Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam

 

 

 

ĐỰƠC CHỌN GIỮA LOÀI NGƯỜI
VÀ CHO LOÀI NGƯỜI  (x. Dt, 5.1)

 

GIÁO SĨ:

Xuất phát từ giáo dân, hiện diện vì giáo dân và cậy dựa vào giáo dân

 

ĐỂ CÙNG LÀM VINH DANH THIÊN CHÚA

 

www.conggiaovietnam.net                          giaosivietnam@gmail.com

Đặc San Điện Tử    Giáo Sĩ Việt Nam    Số 134, Chúa Nhật 19.12.2010


MỤC LỤC 

NHỮNG CHỨNG NHÂN TIN MỪNG                                       ĐTC. Gioan Phaolô 2

THAI NHI  (ngày cầu nguyện cho các thai nhi 11-12-2010)     Lm. Vinh Sơn Phạm Trung Thành, dcct.

GIỚI THIỆU TÔNG HUẤN VERBUM DOMINI (LỜI CHÚA)              Gm. Giuse Võ Đức Minh

CÓ AI NGỜ… (song ngữ Việt-Anh)                                              Lm. Joseph Việt, O.Carm. 

KHÔNG CÓ TỰ DO TÔN GIÁO TẠI TRUNG QUỐC (PHÚC TRÌNH CỦA ĐHY TRẦN NHẬT QUÂN TRƯỚC ĐGH VÀ CÔNG NGHỊ HỒNG Y)                       Phạm Hương Sơn chuyển ngữ 

THÁNH LỄ CẦU NGUYỆN THEO Ý CHỈ.                                   Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD.

AIKIDO TRONG ĐỜI SỐNG NỘI TÂM VÀ MỤC VỤ TƯ VẤN                        Br. Huynhquảng

TRONG PHÚC ÂM CÓ CON NGƯỜI                                                   Tiến sĩ Nguyễn Học Tập

Lời cầu nguyện của linh mục                                      Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss

GIỮ CHO TÌNH YÊU LUÔN TƯƠI THẮM                            Lm. Minh Anh, tổng hợp biên tập

BỆNH THỦY ĐẬU                                                                            Bác sĩ Nguyễn Ý Đức, MD.

NGỤ NGÔN THỜI BẤN LOẠN (KỲ 17)                                       Gioan Lê Quang Vinh, VRNs


NHỮNG CHỨNG NHÂN TIN MỪNG

 

TÔNG HUẤN "GIÁO HỘI TẠI Á CHÂU" (ECCLESIA IN ASIA)

Nguồn:  http://www.simonhoadalat.com

CHƯƠNG VII

NHỮNG CHỨNG NHÂN TIN MỪNG

Một Giáo Hội Làm Chứng

42.    Công đồng Vatican II đã dạy rõ rằng, toàn thể Giáo Hội phải truyền giáo, và công tác Phúc âm hóa là nhiệm vụ của toàn thể Dân Chúa (204). Bởi vì toàn Dân Chúa được sai đi để rao giảng Tin Mừng, việc Phúc âm hoá không bao giờ là một hành động cá nhân hay biệt lập; nó luôn luôn là một nhiệm vụ mang tính Giáo Hội, cần được thực hiện trong sự hiệp thông với toàn thể cộng đồng đức tin. Chỉ có một sứ mạng duy nhất và không thể phân chia, vì chỉ có một nguồn gốc và một cùng đích; nhưng trong nó có nhiều trách nhiệm khác nhau và nhiều thứ hoạt động khác nhau (205). Trong mọi trường hợp, rõ ràng là không thể có được sự rao giảng Tin Mừng đích thực nếu người Kitô hữu không trao tặng một chứng tá đời sống phù hợp với sứ vụ rao giảng: "Hình thức chứng tá đầu tiên là chính đời sống của vị thừa sai, của gia đình Kitô hữu, và của cộng đồng Giáo Hội, một cộng đồng bày tỏ một nếp sống mới. Mỗi người trong Giáo Hội, khi cố gắng bắt chước Thầy chí thánh, thì có thể và phải làm chứng theo kiểu này; trong nhiều trường hợp, đó là phương cách duy nhất có thể được, để trở thành nhà truyền giáo" (206). Cách riêng bây giờ, cần chứng tá Kitô hữu chính hiệu, bởi vì "ngày nay dân chúng tin các chứng nhân hơn là các Thầy dạy, tin vào kinh nghiệm hơn là lời giảng dạy, và tin vào đời sống và hành động hơn là vào lý thuyết" (207). Điều này càng đúng trong bối cảnh Á Châu, nơi mà dân chúng được thuyết phục do đời sống thánh thiện hơn là do lý lẽ trí thức. Như thế, kinh nghiệm về đức tin và về những ân ban của Chúa Thánh Thần, trở thành nền tảng của mọi hoạt động tông đồ, nơi thành thị hay ở thôn quê, trong trường học hay bệnh viện, giữa những kẻ tàn tật, di dân và dân bộ lạc, hay là khi theo đuổi công lý hoặc nhân quyền. Mọi hoàn cảnh đều thuận lợi để người Kitô hữu chứng tỏ quyền năng mà chân lý của Đức Kitô đã hoà nhập trong đời sống của họ. Do đó, được gợi hứng bởi nhiều vị thừa sai đã làm chứng anh dũng cho tình yêu Thiên Chúa giữa các dân tộc của lục địa trong quá khứ, Giáo Hội tại Á Châu bây giờ ra sức làm chứng, không kém sốt sắng hơn, cho Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng của Người. Sứ vụ kitô giáo đòi hỏi ít nhất điều đó.

Ý thức về đặc tính truyền giáo của Giáo Hội và trông đợi Chúa Thánh Thần lại đổ xuống năng lực mới, đang lúc Giáo Hội đi vào ngàn năm mới, Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng yêu cầu rằng Tông Thư hậu Thượng Hội Đồng nêu lên một số chỉ thị và hướng dẫn cho những ai đang làm việc trong cánh đồng mênh mông của việc Phúc âm hoá tại Á Châu.

Các Chủ Chăn

43.    Chính Chúa Thánh Thần là Đấng ban cho Giáo Hội khả năng hoàn thành sứ mạng Đức Kitô giao phó. Trước khi sai các môn đệ đi làm chứng nhân, Đức Giêsu ban cho họ Chúa Thánh Thần (x. Ga 20,22), Đấng đã hành động qua họ và đánh động con tim của những kẻ nghe họ (x. Cv 2,37). Cũng xảy ra như vậy đối với những kẻ Người sai đi ngày hôm nay. Một mặt, tất cả những ai đã lãnh bí tích Rửa Tội, do chính ân sủng của bí tích, đã được đề cử dự phần vào việc tiếp tục sứ vụ cứu rỗi của Đức Kitô, và họ có khả năng làm công tác này chính vì tình yêu Thiên Chúa đã được đổ xuống tâm hồn họ nhờ Chúa Thánh Thần mà Người ban cho họ (Rm 5,5). Nhưng mặt khác, sứ vụ chung này được chu toàn nhờ sự đa dạng của nhiều chức năng và đoàn sủng đặc biệt trong Giáo Hội. Trách nhiệm chính yếu để thực hành sứ vụ của Giáo Hội được Đức Kitô giao phó cho các Tông Đồ và những người kế vị các ngài. Do việc truyền chức Giám Mục và do sự hiệp thông phẩm trật với Vị đứng đầu Giám Mục đoàn, các Giám Mục lãnh nhận sự ủy thác và quyền bính để giảng dạy, cai quản và thánh hoá Dân Chúa. Do ý muốn của chính Đức Kitô, Đấng kế vị thánh Phêrô -tảng đá mà trên đó Giáo Hội được xây dựng (x. Mt 16,18)- thực thi sứ vụ đặc biệt là hiệp nhất bên trong Giám mục đoàn. Do đó, các Giám Mục phải chu toàn thừa tác vụ của mình trong sự hiệp nhất với Đấng Kế Vị thánh Phêrô, người bảo đảm chân lý của giáo huấn của các ngài và sự hiệp thông trọn vẹn của các ngài trong Giáo Hội.

Liên kết với các Giám Mục trong công việc loan báo Tin Mừng, các Linh mục được kêu gọi, qua việc truyền chức, trở nên mục tử của đoàn chiên, người rao giảng Tin Mừng cứu độ và thừa tác viên các bí tích. Để phục vụ Giáo Hội như Đức Kitô muốn, các Giám Mục và Linh mục cần được đào tạo vững chắc và liên tục, sự đào tạo đó sẽ cung cấp những thuận lợi để canh tân về mặt nhân bản, thiêng liêng và mục vụ, cũng như liệu cho có các khoá thần học, thiêng liêng và các khoa học nhân văn (208). Dân chúng tại Á Châu cần khám phá nơi hàng giáo sĩ không chỉ là những người chuyên lo việc bác ái hoặc những người quản trị cơ chế, nhưng những con người mà tâm trí hướng về những gì thâm sâu của Thần Khí (x. Rm 8,5). Lòng tôn kính mà các dân tộc Á Châu dành cho những kẻ nắm giữ quyền bính, cần đi đôi với sự liêm chính đạo đức rõ nét nơi những người có trách nhiệm thừa tác trong Giáo Hội. Nhờ có đời sống cầu nguyện, sự nhiệt thành phục vụ và cách sống gương mẫu, hàng giáo sĩ làm chứng hùng hồn cho Tin Mừng trong các cộng đoàn họ chăn dắt nhân danh Đức Kitô. Tôi thiết tha cầu nguyện để những thừa tác viên có chức thánh của Giáo hội tại Á Châu sống và làm việc trong một tinh thần hiệp thông và cộng tác với các Giám mục và mọi tín hữu, bằng cách làm chứng cho tình yêu mà Đức Giêsu đã công bố là dấu chỉ đích thực các môn đệ Người (x. Ga 13,35).

Đặc biệt tôi muốn nhấn mạnh đến quan tâm của Thượng Hội Đồng về việc chuẩn bị những người linh hoạt và dạy dỗ trong các chủng viện và các phân khoa thần học (209). Sau khi được đào tạo nghiêm chỉnh về các môn khoa học thánh và những môn học liên hệ, các vị đó phải được đào tạo cách đặc biệt về linh đạo linh mục, nghệ thuật linh hướng, và các phương diện khác của công tác khó khăn và tế nhị đang chờ đợi các vị trong việc giáo dục các linh mục tương lai. Đây là một công tác tông đồ quan trọng nhất vì lợi ích và sức sống của Giáo Hội.

Đời Sống Thánh Hiến Và Các Hội Truyền giáo

44.    Trong Tông Thư Hậu Thượng Hội Đồng Vita Consecrata, tôi đã nhấn mạnh tới sự liên kết mật thiết giữa đời sống thánh hiến và sứ mạng truyền giáo. Qua ba khía cạnh của nó là tuyên xưng Ba Ngôi, dấu chỉ tình huynh đệ và phục vụ bác ái, đời sống thánh hiến tỏ bày tình yêu Thiên Chúa trong thế giới, qua chứng tá đặc biệt của nó về sứ vụ cứu rỗi mà Đức Giêsu hoàn thành bằng cách hiến thánh mình hoàn toàn cho Chúa Cha. Nhìn nhận rằng mọi hành động trong Giáo Hội tìm được sự nâng đỡ trong kinh nguyện và hiệp thông với Thiên Chúa, với lòng tôn kính và ngưỡng mộ sâu xa, Giáo Hội tại Á Châu xem các cộng đoàn tu trì sống đời chiêm ngưỡng như là nguồn mạch đặc biệt ban sức mạnh và soi sáng. Dựa theo những đề nghị của các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng, tôi đặc biệt khuyến khích việc thiết lập những cộng đoàn đan tu và chiêm ngưỡng, nơi nào có thể được. Bằng cách thức ấy, như Công đồng Vatican II nhắc nhở chúng ta, việc xây dựng xã hội trần thế luôn đặt nền móng nơi Chúa và luôn hướng về Người, kẻo những kẻ xây dựng xã hội trần thế lại lao động cách luống công (210).

Sự tìm kiếm Chúa, một đời sống hiệp thông huynh đệ, và việc phục vụ kẻ khác, là ba đặc tính chủ yếu của đời sống thánh hiến, có khả năng trao tặng một chứng tá Kitô giáo hấp dẫn đối với các dân tộc Á Châu ngày nay. Hội Nghị Đặc Biệt về Á Châu thúc giục những người sống đời thánh hiến trở nên chứng nhân cho lời mời gọi mọi người nên thánh, và nên gương mẫu lôi cuốn những Kitô hữu và không Kitô hữu, về tình yêu quên mình cho mọi người, nhất là những kẻ bé nhỏ nhất trong anh chị em mình. Trong một thế giới mà cảm thức về sự hiện diện của Thiên Chúa thường bị giảm sút, những người thánh hiến cần phải nêu lên những chứng tá thuyết phục và có tính ngôn sứ về địa vị tối thượng của Thiên Chúa và của cuộc sống muôn đời. Sống trong cộng đoàn, họ làm chứng cho những giá trị của tình huynh đệ Kitô giáo và quyền năng biến đổi của Tin Mừng (211). Tất cả những ai dấn thân vào đời sống thánh hiến, đều được kêu gọi trở nên những người hướng dẫn trên con đường tìm kiếm Thiên Chúa, một sự tìm kiếm đã luôn luôn lay động con tim loài người và đặc biệt khả kiến dưới nhiều hình thức tu đức và khổ hạnh tại Á Châu (212). Trong nhiều truyền thống tôn giáo tại Á Châu, những người nam nữ hiến mình trong đời sống chiêm ngưỡng và khổ tu, rất được kính trọng, và chứng tá của họ có một khả năng thuyết phục đặc biệt. Cuộc đời của họ sống trong cộng đoàn, qua một chứng tá thầm lặng và an bình, có thể gợi hứng cho con người tạo nên một cuộc sống hoà hợp hơn trong xã hội. Người ta không mong chờ ít hơn nơi những người nam nữ thánh hiến trong truyền thống Kitô giáo. Gương âm thầm của họ về sự nghèo khó và bỏ mình, về sự khiết tịnh và chân thành, về sự từ bỏ mình trong vâng phục, có thể trở nên một chứng tá hùng hồn có khả năng đánh động mọi người thiện chí và đưa tới một đối thoại mang lại kết quả với các nền văn hoá và tôn giáo xung quanh, và với người nghèo cùng với kẻ không thể tự vệ. Điều đó làm cho đời sống thánh hiến trở nên một phương tiện đặc biệt để rao giảng Tin Mừng cho hữu hiệu (213).

Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng nhìn nhận vai trò sinh động của các Dòng Tu và Tu Hội, của những Hội truyền giáo và những Hội đời sống tông đồ trong việc rao giảng Tin Mừng tại Á Châu các thế kỷ qua. Vì sự đóng góp vĩ đại này của họ, Thượng Hội Đồng tỏ bày với họ lòng biết ơn của Giáo Hội và thúc giục họ không nao núng trong dấn thân truyền giáo của ho. (214). Tôi hiệp ý với các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng mà kêu gọi những người sống đời thánh hiến, canh tân sự nhiệt thành của họ trong việc loan báo chân lý cứu độ của Đức Kitô. Tất cả phải được huấn luyện và đào tạo xứng hợp; nền huấn luyện này cần tập trung vào Đức Kitô và trung thành với đoàn sủng nền tảng của họ, nhấn mạnh đến sự thánh thiện và chứng tá cá nhân; tu đức và kiểu sống của họ phải nhạy cảm với gia sản tôn giáo của dân tộc mà họ đang sống và phục vụ (215). Tuy vẫn tôn trọng đoàn sủng riêng của họ, họ phải hoà nhập trong chương trình mục vụ của Giáo Phận nơi họ làm việc. Về phần mình, các Giáo Hội địa phương cần đẩy mạnh sự hiểu biết về lý tưởng của các tu sĩ và đời sống thánh hiến, và cổ võ những ơn gọi đó. Điều này đòi hỏi mỗi giáo phận phải lập ra một chương trình mục vụ cho ơn gọi, gồm có việc chỉ định các Linh mục và tu sĩ làm việc toàn thời gian giữa giới trẻ để giúp họ lắng nghe và nhận định tiếng gọi của Chúa (216).

Trong bối cảnh hiệp thông của Giáo Hội toàn cầu, tôi không thể không thúc giục Giáo Hội tại Á Châu cử đi các vị thừa sai, mặc dầu chính họ cũng cần những người thợ làm việc trong vườn nho. Tôi vui mừng thấy trong nhiều nước Á Châu, những hội Thừa sai sống đời sống tông đồ mới được thành lập; điều đó chứng tỏ rằng đặc tính truyền giáo của Giáo Hội được nhìn nhận và các Giáo Hội địa phương tại Á Châu ý thức đến trách nhiệm phải rao giảng Tin Mừng cho toàn thế giới (217). Các Nghị Phụ Thượng Hội Đồng khuyến khích "trong mỗi Giáo Hội địa phương tại Á Châu nơi nào chưa có, nên thành lập những Hội Thừa Sai sống đời sống tông đồ, với đặc tính là dấn thân cách đặc biệt lo việc truyền giáo ad gentes, ad exteros ad vitam" (218). Một sáng kiến như thế chắc chắn mang lại kết quả phong phú, không những cho các Giáo Hội đón nhận các vị thừa sai, nhưng còn cho những Giáo Hội sai họ đi.

còn tiếp

VỀ MỤC LỤC
THAI NHI (ngày cầu nguyện cho các thai nhi 11-12-2010)

 

Để cứu con người, Thiên Chúa toàn năng không có cách nào hay hơn là cách Ngài bước vào thế gian này bằng hình hài con người hay sao?

Tại sao Ngài lại chọn làm thai nhi bé bỏng, từng bước hình thành nên bộ dạng con người để bước vào trần gian này?

Tại sao Ngài quá giản đơn làm người trong xác thân một hài nhi nghèo hèn  nằm trong máng cỏ?

 ***

Thiên Chúa đã ban sự sống cho con người, rồi lại phục hồi sự sống cho con người, như thế chưa đủ sao?

Thiên Chúa đảm nhận sự sống của con người rồi nâng nó lên thành sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa làm chi vậy?

*** 

Ai có quyền chấm dứt sự sống của Thiên Chúa?

*** 

Sự chết không phải là văn hóa, chỉ có văn hóa sự sống.

Không có văn hóa sự chết, chỉ có sự chọn lựa hèn kém, kiêu căng,

chỉ có thái độ hủy diệt, ích kỷ và tham tàn.

chỉ có lập trường đối đầu với Thiên Chúa.

*** 

Không phải là cầu nguyện cho các thai nhi,

Nhưng là cùng với các thai nhi dâng lời tạ ơn, ngợi khen Chúa.

Tạ ơn và ngợi khen vì sự kỳ diệu nơi Thiên Chúa và vì sự sống Chúa ban cho con người.

Cầu nguyện cho chính mình, cho sự hèn kém của mình, cho sự độc đoán, ích kỷ, nhát đảm và vô cảm của chính mình,

Cầu nguyện cho những con người cách này cách khác đã trực tiếp hoặc gián tiếp công tác vào sự hủy diệt độc ác, chống cưỡng lại Thiên Chúa.

 

Xin các thai nhi bỉ hủy diệt không được mở mắt chào đời,

nay là các thánh Anh Hài,

nay là các Thiên Thần hầu cận trước tôn nhan Chúa cầu bầu cho chúng ta.

 

Lm. Vinh Sơn Phạm Trung Thành, dcct.

VỀ MỤC LỤC
GIỚI THIỆU TÔNG HUẤN VERBUM DOMINI (LỜI CHÚA)

 

Nguồn: http://hdgmvietnam.org/gioi-thieu-tong-huan-verbum-domini-loi-chua/2368.50.9.aspx  

WHĐ (19.11.2010) – Ngày 11-11 vừa qua, Tòa thánh đã công bố Tông huấn Verbum Domini [Lời Chúa] của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI. Đây là Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Giám mục (lần thứ XII). Thượng Hội đồng này diễn ra vào tháng 10/2008 với chủ đề “Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Hội thánh”. Trong khi chờ đợi bản dịch tiếng Việt của Tông huấn này, để giúp độc giả có cái nhìn tổng quát về nội dung Tông huấn, Đức cha Giuse Võ Đức Minh, chủ tịch Ủy ban Kinh Thánh / HĐGM Việt Nam đã gửi đến trang WHĐ bài giới thiệu sau đây về Tông huấn. 

Lời Chúa tồn tại muôn đời (1 Phêrô 1, 25)  

Giáo Hội Việt Nam sống Lời Chúa

Hàng Giáo phẩm Công giáo Việt Nam được Tòa thánh thành lập không bao lâu (24.11.1960), thì Công Đồng Vatican II được khai mạc (11.10.1962). Các Đức Giám mục Việt Nam lúc bấy giờ đã được kể trong số 2904 Nghị phụ trên thế giới được mời tham dự. Trong lần công bố triệu tập Công Đồng, nhằm vào tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất giữa các tín hữu Chúa Kitô năm 1959, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã nói như sau: “Chúng ta hãy hiệp nhất với nhau và chúng ta hãy chấm dứt mọi bất hòa”. Tinh thần hiệp nhất đã trở nên niềm hy vọng và là động lực hướng dẫn cho Công Đồng. Chính Đức Gioan XXIII cũng đã dùng một hình ảnh thật sống động khiến cho bầu khí trong cả Giáo Hội hướng về Công Đồng như một lễ Hiện Xuống mới: “Chúng tôi muốn mở rộng cánh cửa sổ của tòa nhà Hội thánh cho làn gió mát (của Chúa Thánh Thần) thổi vào”. Ngay từ khóa họp đầu tiên, chính Ngài muốn các Nghị phụ bàn về Kinh thánh, để có thể dùng Lời Chúa soi dẫn cho các khóa họp Công Đồng; Ngài đã cho đặt cuốn Kinh thánh ngay tại trung tâm Đền thờ Thánh Phêrô, nơi các Nghị Phụ hội họp và cử hành các Nghi lễ trong suốt thời gian các Khóa họp Công Đồng. Thế rồi, trải dài 4 năm qua các Khóa họp, trước khi bế mạc Công Đồng, chính Đức Giáo Hoàng Phaolô đệ VI cùng với các Nghị Phụ đã long trọng công bố Hiến chế tín lý về Mạc Khải “Lời Thiên Chúa” (Dei Verbum) vào ngày 18.11.1965 trong bầu khí hân hoan, an bình, tràn đầy niềm hy vọng: “Trong niềm thành kính lắng nghe và tin tưởng công bố Lời Thiên Chúa, Thánh Công Đồng lập lại lời Thánh Gioan: “Chúng tôi loan truyền cho anh em sự sống đời đời, đã có nơi Chúa Cha và đã hiện đến với chúng tôi: điều chúng tôi đã thấy, đã nghe, chúng tôi loan truyền cho anh em, để anh em cũng được hiệp nhất với chúng tôi và chúng tôi hiệp nhất với Chúa Cha và với Chúa Giêsu Kitô, Con của Ngài” (1Ga 1, 2-3). Lắng nghe với thái độ thành kính, vì Lời Thiên Chúa là Lời hằng sống; tin tưởng công bố Lời Thiên Chúa, vì chính đây là sứ điệp cứu độ.

Nếu ơn gọi của Hội thánh là “lắng nghe Lời Thiên Chúa trong niềm thành kính “và “tin tưởng công bố Lời Thiên Chúa”, thì ơn gọi và sứ mạng của Hội thánh Việt Nam cũng không thể khác được. Cùng với Hội thánh toàn cầu, Hội thánh Việt Nam thể hiện đúng ơn gọi của mình, khi “thành kính lắng nghe Lời Thiên Chúa”, và càng “thành kính lắng nghe”, thì Hội thánh Việt Nam sẽ luôn “tin tưởng công bố Lời Thiên Chúa” cho mọi người.

Hội thánh Việt Nam với thời gian, đã thật sự mở rộng cánh cửa đón lấy luồng gió mới của Thánh Thần mà Công Đồng Vatican II đem lại, cách riêng trong lãnh vực Lời Chúa. Trong Thư Mục vụ năm 2005 với tựa đề “Sống Lời Chúa”, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã nói về việc tăng cường vai trò ưu tiên của Kinh thánh trong đời sống của người tín hữu: “Yêu mến Kinh thánh không chỉ thể hiện qua việc phổ biến sách Kinh thánh, mà còn là siêng năng đọc Lời Chúa trong đời sống và cho đời sống cụ thể của mình. Nói cách khác, đọc Lời Chúa không những để hiểu về Chúa, mà còn để tìm hướng đi cho cuộc đời”. Với nhận định trên, các vị Chủ chăn của chúng ta cho thấy lòng yêu mến Kinh thánh là điểm son của người tín hữu chúng ta. Giáo Hội Việt Nam đã có những nỗ lực rất nhiều khi cung cấp cho mọi người bản dịch Kinh thánh từ nguyên ngữ Do thái, Hy lạp, Aramêô hay từ bản Phổ thông bằng ngôn ngữ latinh. Cho tới ngày nay, chúng ta đã xuất bản khoảng ba trăm ngàn bản Kinh thánh Tân Cựu Ước toàn bộ và trên hai triệu ấn bản Kinh thánh Tân Ước. Những bản văn Lời Chúa dần dần không còn xa lạ với các gia đình công giáo, cách riêng đối với giới trẻ và thiếu nhi Công giáo Việt Nam.

Cách đây gần 50 năm, đã có một thế hệ gồm 17 vị Giám mục Việt Nam tham dự Thánh Công Đồng Vaticacan II, trong đó có các Đức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, Phêrô Martinô Ngô Đình Thục, Philipphê Nguyễn Kim Điền đáng kính; và đặc biệt, trong một bài tham luận phát biểu bằng tiếng latinh, Đức Cha Simon-Hòa Nguyễn Văn Hiền, Giám mục Giáo phận Đalat, nguyên Giám quản Tông Tòa Địa phận Saigon, đã làm bỡ ngỡ các Nghị Phụ tại Công Đồng khi gợi lên hình ảnh “gia đình nơi Thiên Chúa Ba Ngôi” (đại ý: Thiên Chúa Ba Ngôi là một gia đình, có sự sống và được liên kết với nhau bằng tình yêu thương; đó là hình ảnh mẫu mực của gia đình Hội thánh và của cả gia đình nhân loại). Từ gợi ý kỳ diệu đó, ngày nay khoa Thần học tín lý luôn xây dựng nền tảng thần học trên mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi: Ba Ngôi Thiên Chúa là cội nguồn; Ba Ngôi Thiên Chúa là quê hương. Tất cả đều bắt nguồn từ Thiên Chúa và hướng tới, quay trở về Thiên Chúa!

Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Hội thánh”: ­Thượng Hội đồng Giám mục lần thứ XII

Trải qua dòng thời gian, nhiều thế hệ Giám mục Việt Nam khác tiếp tục góp phần của mình vào các sinh hoạt cũng như các công việc chung của cả Hội thánh; các ngài cũng đã tích cực tham dự các Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới, theo tinh thần Công Đồng Vatican II. Cụ thể, tại Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới lần thứ XII, diễn ra ở Roma, từ ngày 5 tháng 10 đến 26 tháng 10 năm 2008, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã bầu hai Giám mục tham dự: Đức Cha Giuse Võ Đức Minh, Chủ tịch Ủy Ban Kinh thánh/HĐGMVN, Giám mục Giáo phận Nha Trang và Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh, Giám mục Giáo phận Thanh Hóa. Đức Cha Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng, Giám mục Phụ tá Tổng Giáo phận Huế cũng được bầu với tư cách dự khuyết. Thêm vào đó, linh mục Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản (nay là Giám mục Giáo phận Ban Mê Thuột) đã được Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đề cử tham dự với tư cách là chuyên viên. Đề tài của Thượng Hội Đồng này là: “Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Hội thánh”. Thật hạnh phúc trong thời gian 3 tuần lễ được hiện diện, lắng nghe, học hỏi, chia sẻ, phát biểu và góp ý với Hội nghị. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI hiện diện, soi sáng, hướng dẫn và lắng nghe tất cả các chia sẻ, các phát biểu của các Nghị phụ. Ngài có một câu nói rất tuyệt vời và dí dỏm: “Lời Chúa không bao giờ già!”.

