|
NHỮNG CHỨNG NHÂN TIN
MỪNG |
|
TÔNG HUẤN "GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU" (ECCLESIA IN ASIA)
Nguồn: http://www.simonhoadalat.com
CHƯƠNG VII
NHỮNG CHỨNG NHÂN TIN
MỪNG
Một Giáo Hội Làm
Chứng
42. Công
đồng Vatican II đã dạy rõ rằng, toàn thể Giáo Hội phải truyền giáo, và công tác
Phúc âm hóa là nhiệm vụ của toàn thể Dân Chúa (204). Bởi vì toàn Dân Chúa được
sai đi để rao giảng Tin Mừng, việc Phúc âm hoá không bao giờ là một hành động
cá nhân hay biệt lập; nó luôn luôn là một nhiệm vụ mang tính Giáo Hội, cần được
thực hiện trong sự hiệp thông với toàn thể cộng đồng đức tin. Chỉ có một sứ mạng
duy nhất và không thể phân chia, vì chỉ có một nguồn gốc và một cùng đích;
nhưng trong nó có nhiều trách nhiệm khác nhau và nhiều thứ hoạt động khác nhau
(205). Trong mọi trường hợp, rõ ràng là không thể có được sự rao giảng Tin Mừng
đích thực nếu người Kitô hữu không trao tặng một chứng tá đời sống phù hợp với
sứ vụ rao giảng: "Hình thức chứng tá đầu tiên là chính đời sống của vị
thừa sai, của gia đình Kitô hữu, và của cộng đồng Giáo Hội, một cộng đồng bày
tỏ một nếp sống mới. Mỗi người trong Giáo Hội, khi cố gắng bắt chước Thầy chí
thánh, thì có thể và phải làm chứng theo kiểu này; trong nhiều trường hợp, đó
là phương cách duy nhất có thể được, để trở thành nhà truyền giáo" (206).
Cách riêng bây giờ, cần chứng tá Kitô hữu chính hiệu, bởi vì "ngày nay dân
chúng tin các chứng nhân hơn là các Thầy dạy, tin vào kinh nghiệm hơn là lời
giảng dạy, và tin vào đời sống và hành động hơn là vào lý thuyết" (207).
Điều này càng đúng trong bối cảnh Á Châu, nơi mà dân chúng được thuyết phục do
đời sống thánh thiện hơn là do lý lẽ trí thức. Như thế, kinh nghiệm về đức tin
và về những ân ban của Chúa Thánh Thần, trở thành nền tảng của mọi hoạt động
tông đồ, nơi thành thị hay ở thôn quê, trong trường học hay bệnh viện, giữa
những kẻ tàn tật, di dân và dân bộ lạc, hay là khi theo đuổi công lý hoặc nhân
quyền. Mọi hoàn cảnh đều thuận lợi để người Kitô hữu chứng tỏ quyền năng mà
chân lý của Đức Kitô đã hoà nhập trong đời sống của họ. Do đó, được gợi hứng
bởi nhiều vị thừa sai đã làm chứng anh dũng cho tình yêu Thiên Chúa giữa các
dân tộc của lục địa trong quá khứ, Giáo Hội tại Á Châu bây giờ ra sức làm
chứng, không kém sốt sắng hơn, cho Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng của Người. Sứ vụ
kitô giáo đòi hỏi ít nhất điều đó.
Ý thức về đặc tính truyền giáo của Giáo Hội và
trông đợi Chúa Thánh Thần lại đổ xuống năng lực mới, đang lúc Giáo Hội đi vào
ngàn năm mới, Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng yêu cầu rằng Tông Thư hậu Thượng Hội
Đồng nêu lên một số chỉ thị và hướng dẫn cho những ai đang làm việc trong cánh
đồng mênh mông của việc Phúc âm hoá tại Á Châu.
Các Chủ Chăn
43. Chính
Chúa Thánh Thần là Đấng ban cho Giáo Hội khả năng hoàn thành sứ mạng Đức Kitô
giao phó. Trước khi sai các môn đệ đi làm chứng nhân, Đức Giêsu ban cho họ Chúa
Thánh Thần (x. Ga 20,22), Đấng đã hành động qua họ và đánh động con tim của
những kẻ nghe họ (x. Cv 2,37). Cũng xảy ra như vậy đối với những kẻ Người sai
đi ngày hôm nay. Một mặt, tất cả những ai đã lãnh bí tích Rửa Tội, do chính ân
sủng của bí tích, đã được đề cử dự phần vào việc tiếp tục sứ vụ cứu rỗi của Đức
Kitô, và họ có khả năng làm công tác này chính vì tình yêu Thiên Chúa đã được
đổ xuống tâm hồn họ nhờ Chúa Thánh Thần mà Người ban cho họ (Rm 5,5). Nhưng mặt
khác, sứ vụ chung này được chu toàn nhờ sự đa dạng của nhiều chức năng và đoàn
sủng đặc biệt trong Giáo Hội. Trách nhiệm chính yếu để thực hành sứ vụ của Giáo
Hội được Đức Kitô giao phó cho các Tông Đồ và những người kế vị các ngài. Do
việc truyền chức Giám Mục và do sự hiệp thông phẩm trật với Vị đứng đầu Giám
Mục đoàn, các Giám Mục lãnh nhận sự ủy thác và quyền bính để giảng dạy, cai
quản và thánh hoá Dân Chúa. Do ý muốn của chính Đức Kitô, Đấng kế vị thánh
Phêrô -tảng đá mà trên đó Giáo Hội được xây dựng (x. Mt 16,18)- thực thi sứ vụ
đặc biệt là hiệp nhất bên trong Giám mục đoàn. Do đó, các Giám Mục phải chu
toàn thừa tác vụ của mình trong sự hiệp nhất với Đấng Kế Vị thánh Phêrô, người
bảo đảm chân lý của giáo huấn của các ngài và sự hiệp thông trọn vẹn của các
ngài trong Giáo Hội.
Liên kết với các Giám Mục trong công việc loan báo
Tin Mừng, các Linh mục được kêu gọi, qua việc truyền chức, trở nên mục tử của
đoàn chiên, người rao giảng Tin Mừng cứu độ và thừa tác viên các bí tích. Để
phục vụ Giáo Hội như Đức Kitô muốn, các Giám Mục và Linh mục cần được đào tạo
vững chắc và liên tục, sự đào tạo đó sẽ cung cấp những thuận lợi để canh tân về
mặt nhân bản, thiêng liêng và mục vụ, cũng như liệu cho có các khoá thần học,
thiêng liêng và các khoa học nhân văn (208). Dân chúng tại Á Châu cần khám phá
nơi hàng giáo sĩ không chỉ là những người chuyên lo việc bác ái hoặc những
người quản trị cơ chế, nhưng những con người mà tâm trí hướng về những gì thâm
sâu của Thần Khí (x. Rm 8,5). Lòng tôn kính mà các dân tộc Á Châu dành cho
những kẻ nắm giữ quyền bính, cần đi đôi với sự liêm chính đạo đức rõ nét nơi
những người có trách nhiệm thừa tác trong Giáo Hội. Nhờ có đời sống cầu nguyện,
sự nhiệt thành phục vụ và cách sống gương mẫu, hàng giáo sĩ làm chứng hùng hồn
cho Tin Mừng trong các cộng đoàn họ chăn dắt nhân danh Đức Kitô. Tôi thiết tha
cầu nguyện để những thừa tác viên có chức thánh của Giáo hội tại Á Châu sống và
làm việc trong một tinh thần hiệp thông và cộng tác với các Giám mục và mọi tín
hữu, bằng cách làm chứng cho tình yêu mà Đức Giêsu đã công bố là dấu chỉ đích
thực các môn đệ Người (x. Ga 13,35).
Đặc biệt tôi muốn nhấn mạnh đến quan tâm của Thượng
Hội Đồng về việc chuẩn bị những người linh hoạt và dạy dỗ trong các chủng viện
và các phân khoa thần học (209). Sau khi được đào tạo nghiêm chỉnh về các môn
khoa học thánh và những môn học liên hệ, các vị đó phải được đào tạo cách đặc
biệt về linh đạo linh mục, nghệ thuật linh hướng, và các phương diện khác của
công tác khó khăn và tế nhị đang chờ đợi các vị trong việc giáo dục các linh
mục tương lai. Đây là một công tác tông đồ quan trọng nhất vì lợi ích và sức
sống của Giáo Hội.
Đời Sống Thánh Hiến Và Các Hội Truyền
giáo
44. Trong
Tông Thư Hậu Thượng Hội Đồng Vita Consecrata, tôi đã nhấn mạnh tới sự
liên kết mật thiết giữa đời sống thánh hiến và sứ mạng truyền giáo. Qua ba khía
cạnh của nó là tuyên xưng Ba Ngôi, dấu chỉ tình huynh đệ và phục vụ bác ái,
đời sống thánh hiến tỏ bày tình yêu Thiên Chúa trong thế giới, qua chứng tá đặc
biệt của nó về sứ vụ cứu rỗi mà Đức Giêsu hoàn thành bằng cách hiến thánh mình
hoàn toàn cho Chúa Cha. Nhìn nhận rằng mọi hành động trong Giáo Hội tìm được sự
nâng đỡ trong kinh nguyện và hiệp thông với Thiên Chúa, với lòng tôn kính và
ngưỡng mộ sâu xa, Giáo Hội tại Á Châu xem các cộng đoàn tu trì sống đời chiêm
ngưỡng như là nguồn mạch đặc biệt ban sức mạnh và soi sáng. Dựa theo những đề
nghị của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, tôi đặc biệt khuyến khích việc thiết lập
những cộng đoàn đan tu và chiêm ngưỡng, nơi nào có thể được. Bằng cách thức ấy,
như Công đồng Vatican II nhắc nhở chúng ta, việc xây dựng xã hội trần thế luôn
đặt nền móng nơi Chúa và luôn hướng về Người, kẻo những kẻ xây dựng xã hội trần
thế lại lao động cách luống công (210).
Sự tìm kiếm Chúa, một đời sống hiệp thông huynh đệ,
và việc phục vụ kẻ khác, là ba đặc tính chủ yếu của đời sống thánh hiến, có khả
năng trao tặng một chứng tá Kitô giáo hấp dẫn đối với các dân tộc Á Châu ngày
nay. Hội Nghị Đặc Biệt về Á Châu thúc giục những người sống đời thánh hiến trở
nên chứng nhân cho lời mời gọi mọi người nên thánh, và nên gương mẫu lôi cuốn
những Kitô hữu và không Kitô hữu, về tình yêu quên mình cho mọi người, nhất là
những kẻ bé nhỏ nhất trong anh chị em mình. Trong một thế giới mà cảm thức về
sự hiện diện của Thiên Chúa thường bị giảm sút, những người thánh hiến cần phải
nêu lên những chứng tá thuyết phục và có tính ngôn sứ về địa vị tối thượng của
Thiên Chúa và của cuộc sống muôn đời. Sống trong cộng đoàn, họ làm chứng cho
những giá trị của tình huynh đệ Kitô giáo và quyền năng biến đổi của Tin Mừng
(211). Tất cả những ai dấn thân vào đời sống thánh hiến, đều được kêu gọi trở
nên những người hướng dẫn trên con đường tìm kiếm Thiên Chúa, một sự tìm kiếm
đã luôn luôn lay động con tim loài người và đặc biệt khả kiến dưới nhiều hình
thức tu đức và khổ hạnh tại Á Châu (212). Trong nhiều truyền thống tôn giáo tại
Á Châu, những người nam nữ hiến mình trong đời sống chiêm ngưỡng và khổ tu, rất
được kính trọng, và chứng tá của họ có một khả năng thuyết phục đặc biệt. Cuộc
đời của họ sống trong cộng đoàn, qua một chứng tá thầm lặng và an bình, có thể
gợi hứng cho con người tạo nên một cuộc sống hoà hợp hơn trong xã hội. Người ta
không mong chờ ít hơn nơi những người nam nữ thánh hiến trong truyền thống Kitô
giáo. Gương âm thầm của họ về sự nghèo khó và bỏ mình, về sự khiết tịnh và chân
thành, về sự từ bỏ mình trong vâng phục, có thể trở nên một chứng tá hùng hồn
có khả năng đánh động mọi người thiện chí và đưa tới một đối thoại mang lại kết
quả với các nền văn hoá và tôn giáo xung quanh, và với người nghèo cùng với kẻ
không thể tự vệ. Điều đó làm cho đời sống thánh hiến trở nên một phương tiện
đặc biệt để rao giảng Tin Mừng cho hữu hiệu (213).
Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhìn nhận vai trò sinh
động của các Dòng Tu và Tu Hội, của những Hội truyền giáo và những Hội đời sống
tông đồ trong việc rao giảng Tin Mừng tại Á Châu các thế kỷ qua. Vì sự đóng góp
vĩ đại này của họ, Thượng Hội Đồng tỏ bày với họ lòng biết ơn của Giáo Hội và
thúc giục họ không nao núng trong dấn thân truyền giáo của ho. (214). Tôi hiệp
ý với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng mà kêu gọi những người sống đời thánh hiến,
canh tân sự nhiệt thành của họ trong việc loan báo chân lý cứu độ của Đức Kitô.
Tất cả phải được huấn luyện và đào tạo xứng hợp; nền huấn luyện này cần tập
trung vào Đức Kitô và trung thành với đoàn sủng nền tảng của họ, nhấn mạnh đến
sự thánh thiện và chứng tá cá nhân; tu đức và kiểu sống của họ phải nhạy cảm
với gia sản tôn giáo của dân tộc mà họ đang sống và phục vụ (215). Tuy vẫn tôn
trọng đoàn sủng riêng của họ, họ phải hoà nhập trong chương trình mục vụ của
Giáo Phận nơi họ làm việc. Về phần mình, các Giáo Hội địa phương cần đẩy mạnh
sự hiểu biết về lý tưởng của các tu sĩ và đời sống thánh hiến, và cổ võ những
ơn gọi đó. Điều này đòi hỏi mỗi giáo phận phải lập ra một chương trình mục vụ
cho ơn gọi, gồm có việc chỉ định các Linh mục và tu sĩ làm việc toàn thời gian
giữa giới trẻ để giúp họ lắng nghe và nhận định tiếng gọi của Chúa (216).
Trong bối cảnh hiệp thông của Giáo Hội toàn cầu,
tôi không thể không thúc giục Giáo Hội tại Á Châu cử đi các vị thừa sai, mặc
dầu chính họ cũng cần những người thợ làm việc trong vườn nho. Tôi vui mừng
thấy trong nhiều nước Á Châu, những hội Thừa sai sống đời sống tông đồ mới được
thành lập; điều đó chứng tỏ rằng đặc tính truyền giáo của Giáo Hội được nhìn
nhận và các Giáo Hội địa phương tại Á Châu ý thức đến trách nhiệm phải rao
giảng Tin Mừng cho toàn thế giới (217). Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng khuyến
khích "trong mỗi Giáo Hội địa phương tại Á Châu nơi nào chưa có, nên thành
lập những Hội Thừa Sai sống đời sống tông đồ, với đặc tính là dấn thân cách đặc
biệt lo việc truyền giáo ad gentes, ad exteros và ad vitam"
(218). Một sáng kiến như thế chắc chắn mang lại kết quả phong phú, không những
cho các Giáo Hội đón nhận các vị thừa sai, nhưng còn cho những Giáo Hội sai họ
đi.
còn tiếp
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
THAI NHI
(ngày cầu nguyện
cho các thai nhi 11-12-2010) |
|
Để cứu con
người, Thiên Chúa toàn năng không có cách nào hay hơn là cách
Ngài bước vào thế gian này bằng hình hài con người hay sao?
Tại sao Ngài
lại chọn làm thai nhi bé bỏng, từng bước hình thành nên bộ dạng
con người để bước vào trần gian này?
Tại sao Ngài
quá giản đơn làm người trong xác thân một hài nhi nghèo hèn nằm
trong máng cỏ?
***
Thiên Chúa đã
ban sự sống cho con người, rồi lại phục hồi sự sống cho con
người, như thế chưa đủ sao?
Thiên Chúa
đảm nhận sự sống của con người rồi nâng nó lên thành sự sống
vĩnh cửu của Thiên Chúa làm chi vậy?
***
Ai có quyền chấm
dứt sự sống của Thiên Chúa?
***
Sự chết không
phải là văn hóa, chỉ có văn hóa sự sống.
Không có văn
hóa sự chết, chỉ có sự chọn lựa hèn kém, kiêu căng,
chỉ có thái
độ hủy diệt, ích kỷ và tham tàn.
chỉ có lập
trường đối đầu với Thiên Chúa.
***
Không phải là
cầu nguyện cho các thai nhi,
Nhưng là cùng
với các thai nhi dâng lời tạ ơn, ngợi khen Chúa.
Tạ ơn và ngợi
khen vì sự kỳ diệu nơi Thiên Chúa và vì sự sống Chúa ban cho con
người.
Cầu nguyện
cho chính mình, cho sự hèn kém của mình, cho sự độc đoán, ích kỷ,
nhát đảm và vô cảm của chính mình,
Cầu nguyện
cho những con người cách này cách khác đã trực tiếp hoặc gián
tiếp công tác vào sự hủy diệt độc ác, chống cưỡng lại Thiên Chúa.
Xin các thai
nhi bỉ hủy diệt không được mở mắt chào đời,
nay là các
thánh Anh Hài,
nay là các
Thiên Thần hầu cận trước tôn nhan Chúa cầu bầu cho chúng ta.
Lm. Vinh Sơn
Phạm Trung Thành, dcct. |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
GIỚI THIỆU TÔNG HUẤN VERBUM DOMINI
(LỜI CHÚA)
|
|
Nguồn:
http://hdgmvietnam.org/gioi-thieu-tong-huan-verbum-domini-loi-chua/2368.50.9.aspx
WHĐ (19.11.2010) – Ngày 11-11 vừa qua, Tòa
thánh đã công bố Tông huấn Verbum Domini [Lời Chúa] của Đức
Thánh Cha Bênêđictô XVI. Đây là Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng
Giám mục (lần thứ XII). Thượng Hội đồng này diễn ra vào tháng
10/2008 với chủ đề “Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Hội
thánh”. Trong khi chờ đợi bản dịch tiếng Việt của Tông huấn
này, để giúp độc giả có cái nhìn tổng quát về nội dung Tông huấn,
Đức cha Giuse Võ Đức Minh, chủ tịch Ủy ban Kinh Thánh / HĐGM
Việt Nam đã gửi đến trang
WHĐ bài giới thiệu sau đây về Tông huấn.
