin Công giáo, như giúp
người khác khai gian để lấy tiền bồi thường của bảo hiểm trong
những vụ tai nạn xe cộ, hoặc buôn bán những sách báo, phim ảnh
dâm ô, đồi trụy, làm hàng giả bán để kiếm tiền và làm hại người
tiêu thụ. Đặc biệt là lén lút trồng cây thuốc phiện cần sa
dưới nhãn hiệu “trồng và tưới cỏ”, để làm giầu cho mình
và làm hại biết bao người khác.
Chắc chắn, khi làm những nghề hay dịch vụ
nói trên để kiếm tiền, người ta đã quên mất địa vị và bản chất
của mình là người tín hữu Chúa Kitô đòi hỏi phải tránh dịp tội
cho mình và cho người khác. Tệ hại hơn nữa là có nhiều người
công giáo ngày nay không có giờ để cầu nguyện, đi tĩnh tâm,
tham dự Thánh lễ ngày Chúa Nhật và các ngày Lễ Trọng quanh năm,
nhưng lại có dư ngày giờ để đi đến các chỗ ăn chơi, nhảy nhót
hoặc chui vào các sòng bạc, casino lớn nhỏ, với hy vọng kiếm
tiền cách bất lương, vô đạo, vì cờ bác là một tội lớn nghịch
điều răn thứ Bảy và Mười mà người Công giáo phải tuân giữ cùng
với các giới răn khác cho được ơn cứu độ.
Đó là về
phía người giáo dân, còn linh mục, tu sĩ thì sao?
Thực là điều đáng buồn phải nói rằng cũng
vì thích tiền, mê của cải vật chất hơn yêu mến Chúa Kitô và Phúc
Âm sự Sống của Người, nên một số giáo sĩ, tu sĩ đã bất chấp
luật công bằng và lương tâm để ăn cắp tiền của nhà Dòng, Nhà xứ
và cả tiền của quỹ từ thiện, quỹ bảo trợ và xây cất Tu Viện,
nhà thờ… để đi xây “tổ ấm” riêng, gây thiệt hại cho nhà Dòng,
nhà xứ liên hệ, tạo gương mù cho giáo dân và tai tiếng cho hàng
giáo sĩ nói riêng và cho Giáo Hội nói chung!
Xưa Giuđa đã
bán Chúa cũng chỉ vì mê tiền của hơn yêu mến Thầy.
Chính vì hấp lực của đồng đôla, mà có người
đã giả tàn tật, ngồi xe lăn để đi xin tiền; cũng như đã làm giả
giấy giới thiệu của Bề Trên để xin tiền bỏ vào túi tham của
mình. Lại nữa cũng với danh nghĩa xây nhà hưu dưỡng, nhà cho trẻ
mồ côi, tàn tật, người ta đã quyên góp được biết bao nhiêu tiền.
Nhưng cho đến nay các cơ sở này đã thành hình ở trong và ngoài
nước chưa? để giúp ích cho các đối tượng được mượn danh nghĩa
để đi quyên góp tiền bạc ở nhiều nơi? Hay tiền đó rút cuộc lại
vào túi người đứng ra tổ chức và quyên góp mà không ai có thể
biết được là bao nhiêu?
Chưa hết, còn nạn một số linh mục (Dòng và
Triều) thường tổ chức mừng kỷ niệm thụ phong hay khấn Dòng để
lấy tiền mừng. Theo truyền thống xưa nay trong Giáo Hội, thì
người ta chỉ tổ chức mừng Ngân khánh (25 năm); Kim khánh (50
năm) và Ngọc khánh (60 năm). Việc này rất tốt và đáng duy trì
để cảm tạ Chúa, đã cho mình được phục vụ Chúa và Giáo Hội lâu
năm trong ơn gọi tận hiến.
Tuy nhiên đừng mượn cơ hội này để kiếm tiền
như một số linh mục đã làm và chắc còn làm trong tương lai. Đó
là những người mới có 1 năm, 10, 15 , 20 năm đã tổ chức mừng
không phải chỉ trong Thánh lễ ở nhà xứ mà còn ra nhà hàng,
restaurant để lấy tiền mừng của hàng mấy trăm người, có khi cả
ngàn người được mời đến tham dự! Những người thân quen được mời
đã đành, nhưng có những người không mấy quen biết cũng được mời
cho đông nên người ta đã ta thán rằng “mình đâu có quen biết cha
đó mà sao cũng được mời!"
Hãy đặt mình vào địa vị những người, mỗi
tuần nhận được 2, 3 thiệp mừng đám cưới lại thêm thiệp mừng thụ
phong của linh mục nào nữa thì họ sẽ xử trí ra sao? Và nếu họ
phải đi tham dự thì lòng họ có vui khi phải chi ra những món
tiền ít nhất là 50 dollars cho mỗi dịp như vậy?
Như thế, linh mục có nên mượn dịp thụ phong
1 năm 10 năm, 15 năm, 20 năm, 25 năm, 35 năm hoặc 40 năm để tổ
chức linh đình tại nhà hàng với rất nhiều người được mời để kiếm
tiền mừng hay không?
Đố có ai dám tổ chức và từ chối tiền mừng
của người tham dự. Nếu làm được như vậy thì tha hồ tổ chức, mỗi
năm một lần cũng không sao!
Sau hết, lại còn chuyện khôi hài nữa là một
vài linh mục còn tổ chức sinh nhật (birthday) của mình và gửi
thiệp mời giáo dân tham dự để làm gi???.
Đức Thánh Cha và các Giám mục giáo phận có
ai làm chuyện lố lăng này đâu, mà sao mấy ông linh mục kia lại
làm để gây phiền phức cho giáo dân và người quen bất đắc dĩ
phải tham dự và có quà mừng.
Tóm lại, Linh mục và tu sĩ (những người có
lời khấn Dòng) phải sống và làm gương khó nghèo của Phúc Âm cho
giáo dân. Nếu cũng tham lam của cải trần gian để đi đến chỗ ăn
cắp tiền (số tiền không nhỏ) của Nhà Dòng, Tu Hội hoặc giáo xứ
thì còn dạy dỗ ai về đức công bằng và thuyết phục được ai sống
tình thần khó nghèo của Chúa Kitô nữa?
Giàu có, tự nó, không phải là một tội phải
tránh để cho được đẹp lòng Chúa. Nói khác đi, có tiền của, và
nhiều phương tiện vật chất như nhà ở, xe tàu, ruộng đất v.v mà
biết dùng những phương tiện này vào những mục đích tốt cho mình
và cho người khác thì lại là điều đáng khen ngợi và đề cao. Nói
được như vậỵ, là vì cuộc sống con người nói chung và hoạt động
của Giáo Hội nói riêng, đều cần có tiền cho những nhu cầu chính
đáng phải thỏa mãn như cơm ăn, áo mặc, nhà ở, thuốc men khi đau
yếu, phương tiện di chuyển, xây cất và bảo trì cơ sở thờ phượng
và đi rao giảng Tin Mừng. Cho nên, nếu nói không cần tiền và
phương tiện vật chất, chỉ cần tinh thần thôi thì quả là không
thực tế hay ảo tưởng.
Nhưng tại sao Chúa Giêsu phải nói những lời
trên đây với các môn đệ khi đó và với mọi người chúng ta ngày
nay?
Chắc chắn Chúa không lên án người giàu có
chỉ vì ho có nhiều tiền của. Chúa cũng không dạy phải chê ghét
tiền của và mọị tiện nghi vật chất như nhà ở, xe cộ, máy móc,
điện thoại, và những tiện nghi của đời sống văn minh ngày nay.
Điều Chúa muốn nói và dạy chúng ta phải
thực hành là không được yêu thích tiền của đến nỗi làm nô lệ
cho nó, khiến quên lãng mục tiêu quan trọng hơn là tìm kiếm sự
giàu sang và hạnh phúc bất diệt trên Nước Trời. Mê tiền của sẽ
làm mù tối lương tâm của mọi người kể cả linh mục và tu sĩ,
khiến coi việc ăn cắp, gian dối, lường gạt là vô hại cho phần
rỗi của mình.
Tóm lại, mê tiền của sẽ là trở ngại lớn lao
cho những ai muốn sống công bình và bác ái để chứng minh đức tin
bằng việc lành cụ thể, vì đức tin mà không có việc bác ái đi kèm
là đức tin chết theo lời dạy của Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ. (Gc
2: 26 )
LM Phanxicô Xaviê Ngô tôn Huấn |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Tử đạo và cuồng tín
|
- Tớ mới đọc báo sáng nay. Lại có thêm một vụ đánh bom tự sát
làm chết nhiều người tại một khu chợ. Lần này khác mấy lần
trước: do một cô gái. Cậu nghĩ sao về tin này?
+ Nói thật là tớ vừa phục vừa tức. Phục vì cô ta dám liều chết
cho tôn giáo của cô ấy. Tức vì cô ta làm chết những người vô
tội.
- À, tớ nghe nói là bên đạo của cậu cũng tôn thờ những người
chết cho đạo, hình như tớ nghe người ta gọi là các thánh ‘tử
đạo’ gì gì đó, đúng không?
+ Ừa, nhưng nói luôn để cậu rõ. Đạo tớ chỉ tôn thờ một mình
Thiên Chúa thôi. Còn tất cả các vị thánh và cả Đức Mẹ nữa thì
không tôn thờ, mà chỉ tôn kính.
- Nhưng tớ thắc mắc không biết các thánh tử đạo của cậu có gì
khác với những kẻ cuồng tín liều chết vì tôn giáo của họ kia
không? Cả hai cũng vì tôn giáo mà chết thôi, đúng không?
***
Bạn thân mến, bạn nghĩ sao về vấn đề này?
***
Mời bạn đẩy vấn đề xa hơn một chút để làm cho cuộc đời vốn đã
rắc rối này được thêm một phần phức tạp nữa, Bạn nhé. Hì hì hì…
Ta thử đặt mình vào vị trí của một “tên khủng bố” và cố gắng
hiểu anh ta một chút xem sao. Có thể là anh ta rất tin rằng cái
chết của mình sẽ làm cho Thượng Đế hài lòng, làm cho gia đình và
người đồng đạo tự hào, làm cho thế giới này ‘sạch sẽ’ hơn khi
bớt đi những kẻ không cùng niềm tin mà anh ta cho là chân lý.
Nếu nghĩ như thế, việc anh ta dám liều chết cho tôn giáo của
mình có thể nói là xuất phát từ một niềm tin vững chắc. Anh ăn
bữa cuối cùng với người thân, nói lời vĩnh biệt, giấu khối chất
nổ trong áo, tìm một nơi có nhiều người qua lại, rút kíp nổ và
tan thành trăm mảnh….Trong mắt những “đồng chí” (hơi khác nghĩa
với “đồng đạo”) của anh, anh là một người hùng, một tấm gương
sáng ngời, một dũng sĩ diệt xấu, một vị tử đạo đáng tôn kính.
Bạn nghĩ sao?
Bây giờ ta đặt mình vào vị trí của các Thánh Tử Đạo trong truyền
thống Công Giáo để hiểu và đối chiếu một chút. Danh từ “tử đạo”
mà người Công Giáo dùng có gốc từ chữ “martyr” trong tiếng Hy
Lạp, có nghĩa là “làm chứng”. Một người được xem là tử đạo khi
người ấy trước tiên dám sống và sau đó là dám chết cho niềm tin
vào Chúa Giêsu. Họ làm như thế để minh chứng rằng Chúa Giêsu là
nguồn cội và cùng đích hạnh phúc của mình. Một khi đã gặp được
Người là kho tàng quý giá nhất rồi thì cho dù phải chết họ cũng
không (dại gì mà) bỏ Người.
Nói như thế thì người ta vẫn có thể tranh luận: “Tôi thấy họ
cũng không khác gì mấy kẻ cuồng tín khủng bố vì cả hai đều chọn
chết cho điều họ xem là quý giá.” Bạn thấy thế nào? Mời Bạn tiếp
tục cuộc suy tư.
Bạn biết đấy, từ khởi đầu lịch sử của Hội Thánh Công Giáo cho
đến tận hôm nay, khắp nơi trên thế giới này, đã và vẫn đang có
bao nhiêu con người sẵn sàng mất mạng sống mình để tuyên xưng
rằng mình không thể bỏ Giêsu được. Quê hương Việt Nam thân yêu
của tụi mình có hơn một trăm ngàn tín hữu đã hy sinh, trong đó
118 vị có lai lịch và chứng tích rõ ràng đã được Hội Thánh hoàn
vũ tôn vinh chính thức. Ta có quyền hy vọng rằng sẽ có thêm
nhiều vị khác được tôn vinh như thế. Nhưng đâu là điểm khác biệt
giữa những kẻ cuồng tín và các vị tử đạo Công Giáo? Rất đơn
giản, Bạn à: Các vị tử đạo của chúng ta sống và chết
theo tinh thần của Thầy Giêsu.
Theo tinh thần của Thầy Giêsu nghĩa là thế nào? Thưa, là
yêu thương cho đến cùng dù phải chết.
Nói như thế xem ra vẫn còn chung chung. Một lần nữa, mời Bạn
nhìn vào Thầy Giêsu để xem Người đã sống và chết như thế nào.
Những sách vở ghi chép lại về cuộc đời của Thầy đều thể hiện một
điểm rất rõ: Thầy Giêsu là hình ảnh trung thực và trọn vẹn nhất
của Thượng đế. Thầy vô cùng yêu quý con người, nhất là những
người đau khổ, những tâm hồn tan nát giữa dòng đời. Không một ai
đến với Thầy mà bị từ khước. Không một ai không có chỗ đặc biệt
trong trái tim Thầy. Tất cả đều được tôn trọng và nâng niu. Tất
cả đều được chữa lành khi gặp Thầy. Tất cả đều được tha thứ và
trợ giúp để làm lại cuộc đời. Tất cả đều gặp lại chính mình và
được là mình một cách trọn vẹn lúc ở với Thầy. Khi người ta vì
ghen tương, ích kỷ, hận thù, tư lợi, bất công và độc ác đóng
đinh Thầy trên cây thập giá để giết chết Thầy, giữa cơn đau đớn,
tủi nhục và cô đơn tột cùng ấy, Thầy vẫn chúc lành cho họ. Chính
lúc đen tối nhất cuộc đời ấy, ánh sáng tình yêu trong trái tim
Thầy đã chiến thắng cơn cám dỗ cuối cùng, cơn cám dỗ vẫn hoành
hành trong xã hội loài người: bạo lực và hận thù. Bạn thân mến,
hẳn là bây giờ tụi mình đã thấy rõ thế nào là tinh thần của Thầy
Giêsu? Hẳn là Bạn đã nhận ra sự khác biệt giữa những kẻ cuồng
tín liều mạng để giết chết những người khác và các vị tử đạo
Công Giáo?