Tham dự Thượng Hội Đồng, có 253 Nghị phụ đến từ 118 nước và khoảng 150 chuyên viên và dự thính viên. Có các đại diện các Cộng đoàn Kitô giáo không phải là Công giáo cũng được mời tham dự, như Tòa Thượng phụ Đại kết Constantinople, Tòa Thượng Phụ Matxcơva, Tòa Thượng phụ Chính thống Romania, Tòa Thượng Phụ Chính thống Serbia, Tòa Thượng phụ Chính thống Hy lạp, Giáo hội tông truyền Armênia, Cộng đoàn Anh giáo, Liên hiệp thế giới Luthêranô, Hội đồng Đại kết các Giáo hội Kitô; ngoài ra, còn có vị Tổng thư ký Hiệp hội United Bible Society và thầy Tu viện trưởng Cộng đoàn Taizé. Trong Thượng Hội Đồng, lần đầu tiên có một vị Rabbi Do thái giáo đến từ Israel, ngài Rabbi niên trưởng của Haifa. Chính ngài đã tham dự ngay từ ngày đầu tiên và phát biểu về đề tài: “Người Do thái đọc Kinh thánh và chú giải Kinh thánh”. Đặc biệt Đức Thượng Phụ Đại kết Barthôlômêô đệ I, thường được gọi là Giáo Chủ Đông phương, cùng Phái đoàn từ Constantinople đến tham dự giờ Kinh chiều thứ bảy 18.10.2008 tại Nhà nguyện Sixtina. Buổi cầu nguyện đã diễn ra chung với Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI, thường được gọi là Giáo Chủ Tây Phương và các Nghị Phụ. Đức Giáo Hoàng và Vị Thượng phụ cùng chủ sự giờ cầu nguyện. Đức Giáo Hoàng khai mạc giờ Kinh cầu nguyện; Vị Thượng phụ được mời suy niệm và giảng Lời Chúa; Đức Giáo Hoàng ban phép lành bằng ngôn ngữ latinh; còn vị Thượng phụ ban phép lành bằng ngôn ngữ Hy lạp. Đông Tây gặp nhau trong giờ Kinh cầu nguyện tuyệt vời! Buổi cầu nguyện để lại một ấn tượng về đại kết thật sâu đậm. Trong Thượng Hội Đồng, Đức Tổng Giám mục Nicola Eterovic, người Croat, trong vai trò Tổng Thư ký Thượng Hội Đồng, đã giới thiệu một cách tổng quát nghị trình của Hội Nghị.

Bản văn chính thức với đề tài: “Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Hội thánh” được Đức Hồng Y Marc Ouellet, Tổng Giám mục Québec, Canada trình bày. Kế đó, 5 vị Giám mục thay mặt cho 5 Châu lục đã tường trình về những nét nổi bật của Lời Chúa tại các Hội thánh địa phươngg ở 5 Châu lục; các tổ thảo luận được sắp xếp theo các nhóm ngôn ngữ: Latinh, Ý, Anh, Pháp, Đức, Bồ đào nha, Tây Ban Nha, trao đổi xoay quanh bản văn quan trọng này. Rồi, tại Hội trường, các Nghị Phụ có những phát biểu tham luận. Khoảng 150 phát biểu đã được chuẩn bị từ trước và thời gian mỗi bản tham luận là 5 phút; khoảng trên 300 phát biểu tự do, bổ sung về mỗi đề tài, thời gian mỗi phát biểu tự do là 3 phút.

Hòa trong bầu khí sinh hoạt của các Nghị Phụ, đoàn Việt Nam cũng tham dự rất tích cực. Đức Cha Giuse Võ Đức Minh đã có bài phát biểu tham luận vào sáng ngày 11.10.2008 với đề tài: “Lời Chúa là nguồn an ủi và là sức mạnh của Dân Chúa tại Việt Nam”. Ngày 14.10.2008, Đức Cha Giuse Nguyễn Chí Linh có bài phát biểu: “Lời Chúa thật sự là nguồn hy vọng cho Giáo Hội Việt Nam”. Ngoài ra, một vinh dự rất lớn đối với đoàn Việt Nam, đó là liền sau ngày khai mạc với bài giảng của Đức Giáo Hoàng, Đức Cha Giuse Võ Đức Minh đã được Ban tổ chức mời chia sẻ Lời Chúa trong bài giảng ngày lễ kính Đức Mẹ Mân côi, ngày 7.10.2008, với đề tài: “Lời Chúa trong đời sống của người tín hữu”. (Chỉ có 12 vị được mời suy niệm và giảng tại Hội trường).

Tuần lễ cuối cùng của Hội Nghị, Ban Thư ký tổng hợp tất cả các ý kiến từ các bài tham luận, các ý kiến phát biểu tại Hội trường hay tại các Nhóm thảo luận, bổ sung cho bài tường trình; rồi Đức Hồng Y Marc Ouellet một lần nữa công bố văn bản chính thức của Thượng Hội Đồng: “Lời Chúa trong đời sống và sứ vụ của Hội thánh”.

Đức Cha Gianfranco Ravasi, Chủ tịch Hội Đồng Tòa thánh về Văn hóa (vừa được lên tước Hồng Y) công bố “Sứ điệp Thượng Hội Đồng Giám Mục khóa thường kỳ lần thứ XII gửi Cộng đoàn Dân Chúa”. Sứ điệp gồm 4 phần đề cập đến Mầu nhiệm Mạc Khải như là “Tiếng của Lời”, được tỏ hiện qua “Khuôn mặt của Lời là Đức Giêsu Kitô”; rồi giới thiệu “Căn nhà của Lời là Hội thánh”, để xác định đời sống và sứ vụ của Hội thánh “trên những nẻo đường của Lời Chúa: là công cuộc rao giảng Tin mừng”. Ngoài ra, các Nghị Phụ đã đóng góp 254 đề nghị và một Ủy Ban đặc biệt đã cô đọng lại thành 55 đề nghị trình lên Đức Giáo Hoàng. Những đề nghị này được các Nghị Phụ bỏ phiếu trong phiên họp khoáng đại: Placet hoặc Non Placet hoặc Placet juxta modum. Kêt quả là 55 đề nghị này đã được bỏ phiếu kín và hầu hết đều nhận được sự đồng tâm nhất trí của các Nghị phụ với lá phiếu: Placet.

Bản tường trình, Sứ điệp, các bài tham luận, các phát biểu góp ý và các đề nghị đều được trình lên Đức Giáo Hoàng. Chính đây là chất liệu để Ngài soạn ra Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Giám Mục về Lời Chúa.

Tông huấn “Lời Chúa” (Verbum Domini)

Và, Tông Huấn được chờ đợi đó đã chào đời vào ngày 11 tháng 11 năm 2010 với tựa đề: “Lời Chúa” (Verbum Domini). Tuy được công bố chính thức ngày 11.11.2010, nhưng bản văn đã được chính Đức Giáo Hoàng Bênêditô XVI ký ngày 30 tháng 9 năm 2010, nhằm ngày lễ kính Thánh Hiêrônimô, vị Thánh Linh mục say mê truy tầm Lời Chúa, phiên dịch, suy niệm và rao giảng Lời Chúa.

Tông Huấn “Lời Chúa” (Verbum Domini) đã được Tòa thánh công bố trước sự hiện diện của Đức Hồng Y Marc Ouellet, nay là vị Tổng Trưởng Bộ Giám Mục, Đức Hồng Y tân cử Gianfranco Ravasi, Chủ tịch Hội Đồng Tòa thánh về Văn hóa và Đức Tổng Giám Mục Nicola Eterovic, Tổng thư ký Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới. Tông Huấn gồm Phần Dẫn nhập; có 3 chương: Chương 1 nói về “Lời Thiên Chúa “(Verbum Dei), Chương 2 nói về “Lời ở trong Hội thánh” (Verbum in Ecclesia), Chương 3 nói về “Lời cho thế gian” (Verbum pro mundo) và phần Kết luận hướng tới công cuộc tái rao giảng Tin mừng trong niềm tin tưởng và phó thác nơi Đức Trinh Nữ Maria “Mẹ của Lời và là Mẹ của Niềm vui” (Mater Verbi et Mater laetitiae).

Trong phần dẫn nhập: “Lời Chúa (Verbum Domini) tồn tại muôn đời” (1P 1, 25), Đức Giáo Hoàng liên kết Hiến chế tín lý về Mạc Khải của Công Đồng Vatican II “Lời Thiên Chúa” (Dei Verbum) với những hoa quả của Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới lần thứ XII về Lời Chúa. Ngài chọn bản Lời tựa tuyệt vời của Thánh Gioan Tông đồ (Ga 1, 1-18) như kim chỉ nam cho toàn bộ Tông Huấn.

Trong chương 1 nói về “Lời Thiên Chúa” (Verbum Dei): “Lúc khởi nguyên đã có Lời và Lời ở nơi Thiên Chúa và Lời là Thiên Chúa… Và Lời đã thành xác phàm” (Ga 1, 1.14), Đức Giáo Hoàng đề cập đến 3 điểm: Thiên Chúa nói – Con người lắng nghe và đáp trả tiếng Chúa nói – Cách giải thích Kinh thánh trong Hội thánh.

Trong chương 2 nói về “Lời ở trong Hội thánh” (Verbum in Ecclesia): “Còn những ai đón nhận Ngài, thì Ngài đã ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa” (Ga 1, 12). Đức Giáo Hoàng nói tới mối tương quan mật thiết giữa Lời của Thiên Chúa và Hội thánh; trong đó, Phụng vụ là môi trường tối ưu của Lời Thiên Chúa: Lời Chúa trong Phụng vụ thánh; Lời Chúa và các Bí tích; Lời Chúa và Thánh Thể; Tính chất bí tích của Lời Chúa; Kinh thánh và sách bài đọc Lời Chúa; việc công bố Lời Chúa và tác vụ đọc sách; Vai trò quan trọng của bài giảng lễ; Việc cần thiết phải có cuốn cẩm nang về bài giảng lễ; Lời Chúa và Bí tích giao hòa cùng việc xức dầu bệnh nhân; Lời Chúa và giờ kinh phụng vụ; Lời Chúa và sách các phép; Một vài gợi ý cụ thể để làm cho việc cử hành phụng vụ được sống động. Ngoài ra, Lời Thiên Chúa còn soi sáng và hướng dẫn mọi sinh hoạt của đời sống người tín hữu: Lời Chúa trong Kinh thánh; Lời Chúa trong mục vụ; Lời Chúa trong huấn giáo; Lời Chúa hình thành nhân cách người tín hữu của Chúa Kitô; Lời Chúa sống động trong các lễ hội của Dân Chúa; Lời Chúa soi sáng và đồng hành với mọi ơn gọi trong Hội thánh: hàng giáo sĩ, ứng viên chức thánh, đời sống thánh hiến, đời sống giáo dân, hôn nhân và gia đình; Cầu nguyện và học hỏi, suy niệm Lời Chúa; Lời Chúa giúp chúng ta hiểu biết và yêu mến Đức Mẹ; Lời Chúa giúp chúng ta gắn bó với Thánh địa.

Trong chương 3 nói về “Lời cho thế gian” (Verbum pro mundo): “Thiên Chúa, không ai đã thấy bao giờ; Con Một, Đấng ở nơi cung lòng Cha, chính Ngài đã thông tri” (Ga 1, 18), Đức Giáo Hoàng nói tới sứ vụ của Hội thánh là công bố Lời Thiên Chúa. Lời Thiên Chúa thúc đẩy Hội thánh dấn thân trong các sinh hoạt ở trong thế giới: phục vụ Chúa Giêsu nơi những người bé mọn, nghèo hèn; giúp chúng ta tìm kiếm và xây dựng công bằng xã hội; thúc đẩy chúng ta quan tâm đến việc hòa giải và kiến tạo hòa bình ở giữa các dân tộc; kiên trì thi hành công việc bác ái từ thiện; quan tâm đến giới trẻ; đến mục vụ di dân; đến những người đau khổ; đến những người nghèo; đến bảo vệ và giữ gìn môi trường thiên nhiên là tạo vật của Thiên Chúa. Lời Chúa còn lan rộng và ảnh hưởng đến văn hóa: giá trị của văn hóa đối với đời sống con người; Kinh thánh là một kho tàng cho các nền văn hóa; Lời Chúa trong môi trường giáo dục và đại học; Lời Chúa tạo nguồn cảm hứng cho các công trình nghệ thuật; Lời Chúa trong các phương tiện truyền thông xã hội; Lời Chúa với việc hội nhập văn hóa; việc phiên dịch và phổ biến Lời Chúa cho các dân tộc và ngôn ngữ khác nhau; Lời Chúa vượt qua giới hạn của các nền văn hóa. Ngoài ra, Lời Chúa tạo điều kiện cho các cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa các tôn giáo: giá trị của công cuộc đối thoại liên tôn giáo; Lời Chúa giúp đối thoại giữa người tín hữu Kitô với tín hữu Hồi giáo, với tín hữu các tôn giáo khác; Lời Chúa giúp đối thoại để sống trong tự do tôn giáo.

Trong phần kết luận Tông huấn, Đức Giáo Hoàng hướng về Lời Chúa và công cuộc tái rao giảng Tin mừng. Ngài phó thác cho Đức Maria “người Mẹ của Ngôi Lời nhập thể và là Mẹ của niềm vui”.  

Kết luận  

Chắc chắn có nhiều anh chị em khắp nơi trên thế giới đang chuyển dịch bản văn quý này ra ngôn ngữ Việt Nam thân yêu của chúng ta. Điều này nói lên lòng yêu mến Lời Chúa và khao khát phổ biến kho tàng Lời Chúa cho mọi người nơi rất nhiều anh chị em của chúng ta. Chúng ta vui mừng đón nhận các tác phẩm chuyển dịch bản Tông huấn này và chúc mừng các anh chị em của chúng ta.

Phần mình, Ủy Ban Kinh thánh trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam rất hân hoan đón nhận Tông Huấn của Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI; và như đã hứa với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, các thành viên Ủy Ban Kinh thánh đã bắt tay vào việc, phân công nhau để cùng nỗ lực chuyển dịch Bản Tông huấn quý giá này ra tiếng Việt. Bản dịch của Ủy Ban Kinh thánh trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam hy vọng có thể ra mắt mọi người vào dịp bế mạc Năm thánh 2010 của Giáo Hội Việt Nam, như món quà trong Năm hồng phúc này. 