Lời Chúa tồn tại muôn đời (1 Phêrô 1, 25)
Giáo Hội Việt Nam sống Lời Chúa
Hàng Giáo phẩm Công giáo Việt Nam được Tòa thánh thành lập không
bao lâu (24.11.1960), thì Công Đồng Vatican II được khai mạc
(11.10.1962). Các Đức Giám mục Việt Nam lúc bấy giờ đã được kể
trong số 2904 Nghị phụ trên thế giới được mời tham dự. Trong lần
công bố triệu tập Công Đồng, nhằm vào tuần lễ cầu nguyện cho sự
hiệp nhất giữa các tín hữu Chúa Kitô năm 1959, Đức Giáo Hoàng
Gioan XXIII đã nói như sau: “Chúng ta hãy hiệp nhất với nhau
và chúng ta hãy chấm dứt mọi bất hòa”. Tinh thần hiệp nhất
đã trở nên niềm hy vọng và là động lực hướng dẫn cho Công Đồng.
Chính Đức Gioan XXIII cũng đã dùng một hình ảnh thật sống động
khiến cho bầu khí trong cả Giáo Hội hướng về Công Đồng như một
lễ Hiện Xuống mới: “Chúng tôi muốn mở rộng cánh cửa sổ của
tòa nhà Hội thánh cho làn gió mát (của Chúa Thánh Thần) thổi vào”.
Ngay từ khóa họp đầu tiên, chính Ngài muốn các Nghị phụ bàn về
Kinh thánh, để có thể dùng Lời Chúa soi dẫn cho các khóa họp
Công Đồng; Ngài đã cho đặt cuốn Kinh thánh ngay tại trung tâm
Đền thờ Thánh Phêrô, nơi các Nghị Phụ hội họp và cử hành các
Nghi lễ trong suốt thời gian các Khóa họp Công Đồng. Thế rồi,
trải dài 4 năm qua các Khóa họp, trước khi bế mạc Công Đồng,
chính Đức Giáo Hoàng Phaolô đệ VI cùng với các Nghị Phụ đã long
trọng công bố Hiến chế tín lý về Mạc Khải “Lời Thiên Chúa”
(Dei Verbum) vào ngày 18.11.1965 trong bầu khí hân hoan, an bình,
tràn đầy niềm hy vọng: “Trong niềm thành kính lắng nghe và
tin tưởng công bố Lời Thiên Chúa, Thánh Công Đồng lập lại lời
Thánh Gioan: “Chúng tôi loan truyền cho anh em sự sống đời đời,
đã có nơi Chúa Cha và đã hiện đến với chúng tôi: điều chúng tôi
đã thấy, đã nghe, chúng tôi loan truyền cho anh em, để anh em
cũng được hiệp nhất với chúng tôi và chúng tôi hiệp nhất với
Chúa Cha và với Chúa Giêsu Kitô, Con của Ngài” (1Ga 1, 2-3).
Lắng nghe với thái độ thành kính, vì Lời Thiên Chúa là Lời hằng
sống; tin tưởng công bố Lời Thiên Chúa, vì chính đây là sứ điệp
cứu độ.
Nếu ơn gọi của Hội thánh là “lắng nghe Lời Thiên Chúa trong niềm
thành kính “và “tin tưởng công bố Lời Thiên Chúa”, thì ơn gọi và
sứ mạng của Hội thánh Việt Nam cũng không thể khác được. Cùng
với Hội thánh toàn cầu, Hội thánh Việt Nam thể hiện đúng ơn gọi
của mình, khi “thành kính lắng nghe Lời Thiên Chúa”, và càng
“thành kính lắng nghe”, thì Hội thánh Việt Nam sẽ luôn “tin
tưởng công bố Lời Thiên Chúa” cho mọi người.
Hội thánh Việt Nam với thời gian, đã thật sự mở rộng cánh cửa
đón lấy luồng gió mới của Thánh Thần mà Công Đồng Vatican II đem
lại, cách riêng trong lãnh vực Lời Chúa. Trong Thư Mục vụ năm
2005 với tựa đề “Sống Lời Chúa”, Hội Đồng Giám Mục Việt
Nam đã nói về việc tăng cường vai trò ưu tiên của Kinh thánh
trong đời sống của người tín hữu: “Yêu mến Kinh thánh không
chỉ thể hiện qua việc phổ biến sách Kinh thánh, mà còn là siêng
năng đọc Lời Chúa trong đời sống và cho đời sống cụ thể của mình.
Nói cách khác, đọc Lời Chúa không những để hiểu về Chúa, mà còn
để tìm hướng đi cho cuộc đời”. Với nhận định trên, các vị
Chủ chăn của chúng ta cho thấy lòng yêu mến Kinh thánh là điểm
son của người tín hữu chúng ta. Giáo Hội Việt Nam đã có những nỗ
lực rất nhiều khi cung cấp cho mọi người bản dịch Kinh thánh từ
nguyên ngữ Do thái, Hy lạp, Aramêô hay từ bản Phổ thông bằng
ngôn ngữ latinh. Cho tới ngày nay, chúng ta đã xuất bản khoảng
ba trăm ngàn bản Kinh thánh Tân Cựu Ước toàn bộ và trên hai
triệu ấn bản Kinh thánh Tân Ước. Những bản văn Lời Chúa dần dần
không còn xa lạ với các gia đình công giáo, cách riêng đối với
giới trẻ và thiếu nhi Công giáo Việt Nam.
Cách đây gần 50 năm, đã có một thế hệ gồm 17 vị Giám mục Việt
Nam tham dự Thánh Công Đồng Vaticacan II, trong đó có các Đức
Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, Phêrô Martinô Ngô Đình
Thục, Philipphê Nguyễn Kim Điền đáng kính; và đặc biệt, trong
một bài tham luận phát biểu bằng tiếng latinh, Đức Cha Simon-Hòa
Nguyễn Văn Hiền, Giám mục Giáo phận Đalat, nguyên Giám quản Tông
Tòa Địa phận Saigon, đã làm bỡ ngỡ các Nghị Phụ tại Công Đồng
khi gợi lên hình ảnh “gia đình nơi Thiên Chúa Ba Ngôi” (đại
ý: Thiên Chúa Ba Ngôi là một gia đình, có sự sống và được liên
kết với nhau bằng tình yêu thương; đó là hình ảnh mẫu mực của
gia đình Hội thánh và của cả gia đình nhân loại). Từ gợi ý kỳ
diệu đó, ngày nay khoa Thần học tín lý luôn xây dựng nền tảng
thần học trên mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi: Ba Ngôi Thiên Chúa
là cội nguồn; Ba Ngôi Thiên Chúa là quê hương. Tất cả đều bắt
nguồn từ Thiên Chúa và hướng tới, quay trở về Thiên Chúa!
“Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Hội thánh”: Thượng
Hội đồng Giám mục lần thứ XII
Trải qua dòng thời gian, nhiều thế hệ Giám mục Việt Nam khác
tiếp tục góp phần của mình vào các sinh hoạt cũng như các công
việc chung của cả Hội thánh; các ngài cũng đã tích cực tham dự
các Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới, theo tinh thần Công Đồng
Vatican II. Cụ thể, tại Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới lần
thứ XII, diễn ra ở Roma, từ ngày 5 tháng 10 đến 26 tháng 10 năm
2008, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã bầu hai Giám mục tham dự:
Đức Cha Giuse Võ Đức Minh, Chủ tịch Ủy Ban Kinh thánh/HĐGMVN,
Giám mục Giáo phận Nha Trang và Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh,
Giám mục Giáo phận Thanh Hóa. Đức Cha Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng,
Giám mục Phụ tá Tổng Giáo phận Huế cũng được bầu với tư cách dự
khuyết. Thêm vào đó, linh mục Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản (nay là
Giám mục Giáo phận Ban Mê Thuột) đã được Hội Đồng Giám Mục Việt
Nam đề cử tham dự với tư cách là chuyên viên. Đề tài của Thượng
Hội Đồng này là: “Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Hội
thánh”. Thật hạnh phúc trong thời gian 3 tuần lễ được hiện
diện, lắng nghe, học hỏi, chia sẻ, phát biểu và góp ý với Hội
nghị. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI hiện diện, soi sáng, hướng
dẫn và lắng nghe tất cả các chia sẻ, các phát biểu của các Nghị
phụ. Ngài có một câu nói rất tuyệt vời và dí dỏm: “Lời
Chúa không bao giờ già!”.
Tham dự Thượng Hội Đồng, có 253 Nghị phụ đến từ 118 nước và
khoảng 150 chuyên viên và dự thính viên. Có các đại diện các
Cộng đoàn Kitô giáo không phải là Công giáo cũng được mời tham
dự, như Tòa Thượng phụ Đại kết Constantinople, Tòa Thượng Phụ
Matxcơva, Tòa Thượng phụ Chính thống Romania, Tòa Thượng Phụ
Chính thống Serbia, Tòa Thượng phụ Chính thống Hy lạp, Giáo hội
tông truyền Armênia, Cộng đoàn Anh giáo, Liên hiệp thế giới
Luthêranô, Hội đồng Đại kết các Giáo hội Kitô; ngoài ra, còn có
vị Tổng thư ký Hiệp hội United Bible Society và thầy Tu viện
trưởng Cộng đoàn Taizé. Trong Thượng Hội Đồng, lần đầu tiên có
một vị Rabbi Do thái giáo đến từ Israel, ngài Rabbi niên trưởng
của Haifa. Chính ngài đã tham dự ngay từ ngày đầu tiên và phát
biểu về đề tài: “Người Do thái đọc Kinh thánh và chú giải Kinh
thánh”. Đặc biệt Đức Thượng Phụ Đại kết Barthôlômêô đệ I, thường
được gọi là Giáo Chủ Đông phương, cùng Phái đoàn từ
Constantinople đến tham dự giờ Kinh chiều thứ bảy 18.10.2008 tại
Nhà nguyện Sixtina. Buổi cầu nguyện đã diễn ra chung với Đức
Giáo Hoàng Bênêđitô XVI, thường được gọi là Giáo Chủ Tây Phương
và các Nghị Phụ. Đức Giáo Hoàng và Vị Thượng phụ cùng chủ sự giờ
cầu nguyện. Đức Giáo Hoàng khai mạc giờ Kinh cầu nguyện; Vị
Thượng phụ được mời suy niệm và giảng Lời Chúa; Đức Giáo Hoàng
ban phép lành bằng ngôn ngữ latinh; còn vị Thượng phụ ban phép
lành bằng ngôn ngữ Hy lạp. Đông Tây gặp nhau trong giờ Kinh cầu
nguyện tuyệt vời! Buổi cầu nguyện để lại một ấn tượng về đại kết
thật sâu đậm. Trong Thượng Hội Đồng, Đức Tổng Giám mục Nicola
Eterovic, người Croat, trong vai trò Tổng Thư ký Thượng Hội Đồng,
đã giới thiệu một cách tổng quát nghị trình của Hội Nghị.
Bản văn chính thức với đề tài: “Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ
của Hội thánh” được Đức Hồng Y Marc Ouellet, Tổng Giám mục
Québec, Canada trình bày. Kế đó, 5 vị Giám mục thay mặt cho 5
Châu lục đã tường trình về những nét nổi bật của Lời Chúa tại
các Hội thánh địa phươngg ở 5 Châu lục; các tổ thảo luận được
sắp xếp theo các nhóm ngôn ngữ: Latinh, Ý, Anh, Pháp, Đức, Bồ
đào nha, Tây Ban Nha, trao đổi xoay quanh bản văn quan trọng này.
Rồi, tại Hội trường, các Nghị Phụ có những phát biểu tham luận.
Khoảng 150 phát biểu đã được chuẩn bị từ trước và thời gian mỗi
bản tham luận là 5 phút; khoảng trên 300 phát biểu tự do, bổ
sung về mỗi đề tài, thời gian mỗi phát biểu tự do là 3 phút.
Hòa trong bầu khí sinh hoạt của các Nghị Phụ, đoàn Việt Nam cũng
tham dự rất tích cực. Đức Cha Giuse Võ Đức Minh đã có bài phát
biểu tham luận vào sáng ngày 11.10.2008 với đề tài: “Lời Chúa là
nguồn an ủi và là sức mạnh của Dân Chúa tại Việt Nam”. Ngày
14.10.2008, Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh có bài phát biểu: “Lời
Chúa thật sự là nguồn hy vọng cho Giáo Hội Việt Nam”. Ngoài ra,
một vinh dự rất lớn đối với đoàn Việt Nam, đó là liền sau ngày
khai mạc với bài giảng của Đức Giáo Hoàng, Đức Cha Giuse Võ Đức
Minh đã được Ban tổ chức mời chia sẻ Lời Chúa trong bài giảng
ngày lễ kính Đức Mẹ Mân côi, ngày 7.10.2008, với đề tài: “Lời
Chúa trong đời sống của người tín hữu”. (Chỉ có 12 vị được mời
suy niệm và giảng tại Hội trường).
Tuần lễ cuối cùng của Hội Nghị, Ban Thư ký tổng hợp tất cả các ý
kiến từ các bài tham luận, các ý kiến phát biểu tại Hội trường
hay tại các Nhóm thảo luận, bổ sung cho bài tường trình; rồi Đức
Hồng Y Marc Ouellet một lần nữa công bố văn bản chính thức của
Thượng Hội Đồng: “Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Hội
thánh”.
Đức Cha Gianfranco Ravasi, Chủ tịch Hội Đồng Tòa thánh về Văn
hóa (vừa được lên tước Hồng Y) công bố “Sứ điệp Thượng Hội Đồng
Giám Mục khóa thường kỳ lần thứ XII gửi Cộng đoàn Dân Chúa”. Sứ
điệp gồm 4 phần đề cập đến Mầu nhiệm Mạc Khải như là “Tiếng
của Lời”, được tỏ hiện qua “Khuôn mặt của Lời là Đức
Giêsu Kitô”; rồi giới thiệu “Căn nhà của Lời là Hội thánh”,
để xác định đời sống và sứ vụ của Hội thánh “trên những nẻo
đường của Lời Chúa: là công cuộc rao giảng Tin mừng”. Ngoài
ra, các Nghị Phụ đã đóng góp 254 đề nghị và một Ủy Ban đặc biệt
đã cô đọng lại thành 55 đề nghị trình lên Đức Giáo Hoàng.
Những đề nghị này được các Nghị Phụ bỏ phiếu trong phiên họp
khoáng đại: Placet hoặc Non Placet hoặc Placet juxta modum. Kêt
quả là 55 đề nghị này đã được bỏ phiếu kín và hầu hết đều nhận
được sự đồng tâm nhất trí của các Nghị phụ với lá phiếu: Placet.
Bản tường trình, Sứ điệp, các bài tham luận, các phát biểu góp ý
và các đề nghị đều được trình lên Đức Giáo Hoàng. Chính đây là
chất liệu để Ngài soạn ra Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục
về Lời Chúa.
Tông huấn “Lời Chúa” (Verbum Domini)
Và, Tông Huấn được chờ đợi đó đã chào đời vào ngày 11 tháng 11
năm 2010 với tựa đề: “Lời Chúa” (Verbum Domini). Tuy được
công bố chính thức ngày 11.11.2010, nhưng bản văn đã được chính
Đức Giáo Hoàng Bênêditô XVI ký ngày 30 tháng 9 năm 2010, nhằm
ngày lễ kính Thánh Hiêrônimô, vị Thánh Linh mục say mê truy tầm
Lời Chúa, phiên dịch, suy niệm và rao giảng Lời Chúa.
Tông Huấn “Lời Chúa” (Verbum Domini) đã được Tòa thánh
công bố trước sự hiện diện của Đức Hồng Y Marc Ouellet, nay là
vị Tổng Trưởng Bộ Giám Mục, Đức Hồng Y tân cử Gianfranco Ravasi,
Chủ tịch Hội Đồng Tòa thánh về Văn hóa và Đức Tổng Giám Mục
Nicola Eterovic, Tổng thư ký Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới.
Tông Huấn gồm Phần Dẫn nhập; có 3 chương: Chương 1 nói về “Lời
Thiên Chúa “(Verbum Dei), Chương 2 nói về “Lời ở trong Hội thánh”
(Verbum in Ecclesia), Chương 3 nói về “Lời cho thế gian” (Verbum
pro mundo) và phần Kết luận hướng tới công cuộc tái rao giảng
Tin mừng trong niềm tin tưởng và phó thác nơi Đức Trinh Nữ Maria
“Mẹ của Lời và là Mẹ của Niềm vui” (Mater Verbi et Mater
laetitiae).
Trong phần dẫn nhập: “Lời Chúa (Verbum Domini) tồn
tại muôn đời” (1P 1, 25), Đức Giáo Hoàng liên kết Hiến chế tín
lý về Mạc Khải của Công Đồng Vatican II “Lời Thiên Chúa” (Dei
Verbum) với những hoa quả của Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới
lần thứ XII về Lời Chúa. Ngài chọn bản Lời tựa tuyệt vời của
Thánh Gioan Tông đồ (Ga 1, 1-18) như kim chỉ nam cho toàn bộ
Tông Huấn.
Trong chương 1 nói về “Lời Thiên Chúa” (Verbum
Dei): “Lúc khởi nguyên đã có Lời và Lời ở nơi Thiên Chúa và
Lời là Thiên Chúa… Và Lời đã thành xác phàm” (Ga 1, 1.14),
Đức Giáo Hoàng đề cập đến 3 điểm: Thiên Chúa nói – Con người
lắng nghe và đáp trả tiếng Chúa nói – Cách giải thích Kinh thánh
trong Hội thánh.