Nếu Bạn không quá bận thì mời bạn đi thêm một quãng đường nữa để
nhìn vào cuộc đời của những vị tử đạo Việt Nam. Như mình đã nói,
họ tử đạo vì họ đã sống và chết theo
tinh thần của Thầy Giêsu. Cụ thể là thế này: Vì
sống theo tinh thần của
Thầy, họ làm cho môi trường sống xung quanh trở nên nhiều yêu
thương, chia sẻ và cảm thông. Sách vở còn ghi lại một điểm rất
quan trọng: Khi người ta đến bắt và đem các vị đi xử tử thì
những anh chị em không chung niềm tin Kitô đã khóc thương và
tiễn chân họ. Điều đó có nghĩa là trước khi họ đổ máu làm chứng
cho Thầy Giêsu thì họ đã là những nhân chứng cho Thầy bằng chính
cuộc sống yêu thương của mình. Nói cách khác, họ đã “tử đạo”
trước khi đổ máu. Vì chết
theo tinh thần của Thầy, khi không còn có thể trốn lánh bách
hại, họ đón nhận việc bắt bớ, tù tội và thậm chí cả cái chết như
một cơ hội để chứng tỏ tình yêu của mình dành cho Thầy Giêsu,
Đấng đã thương yêu họ một cách vô điều kiện. Họ không hề gây hại
cho những kẻ đang muốn hãm hại và giết chết mình, và như thế, họ
đã làm sáng lên tinh thần Thầy Giêsu giữa bóng tối hận thù chết
chóc. Nhiều người trong số họ theo gương Thầy mà cất lời chúc
lành và tha thứ cho kẻ giết mình. Bạn biết đấy, họ không chết
một cách nhu nhược hay vô ích. Khi dòng máu họ chạm đất thì lập
tức hàng ngàn, hàng vạn, hàng triệu hạt giống niềm tin được nảy
sinh trong lòng người, ngay cả những người đã ra tay đổ máu họ.
Bạn thân mến, nếu ta chỉ đơn giản kết thúc suy tư này ở đây thì
thật ra ta chỉ mới dừng lại ở việc phân tích một vấn đề bình
thường chứ nó chẳng thực sự đụng chạm vào cuộc sống hằng ngày
của tụi mình, phải không Bạn? Xin cho mình mạo muội đưa ra một
gợi ý để sống “tinh thần tử đạo” nhé. Bạn biết đấy, chất tử đạo
đã được cha ông chúng ta bộc lộ trước cả khi đổ máu. Hoá ra tụi
mình cũng có thể bắt chước việc tử đạo này của các ngài. À, biết
đâu xung quanh ta đang có nhiều vị tử đạo âm thầm làm chứng cho
tinh thần Giêsu, một… ‘câu lạc bộ tử đạo’, Bạn nhỉ ! Tụi mình
cùng tham gia ‘câu lạc bộ’ này để giúp Thầy Giêsu biến đổi thế
giới thành nơi thêm tình yêu và bớt hận thù, Bạn nhé! Cảm ơn
Bạn!
Joseph Việt, O.Carm. |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
NỖI LO SỢ KHÔNG TÊN
|
|
Chuyện kể
rằng, một người nọ sau khi từ giã cõi đời và được về bên Thượng
Đế, anh ta mạo muội xin phép Thượng Đế cho anh ta được sống lại
một vài giai đoạn trong đời anh ta. Sau khi suy nghĩ và thấy anh
này cũng có một đề nghị hơi lạ, Thương Đế đã đồng ý. Anh ta xin
tiếp, “Thưa Ngài, sau mỗi quãng đời, xin cho con được dừng lại
và về gặp Ngài để hỏi một vài thắc mắc có được không?” Thượng Đế
cũng tỏ vẻ vui lòng ưng thuận. Vậy là người này trở lại kiếp
người.
Anh ta làm
lại một cậu học trò với bao bận rộn với việc học hành, nhưng
cũng không ít vui chơi hồn nhiên giải trí. Nhưng khi phải vượt
qua những kỳ thi, thì cậu học trò lại tỏ ra lo sợ. Cậu ta lo sợ
bị thi rớt, sợ bị điểm thấp, sợ bị chúng bạn chê cười,… Cậu ta
xin dừng cuộc đời lại đó và đi hỏi Thượng Đế. “Thưa Ngài, tại
sao con phải lo sợ những chuyện thi cử?” “Con lo sợ chúng vì con
đã nhìn cuộc đời của con như thể chỉ có chuyện thi cử mà quên đi
những chuyện khác xung quanh con.” Thượng Đế trả lời.
Anh ta trở
lại dương thế và tiếp tục làm người. Giai đoạn này, anh ta có
người yêu, lập gia đình, có con và tưởng chừng như anh ta đã
vượt qua những nỗi lo sợ của thời trẻ con. Thế nhưng, anh ta vẫn
lo sợ. Anh sợ vợ anh phản bội, con anh không đủ sức khỏe, công
việc làm ăn không ổn định. Anh dừng cuộc đời lại và đi hỏi
thượng đế. “Thưa Ngài, dù biết rằng con đã không nhìn cuộc đời
như trước đây nữa, nhưng sao con vẫn lo sợ?” Thượng Đế đáp, “Con
lo sợ vì con muốn sở hữu chúng vĩnh viễn; con không muốn bị mất
chúng. Con nên nhớ, điều gì con càng muốn nắm giữ, thì con càng
lo sợ chúng bị mất đi.”
Trở lại cuộc
sống dương thế lần thứ ba, giờ đây ở tuổi cao niên, sau bao
tháng ngày sợ hãi, lo lắng, ông già trông bình an và chấp nhận
hơn. Ông không lo sợ bị mất vợ và lo lắng cho con cái như trước
đây. Nhưng trong tâm thức ông, một nỗi lo âu, sợ hãi vẫn ám ảnh
ông. Nỗi lo sợ của ông không còn là nỗi lo liên quan đến “cơm
áo, gạo tiền” như trước đây, nhưng ông lại sợ bị lãng quên những
công trạng của thời trai trẻ; ông lo những thành quả ông góp cho
đời sẽ bị mất dấu tích. Kỳ lạ thay, ông lại lo không còn được
cảm nếm những nỗi lo sợ của thời học trò, của thời thiếu niên,
của người thanh niên mà ông đã trải qua. Ông quá tò mò nên quay
về hỏi Thượng Đế, “Thưa Ngài, tại sao những điều lúc trước làm
con lo sợ, thì bây giờ con lại sợ không còn được cảm nếm những
nỗi sợ ấy nữa?” Thượng Đế đáp, “Con yêu! Chừng nào con còn sống
trong quá khứ, muốn quay trở lại quá khứ; và chừng nào con còn
lo nghĩ về tương lai, muốn làm chủ lấy tương lai, thì con còn
sống trong sợ hãi. Cha không có quá khứ, Cha không có tương lai.
Cha chỉ có hiện tại. Nơi nào không có hiện tại, nơi đó không có
bình an.”
* * *
Quí bạn thân
mến, mẩu chuyện tưởng tượng trên cho ta thấy rằng, đời con người
xem chừng như cứ bị bao trùm hết nỗi lo sợ này đến nỗi lo sợ
khác: Nỗi lo sợ của đứa trẻ mới bước vào đời, nỗi lo sợ của
người thanh niên về tương lai, và nỗi lo sợ của vị cao niên về
quá khứ của mình bị đánh mất. Vậy nỗi lo sợ ấy đến từ đâu, và lý
do gì mà ta lo sợ?
Suy gẫm thấu
đáo ta có thể nhận thức rằng, hoàn cảnh “đáng sợ” không thực sự
đáng sợ như ta tưởng, nhưng điều làm ta lo sợ chính là ta lo sợ
điều chưa xảy ra. Chúng ta thường sợ điều chưa xảy đến hơn là
điều đã xảy đến. Nếu quí bạn có dịp trò chuyện với các bệnh nhân
mang những căn bệnh nan y, thì có rất nhiều người cho rằng, điều
đáng sợ của họ bây giờ không phải là căn bệnh họ đang mang, mà
là những điều khác. Nỗi sợ của họ bây giờ không còn là căn bệnh
nữa, nhưng là sợ bị bỏ rơi, bị cô đơn, bị quên lãng, và biết bao
nhiêu nỗi sợ không tên khác. Kỳ thực thay, dù ai trong chúng ta
cũng đã không ít một lần bị bỏ rơi, cũng đã không ít có một lần
kinh nghiệm cô đơn, và bị người đời quên lãng; biết là như thế
và đã trải qua kinh nghiệm nhiều lần như thế trong đời rồi,
nhưng con người vẫn lo sợ chúng; con người vẫn rối lên khi đối
diện chúng.
Thưa bạn, bạn
cũng như tôi đã trải nghiệm những lo sợ mà có lúc đã làm chúng
ta mất ăn mất ngủ ở lứa tuổi học trò, ở tuổi xuân, ở những hoàn
cảnh khắc nghiệt nhất (người thân ra đi, bị tù đày tra tấn,…).
Xét cho cùng, cuối cùng nỗi lo sợ này cũng chỉ có thế thôi, có
phải không? Thế thì những nỗi sợ hôm nay – giây phút này – ngay
lúc này, cũng chỉ là một phần của kiếp làm người của chúng ta mà
thôi. Hãy nhìn chúng như là một phần đời của chúng ta để giúp
chúng ta nâng cao giá trị đời mình, chứ đừng để chúng trở thành
nỗi ám ảnh bao trùm những vẻ đẹp của giây phút hiện tại.
Thưa bạn, hôm
nay mục Sống Sao Cho Đẹp mời gọi bạn hiểu sâu hơn ý nghĩa
thực của giây phút hiện tại. Vì thực ra cuộc đời của bạn chỉ có
hôm nay, giây phút này chứ không phải hôm qua hay ngày mai. Và
dù bạn có lo sợ điều gì lớn lao đến mấy đi chăng nữa, mỗi ngày
bạn cũng phải đi qua 1440 phút. Vậy bạn muốn sở hữu 1440 khoảnh
khắc bình an, tự tại hay là 1440 nỗi âu lo, sợ hãi???
Br. Huynhquảng
Mời bạn
ghé thăm trang
http://brhuynhquang.org/.
Email liên
lạc:
brhq@brhuynhquang.org
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA HÔN NHÂN (5)
|
|
VỊ TRÍ CHIẾN
THUẬT CỦA NGƯỜI VỢ
Sự nghi ngờ của người phối ngẫu
thường do ước muốn vô thức muốn mình có được ưu thế trên người
bạn đời, là động lực chính nằm đàng sau những vấn đề nan giải
không thể tránh được. Người vợ của người say rượu, đối tượng của
cảm tình và sự ngưỡng mộ của công chúng đối với sự chịu đựng và
trung thành của nàng, thường đã đóng góp nhiều cho hoàn cảnh gia
đình hơn bất cứ người nào khác. Thường thi một người đàn bà có
tham vọng và có nhiều khả năng, thích chọn một người đàn ông
thiếu cương trực và dễ chao đảo. Trong khi nàng hảnh diện về ý
hướng lèo lái và cứu chàng khỏi tình trạng khốn cùng, nàng thật
ra chỉ muốn nói nhân đức của nàng đối với khuyết điểm của chàng.
Loại người đàn bà nầy sẽ gây khó khăn cho bất cứ đàn ông nào
muốn nên tốt. Chàng không có cơ hội để cạnh tranh với nhân đức
gây ấn tượng của nàng, và việc phạt nàng với cách hành xử của
chàng chỉ là một an ủi nho nhỏ. Chàng ít khi nhận thấy rằng bằng
cách đày đọa nàng, chàng chỉ thêm cho nàng sự vinh dự. Bà vợ của
một người chồng say rượu thường là một người tử đạo đúng tiên
chuẩn. Nàng càng đau khổ, càng thêm thánh thiện.
Trong tiến trình lịch sử của những
hôn nhân như thế, chúng ta thấy có nhiều giai đoạn mà trong đó
người vợ đã có thể ngăn chặn được người chồng khỏi vấn đề nghiện
ngập. Một sự cứng rắn có thể làm cho chàng ý thức về những hậu
quả của tư cách chàng chẳng hạn như mất nàng vào một lúc mà
chàng vẫn còn muốn lo lắng cho nàng. Nhưng sau mỗi cuộc cãi vả,
mỗi cuộc đe dọa, nàng nhường bước, tin vào những lời hứa mà nàng
thừa biết sẽ không bao giờ được giữ. Việc chữa trị người say
rượu trước nhất đòi hỏi ảnh hưởng của người vợ. Sự thánh thiện
của nàng và sự tệ hại của chàng gắn liền với nhau và là tiêu
biểu cho sự tử đạo. Sự mất quân bình ở đây không phải chỉ là lỗi
của người nam mà thôi.
Mới nghe, người ta có thể đổ lỗi
những chuyện trục trặc nầy cho những người vợ, nhưng chúng ta
hãy biết rằng mọi chuyện xảy ra đều do cả hai, không bao giờ chỉ
một bên. Một cách đáng tiếc, các bà thường là những người đau
khổ nhiều nhất từ sự đỗ vỡ hôn nhân. Sự lệ thuộc vào sự hòa hợp
của hôn nhân khiến các bà nhạy cảm hơn đối với sự hài hòa và
cũng khiến cho họ cảm thấy có trách nhiệm hơn. Số phận của một
cuộc hôn nhân thường tùy thuộc nhiều trên tư cách của người vợ
hơn của người chồng. Trải qua nhiều thế kỷ, đàn bà được huấn
luyện cho việc quản trị gia đình. Thích thú tự nhiên của họ
trong việc vợ chồng có thể được khắc phục một cách dễ dàng nếu
người đàn ông tỏ ra phản đối. Các bà đã và đang là một giới bị
thống trị, nhưng họ lại nắm quyền ở đàng sau ngai vàng. Vị trí
nầy đã khiến cho các bà dùng những phương pháp khác hơn là sự
tấn công thẳng thừng, trực tiếp dành cho phái nam. Những đức
tính nhẹ nhàng kín đáo của họ được so sánh với những nàng mèo
dịu dàng, dễ thương, biết uyển chuyển để đền bù cho sự thiếu
quyền lực của họ. Các ông nhảy múa trong khi các bà trổi nhạc.
Điều nầy không có nghĩa là đàn bà không cần nhiều sự khuyến
khích và sự giúp đỡ như đàn ông, nhưng bản tính đàn bà mặc khải
cho chúng ta thấy nhu cầu bảo vệ của họ trong khi các ông lại
không muốn như thế bỡi sự tự hào của người đàn ông. Thường người
đàn ông mạnh nhất thì căn bản giống như một đứa trẻ và người đàn
bà yếu nhất có thể có ảnh hưởng thuyết phục của một bà mẹ.