+ Giuse Võ Đức Minh

Giám mục Giáo phận Nha Trang

Chủ tịch Ủy Ban Kinh thánh/HĐGMVN

VỀ MỤC LỤC
CÓ AI NGỜ…

 

Một ngày nọ bạn nghe hàng xóm xôn xao: “Có một kẻ rất lạ xuất hiện trong khu phố của chúng ta.” Thế là mọi người kéo nhau đến chỗ đó để xem thực hư thế nào. Bạn cũng hoà vào đám đông. Đến nơi, đúng là có một người lạ, thậm chí là kỳ lạ nữa, đang đứng đó lớn tiếng nói những điều bạn chưa nghe bao giờ. Ông này ăn mặc có vẻ luộm thuộm. Đầu tóc bù xù. Lại nghe nói rằng ông sống trong sa mạc, ăn châu chấu (ghê!) và uống mật ong. Nhìn ông chẳng thân thiện gì lắm. Dân chúng đứng đó xầm xì bàn tán, người thích kẻ khinh, người vỗ tay khen lạ kẻ nhạo báng chê khùng. Nhưng một lúc sau, người ta bắt đầu im lặng để nghe ông nói. Bề ngoài ông chẳng hấp dẫn nhưng hình như tấm lòng ông chân thành.

Bạn thân mến, con người kỳ lạ ấy thực ra là một nhân vật xuất chúng, được sử sách ngàn đời lưu truyền, không phải về hình thức kỳ lạ bên ngoài mà vì tinh thần sống mãnh liệt bên trong. Cách ăn mặc của ông, theo truyền thống đương thời, thật ra là hiện thân của một vị đại ngôn sứ tên là Êlia mà người ta vẫn chờ mong sẽ trở lại để dọn đường cho Đấng Cứu Thế. Quả thật, ông là người dọn đường cho Người và chỉ cho dân chúng biết khi Người xuất hiện. Ông – Gioan Tiền Hô – đã được chính miệng Chúa Giêsu khen là người diễm phúc và cao trọng. Từ khi xuất hiện cho đến nay, đã hơn 2000 năm, ông vẫn được nhắc đến thường xuyên như một gương sống tuyệt vời. 

Thế rồi, giữa dòng đời bon chen đông đúc này, có một phụ nữ thân hình nhỏ bé, tướng tá chẳng có gì ấn tượng, giọng nói không bay bổng như một nghệ sĩ, nhan sắc tầm thường. Ấy vậy mà thế giới này, từ người thứ dân cho đến kẻ chức quyền, từ kẻ nghèo hèn khố rách áo ôm cho đến người lộng lẫy sa hoa, đã phải cúi xuống thật sát để ngưỡng mộ, cúi xuống thật sâu để tri ân. Khi người phụ nữ ấy trở về nhà Cha trên trời, hàng tỷ con người khắp nơi trên thế giới khóc thương vì bà đã trở nên một vị thánh trong tâm hồn họ, đã trở thành mẹ trong cõi lòng côi cút của họ, mẹ Teresa Calcutta. 

Còn nữa, mình biết một bà lão bán vé số nghèo khổ. Da bà thì nhăn nheo vì sương gió bụi trần, lưng bà thì khòm xuống do sức kéo của gánh nặng cuộc đời. Người ta hay gọi bà là “bà xấu xí”, có lẽ một cách vui miệng thôi chứ cũng chẳng ác ý gì. Khi mặt trời đã ngủ được một giấc rồi thì bà mới dò dẫm trở về căn nhà trọ tồi tàn trong một xóm lao động lụp sụp. Khuya lắm rồi mà bà vẫn cặm cụi bóc từng hạt đậu phộng, vo từng đấu gạo nếp nấu xôi để sáng sớm hôm sau thức dậy bán kiếm chút đồng chợ búa. Bán xôi xong, bà lập tức cất bước tảo tần đi khắp các nẻo đường lớn nhỏ mời người ta mua vé số. Cứ như thế mấy chục năm trời. Có lẽ chưa bao giờ bà ghé vào một rạp xi-nê xem một bộ phim 3D, một thứ quá bình thường đối với nhiều người. Có lẽ chưa bao giờ bà bước vào một tiệm thời trang sang trọng đông đúc. Có lẽ chẳng ai biết bà là ai, tâm hồn bà có gì đặc biệt. Bà cứ thầm lặng giữa mênh mông cuộc đời. Bà như một cái bóng mờ nhạt chẳng ai để ý, một bài hát không âm thanh giữa náo động xập xình! 

Rồi một hôm, bà từ giã trần gian. Đám tang của bà nghèo lắm. Chỉ lèo tèo vài người đến tiễn biệt lần cuối. Đã lặng lại càng thêm buồn. Đã buồn lại càng thêm thảm khi người ta thấy nước mắt cứ trào ra trên gò má của hai thanh niên trẻ. Lạ! Phải, rất lạ vì không ai ngờ được rằng từng nắm xôi, từng tấm vé số, từng bước chân lặng lẽ lê khắp nẻo đời kia giờ đây đã kết trái đơm hoa: hai chàng thanh niên mồ côi kia giờ đây là hai sinh viên ưu tú. Ngày họ lãnh tấm bằng loại giỏi để tiến vào tương lai cũng là lúc bà xuất sắc hoàn thành sứ mạng yêu thương và tạm biệt họ để về quê trời mà bà hằng chờ đợi. “Bà xấu xí” thật đẹp, phải không bạn? 

Bạn thân mến, trong dân gian vẫn có câu: “Nhìn vậy mà không phải vậy.” Và lẽ khôn ngoan ở đời vẫn nhắc nhở con người rằng phải hết sức thận trọng trong việc đánh giá người khác qua hình thức. Việc đánh giá người khác chỉ dựa trên bề ngoài quả thật dễ làm cho mình hiểu lầm hiểu cạn cũng như dễ gây tổn thương cho tha nhân về phẩm giá và danh dự. Sau khi người ta nhận ra tầm vóc phi thường của Gioan Tiền Hô, họ lại không thể ngờ rằng chàng thanh niên nhà quê Giêsu Nazarét còn trổi vượt gấp vạn lần Gioan. Khi Giêsu chết thê thảm và tủi nhục trên thập giá, người ta không bao giờ ngờ tới việc cái chết ấy lại trở thành sự sống mới mãnh liệt cứu độ toàn thể nhân loại. Khi từng giọt máu tử đạo của các môn đệ Thầy Giêsu nhỏ xuống đất đen khô cằn kia, có ai ngờ hạt giống đức tin bỗng nảy mầm trong tâm hồn hàng ngàn hàng triệu con người. Có ai ngờ một hành động đơn sơ bé nhỏ của yêu thương lại có thể cảm hoá được một kẻ giết người không gớm tay. Có ai ngờ một chút kiên nhẫn mỗi ngày lại tạo nên một vị thánh. Có ai ngờ tình yêu trở nên tuyệt vời nhất trong hy sinh gian khổ. Có ai ngờ…nhìn vậy mà không phải vậy. 

Bạn thân mến, sở dĩ những bất ngờ tốt lành kia có thể xảy ra là do một nguyên nhân đơn sơ đến mức khó ngờ: Thiên Chúa yêu thương ta vô ngần và Người biết ta cần gì. Và, bạn biết sao không, Thiên Chúa của những bất ngờ tuyệt vời ấy đã tạo nên điều bất ngờ nhất trong lịch sử từ cổ chí kim, đó là tặng nhân loại tụi mình điều quý giá nhất của Người: món quà Emmanuel – Thiên Chúa làm người ở giữa chúng ta nơi Đức Giêsu Kitô! Tụi mình cùng mở rộng tâm hồn để đón nhận, Bạn nhé! 

Joseph Việt, O.Carm. 

----- 

  

Surprises… 

You hear the neighbors saying: “There is a strange man in town!” Then everyone rushes to the place to see what is going on. You also join the crowd. Yes, a strange man, even bizarre, is standing there speaking to people about things you have never heard of. The way he dresses is awkard. His hairs are all ruffled. People say he lives in the desert and eats locusts and wild honey (yikes!) 

His face doesn’t look friendly at all. People stand there talking about him. Some are interested in him, others feel disgusted. Some clap their hands, others express their contempt. However, after a few minutes, they begin to calm down their discussion and listen to him. His appearance is not attractive but he seems to have a sincere heart. Some people even follow him. 

Dear friend, this strange man is actually a man of excellence, spoken of by many generations, not so much of his appearance but of his strong and holy spirit. The way he dresses, in the contemporary trandition, actually embodies the great prophet Elijah that people have long waited to come back to prepare the way for the Savior of the world. Indeed, he is the one who prepares His way and introduces Him to people when He comes. This strange-looking man, John the Baptist, is complimented by Jesus as blessed and important among human race. From his time up to this very day, for more than two thousand years, he has been spoken of as an excellent example of how to live a good human life with dignity.

Then, in this human history which is rich and diverse comes a woman. She is small in stature. Her appearance is not impressive. Her voice is not as sweet as that of a singer. Her beauty is just quite ordinary. However, numerous people of this very world of ours, from the little to the powerful, from the poor to the rich, bowed before her with admiration and gratitude. When she went to the heavenly Father, billions of people shed their tears since she had become a saint in their souls, a mother in their hearts, mother Teresa of Calcutta. 

I also knew an old lady. Her skin was wrinkled by years of hard work; her back was bent due to heavy burdens of life. People called her the “ugly lady”, perhaps just with some humor rather than contempt. After the sun had gone to sleep, she came home – a little room she rented in a slum. Though it was late, she still continued to work until midnight to cook peanut sticky rice so that the next morning she would sell it to earn a little more money. After finishing selling the sticky rice, she walked through all the streets in town to sell lottery tickets [a job for jobless poor people in Vietnam]. Her life was just the same with those routines for decades. Perhaps she never went watch a 3D movie, a thing quite popular for many this day. Perhaps she never dared to stop by a crowded fashion shop. Perhaps no one knew who she was or what was in her soul. She was all quietly living her ordinary life, like a shadow receiving no notice, like a silent song among many noises of this world. 

Then one day, she said goodbye to this world. Her funeral was poor. Only very few came to see her the last time. This quietness made it sadder. This sadness made it even more miserable when one saw the tears keep running down from the eyes of two young men. No one had ever thought that each piece of sticky rice she made every night, each lottery ticket she sold everyday, each step of her walking on every road in those years created a miracle: those two little orphans had become two excellent students. The day they received their degrees to walk into a bright future was also the day she said goodbye to them to go enjoy the eternal happiness with her heavenly Father after having excellently accomplished her mission of love. The lady ‘ugly’ is beautiful, isn’t she? 

My dear friend, it is often said: “Things are not always as they look.” Ordinary experience also helps us see that appearances are deceptive. One must be very careful in making judgment about others. Making a judgment based on the appeareance easily leads us to short-sightedness and misundertanding and damages others’ reputation and dignity. After recognizing the greatness of John Baptist, people don’t ever think that the carpenter Jésus from Nazareth is even much greater. When Jesus dies horribly on the cross, no one would think of his mighty resurrection from the dead that can save all. When each blood drop of Jesus’ diciples falls to the dry and lifeless ground, who would expect the seed of faith to be sprouting in the soul of thousands, or even millions of others. Who would think a simple act of love could convert the heart of a cold-blooded killer? Isn’t it surprising that each little moment of patience can make a great saint? Have we not seen love most wonderfully prosper in sacrifice? ... 

Dear friend, the happening of those good surprises comes from an unexpectedly simple reason: God loves us more than we can imagine and He knows what we need. Moreover, you know what, this God of wonderful surprises has created the least expected surprise in the history of the whole creation; that is, offering us the most precious gift of His: Emmanuel – God with us – in the person of Jesus Christ. My dear friend, let us open our hearts and hands to gratefully receive THIS GIFT during this special season! 

Joseph Việt, O.Carm. 

VỀ MỤC LỤC
KHÔNG CÓ TỰ DO TÔN GIÁO TẠI TRUNG QUỐC (PHÚC TRÌNH CỦA ĐHY TRẦN NHẬT QUÂN TRƯỚC ĐGH VÀ CÔNG NGHỊ HỒNG Y)
 

Sự kiểm soát tuyệt đối trên cộng đồng (Giáo Hội) công khai, nỗi gian khổ của cộng đồng (Giáo Hội) hầm trú, sự khuynh loát và nhũng lạm của các giám mục, những người chỉ có mối rủi ro duy nhất là bày tỏ lòng trung thành công khai với Đức Giáo Hoàng. Những vấn nạn của Giáo Hội tại Trung Quốc cũng đến từ sự do dự của phía Công giáo. Sự gia tăng nguy cơ nô lệ của các mục tử  và những hướng dẫn của Đức Thánh Cha Benedictô XVI trong bức thư gửi cho các tín hữu của Giáo Hội tại Trung Quốc sẽ bị lãng quên. Bản phúc trình của ĐHY Zen trước các hồng y và Đức Giáo Hoàng trong Công Nghị hồng y.

Vatican City (AsiaNews) – Tại Trung Quốc,nhiều nhất, chỉ có quyền tự do thờ phượng, nhưng chính quyền đã không có mảy may nào nới lỏng sự kiểm soát tuyệt đối trên tôn giáo và Giáo hội Công giáo, khuynh loát các việc tấn phong và làm hư hỏng giám mục, thậm chí cả những giám mục được hợp pháp hóa bởi Đức Giáo Hoàng. Đây là bản tổng quan đau buồn được đệ trình bởi ĐHY  Joseph Zen gửi đến các chư huynh hồng y của mình, trong ngày dành để thảo luận và phản ánh, được triệu tập bởi ĐGH vào ngày 19 Tháng Mười Một, trước công nghị Hồng Y vừa qua. Trong văn bản công bố toàn bộ,vị giám mục về hưu của Hồng Kông nhấn mạnh rằng đã có những do dự, ngay cả trong chính sách của Vatican, có thể dẫn đến một sự giải thích sai lầm về các hướng dẫn của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, trong bức thư gửi cho người Công giáo của Trung Quốc. NB: Các ghi chú là của AsiaNews. 

Tôi nghĩ rằng đó là nhiệm vụ của tôi, có được cơ hội đặc biệt này để thông báo đến chư huynh đệ xuất chúng của mình, rằng vẫn không có tự do tôn giáo tại Trung Quốc. Có quá nhiều lạc quan chung quanh những điều không tương ứng với thực tế. Một số thì không có cách nào để biết được sự thật, một số khác lại nhắm mắt của họ trước thực tế, những người khác vẫn thấy tự do tôn giáo trong một cung cách rất sơ sài. 