Trong chương 2 nói về “Lời ở trong Hội thánh” (Verbum
in Ecclesia): “Còn những ai đón nhận Ngài, thì Ngài đã ban
cho họ quyền làm con Thiên Chúa” (Ga 1, 12). Đức Giáo Hoàng
nói tới mối tương quan mật thiết giữa Lời của Thiên Chúa và Hội
thánh; trong đó, Phụng vụ là môi trường tối ưu của Lời Thiên
Chúa: Lời Chúa trong Phụng vụ thánh; Lời Chúa và các Bí tích;
Lời Chúa và Thánh Thể; Tính chất bí tích của Lời Chúa; Kinh
thánh và sách bài đọc Lời Chúa; việc công bố Lời Chúa và tác vụ
đọc sách; Vai trò quan trọng của bài giảng lễ; Việc cần thiết
phải có cuốn cẩm nang về bài giảng lễ; Lời Chúa và Bí tích giao
hòa cùng việc xức dầu bệnh nhân; Lời Chúa và giờ kinh phụng vụ;
Lời Chúa và sách các phép; Một vài gợi ý cụ thể để làm cho việc
cử hành phụng vụ được sống động. Ngoài ra, Lời Thiên Chúa còn
soi sáng và hướng dẫn mọi sinh hoạt của đời sống người tín hữu:
Lời Chúa trong Kinh thánh; Lời Chúa trong mục vụ; Lời Chúa trong
huấn giáo; Lời Chúa hình thành nhân cách người tín hữu của Chúa
Kitô; Lời Chúa sống động trong các lễ hội của Dân Chúa; Lời Chúa
soi sáng và đồng hành với mọi ơn gọi trong Hội thánh: hàng giáo
sĩ, ứng viên chức thánh, đời sống thánh hiến, đời sống giáo dân,
hôn nhân và gia đình; Cầu nguyện và học hỏi, suy niệm Lời Chúa;
Lời Chúa giúp chúng ta hiểu biết và yêu mến Đức Mẹ; Lời Chúa
giúp chúng ta gắn bó với Thánh địa.
Trong chương 3 nói về “Lời cho thế gian” (Verbum
pro mundo): “Thiên Chúa, không ai đã thấy bao giờ; Con Một,
Đấng ở nơi cung lòng Cha, chính Ngài đã thông tri” (Ga 1,
18), Đức Giáo Hoàng nói tới sứ vụ của Hội thánh là công bố Lời
Thiên Chúa. Lời Thiên Chúa thúc đẩy Hội thánh dấn thân trong các
sinh hoạt ở trong thế giới: phục vụ Chúa Giêsu nơi những người
bé mọn, nghèo hèn; giúp chúng ta tìm kiếm và xây dựng công bằng
xã hội; thúc đẩy chúng ta quan tâm đến việc hòa giải và kiến tạo
hòa bình ở giữa các dân tộc; kiên trì thi hành công việc bác ái
từ thiện; quan tâm đến giới trẻ; đến mục vụ di dân; đến những
người đau khổ; đến những người nghèo; đến bảo vệ và giữ gìn môi
trường thiên nhiên là tạo vật của Thiên Chúa. Lời Chúa còn lan
rộng và ảnh hưởng đến văn hóa: giá trị của văn hóa đối với đời
sống con người; Kinh thánh là một kho tàng cho các nền văn hóa;
Lời Chúa trong môi trường giáo dục và đại học; Lời Chúa tạo
nguồn cảm hứng cho các công trình nghệ thuật; Lời Chúa trong các
phương tiện truyền thông xã hội; Lời Chúa với việc hội nhập văn
hóa; việc phiên dịch và phổ biến Lời Chúa cho các dân tộc và
ngôn ngữ khác nhau; Lời Chúa vượt qua giới hạn của các nền văn
hóa. Ngoài ra, Lời Chúa tạo điều kiện cho các cuộc gặp gỡ và đối
thoại giữa các tôn giáo: giá trị của công cuộc đối thoại liên
tôn giáo; Lời Chúa giúp đối thoại giữa người tín hữu Kitô với
tín hữu Hồi giáo, với tín hữu các tôn giáo khác; Lời Chúa giúp
đối thoại để sống trong tự do tôn giáo.
Trong phần kết luận Tông huấn, Đức Giáo Hoàng hướng về
Lời Chúa và công cuộc tái rao giảng Tin mừng. Ngài phó thác cho
Đức Maria “người Mẹ của Ngôi Lời nhập thể và là Mẹ của niềm
vui”.
Kết luận
Chắc chắn có nhiều anh chị em khắp nơi trên thế giới đang chuyển
dịch bản văn quý này ra ngôn ngữ Việt Nam thân yêu của chúng ta.
Điều này nói lên lòng yêu mến Lời Chúa và khao khát phổ biến kho
tàng Lời Chúa cho mọi người nơi rất nhiều anh chị em của chúng
ta. Chúng ta vui mừng đón nhận các tác phẩm chuyển dịch bản Tông
huấn này và chúc mừng các anh chị em của chúng ta.
Phần mình, Ủy Ban Kinh thánh trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt
Nam rất hân hoan đón nhận Tông Huấn của Đức Giáo Hoàng Bênêđitô
XVI; và như đã hứa với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, các thành
viên Ủy Ban Kinh thánh đã bắt tay vào việc, phân công nhau để
cùng nỗ lực chuyển dịch Bản Tông huấn quý giá này ra tiếng Việt.
Bản dịch của Ủy Ban Kinh thánh trực thuộc Hội Đồng Giám Mục
Việt Nam hy vọng có thể ra mắt mọi người vào dịp bế mạc Năm
thánh 2010 của Giáo Hội Việt Nam, như món quà trong Năm hồng
phúc này.
+ Giuse Võ Đức Minh
Giám mục Giáo phận Nha Trang
Chủ tịch Ủy Ban Kinh thánh/HĐGMVN
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
CÓ AI NGỜ… |
|
Một ngày
nọ bạn nghe hàng xóm xôn xao: “Có một kẻ rất lạ xuất hiện trong
khu phố của chúng ta.” Thế là mọi người kéo nhau đến chỗ đó để
xem thực hư thế nào. Bạn cũng hoà vào đám đông. Đến nơi, đúng là
có một người lạ, thậm chí là kỳ lạ nữa, đang đứng đó lớn tiếng
nói những điều bạn chưa nghe bao giờ. Ông này ăn mặc có vẻ luộm
thuộm. Đầu tóc bù xù. Lại nghe nói rằng ông sống trong sa mạc,
ăn châu chấu (ghê!) và uống mật ong. Nhìn ông chẳng thân thiện
gì lắm. Dân chúng đứng đó xầm xì bàn tán, người thích kẻ khinh,
người vỗ tay khen lạ kẻ nhạo báng chê khùng. Nhưng một lúc sau,
người ta bắt đầu im lặng để nghe ông nói. Bề ngoài ông chẳng hấp
dẫn nhưng hình như tấm lòng ông chân thành.
Bạn thân mến, con người kỳ lạ ấy thực ra là
một nhân vật xuất chúng, được sử sách ngàn đời lưu truyền, không
phải về hình thức kỳ lạ bên ngoài mà vì tinh thần sống mãnh liệt
bên trong. Cách ăn mặc của ông, theo truyền thống đương thời,
thật ra là hiện thân của một vị đại ngôn sứ tên là Êlia mà người
ta vẫn chờ mong sẽ trở lại để dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Quả
thật, ông là người dọn đường cho Người và chỉ cho dân chúng biết
khi Người xuất hiện. Ông – Gioan Tiền Hô – đã được chính miệng
Chúa Giêsu khen là người diễm phúc và cao trọng. Từ khi xuất
hiện cho đến nay, đã hơn 2000 năm, ông vẫn được nhắc đến thường
xuyên như một gương sống tuyệt vời.
Thế rồi, giữa dòng đời bon chen đông đúc
này, có một phụ nữ thân hình nhỏ bé, tướng tá chẳng có gì ấn
tượng, giọng nói không bay bổng như một nghệ sĩ, nhan sắc tầm
thường. Ấy vậy mà thế giới này, từ người thứ dân cho đến kẻ chức
quyền, từ kẻ nghèo hèn khố rách áo ôm cho đến người lộng lẫy sa
hoa, đã phải cúi xuống thật sát để ngưỡng mộ, cúi xuống thật sâu
để tri ân. Khi người phụ nữ ấy trở về nhà Cha trên trời, hàng tỷ
con người khắp nơi trên thế giới khóc thương vì bà đã trở nên
một vị thánh trong tâm hồn họ, đã trở thành mẹ trong cõi lòng
côi cút của họ, mẹ Teresa Calcutta.
Còn nữa, mình biết một bà lão bán vé số
nghèo khổ. Da bà thì nhăn nheo vì sương gió bụi trần, lưng bà
thì khòm xuống do sức kéo của gánh nặng cuộc đời. Người ta hay
gọi bà là “bà xấu xí”, có lẽ một cách vui miệng thôi chứ cũng
chẳng ác ý gì. Khi mặt trời đã ngủ được một giấc rồi thì bà mới
dò dẫm trở về căn nhà trọ tồi tàn trong một xóm lao động lụp sụp.
Khuya lắm rồi mà bà vẫn cặm cụi bóc từng hạt đậu phộng, vo từng
đấu gạo nếp nấu xôi để sáng sớm hôm sau thức dậy bán kiếm chút
đồng chợ búa. Bán xôi xong, bà lập tức cất bước tảo tần đi khắp
các nẻo đường lớn nhỏ mời người ta mua vé số. Cứ như thế mấy
chục năm trời. Có lẽ chưa bao giờ bà ghé vào một rạp xi-nê xem
một bộ phim 3D, một thứ quá bình thường đối với nhiều người. Có
lẽ chưa bao giờ bà bước vào một tiệm thời trang sang trọng đông
đúc. Có lẽ chẳng ai biết bà là ai, tâm hồn bà có gì đặc biệt. Bà
cứ thầm lặng giữa mênh mông cuộc đời. Bà như một cái bóng mờ
nhạt chẳng ai để ý, một bài hát không âm thanh giữa náo động xập
xình!
Rồi một hôm, bà từ giã trần gian. Đám tang
của bà nghèo lắm. Chỉ lèo tèo vài người đến tiễn biệt lần cuối.
Đã lặng lại càng thêm buồn. Đã buồn lại càng thêm thảm khi người
ta thấy nước mắt cứ trào ra trên gò má của hai thanh niên trẻ.
Lạ! Phải, rất lạ vì không ai ngờ được rằng từng nắm xôi, từng
tấm vé số, từng bước chân lặng lẽ lê khắp nẻo đời kia giờ đây đã
kết trái đơm hoa: hai chàng thanh niên mồ côi kia giờ đây là hai
sinh viên ưu tú. Ngày họ lãnh tấm bằng loại giỏi để tiến vào
tương lai cũng là lúc bà xuất sắc hoàn thành sứ mạng yêu thương
và tạm biệt họ để về quê trời mà bà hằng chờ đợi. “Bà xấu xí”
thật đẹp, phải không bạn?
Bạn thân mến, trong dân gian vẫn có câu:
“Nhìn vậy mà không phải vậy.” Và lẽ khôn ngoan ở đời vẫn nhắc
nhở con người rằng phải hết sức thận trọng trong việc đánh giá
người khác qua hình thức. Việc đánh giá người khác chỉ dựa trên
bề ngoài quả thật dễ làm cho mình hiểu lầm hiểu cạn cũng như dễ
gây tổn thương cho tha nhân về phẩm giá và danh dự. Sau khi
người ta nhận ra tầm vóc phi thường của Gioan Tiền Hô, họ lại
không thể ngờ rằng chàng thanh niên nhà quê Giêsu Nazarét còn
trổi vượt gấp vạn lần Gioan. Khi Giêsu chết thê thảm và tủi nhục
trên thập giá, người ta không bao giờ ngờ tới việc cái chết ấy
lại trở thành sự sống mới mãnh liệt cứu độ toàn thể nhân loại.
Khi từng giọt máu tử đạo của các môn đệ Thầy Giêsu nhỏ xuống đất
đen khô cằn kia, có ai ngờ hạt giống đức tin bỗng nảy mầm trong
tâm hồn hàng ngàn hàng triệu con người. Có ai ngờ một hành động
đơn sơ bé nhỏ của yêu thương lại có thể cảm hoá được một kẻ giết
người không gớm tay. Có ai ngờ một chút kiên nhẫn mỗi ngày lại
tạo nên một vị thánh. Có ai ngờ tình yêu trở nên tuyệt vời nhất
trong hy sinh gian khổ. Có ai ngờ…nhìn vậy mà không phải vậy.
Bạn thân mến, sở dĩ những bất ngờ tốt lành
kia có thể xảy ra là do một nguyên nhân đơn sơ đến mức khó ngờ:
Thiên Chúa yêu thương ta vô ngần và Người biết ta cần gì. Và,
bạn biết sao không, Thiên Chúa của những bất ngờ tuyệt vời ấy đã
tạo nên điều bất ngờ nhất trong lịch sử từ cổ chí kim, đó là
tặng nhân loại tụi mình điều quý giá nhất của Người:
món quà Emmanuel
– Thiên Chúa làm người ở giữa chúng ta nơi Đức Giêsu Kitô! Tụi
mình cùng mở rộng tâm hồn để đón nhận, Bạn nhé!
Joseph Việt, O.Carm.
-----
Surprises…
You hear the neighbors saying: “There is a
strange man in town!” Then everyone rushes to the place to see
what is going on. You also join the crowd. Yes, a strange man,
even bizarre, is standing there speaking to people about things
you have never heard of. The way he dresses is awkard. His hairs
are all ruffled. People say he lives in the desert and eats
locusts and wild honey (yikes!)
His face doesn’t look friendly at all.
People stand there talking about him. Some are interested in
him, others feel disgusted. Some clap their hands, others
express their contempt. However, after a few minutes, they begin
to calm down their discussion and listen to him. His appearance
is not attractive but he seems to have a sincere heart. Some
people even follow him.
Dear friend, this strange man is actually a
man of excellence, spoken of by many generations, not so much of
his appearance but of his strong and holy spirit. The way he
dresses, in the contemporary trandition, actually embodies the
great prophet Elijah that people have long waited to come back
to prepare the way for the Savior of the world. Indeed, he is
the one who prepares His way and introduces Him to people when
He comes. This strange-looking man, John the Baptist, is
complimented by Jesus as blessed and important among human race.
From his time up to this very day, for more than two thousand
years, he has been spoken of as an excellent example of how to
live a good human life with dignity.
Then, in this human history which is rich
and diverse comes a woman. She is small in stature. Her
appearance is not impressive. Her voice is not as sweet as that
of a singer. Her beauty is just quite ordinary. However,
numerous people of this very world of ours, from the little to
the powerful, from the poor to the rich, bowed before her with
admiration and gratitude. When she went to the heavenly Father,
billions of people shed their tears since she had become a saint
in their souls, a mother in their hearts, mother Teresa of
Calcutta.
I also knew an old lady. Her skin was
wrinkled by years of hard work; her back was bent due to heavy
burdens of life. People called her the “ugly lady”, perhaps just
with some humor rather than contempt. After the sun had gone to
sleep, she came home – a little room she rented in a slum.
Though it was late, she still continued to work until midnight
to cook peanut sticky rice so that the next morning she would
sell it to earn a little more money. After finishing selling the
sticky rice, she walked through all the streets in town to sell
lottery tickets [a job for jobless poor people in Vietnam]. Her
life was just the same with those routines for decades. Perhaps
she never went watch a 3D movie, a thing quite popular for many
this day. Perhaps she never dared to stop by a crowded fashion
shop. Perhaps no one knew who she was or what was in her soul.
She was all quietly living her ordinary life, like a shadow
receiving no notice, like a silent song among many noises of
this world.
Then one day, she said goodbye to this
world. Her funeral was poor. Only very few came to see her the
last time. This quietness made it sadder. This sadness made it
even more miserable when one saw the tears keep running down
from the eyes of two young men. No one had ever thought that
each piece of sticky rice she made every night, each lottery
ticket she sold everyday, each step of her walking on every road
in those years created a miracle: those two little orphans had
become two excellent students. The day they received their
degrees to walk into a bright future was also the day she said
goodbye to them to go enjoy the eternal happiness with her
heavenly Father after having excellently accomplished her
mission of love. The lady ‘ugly’ is beautiful, isn’t she?
My dear friend, it is often said: “Things
are not always as they look.” Ordinary experience also helps us
see that appearances are deceptive. One must be very careful in
making judgment about others. Making a judgment based on the
appeareance easily leads us to short-sightedness and
misundertanding and damages others’ reputation and dignity.
After recognizing the greatness of John Baptist, people don’t
ever think that the carpenter Jésus from Nazareth is even much
greater. When Jesus dies horribly on the cross, no one would
think of his mighty resurrection from the dead that can save
all. When each blood drop of Jesus’ diciples falls to the dry
and lifeless ground, who would expect the seed of faith to be
sprouting in the soul of thousands, or even millions of others.
Who would think a simple act of love could convert the heart of
a cold-blooded killer? Isn’t it surprising that each little
moment of patience can make a great saint? Have we not seen love
most wonderfully prosper in sacrifice? ...
Dear friend, the happening of those good
surprises comes from an unexpectedly simple reason: God loves us
more than we can imagine and He knows what we need. Moreover,
you know what, this God of wonderful surprises has created the
least expected surprise in the history of the whole creation;
that is, offering us the most precious gift of His:
Emmanuel
– God with us – in the person of Jesus Christ. My dear friend,
let us open our hearts and hands to gratefully receive THIS GIFT
during this special season!
Joseph Việt, O.Carm. |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
KHÔNG CÓ TỰ DO TÔN GIÁO TẠI TRUNG
QUỐC (PHÚC TRÌNH CỦA ĐHY TRẦN NHẬT QUÂN TRƯỚC ĐGH VÀ CÔNG NGHỊ
HỒNG Y)
|
|
Sự kiểm soát tuyệt
đối trên cộng đồng (Giáo Hội) công khai, nỗi gian khổ của cộng
đồng (Giáo Hội) hầm trú, sự khuynh loát và nhũng lạm của các
giám mục, những người chỉ có mối rủi ro duy nhất là bày tỏ lòng
trung thành công khai với Đức Giáo Hoàng. Những vấn nạn của Giáo
Hội tại Trung Quốc cũng đến từ sự do dự của phía Công giáo. Sự
gia tăng nguy cơ nô lệ của các mục tử và những hướng dẫn của
Đức Thánh Cha Benedictô XVI trong bức thư gửi cho các tín hữu
của Giáo Hội tại Trung Quốc sẽ bị lãng quên. Bản phúc trình của
ĐHY Zen trước các hồng y và Đức Giáo Hoàng trong Công Nghị hồng
y.