KÍCH THÍCH NHỮNG
SỞ THÍCH MỚI
Không phải là vấn đề về kỷ thuật –
cách nào - mà chính là thái độ mới quyết định sự thành công hay
thất bại. Tình yêu thật và sự tận hiến, lòng quí mến và kính
trọng chân thành đưa đến sự thõa mãn và tương hợp hỗ tương. Sự
say mê thích thú về người bạn mình sẽ giúp nhận ra, mà không cần
phải học về tâm lý, tại sao người chồng miễn cưỡng tham gia
những buổi sinh hoạt tiệc trà của những người bạn. Sự mệt mỏi
không phải là lý do thật. Nếu chàng thích giao tế xã hội nhiều,
chàng sẽ không cảm thấy mệt mỏi. Chẳng hạn như chơi bài với các
bạn có thể làm chàng có nghị lực ngay. Nhưng ngoài cái đó ra,
chàng có thể cảm thấy chán. Nhưng lý do chính yếu nằm đằng sau
tất cả những cảm giác không mấy thích thú đó là vì chàng đã
không được huấn luyện cho sự tham gia sinh hoạt xã hội. Có thể
chàng nghĩ rằng đến với họ là một sự phung phí thời gian và
không có gì gọi là một kết quả tốt đẹp từ một sinh hoạt như thế.
Chàng có thể là một người theo chủ nghĩa vật chất nên chỉ xem
những công việc có tính cách vật chất là những điều có giá trị
trong đời. Hoặc có thể chàng muốn trổi vượt và đã được huấn
luyện kỹ lưỡng để đóng vai trò lãnh đạo trong công việc, trong
gia đình với bao nhiêu người phụ tá quí mến chàng, nên chàng cảm
thấy mình sẽ bị mất hút giữa một nhóm đông người thuộc những
thành phần xã hội khác nhau. Không một ai sẽ chú ý đến chàng và
cũng rất có thể là chàng không thể tranh với sự khéo léo về giao
tế, về xã hội cũng như về khả năng của những người đó.
Một người vợ biết tế nhị, cảm
thông, và nhạy cảm đối với người chồng sẽ khéo léo xếp đặt những
cuộc giao tiếp xã hội như thế để những cuộc giao tế đó mang lại
cho chàng một sự khuây khõa hay một sự thỏa mãn nào đó. Nàng nên
cố gắng làm hết mọi cách để giúp chàng thay đổi cái nhìn của
chàng và mang lại cho chàng những giá trị mà trước đây chàng
chưa khám phá ra. Thật là dễ dàng để làm cho ông chồng khám phá
ra sự thú vị của một căn nhà đẹp hay của những bữa ăn được nấu
nướng kỹ càng hơn là khám phá ra cái thú vị của những cuốn sách
có những tư tưởng hấp dẫn khi chàng chưa từng có một cảm nghiệm
gì trước đây. Một số người nghĩ rằng sở dĩ chàng chưa thưởng
thức được những thú vị mà người vợ thích thú là vì chàng chưa
làm quen được. Có thể chàng đã ăn, nhưng chưa quen được với
những món ăn ngon mà người vợ nấu nướng. Có thể chàng đã đọc
sách, nhưng không hẳn là đọc những sách có những tư tưởng hấp
dẫn. Cũng có thể là chàng đã nghe nhạc nhưng không hẳn là được
nghe những nhạc hay. Chúng ta phải học thưởng thức nhạc hay mà
người vợ thích, loại thức ăn mà bà vợ nấu, những cuốn sách mà
nàng ngưỡng mộ.
Trong trường hợp nầy, điều quan
trọng là người vợ muốn rằng người chồng phải nhận ra giá trị của
việc nàng nấu nướng vì sự nhận biết như thế làm gia tăng giá trị
của nàng. Nếu nàng thật sự muốn chàng thích đọc những cuốn sách
hay, nàng có thể yêu cầu chàng cho thấy cái nhìn của chàng để bổ
túc cho cái nhìn riêng của nàng. Một cách căn bản, sự yêu cầu
của nàng phải thành thật và phải kính trọng cái nhìn của chàng.
Thoạt đầu, cái gì mới thì vô vị, đôi khi còn có cảm giác là lạ
lùng và lẫn lộn. Nói chung, vị giác thường bị ảnh hưởng bỡi
những kinh nghiệm được lập đi lập lại nhiều lần hay bỡi được
huấn luyện. Trong lúc giới thiệu một vài kinh nghiệm mới cho bất
cứ ai, nếu không ý tứ, thay vì làm cho người ta cảm thấy hấp
dẫn, bấy giờ sẽ làm cho họ cảm thấy chán nản và thất vọng để rồi
chúng ta phải tốn mất nhiều thời gian để thuyết phục. Một người
vợ muốn chồng đi thưởng thức hòa nhạc khi chàng không hiểu nhạc
cổ điển là gì thì phải đi từng bước một. Nàng phải cẩn thận chọn
chương trình và cũng phải xem một vài màn phụ xen kẽ vào đó nữa.
Không nên khó và cũng không nên quá lâu để chàng còn thích thú
đi kèm bà vợ và cũng để chàng thưởng thức được cái mà nàng thích
thú. Nhưng có quá nhiều bà đã làm mất đi những cơ hội tốt đó chỉ
vì họ đã làm cho các ông cảm thấy xấu hổ bỡi cái nhìn của họ coi
thế giới công việc của các ông như một cái gì thấp kém. Họ tỏ ra
khó chịu đối với sự kháng cự của chàng khi thấy chàng có phản
ứng ngược lại với những giá trị văn hóa cao hơn. Thay vì cảm
thông với những khó khăn mà một người đàn ông cần phải thắng
vượt, họ tỏ ra giận dữ với sự do dự và lo lắng của chàng. Lẽ ra
một cuộc giải trí như vậy phải là nguồn của sự thích thú với
nhau lại trở nên nguyên nhân của sự giao tranh, một bổn phận
không vui thích cho phía bên nầy và một quyền lợi bị tước đoạt
cho phía bên kia.
Mặc dầu thường là người vợ cố gắng
lôi kéo người chồng, nhưng cũng có những trường hợp người đàn
ông là người thích thú hơn trong vấn đề nghệ thuật, văn hóa. Đối
với những người nầy, trong hết mọi trường hợp, chàng muốn vợ
mình chia xẻ sự thích thú của chàng mà rất có thể là cái gì mới
mẻ đối với chàng. Như một định luật tự nhiên, các bà ít có sự
khó khăn với việc chìm đắm trong sự thích thú và sinh hoạt của
chồng nếu so sánh với đàn ông. Một khi người đàn bà đã thích một
người đàn ông, nàng cảm thấy không có gì đe dọa đối với tiếng
tăm của nàng trong việc tuân theo sự dẫn dắt của chàng ngay cả
đi vào trong lãnh vực xem ra thuộc đàn ông như thể thao, thể
dục. Chỉ nếu những trò giải trí của chàng không cho phép nàng
tham dự và chia xẻ sự thích thú của chàng chẳng hạn như làm thợ
mộc, đắp tượng, thu thập tem…chắc chắn nàng không thích tham dự
những sinh hoạt giải trí đó.
Nơi nào không có người bạn phối
ngẫu can thiệp vào, nơi đó mỗi người cho thấy sự chịu đựng và
cảm thông, mỗi người có thể hưởng thụ sự thích thú mà người kia
không muốn hoặc không thể chia xẻ. Vì thế, sự hiện diện của
những sở thích đối nghịch không là nguyên nhân của sự chán nản,
thất vọng nhưng là kết quả của sự thiếu cộng tác và của sự không
còn thích thú lẫn nhau. Thật vậy, những sở thích trong cùng lãnh
vực cũng như trong công việc chung cũng có thể có nhiều cơ hội
cho sự đụng chạm và căng thẳng, đặc biệt nếu sự cạnh tranh phát
triển. Một cặp vợ chồng cưới nhau và chung sống với nhau một
cách hạnh phúc luôn cố gắng phát triển những sở thích giống nhau
trong cuộc sống chung. Những kinh nghiệm được chia xẻ của họ, sự
xoay chuyển của những biến cố, những ấn tượng vui cũng như buồn,
những lo âu cũng như thỏa mãn là những nối kết mạnh mà cuối cùng
trong tuổi già không chỉ khiến họ hành động mà còn ngay cả xem
ra giống nhau nữa. Làm cùng một khối giống nhau như thế là kết
quả của một cái gì khác hơn là tập quán. Nó rộng lớn hơn và sâu
xa hơn. Nó trở thành cái thói quen thích hoặc không thích những
cái giống nhau có liên quan đến cuộc sống trong những vấn đề lớn
cũng như chuyện nhỏ hầu như với một cái nhìn giống nhau. Sự phát
triển những sở thích giống nhau là tự nhiên nhưng nó ám chỉ
những cố gắng thật để loại bỏ những đối nghịch có thể xen vào và
tạo cho thời gian nhàn rỗi của họ một cảm nghiệm thích thú cho
cả hai bên.
Một ví dụ tiêu biểu về những sở
thích trái ngược và kết quả tai hại trên sự hài hòa hôn nhân là
trường hợp của cô Nguyễn thi huyền Linh. Cô H. Linh là một thiếu
phụ trẻ với những sở thích rộng rãi và tự do. Cô lấy ông anh của
người bạn gái của cô. Trong lúc cô và bạn cô rất phù hợp với
nhau trong những sở thích, cô mong người anh của bạn cô cũng
giống như thế. Sau thời gian tán tỉnh, chàng rất để ý chia xẻ
những sinh hoạt của nàng. Họ lấy nhau trong khi chàng còn ở
trong quân ngũ, không lâu trước khi chàng đi công tác ở hải
ngoại. Khi chàng trở lại, họ rất là thắm thiết với nhau nhưng
rồi sau đó sự chán nản bắt đầu. Nàng khám phá ra chàng không
thích nhạc cổ điển, chỉ thích ánh đèn của sân khấu tân nhạc. Về
chính trị thì chàng có quan niệm đối nghịch với quan niện của
gia đình. Cô cảm thấy mình bị lừa và thấy thương đau. Nàng càng
phê bình và chỉ trích chàng về việc miễn cưỡng đi tham dự hòa
nhạc, chàng càng giữ vững lập trường. Những tranh cãi và va chạm
đã ảnh hưởng liên hệ vợ chồng. Nàng mất đi sự thích thú trong
việc liên hệ vợ chồng, chàng càng đòi hỏi. Nàng cảm thấy bị lạm
dụng và ngưng đáp trả. Vào lúc nầy, nàng đi bác sĩ tâm lý để xin
giúp ý kiến và nàng đã bắt đầu muốn tham khảo vấn đề ly dị.
Sau khi lắng nghe tất cả những
than phiền của cô ta, tôi đề nghị gặp cả hai bên. Sau đó có sự
hội ngộ ba chiều. Rõ ràng là chàng rất yêu nàng. Chàng rất là
vui vẻ, phấn khởi, và hạnh phúc nhưng không hiểu tại sao nàng
lại không? Chàng tỏ ra làm bất cứ điều gì cần thiết nhưng nàng
vẫn giữ vững lập trường. Chàng cũng đã hứa hợp tác nhưng rồi lại
không làm. Chàng chấp nhận là chàng không biết tại sao lại không
thể bỏ những chuyện đã làm cho nàng sinh ra hận thù, và tại sao
dẫu chàng muốn phù hợp với những ước nguyện của nàng, chàng lại
không muốn làm như thế. Rõ ràng là nàng hoàn toàn đúng trong
những phàn nàn của nàng. Trên bề mặt lý luận, chàng quả thật là
sai. Nhưng xét về tâm lý, nàng chính là nguyên nhân của những
xung khắc. Sự giận dữ, áp lựa, và bất đồng là những nguyên nhân
thật của sự xung đột và làm nguy hại cuộc hôn nhân. Trong khi
nàng là người quan trọng, là tất cả số phận của hôn nhân tùy
thuộc vào thái độ của nàng vì chàng muốn kết hợp với nàng. Tôi
quyết định và đề nghị chính nàng là người cần nên được giúp đỡ
về phương diện tâm lý.
Sau một vài lần gặp gỡ, tình thế
thay đổi hẳn. Nàng nhận ra được điều đó nên nàng đã không còn
giận dữ và khiêu khích nữa. Hậu quả thấy ngay trong tương quan
giữa họ tiến triển tức thời. Họ xem ra thân thiết và yêu đương
trở lại. Cuộc sống vợ chồng bình thường và người chồng cũng bình
thường trở lại. Từ đó nàng học cách đối đãi với chồng trong một
cách thế khác biệt. Nàng nhận ra nàng có thể cảm thông được
những khó khăn của chàng trong việc phải ngồi suốt chương trình
nặng nề khi phải đi dự buổi hòa nhạc. Trong vấn đề chính trị,
nàng có thể bảo chàng bày tỏ quan điểm riêng, biết quí trọng
việc nàng có thêm một quan điểm từ phía đối phương, thay vì
khiển trách chàng vì quan điểm khác biệt của chàng. Nàng nhận ra
rằng trong khi nàng tố cáo chàng về thái độ thiếu dân chủ, thái
độ của nàng về sự thiếu kiên nhẫn đối với quan điểm chính trị
của chàng có thể không được xem là dân chủ. Với thái độ trọng
kính về phía nàng, có thể mong đợi rằng những ý kiến và khẩu vị
riêng của chàng sẽ dần dần làm quen với nàng và cả hai sẽ xích
lại gần hơn vì sự bất đồng bạo động và mạ lỵ của nàng là lý do
chính khiến chàng giữ thế đối nghịch chỉ vì muốn giữ thể diện và
sự tự trọng của chàng.
Yếu tố quyết định trong việc hồi
phục hôn nhân nầy là sự nhận thức ra rằng lý luận đúng thì không
đủ, và rằng nàng phải chấp nhận con người chàng nữa và cũng phải
bắt đầu quan tâm những điều mà nàng có thể làm được.
Lm
Lê Văn Quảng Psy.D. |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN, CHỨNG NHÂN
PHÚC ÂM VÀ THĂNG TIẾN CON NGƯỜI
|
|
NGUYỄN HỌC TẬP
I - Vai trò không thể thay thế
của người tín hữu giáo dân.