Nếu quý ngài định tới thăm Trung Quốc (mà tôi khuyên quý ngài không nên, bởi vì chuyến thăm viếng của quý ngài sẽ bị vận động và khai thác cho mục đích tuyên truyền), quý ngài sẽ thấy những thánh đường đẹp đầy ắp những người cầu nguyện và hát xướng, như trong bất cứ thành phố nào khác trong thế giới Kitô giáo. Nhưng tự do tôn giáo không thể bị giảm thiểu chỉ vào việc tự do thờ phượng. Nó bao hàm nhiều hơn nữa. Một số người sẽ phản đối điều này. Một số người đã viết: "Bắc Kinh muốn các giám mục được tuyển chọn bởi Đức Giáo Hoàng".  Cứ y như thật! Thực tế là luôn có một sự liên tục "giằng co"  trong đó tôi không biết ai đã chịu thua thiệt nhiều nhất.  

Thực tế gần đây đã không có những vụ tấn phong giám mục bất hợp pháp chắc chắn là một điều tốt [phúc trình này được viết trước khi có vụ tấn phong bất hợp pháp mới đây-nd].  Nhưng khi chính phủ Trung Quốc tiếp tục gióng cao tiếng nói của mình và cơ hội cho chúng ta để điều tra quá hạn chế, cộng với sự sợ hãi của tình trạng bất ổn gia tăng, có một nguy cơ thực sự là các giám mục trẻ không xứng đáng sẽ được chấp thuận và sẽ trị vì trên ngôi giám mục trong nhiều thập niên. 

Tôi tự hỏi: tại sao không có thoả thuận nào đạt được nhằm bảo đảm chủ động của ĐGH trong các sự lựa chọn giám mục, trong khi ghi nhận ý kiến của chính quyền Trung Quốc? Tôi không biết các cuộc đàm phán giữa hai bên đang tiến hành như thế nào, bởi vì chúng tôi không nằm trong số các chuyên gia và chúng tôi không được thông báo về bất cứ điều gì. Nhưng trong số những chuyên gia theo dõi sát các sự kiện này, ấn tượng chung là phía của chúng ta luôn có một chiến lược thỏa hiệp, nếu không phải là vô hạn, thì ít nhất là trong thời điểm hiện tại.

Ở phía bên kia, tuy nhiên, hoàn toàn không có ý định thay đổi. Những người cộng sản Trung Quốc đã luôn luôn giữ vững các chính sách tôn giáo nhằm kiểm soát tuyệt đối. 

Tất thảy chúng ta đều biết rằng người Cộng sản đàn áp những kẻ yếu đuối, trong khi trước những người mạnh dạn, đôi khi họ cũng có thể thay đổi thái độ của họ. 

Đã có một bức thư của giáo hoàng gửi cho Giáo Hội tại Trung Quốc, đã hơn ba năm trước đây, một kiệt tác về sự cân bằng giữa tính trong sáng của sự thật và lòng khoan dung về một cuộc đối thoại [2]. Thật đáng tiếc tôi phải nói rằng, [nó] đã không được đón nhận một cách nghiêm túc bởi tất cả mọi người. 

Có những người được phép bày tỏ theo một cách khác (xem cái gọi là " ghi chú giải thích" đi kèm với các ấn phẩm của Bức Thư), có một số người đưa ra một diễn giải méo mó về Bức Thư (Cha Jeroom Heyndrickx, CICM) , trích dẫn các biểu thức nằm ngoài ngữ cảnh. 

Cách lý giải này nói rằng bây giờ tất cả mọi người từ các cộng đồng hầm trú nên đi ra và gia nhập cộng đồng công khai[= đăng ký với chính quyền]. Tuy nhiên, Đức Giáo Hoàng đã không nói điều đó. Ngài chỉ nói, có, tình trạng hầm trú không phải là điều bình thường, nhưng Ngài cũng giải thích rằng những người cảm thấy buộc phải gia nhập cộng đồng hầm trú thường làm như vậy để tránh việc phải tuân thủ cho một cơ cấu bất hợp pháp. 

Đức Thánh Cha nói, có, các cá nhân giám mục có thể suy xét liệu có nên chấp nhận hay tìm kiếm sự công nhận nào của chính quyền và đạt giải quyết vào cộng đồng công khai, nhưng không phải không có ngay từ đầu tiên cảnh báo họ về nguy cơ thật đáng tiếc là chính quyền "gần như luôn luôn" (điều này biến mất trong bản dịch Hoa ngữ do Bộ Truyền giáo các Dân tộc) sẽ đòi hỏi các điều kiện không thể chấp nhận được trong một lương tâm Công Giáo.

Điều sai lầm này  - nhưng đó lại là điều tất nhiên được thấy sự đồng thuận (trong Giáo Triều) của những người có trách nhiệm trực tiếp cho Giáo Hội tại Trung Quốc - đã tạo ra sự rối ren rất lớn lao và gây ra sự  chia rẽ đau thương ngay trong cộng đồng hầm trú. 

Các lý giải sai lầm này đã bị bác bỏ chỉ sau hai năm trong hai ghi chú trong Bản Trích Yếu (Compendium) cho lá thư của giáo hoàng, do Trung Tâm Nghiên Cứu Chúa Thánh Thần tại Hồng Kông và sự chấp thuận của ban thường vụ của Hội Đồng đặc ủy cho Giáo Hội tại Trung Quốc[3]. Những ghi chú này làm sáng tỏ  rằng các hòa giải được đề nghị của Đức Thánh Cha phải là một sự tiến gần trong tâm lòng giữa hai cộng đồng, nhưng một sự thống nhất (chẳng hạn như là một "sát nhập" hoặc "chuyển giao") là chưa thể thực hiện được do các chính sách không thay đổi của chính quyền. 

Nhưng ngay cả sau khi làm rõ điều này, công việc của một số người có bàn tay của mình chủ động trên tay lái đã dường như không thực hiện bất kỳ một thay đổi đường hướng nào, như có thể dễ dàng nhìn thấy trong những sự kiện bi thảm tại Baoding, trong động thái cuối cùng của tiến trình cài đặt Đức Cha đáng thương Francis An, một hành động mập mờ nghiêm trọng, nhưng qua đó chỉ có sự im lặng - từ ngày 07 Tháng Tám cho đến ngày hôm nay – đã làm cho cộng đồng của các tín hữu hoang mang, không chỉ là hầm trú, không chỉ ở Baoding, nhưng toàn cả Trung Quốc[4]

Các cộng đồng hầm trú đáng thương chắc chắn là phần [lớn nhất] của Giáo Hội chúng ta tại Trung Quốc và ngày nay cảm thấy bất mãn. Trong khi một số đông tìm thấy nhiều sự khích lệ trong Bức Thư của Đức Thánh Cha, thì mặt khác, nó lại bị coi là khó chịu, cồng kềnh, gây rối. Một điều rõ ràng là một số muốn thấy nó (CĐ hầm trú) biến mất, thấm nhập vào trong cộng đồng chính thức, nghĩa là, nằm dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của chính phủ (như vậy thì chắc sẽ có hòa bình?). 

Nhưng cộng đồng “công khai” nằm trong tình trạng như thế nào? Chúng ta biết rằng gần như tất cả các giám mục của cộng đồng này là hợp pháp hoặc đã được hợp pháp hoá. Tuy nhiên, sự kiểm soát nhục nhã và nghẹt thở của các cơ quan mà không phải là của Giáo Hội - Hiệp Hội Yêu Nước và Vụ Tôn Giáo – vẫn không thay đổi gì cả. 

Khi Đức Thánh Cha công nhận các giám mục mà không yêu cầu họ phải lập tức tháo lột khỏi cấu trúc bất hợp pháp, điều rõ ràng là với hy vọng họ sẽ làm được việc này từ bên trong để thoát khỏi cấu trúc đó, bởi vì cấu trúc này không phù hợp với bản chất của Giáo Hội . Nhưng qua sau nhiều năm chúng ta nhìn thấy gì? Một vài giám mục đã đạt đến hy vọng đó. Nhiều người đã cố gắng để sống còn, tuy nhiên, không phải là một số nhỏ trong số các giám mục, thật không may, đã không hành động theo cách thức phù hợp trong trạng thái hiệp thông với Đức Giáo Hoàng. Một số người đã mô tả họ như là những người  "hạnh phúc du hành trong toa chở hàng của giáo hội độc lập và bằng lòng để thỉnh thoảng reo lên: Vạn tuế Giáo Hoàng!". 

Chính quyền mà một thời đã sử dụng các đe dọa và trừng phạt đã cải thiện phương pháp đàn áp của họ: tiền (quà tặng, xe hơi, nhà ở) và danh dự (thành viên của Quốc hội Nhân dân, hoặc là cơ quan tư vấn chính trị ở các cấp độ khác nhau, với các cuộc họp, ăn trưa, ăn tối và tất cả những gì theo sau).

Còn chiến lược “của chúng ta” thì thế nào? Tôi sợ rằng thường khi nó chỉ là một lòng thương cảm sai lầm gây cho các anh em yếu đuối của chúng ta trượt xuống và ngày càng trở nên làm nô lệ nhiều hơn. Các nố vạ tuyệt thông được giải quyết đã bị lãng quên cách nhẹ nhàng xảo quyệt, về câu hỏi: "Chúng ta có thể đi dự lễ kỷ niệm dịp kim khánh 50 năm tấn phong bất hợp pháp đầu tiên chăng?" Quý ngài trả lời: "Hãy làm mọi cách để tránh không đi" (và tất nhiên hầu hết tất cả đã đi). 

Sau các cuộc thảo luận dài tại Hội Đồng đặc ủy cho Giáo Hội tại Trung Quốc, điều đã được quyết định là gửi một lệnh rõ ràng cho các giám mục không được tham dự cái gọi là dự định, "Đại Hội Đại biểu của Giáo Hội tại Trung Quốc", nhưng vẫn còn có những người nói, "chúng tôi hiểu những khó khăn phải gặp tới của các giám mục đáp ứng bằng cách không đi" . 

Đối mặt với những thông điệp mâu thuẫn như thế, chính quyền biết rằng họ có thể lờ đi bức thư của Đức Giáo Hoàng mà không bị trừng phạt. 

Kính thưa chư huynh đệ, tôi giả định là quý ngài nhận thức được những sự kiện gần đây: họ đang một lần nữa cố gắng tấn phong Giám mục bất cần tới sự chấp thuận của giáo hoàng [5]. Vì lý do này mà họ bắt giữ giám mục, gây áp lực lên những người khác: đây là những tội phạm nghiêm trọng đối với tự do tôn giáo và nhân phẩm cá nhân . Tôi trân trọng cảm kích phản ứng chính xác, kịp thời và trang trọng của  Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Trong số những điều khác, có lý do để nghi ngờ rằng những nỗ lực đó thậm chí không đến từ phía trên, nhưng từ những người trong những năm qua đã đạt được vị trí quyền lực và lợi ích và làm không muốn phải thay đổi đều gì cả. 

Chúng ta hãy cầu nguyện với Đức Mẹ, Đấng Phù Trợ các giáo hữu, để cặp mắt của các nhà lãnh đạo tối cao của đất nước chúng ta có thể được mở ra, để họ có thể ngăn chặn những ý đồ ác độc và đáng xấu hổ và nỗ lực để cho phép người dân của chúng tôi quyền tự do tôn giáo đầy đủ và đúng nghĩa vì lợi ích và danh dự của quê hương chúng tôi .

Chúng tôi cầu nguyện rằng các chiến lược “của chúng ta" có thể trở lại đường hướng đã vạch ra, để nó đi theo một cách trung thực các hướng chỉ đạo trong Bức Thư của Đức Thánh Cha. Hy vọng rằng đã chưa quá muộn cho một thay đổi tốt đẹp về hướng đi. 

Phạm Hương Sơn chuyển ngữ 

[1] The report was made on November 19 last, when the illicit ordination of Chengde had not yet occurred (see AsiaNews.it, 11/20/2010 

Chengde, eight bishops in communion with Pope participate in illicit ordination).

[2] See: dossier AsiaNews.it, Pope's letter to the Church in China

[3] See: AsiaNews.it, 23/05/2009 

Pope approves a compendium of his letter to Catholics in China

4] See: AsiaNews.it, 29/10/2009 CHINA - VATICAN 

In Hebei, underground bishop joins Chinese Patriotic Catholic Association and other related articles.

 [5] See. Note 1. 

 [1] Các tường trình được thực hiện ngày 19 tháng 11 vừa qua, khi vụ tấn phong bất hợp pháp tại Thừa Đức vẫn chưa xảy ra (xem AsiaNews.it, 2010/11/20 Thừa Đức, Tám giám mục hiệp thông với Đức Giáo Hoàng tham gia vụ tán phong bất hợp pháp). 

[2] Xem: hồ sơ lưu trữ  AsiaNews.it, Bức Thư của Đức Giáo Hoàng gửi cho Giáo Hội tại Trung Quốc 

[3] Xem: AsiaNews.it, 23/05/2009 Đức Giáo Hoàng chấp thuận một bản yếu lược cho Bức Thư gửi cho người Công giáo ở Trung Quốc 

[ 4] Xem: AsiaNews.it, 29/10/2009 Trung Quốc - VATICAN Tại Hà Bắc, giám mục hầm trú gia nhập Hiệp hội Yêu Nước Trung Quốc và các bài viết liên quan khác. 

[5] Xem. Chú thích 1. 

VỀ MỤC LỤC
THÁNH LỄ CẦU NGUYỆN THEO Ý CHỈ.

 
 

(Thánh lễ GREGORIA [1]  và Thánh lễ  ĐA Ý CHỈ)

Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, M.D.