Vatican City (AsiaNews) – Tại Trung Quốc,nhiều nhất, chỉ có
quyền tự do thờ phượng, nhưng chính quyền đã không có mảy may
nào nới lỏng sự kiểm soát tuyệt đối trên tôn giáo và Giáo hội
Công giáo, khuynh loát các việc tấn phong và làm hư hỏng giám
mục, thậm chí cả những giám mục được hợp pháp hóa bởi Đức Giáo
Hoàng. Đây là bản tổng quan đau buồn được đệ trình bởi ĐHY
Joseph Zen gửi đến các chư huynh hồng y của mình, trong ngày
dành để thảo luận và phản ánh, được triệu tập bởi ĐGH vào ngày
19 Tháng Mười Một, trước công nghị Hồng Y vừa qua. Trong văn
bản công bố toàn bộ,vị giám mục về hưu của Hồng Kông nhấn mạnh
rằng đã có những do dự, ngay cả trong chính sách của Vatican, có
thể dẫn đến một sự giải thích sai lầm về các hướng dẫn của Đức
Thánh Cha Bênêđictô XVI, trong bức thư gửi cho người Công giáo
của Trung Quốc. NB: Các ghi chú là của AsiaNews.
Tôi nghĩ rằng đó là nhiệm vụ của tôi, có được cơ hội đặc biệt
này để thông báo đến chư huynh đệ xuất chúng của mình, rằng vẫn
không có tự do tôn giáo tại Trung Quốc. Có quá nhiều lạc quan
chung quanh những điều không tương ứng với thực tế. Một số thì
không có cách nào để biết được sự thật, một số khác lại nhắm mắt
của họ trước thực tế, những người khác vẫn thấy tự do tôn giáo
trong một cung cách rất sơ sài.
Nếu quý ngài định tới thăm Trung Quốc (mà tôi khuyên quý ngài
không nên, bởi vì chuyến thăm viếng của quý ngài sẽ bị vận động
và khai thác cho mục đích tuyên truyền), quý ngài sẽ thấy những
thánh đường đẹp đầy ắp những người cầu nguyện và hát xướng, như
trong bất cứ thành phố nào khác trong thế giới Kitô giáo. Nhưng
tự do tôn giáo không thể bị giảm thiểu chỉ vào việc tự do thờ
phượng. Nó bao hàm nhiều hơn nữa. Một số người sẽ phản đối điều
này. Một số người đã viết: "Bắc Kinh muốn các giám mục được
tuyển chọn bởi Đức Giáo Hoàng". Cứ y như thật! Thực tế là luôn
có một sự liên tục "giằng co" trong đó tôi không biết ai đã
chịu thua thiệt nhiều nhất.
Thực tế gần đây đã không có những vụ tấn phong giám mục bất hợp
pháp chắc chắn là một điều tốt [phúc
trình này được viết trước khi có vụ tấn phong bất hợp pháp mới
đây-nd].
Nhưng khi chính phủ Trung Quốc tiếp tục gióng cao tiếng nói của
mình và cơ hội cho chúng ta để điều tra quá hạn chế, cộng với sự
sợ hãi của tình trạng bất ổn gia tăng, có một nguy cơ thực sự là
các giám mục trẻ không xứng đáng sẽ được chấp thuận và sẽ trị vì
trên ngôi giám mục trong nhiều thập niên.
Tôi tự hỏi: tại sao không có thoả thuận nào đạt được nhằm bảo
đảm chủ động của ĐGH trong các sự lựa chọn giám mục, trong khi
ghi nhận ý kiến của chính quyền Trung Quốc? Tôi không biết các
cuộc đàm phán giữa hai bên đang tiến hành như thế nào, bởi vì
chúng tôi không nằm trong số các chuyên gia và chúng tôi không
được thông báo về bất cứ điều gì. Nhưng trong số những chuyên
gia theo dõi sát các sự kiện này, ấn tượng chung là phía của
chúng ta luôn có một chiến lược thỏa hiệp, nếu không phải là vô
hạn, thì ít nhất là trong thời điểm hiện tại.
Ở phía bên kia, tuy nhiên, hoàn toàn không có ý định thay đổi.
Những người cộng sản Trung Quốc đã luôn luôn giữ vững các chính
sách tôn giáo nhằm kiểm soát tuyệt đối.
Tất thảy chúng ta đều biết rằng người Cộng sản đàn áp những kẻ
yếu đuối, trong khi trước những người mạnh dạn, đôi khi họ cũng
có thể thay đổi thái độ của họ.
Đã có một bức thư của giáo hoàng gửi cho Giáo Hội tại Trung Quốc,
đã hơn ba năm trước đây, một kiệt tác về sự cân bằng giữa tính
trong sáng của sự thật và lòng khoan dung về một cuộc đối thoại [2].
Thật đáng tiếc tôi phải nói rằng, [nó] đã không được đón nhận
một cách nghiêm túc bởi tất cả mọi người.
Có những người được phép bày tỏ theo một cách khác (xem cái gọi
là " ghi chú giải thích" đi kèm với các ấn phẩm của Bức Thư), có
một số người đưa ra một diễn giải méo mó về Bức Thư (Cha Jeroom
Heyndrickx, CICM) , trích dẫn các biểu thức nằm ngoài ngữ cảnh.
Cách lý giải này nói rằng bây giờ tất cả mọi người từ các cộng
đồng hầm trú nên đi ra và gia nhập cộng đồng công khai[= đăng ký
với chính quyền]. Tuy nhiên, Đức Giáo Hoàng đã không nói điều đó.
Ngài chỉ nói, có, tình trạng hầm trú không phải là điều bình
thường, nhưng Ngài cũng giải thích rằng những người cảm thấy
buộc phải gia nhập cộng đồng hầm trú thường làm như vậy để tránh
việc phải tuân thủ cho một cơ cấu bất hợp pháp.
Đức Thánh Cha nói, có, các cá nhân giám mục có thể suy xét liệu
có nên chấp nhận hay tìm kiếm sự công nhận nào của chính quyền
và đạt giải quyết vào cộng đồng công khai, nhưng không phải
không có ngay từ đầu tiên cảnh báo họ về nguy cơ thật đáng tiếc
là chính quyền "gần như luôn luôn" (điều này biến mất trong bản
dịch Hoa ngữ do Bộ Truyền giáo các Dân tộc) sẽ đòi hỏi các điều
kiện không thể chấp nhận được trong một lương tâm Công Giáo.
Điều sai lầm này - nhưng đó lại là điều tất nhiên được thấy sự
đồng thuận (trong Giáo Triều) của những người có trách nhiệm
trực tiếp cho Giáo Hội tại Trung Quốc - đã tạo ra sự rối ren rất
lớn lao và gây ra sự chia rẽ đau thương ngay trong cộng đồng
hầm trú.
Các lý giải sai lầm này đã bị bác bỏ chỉ sau hai năm trong hai
ghi chú trong Bản Trích Yếu (Compendium) cho lá thư của giáo
hoàng, do Trung Tâm Nghiên Cứu Chúa Thánh Thần tại Hồng Kông và
sự chấp thuận của ban thường vụ của Hội Đồng đặc ủy cho Giáo Hội
tại Trung Quốc[3].
Những ghi chú này làm sáng tỏ rằng các hòa giải được đề nghị
của Đức Thánh Cha phải là một sự tiến gần trong tâm lòng giữa
hai cộng đồng, nhưng một sự thống nhất (chẳng hạn như là một
"sát nhập" hoặc "chuyển giao") là chưa thể thực hiện được do các
chính sách không thay đổi của chính quyền.
Nhưng ngay cả sau khi làm rõ điều này, công việc của một số
người có bàn tay của mình chủ động trên tay lái đã dường như
không thực hiện bất kỳ một thay đổi đường hướng nào, như có thể
dễ dàng nhìn thấy trong những sự kiện bi thảm tại Baoding,
trong động thái cuối cùng của tiến trình cài đặt Đức Cha đáng
thương Francis An, một hành động mập mờ nghiêm trọng, nhưng qua
đó chỉ có sự im lặng - từ ngày 07 Tháng Tám cho đến ngày hôm nay
– đã làm cho cộng đồng của các tín hữu hoang mang, không chỉ là
hầm trú, không chỉ ở Baoding, nhưng toàn cả Trung Quốc[4].
Các cộng đồng hầm trú đáng thương chắc chắn là phần [lớn nhất]
của Giáo Hội chúng ta tại Trung Quốc và ngày nay cảm thấy bất
mãn. Trong khi một số đông tìm thấy nhiều sự khích lệ trong Bức
Thư của Đức Thánh Cha, thì mặt khác, nó lại bị coi là khó chịu,
cồng kềnh, gây rối. Một điều rõ ràng là một số muốn thấy nó (CĐ
hầm trú) biến mất, thấm nhập vào trong cộng đồng chính thức,
nghĩa là, nằm dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của chính phủ (như
vậy thì chắc sẽ có hòa bình?).
Nhưng cộng đồng “công khai” nằm trong tình trạng như thế nào?
Chúng ta biết rằng gần như tất cả các giám mục của cộng đồng này
là hợp pháp hoặc đã được hợp pháp hoá. Tuy nhiên, sự kiểm soát
nhục nhã và nghẹt thở của các cơ quan mà không phải là của Giáo
Hội - Hiệp Hội Yêu Nước và Vụ Tôn Giáo – vẫn không thay đổi gì
cả.
Khi Đức Thánh Cha công nhận các giám mục mà không yêu cầu họ
phải lập tức tháo lột khỏi cấu trúc bất hợp pháp, điều rõ ràng
là với hy vọng họ sẽ làm được việc này từ bên trong để thoát
khỏi cấu trúc đó, bởi vì cấu trúc này không phù hợp với bản chất
của Giáo Hội . Nhưng qua sau nhiều năm chúng ta nhìn thấy gì?
Một vài giám mục đã đạt đến hy vọng đó. Nhiều người đã cố gắng
để sống còn, tuy nhiên, không phải là một số nhỏ trong số các
giám mục, thật không may, đã không hành động theo cách thức phù
hợp trong trạng thái hiệp thông với Đức Giáo Hoàng. Một số người
đã mô tả họ như là những người "hạnh phúc du hành trong toa chở
hàng của giáo hội độc lập và bằng lòng để thỉnh thoảng reo lên:
Vạn tuế Giáo Hoàng!".
Chính quyền mà một thời đã sử dụng các đe dọa và trừng phạt đã
cải thiện phương pháp đàn áp của họ: tiền (quà tặng, xe hơi, nhà
ở) và danh dự (thành viên của Quốc hội Nhân dân, hoặc là cơ quan
tư vấn chính trị ở các cấp độ khác nhau, với các cuộc họp, ăn
trưa, ăn tối và tất cả những gì theo sau).
Còn chiến lược “của chúng ta” thì thế nào? Tôi sợ rằng thường
khi nó chỉ là một lòng thương cảm sai lầm gây cho các anh em yếu
đuối của chúng ta trượt xuống và ngày càng trở nên làm nô lệ
nhiều hơn. Các nố vạ tuyệt thông được giải quyết đã bị lãng quên
cách nhẹ nhàng xảo quyệt, về câu hỏi: "Chúng ta có thể đi dự lễ
kỷ niệm dịp kim khánh 50 năm tấn phong bất hợp pháp đầu tiên
chăng?" Quý ngài trả lời: "Hãy làm mọi cách để tránh không đi" (và
tất nhiên hầu hết tất cả đã đi).
Sau các cuộc thảo luận dài tại Hội Đồng đặc ủy cho Giáo Hội tại
Trung Quốc, điều đã được quyết định là gửi một lệnh rõ ràng cho
các giám mục không được tham dự cái gọi là dự định, "Đại Hội Đại
biểu của Giáo Hội tại Trung Quốc", nhưng vẫn còn có những người
nói, "chúng tôi hiểu những khó khăn phải gặp tới của các giám
mục đáp ứng bằng cách không đi" .
Đối mặt với những thông điệp mâu thuẫn như thế, chính quyền biết
rằng họ có thể lờ đi bức thư của Đức Giáo Hoàng mà không bị
trừng phạt.
Kính thưa chư huynh đệ, tôi giả định là quý ngài nhận thức được
những sự kiện gần đây: họ đang một lần nữa cố gắng tấn phong
Giám mục bất cần tới sự chấp thuận của giáo hoàng [5].
Vì lý do này mà họ bắt giữ giám mục, gây áp lực lên những người
khác: đây là những tội phạm nghiêm trọng đối với tự do tôn giáo
và nhân phẩm cá nhân . Tôi trân trọng cảm kích phản ứng chính
xác, kịp thời và trang trọng của Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh.
Trong số những điều khác, có lý do để nghi ngờ rằng những nỗ lực
đó thậm chí không đến từ phía trên, nhưng từ những người trong
những năm qua đã đạt được vị trí quyền lực và lợi ích và làm
không muốn phải thay đổi đều gì cả.
Chúng ta hãy cầu nguyện với Đức Mẹ, Đấng Phù Trợ các giáo hữu,
để cặp mắt của các nhà lãnh đạo tối cao của đất nước chúng ta có
thể được mở ra, để họ có thể ngăn chặn những ý đồ ác độc và đáng
xấu hổ và nỗ lực để cho phép người dân của chúng tôi quyền tự do
tôn giáo đầy đủ và đúng nghĩa vì lợi ích và danh dự của quê
hương chúng tôi .
Chúng tôi cầu nguyện rằng các chiến lược “của chúng ta" có thể
trở lại đường hướng đã vạch ra, để nó đi theo một cách trung
thực các hướng chỉ đạo trong Bức Thư của Đức Thánh Cha. Hy vọng
rằng đã chưa quá muộn cho một thay đổi tốt đẹp về hướng đi.
Phạm Hương Sơn chuyển ngữ
[5] See. Note
1.
[1]
Các tường trình được thực hiện ngày 19 tháng 11 vừa qua, khi
vụ tấn phong bất hợp pháp tại Thừa Đức vẫn chưa xảy ra (xem
AsiaNews.it, 2010/11/20 Thừa Đức, Tám giám mục hiệp thông
với Đức Giáo Hoàng tham gia vụ tán phong bất hợp pháp).
[2] Xem: hồ sơ lưu trữ AsiaNews.it,
Bức Thư của Đức Giáo Hoàng gửi cho Giáo Hội tại Trung Quốc
[3] Xem: AsiaNews.it, 23/05/2009
Đức Giáo Hoàng chấp thuận một bản yếu lược cho Bức Thư gửi
cho người Công giáo ở Trung Quốc
[ 4]
Xem: AsiaNews.it, 29/10/2009 Trung Quốc - VATICAN Tại Hà Bắc,
giám mục hầm trú gia nhập Hiệp hội Yêu Nước Trung Quốc và
các bài viết liên quan khác.
[5] Xem. Chú thích 1.
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
THÁNH LỄ CẦU NGUYỆN THEO Ý CHỈ.
|
(Thánh lễ GREGORIA
[1]
và Thánh lễ ĐA Ý CHỈ)
Bác sĩ Nguyễn Tiến
Cảnh, M.D.
Ngày 1 tháng 11
hàng năm là ngày lễ các Chư Thánh và cũng bắt đầu tháng các linh
hồn. Lễ Halloween ở Hoa Kỳ và ở Việt Nam có Ngày Cô Hồn cũng
rơi vào tháng 11. Trẻ con ở Mỹ có tập tục mặc đồ hoá trang thành
ma quỉ, thần chết hay những hình dáng kỳ quái như để hù dọa
người ta và đến chừng 6-7 giờ tối khi màn trời đen bắt đầu buông
phủ chụp xuống không gian thì trẻ em cũng lục đục đi đến từng
nhà gõ cửa để xin kẹo bánh. Bề ngoài là đi xin bánh kẹo nhưng
theo ý nghĩa của lễ Halloween là ma quỷ, cô hồn đi hù dọa người
ta để kiếm thức ăn. Trick or treat. Cũng tương tự như lễ Cô Hồn
ỏ Việt Nam vậy, người ta đem thức ăn ra ngoài ngõ, sau khi đã
cúng các cô hồn thì để mặc cho trẻ em tha hồ nhào vô dành dật.
Đông Tây hình như cũng có cái gì giống nhau về phương diện linh
thiêng tinh quái gì đó? Phải chăng Giáo Hội cũng dựa vào những
tập tục đó để dành tháng 11 hàng năm cầu nguyện đặc biệt cho các
linh hồn nơi luyện tội, xin Chúa thương cúu giúp họ mau được lên
thiên đàng hưởng nhan thánh Chúa cùng với các chư thánh.
Nhân đây, xin được
trình bày về các thể lệ cử hành Thánh Lễ Theo Ý chỉ
và Thánh Lễ Cầu Hồn Suốt Cả Tháng mà hồi xưa ta
hay gọi là lễ Gregoria dưới dạng những câu hỏi và trả lời
cùng diễn giải của cha Edward McNamara hiện là giáo sư phụng vụ
thuộc Viện đại học Regina Apostolorum. Để cho tiện, trong bài
này xin được dùng tiếng Thánh Lễ Gregoria thay vì tiếng
Thánh Lễ cầu hồn suốt cả tháng 30 ngày.
Dưới đây là 2 câu
hỏi, một từ St. Petersburg, Florida và một từ Kaduna, Nigeria.
Câu hỏi 1:
Chúng con thuộc về một cộng đồng tu sĩ. Chúng con là những linh
mục sống trong một tu viện và tất cả đều cùng có công tác mục vụ
bên ngoài nhà dòng. Người thì coi xứ đạo, người thì săn sóc sinh
viên trong đại học và người thì là tuyên uý cho một viện dưỡng
lão. Đôi khi chúng con cử hành thánh lễ trong nhà nguyện của nhà
dòng chúng con, nhưng đa phần là ở ngoài. Đây là câu hỏi xin
được cha giải đáp: Chúng con có thể cử hành Thánh lễ Gregoria
được không? Hỏi cha giám tỉnh thì ngài trả lời là ĐƯỢC, bởi vì ý
chỉ nào thì cũng vậy thôi. Đây luôn luôn là ý chỉ của đấng bề
trên, ngay cả lễ được cử hành ở một nơi nào khác. Lại một thắc
mắc nữa: Nếu lễ được cử hành ở một xứ đạo hay ở một nhà nguyện
thì ý chỉ cũng luôn luôn đã có rồi, vậy thì ý chỉ của bề trên có
thể bất kể nơi cử hành thánh lễ và bổng lễ đã nhận cũng như
thánh lễ đã được thông báo ý chỉ trước rồi hay sao? (M.P., St
Petersburg, Florida).