1 - Đức Giáo Hoàng Gioan Pholồ II
trong phần đầu của Tông Điệp " Người tín hữu giáo dân" (
Christifideles laici) đã đề cập đến vai trò không thể thay thế
của người tín hũu giáo dân trong các lãnh vực trần thế như sau:
- " Trong thời điểm huy hoàng
và thảm đạm nầy của lịch sử, trước ngàn năm thứ ba đang đến,
những hoàn cảnh mới, đối với Giáo Hội cũng như xã hội, chính trị
và kinh tế, hiện nay đòi buộc với một động lực đặc biệt tác động
của các người tín hữu giáo dân. Nếu thái độ dững dưng buôn trôi
lúc nào cũng có thể bị coi là cách hành xử không thể chấp nhận
được, thì trước thời điểm hiện tại thái độ đó là thái độ tội
phạm. Không ai được phép ăn không ngồi rồi phủi tay, điềm nhiên
toạ thị " ( Gioan Phaolồ II, Christifideles laici (
30.12.1988), n. 3).
Giải thích một cách nôm na câu văn
vừa kể của Thông Điệp:
- người tín hữu giáo dân trưởng
thành cần phải dấn thân rao giảng Phúc Âm
- và đem phục vụ Ki Tô giáo vào
trần thế.
Nói cách khác, không có người tín
hữu giáo dân trưởng thành và dấn thân, hiện nay Giáo Hội không
thể hiện diện được giữa trần thế các động tác để chu toàn sứ
mạng rao giảng Phúc Âm của mình.
Nói như vậy không có nghĩa là từ
nay Giáo Hội có thể rao giảng Phúc Âm không cần có hàng giáo
phẩm, mà là một nhận thức đức tin trưởng thành để truyền bá Phúc
Âm trong môi trường đổi mới của thế giới hiện tại.
Nhận thức trên nói lên xác tín của
mọi thành phần Giáo Hội đều đều có bổn phận
- " tham dự vào lãnh vực
trần thế, là phận vụ phát xuất từ bản tính nội tại và sứ mạng
của mình" ( G. Phaolồ II, Christifideles laici, n. 15).
Điều vừa kể về bổn phận hiện diện
giữa trần thế của Giáo Hội đưa đến một kết luận quan trọng:
- trần thế không phải là nơi
lưu đày cần phải thoát ly, vượt ngục, trống chạy,
- mà là một " không gian
thần học", nơi mà mọi tín hữu Chúa Ki Tô đều được mời gọi
sống và tác động ở đó để rao giảng và nhân chứng cho ơn cứu rỗi
của Chúa Ki Tô.
Người tín hữu giáo dân có bổn phận
đặc biệt trong phận vụ tác động đó của cả Giáo Hội:
- " Hình ảnh Phúc Âm về
muối, ánh sáng và men bột, mặc dầu liên hệ đến bất cứ thành phần
nào đối các môn đệ Chúa Giêsu, nhưng nói lên ý nghĩa áp dụng cá
biệt đối với người tín hữu giáo dân. Đó là những hình ảnh mang
những ý nghĩa huy hoàng, bởi vì nói lên không những người tín
hữu giáo dân là những người được hội nhập sâu đậm vào đất đai,
vào trần thế, vào cộng đồng nhân loại, mà còn và nhứt là nói lên
điều mới mẻ và đặc sắc của cộng cuộc hội nhập và tham dự của họ
để phổ biến Phúc Âm cứu rổi " ( G. Phaolo II,
Christifideles laici, n. 15).
Người tín hữu giáo dân, mặc dầu
với đặc tính trần thế của mình ( Gioan XXIII, Mater et
Magistra, n. 239), không phải là một cơ thể tách biệt, một
tế bào lơ lửng trôi đó, trôi đây trong cơ quan thân thể Giáo
Hội.
Người tín hữu giáo dân không nhận
lãnh lệnh dấn thân phục vụ xã hội và chính trị do Giám Mục hay
Cha Sở " ủy thác" cho, mà lãnh nhận sứ mạng trực tiếp từ
Chúa Giêsu trong Phép Rửa.
Ơn gọi sống và tác động giữa trần
thế của họ là ợn gọi bẩm sinh, được củng cố thêm bằng Phép Thêm
Sức và mỗi ngày lớn lên bằng Phép Thánh Thể, đặt người tín hữu
giáo dân có địa vị và quyền đầy đủ trong cộng đồng Giáo Hội.
Trong mối hiệp thông giữa các
thành phần trong cộng đồng Giáo Hội với nhau, không có sự phân
biệt về địa vị và trách nhiệm đối với sứ mạng chung của Giáo
Hội:
" Một vài thành phần do ý muốn
của Chúa Giêsu được thiết lập thành tiến sĩ, kẻ khác phân phát
các Bí Tích , cũng như mục tử cho người khác, nhưng vẫn luôn
hiện hữu quyền bình đẳng về địa vị và động tác chung đối với mọi
tín hữu trong việc xây dựng thân thể Chúa Ki Tô" ( Lumen
Gentium, n. 32).
2 - Trở lại vai trò của người tín
hữu giáo dân, chúng ta thấy được họ là những người có vai trò "
tổng hợp".
Trước hết, trong cuộc sống cá nhân
của mình, người tín hữu giáo dân là người tổng hợp giữa đức tin
và cuộc sống lịch sử trần thế, giữa đức tin và văn hoá, giữa đức
tin và chính trị, mà chính Giáo Hội cũng phải hành xử tương tợ
để có thể " hiện diện" rao giảng Phúc Âm giữa trần thế.
" Nhân chứng huy hoàng và có
sức thuyết phục của sức mạnh có khả năng chuyển đổi của Phúc Âm
là sự tổng hợp sống động mà người tín hữu giáo dân biết thực
hiện giữa Phúc Âm và cuộc sống thường nhật " ( G. Phaolồ II,
Christifideles laici, n. 34).
Cũng vậy nhân chứng có khả năng
thuyết phục của một nền văn minh mới mẻ đặt nền móng trên tình
thương mà Giáo Hội có thể thực hiện được là
- khả năng tổng hợp giữa Lời Chúa
và cuộc sống,
- giữa rao giảng Phúc Âm và thăng
tiến con người,
- giữa tình thương đối với Chúa và
phục vụ anh em.
Bổn phận không ai có thể thay thế
được đó là bổn phận của người tín hữu giáo dân, đem ra thực hành
những gì hàm chứa trong huấn vụ xã hội của Giáo Hội.
Chỉ có thể qua người tín hữu giáo
dân, mà Giáo Hội hiện diện được đầy đủ và hiệu nghiệm nơi trong
các lãnh vực trần thế, và thực hiện được trung thành sứ mạng mà
Chúa Giêsu đã ủy thác cho, khi Người lập Giáo Hội: loan
báo và thực hiện ơn cứu rổi bằng rao giảng Phúc Âm và thăng tiến
con người.
II - Vai trò người tín hữu giáo
dân trong chính trị.
a) Chưa bao giờ Giáo Hội nhấn mạnh
đến việc người tín hữu giáo dân cần thiết phải hiện diện và hiện
diện năng động, kể cả chủ động, trong lãnh vực xã hội và chính
trị như hiện nay.
Giáo Hội luôn luôn nhắc đi nhắc
lại và nói một cách rõ ràng việc cần thiết người tín hữu giáo
dân trung thực biến đổi, chuyển hóa các nội dung huấn dụ xã hội,
mà Giáo Hội đã liên tục huấn dạy trên 100 năm nay, thành thực
hành, biến xã hội con người đang sống thành tổ chức một "
xã hội tình thương".
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II đã
khuyến khích người tín hữu giáo dân phải hiện diện tích cực,
năng động và chủ động trong lãnh vực xã hội và chính trị, ngay
cả việc dấn thân vào các lãnh vực vừa kể, lãnh vực của những ai
hành xử công quyền, có thể là môi trường và cơ hội cho nhiều
nguy hiểm lệch lạc luân lý:
- " Người tín hữu giáo dân
không thể vắng bóng trong việc tham dự vào chính trị (...).Những
tố cáo cho rằng làm chính trị làm để được thành đạt, lấy quyền
bính làm thần tượng, là môi trường đầy tham nhủng (...) hay ngay
cả ý kiến cho rằng (...) chính trị là môi trường chắc chắn sẽ
đưa đến nguy hiểm luân lý. Tất cả những suy nghĩ đó không cách
gì có thể biện minh cho tâm trạng tiêu cực, cũng như cho " thối
thoát vắng bóng" của người tín hữu Chúa Ki Tô trong công việc
chung " ( G. Phaolồ II, Christifideles laici, n. 42).
Lý do tại sao Giáo Hội luôn luôn
mời gọi khẩn thiết và nhấn mạnh sự hiện diện không thể thiếu của
người tín hữu giáo dân trong chính trị?
a) Chuổi thứ nhứt của các lý
do, đó là những thay đổi sâu đậm về xã hội trong thời đại chúng
ta.
Những cuộc thay đổi và khủng hoảng
của thế giới hiện đại trực tiếp kêu cứu đến Giáo Hội và đến suy
tư và động tác của các tín hữu trong Giáo Hội.
Công Đồng Vatican II đã nhiều lần
nhấn mạnh đến ảnh hưởng của Giáo Hội liên quan đến các hoàn cảnh
lịch sử và đến các biến chuyển xã hội ,văn hoá:
- " Giáo Hội cùng bước đi
với cả nhân loại và có kinh nghiệm cùng chung số phận với thế
giới" ( Gaudium et Spes, n. 41).
Bức tường Bá Linh đã sụp đổ, đánh
dấu biến cố phá sản của ý thức hệ không tưởng và phi nhân cuối
cùng còn sót lại của thế kỷ 18. vừa báo động cho chúng ta biết
những thử thách luân lý của thế kỷ 20 mà chúng ta còn đang nắm
trong tay.
Giải quyết vấn đề, liên quan đến
một tương lai tươi đẹp hơn cho nhân loại, hệ tại ở việc chuyên
cần, dấn thân canh tân hoá xã hội và chính trị, có khả năng giải
đáp thoả đáng các liên quan luân lý của những khúc mắc cần được
giải quyết.
Hiện nay không ai còn ngây thơ cho
rằng một xã hội lý tưởng mới được phát sinh chỉ là kết quả của
phương thức tổ chức hiệu năng và hữu hiệu kinh tế, luật pháp hay
quân sự.
Tất cả chúng ta đều xác tín rằng,
tương lai ngày mai sẽ sáng lạng hơn, cùng chung với việc thay
đổi và thích hợp hơn các phương thức cấu trúc cho cuộc sống
chung, nếu chúng ta thực hiện được những thay đổi về tâm thức
và lối sống, được hướng dẫn bằng những thay đổi theo
những giá trị chính xác luân lý và tôn giáo.
Nhìn lại thế kỷ 20 vừa qua đi,
chúng ta thấy những gì đã xảy ra, chứng thực một cách thảm đạm
và chính xác những gì Đức Giáo Hoàng Phaolồ VI đã tuyên đoán:
- " Con người chỉ có thể thực
hiện được chính mình, bằng cách siêu nhiên hoá chính mình( se
transcendendum)...Dĩ nhiên, con người có thể tổ chức cuộc sống
trần gian không cần có Chúa, nhưng không có Chúa, thế nào rồi
con người cũng sẽ tổ chức cuộc sống làm hại cho chính mình"
( Paolo VI, Populorum progressio, n. 42).
Giữa cơn khủng hoảng siêu nhiên và
luân lý như vừa kể của cuộc sống xã hội hiện tại, làm sao người
tín hữu Chúa Ki Tô lại có thể vắng bóng được?
b) Giáo Hội đã trưởng thành - nhứt
là nhờ Công Đồng Vatican II - ý thức hơn về các liên hệ của sứ
mạng truyền giáo của mình, sứ mạng rao giảng Phúc Âm mà mình có
bổn phận đem đến cho con người liên hệ và hàm chứa bổn phận, ánh
sáng và sức mạnh có thể góp phần để làm cho sinh trưởng ra
một xã hội mới, công bằng hơn, thân hữu và liên đới hổ
tương hơn, yêu thương hơn cho cộng đồng nhân loại.
Ý thức hơn về sứ mạng của mình và
về mối liên quan nội tại giữa rao giảng Phúc Âm và thăng tiến
con người, nói lên một chuổi các nguyên cớ khác, khiến Giáo Hội
hôm nay xác nhận rằng mình có quyền và bổn phận hiện diện
trong xã hội con người.
Góp phần xây dựng một xã
hội nhân bản hơn, liên đới thân hữu hổ tương hơn là
phần thiết yếu của chính sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội.
Bởi đó càng lúc càng thường xuyên
hơn,
- không những Giáo Hội cho biết
lý do về việc huấn dạy, đưa ra các chỉ thị liên quan đến khuôn
mẫu xây dựng một xã hội nhân bản, xứng đáng với nhân phẩm con
người, con Thiên Chúa của mình,
- mà còn đưa ra những tiêu
chuẩn phải có cho việc kiến tạo và thực thi xã hội lý tưởng đó.
Qua những gì vừa kể, các tiêu
chuẩn mà Giáo Hội đưa ra liên quan đến việc tổ chức một xã hội
tốt đep hơn cho con nguời gồm hai lãnh vực:
+) Việc lựa chọn đường
lối xã hội- chính trị của người tín hữu giáo dân:
" Người tín hữu giáo dân có bổn
phận làm cho Giáo Hội thể hiện và năng động tích cực ở những nơi
và trong những trường hợp, trong đó Giáo Hội không có cách nào
trở thành muối cho thế gian, nếu không phải là qua chính họ"
( Lumen Gentium, n.33), nghĩa là trong những lãnh vực trần thế,
để chia xẻ số phận và các vấn đề của người nghèo, của kẻ bị loại
ra bên lề xã hội, trong các hoàn cảnh tương phản và tranh chấp
xã hội, trong lãnh vực việc làm, trong gia đình, học đường, nghề
nghiệp.
+) Việc lựa chọn có tính
cách tôn giáo, của cộng đồng Giáo Hội:
Chính việc lựa chọn tính cách tôn
giáo của cồng đồng Giáo Hội là hình thức hiện diện thứ hai trong
xã hội của Giáo Hội, hiện diện qua những ai nhờ ơn gọi được mời
gọi trở thành thừa tác viên, đáp ứng lại ơn kêu gọi của mình.
Ơn gọi sống đời người tín hữu giáo
dân và ơn gọi chủ chăn, thừa tác viên qua phép truyền chức,
không phải là hai lối chọn lựa trái ngược nhau, cho bằng là hai
cách sống bổ túc cho nhau.
Như mọi nổ lực rao giảng Phúc Âm
cần được thể hiện bằng động tác phục vụ biến cải xã hội thành xã
hội xứng đáng với nhân phẩm con người,
cũng vậy mọi cuộc dấn thân chuyên
cần để thăng tiến con người, phục vụ dưới ánh sáng Phúc Âm, luôn
luôn biến thành động tách rao giảng Phúc Âm:
- " Hành động vì công lý và
tham gia cải tiến thế gian đều thể hiện rõ rệt cho chúng ta
chiều hướng cấu trúc cho việc rao giảng Phúc Âm, nghĩa là sứ
mạng của Giáo Hội đem ơn cứu rỗi đến cho nhân loại và giải phóng
con người khỏi mọi trạng thái áp bức" ( Sinodo 1971,
Documento sulla giustizzia nel mondo, Introduzione, in EV
IV/1243).