 

 

Ngày 1 tháng 11 hàng năm là ngày lễ các Chư Thánh và cũng bắt đầu tháng các linh hồn. Lễ Halloween ở Hoa Kỳ và ở Việt Nam có Ngày Cô Hồn cũng  rơi vào tháng 11. Trẻ con ở Mỹ có tập tục mặc đồ hoá trang thành ma quỉ, thần chết hay những hình dáng kỳ quái như để hù dọa người ta và đến chừng 6-7 giờ tối khi màn trời đen bắt đầu buông phủ chụp xuống không gian thì trẻ em cũng lục đục đi đến từng nhà gõ cửa để xin kẹo bánh. Bề ngoài là đi xin bánh kẹo nhưng theo ý nghĩa của lễ Halloween là ma quỷ, cô hồn đi hù dọa người ta để kiếm thức ăn. Trick or treat. Cũng tương tự như lễ Cô Hồn ỏ Việt Nam vậy, người ta đem thức ăn ra ngoài ngõ, sau khi đã cúng các cô hồn thì để mặc cho trẻ em tha hồ nhào vô dành dật. Đông Tây hình như cũng có cái gì giống nhau về phương diện linh thiêng tinh quái gì đó? Phải chăng Giáo Hội cũng dựa vào những tập tục đó để dành tháng 11 hàng năm cầu nguyện đặc biệt cho các linh hồn nơi luyện tội, xin Chúa thương cúu giúp họ mau được lên thiên đàng hưởng nhan thánh Chúa cùng với các chư thánh.

 

Nhân đây, xin được trình bày về các thể lệ cử hành Thánh Lễ Theo Ý chỉThánh Lễ Cầu Hồn Suốt Cả Tháng mà hồi xưa ta hay gọi là lễ Gregoria dưới dạng những câu hỏi và trả lời cùng diễn giải của cha Edward McNamara hiện là giáo sư phụng vụ thuộc Viện đại học Regina Apostolorum. Để cho tiện, trong bài này xin được dùng tiếng Thánh Lễ Gregoria thay vì tiếng Thánh Lễ cầu hồn suốt cả tháng 30 ngày.

 

Dưới đây là 2 câu hỏi, một từ St. Petersburg, Florida và một từ Kaduna, Nigeria.

 

Câu hỏi 1: Chúng con thuộc về một cộng đồng tu sĩ. Chúng con là những linh mục sống trong một tu viện và tất cả đều cùng có công tác mục vụ bên ngoài nhà dòng. Người thì coi xứ đạo, người thì săn sóc sinh viên trong đại học và người thì là tuyên uý cho một viện dưỡng lão. Đôi khi chúng con cử hành thánh lễ trong nhà nguyện của nhà dòng chúng con, nhưng đa phần là ở ngoài. Đây là câu hỏi xin được cha giải đáp: Chúng con có thể cử hành Thánh lễ Gregoria được không? Hỏi cha giám tỉnh thì ngài trả lời là ĐƯỢC, bởi vì ý chỉ nào thì cũng vậy thôi. Đây luôn luôn là ý chỉ của đấng bề trên, ngay cả lễ được cử hành ở một nơi nào khác. Lại một thắc mắc nữa: Nếu lễ được cử hành ở một xứ đạo hay ở một nhà nguyện thì ý chỉ cũng luôn luôn đã có rồi, vậy thì ý chỉ của bề trên có thể bất kể nơi cử hành thánh lễ và bổng lễ đã nhận cũng như thánh lễ đã được thông báo ý chỉ trước rồi hay sao? (M.P., St Petersburg, Florida).

 

Câu hỏi 2: Trong xứ đạo của con ở Nigeria, cha xứ nhận nhiều ý chỉ trong một thánh lễ. Đầu thánh lễ, ngài đọc lớn tiếng những ý chỉ và mời gọi cộng đoàn cùng hiệp ý cầu nguyện cho những ý chỉ đó cũng như những ý chỉ riêng của chúng ta là các linh mục. Chúng con khi còn trong nhà trường đã được dạy rằng một linh mục chỉ được nhận một ý chỉ cho một thánh lễ mà thôi. Xin cha giáo giải thích dùm. (M.J.G., Kaduna, Nigeria).

 

 

TRẢ LỜI của cha giáo E.MacNamara

 

Trả lời dưới đây sẽ chung cho cả hai câu hỏi bởi vì cả hai câu đều có liên quan đến bổng lễ mà các linh mục đã nhận của giáo dân.

 

Thánh Lễ Gregoria đã được Thánh Bộ Phụng Tự hiệu chính và ban hành ngày 24 tháng 2 năm 1967. Thánh Lễ Gregoria là một chuỗi 30 thánh lễ được cử hành liên tục. Nó không bắt buộc một linh mục phải làm đủ 30 lễ, cũng không buộc phải cử hành tại cùng một bàn thờ. Vậy nếu một linh mục đã nhận làm lễ này thì phải thi hành đúng 30 lễ liên tiếp. Tuy nhiên nếu vì trở ngại mà không làm được trong một ngày nào đó thì phải nhờ một linh mục khác làm thế cho mình với cùng ý chỉ đó.

 

Nhưng nếu không thể kiếm được cha nào thay thế và thánh lễ bị gián đoạn do những trở ngại bất ngờ ngoài ý muốn không tính trước được chẳng hạn như thình lình bị bệnh hoặc một lý do chính đáng khác như phải làm lễ an táng hay lễ cưới thì, trong trường hợp này Giáo Hội có thể châm chế phán rằng ân sủng của việc cầu nguyện, mà cho đến lúc đó nhờ sự thực hành của Giáo Hội và lòng sốt sáng của tín hữu, vẫn có giá trị. Tuy nhiên linh mục vẫn buộc phải hoàn thành đầy đủ 30 thánh lễ càng sớm càng tốt, nhưng không cần thiết phải làm lại từ đầu.

 

Sau đây lại là một trường hợp cần phải để ý. Cử hành Thánh lễ Gregoria không thể lẫn lộn đem làm chung với những sinh hoạt bình thường khác của một xứ đạo mà trong đó ý chỉ của họ đã được thông báo rồi. Một linh mục dòng làm lễ theo ý chỉ của bề trên dòng mình chỉ khi nào không có ý chỉ nào khác đã được chỉ định trước ở xứ đạo mà mình coi sóc. Một linh mục làm mục vụ trong đại học hay công tác tông đồ nào khác không có những ý chỉ nhất định thì có thể làm lễ Gregoria được.

 

Cũng tương tự như vậy, nếu bề trên dòng muốn chỉ định cho một cha thuôc quyền làm lễ Gregoria thì ngài phải thông báo cho cha đó biết trước. Linh mục đó chỉ có thể chấp nhận nếu không có những bó buộc nào khác có thể làm cản trở việc dâng thánh lễ Gregoria. Linh mục muốn nhận lễ Gregoria cần phải được biết trước để có thể thu xếp hầu chu toàn 30 lễ và tìm người thay thế khi có lý do chính đáng không thể cử hành thánh lễ với ý chỉ đã định trong một ngày đặc biệt nào đó.

 

Theo luật định thì một linh mục chỉ được phép nhận mỗi ngày một bổng lễ mà thôi.

 

Luật Can 945 *1. Theo như Giáo Hội vẫn thực hành và được chấp nhận thì một linh mục làm chủ tế hay đồng tế đều được phép nhận bổng lễ cho thánh lễ đó với một ý chỉ đặc biệt.

 

                         “*2. Các linh mục cũng nên nhớ rằng họ phải dâng thánh lễ cầu theo ý chỉ của giáo dân, đặc biệt những người cần thiết nhưng họ lại nghèo không có tiền để biếu bổng lễ cho linh mục.

 

Luật Can.947: Bất cứ một hình thức buôn bán hoặc đổi trác nào liên quan tới thánh lễ đều bị ngăn cấm và loại bỏ hoàn toàn ra khỏi việc dâng cúng bổng lễ.

 

Luật Can.948-  Linh mục phải làm nhiều lễ khác nhau cho nhiều ý chỉ của những người mà họ chỉ dâng cúng có một bổng lễ mà thôi.(Nghĩa là linh mục phải làm mỗi thánh lễ một ý chỉ dù chỉ nhận được có một bổng lễ).

 

Luật Can.951 *1-Một linh mục làm nhiều lễ trong cùng một ngày có thể áp dụng cho mỗi thánh lễ một ý chỉ mà linh mục đã nhận bổng lễ. Nhưng theo luật, ngoại trừ ngày lễ Giáng Sinh, ông chỉ được giữ bổng lễ cho một thánh lễ mà thôi và phải chuyển những bổng lễ kia cho những ý chỉ đã được xếp đặt bởi đấng bản quyền trong khi ông vẫn được hưởng một số phần thưởng nào đó vì lý do ngoại cảnh khác.

 

                        “*2-Một linh mục đồng tế một lễ thứ 2 trong cùng một ngày thì không thể nhận bổng lễ do thánh lễ đó vì bất cứ lý do gì.

 

Luật Can.953- Không một ai được phép nhận nhiều bổng lễ cho mình mà chính mình không thể thi hành thoả mãn đầy đủ trong cả năm.

 

Luật Can.954- Nếu ở một số giáo xứ hoặc dòng tu mà số lễ được xin để cầu nguyện vượt quá sức có thể làm tại nơi đó thì có thể được phép làm ở những nơi khác nếu không có sự phản đối của người xin lễ”.

 

Tuy nhiên cũng có những văn kiện khác hiệu đính vấn đề này, sắc lệnh 1991 Mos lugiter (AAS 83 [1991] 436-446). Sắc lệnh này đã thay đổi điều khoản chặt chẽ của luật Can. 948 và cho phép xử dụng một số ý chỉ gọi là tích lũy dưới một vài điều kiện khìt khao như sau:

 

   -Người xin lễ phải được thông báo trước và họ phải đồng ý cho phối hợp các bổng lễ lại trong một thánh lễ đươc cử hành theo ý chỉ phối hợp.

 

   -Địa điểm và thời gian làm mỗi một lễ phải được thông báo và không được quá 2 lễ phối hợp như vây trong một tuần.

 

   -Linh mục chủ tế chỉ có thể được giữ một bổng lễ cho mình mà thôi và phải chuyển đi những bổng lễ khác của các ý chỉ khác cho những mục đích đã được chỉ định thường ngày theo như luật Can.951.

 

Tuy nhiên, ở một số nước có nhiều tín hữu và những xứ đạo lại có quá đông giáo dân, chúng ta thường thấy linh mục làm một thánh lễ cho nhiều ý chỉ. Cách thực hành này thường thấy xẩy ra ở một số nước thuộc Châu-Mỹ-Latin và có thể là trường hợp xẩy ra ở Nigeria như trong câu hỏi 2. (Ở Việt Nam cũng có những trường hợp tương tự như thế,.ghi chú của người viết).

 

Trong những trường hợp như vậy vì có quá nhiều giáo dân xin lễ theo ý chỉ, nên cha xứ không thể nào làm cho mỗi người một lễ được. Khi xin cha làm lễ cầu nguyện như vậy, người tín hữu không nghĩ rằng họ cần một lễ riêng cho cá nhân họ mà cứ phỏng định yên chí là sẽ có một lễ với nhiều ý chỉ. Ngoài ra, tình trạng kinh tế của người dân không cho phép họ biếu bổng lễ một cách thích đáng nên vấn đề chuyển ý chỉ của họ cho các linh mục khác thật sự khó có thể làm được. Thiết nghĩ các linh mục và cha xứ nên cắt nghĩa cho giáo dân hiểu rõ vấn đề này để tùy họ quyết định.

 

Để giải quyết vấn đề thực tế này, một số đề nghị mới đã được đưa ra. Thí dụ năm ngoái tổng giáo phận Mễ-Tây-Cơ đã biểu quyết một bổng lễ cố định cho một ý chỉ, nhưng  thánh lễ với nhiều ý chỉ thì bổng lễ hoàn toàn do tự nguyện tùy theo khả năng tài chánh của người xin lễ.

 

Sắc lệnh này của Đức Tổng ám chỉ rằng: mặc dù thánh lễ cộng đồng được làm hơn hai lần một tuần do số người xin lễ quá nhiều, nhưng các chỉ dẫn của luật và sắc lệnh Mos Lugiter vẫn phải được thi hành và tôn trọng với bất cứ bổng lễ nào vượt quá và trên mức tiêu chuẩn.

 

ĐÔI LỜI KẾT :

 

Người giáo dân Việt Nam có truyền thống mộ đạo, rất tin tưởng vào ân sủng do Thánh Lễ mang lại, nên rất nhiệt tình trong việc cây nhờ các linh mục dâng Thánh Lễ để cầu nguyện theo ý chỉ của mình. Ngoài ra tin tưởng rằng lời cầu nguyện của các linh mục sẽ đắc lực, được Chúa dễ nhận lời hơn là lời cầu của chính mình. Hy vọng sau khi đọc lời giải đáp của cha giáo E.McNamara, chúng ta / giáo dân hiểu được phần nào ý nghĩa và ân sủng mình có được do bí tích Thánh Lễ mình xin các linh mục cử hành để cầu nguyện cho mình và thân nhân còn sống cũng như đã qua đời.

 

Chú Thích: Quí vị nếu ai có câu hỏi muốn hỏi cha E. McNamara thì có thể gửi điện thư cho cha về địa chỉ: liturgy@zenit.org. Xin đề tên viết tắt (initials), thành phố và tiểu bang cùng quốc gia nơi mình cư ngụ Đừng quên đề chữ Liturgy vào chỗ đề mục(Subjet).

  

Ngày Lễ Các Thánh và ngày đầu Tháng Lễ Các Linh Hồn

Fleming Island, Florida 1-11-2010

NTC

 

 


Thánh lễ Gregoria là một loạt 30 lễ được cử hành liên tục trong suốt cả tháng để cầu nguyện cho một người đã qua đời. Đây là một tập tục xuất phát từ một mạc khải riêng tư mà Đức Giáo Hoàng Gregoria I đã nhận được.

VỀ MỤC LỤC
AIKIDO TRONG ĐỜI SỐNG NỘI TÂM VÀ MỤC VỤ TƯ VẤN
 

Qua bài viết này, con xin  tri ân Giáo sư võ sư Bùi Thế Cần, Giáo sư võ sư Nguyễn Tăng Vinh, thầy Hiệp, thầy Tiến, thầy Phong, thầy Hậu, thầy Hoàng; và cũng hết lòng cám ơn quí bạn đồng môn của hai CLB Aikido Phú Nhuận và Đạo Đường Đa Kao.   