Câu hỏi 2:
Trong xứ đạo của con ở Nigeria, cha xứ nhận nhiều ý chỉ trong
một thánh lễ. Đầu thánh lễ, ngài đọc lớn tiếng những ý chỉ
và mời gọi cộng đoàn cùng hiệp ý cầu nguyện cho những ý chỉ đó
cũng như những ý chỉ riêng của chúng ta là các linh mục. Chúng
con khi còn trong nhà trường đã được dạy rằng một linh mục chỉ
được nhận một ý chỉ cho một thánh lễ mà thôi. Xin
cha giáo giải thích dùm. (M.J.G., Kaduna, Nigeria).
TRẢ LỜI của
cha giáo E.MacNamara
Trả lời dưới đây sẽ
chung cho cả hai câu hỏi bởi vì cả hai câu đều có liên quan đến
bổng lễ mà các linh mục đã nhận của giáo dân.
Thánh Lễ Gregoria
đã được Thánh Bộ Phụng Tự hiệu chính và ban hành ngày 24 tháng 2
năm 1967. Thánh Lễ Gregoria là một chuỗi 30 thánh lễ được cử
hành liên tục. Nó không bắt buộc một linh mục phải làm đủ 30 lễ,
cũng không buộc phải cử hành tại cùng một bàn thờ. Vậy nếu một
linh mục đã nhận làm lễ này thì phải thi hành đúng 30 lễ liên
tiếp. Tuy nhiên nếu vì trở ngại mà không làm được trong một ngày
nào đó thì phải nhờ một linh mục khác làm thế cho mình với cùng
ý chỉ đó.
Nhưng nếu không thể
kiếm được cha nào thay thế và thánh lễ bị gián đoạn do những trở
ngại bất ngờ ngoài ý muốn không tính trước được chẳng hạn như
thình lình bị bệnh hoặc một lý do chính đáng khác như phải làm
lễ an táng hay lễ cưới thì, trong trường hợp này Giáo Hội có thể
châm chế phán rằng ân sủng của việc cầu nguyện, mà cho đến lúc
đó nhờ sự thực hành của Giáo Hội và lòng sốt sáng của tín hữu,
vẫn có giá trị. Tuy nhiên linh mục vẫn buộc phải hoàn thành đầy
đủ 30 thánh lễ càng sớm càng tốt, nhưng không cần thiết phải làm
lại từ đầu.
Sau đây lại là một
trường hợp cần phải để ý. Cử hành Thánh lễ Gregoria không thể
lẫn lộn đem làm chung với những sinh hoạt bình thường khác của
một xứ đạo mà trong đó ý chỉ của họ đã được thông báo rồi. Một
linh mục dòng làm lễ theo ý chỉ của bề trên dòng mình chỉ khi
nào không có ý chỉ nào khác đã được chỉ định trước ở xứ đạo mà
mình coi sóc. Một linh mục làm mục vụ trong đại học hay công tác
tông đồ nào khác không có những ý chỉ nhất định thì có thể làm
lễ Gregoria được.
Cũng tương tự như
vậy, nếu bề trên dòng muốn chỉ định cho một cha thuôc quyền làm
lễ Gregoria thì ngài phải thông báo cho cha đó biết trước. Linh
mục đó chỉ có thể chấp nhận nếu không có những bó buộc nào khác
có thể làm cản trở việc dâng thánh lễ Gregoria. Linh mục muốn
nhận lễ Gregoria cần phải được biết trước để có thể thu xếp hầu
chu toàn 30 lễ và tìm người thay thế khi có lý do chính đáng
không thể cử hành thánh lễ với ý chỉ đã định trong một ngày đặc
biệt nào đó.
Theo luật định thì
một linh mục chỉ được phép nhận mỗi ngày một bổng lễ mà
thôi.
“Luật Can 945
*1. Theo như Giáo Hội vẫn thực hành và được chấp nhận thì một
linh mục làm chủ tế hay đồng tế đều được phép nhận bổng lễ cho
thánh lễ đó với một ý chỉ đặc biệt.
“*2. Các linh mục cũng nên nhớ rằng họ phải
dâng thánh lễ cầu theo ý chỉ của giáo dân, đặc biệt những người
cần thiết nhưng họ lại nghèo không có tiền để biếu bổng lễ cho
linh mục.
“Luật Can.947:
Bất cứ một hình thức buôn bán hoặc đổi trác nào liên quan tới
thánh lễ đều bị ngăn cấm và loại bỏ hoàn toàn ra khỏi việc dâng
cúng bổng lễ.
“Luật
Can.948- Linh mục phải làm nhiều lễ khác nhau cho nhiều ý
chỉ của những người mà họ chỉ dâng cúng có một bổng lễ mà
thôi.(Nghĩa là linh mục phải làm mỗi thánh lễ một ý chỉ dù chỉ
nhận được có một bổng lễ).
“Luật Can.951
*1-Một linh mục làm nhiều lễ trong cùng một ngày có thể áp dụng
cho mỗi thánh lễ một ý chỉ mà linh mục đã nhận bổng lễ. Nhưng
theo luật, ngoại trừ ngày lễ Giáng Sinh, ông chỉ được giữ bổng
lễ cho một thánh lễ mà thôi và phải chuyển những bổng lễ kia cho
những ý chỉ đã được xếp đặt bởi đấng bản quyền trong khi ông vẫn
được hưởng một số phần thưởng nào đó vì lý do ngoại cảnh khác.
“*2-Một linh mục đồng tế một lễ thứ 2 trong
cùng một ngày thì không thể nhận bổng lễ do thánh lễ đó vì bất
cứ lý do gì.
“Luật Can.953-
Không một ai được phép nhận nhiều bổng lễ cho mình mà chính mình
không thể thi hành thoả mãn đầy đủ trong cả năm.
“Luật Can.954-
Nếu ở một số giáo xứ hoặc dòng tu mà số lễ được xin để cầu
nguyện vượt quá sức có thể làm tại nơi đó thì có thể được phép
làm ở những nơi khác nếu không có sự phản đối của người xin lễ”.
Tuy nhiên cũng có
những văn kiện khác hiệu đính vấn đề này, sắc lệnh 1991 Mos
lugiter (AAS 83 [1991] 436-446). Sắc lệnh này đã thay đổi
điều khoản chặt chẽ của luật Can. 948 và cho phép xử dụng một số
ý chỉ gọi là tích lũy dưới một vài điều kiện khìt khao như sau:
-Người xin lễ
phải được thông báo trước và họ phải đồng ý cho phối hợp các
bổng lễ lại trong một thánh lễ đươc cử hành theo ý chỉ phối hợp.
-Địa điểm và
thời gian làm mỗi một lễ phải được thông báo và không được quá 2
lễ phối hợp như vây trong một tuần.
-Linh mục chủ tế
chỉ có thể được giữ một bổng lễ cho mình mà thôi và phải chuyển
đi những bổng lễ khác của các ý chỉ khác cho những mục đích đã
được chỉ định thường ngày theo như luật Can.951.
Tuy nhiên, ở một số
nước có nhiều tín hữu và những xứ đạo lại có quá đông giáo dân,
chúng ta thường thấy linh mục làm một thánh lễ cho nhiều ý chỉ.
Cách thực hành này thường thấy xẩy ra ở một số nước thuộc
Châu-Mỹ-Latin và có thể là trường hợp xẩy ra ở Nigeria như trong
câu hỏi 2. (Ở Việt Nam cũng có những trường hợp tương tự như
thế,.ghi chú của người viết).
Trong những trường
hợp như vậy vì có quá nhiều giáo dân xin lễ theo ý chỉ, nên cha
xứ không thể nào làm cho mỗi người một lễ được. Khi xin cha làm
lễ cầu nguyện như vậy, người tín hữu không nghĩ rằng họ cần một
lễ riêng cho cá nhân họ mà cứ phỏng định yên chí là sẽ có một lễ
với nhiều ý chỉ. Ngoài ra, tình trạng kinh tế của người dân
không cho phép họ biếu bổng lễ một cách thích đáng nên vấn đề
chuyển ý chỉ của họ cho các linh mục khác thật sự khó có thể làm
được. Thiết nghĩ các linh mục và cha xứ nên cắt nghĩa cho giáo
dân hiểu rõ vấn đề này để tùy họ quyết định.
Để giải quyết vấn
đề thực tế này, một số đề nghị mới đã được đưa ra. Thí dụ năm
ngoái tổng giáo phận Mễ-Tây-Cơ đã biểu quyết một bổng lễ cố định
cho một ý chỉ, nhưng thánh lễ với nhiều ý chỉ thì bổng lễ hoàn
toàn do tự nguyện tùy theo khả năng tài chánh của người xin lễ.
Sắc lệnh này của
Đức Tổng ám chỉ rằng: mặc dù thánh lễ cộng đồng được làm hơn hai
lần một tuần do số người xin lễ quá nhiều, nhưng các chỉ dẫn của
luật và sắc lệnh Mos Lugiter vẫn phải được thi hành và tôn trọng
với bất cứ bổng lễ nào vượt quá và trên mức tiêu chuẩn.
ĐÔI LỜI KẾT
:
Người giáo dân Việt
Nam có truyền thống mộ đạo, rất tin tưởng vào ân sủng do Thánh
Lễ mang lại, nên rất nhiệt tình trong việc cây nhờ các linh mục
dâng Thánh Lễ để cầu nguyện theo ý chỉ của mình. Ngoài ra tin
tưởng rằng lời cầu nguyện của các linh mục sẽ đắc lực, được Chúa
dễ nhận lời hơn là lời cầu của chính mình. Hy vọng sau khi đọc
lời giải đáp của cha giáo E.McNamara, chúng ta / giáo dân hiểu
được phần nào ý nghĩa và ân sủng mình có được do bí tích Thánh
Lễ mình xin các linh mục cử hành để cầu nguyện cho mình và thân
nhân còn sống cũng như đã qua đời.
Chú Thích:
Quí vị nếu ai có câu hỏi muốn hỏi cha E. McNamara thì có thể gửi
điện thư cho cha về địa chỉ:
liturgy@zenit.org. Xin đề tên viết tắt (initials), thành
phố và tiểu bang cùng quốc gia nơi mình cư ngụ Đừng quên đề chữ
Liturgy vào chỗ đề mục(Subjet).
Ngày Lễ Các Thánh
và ngày đầu Tháng Lễ Các Linh Hồn
Fleming Island,
Florida 1-11-2010
NTC
Thánh lễ Gregoria
là một loạt 30 lễ được cử hành liên tục trong suốt cả tháng để
cầu nguyện cho một người đã qua đời. Đây là một tập tục xuất
phát từ một mạc khải riêng tư mà Đức Giáo Hoàng Gregoria I đã
nhận được.
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
AIKIDO TRONG ĐỜI SỐNG NỘI TÂM VÀ
MỤC VỤ TƯ VẤN
|
|
Qua bài viết này, con xin tri ân
Giáo sư võ sư Bùi Thế Cần, Giáo sư võ sư Nguyễn Tăng Vinh, thầy
Hiệp, thầy Tiến, thầy Phong, thầy Hậu, thầy Hoàng; và cũng hết
lòng cám ơn quí bạn đồng môn của hai CLB Aikido Phú Nhuận và Đạo
Đường Đa Kao.
Vào tháng
giêng năm 2010, trong dịp đi thăm bệnh nhân hằng tuần tại bệnh
viện Columbia, thành phố West Palm Beach, Florida, tôi gặp một
bệnh nhân khoảng chừng 70 tuổi. Cũng như vài bệnh nhân tôi đã
gặp, ông đã đặt câu hỏi về sự dữ, sự ác, sự bất công trong thế
giới loài người. Dù ông tỏ lộ niềm vui khi gặp một chủng sinh
công giáo, nhưng đồng thời ông cũng tỏ thái độ thách thức đối
với tôi, người mà theo ông có thể biết về Kinh Thánh, thần học.
Ông hỏi như thách thức: “Anh hãy cho tôi biết, tại sao Chúa lại
để cho cháu gái tôi, mới 9 tuổi đã phải mắc bệnh ung thư? Tại
sao Chúa không để cho tôi mắc bệnh ung thư thay cho nó? Nếu có
Chúa, tại sao Ngài lại để như vậy? Sao Ngài lại để cho sự ác
hoành hành trong thế giới con người? Anh hãy cho tôi biết đi để
tôi tin vào Chúa! Tôi có làm gì gian ác đâu mà sao Ngài lại
trừng phạt tôi? Cháu tôi chỉ là đứa bé vô tội, sao Chúa lại
trừng phạt nó? Anh hãy nói đi, hãy trả lời đi để tôi tin vào
Chúa”
Tôi nhìn
người đàn ông với ánh mắt thông cảm, yêu thương. Tiến lại gần
hơn, nắm tay ông, nhìn ông, cúi gần xuống, tôi nói. “Thưa ông,
cho tôi xin lỗi. Tôi không biết.”
Nghe xong câu
trả lời, sắc mặt ông đột nhiên biến đổi; từ thái độ thách thức,
tức giận, oán than, qua thái độ chấp nhận và chia sẻ. Với giọng
nhỏ nhẹ, ông đáp, “Anh nói đúng, tôi đồng ý với anh. Anh không
biết.” Tiếp theo, ông không còn tỏ thái độ “thách thức” tôi nữa;
ông đón nhận tôi, ông chấp nhận sự hiện diện của tôi bằng cách
bộc bạch những khó khăn trong đời sống, trong gia đình, và trong
cuộc đời ông. Ông cũng dần dần nhận ra Chúa trong đời ông, trong
hoàn cảnh mà cháu ông gặp phải. Tóm lại, ông đã mở lòng để thấy
sự hiện diện của Chúa trong những hoàn cảnh đau thương trong
cuộc đời ông.
Ngay khi mới
gặp bệnh nhân này, tôi như bị “tấn công” bằng những đòn hiểm độc.
Ông “ra chiêu” đánh thẳng vào “Thiên Chúa của tôi.” Ông đánh
thẳng vào Truyền thống, vào Giáo hội, vào tất cả những nền tảng
mà tôi tin, tôi sống, và tôi theo đuổi bảo vệ. Máu anh hùng, máu
hiểu biết trổi dậy trong tôi ngay lập tức. Cái cám dỗ muốn dùng
kiến thức Kinh Thánh, thần học để lý giải và để giúp cho ông
hiểu đã trổi dậy trong tôi. Tôi muốn dùng kinh nghiệm đau khổ cá
nhân để nói về sự quan phòng của Thiên Chúa. Tôi muốn dùng hình
ảnh khổ nạn của Chúa Giêsu để khuyên ông vâng phục như Ngài. Tôi
muốn chia sẻ với ông những tư tưởng của các thánh, của Mẹ Têrêsa
Calcultta về giá trị của đau khổ,… Nhưng không, tôi dừng ở đó,
tôi im lặng và nhìn ông, nắm tay ông (điều mà không phải ai ai
cũng làm khi gặp bệnh nhân, nhất là người ấy không phải là người
thân của mình). Tôi nhớ đến kỹ thuật Aikido, tôi áp dụng nó, và
kết quả dường như giúp ông phần nào.
* * *
Aikido (合気道 )
– Hiệp Khí Đạo là môn võ
thuật được tổ sư Morihei Ueshiba (1883 –1969) sáng chế. Nguyên
tắc của Aikido là hòa hợp, là lấy nhu thắng cương, là lấy yếu
chế ngự mạnh. Theo tiếng Anh, Aikido có nghĩa là “the way of
harmonious spirit,” tạm dịch, “phương cách hòa hợp tinh thần.”
Aikido không phải là môn võ tấn công, thắng hay bại, nhưng là
tự vệ (self-defense) và hòa hợp. Vì thế, để tập luyện cần phải
có hai người để cùng giúp nhau mỗi ngày mỗi cảm nghiệm thêm và
cùng thăng tiến cả về thể chất lẫn tinh thần. Trong một dịp tĩnh
tâm tại chủng viện St. Mary, Philadelphia, vào năm 2009, tôi tìm
gặp bốn nguyên tắc trong Aikido mà theo tôi, bốn nguyên tắc này
có thể được dùng để áp dụng cho đời sống tinh thần, đặc biệt cho
đời sống nội tâm, cũng như trong mục vụ. Vì lẽ đó, tôi chia sẻ
bốn nguyên tắc này, để dù bạn là người không hề biết Aikido là
gì, nhưng nếu bạn nghiền ngẫm bốn nguyên tắc này, phần nào bạn
có thể tìm thấy vài ích lợi nho nhỏ trong đời sống nội tâm và
mục vụ.
1.
Observe – Quan sát:
Khi hai đối thủ gặp nhau, điều quan trọng trước tiên phải là
quan sát. Quan sát xem thử đổi thủ “ra chiêu” gì. Aikido không
có chiêu thức gì cả, nhưng chỉ chờ đối thủ ra chiêu và dùng sức
mạnh của đối thủ để chế ngự đối thủ. Trong đời sống nội tâm cũng
vậy, có những hoàn cảnh “trái ý” xảy đến, ví dụ như những lúc
ta cô đơn, buồn phiền, nghịch cảnh. Điều ta cần phải làm là dừng
lại để “quan sát” chúng. Thông thường ta ít khi dừng lại để quan
sát, mà ta thường có phản ứng (react) ngay. Ví dụ ai nói điều gì
động đến ta, ta dễ dàng “nói lại” (talk back) ngay; ta dễ dàng
trả đũa trong những hoàn cảnh trái ý ngay. Theo nguyên tắc thứ
nhất này, thay vì phản ứng, ta có thể dừng lại để “quan sát” sự
kiện làm ta khó chịu hay bực mình. Ta có thể dừng lại để “nhìn”
nó, và để chỉ nhận ra nó mà thôi.