Qua những tư tưởng dẫn nhập vừa
được đề cập, lịch sử và thần học, Giáo Hội có thể rút ra những
lý do chính cho việc nhấn mạnh mời gọi người tín hữu giáo dân
dấn thân vào các lãnh vực xã hội, nhứt là lãnh vực chính trị.
III - A - Tầm vóc quan
trọng của chính trị.
Có hai lý do thúc đẩy Giáo Hội
nhấn mạnh đến bổn phận của người tín hữu giáo dân tích cực dấn
thân vào chính trị:
a) Lý do thứ nhứt được đặt nền
tảng trên vai trò quyết định của chính trị đến đời sống cá nhân
và xã hội của con người, mặc cho những bất toàn và giới hạn của
nó.
Ai trong chúng ta cũng có kinh
nghiệm trên bản thân những quyết định chính trị liên quan đến
mình, ảnh hưởng đến đời sống cá nhân và xã hội của mình?
- Việc tăng thuế trên giá xăng
dầu,
- tăng hay giảm thuế trị giá gia
tăng của các sản phẩm nhu yếu,
- tăng giá phiếu khám sức khoẻ mỗi
khi vào bệnh viện,
- tăng thêm hay giảm lệ phí học
đường đối với con em, tùy theo lợi tức của phụ huynh,
- tăng thêm mức tuổi thối thiểu để
được về hưu...
Đó là gì, nếu không phải là những
quyết định chính trị, đụng chạm thẳng đến mức sống và túi tiền
của chúng ta?
Đó là chưa kể nên đánh hay làm hoà
với Cambodia, Ký thoả ước thương mãi với Hoa Kỳ và Tây Âu hay
với Trung Cộng?
b) Lý do kế đến có tính cách thần
học: chính trị có nguồn gốc căn nguyên được đặt trên bản thể con
người và cuộc sống xã hội của con người.
Nói cách khác, chính trị được đặt
nền tảng trên chính bản thể con người, trên những gì Chúa muốn
cho cách sống của con người, khi Ngài dựng nên con người:
- " Dĩ nhiên là cộng đồng chính
trị và công quyền có nền tảng của chúng được đặt trong bản tính
của con người và do đó thuộc về trật tự đã được Chúa thiết lập"
( Gaudium et Spes, n.74).
Như vậy chính trị, nếu được tổ
chức và sống hành xử một cách chính đáng phải có, trong tinh
thần phục vụ, thành tín và tương ứng với khả năng, là một trong
những hoạt động quan trọng nhứt.
Bởi vì chính trị ảnh hưởng một
cách quyết định đến cuộc sống con người và liên hệ đến các khía
cạnh nền tảng của đời sống cá nhân và chung sống xã hội: gia
đình, việc làm, sức khoẻ, học đường, nhà cửa và cả đến việc bảo
vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người.
Hơn nữa, nhiều quyết định chính
trị ảnh hưởng quan trọng đến các thế hệ tương lai và đến vận
mệnh của nhân loại, nhứt là trong viễn ảnh liên hệ toàn cầu hoá
của thế giới hiệ tại của chúng ta.
Còn nữa, sau khi bức tường Bá Linh
sụp đổ, cuộc chống đối giữa ý thức hệ Cộng Sản và không Cộng Sản
không còn nữa, ít nhứt là đối với những Quốc Gia Tây Âu.
Nhưng một khi cuộc những cuộc chạm
trán ý thức hệ không còn, xã hội dễ trở thành xã hội đa nguyên
và nếu xã hội đa nguyên không có được những giá trị cố định về
con người hướng dẫn, xã hội sẽ trở thành bất định và dễ băng
hoại.
Người tín hữu Chúa Ki Tô là những
người mang trong mình giá trị cao cả về địa vị con người, có thể
góp phần quan trọng định hướng cho xã hội.
B - Thăng tiến con người là yếu
tố thiết yếu của sứ điệp Phúc Âm.
Và đây là những gì chúng ta biết
được về đề tài đang bàn qua các Văn Bản Tổng Kết ( Compendio)
về Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội:
N. 66: Huấn dụ xã hội là phần
thiết yếu của chức năng rao giảng Phúc Âm của Giáo Hội.
Tất cả những gì có liên quan đến
cộng đồng con người, đến các hoàn cảnh và vấn đề liên quan đến
công lý, giải thoát, phát triển, liên hệ giữa các dân tộc, hoà
binh, không phải là những gì ngoại tại không liên quan gì đến
rao giảng Phúc Âm. Và việc rao giảng Phúc Âm sẽ không đầy đủ,
nếu lời kêu gọi vẫn tiếp tục không liên kết nhau giữa Phúc Âm và
đới sống thực tế, cá nhân và xã hội của con người.
Giữa rao giảng Phúc Âm và thăng
tiến con người có những mối liên hệ sâu đậm:
- Các mối liên hệ trên bình
diện nhân loại, bởi vì con người được Phúc Âm rao giảng cho
không phải là một con người trừu tượng, mà là con người với các
điều kiện xã hội và kinh tế thiết thực của mình.
- Các mối liên hệ trên bình
diện thần học, bởi vì không ai có thể tách rời chương trình tạo
dựng ra khỏi chương trình cứu rỗi được. Bởi lẽ chương trình cứu
rỗi liên hệ đến cả những hoàn cảnh thực tại bất công cần phá đổ
và hoàn cảnh thực tại công bình cần được xây dựng.
- Các mối liên hệ đặc biệt trên
bình diện Phúc Âm, đó là mối liên hệ đến bác ái: thật vậy, làm
sao có thể tuyên bố một điều răn mới, mà không thăng tiến công
lý và hoà bình thực sự, thăng tiến thực sự làm cho con người
được triển nở hoàn hảo"
( Phaolồ VI, Evangelium nuntiandi, n.31).
N. 67:" Huấn dụ xã hội của Giáo
Hội tự mình đã có giá trị là một dụng cụ để loan truyền Phúc Âm"
( G. Phaolồ II, Christifideles laici, n. 31).
Và huấn dụ xã hội của Giáo Hội
luôn luôn được phát triển và canh tân giữa sứ điệp Phúc Âm và
lịch sử con người.
Hiểu như vậy, chúng ta hiểu được
huấn dụ xã hội của Giáo Hội là phương thức đặc biệt để thực thi
phận vụ rao giảng lời Chúa và phận vụ ngôn sứ:
- " Đối với Giáo Hội, huấn dạy
và phổ biến huấn dụ xã hội thuộc về sứ mạng rao giảng Phúc Âm
của mình và là phần chính yếu của sứ điệp Ki Tô giáo, bởi vì các
huấn dụ đó cống hiến cho con người những hệ trọng trực tiếp đến
cuộc sống xã hội, đặt khuôn viên cho các động tác thường nhật và
chiến đấu cho công chính bằng nhân chứng rằng Chúa Ki Tô là Đấng
Cứu Thế" ( G. Phaolồ II, Christifideles laici, II, n. 5).
Như vậy huấn dụ xã hội của giáo
hội không phải là một lợi điểm hay hành động ngoại vi, thêm vào
sứ mạng của Giáo Hội, mà chính là trung tâm điểm của phận vụ.
Qua huấn dụ xã hội,
" Giáo Hội loan báo Thiên Chúa
và mầu nhiệm cứu rổi của Chúa Giêsu cho mỗi con người, và đồng
thời cũng mạc khải chính con người cho con người" ( id., n.
54).( Pontifico Consiglio della Giustizia e della Pace,
Compendio della Dottrina Sociale della Chiesa, Libreria Editrice
Vaticana, Città del Vaticana, 2004, 35-36).
Và phận vụ đó của Giáo Hội, được
thực thi không những bằng lời rao giảng, mà còn bằng cả nhân
chứng.
Thượng Hội Đồng các Giám Mục năm
1987 về " Ơn kêu gọi và sứ mạng của người tín hữu giáo dân
trong Giáo Hội và giữa trần thế ", lấy lại đề tài vừa đề cập
đến, được Công Đồng Vatican II đưa ra ánh sáng và được Thượng
Hội Đồng năm 1971 xác nhận, trong lời kêu gọi cuối cùng như
sau:
- " Việc dấn thân vào động tác
xã hội - chính trị của người tín hữu giáo dân, có nguồn gốc từ
trong đức tin của họ, bởi vì đức tin soi sáng toàn vẹn con người
và đời sống (...). Bởi đó muốn sống chính trực đời sống đức tin
và đời sống thường nhật của mình, cách sống đó phải được đi đôi
với việc dấn thân của người tín hữu giáo dân vào lãnh vực công
cộng, vào việc họ tham dự vào các cơ chế chính trị và xã hội,
cũng như góp phần vào cuộc sống thường nhật để thấm nhuần các
cấu trúc và hoạt động trần thế bằng ánh sáng Phúc Âm" (
Sinodo 1987, Vocazione e missione dei laici nella Chiesa e nel
mondo, Appello finale, . 10, in EV X/2230).
Thăng tiến con người và rao giảng
Phúc Âm liên hệ chặt chẽ với nhau.
Do đó, không thể có môt cuộc rao
giảng Phúc Âm thực sự với ý nghĩa đầy đủ phải có, nếu không tạo
được tiến bộ xã hội và thăng tiến con người.
Thật vậy, Đức Giáo Hoàng Gioan
Pholồ II đã xác quyết với chúng ta:
" Con người là con đường tiên
khởi và căn bản của Giáo Hội, con người được hiểu theo chân lý
trọn vẹn việc hiện hữu của mình, của cá nhân con người mình và
của những gì liên hệ đến thực thể cộng đồng và xã hội của mình"
( Gioan Phaolồ II, Redemptor hominis, n. 14, in EV VI/1209).
Rao giảng Phúc Âm
- không chỉ có nghĩa là loan
báo minh bạch sứ điệp Ki Tô giáo,
- mà đồng thời còn có nghĩa là
soi sáng lương tâm và trí nảo bằng ánh sáng Phúc Âm,
- thông truyền cho con người
nghị lực và phương thế có tính cách luân lý - tôn giáo, mặc dầu
là nghị lực và phương thế có tính cách siêu nhiên, có khả năng
định hướng các lựa chọn trần thế, văn hóa, xã hội, chính tri,
kinh tế, để góp phần quan trọng xây dựng một cuộc sống xứng đáng
với con người hơn, công chính hơn.
Điều vừa kể giải thích tại sao Lời
Chúa, cần phải được " hội nhập văn hoá ", nếu muốn được
mọi người hiểu rõ và tự do đón nhận.
" Hội nhập văn hóa" là Lời
Chúa phải được diễn dịch thành những giá trị, tư tưởng, ngôn ngữ
và phong tục tập quán của mỗi dân tộc.
Và như vậy, một khi được tự do đón
nhận, Lời Chúa có thể định hướng, qua tiến trình trung gian
điều giải chính trị, nền tảng cấu trúc và cơ chế Quốc Gia.
Không thể rao giảng loan báo và
sống Phúc Âm trong các hoàn cảnh lịch sử khác nhau, nếu chúng ta
không thay đổi và cải thiện được thế giới con người, dĩ nhiên là
cải thiện cả đường lối chính trị.
- Người công nhân hay chủ nhân
hành động như là người tín hữu Chúa Ki Tô trong lãnh vực mình,
thay đổi và cải thiện hoá thế giới làm việc.
- Học sinh, sinh viên và giáo
chức sống sứ mạng học đường như là bổn phận phải có của người
tín hữu Chúa Ki Tô, họ thay đổi và cải thiện hóa thế giới học
đường.
- Nhà chính trị tác động lãnh
vực chính trị, như là bổn phận phải có của người tín hữu Chúa Ki
Tô, nhà chính trị thay đổi và cải thiện hóa thế giới chính trị.
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Vài
trở ngại và cách ứng phó trong việc cầu nguyện |
|
[BẢN THẢO]
LINH MỤC GIÁO PHẬN SỐNG TU ĐỨC TOÀN DIỆN
TRONG BỐI CẢNH THỰC TẾ CỦA GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HÔM NAY
Lm.
Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss
CHƯƠNG BA
ỨNG
SINH LINH MỤC GIÁO PHẬN
tiếp theo
A.3 Vài trở ngại và
cách ứng phó trong việc cầu nguyện
A.3.1 Vấn đề lo ra, chia
trí
Một vấn đề thường được đặt ra là con người chúng
ta hay bị chia lòng chia trí trong khi cầu nguyện. Tại sao? Vì
sự yếu đuối và những hoài niệm nhỏ nhen về những tổn thương mà
con người gây nên cho nhau trong đời sống chung (“Miếng ngon
nhớ lâu, lời đau nhớ hoài”) hay những đam mê sắc dục kích
thích do phim ảnh, quan hệ, do cả trí tưởng tượng vẽ vời; và do
ma quỉ ghen tương phá hoại (không ăn được thì đạp đổ). Luxifer,
vốn là thiên thần ánh sáng, phạm tội một lần mà bị phạt đời đời,
trong khi con người phạm tội được Chúa thương xuống thế cứu vớt,
được tha không phải một mà nhiều lần, nên tìm cách ngăn
trở không cho ta kết hiệp mật thiết với Chúa, hầu mong cám dỗ
được ta, vì chúng biết rằng một khi chúng ta kết hiệp mật thiết
với Chúa thì chúng chẳng làm gì chúng ta được.
Làm thế nào để chống trả? Chúng ta đã chiến đấu
nhiều để gạt bỏ các chia trí đó đi, nhưng không thành công. Vậy
xin đề nghị đổi chiến thuật: Cách hay nhất là làm theo chỉ dẫn
của Phụng vụ, sống trong sự hiện diện của Chúa, tham dự cách ý
thức, tích cực và sống động vào cuộc cử hành, nhất là Thánh lễ,
tập trung chú ý theo dõi các cử chỉ và lời đọc của chủ tế, thầm
lặp lại các lời. Bằng cách đó, chúng ta vừa tránh được lo ra vừa
tập luyện trước các cử hành sẽ làm sau này. Các ứng sinh quen
quan sát và tập luyện như thế khi làm linh mục sẽ cử hành thánh
lễ cách chững chạc và thành thạo như đã làm linh mục lâu năm.