Vào tháng giêng năm 2010, trong dịp đi thăm bệnh nhân hằng tuần tại bệnh viện Columbia, thành phố West Palm Beach, Florida, tôi gặp một bệnh nhân khoảng chừng 70 tuổi. Cũng như vài bệnh nhân tôi đã gặp, ông đã đặt câu hỏi về sự dữ, sự ác, sự bất công trong thế giới loài người. Dù ông tỏ lộ niềm vui khi gặp một chủng sinh công giáo, nhưng đồng thời ông cũng tỏ thái độ thách thức đối với tôi, người mà theo ông có thể biết về Kinh Thánh, thần học.  Ông hỏi như thách thức: “Anh hãy cho tôi biết, tại sao Chúa lại để cho cháu gái tôi, mới 9 tuổi đã phải mắc bệnh ung thư? Tại sao Chúa không để cho tôi mắc bệnh ung thư thay cho nó? Nếu có Chúa, tại sao Ngài lại để như vậy? Sao Ngài lại để cho sự ác hoành hành trong thế giới con người? Anh hãy cho tôi biết đi để tôi tin vào Chúa! Tôi có làm gì gian ác đâu mà sao Ngài lại trừng phạt tôi? Cháu tôi chỉ là đứa bé vô tội, sao Chúa lại trừng phạt nó? Anh hãy nói đi, hãy trả lời đi để tôi tin vào Chúa”

Tôi nhìn người đàn ông với ánh mắt thông cảm, yêu thương. Tiến lại gần hơn, nắm  tay ông, nhìn ông, cúi gần xuống, tôi nói. “Thưa ông, cho tôi xin lỗi. Tôi không biết.”

Nghe xong câu trả lời, sắc mặt ông đột nhiên biến đổi; từ thái độ thách thức, tức giận, oán than, qua thái độ chấp nhận và chia sẻ. Với giọng nhỏ nhẹ, ông đáp, “Anh nói đúng, tôi đồng ý với anh. Anh không biết.” Tiếp theo, ông không còn tỏ thái độ “thách thức” tôi nữa; ông đón nhận tôi, ông chấp nhận sự hiện diện của tôi bằng cách bộc bạch những khó khăn trong đời sống, trong gia đình, và trong cuộc đời ông. Ông cũng dần dần nhận ra Chúa trong đời ông, trong hoàn cảnh mà cháu ông gặp phải. Tóm lại, ông đã mở lòng để thấy sự hiện diện của Chúa trong những hoàn cảnh đau thương trong cuộc đời ông.

Ngay khi mới gặp bệnh nhân này, tôi như bị “tấn công” bằng những đòn hiểm độc. Ông “ra chiêu” đánh thẳng vào “Thiên Chúa của tôi.” Ông đánh thẳng vào Truyền thống, vào Giáo hội,  vào tất cả những nền tảng mà tôi tin, tôi sống, và tôi theo đuổi bảo vệ. Máu anh hùng, máu hiểu biết trổi dậy trong tôi ngay lập tức. Cái cám dỗ muốn dùng kiến thức Kinh Thánh, thần học để lý giải và để giúp cho ông hiểu đã trổi dậy trong tôi. Tôi muốn dùng kinh nghiệm đau khổ cá nhân để nói về sự quan phòng của Thiên Chúa. Tôi muốn dùng hình ảnh khổ nạn của Chúa Giêsu để khuyên ông vâng phục như Ngài. Tôi muốn chia sẻ với ông những tư tưởng của các thánh, của Mẹ Têrêsa Calcultta về giá trị của đau khổ,… Nhưng không, tôi dừng ở đó, tôi im lặng và nhìn ông, nắm tay ông (điều mà không phải ai ai cũng làm khi gặp bệnh nhân, nhất là người ấy không phải là người thân của mình). Tôi nhớ đến kỹ thuật Aikido, tôi áp dụng nó, và kết quả dường như giúp ông phần nào. 

* * *

Aikido (合気道) – Hiệp Khí Đạo là môn võ thuật được tổ sư Morihei Ueshiba (1883 –1969) sáng chế. Nguyên tắc của Aikido là hòa hợp, là lấy nhu thắng cương, là lấy yếu chế ngự mạnh. Theo tiếng Anh, Aikido có nghĩa là “the way of harmonious spirit,” tạm dịch,  “phương cách hòa hợp tinh thần.” Aikido không phải là môn võ  tấn công, thắng hay bại, nhưng là tự vệ (self-defense) và hòa hợp. Vì thế, để tập luyện cần phải có hai người để cùng giúp nhau mỗi ngày mỗi cảm nghiệm thêm và cùng thăng tiến cả về thể chất lẫn tinh thần. Trong một dịp tĩnh tâm tại chủng viện St. Mary, Philadelphia, vào năm 2009, tôi tìm gặp bốn nguyên tắc trong Aikido mà theo tôi, bốn nguyên tắc này có thể được dùng để áp dụng cho đời sống tinh thần, đặc biệt cho đời sống nội tâm, cũng như trong mục vụ. Vì lẽ đó, tôi chia sẻ bốn nguyên tắc này, để dù bạn là người không hề biết Aikido là gì, nhưng nếu bạn nghiền ngẫm bốn nguyên tắc này, phần nào bạn có thể tìm thấy vài  ích lợi nho nhỏ trong đời sống nội tâm và mục vụ[1].

1.   Observe – Quan sát: Khi hai đối thủ gặp nhau, điều quan trọng trước tiên phải là quan sát. Quan sát xem thử đổi thủ “ra chiêu” gì. Aikido không có chiêu thức gì cả, nhưng chỉ chờ đối thủ ra chiêu và dùng sức mạnh của đối thủ để chế ngự đối thủ. Trong đời sống nội tâm cũng vậy, có những hoàn cảnh “trái ý” xảy đến, ví dụ  như những lúc ta cô đơn, buồn phiền, nghịch cảnh. Điều ta cần phải làm là dừng lại để “quan sát” chúng. Thông thường ta ít khi dừng lại để quan sát, mà ta thường có phản ứng (react) ngay. Ví dụ ai nói điều gì động đến ta, ta dễ dàng “nói lại” (talk back) ngay; ta dễ dàng trả đũa trong những hoàn cảnh trái ý ngay. Theo nguyên tắc thứ nhất này, thay vì phản ứng, ta có thể dừng lại để “quan sát” sự kiện làm ta khó chịu hay bực mình. Ta có thể dừng lại để “nhìn” nó, và để chỉ nhận ra nó mà thôi.

Trong trường hợp trên, tôi đã dừng lại để quan sát thái độ “ra chiêu” của ông lão và nhận thấy rằng, thực ra nơi ông cũng có những đau khổ, lo sợ của một kiếp người. Những câu hỏi “tấn công” tôi liên tục biểu hiện một thái độ lo sợ cho sự  an toàn, lo sợ cho tương lai; ông dường như mất niềm tin vào Thiên Chúa. Nhờ quan sát tôi nhận ra rằng, điều ông đang cần là tìm một ai đó để chia sẻ, để lắng nghe, chứ chưa chắc ông đã oán giận Thiên Chúa thực sự.

2.   Receive – Đón nhận: Mức độ thuần nhuyễn của người tập luyện Aikido là ở chỗ biết tiếp nhận/cảm nhận  lực tấn công của đối phương. Aikido không dùng sức để chống lại, để đối kháng, mà trái lại, áp dụng nghệ thuật tiếp nhận/cảm nhận sức mạnh của đối phương và dùng chính sức mạnh của họ đó để chuyển hướng họ. Trong đời sống nội tâm cũng thế. Những cuộc tấn công như vũ bão của thế gian, xác thịt là có thật. Nếu ta chạy trốn chúng, thì ta sẽ chạy đến bao giờ? Làm sao ta chạy trốn khỏi thân xác, khí huyết ta được? Làm sao ta có thể chạy trốn khỏi thế giới này được? Danh-Lợi-Thú có đó, hiện diện đó trong thế giới và trong mỗi con người. Hãy quan sát chúng và đón nhận chúng như chúng là. Không suy nghĩ gì thêm hơn, không tưởng tượng gì thêm hơn; hãy nhìn và chấp nhận sự hiện diện của chúng như chúng là.

Trong hoàn cảnh trên, tôi đón nhận người bệnh nhân này. Tôi để ông “tấn công” tôi và tôi tiếp nhận những “chiêu thức” của ông. Tôi không phản ứng ngay, nhưng cứ để ông “ra đòn.” Khi người ta uẩn ức, buồn phiền, lo lắng, người ta chỉ muốn tìm một ai đó để trút “bầu tâm sự.” Đó là lúc ta tiếp nhận họ, tiếp nhận “chiêu thức” của họ. Làm như vậy không có nghĩa ta bị lép vế, bị thua cuộc. Nhưng thực ra  ta đang phần nào giúp họ thoát ra tình cảnh buồn phiền, uẩn ức. Ta tỏ bày tình yêu và sự quan tâm đến họ. Họ cần người có khả năng lắng nghe và cảm thông với tất cả trái tim và khối óc.

3. Relax – Thả lỏng: Trên sàn đấu võ, ta trở thành mục tiêu để đối phương tấn công. Mục tiêu ấy có thể là tay, chân, hoặc thân thể của ta. Khi hai kình địch gồng tay nhau, bỗng một bên thả lỏng, người kia sẽ hớ đà. Khi chiêu thức của đối phương vừa “chạm” đến ta, ta thả lỏng, không chống cự, nhưng chỉ xoay người làm cho đối phương bị hớ đà vì do ta đã thả lỏng hoặc né tránh. Đánh vào mục tiêu thì có giá trị, chứ đánh vào khoảng không thì vô nghĩa, chỉ mất thăng bằng, hớ đà và té ngã. Đời sống nội tâm của ta phần nào cũng tương tự như vậy. Khi bị tấn công từ những cơn cám dỗ, bị hiểu lầm, bị lên án, gặp nghịch cảnh,… Đừng “gồng mình” để tự biến mình thành mục tiêu cho “đối phương” tấn công. Chết ngay, ta không đủ sức chống lại chúng đâu! Đừng nghĩ là mình có đủ sức mạnh để chống trả, để quật ngã chúng. Hãy di chuyển mục tiêu làm chúng bị hớ và té ngã. Hãy thả lỏng và chuyển mục tiêu “ta, tôi” qua Bí tích Thánh Thể. Hãy thả lỏng và để Chúa trở nên mục tiêu của chúng. Chúng làm được gì với sức mạnh của Thánh Thể?!

Tại bệnh viện, tôi đã thả lỏng vì hiểu rằng, những “đòn” tấn công của bệnh nhân đó thực sự đâu có nhắm vào tôi. Nếu một chủng sinh khác có mặt hôm đó thì bệnh nhân ấy cũng sẽ tuôn ra những lời tương tự như vậy. Hóa ra, ông đâu ghét gì tôi mà “chửi” hay “thách thức” tôi. Nếu tôi phản ứng bằng cách “giảng dạy, lên lớp” ông thì tôi mắc bẫy, tôi bị cuốn vào một cuộc chiến hơn thua giữa tôi với ông. Ông sẽ thêm giận, tôi cũng thêm bực mình. Và có thể tồi tệ hơn là ông sẽ gọi bảo vệ, y tá để “tống” tôi ra khỏi phòng của ông. Những bất bình, nghịch cảnh là có thật trong đời sống, nhưng thực ra chúng đâu hiện diện mãi mãi trong đời ta được. Đừng quá để ý đến chúng, đừng để ta trở thành mục tiêu cho chúng. Hãy thả lỏng, đừng nắm giữ chúng lại – chúng đến rồi đi như nước - chảy - mây – trôi.

4. Let go – Buông thả (té ngã): Khi ta (mục tiêu) đã xoay chuyển hướng, thì cú đòn của đối phương nhắm vào ta đã bị chuyển vào khoảng không, vô giá trị. Từ thế yếu, ta chuyển qua thế mạnh; từ kẻ bị tấn công, ta làm chủ thế trận. Như thế, chỉ cần một động tác nhỏ là ta có thể quật ngã được đối phương. Tương tự như thế trong đời sống nội tâm của ta.  Những khúc mắc, điểm đen, ma quỉ khi không còn nhận ta làm mục tiêu cho chúng nữa, mà mục tiêu chính là Bí tích Thánh Thể, chúng sẽ tháo lui, té ngã, bỏ chạy.

Trong căn phòng bệnh viện ấy, với sự quan sát, tiếp nhận, và thả lỏng của tôi, bệnh nhân ấy đã bộc lộ (buông thả) tất cả những nỗi lo âu, sợ hãi của một kiếp người. Thái độ muốn thách thức, hơn thua không còn nữa, mà nhường lại cho sự hòa hợp, cảm thông giữa hai con người với nhau. Nỗi đau của ông cũng là nỗi đau của tôi; và sự giới hạn của tôi cũng là sự giới hạn của ông.  Ông và tôi gặp nhau không phải trong sự thỏa mãn chiến thắng của mỗi người, nhưng trong sự nhận biết giới hạn của nhau. Ông và tôi cũng hiểu rằng, thay vì nặn óc dùng trí khôn để lý giải về điều ác, về bất công, thì chúng ta hãy cùng cảm thông chia sẻ với nhau những vấn nạn ấy.

* * *

Thưa bạn, Chúa Giêsu cũng đã trải qua cơn cám dỗ về quyền lực, về hiểu biết trong sa mạc và trên thập giá. “Nếu ông là con Thiên Chúa…” (Mt 4:3; 27:40), “ông hãy biến đá thành bánh (Mt 4:3; Lk 4:3), ông hãy xuống khỏi thập giá” (Mt 27:40). Chúa Giêsu đã không mắc vào bẫy của ma quỉ, của bóng tối, nhưng Ngài quan sát, tiếp nhận và phó thác cho Thiên Chúa Cha định đoạt số mệnh của mình thay vì giải đáp bằng lý luận theo kiểu con người. Chắc chắn một điều là ai ai trong chúng ta cũng gặp nhiều khúc mắc, vấn nạn trong đời sống nội tâm và mục vụ mà không phải lúc nào ta cũng có thể tìm câu trả lời, hay đáp ứng cho người khác được. Thực ra, Chúa đâu kêu gọi ta để ta “sửa” hết những vấn nạn ấy đâu, nhưng quan trọng hơn hết chính là sự  hiện diện, và sự lắng nghe của ta để khơi dậy niềm hy vọng bằng tình yêu và cảm thông cho tha nhân mà thôi.