Trong trường
hợp trên, tôi đã dừng lại để quan sát thái độ “ra chiêu” của ông
lão và nhận thấy rằng, thực ra nơi ông cũng có những đau khổ, lo
sợ của một kiếp người. Những câu hỏi “tấn công” tôi liên tục
biểu hiện một thái độ lo sợ cho sự an toàn, lo sợ cho tương lai;
ông dường như mất niềm tin vào Thiên Chúa. Nhờ quan sát tôi nhận
ra rằng, điều ông đang cần là tìm một ai đó để chia sẻ, để lắng
nghe, chứ chưa chắc ông đã oán giận Thiên Chúa thực sự.
2.
Receive – Đón nhận:
Mức độ thuần nhuyễn của người tập luyện Aikido là ở chỗ biết
tiếp nhận/cảm nhận lực tấn công của đối phương. Aikido không
dùng sức để chống lại, để đối kháng, mà trái lại, áp dụng nghệ
thuật tiếp nhận/cảm nhận sức mạnh của đối phương và dùng chính
sức mạnh của họ đó để chuyển hướng họ. Trong đời sống nội tâm
cũng thế. Những cuộc tấn công như vũ bão của thế gian, xác thịt
là có thật. Nếu ta chạy trốn chúng, thì ta sẽ chạy đến bao giờ?
Làm sao ta chạy trốn khỏi thân xác, khí huyết ta được? Làm sao
ta có thể chạy trốn khỏi thế giới này được? Danh-Lợi-Thú có đó,
hiện diện đó trong thế giới và trong mỗi con người. Hãy quan sát
chúng và đón nhận chúng như chúng là. Không suy nghĩ gì thêm
hơn, không tưởng tượng gì thêm hơn; hãy nhìn và chấp nhận sự
hiện diện của chúng như chúng là.
Trong hoàn
cảnh trên, tôi đón nhận người bệnh nhân này. Tôi để ông “tấn
công” tôi và tôi tiếp nhận những “chiêu thức” của ông. Tôi không
phản ứng ngay, nhưng cứ để ông “ra đòn.” Khi người ta uẩn ức,
buồn phiền, lo lắng, người ta chỉ muốn tìm một ai đó để trút
“bầu tâm sự.” Đó là lúc ta tiếp nhận họ, tiếp nhận “chiêu thức”
của họ. Làm như vậy không có nghĩa ta bị lép vế, bị thua cuộc.
Nhưng thực ra ta đang phần nào giúp họ thoát ra tình cảnh buồn
phiền, uẩn ức. Ta tỏ bày tình yêu và sự quan tâm đến họ. Họ cần
người có khả năng lắng nghe và cảm thông với tất cả trái tim và
khối óc.
3. Relax –
Thả lỏng: Trên sàn đấu võ, ta trở thành mục tiêu để đối
phương tấn công. Mục tiêu ấy có thể là tay, chân, hoặc thân thể
của ta. Khi hai kình địch gồng tay nhau, bỗng một bên thả lỏng,
người kia sẽ hớ đà. Khi chiêu thức của đối phương vừa “chạm” đến
ta, ta thả lỏng, không chống cự, nhưng chỉ xoay người làm cho
đối phương bị hớ đà vì do ta đã thả lỏng hoặc né tránh. Đánh vào
mục tiêu thì có giá trị, chứ đánh vào khoảng không thì vô nghĩa,
chỉ mất thăng bằng, hớ đà và té ngã. Đời sống nội tâm của ta
phần nào cũng tương tự như vậy. Khi bị tấn công từ những cơn cám
dỗ, bị hiểu lầm, bị lên án, gặp nghịch cảnh,… Đừng “gồng mình”
để tự biến mình thành mục tiêu cho “đối phương” tấn công. Chết
ngay, ta không đủ sức chống lại chúng đâu! Đừng nghĩ là mình có
đủ sức mạnh để chống trả, để quật ngã chúng. Hãy di chuyển mục
tiêu làm chúng bị hớ và té ngã. Hãy thả lỏng và chuyển mục tiêu
“ta, tôi” qua Bí tích Thánh Thể. Hãy thả lỏng và để Chúa trở nên
mục tiêu của chúng. Chúng làm được gì với sức mạnh của Thánh Thể?!
Tại bệnh viện,
tôi đã thả lỏng vì hiểu rằng, những “đòn” tấn công của bệnh nhân
đó thực sự đâu có nhắm vào tôi. Nếu một chủng sinh khác có mặt
hôm đó thì bệnh nhân ấy cũng sẽ tuôn ra những lời tương tự như
vậy. Hóa ra, ông đâu ghét gì tôi mà “chửi” hay “thách thức” tôi.
Nếu tôi phản ứng bằng cách “giảng dạy, lên lớp” ông thì tôi mắc
bẫy, tôi bị cuốn vào một cuộc chiến hơn thua giữa tôi với ông.
Ông sẽ thêm giận, tôi cũng thêm bực mình. Và có thể tồi tệ hơn
là ông sẽ gọi bảo vệ, y tá để “tống” tôi ra khỏi phòng của ông.
Những bất bình, nghịch cảnh là có thật trong đời sống, nhưng
thực ra chúng đâu hiện diện mãi mãi trong đời ta được. Đừng quá
để ý đến chúng, đừng để ta trở thành mục tiêu cho chúng. Hãy thả
lỏng, đừng nắm giữ chúng lại – chúng đến rồi đi như nước - chảy
- mây – trôi.
4. Let go
– Buông thả (té ngã): Khi ta (mục tiêu) đã xoay chuyển hướng,
thì cú đòn của đối phương nhắm vào ta đã bị chuyển vào khoảng
không, vô giá trị. Từ thế yếu, ta chuyển qua thế mạnh; từ kẻ bị
tấn công, ta làm chủ thế trận. Như thế, chỉ cần một động tác nhỏ
là ta có thể quật ngã được đối phương. Tương tự như thế trong
đời sống nội tâm của ta. Những khúc mắc, điểm đen, ma quỉ khi
không còn nhận ta làm mục tiêu cho chúng nữa, mà mục tiêu chính
là Bí tích Thánh Thể, chúng sẽ tháo lui, té ngã, bỏ chạy.
Trong căn
phòng bệnh viện ấy, với sự quan sát, tiếp nhận, và thả lỏng của
tôi, bệnh nhân ấy đã bộc lộ (buông thả) tất cả những nỗi lo âu,
sợ hãi của một kiếp người. Thái độ muốn thách thức, hơn thua
không còn nữa, mà nhường lại cho sự hòa hợp, cảm thông giữa hai
con người với nhau. Nỗi đau của ông cũng là nỗi đau của tôi; và
sự giới hạn của tôi cũng là sự giới hạn của ông. Ông và tôi gặp
nhau không phải trong sự thỏa mãn chiến thắng của mỗi người,
nhưng trong sự nhận biết giới hạn của nhau. Ông và tôi cũng hiểu
rằng, thay vì nặn óc dùng trí khôn để lý giải về điều ác, về bất
công, thì chúng ta hãy cùng cảm thông chia sẻ với nhau những vấn
nạn ấy.
* * *
Thưa bạn,
Chúa Giêsu cũng đã trải qua cơn cám dỗ về quyền lực, về hiểu
biết trong sa mạc và trên thập giá. “Nếu ông là con Thiên Chúa…”
(Mt 4:3; 27:40), “ông hãy biến đá thành bánh (Mt 4:3; Lk 4:3),
ông hãy xuống khỏi thập giá” (Mt 27:40). Chúa Giêsu đã không mắc
vào bẫy của ma quỉ, của bóng tối, nhưng Ngài quan sát, tiếp nhận
và phó thác cho Thiên Chúa Cha định đoạt số mệnh của mình thay
vì giải đáp bằng lý luận theo kiểu con người. Chắc chắn một điều
là ai ai trong chúng ta cũng gặp nhiều khúc mắc, vấn nạn trong
đời sống nội tâm và mục vụ mà không phải lúc nào ta cũng có thể
tìm câu trả lời, hay đáp ứng cho người khác được. Thực ra, Chúa
đâu kêu gọi ta để ta “sửa” hết những vấn nạn ấy đâu, nhưng quan
trọng hơn hết chính là sự hiện diện, và sự lắng nghe của ta để
khơi dậy niềm hy vọng bằng tình yêu và cảm thông cho tha nhân mà
thôi.
Ơn gọi là một
hành trình của đức tin – tiếp tục ra đi, tiếp tục khám phá, tiếp
tục gặp thử thách vấn nạn, chứ không phải là hành trình đi tìm
đáp số như một bài toán. Hôm nay tôi đang chia sẻ với bạn về
những cảm nghiệm về ơn gọi, về hành trình đức tin, nhưng có lẽ
chỉ ngày mai thôi, tôi mệt mõi, tôi lo âu, tôi ngã quị, nhưng
với ơn Chúa tôi sẽ tiếp tục đáp trả và tiến tới phía trước. Đáp
số của ơn gọi không thể chỉ tìm thấy ở những ngày tiến chức,
khấn hứa, bằng cấp, hay tổ chức thành công những lễ hội, nhưng
đáp số ấy cũng còn được tìm thấy trong từng ngày sống âm thầm
một mình, bị hiểu lầm, bị cô lập, và cả vào lúc tuổi già bóng xế,
mõi mệt. Nói như thánh Phaolô như trong cuộc chạy đua về đích
(cf. Cor 9:24), mỗi bước chạy của chúng ta đều là đáp số cho ơn
gọi. Khán giả bên vệ đường vỗ tay hay độc hành trên lộ trình,
từng bước chân của ta tiến tới là mỗi lời giải đáp và cũng là
mời gọi tiến lên trong hành trình ơn gọi. Bao lâu ta còn chạy,
ta còn hy vọng tìm thấy đáp số và còn hy vọng về đến đích. Đừng
để những tiếng gọi “lao xao” làm chệch hướng của ta, nhưng cứ
hãy: observe, receive, relax, và let go.
Br. Huynhquảng
www.
brhuynhquang.org
email:
brhq@brhuynhquang.org
Video minh
họa tại:
http://brhuynhquang.org/?p=1347
Bốn nguyên tắc này chỉ là quan điểm cá nhân của tác giả
bài viết, không phải là nguyên tắc chung của Aikido.
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
TRONG PHÚC ÂM CÓ CON NGƯỜI
|
|
NGUYỄN HỌC TẬP
- " Phúc Âm mạc khải mầu nhiệm
Thiên Chúa, tình yêu của Ngài cho con người, và "mạc khải hoàn
hảo chính con người cho con người" (GS, 22).
Mạc khải Ki Tô giáo là những mạc
khải được thể hiện trong lịch sử nhân loại. Nói với con người
bằng ngôn ngữ cập nhật dễ hiểu của họ: do đó, Giáo Hội không
thể nào không quan tâm đến hoàn cảnh xã hội, văn hóa và điều
kiện sống của con người trong thực tại:
- " Vui mừng va hy vọng,
buồn phiền và lo âu của con người, Giáo Hội cảm nhận thực sự và
mật thiết liên đới với nhân loại và dòng lịch sử của họ" ( GS, 1
).
Giáo Hội chia xẻ những vấn đề của
con người " bằng chiếu rọi ánh sáng Phúc Âm để giải thoát con
người và canh tân xã hội" ( GS, 3 ).
Với ánh sáng Phúc Âm, chúng ta
biết được con người cao cả hơn các tạo vật,
- được dựng nên giống hình ảnh
Thiên Chúa ( Gn 1, 27),
- từ hàng thọ tạo được nhắc lên
địa vị làm con Thiên Chúa( Mt 6,9 )
- và được Chúa cho tham dự vào
bản tính Thiên Chúa của Ngài, vào đời sống nội tại mà Ngài đang
sống ( 2 Pt 1,4).
Con người với địa vị cao cả đó,
nhưng nhìn vào thực tại là con người bị khổ hạnh, băng hoại do
tội lỗi và do các điều kiện sống của mình.
Do đó ánh sáng Phúc Âm không phải
chỉ mạc khải cho con người Thiên Chúa và địa vị cao cả lý tưởng
của mình, mà còn là ánh sáng và sức mạnh trợ lực con người để
giải thoát con người hoàn hảo của mình, như khuôn mẫu của Thiên
Chúa khi Người tạo dựng nên họ:
- " Phúc Âm là thông điệp
của tự do và sức mạnh để giải thoát. Trước tiên và chính yếu,
Phúc Âm là thông điệp và sức mạnh giải thoát khỏi nô lệ, căn cội
do tội lỗi. Và từ đó là sự giải thoát toàn vẹn con người. Điều
đó có nghĩa là Phúc Âm giải phóng con người khỏi ách nô lệ của
văn hóa, kinh tế, xã hội và chính trị. Tất cả những căn cội nô
lệ đó, chung quy đều phát xuất từ tội lỗi (và hậu quả của tội
lỗi là ý thức hệ băng hoại về con người), tạo nên muôn vàn
nghịch cảnh ngăn cản con người có được cuộc sống xứng đáng với
địa vị của mình" (Congregazione per la Dottrina della Fede,
Istruzione Libertatis Nuntius, 06.08.1984, n. 866 ).
Muốn giải thoát con người và tạo
cho con người một cuộc sống xứng đáng với địa vị của mình, Phúc
Âm phải là sứ điệp tự do, sức mạnh giải thoát và định hướng lý
tưởng để thiết lập lại trật tự trần thế, bị băng hoại bởi tội
lỗi và các ý thức hệ lệch lạc về con người và về xã hội:
- " Sứ mạng cứu rỗi của Chúa
Ki Tô, một đàng có cùng đích giải thoát con người, nhưng đàng
khác cũng nhằm thiết lập lại tất cả trật tự trần thế. Do đó sứ
mạng của Giáo Hội không những nhằm đem lại Tin Mừng và Ơn Cứu
Độ của Chúa Ki tô cho nhân loại, mà còn nhằm tác động và hoàn
hảo hóa lãnh vực trần thế bằng tinh thần Phúc Âm" (Apostolicam
Actuositatem, 5).
Và đây là cách hành xử của Giáo
Hội:
- a) Can thiệp bằng áng sáng
chân lý.
Can thiệp bằng ánh sáng luân lý
để
hướng dẫn các lãnh vực trần thế, cũng như để phán đoán các áp
dụng thiết thực trong nhản quang phục vụ con người:
" Giáo Hội có quyền và có
bổn phận không những bảo vệ các nguyên tắc liên quan đến lãnh
vực luân lý và tôn giáo, mà còn có quyền và bổn phận can thiệp
vào lãnh vực trần thế, mỗi khi cần phán đoán việc áp dụng các
nguyên tắc trên vào các trường hợp thiết thực" (Gioan XXIII,
Mater et Magistra, 239).
- b) Chiếu soi định hướng các đồ
án.
Bằng ánh sáng luân lý, chiếu soi
để định hướng các đồ án lãnh vực trần thế:
" Không có bất cứ trường hợp
nào trong đó Giáo Hội có thể từ chối bổn phận của mình, có uy
tính can thiệp, không phải đối với các vấn đề kỹ thuật chuyên
môn, mà Giáo Hội không có phương tiện thích hợp để can thiệp,
nhưng can thiệp vào tất cả những gì có liên quan đến lãnh vực
luân lý " (Pio XI, Quadragesimo Anno, 45 ).
- c) Trình bày nhãn quang toàn
diện về con người và xã hội.
Trình bày nhãn quang toàn diện về
con người và xã hội:
- " Giáo Hội không ngần ngại
trình bày với tư cách là tiếng nói kinh nghiệm về con người, có
khả năng cung hiến cho nhân loại điều gì là sở hữu cá biệt của
mình: nhãn quang toàn diện về con người và về xã hội" ( Phaolồ
VI, Populorum Progressio, 13).
Như vậy Giáo Hội có "đề nghị
xã hội " của minh để cống hiến cho cộng đồng nhân loại,
"đề nghị dưới ánh sáng Phúc Âm" , để đưa ra những đường
lối chính yếu cho xã hội con người (nguyên tắc, tiêu chuẩn để
phán đoán và định hướng để tổ chức xã hội nhân loại).
Và tiếp theo những "đề nghị xã
hội" có tính cách lý tưởng tổng quát đó, bất cứ ai thành tâm
thiện chí, cũng có thể khai triển thành những đồ án và chương
trình hành động.
- d) Bôn phận thực hành của người
tín hữu giáo dân.
Bổn phận thực hành của người giáo
dân:
- " Đồ án tổ chức xã hội của
Giáo Hội, một "Nền Văn Minh Tình Thương", được đặt nền tảng thần
học trên Phúc Âm về con người, nhưng rồi phải được diển ra bằng
những đồ án hành động can đảm để phóng thích hàng triệu người
khỏi các mối áp bức xã hội, kinh tế vá chính trị" (Congregazione
per Dottrina della Fede, Libertatis Conscientia, 81).
- "Đồ án tổ chức xã hội được
Giáo Hội đề ra, không phải chỉ giới hạn trong việc nêu ra các
nguyên tắc hay những lời khích lệ có tính cách tổng quát cho
việc dấn thân xã hội. Huấn dụ xã hội của Giáo Hội cốt ý nhằm
định hướng đi đến hành động" (Congregazione per Dottina della
Fede, Libertatis Conscientia, 72).
- "Người tín hữu giáo dân
không thể nào dững dưng trước việc tham gia vào chính trị ( ?).
Các lời tố cáo cho rằng chính trị là môi trường tạo địa vị, chức
tước, tôn thờ quyền lực, chú tâm cho ích kỷ bè phái, hối lộ (?),
cũng như những ý kiến cho rằng (?) chính trị chắc chắn là môi
trường nguy hiểm cho luân lý, không đưa đến một biện luận mảy
mai nào cũng như đưa đến một hoài nghi nào cho việc người tín
hữu giáo dân được thoái thác trong việc đảm nhận trách vụ công
cộng" (Gioan Phaolồ II, Christi Fideles Laici, 42 ).
- "Sự dấn thân vào hoạt động
xã hội và chính trị của người tín hữu giáo dân bắt nguồn từ đức
tin, bởi đức tin soi sáng toàn vẹn con người và đời sống con
người. Do đó, người giáo dân sống trung thực với đức tin của
mình, dĩ nhiên phải thể hiện sự trung thực đó torng việc dấn
thân vào lãnh vực công cộng, vào việc tham dự các cơ chế chính
trị và xã hội trong đời sống thường nhật của mình để Phúc Âm hóa
các cơ chế và hoạt động trần thế" (Sinodo 1987, Vocazione e
Missione dei Laici nella Chiesa e nel Mondo, Appello Finale,
10).