Ngoài ra, nỗ lực thực hành “phương pháp gậy
ông đập lưng ông” mà đối đầu giải quyết: Là lấy ngay điều
làm chúng ta chia trí mà trình bày với Chúa, cầu nguyện với
Ngài, xin Chúa biến đổi chúng ta và biến đổi người hay việc đang
khiến chúng ta bận tâm chia trí, kết hợp với lời khuyên của
thánh Phêrô: “Trong khi cầu nguyện, anh chị em hãy trao trút
nỗi lòng của anh chị em cho Chúa, vì Ngài hằng thương yêu chăm
sóc anh chị em”
Như thế, điều trước đây làm chúng ta chia trí thì bây giờ lại
trở thành cơ hội và phương thế cho chúng ta kết hiệp mật thiết
với Chúa.
A. 3.2 Cảm thấy khô khan
Chúng ta là một con người toàn thể gồm linh hồn
và thể xác. Nếu toàn thể con người chúng ta tập trung được cả
tinh thần, ý chí và tình cảm trong khi cầu nguyện thì tốt đẹp
biết bao. Nhưng nếu cảm thấy khô khan thì cũng đừng bỏ cầu
nguyện, dù lý trí và tình cảm vắng mặt thì thể xác chúng ta cũng
là chính chúng ta đang kiên trì ở trước tôn nhan Chúa, thờ lạy
Chúa. Cứ kiên trì cầu nguyện bằng cách giải bày với Chúa sự khô
khan của chúng ta, và như vậy sẽ không còn khô khan nữa, vì ta
đang hầu chuyện với Chúa đấy thôi.
Ai cũng đã trải nghiệm đời sống cầu nguyện, cá
nhân cũng như cộng đồng, trong niềm vui sốt sắng cũng như trong
khô khan nguội lạnh, nên cần thanh luyện và sửa chữa cách cầu
nguyện của mình. Hãy khiêm nhường chấp nhận những giới hạn yếu
đuối và bất lực của con người. Nhiều vị đại thánh cũng phải trải
qua những đêm tối của đức tin để được thanh tẩy trước khi bước
vào giai đoạn nhiệm hiệp với Thiên Chúa. Chúa Giêsu dạy phải
kiên trì cầu nguyện qua các dụ ngôn người bạn mượn bánh giữa đêm
khuya, hay đàn bà góa với vị quan tòa ngạo ngược…
Ngài cũng đã khuyến cáo: “Hãy tỉnh thức và
cầu nguyện luôn để khỏi sa chước cám dỗ, vì tinh thần hăng hái
nhưng xác thịt lại yếu đuối.”
Sự yếu đuối vốn là cái chung của thân phận con người, như thánh
Phaolô thú nhận: “Có ai trong anh chị em yếu đuối mà tôi
không cảm thấy yếu đuối, có ai trong anh chị em sa ngã mà tôi
không cảm thấy như thiêu như đốt”
và Ngài thúc giục “Hãy cầu nguyện không ngừng”
Thánh Ephrem nói cách ý vị: “Bạn hãy thưởng
thức món bạn ăn và đừng buồn vì bạn không ăn hết được. Kẻ khát
thì vui khi được uống, và chẳng buồn vì không uống cạn được
suối. Hãy để suối làm cho bạn đã khát, chứ đừng để cơn khát của
bạn uống cạn suối; vì nếu bạn hết khát mà suối không cạn thì khi
bạn lại khát, bạn có thể uống nữa; còn nếu như bạn hết khát mà
suối cũng cạn luôn thì việc bạn uống cạn suối sẽ trở nên tai họa
cho bạn. Hãy cảm tạ vì những gì bạn đã nhận được và đừng buồn vì
phần còn lại quá nhiều. Cái bạn đã tìm và đã lãnh được là phần
của bạn; ngoài ra cái còn lại là gia nghiệp sẽ được hưởng. Điều
mà trong một giờ bạn không lãnh được vì yếu đuối thì bạn có thể
lãnh nhận trong những giờ khác, nếu bạn kiên trì. Đừng vì tà ý
mà cố uống một hơi cho cạn cái không thể uống cạn một hơi; cũng
đừng vì ngu dốt mà không uống cái bạn chỉ có thể uống từ từ.”
A.3.3 Nhu cầu công việc
lôi cuốn
Cần phân biệt cầu nguyện độc hữu (dành riêng cho
việc cầu nguyện và chỉ việc cầu nguyện mà thôi) và cầu nguyện
liên lỉ (vừa làm việc vừa cầu nguyện, hay cầu nguyện trong khi
làm việc), nghĩa là biến công việc thành lời cầu nguyện. Thánh
Phaolô khuyên: “Dù ăn dù uống, hay làm bất cứ việc gì khác,
anh em hãy làm cho sáng Danh Chúa.” Nói một cách dễ hiểu là
mời Chúa Giêsu cùng làm công nọ việc kia với mình. Cách này phù
hợp với linh đạo linh mục triều chúng ta, là chúng ta nên thánh
bằng các thừa tác vụ mục vụ của mình.
Một cụ già chia sẻ với một cậu bé về đời sống
cầu nguyện liên lỉ. Cậu bé cho rằng không thể vừa làm việc vừa
cầu nguyện được. Cụ già mời cậu lên chiếc thuyền nan với hai mái
chèo có ghi chữ CẦU NGUYỆN ở cái này và LÀM VIỆC ở cái kia. Cụ
chỉ chèo với mái chèo “Làm Việc”. Con thuyền nan chòng chành và
quay vòng. Cậu bé kêu chóng mặt… Cụ già liền đổi tay với lấy mái
chèo “Cầu Nguyện” mà chèo. Con thuyền nan lại chòng chành và
quay vòng. Cậu bé kêu chóng mặt… Cụ đưa hai tay nắm lấy cả hai
mái chèo và cả hai tay nhịp nhàng cùng chèo. Thuyền nan nhẹ
nhàng lướt tới. Bấy giờ cậu mới hiểu ra và chấp nhận với cả khẩu
phục và tâm phục việc cầu nguyện liên lỉ. Cầu nguyện liên lỉ đưa
dẫn cuộc sống thiêng liêng của chúng ta như thế đó: “Việc tay
chúng con làm, xin Ngài củng cố, xin củng cố việc tay chúng con
làm”
Một điều quan trọng cần lưu ý: Tuy nhu cầu ông
việc thúc bách, chúng ta phải để ra một thời gian tương xứng cho
cầu nguyện độc hữu. Không thể chạy theo thị hiếu của người tham
dự hay của chính mình mà cử hành phụng vụ với một tốc độ gấp gáp
vội vàng như chớp, không có một giây phút nào cho suy tư, thì
kết quả là làm suy yếu về mặt thiêng liêng và là một gương xấu.
Một tình yêu mà cứ luôn được bày tỏ gấp gáp vội vàng, mắt cứ
nhìn đồng hồ, là tình yêu sớm nguội lạnh và tan vỡ.
A.3.4 Không có thời giờ
để cầu nguyện
Nhiều người than phiền không có đủ thời giờ để
cầu nguyện. Để đối lại than phiền đó, có người viết câu chuyện
hư cấu “GIỜ THỨ 25” ý nghĩa như sau: Một ngày kia, các
Thiên Thần buồn sầu thưa với Thiên Chúa: Nhân loại ngày nay
hầu như đã quên hẳn việc cầu nguyện. Cố vấn của thiên quốc
liền hỏi các Thiên Thần nguyên do tại sao. Các Thiên Thần lần
lượt trình bày: Nhân loại biết họ thiếu sót trong vấn đề cầu
nguyện và cũng thường hối tiếc về điều đó. Nhưng họ than là
không có thời gian để cầu nguyện.
Nghe vậy, cả triều thần thiên quốc lấy làm sửng
sốt vì một ngày dài 24 tiếng đồng hồ mà vẫn còn thiếu sao! Họ đề
nghị: Để ngăn chặn sự xuống dốc này của nhân loại, chúng ta
hãy suy nghĩ và tìm một giải pháp thích hợp.
Thế là cả thiên quốc hăng say đưa ra các biện
pháp làm sao giúp nhân loại tránh được đời sống qúa tiện nghi,
chạy theo vật chất, hãy trừng phạt thật nặng nề như lũ lụt, động
đất, dịch bệnh, v.v... để họ hồi tĩnh lại mà cầu nguyện lo cho
phần rỗi, như chính người Việt Nam thường nhận định: “Hữu sự
thì vái tứ phương, vô sự một đồng hương không mất!”
Có một Thiên Thần lên tiếng: Xin Thiên Chúa
cho ngày dài thêm ra một tiếng đồng hồ nữa, xem họ còn than
trách không có giờ cho việc cầu nguyện không? Đề nghị này cả
thiên quốc thấy hay, và Thiên Chúa đã cho ngày dài hơn một
tiếng. Giờ thứ 25 này được gọi là “giờ của Chúa”. Nhưng trái với
sự chờ đợi, vẫn không có nhiều lời cầu nguyện hơn nơi loài
người.
Các Thiên sứ lại được phái xuống trần gian để
thăm dò tin tức. Sau thời gian rảo bước khắp nơi, các Thiên Thần
trở về thiên quốc để báo cáo về tình hình hiện nay của nhân
loại. Một vị kể lại rằng các nhà kinh doanh than vì thay đổi giờ
nên cả tổ chức phải đổi lại, gây ra tốn kém và cần giờ để ổn
định lại. Còn các công đoàn tỏ ra hài lòng vì họ đã đòi hỏi từ
lâu việc thêm giờ này để cho công nhân nghỉ ngơi. Các chính trị
gia và các nhà trí thức bàn luận rất sôi nổi và kết luận: Không
ai có quyền bắt buộc người công dân phải làm gì với một giờ nào
đó. Một số người còn đi xa hơn phản đối là khi "ở trên" làm ra
giờ 25 đã không hỏi ý kiến "ở dưới", vì vậy không chấp nhận
được. Và cứ như thế, hầu như ai cũng có một lý do để giải thích
vì sao không thể dùng một giờ có thêm để cầu nguyện.
Sau cùng có một Thiên Thần kể về một số
người. Đó là những người đón nhận thời giờ được có thêm để tham
dự thánh lễ, để phục vụ tha nhân và cầu nguyện. Họ cảm thấy dễ
dàng hơn vì có thêm giờ. Nhưng các Thiên Sứ rất ngạc nhiên vì
khám phá ra rằng những người này cũng chính là những người khi
một ngày chỉ có 24 tiếng, họ vẫn có đủ thì giờ để cầu nguyện.
Thiên quốc nhận ra là thời gian không mang lại
thêm người cầu nguyện. Việc cầu nguyện là tác động của tình
yêu. Lý do con người không cầu nguyện không phải vì không có
thời gian, nhưng là mối tương quan giữa con người với Thiên Chúa
bị lãng quên. Nếu có tình yêu thì dù không có giờ người ta cũng
tìm ra giờ cho người mình thương mến. Và các Thiên Thần xin
Thiên Chúa cho ngày trở lại bình thường: Một năm với 365 ngày và
mỗi ngày có 24 giờ.
Mỗi người chúng ta bắt đầu làm tính cộng trừ
nhân chia, xem mỗi ngày chúng ta dành thời gian cho đời sống cầu
nguyện được bao nhiêu. Qua đó chúng ta biết được mối liên hệ
tình yêu giữa chúng ta với Thiên Chúa như thế nào.
Lạy Chúa,
Bước ra đường con gặp không biết bao nhiêu
người. Họ về, họ đến, họ đi, họ chạy. Xe hai bánh chạy. Xe bốn
bánh chạy. Xe cam-nhông chạy. Cả thành phố chạy. Các con đường
chạy. Tất cả mọi người chạy. Họ chạy để khỏi mất thì giờ. Họ
chạy theo thời gian, để lấy lại thời giờ đã mất, để lợi nhiều
thì giờ hơn. Hết mọi người đều bảo là không có thì giờ. Nhưng
lạy Chúa, con có thời giờ. Con có thì giờ riêng của con. Tất cả
thời giờ mà Chúa đã ban cho con, những năm tháng của đời sống
con; những ngày của năm tháng con, những giờ của ngày sống con,
tất cả đều thuộc về con. Con có phận sự phải dùng nó cho đầy đủ
trong bình tĩnh và yên lặng. Dùng nó cho trọn vẹn, cho tới phút
cuối cùng, để dâng lên cho Chúa hầu Chúa làm lợi cho kẻ khác.
Chiều nay, lạy Chúa, con không xin Chúa ban cho con thêm thời
giờ để làm sự này hay sự khác. Con chỉ xin Chúa cho con được ơn
này là ơn biết dùng nên thời giờ Chúa ban cho con, để tận tình
làm những việc mà Chúa muốn con làm. Amen.
Michel Quoist, Prières
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
ĐỊA VỊ CỦA NGƯỜI CHỒNG TRONG GIA
ĐÌNH
|
|
Tác phẩm: Cẩm Nang Hạnh Phúc Gia Đình
Kitô - MỤC VỤ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Tác
giả: D. WAHRHEIT (Lm. Minh Anh, GP. Huế tổng hợp biên tập)
A17. ĐỊA VỊ CỦA NGƯỜI CHỒNG TRONG
GIA ĐÌNH
Một cảnh thư giãn mang tính giáo
dục rất ý nghĩa được chiếu trên một đài truyền hình:
Giữa đêm khuya, từ phòng riêng,
hai vợ chồng trẻ bị đánh thức vì tiếng khóc của đứa con đầu lòng
ở phòng bên cạnh. Trong cơn ngái ngủ xem ra không ai muốn dậy để
săn sóc con. Họ nhìn nhau mỉm cười rồi đưa tay đánh cá xem ai là
người phải dậy để lo cho đứa bé. Không ai thắng cuộc. Thế là cả
hai cùng ngồi dậy và cùng chạy sang phòng bên cạnh.
Sau đó có lời giải thích về phút
thư giãn giáo dục như sau: “Nuôi con là một chia sẻ trách
nhiệm”.
Mọi người đều hiểu, nuôi dạy con
không phải chỉ là việc của người vợ, mà là trách nhiệm chung của
cả hai vợ chồng.
Với câu chuyện giáo dục trên đây,
chúng tôi xin gợi lên một vài suy nghĩ về địa vị của người chồng
trong gia đình. Cần phải hiểu thế nào địa vị làm chủ gia đình
của người chồng? Người chồng phải thể hiện quyền làm chủ ấy thế
nào?
1.
Từ cổ chí kim, từ đông sang tây, dường như đâu đâu cũng
đều có một thoả thuận ngầm về vai trò chủ động của người chồng
trong gia đình. Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Côlôsê ở
chương 3, cũng đồng một quan điểm. Ngài kêu gọi những người vợ
phải phục tùng chồng cho phải phép.