Huấn dụ xã hội của Giáo Hội và vai
trò của người tín hữu giáo dân trong cuộc sống xã hội hằng ngày
là vậy.
Đối với người tín hữu Chúa Ki Tô,
trần gian không phải là tù ngục,
- " Dương gian nầy là chốn
lưu đày, đoàn con như khách lữ hành... ", cần phải vượt
thoát, trốn, " thoát tục ", mà là môi trường sống, "không
gian thần học " (espace théologique ) được Thiên Chúa là Cha
tốt lành dựng nên, tiên liệu "tốt đẹp" trước khi dựng
nên con người, trước khi con cái mình mở mắt chào đời:
- " Thiên Chúa thấy rằng đó
là điều tốt đẹp " (Gen 1, 3.8.12.18.21.25).
Và rồi Thiên Chúa là Cha tốt lành
giao thế giới mà Người dựng nên tốt đẹp cho chúng ta "trồng
trọt và trông coi" (Gen 2, 15).
Người tín hữu Chúa Ki Tô nói chung
và người tín hữu giáo dân nói riêng, phải chăm lo, ra sức gắng
công, "trồng trọt và trông coi " chống lại nghịch cảnh,
chống lại sự dữ và làm cho thế giới càng sinh hoa kết quả, trở
nên tốt đẹp hơn và thánh hoá môi trường sống, bằng đời sống và
bằng việc làm của mình, để tất cả mọi người biết được Thiên
Chúa là Cha và chúng ta là anh em với nhau, cùng nhau nhận biết,
cảm tạ và tôn vinh Chúa:
- " Lạy Cha chúng con ở trên
trời ..." ( Mt 6, 9).
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
Lời cầu nguyện của linh
mục |
|
LINH MỤC GIÁO PHẬN SỐNG TU ĐỨC TOÀN DIỆN
TRONG BỐI CẢNH THỰC TẾ CỦA GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HÔM NAY
Lm.
Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss
CHƯƠNG BA
ỨNG
SINH LINH MỤC GIÁO PHẬN
tiếp theo
A.4
Lời cầu nguyện của linh mục
Lời cầu nguyện của linh mục
mang cả hai chiều kích hoạt động và chiêm niệm, nên phải bảo đảm
hài hòa giữa hai chiều kích cầu nguyện độc hữu và cầu nguyện
liên lỉ.
-
Thánh Vinhsơn đệ
Phaolô nói về sự hài hòa này như sau: “Phải qúy việc phục
vụ người nghèo hơn hết và phải thực hiện ngay không được trì
hoãn. Nếu trong giờ kinh nguyện mà phải mang thuốc hay sự
giúp đỡ nào đến cho một người nghèo khổ, thì hãy yên tâm đi
đến với họ, dâng việc phải làm đó cho Chúa như đang nguyện
kinh. Đừng bối rối tâm hồn, đừng xao xuyến lương tâm vì đã
phục vụ người nghèo mà bỏ buổi kinh nguyện, vì không phải là
bỏ Chúa khi vì Ngài mà phải đi xa Ngài, nghiã là phải bỏ một
công việc của Thiên Chúa để thực hiện một việc ngang hàng
như vậy. Chính vì thế, khi anh em bỏ kinh nguyện để giúp đỡ
một người nghèo nào, anh em hãy nhớ đó là việc phục vụ Thiên
Chúa”
·
Lời cầu
nguyện của linh mục, cộng đồng và cá nhân, cũng phải mang chiều
kích chuyển cầu phổ quát cho mọi người, cho Giáo Hội, cho thế
giới, và cho toàn thể tạo thành.
·
Lời cầu
nguyện đó phải bao gồm thờ phượng, ca ngợi, tuân phục, cảm tạ,
đền tạ Thiên Chúa, chứ không phải chỉ xin ơn. Và tạ ơn cũng
không chỉ dừng lại những ơn đã được, mà còn những ơn không được,
hay chưa được, vì lòng yêu thương khôn ngoan của Chúa luôn chọn
lựa những gì tốt đẹp và hữu ích nhất cho sự sống hạnh phúc đời
đời mà ban cho con cái, nhất là chính Chúa Thánh Thần.
A.5
Những gương mẫu cầu nguyện
Chúa Giêsu là gương mẫu cầu
nguyện tuyệt vời của linh mục: Cầu nguyện độc hữu và cầu nguyện
liên lỉ. Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha, lúc ở một mình nơi
hoang vắng hay khi dạy dỗ ở giữa đám đông dân chúng, giữa lúc
ban ngày hay suốt đêm khuya, sáng sớm tinh sương hay muộn màng
lúc đêm về, lúc vui mừng vì phép lạ phát huy hiệu quả hay khi
đau khổ nơi vườn Giêtsêmani, hoặc bị bỏ rơi trên thập giá trong
giờ tử nạn.
Sau Chúa Kitô, Mẹ Maria là
mẫu gương tuyệt hảo về đời sống cầu nguyện của mọi tín hữu. Mẹ
đã ca ngợi những kỳ công của Chúa, đón nhận mầu nhiệm cứu độ và
giữ vững đức tin sống động, cả dưới chân Thập Giá. Mẹ hằng cầu
bầu cho các tín hữu và trở thành gương mẫu đặc biệt cho những
người sống đời thánh hiến, nhất là trong việc lắng nghe, gìn giữ
Lời Chúa và suy niệm trong lòng khi chưa hiểu, và khi hiểu ra
thì mau mắn thực hiện.
Vì thế, ta phải thiết lập
một kỷ luật cầu nguyện cho mình và nắm giữ kỷ luật ấy trong suốt
cuộc đời mình, nhất là khi ra làm mục vụ ở giáo xứ, vì cuộc
sống linh mục vốn năng liều mình bị phân mảnh do bao nhiêu phận
vụ phải gánh vác. Chính đời sống cầu nguyện đã làm cho đời
sống ơn gọi được sống động trong thời gian đào tạo ở chủng viện
cũng sẽ gìn giữ đời sống và sứ vụ ơn gọi của chúng ta được kiên
vững lúc sống giữa lòng đời đổi thay. Hầu hết các linh mục rời
bỏ sứ vụ là vì đã sao lãng hay bỏ bê không cầu nguyện nữa. Mẹ
thánh Têrêsa Avila nói rõ: “Người bỏ cầu nguyện không cần ma
quỉ đẩy xuống hỏa ngục, mà chính người ấy sẽ tự đưa mình đến đó.”
Trong bài giảng lễ kỷ niệm
100 năm ngày sinh của chân phước Têrêsa Calcutta, ngày
26/08/2010 tại Rôma, Đức Hồng y Comastri kể lại cuộc gặp gỡ cá
nhân với vị sáng lập Dòng Thừa sai Bác ái khi ngài còn là một
linh mục trẻ. Khi ngài gặp Mẹ, Mẹ hỏi ngài một câu khiến ngài
hơi bối rối: “Mỗi ngày cha cầu nguyện mấy tiếng?” Cha Comastri
trả lời mỗi ngày đều dâng lễ, đọc các giờ kinh và lần chuỗi Mân
Côi. Đáp lại, Mẹ nói: “Như thế không đủ! Tình yêu không thể sống
tối thiểu”, và Mẹ yêu cầu ngài hứa mỗi ngày sẽ chầu Chúa nửa
giờ. Cha Comastri đáp: “Con hứa”. “Và hôm nay – ĐHY nói– tôi có
thể nói rằng điều đó đã cứu vãn chức linh mục của tôi.
Việc cầu nguyện phải được
thực hiện tương tác với sứ vụ và đời sống linh mục: cộng đoàn,
phụng vụ, và cá nhân phù hợp với những con người, nơi chốn, thời
gian và thực hành khác nhau. Người bị chán nản xô đẩy sẽ tìm ra
hay tìm lại được con đường cầu nguyện, đọc ra ý nghĩa thiêng
liêng của các biến cố trong cuộc sống (lời mời gọi hoán cải,
loan báo Tin Mừng và tình hiệp thông huynh đệ…), bằng cách khám
phá và sử dụng phương thế thích hợp nhất giúp tiến bộ thực sự
trong việc cầu nguyện, cá nhân cũng như cộng
đồng.
Khi bị ngã gãy tay phải vào
bệnh viện bó bột và phải nghỉ ngơi hai tuần, ĐTC Biển Đức XVI
chia sẻ cái nhìn đức tin của ngài: “Thiên Thần giữ mình của
tôi đã vâng lệnh Chúa không ngăn cản tôi cho khỏi ngã gãy tay,
có lẽ Chúa muốn dạy tôi nhẫn nại và khiêm tốn hơn, đồng thời cho
tôi có nhiều thời gian hơn để cầu nguyện và suy niệm”
Lạy Chúa, con xin dâng tư
tưởng của con cho Chúa, để chúng luôn hướng về Chúa; để lời nói
của con có Chúa làm đề tài; để việc làm của con phản ánh tình
yêu của con cho Chúa; để đau khổ của con được chịu đựng cho vinh
danh Chúa hơn. Con muốn làm những gì Chúa xin con, cách nào và
bao lâu Chúa muốn ở con. Xin Chúa soi sáng trí khôn con, đốt
nóng ý chí con, thanh tẩy trái tim con và thánh hóa linh hồn
con.
Lạy Chúa, xin hãy nhận lấy
tất cả tự do của con, ký ức của con, trí hiểu của con, trọn vẹn
ý muốn của con, tất cả những gì con có và sở hữu. Chúa đã cho
con mọi sự và mọi sự là của Chúa, xin hãy sử dụng chúng như ý
Chúa muốn. Xin ban cho con tình yêu và ân sủng của Chúa, và như
thế đã đủ cho con. Xin Mẹ Maria, Mẹ của Chúa và mẹ của con, cũng
cầu nguyện với Chúa Giêsu cho con. Amen.
A.6
Phải nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện
ĐHY Chủ tịch Bộ Giáo Sĩ
Claudio Humes kêu gọi linh mục cầu nguyện để củng cố sứ vụ của
mình: “Quả thật nếu không có của nuôi căn bản là lời cầu
nguyện, linh mục sẽ đau yếu, đồ đệ không tìm được sức mạnh để
theo Thầy và do đó sẽ chết vì không có thuốc.” Lời cầu
nguyện chiếm một chỗ trung tâm của đời sống linh mục và là một
khí giới để chiến thắng ma quỉ vốn hằng tìm làm suy yếu chủ chăn
hầu tiêu diệt đàn chiên.
Đời sống và sứ vụ tông đồ
của linh mục được nuôi dưỡng và phong phú nhờ việc học hỏi
thường xuyên: không chỉ lo cập nhật các giáo huấn của Giáo Hội,
các trào lưu triết học, thần học, các khoa học xã hội và nhân
văn, nhưng phải biết cầu nguyện và chiêm ngắm ở trong và qua các
học hỏi này nữa. Đức Gioan Phaolô II nhắc nhở rằng phải lấy Chúa
Giêsu làm trung tâm đời sống và luôn kết hợp mật thiết với Chúa
bằng cầu nguyện, suy niệm cá nhân hàng ngày, cũng như sốt sắng
cử hành Phụng vụ các Giờ Kinh và Thánh Thể: “Nếu các con đầy
Chúa, các con sẽ là những tông đồ đích thực của công cuộc truyền
giáo mới, vì không ai có thể cho cái mà họ không có trong tâm
hồn”
Chính nơi Nhà Tạm mà ta
phục hồi và nạp thêm năng lượng cho đời sống thiêng liêng và sứ
vụ tông đồ. Quả thế, Chúa Giêsu mời gọi: “Hỡi những ai vất vả
và gánh nặng, hãy đến với Ta, Ta sẽ nâng đỡ và bổ sức cho, và
tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an.”
Ai trong chúng ta đã không có hơn một lần trải nghiệm những gánh
nặng mục vụ và những trăn trở cá nhân? Thánh Phêrô khuyên: “Trong
khi cầu nguyện, anh chị em hãy trao trút nỗi lòng anh chị em cho
Chúa, vì Ngài hằng thương yêu chăm sóc đến anh chị em”
Thánh Gioan Maria Vianey,
cha sở họ Ars, nhờ chầu Mình Thánh Chúa mà phục hưng được giáo
xứ, lôi kéo không biết bao nhiêu linh hồn hoán cải trở về với
Chúa và Giáo Hội. Hiện nay trên thế giới có phong trào phục hưng
và canh tân giáo xứ bằng việc chầu Thánh Thể liên lỉ. Chớ gì
những thành phần già cả, bệnh tật ở trong cộng đoàn sẽ được mời
gọi thay phiên nhau chầu Thánh Thể liên tục. Và chúng ta dù phải
đi hoạt động rất nhiều, vượt qua không biết bao nhiêu con đường,
chớ gì đừng bao giờ quên con đường dẫn tới Nhà Tạm, nơi Chúa
Giêsu đang chờ ta.
Cầu nguyện là yếu tố quan
trọng nhất của đời sống thiêng liêng, được nuôi dưỡng và thăng
tiến nhờ sự thinh lặng bên trong cũng như bên ngoài, nhờ Lời
Chúa và Thánh Thể. Các chủng sinh được khích lệ áp dụng những
cách cầu nguyện theo kiểu Á Châu, chẳng hạn như cầu nguyện tập
trung và cầu nguyện thân thể. Tập cho họ chủ tọa và hướng dẫn
các buổi cầu nguyện chung của cộng đoàn chủng viện là cách tốt
nhất để họ trở thành người hướng dẫn cầu nguyện cho đoàn chiên
tương lai.
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
GIỮ CHO TÌNH YÊU LUÔN TƯƠI THẮM
|
|
Tác phẩm: Cẩm Nang Hạnh Phúc Gia Đình
Kitô - MỤC VỤ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Tác
giả: D. WAHRHEIT (Lm. Minh Anh, GP. Huế tổng hợp biên tập)
A18. GIỮ CHO TÌNH YÊU LUÔN TƯƠI
THẮM
Người vợ thứ hai của nhạc sĩ nổi
tiếng người Pháp, Claude Gosti đầu thế kỷ 20, có một bí quyết
rất độc đáo để giữ chồng. Bà ý thức rằng, với năm tháng, sắc đẹp
của bà mỗi lúc một tàn phai. Do đó, để cho người chồng nhạc sĩ
không phải thất vọng về nhan sắc của mình, mỗi buổi sáng bà thức
dậy trước ông một tiếng đồng hồ rồi lặng lẽ đi trang điểm. Sau
đó bà trở lại giường ngủ. Khi thức giấc, Claude Gosti luôn thấy
bên cạnh mình một người đàn bà trẻ trung và hấp dẫn.
Người ta thường nói đến bí quyết
để giữ chồng. Không có tham vọng đưa ra một bí quyết nào, chúng
tôi chỉ xin được góp ý với những người vợ trẻ về việc làm thế
nào để tình yêu vợ chồng luôn được thắm tươi và cuộc sống gia
đình không trở thành đơn điệu buồn chán.
1.
Trong việc sinh con, người cha trong thực tế chỉ can
thiệp có một lần và can thiệp từ bên ngoài. Người cha là nguyên
lý sự sống cho con cái. Nhưng người mẹ mới thực sự là người tổ
chức, là sân khấu, nơi diễn ra tất cả huyền nhiệm việc hình
thành sự sống của con cái.
Qua những tháng dài, người mẹ cảm
nghiệm được sự sống đang lớn dần lên trong mình. Người mẹ vui
với sự hiện diện của đứa con trong lòng. Người mẹ cũng đau đớn
vì sự hiện diện của đứa con. Nỗi đau ấy đạt tới tột cùng khi đứa
con từ giã cung lòng êm ấm để chào đời. Nhưng nói như Chúa Giêsu,
nỗi đau càng lớn thì niềm vui càng tràn ngập tâm hồn người mẹ.
Có thể nói, nỗi đau và niềm vui của người mẹ gắn liền với đứa
con.
Đó là lý do khiến cho nhiều người
đàn bà cảm thấy là mẹ hơn là vợ. Đối với họ, đứa con là mục đích,
người chồng chỉ là phương tiện. Sau khi mục đích đã đạt được thì
phương tiện, nếu không bị lãng quên, thì cũng bị đặt vào hàng
thứ yếu. Trong những âu yếm, bận tâm và nói chung, ngay cả trong
tình yêu, tình nghĩa vợ chồng có thể bớt mặn nồng vì sự hiện
diện của đứa con. Đó có thể là nguy cơ xảy ra cho một số gia
đình trẻ. Vì thế, người vợ phải cư xử thế nào để tình mẫu tử
không hạ giảm tình yêu vợ chồng.
Sứ mệnh người đàn bà không chỉ là
sinh con mà còn phải làm cho quả tim của người đàn ông luôn tươi
trẻ. Người đàn ông bảo vệ người đàn bà. Nhưng chính người đàn bà
mới là người nuôi dưỡng người đàn ông bằng tình yêu.
2.
Một trong những đặc điểm cơ bản của tâm hồn người đàn ông
chính là khát vọng tự do. Họ sẽ cảm thấy nghẹt thở khi bị ràng
buộc. Đó là lý do giải thích tại sao người đàn ông thích ra khỏi
nhà, thích tìm đến với bạn bè để nhâm nhi tách cà phê, ly rượu
nồng, hoặc để qua giờ trong những cuộc sát phạt bài bạc. Những
chiều chủ nhật, họ thích đến sân vận động để xem bóng đá, hoặc
đi câu cá. Giải trí ở bên ngoài gia đình là thể hiện khát vọng
muốn tự do.
Một người vợ yêu chồng, biết chiều
chồng hẳn là người biết chẩn đoán tâm hồn của chồng và sẵn sàng
tạo điều kiện để chồng thỏa mãn khát vọng tự do của họ.
Tình bạn của họ, sự hiện diện của
những người bạn trong cuộc đời của họ là điều không thể thiếu
nếu người đàn ông muốn giữ sự quân bình nội tâm. Do đó, thiết
tưởng người vợ không những không ngăn cản mà còn phải tạo điều
kiện để mối quan hệ của chồng với bạn bè luôn được tốt đẹp.
Việc gặp gỡ bạn bè, hay nói chung,
những lần ra khỏi gia đình là những liều thuốc bổ cần thiết cho
đời sống vợ chồng. Mối quan hệ với người chung quanh càng tốt
đẹp thì tình yêu vợ chồng càng được củng cố. Niềm vui có thêm
một người bạn mới, niềm vui được sống hài hoà với người chung
quanh, phải chăng không làm gia tăng niềm vui sướng trong gia
đình?
3.
Đời sống gia đình tự nó là một cuộc sống độc điệu dễ đưa
đến buồn chán. Thi sĩ Paul Valéry của Pháp đã nói một câu chí
lý: “Số lượng của sự âu yếm mà người ta có thể cảm nhận và
diễn tả trong một ngày thường rất giới hạn”. Hẳn thi sĩ Paul
Valéry muốn nói rằng, không ai có thể sống một ngày, một tuần
hoặc những năm tháng dài mà luôn giữ được sự âu yếm ở một mức độ
không thay đổi.
Nói cách khác, người ta dễ mỏi
mệt, và mỏi mệt ngay cả đối với những người thân yêu của mình.
Do đó, phải tránh làm cho đời sống vợ chồng trở thành đơn điệu,
nhàm chán. Tình yêu vợ chồng, hay đúng hơn, sự diễn tả tình yêu
cần được thay đổi và mới mẻ luôn.
Thói quen nào cũng dễ làm phát
sinh sự nhàm chán. Khi tình yêu bị giới hạn trong những công
thức thì tình yêu ấy dễ trở thành giả dối. Trong một câu chuyện
ngắn, một văn sĩ đã ghi lại những cuộc hẹn hò dưới trăng của một
đôi tình nhân. Cứ mỗi tối, người con trai lại nói với người con
gái bằng một giọng rất lãng mạn không bao giờ thay đổi: “Em
yêu, đây là chiếc ghế đá trung thành của chúng ta”. Nhưng cô
gái đã nhàm chán với điệp khúc ấy bèn thốt lên: “Phải, nhưng
lúc nào cũng chỉ là chiếc ghế đá ấy”.
Sự đơn điệu dễ mang lại nhàm chán.
Do đó, các đôi vợ chồng phải tổ chức đời sống thế nào để giữ cho
tình yêu luôn được tươi trẻ. Thỉnh thoảng họ cần phải ra khỏi
khung cảnh gia đình để được sống trọn vẹn cho nhau. Ngoài ra,
tình bạn, những quan hệ với những người xung quanh cũng là những
thức ăn cần thiết để giữ cho tình yêu vợ chồng được tươi trẻ và
tránh được sự độc điệu nhàm chán.
4.
Trong việc gìn giữ cho tình yêu vợ chồng được tươi trẻ,
hẳn người vợ phải là người đóng vai trò quan trọng nhất. Ở đây,
chúng tôi muốn nói đến vẻ đẹp mà người đàn bà luôn giữ gìn, chăm
sóc. Vẻ đẹp của người đàn bà chính là quyền lực của họ đối với
chồng. Đó cũng là bí quyết để bảo vệ hạnh phúc lứa đôi.
Dĩ nhiên, vẻ đẹp tâm hồn là yếu tố
quan trọng hơn cả. Một vẻ đẹp thể lý dù lộng lẫy kiêu sa đến đâu
cũng sẽ trở thành vô duyên khi người đàn bà không có vẻ đẹp
trong tâm hồn. Và dĩ nhiên, vẻ đẹp của tâm hồn không nhất thiết
phải là sự thông minh, cũng không hẳn là cái duyên dáng của
những điệu bộ, mà chính là tấm lòng quảng đại, yêu thương, tha
thứ, phục vụ, quên mình của người đàn bà.
Nhưng, đề cao vẻ đẹp tâm hồn không
có nghĩa là không cần quan tâm đến vẻ đẹp của thân xác. Nhiều
người đàn bà nghĩ rằng, sự trang điểm và làm đẹp chỉ cần thiết
trong thời kỳ hẹn hò với nhau. Họ quên rằng, chính trong đời
sống vợ chồng mà người đàn bà cần làm đẹp hơn bao giờ hết. Người
đàn bà thường làm đẹp khi họ đang yêu. Phải chăng trong đời sống
vợ chồng, người đàn bà không còn đối tượng để yêu thương nữa?
Trang điểm, làm đẹp, giữ cho thân
xác luôn tươi tắn là một trong những bí quyết quan trọng để giữ
chồng, hay đúng hơn, để bảo vệ hạnh phúc gia đình. Làm đẹp là
một cách thế để nói lên tình yêu đối với chồng. |
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
BỆNH THỦY ĐẬU
|
|
“Tôi ở
chơi mấy tháng Hè với bà chị tôi, cùng khi đó thì cháu trai con
bả bị bệnh trái dạ. Tôi cứ sợ bị lây. Tôi năm nay đã gần ba mươi
tuổi rồi, liệu tôi có bị lây bệnh không bác sĩ và làm sao ngừa
bệnh này”.? Cô Hương-Sai Gon Nhỏ
Xin góp ý như
sau.
Nếu trong đời
cô chưa bao giờ bị bệnh thủy đậu, thì cô vẫn bị lây, vì bệnh
này có thể xảy ra ở người lớn cũng như trẻ con. Khi gần người
bệnh, ta có 90% nguy cơ bị lây, và bệnh cũng rất nguy hiểm vì
vài biến chứng của nó như sưng phổi, viêm não, nhiễm độc ngoài
da.
Hàng năm, ở
Mỹ, có tới hơn 60.000 người lớn bị bệnh thủy đậu.
Nguyên nhân
Bệnh do loại
virus varicella-zoster (human herpesvirus type 3). Bệnh lan
truyền do không khí chứa siêu vi trùng gây bệnh, khi người bệnh
ho, hắt hơi virus sẽ phát tán trong không khí hoặc do tiếp xúc
với chất nước ở những mụn đậu, nước mũi người bệnh.
Bệnh bắt đầu
lây khoảng hai ngày trước khi mụn đậu xuất hiện, kéo dài cho tới
khi mụn đậu khô và đóng vẩy.
Ai hay bị
bệnh
Những người
sau đây hay bị lây bệnh, nếu chưa bao giờ bị bệnh, và khi làm
việc ở môi trường nhiễm bệnh:
•
giáo chức dậy học sinh nhỏ tuổi,
•
nhân viên chăm sóc trẻ em ở trung tâm giữ trẻ,
•
học sinh trung học,
•
nhân viên quân đội, thân nhân người có bệnh thủy đậu, nhân viên
y tế.
•
Vì bệnh này có ở mọi quốc gia, nên khi ta đi du lịch, cũng cần
cẩn thận.
•
Phụ nữ có thai mà chưa bị bệnh thủy đậu bao giờ, cũng có nhiều
nguy cơ lây bệnh, và bệnh có thể gây nhiều khó khăn cho cả mẹ
lẫn thai nhi như sanh non, sưng phổi,hài nhi mang tật nguyền ở
tứ chi, thủy tinh thể đục.
Hiện nay, khi
nhập cảnh Hoa Kỳ, người nhập cảnh bắt buộc phải khai đã có bệnh
hay đã được chích ngừa thủy đậu. Trường hợp của cô, nếu chưa bao
giờ bị bệnh thủy đậu, thì cô có nhiều nguy cơ mắc bệnh này, đề
nghị cô đi khám bác sĩ để chích ngừa.
Mỗi năm, ở Mỹ
có tới cả hơn 4 triệu trẻ em tuổi từ 1 đến 14 tuổi mắc bệnh này,
cả gần 10.000 phải nhập viện vì bệnh nặng.
Dấu hiệu
Bệnh xuất
hiện sau 2-3 tuần lễ tiếp xúc với người bệnh.
Bệnh nhân
thấy đau nhức cùng mình, nóng sốt, ăn mất ngon. Vài ngày sau,
mụn đậu bắt đầu xuất hiện, trước hết là ở ngực, bụng, lưng rồi
lan lên mặt, tay chân. Trung bình có từ 100 tới 250 mụn, phẳng
đỏ, rồi chứa đầy nước trong trước sau đò đổi ra đục lờ. Độ 1
tuần lễ sau mụn khô và đóng vẩy. Hai tuần sau, vẩy rụng để lại
vết sẹo. Các mụn này rất ngứa, khi gãi dễ gây nhiễm độc ngoài
da.
Tất cả trẻ em
nếu chưa mắc bệnh, đều có thể bị thủy đậu, nhất là ở tuổi đi
học, hoặc ở các nhà giữ trẻ. Khi trẻ con bị bệnh, cần nghỉ học
cho tới khi các mụn hoàn toàn khô, để tránh truyền bệnh cho
người khác.
Điều trị
Ở trẻ em,
bệnh thường không trầm trọng. Ngược lại, bệnh nặng hơn ở người
đứng tuổi, bệnh nhân bị rối loạn tự miễn hoặc đang hóa trị, dung
nhiều corticosteroid.
Với bệnh nhẹ,
chỉ cần chăm sóc điều trị dấu hiệu.
Với ngứa da,
áp khăn thấm nước lạnh hoặc thoa thuốc chống histamine
(benadryl…)
Không gãi mụn
ngứa hoặc chọc vỡ mụn nước để tránh nhiễm với vi khuẩn lạ và lây
lan bong nước với hậu quả là các vết sẹo khó coi, khiến bé bị
mặc cảm khi lớn lên.
Tắm rửa
thường xuyên, giữ quần áo sạch sẽ.
Không thoa
kem kháng sinh, không thoa phấn rôm trên vùng da bị nhiễm.
Nếu bội
nhiễm, có thể uống kháng sinh do bác sĩ biên toa.
Trường hợp
bệnh nặng, bác sĩ có thể cho dùng thuốc chống virus như
acyclovir, famciclovir.
Hậu quả lâu
dài
Sau khi bệnh thủy đậu lành, siêu vi này có
thể ở tình trạng nằm ngủ cả nhiều năm trong hạch của rễ sau dây
thần kinh tủy sống, rồi đến một thời gian nào đó sẽ tái hoạt
động và gây ra bệnh Zona-thần-kinh còn gọi là shingles.
Shingles có ở mọi lứa tuổi nhưng thường hay
thấy từ 50 tuổi trở lên.
Bệnh cũng thường có ở:
-Người bị suy giảm tính miễn dịch
-Người nhiễm HIV
-Người bị bệnh đang ở trong tình trạng tăng
phát triển tế bào mới như ung thư
-Bệnh nhân đang điều trị với hóa chất ức
chế miễn dịch
-Người tiếp nhận ghép bộ phận cơ thể
-Sau những căng thẳng tinh thần.
Virus tấn công rễ dây thần kinh tủy và vùng
da chịu ảnh hưởng của dây thần kinh này.
Chủng ngừa
Hiện nay, đã
có thuốc chích ngừa bệnh thủy đậu như Vavirax.
Hội Nhi Hoa
Kỳ và Trung tâm CDC đưa ra đề nghị chích ngừa như sau:
Khi em bé ở
tuổi 12 tới 15 tháng thì chích liều đầu tiên.
Khi bé được
4-6 tuổi thì chích lần thứ hai.
Người từ tuổi
13 trở lên mà chua bao giờ chích ngừa thủy đậu cần chích hai
lần, cách nhau từ 4 đến 8 tuần lễ.
Người từ 13
tuổi trở lên mà chỉ chích một lần và chưa bị bệnh trái dạ thì
chíchliều thứ hai.
Phụ nữ trong
tuổi có thai và người mang bệnh mãn tính đều cần chích ngừa.
Đậu mùa
thường xẩy ra vào mùa Đông-Xuân từ tháng 2 đến tháng 5, cao điểm
là tháng 3-4. Vì vậy nên chích ngừa trước thời điểm này để được
bảo vệ với bệnh.
Vaccin có thể
tạo ra mấy rủi ro nhẹ như nóng sốt, hơi sưng đảu chỗ kim chích
hoặc nổi ban da rất nhẹ. Hãn hữu lắm mới có phản ứng mạnh như
cơn co giựt, sưng phổi.
Một số rất
nhỏ các em (2%) đã chích ngừa mà vẫn có thể bị trái dạ, nhưng
bệnh thường là nhẹ hơn.
Thuốc chủng
ngừa cũng bảo vệ nếu ta vừa tiếp xúc với bệnh nhân trong vòng 72
giờ.
Không chủng
ngừa nếu:
-đang bị bệnh
trầm trọng
-đang có thai
-đang dùng
thuốc corticosteroid liều cao
-bị rối loạn
tự miễn, suy nhược miễn dịch như HIV/AIDS, ung thư hoặc nhận cấy
ghép tạng phủ
-dị ứng với
kháng sinh neomycin
-trẻ em đang
uống thuốc loại salicylate vì rủi ro bị hội chứng Reye với.
Phụ nữ mới
chích ngừa cần đợi một tháng rồi mới có thai.
Thuốc chích
ngừa trái dạ được hợp thức hóa tại Hoa Kỳ từ năm 1995, rất công
hiệu và đã giảm thiểu số người bị bệnh. Theo thống kê kết quả ở
Mỹ và Nhật, thuốc ngừa có công hiệu kéo dài từ 10 tới 20 năm.
Một số tiểu
bang tại Hoa kỳ bắt buộc phải có giấy chứng nhận chích ngừa thủy
đậu trước khi trẻ em được nhận vào nhà giữ trẻ hay trường mẫu
giáo.
Bác
sĩ Nguyễn Ý Đức - Texas-Hoa Kỳ
|
|
VỀ MỤC LỤC |
|
NGỤ NGÔN THỜI BẤN LOẠN (KỲ 17)
|
|
Ngụ ngôn 54
Cọp hung hăng
tấn công các loài thú, ăn tươi nuốt sống bất cứ con thú nào cọp
gặp. Nhiều loài trong rừng liên kết lại tự bảo vệ mình và dạy
cho cọp những bài học nhớ đời. Nhưng chồn thì không thích chống
lại cọp. Thỏ bảo: “Chống cọp là chống cái ác”. Sơn ca nói: “Phải
dạy cọp bỏ thói hung hăng” Dê núi thì lý luận: “Cái ác là đối
nghịch sự sống. Mà để sự đối nghịch ung dung, thì sự sống sẽ lụi
tàn”. Nhưng chồn bảo: “Để trao đổi với cọp xem sao”. Chồn cử
người vào hang trao đổi với cọp. Cọp khoái chí “trao đổi” với
từng con chồn một. Xong từng con, cọp bảo: “Khoái khẩu”.
Chẳng bao lâu
chồn gần như tuyệt chủng. Những lần “trao đổi” với cọp, chồn dù
tinh ranh nhưng vẫn thua cọp sức vóc, nên chưa “trao đổi” xong
thì chồn đã êm ái nằm trong bụng cọp. Nhiều năm sau, trong khu
rừng ấy vắng hẳn bóng chồn.
Thi thoảng
người ta cũng thấy vài anh chồn láo liên ngang dọc. Nhưng tiếng
kêu của những anh chồn ấy bây giờ đã giống tiếng gầm của loài
cọp dữ.
Ngụ ngôn 55
Phố đẹp. Đèn
rực rỡ. Hoa khoe sắc. Ai bảo xứ này nghèo? Lụa là gấm vóc, cao
lương mỹ vị, đất hiền trời thanh. Tao nhân mặc khách nhẹ nhàng
nho nhã. Giai nhân thục nữ thanh thoát dịu dàng. Thật là cảnh
thanh bình ngàn năm có một.
Lễ hội rồi
cũng qua đi.
Có vị tiên
ông bay ngang qua, lắc đầu phẩy tay. Lớp trang điểm rơi xuống.
Hoa tàn, đèn tắt, giai nhân tài tử thoát hình bướm, hiện nguyên
hình nhộng vùi đầu vào công việc nhọc nhằn bất an.
Từ gầm cầu,
từ miệng cống, từ những con hẻm tối đen, từ ao tù kênh lạch túa
ra bao mái tóc rối bù, len vào cuộc đời.
Hôm sau, trên
báo thấy có câu: Tiếc thay vẫn còn tàn dư của ngày chưa khai hóa!
Ngụ ngôn 56
Để quảng cáo
bán hàng ngày Tết, sư tử dựng sân khấu quảng cáo hát hò rùm beng
bên con đường mòn. Bao nhiêu loài côn trùng bịt tai chạy trốn.
Để tranh đua
sắc tài, những con két mở gian hàng tỉ thí bao nhiêu thứ giọng
ca muốn rung cây bay lá.
Để mừng công
cuối năm, chó sói tru liên hồi như muốn phá tan cả rừng rậm ngàn
năm. Cả suối cũng ngừng reo vì sợ loài sói dữ.
Bỗng có một
chú chim họa mi bay về đậu trên cành hoa mai rừng hót dịu dàng
bài ca xuân. Lập tức sư tử, két và chó sói vồ ngay lấy và bảo:
“Mi dám làm ồn cho khu rừng đang yên tĩnh”!
Gioan Lê Quang
Vinh, VRNs
|
| VỀ MỤC LỤC |
|
|
- Mọi liên lạc: Ghi danh, thay đổi địa chỉ, đóng góp ý kiến,
bài vở..., xin gởi về địa chỉ
giaosivietnam@gmail.com
- Những nội dung sẽ được đề cao và chú ý bao gồm:
Trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong việc mục
vụ của Giáo sĩ; Những tài liệu của Giáo hội hoặc của các
Tác giả nhằm mục đích Thăng tiến đời sống Giáo sĩ; Cổ võ ơn
gọi Linh mục; Người Giáo dân tham gia công việc “Trợ lực
Giáo sĩ” bằng đời sống cầu nguyện và cộng tác trong mọi lãnh
vực; Mỗi Giáo dân phải là những “Linh mục” không có chức
Thánh; Đối thoại trong tinh thần Bác ái giữa Giáo dân và
Giáo sĩ… (Truyền giáo hay xây pháo đài?)
- Quy vị cũng có thể tham khảo những số báo đã phát hành tại
www.conggiaovietnam.net
Rất mong được sự cộng tác, hưởng ứng của tất cả Quí vị
Xin chân thành cám ơn tất cả anh chị em đã
sẵn lòng cộng tác với chúng tôi bằng nhiều cách thế khác
nhau.
TM. Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam
Lm. Luca
Phạm Quốc Sử
USA
|
|
|
*************
|
|