Quả thực người đàn ông là chủ gia
đình. Nhưng điều đó không có nghĩa là đàn ông cao trọng hơn đàn
bà. Xét về phẩm giá con người, giữa đàn ông và đàn bà không hề
có bất cứ một sự khác biệt nào về đẳng cấp. Sự khác biệt về thể
lý không đương nhiên tạo ra bất bình đẳng giữa hai phái. Chiều
cao của thân xác và sức mạnh của cơ bắp không bao giờ được xem
là nền tảng của sự bất bình đẳng.
Người đàn ông và người đàn bà có
những đặc điểm khác nhau, nhưng những đặc điểm đó không hề có
một giá trị khác nhau. Xét như là những con người khác nhau, họ
bổ túc cho nhau chứ không hề là kẻ trên, người dưới đối với
nhau.
2.
Kể từ Công Đồng Vaticanô II, cái nhìn của Giáo Hội về hôn
nhân cũng thay đổi. Trước kia, hôn nhân được quan niệm như một
thứ khế ước, trong đó, hai người phối ngẫu trao đổi quyền lợi
cho nhau. Một quan niệm có tính cách luật pháp như thế, dĩ nhiên
dễ đưa đến chỗ phân quyền và cạnh tranh. Người chồng luôn nghĩ
tới những quyền lợi của mình đối với vợ.
Với Công Đồng Vaticanô II, hôn
nhân được định nghĩa thiết yếu như một cộng đồng tình yêu mà hai
người nam nữ, do giao ước hôn phối, cam kết xây dựng với nhau
suốt đời. Định nghĩa này đã được Giáo luật mới của Giáo Hội lặp
lại trong số 1055 như sau: “Do giao ước hôn phối, người nam
và người nữ tạo nên với nhau một cuộc thông hiệp trọn cả cuộc
sống”.
Nói đến thông hiệp là nói đến tình
yêu, mà nói đến tình yêu là không còn nói đến quyền lợi nữa.
Tình yêu vợ chồng làm cho hai người bình đẳng với nhau đến độ
không ai còn nại đến quyền lợi của mình đối với người khác. Nếu
có một thứ quyền lợi mà cả hai phải nghĩ đến, thì đó là lợi ích
của cộng đồng tình yêu mà họ đã cam kết xây dựng với nhau. Trong
tình yêu hôn nhân, người ta có thể nói rằng, không còn có cái
tôi với những quyền lợi riêng tư nữa. Hai người phối ngẫu sẽ
không còn phải khẳng định: cái này của tôi, cái kia của ông, cái
nọ của bà. Họ thuộc về nhau trọn vẹn, họ chia sẻ cho nhau tất cả
mọi sự. Họ có chung một trách nhiệm.
3.
Có những người đàn ông thích thể hiện quyền lợi của mình.
Họ nại đến quyền làm chồng để cưỡng bách vợ phải vâng phục hầu
hạ mình. Họ nại đến quyền làm chủ để đơn phương quyết định mọi
việc trong nhà. Họ nại đến cả quyền làm đàn ông để hành hạ đàn
bà. Khi người chồng chỉ suy nghĩ và hành động trong vòng quyền
lợi của mình, thì dĩ nhiên, người vợ sẽ không còn là người bạn
đường để cùng xây dựng cộng đồng tình yêu nữa mà có lẽ chỉ còn
là người nội trợ không hơn không kém, một người giúp việc để cho
người đàn ông sai khiến và sử dụng vào những mục tiêu riêng của
mình. Cư xử như thế không phải là thể hiện tư cách làm chủ trong
gia đình.
Thánh Phaolô, trong thư gửi giáo
đoàn Côlôsê, sau khi đã nhắc nhở cho người chồng địa vị làm chủ
trong gia đình đã khuyên nhủ như sau: “Hỡi những người chồng,
hãy yêu thương vợ mình, đừng đay nghiến vợ”. Như vậy, với
thánh Phaolô, chỉ có một cách thế duy nhất để người chồng thể
hiện quyền làm chủ của họ trong gia đình, là yêu thương.
4.
Tạp chí “Thành Công” của Italia đã làm một cuộc thăm dò với các
nữ độc giả về điều mà họ chờ đợi nơi người đàn ông. Một độc giả
đã trả lời như sau: “Người đàn ông sẽ trở thành kỳ diệu
khi họ siết chặt ta trong vòng tay âu yếm và làm cho ta cảm thấy
nhỏ bé trong họ. Trái lại, họ sẽ trở nên ngu xuẩn khi họ muốn ta
phải nhỏ bé lại trước mặt họ”.
Nhận xét trên đây thật chí lý.
Người chồng chỉ thể hiện được uy quyền của mình bằng tình yêu
chứ không bằng vũ lực hay bất cứ sự cưỡng bức và đe doạ nào.
Người đàn bà tự bản chất luôn cần
có sự che chở của người đàn ông. Do đó, đức tính mà người đàn bà
đánh giá cao nhất nơi đàn ông, trước hết phải là sự can đảm. Can
đảm ở đây không hẳn là phải thể hiện những hành động phi thường,
mà chính là biết bình tĩnh để ứng phó và đối đầu với những khó
khăn của cuộc sống.
Chính sự cứng rắn và ý chí vững
mạnh của người đàn ông sẽ mang lại an ninh cho người đàn bà. Sự
can đảm nơi người đàn ông còn được thể hiện bằng chính sự chịu
đựng, kiên nhẫn nữa. Sự cứng rắn của người đàn ông phải là một
sự cứng rắn đầy yêu thương và dịu dàng. Sức mạnh nơi người đàn
ông phải là sức mạnh của sự tế nhị. Nam tính của người đàn ông
phải là nam tính của yêu thương và âu yếm.
5.
Người chồng phải luôn nhớ mình là chủ gia đình. Nhưng địa vị làm
chủ ấy họ chỉ có thể thực hiện như lời căn dặn của Chúa Giêsu: “Ai
trong các con muốn làm lớn, hãy làm đầy tớ mọi người”. Đó là
nghịch lý của Kitô giáo và cũng là khuôn vàng thước ngọc cho
người chồng. Người chồng không thể hiện tư cách làm chủ bằng
cách đòi hỏi vợ phải tôn trọng những quyền lợi riêng tư của
mình, mà chính là bằng phục vụ và phục vụ trong yêu thương, nhẫn
nại, cảm thông và tha thứ.
Lời của thánh Phaolô cần phải được
người chồng đem ra thực hành để sống đúng tư cách làm chủ gia
đình mình: “Anh em hãy mặc lấy tâm tình từ bi, nhân hậu,
khiêm cung, ôn hoà, nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau, và hãy tha thứ
cho nhau nếu người này có chuyện oán trách người kia. Như Chúa
đã tha thứ cho anh em, anh em cũng hãy tha thứ cho nhau. Và trên
hết mọi sự, anh em hãy có đức yêu thương. Đó là giây ràng buộc
điều toàn thiện”. |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
HẠT NGẮN HẠT DÀI, ĐỎ HAY TRẮNG
|
|
Nhân dịp phóng viên Ngy Thanh viết về lúa
gạo trong bài “Đố Ai Biết Lúa Mấy Cây”, xin tìm hiểu xem nên ăn
gạo gì khi hữu sự. Vì bà con mình thường rỉ tai nhau là ăn gạo
này, tránh gạo kia nếu bị bệnh Tiểu Đường hoặc dư kí.
Cơm gạo là món ăn vừa căn bản, sẵn có và ưa
thích của bà con ta, nhưng, theo một số nhà dinh dưỡng, nếu
không để ý thì một vài loại gạo có thể tăng đường huyết tới mức
độ đáng ngại.
Lúa gạo nằm trong nhóm Carbohydrat (còn gọi
là Saccharid), một trong ba loại thực phẩm chính của con người.
Đó là Carbohydrat, chất đạm protein và chất béo lipid.
Carbohydat cần thiết để duy trì một cơ thể
lành mạnh đặc biệt là những tế bào não bộ.
Để hoạt động hữu hiệu, tế bào não cần rất
nhiều năng lượng mà nguồn cung cấp duy nhất là từ glucose, một
thành phần cấu tạo của carbohydrat. Vì thế, khi không tiêu thụ
đầy đủ glucose, cơ thể sẽ mỏi mệt, chóng mặt, kém phối hợp, kém
tập trung, tâm trạng trở nên bất an, lo lắng. Lý do là không
được tiếp tế glucose, não sẽ rút các chất này từ kho dự trữ ở
gan và cơ bắp hoặc tổng hợp glucose từ các thực phẩm không có
carbohydrate như chất béo. Mà kho thì không nhiều, mau hết đưa
tới hậu quả xấu cho sức khỏe.
Carbohydrat gồm có đường (sugar), tinh bột
(Starch) và cellulose và được chia làm nhiều loại:
a. Saccharit đơn có một đơn vị đường như:
- glucose còn gọi là đường bắp hoặc đường
dextrose nho;
- fructose là đường ngọt nhất, có trong
trái cây, rau, mật hoa và
- galactose không có trong thiên nhiên mà
do cơ thể tiêu hóa đường lactose trong sữa mà ra.
Glucose là dạng carbohydrate lưu hành trong
máu và trực tiếp cung cấp năng lượng cho tế bào cơ thể.
b. Saccharit đôi có 2 đơn vị đường:
- sucrose ngọt nhất trong số các
carbohydrate, gồm có glucose và fructose, và được lấy ra từ mía
và củ cải;
- lactose là đường chỉ có trong sữa gồm một
phân tử glucose và galactose. Nhiều dân châu Á và châu Phi không
dung nạp được lactose vì không có men tiêu hóa lactase. Mỗi khi
uống sữa tươi là họ bị tiêu chảy.
- Mannose là đường mà nhiều người cho là có
thể giảm rủi ro mắc bệnh nhiễm trùng đường tiểu tiện và
- Maltose hoặc đường mạch nha có trong mầm
lúa mạch, được dùng trong việc làm bia, rượu wisky.
Đường đơn và đôi có nhiều điểm tương đồng
như: cùng hòa tan trong nước, cùng ngọt, kết tinh và cùng gọi là
đường vì có tiếp ngữ “ose” nghĩa là đường.
c. Đa Saccharit như cellulose, tinh bột và
glycogen.
- Tinh bột là thành phần chính của chế độ
ăn uống và là dạng tồn trữ carbohydrate trong nhiều thực vật.
Tinh bột do nhiều đơn vị glucose liên kết
và có hai thành phần chính là α-amylose và amylopectin. Tỷ lệ 2
phân tử này cao thấp tùy theo loại carbohydrate. Theo các nhà
nghiên cứu thực phẩm có nhiều amylose được tiêu hóa và hấp thụ
chậm. Tinh bột được tiêu hóa bằng men amylase.
- Cellulose gồm nhiều đơn vị đường glucose
kết hợp và là thành phần cấu tạo quan trọng ở vách cứng của tế
bào thực vật. Tuy con người không tiêu hóa được nhưng cellulose
có nhiều vai trò quan trọng đối với sức khỏe. Trâu, bò, ngựa, dê
có thể tiêu hóa cellulose nhờ có các vi khuẩn cộng sinh ở dạ
dày.
- Glycogen là dạng dự trữ của glucose trong
gan và cơ bắp của người và các động vật, tương tự như tinh bột ở
thực vật.
Chỉ Số Đường Huyết
Từ hơn ba thập niên vừa qua, các nhà nghiên
cứu đã tìm ra một vai trò quan trọng khác của thực phẩm
carbohydrat đối với sức khỏe con người. Đó là khái niệm Chỉ Số
Đường Huyết (Glycemic Index) của mỗi loại thực phẩm chứa
carbohydrate. Thực phẩm gốc động vật như thịt cá có lượng
carbohydrate không đáng kể, không ảnh hưởng tới đường huyết cho
nên không có CS ĐH..
Chỉ Số Đường Huyết (CSĐH) là mức nhanh/
chậm của Carbohydrat trong một loại thực phẩm có thể ảnh hưởng
tới đường huyết sau bữa ăn từ 2-3 giờ đồng thời cũng kích thích
tuyến tụy sản xuất insulin. Mỗi loại thực phẩm có tốc độ
khác nhau để chuyển thành glucose trong máu. Thực phẩm chuyển
hóa mau tăng đường huyết nhanh có CSĐH cao hơn đồng loại phân
hóa chậm, nâng đường huyết từ từ, có CSĐH thấp.
Chỉ số được xếp hạng từ 0 tới 100 tùy theo
thực phẩm đó tăng đường huyết nhiều hoặc ít. 100 là CSĐH của
đường glucose được nhiều nhà nghiên cứu dùng làm mốc để so sánh.
Glucose xuất hiện trong máu ngay sau khi tiêu thụ.
Chỉ
số này diễn tả phẩm chất (quality) của carbohydrate trong món ăn
chứ không phải số lượng (quantity) Carbohydrat trong món ăn.
Chẳng hạn CSĐH của gạo Jasmine Thái Lan là
109 thì gạo Ấn độ Basmati thấp hơn, 58. Như vậy gạo Thái lan
nâng đường huyết nhanh, cao hơn gạo Ấn độ.
Khái niệm CSĐH được khởi xướng ở Canada,
rất phổ biến ở Úc rồi lan sang Âu châu và Hoa Kỳ. Khái niệm này
được cho là có vai trò đáng để ý đối với bệnh nhân tiểu đường,
vận động viên và người mập phì vì sẽ giúp họ lựa chọn thực phẩm
carbohydrate thích hợp với hiện trạng.
Theo các nhà
nghiên cứu, liên tục tiêu thụ thực phẩm Carbohydrat có CS ĐH cao
sẽ đưa tới một số hậu quả:
-
Insulin cao sẽ báo hiệu cho gan hay là năng lượng cần thiết cho
cơ thể đã có đủ, không cần lấy năng lượng từ kho dự trữ chất
béo.
-
Đường glucose trong máu cao không dùng hết sẽ được chuyển sang
chất béo để dự trữ.
Và hậu quả là
sẽ lên cân.
Ngoài ra,
tuyến tụy liên tục sản xuất insulin vì đường huyết cao sẽ khiến
cho cơ thể quen với hormon này cũng như tuyến tụy suy vì làm
việc quá sức. Hậu quả là insulin ngày một ít và trở nên kém hiệu
nghiệm trong việc đưa glucose vào tế bào và hậu quả là có nguy
cơ bị bệnh tiểu đường, mập phì, bệnh tim.
Ngược lại,
dùng thực phẩm có CS ĐH thấp có thể giảm rủi ro tiểu đường loại
2, bệnh tim, giảm rủi ro mập phì
Mức độ CSĐH
Thấp: bằng hoặc dưới 50
Trung bình: từ 55-70
Cao: bằng hoặc trên 70.
Những yếu tố ảnh hưởng tới CSĐH
Nhiều yếu ảnh hướng tới CS ĐH:
- Cấu trúc của của thực phẩm chứa
Carbohydrat: nhiều amylose, thực phẩm chậm tiêu hóa vì các vòng
glucose gắn bó với nhau, sẽ có CS ĐH thấp. Ngược lại nhiều
amylopectin có CS ĐH cao vì các vòng glucose lỏng lẻo, dễ tiêu
hóa, mau đưa vào máu.
- Thực phẩm được làm tinh khiết (refined)
quá kỹ không còn lớp cám hoặc thực phẩm đã được chế biến
(processed) có CS ĐH cao hơn thực phẩm thô sơ.
- Thực phẩm đã được nghiền vụn, xốp, mỏng,
các dạng Carbohydrat bột đều dễ tiêu hóa và có CS ĐH cao. Ngược
lại thực phẩm nguyên dạng nhiều hạt có CS ĐH thấp.
- Thực phẩm do nấu chín lâu có CS ĐH cao vì
thức ăn đã biến dạng, dễ dàng chuyển hóa ra glucose, sẵn sàng
vào máu.
- Sự hiện diện các chất khác trong thực
phẩm: chất béo, chất đạm, chất chua làm chậm sự tiêu hóa tinh
bột sẽ giảm ảnh hưởng của carbohydrate lên đường huyết.
- Tốc độ chuyển hóa của thực phẩm: chuyển
hóa mau sẽ có CS ĐH cao hơn.
- Trái cây chín mùi có CS ĐH cao hơn trái
cây còn xanh vì carbohydrate đã được chuyển ra đường.
Sau đây là chỉ số đường huyết của
một số thực phẩm:
|
CS ĐH
cao |
CS
ĐH Trung Bình
|
CS ĐH
Thấp |
|
Đường
Maltose (Bia) |
Bánh
làm bằng lúa mạch
|
Cháo
yến mạch đặc
|
|
Củ
cải nấu chín
|
Ngũ
cốc hạt quả khô ăn sáng |
Mì
ống, mì sợi
|
|
Cà
rốt nấu chín |
Gạo
lức Brown rice |
Khoai
lang |
|
Gạo
trắng |
Củ
cải đường nấu chín |
Hạt
đậu khô |
|
Bánh
kẹo |
Đậu
Hà Lan |
Táo
|
|
Khoai
tây nướng |
Khoai
tây luộc |
Lê |
|
Hạt
ngũ cốc khô |
Bánh
bằng lúa mì
|
Sữa
nguyên vẹn |
|
Bánh
mì cứng hình vòng
Bagels |
Ngô |
Đậu
hình thận
|
|
Bánh
bột trắng |
Nho |
Đậu
lentils |
|
Mảnh
bắp chiên Corn chips |
Nước
cam vắt |
Đậu
Nành |
|
Mãng
cầu |
Bánh
kẹo yến mạch
|
Trái
cây nhiều nước như dưa hấu |
|
Chuối
chín cây |
Mỳ,
bún trắng |
Nước
táo |
|
Đu đủ |
Kiều
mạch
Buckwheat |
Đậu
đen
|
|
Bánh
làm bằng hạt gạo
|
Đậu
pinto |
Rau
màu xanh |
- Rượu có rất ít Carbohydrat đặc biệt là
rượu vang và wisky hầu như không có; bia có khoảng 3-4 gr/100ml.
Uống nhiều thì bia có thể ảnh hưởng đến đường huyết.
- Bún, mỳ sợi có CS ĐH thấp ( 30-60) vì có
cấu trúc đặc biệt với tinh bột nằm trong mạng lưới đạm chất
gluten khiến cho bún, mỳ chậm tiêu hóa.
- Đa số các loại rau
có ít Carbohydrat vì thế CS ĐH thấp ngoại trừ quả bơ avocado,
ngô, bí ngô, củ cải đỏ có chỉ số cao hơn, nhưng đều là thực
phẩm dinh dưỡng tốt vì có nhiều chất xơ và chất dinh dưỡng.
- Thường
thường nước uống trên thị trường, đặc biệt là nước thể thao, đều
có nhiều đường để cung cấp năng lượng cho nhu cầu vận động cho
nên đều có CS ĐH cao.
- Thịt, cá,
trứng hầu như không có Carbohydrat cho nên không thử nghiệm được
theo tiêu chuẩn của thực phẩm có Carbohydrat. Khi tiêu thụ riêng
rẽ, các thực phẩm này không có ảnh hưởng gì tới đường huyết.
Bây giờ xin đề cập tới lúa gạo.
Gạo mà bà con ta thường dùng là gạo tẻ và
gạo nếp.
Trên thị
trường, gạo được phân chia tùy theo hình dáng và độ dài ngắn
cũng như mầu sắc của hạt gạo:
a. Theo
màu sắc
- Gạo nâu
(Brown rice) mà ta thường gọi là gạo lức, gạo đỏ là gạo mà vỏ
cám và nhân gạo vẫn còn. Thực ra mầu có thể thay đổi từ vàng
nhạt tới đỏ hoặc đen tía. Cám và nhân chứa nhiều chất xơ, chất
dinh dưỡng như vitamin nhóm B, kẽm, sắt và một ít chất béo. Vì
có chất béo cho nên gạo cần cất giữ nơi nhiệt độ lạnh để tránh
ôi mùi dầu và dùng trong 6 tháng.
Gạo còn cám
nấu lâu và cơm gạo lức cần nhai lâu hơn gạo trắng. Ngày xưa, gạo
đỏ vẫn được gán cho là gạo của con nhà nghèo, thiếu tiền mướn
thợ xay giã gạo cho trắng, như người giầu tiền của.
- Gạo trắng
với lớp vỏ cám và nhân đã mất đi sau khi xay giã chà xát và có
rất ít chất dinh dưỡng. Gạo được bổ xung với vitamin, khoáng
chất. Không có chất béo, gạo cất giữ được lâu hơn.
Nấu cơm gạo
trắng mau hơn, hạt mềm dễ nhai dễ nuốt hợp với nếp sống thanh
cảnh của con nhà giầu , “gạo trắng, nước trong.”
b. Theo hình dáng
Sau khi xay
giã, chạy máy, hạt gạo có thể là:
- Hạt dài.
Chiều dài của hạt gạo gấp 3 chiều ngang, sau khi nấu cơm rời
rạc, xốp.
Gạo hạt dài còn rất ít chất xơ và chất dinh
dưỡng do đó gạo bán trên thị trường đều được tăng cường khoáng
sắt, các sinh tố B.
- Hạt trung
bình chiều dài gấp đôi chiều ngang; khi nấu cơm mềm, ẩm, dính
với nhau.
- Hạt ngắn bụ
bẫm hơn với chiều dài nhỉnh hơn chiều ngang một chút, được dùng
nhiều trong món ăn shushi của Nhật cho nên còn gọi là gạo
shushi.
Gạo nếp không có amylose cho nên CS ĐH cao
nhất.
Chỉ Số Đường Huyết của gạo:
-
Uncle
Ben’s Converted Rice………44
-
Gạo Ấn Độ
Basmati ……………… 58
-
Gạo lức
(Brown Rice)…………… 55
-
Gạo
trắng, hạt dài………….. 56
-
Gạo trắng
hạt ngắn ………… 72
-
Gạo
Jasmine …………………… 109
Jasmine là
gạo truyền thống lâu đời của Thái Lan với một hương thơm phảng
phất của hoa hồng rất đặc biệt và hạt gạo lại trắng, trong, mịn,
ăn ngon miệng.
Từ thập niên
1990, Hoa Kỳ đã thành công tạo ra nhiều loại gạo lai giống như
gạo Jasmati lai giống từ Jasmine Thái Lan và Basmati Ấn Độ;
gạo vô cơ Texmati từ gạo Mỹ hạt dài với gạo Ấn Độ Basmati và
mới đây Zazzmen Rice ở miền nam Louisiana, nơi phát xuất điệu
nhạc đam-mê gần-gũi
JAZZ,
từ lúa Toro và giống lúa khác của Trung Hoa.
Jasmati và
Zazzmen đang cạnh tranh ráo riết với Jasmine trên thị trường Hoa
Kỳ.
Kết luận
Thực phẩm
chứa Carbohydrat vẫn là món ăn chính của phần ăn. Mỗi ngày nên
tiêu thụ 65% tổng số năng lượng với thực phẩm có Carbohydrat,
khoảng 225-275 gr mỗi ngày hoặc hai ba lưng chén cơm. Đồng thời
ăn uống đều đặn, đầy đủ; giảm chất béo động vật; tăng chất xơ;
giới hạn muối, đường, uống nhiều nước để có sức khỏe.
Khái niệm chỉ
số đường huyết khá mới mẻ, còn nhiều tranh luận cho nên chưa
được sự đồng ý áp dụng của các nhà nghiên cứu.
Một số nhà
nghiên cứu đề nghị là người bị tiểu đường hoặc muốn giảm cân nên
tiêu thụ thực phẩm có CS ĐH trung bình hoặc thấp để duy trì
đường huyết bình thường.
Hội Tiểu
Đường Hoa Kỳ chưa đề nghị mang khái niệm này vào việc điều trị
và phòng ngừa bệnh tiểu đường vì kết quả nghiên cứu cho hay
không có ảnh hưởng đáng kể lên mức độ HbA1c hoặc insulin.
Vả lại với
người dân, khó mà lựa được một chế độ dinh dưỡng căn cứ vào CS
ĐH, vì thực phẩm trên thị trường chưa đồng loạt ghi CS ĐH của
món hàng.
Bác sĩ Nguyễn Ý
Đức M.D.
Texas-Hoa Kỳ.
www.bsnguyenyduc.com
|
|
VỀ MỤC LỤC |
|
NGỤ NGÔN THỜI BẤN LOẠN (KỲ 16)
|
|
Ngụ ngôn 51
Cọp và sư tử
chuyên rình mò bắt những chú thỏ non tơ làm mồi nhâm nhi. Thói
quen tàn ác đó khiến cho các loài thỏ có nguy cơ bị tiêu diệt.
Thỏ phải trốn chui trốn nhủi trong hang.
Chim phượng
hoàng không chịu nổi cảnh nhiễu nhương ấy nên quyết định cảnh
cáo chúa sơn lâm: “Các ông còn bắt thỏ, tôi mổ mắt các ông”. Nói
rồi phượng hoàng bay sà xuống mổ thật nhanh để thị uy. Cọp và sư
tử đều bay mất một vạt lông ngay mắt.
Cọp và sư tử
sợ hãi nên viết lên lá rừng là chúng hứa từ nay không đàn áp thỏ
nữa. Được ít lâu chúng lại say máu nên rình mò hại thỏ, số thỏ
bị vồ lên đến hàng trăm con. Chim phượng hoàng nghe vậy nên xé
gió bay về. Đến nơi, chim phượng hoàng hỏi ngay con thỏ trực
nhật: “Nghe nói bọn cọp và sư tử lại hại dân ngươi à?” Con thỏ
ấy cười xòa: “Làm gì có, chuyện ấy xưa rồi. Bây giờ đi rừng
thoải mái”.
Chim phượng
hoàng vừa bay đi, con thỏ nhỏ lấm lét chạy đến gặp chúa sơn lâm
uống ké chén rượu và cười buồn.
Ngụ ngôn 52
Loài quạ và
cú vọ bị chim bồ câu tố cáo tội đi ăn trộm ban đêm và xỏ xiên
chuyện đời. Quạ và cú giận bồ câu lắm nhưng không làm gì được.
Chúng bèn nghĩ kế hại bồ câu. Quạ và cú lén ăn cắp lông chim câu
rồi mỗi khi đi ăn trộm hay làm điều xấu thì rắc một ít lông chim
câu.
Lâu ngày các
loài thú nhìn bồ câu với đôi mắt không mấy thiện cảm. Bồ câu
biết nhưng không nói gì. Đến độ xuân phân, tất cả loài bồ câu
đều nhuộm lông đen, miệng ngậm cành ô liu bay khắp nơi báo hiệu
xuân hòa bình. Muông thú chợt hiểu ra rằng bộ lông không nói lên
tất cả, huống chi là vài chiếc lông rơi vãi.
Ngậm cành ô
liu hẳn là chim câu, trộm cắp hẳn là cú và quạ mà thôi.
Ngụ ngôn 53
Mùa đông, các
lũy tre rộn ràng tranh cãi ai sẽ được chặt đem về làm cây nêu
ngày Tết. Anh tre nào cũng háo hức muốn đi. Này nhé, có bánh
chưng xanh, có dưa hấu đỏ, có mứt gừng vàng, còn được ngắm những
bao lì xì sung túc. Lúc ai nấy đang háo hức thì một chú tre cao
và đẹp bỗng nói: “Tớ chẳng muốn đi. Đứng được mấy ngày rồi cũng
bị quăng đi thôi”.
Các cây tre
khác nháo nhào phản đối: “Gàn. Dở hơi. Không thực tế”. Chú tre
cao và đẹp ấy không nói gì, lẳng lặng cụp lá và oằn mình xuống
để khỏi bị ai chú ý. Các bạn cùng lứa lần lượt bị chặt đem đi,
còn lại chú tre với những lớp măng…
Mấy ngày Xuân
qua đi, những cây nêu Tết bị gom lại làm việc khác, nằm buồn hiu
nơi xó vườn. Chú tre không ham vui của chúng ta lại vui đùa cùng
gió Xuân.
Gioan Lê Quang
Vinh
www.giaoducconggiao.net
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
- Mọi liên lạc: Ghi danh, thay đổi địa chỉ, đóng góp ý kiến,
bài vở..., xin gởi về địa chỉ
giaosivietnam@gmail.com
- Những nội dung sẽ được đề cao và chú ý bao gồm:
Trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong việc mục
vụ của Giáo sĩ; Những tài liệu của Giáo hội hoặc của các
Tác giả nhằm mục đích Thăng tiến đời sống Giáo sĩ; Cổ võ ơn
gọi Linh mục; Người Giáo dân tham gia công việc “Trợ lực
Giáo sĩ” bằng đời sống cầu nguyện và cộng tác trong mọi lãnh
vực; Mỗi Giáo dân phải là những “Linh mục” không có chức
Thánh; Đối thoại trong tinh thần Bác ái giữa Giáo dân và
Giáo sĩ… (Truyền giáo hay xây pháo đài?)
- Quy vị cũng có thể tham khảo những số báo đã phát hành tại
www.conggiaovietnam.net
Rất mong được sự cộng tác, hưởng ứng của tất cả Quí vị
Xin chân thành cám ơn tất cả anh chị em đã
sẵn lòng cộng tác với chúng tôi bằng nhiều cách thế khác
nhau.
TM. Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam
Lm. Luca
Phạm Quốc Sử
USA
|
|
|
*************
|
|