Ơn gọi là một hành trình của đức tin – tiếp tục ra đi, tiếp tục khám phá, tiếp tục gặp thử thách vấn nạn, chứ không phải là hành trình đi tìm đáp số như một bài toán. Hôm nay tôi đang chia sẻ với bạn về những cảm nghiệm về ơn gọi, về hành trình đức tin, nhưng có lẽ chỉ ngày mai thôi, tôi mệt mõi, tôi lo âu, tôi ngã quị, nhưng với ơn Chúa tôi sẽ tiếp tục đáp trả và tiến tới phía trước. Đáp số của ơn gọi không thể chỉ tìm thấy ở những ngày tiến chức, khấn hứa, bằng cấp, hay tổ chức thành công những lễ hội, nhưng đáp số ấy cũng còn được tìm thấy trong từng ngày sống âm thầm một mình, bị hiểu lầm, bị cô lập, và cả vào lúc tuổi già bóng xế, mõi mệt. Nói như thánh Phaolô như trong cuộc chạy đua về đích (cf. Cor 9:24), mỗi bước chạy của chúng ta đều là đáp số cho ơn gọi. Khán giả bên vệ đường vỗ tay hay độc hành trên lộ trình, từng bước chân của ta tiến tới là mỗi lời giải đáp và cũng là mời gọi tiến lên trong hành trình ơn gọi. Bao lâu ta còn chạy, ta còn hy vọng tìm thấy đáp số và còn hy vọng về đến đích. Đừng để những tiếng gọi “lao xao” làm chệch hướng của ta, nhưng cứ hãy: observe, receive, relax, và let go.

 

Br. Huynhquảng

www. brhuynhquang.org

email: brhq@brhuynhquang.org

Video minh họa tại: http://brhuynhquang.org/?p=1347
 


[1] Bốn nguyên tắc này chỉ là quan điểm cá nhân của tác giả bài viết, không phải là nguyên tắc chung của Aikido.

 
VỀ MỤC LỤC
TRONG PHÚC ÂM CÓ CON NGƯỜI
 

NGUYỄN HỌC TẬP 

- " Phúc Âm mạc khải mầu nhiệm Thiên Chúa, tình yêu của Ngài cho con người, và "mạc khải hoàn hảo chính con người cho con người" (GS, 22). 

Mạc khải Ki Tô giáo là những mạc khải được thể hiện trong lịch sử nhân loại. Nói với con người bằng ngôn ngữ cập nhật dễ  hiểu của họ: do đó, Giáo Hội không thể nào không quan tâm đến hoàn cảnh xã hội, văn hóa và điều kiện sống của con người trong thực tại: 

   - " Vui mừng va hy vọng, buồn phiền và lo âu của con người, Giáo Hội cảm nhận thực sự và mật thiết liên đới với nhân loại và dòng lịch sử của họ" ( GS, 1 ). 

Giáo Hội chia xẻ những vấn đề của con người " bằng chiếu rọi ánh sáng Phúc Âm để giải thoát con người và canh tân xã hội" ( GS, 3 ). 

Với ánh sáng Phúc Âm, chúng ta biết được con người cao cả hơn các tạo vật,

   - được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa ( Gn 1, 27),

   - từ hàng thọ tạo được nhắc lên địa vị làm con Thiên Chúa( Mt 6,9 )

   - và được Chúa cho tham dự vào bản tính Thiên Chúa của Ngài, vào đời sống nội tại mà Ngài đang sống ( 2 Pt 1,4). 

Con người với địa vị cao cả đó, nhưng nhìn vào thực tại là con người bị khổ hạnh, băng hoại  do tội lỗi và do các điều kiện sống của mình.

Do đó ánh sáng Phúc Âm không phải chỉ mạc khải cho con người Thiên Chúa và địa vị cao cả lý tưởng của mình, mà còn là ánh sáng và sức mạnh trợ lực con người để giải thoát con người hoàn hảo của mình, như khuôn mẫu của Thiên Chúa khi Người tạo dựng nên họ: 

   - " Phúc Âm là thông điệp của tự do và sức mạnh để giải thoát. Trước tiên và chính yếu, Phúc Âm là thông điệp và sức mạnh giải thoát khỏi nô lệ, căn cội do tội lỗi. Và từ đó là sự giải thoát toàn vẹn con người. Điều đó có nghĩa là Phúc Âm giải phóng con người khỏi ách nô lệ của văn hóa, kinh tế, xã hội và chính trị. Tất cả những căn cội nô lệ đó, chung quy đều phát xuất từ tội lỗi (và hậu quả của tội lỗi là ý thức hệ băng hoại về con người), tạo nên muôn vàn nghịch cảnh ngăn cản con người có được cuộc sống xứng đáng với địa vị của mình" (Congregazione per la Dottrina della Fede, Istruzione Libertatis Nuntius, 06.08.1984, n. 866 ).   

Muốn giải thoát con người và tạo cho con người một cuộc sống xứng đáng với địa vị của mình, Phúc Âm phải là sứ điệp tự do, sức mạnh giải thoát và định hướng lý tưởng để thiết lập lại trật tự trần thế, bị băng hoại bởi tội lỗi và các ý thức hệ lệch lạc về con người và về xã hội: 

   - " Sứ mạng cứu rỗi của Chúa Ki Tô, một đàng có cùng đích giải thoát con người, nhưng đàng khác cũng nhằm thiết lập lại tất cả trật tự trần thế. Do đó sứ mạng của Giáo Hội không những nhằm đem lại  Tin Mừng và Ơn Cứu Độ của Chúa Ki tô cho nhân loại, mà còn nhằm tác động và hoàn hảo hóa lãnh vực trần thế bằng tinh thần Phúc Âm" (Apostolicam Actuositatem, 5). 

Và đây là cách hành xử của Giáo Hội: 

- a) Can thiệp bằng áng sáng chân lý.

Can thiệp bằng ánh sáng luân lý để hướng dẫn các lãnh vực trần thế, cũng như để phán đoán các áp dụng thiết thực trong nhản quang phục vụ con người:

     " Giáo Hội có quyền và có bổn phận không những bảo vệ các nguyên tắc liên quan đến lãnh vực luân lý và tôn giáo, mà còn có quyền và bổn phận can thiệp vào lãnh vực trần thế, mỗi khi cần phán đoán việc áp dụng các nguyên tắc trên vào các trường hợp thiết thực" (Gioan XXIII, Mater et Magistra, 239). 

- b) Chiếu soi định hướng các đồ án.

Bằng ánh sáng luân lý, chiếu soi để định hướng các đồ án lãnh vực  trần thế:

   " Không có bất cứ trường hợp nào trong đó Giáo Hội có thể từ chối bổn phận của mình, có uy tính can thiệp, không phải đối với các vấn đề kỹ thuật chuyên môn, mà Giáo Hội không có phương tiện thích hợp để can thiệp, nhưng can thiệp vào tất cả những gì có liên quan đến lãnh vực luân lý " (Pio XI, Quadragesimo Anno, 45 ). 

- c) Trình bày nhãn quang toàn diện về con người và xã hội.

       Trình bày nhãn quang toàn diện về con người và xã hội:

   - " Giáo Hội không ngần ngại trình bày với tư cách là tiếng nói kinh nghiệm về con người, có khả năng cung hiến cho nhân loại điều gì là sở hữu cá biệt của mình: nhãn quang toàn diện về con người và về xã hội" ( Phaolồ VI, Populorum Progressio, 13). 

Như vậy Giáo Hội có "đề nghị xã hội " của minh để cống hiến cho cộng đồng nhân loại, "đề nghị dưới ánh sáng Phúc Âm" , để đưa ra những đường lối chính yếu cho xã hội con người (nguyên tắc, tiêu chuẩn để phán đoán và định hướng để tổ chức xã hội nhân loại).

Và tiếp theo những "đề nghị xã hội" có tính cách lý tưởng tổng quát đó, bất cứ ai thành tâm thiện chí, cũng có thể khai triển thành những đồ án và chương trình hành động.  

- d) Bôn phận thực hành của người tín hữu giáo dân.

Bổn phận thực hành của người giáo dân:

   - " Đồ án tổ chức xã hội của Giáo Hội, một "Nền Văn Minh Tình Thương", được đặt nền tảng thần học trên Phúc Âm về con người, nhưng rồi phải được diển ra bằng những đồ án hành động can đảm để phóng thích hàng triệu người khỏi các mối áp bức xã hội, kinh tế vá chính trị" (Congregazione per Dottrina della Fede, Libertatis Conscientia, 81). 

  - "Đồ án tổ chức xã hội được Giáo Hội đề ra, không phải chỉ giới hạn trong việc nêu ra các nguyên tắc hay những lời khích lệ có tính cách tổng quát cho việc dấn thân xã hội. Huấn dụ xã hội của Giáo Hội cốt ý nhằm định hướng đi đến hành động" (Congregazione per Dottina della Fede, Libertatis Conscientia, 72). 

  - "Người tín hữu giáo dân không thể nào dững dưng trước việc tham gia vào chính trị ( ?). Các lời tố cáo cho rằng chính trị là môi trường tạo địa vị, chức tước, tôn thờ quyền lực, chú tâm cho ích kỷ bè phái, hối lộ (?), cũng như những ý kiến cho rằng (?) chính trị chắc chắn là môi trường nguy hiểm cho luân lý, không đưa đến một biện luận mảy mai nào cũng như đưa đến một hoài nghi nào cho việc người tín hữu giáo dân được thoái thác trong việc đảm nhận trách vụ công cộng" (Gioan Phaolồ II, Christi Fideles Laici, 42 ). 

   - "Sự dấn thân vào hoạt động xã hội và chính trị của người tín  hữu giáo dân bắt nguồn từ đức tin, bởi đức tin soi sáng toàn vẹn con người và đời sống con người. Do đó, người giáo dân sống trung thực với đức tin của mình, dĩ nhiên phải thể hiện sự trung thực đó torng việc dấn thân vào lãnh vực công cộng, vào việc tham dự các cơ chế chính trị và xã hội trong đời sống thường nhật của mình để Phúc Âm hóa các cơ chế và hoạt động trần thế" (Sinodo 1987, Vocazione e Missione dei Laici nella Chiesa e nel Mondo, Appello Finale, 10). 

Huấn dụ xã hội của Giáo Hội và vai trò của người tín hữu giáo dân trong cuộc sống xã hội hằng ngày là vậy.

Đối với người tín hữu Chúa Ki Tô, trần gian không phải là tù ngục,

   - " Dương gian nầy là chốn lưu đày, đoàn con như khách lữ hành... ", cần phải vượt thoát, trốn, " thoát tục ", mà là môi trường sống, "không gian thần học " (espace théologique ) được Thiên Chúa là Cha tốt lành dựng nên, tiên liệu "tốt đẹp"  trước khi dựng nên con người, trước khi con cái mình mở mắt chào đời:

   - " Thiên Chúa thấy rằng đó là điều tốt đẹp " (Gen 1, 3.8.12.18.21.25).

Và rồi Thiên Chúa là Cha tốt lành giao thế giới mà Người dựng nên tốt đẹp cho chúng ta  "trồng trọt và trông coi"  (Gen 2, 15).

Người tín hữu Chúa Ki Tô nói chung và người tín hữu giáo dân nói riêng, phải chăm lo, ra sức gắng công, "trồng trọt và trông coi " chống lại nghịch cảnh, chống lại sự dữ và  làm cho thế giới càng sinh hoa kết quả, trở nên tốt đẹp hơn và thánh hoá môi trường sống, bằng đời sống và bằng việc làm của mình,  để tất cả mọi người biết được Thiên Chúa là Cha và chúng ta là anh em với nhau, cùng nhau nhận biết, cảm tạ và tôn vinh Chúa:

   - " Lạy Cha chúng con ở trên trời ..." ( Mt 6, 9).

VỀ MỤC LỤC
Lời cầu nguyện của linh mục

 

LINH MỤC GIÁO PHẬN SỐNG TU ĐỨC TOÀN DIỆN

TRONG BỐI CẢNH THỰC TẾ CỦA GIÁO HỘI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM HÔM NAY

Lm. Micae-Phaolô Trần Minh Huy pss

CHƯƠNG BA 

ỨNG SINH LINH MỤC GIÁO PHẬN

tiếp theo

A.4 Lời cầu nguyện của linh mục

Lời cầu nguyện của linh mục mang cả hai chiều kích hoạt động và chiêm niệm, nên phải bảo đảm hài hòa giữa hai chiều kích cầu nguyện độc hữu và cầu nguyện liên lỉ.

  • Thánh Vinhsơn đệ Phaolô nói về sự hài hòa này như sau: “Phải qúy việc phục vụ người nghèo hơn hết và phải thực hiện ngay không được trì hoãn. Nếu trong giờ kinh nguyện mà phải mang thuốc hay sự giúp đỡ nào đến cho một người nghèo khổ, thì hãy yên tâm đi đến với họ, dâng việc phải làm đó cho Chúa như đang nguyện kinh. Đừng bối rối tâm hồn, đừng xao xuyến lương tâm vì đã phục vụ người nghèo mà bỏ buổi kinh nguyện, vì không phải là bỏ Chúa khi vì Ngài mà phải đi xa Ngài, nghiã là phải bỏ một công việc của Thiên Chúa để thực hiện một việc ngang hàng như vậy. Chính vì thế, khi anh em bỏ kinh nguyện để giúp đỡ một người nghèo nào, anh em hãy nhớ đó là việc phục vụ Thiên Chúa[1]

·        Lời cầu nguyện của linh mục, cộng đồng và cá nhân, cũng phải mang chiều kích chuyển cầu phổ quát cho mọi người, cho Giáo Hội, cho thế giới, và cho toàn thể tạo thành.

·        Lời cầu nguyện đó phải bao gồm thờ phượng, ca ngợi, tuân phục, cảm tạ, đền tạ Thiên Chúa, chứ không phải chỉ xin ơn. Và tạ ơn cũng không chỉ dừng lại những ơn đã được, mà còn những ơn không được, hay chưa được, vì lòng yêu thương khôn ngoan của Chúa luôn chọn lựa những gì tốt đẹp và hữu ích nhất cho sự sống hạnh phúc đời đời mà ban cho con cái, nhất là chính Chúa Thánh Thần.

A.5 Những gương mẫu cầu nguyện

Chúa Giêsu là gương mẫu cầu nguyện tuyệt vời của linh mục: Cầu nguyện độc hữu và cầu nguyện liên lỉ. Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha, lúc ở một mình nơi hoang vắng hay khi dạy dỗ ở giữa đám đông dân chúng, giữa lúc ban ngày hay suốt đêm khuya, sáng sớm tinh sương hay muộn màng lúc đêm về, lúc vui mừng vì phép lạ phát huy hiệu quả hay khi đau khổ nơi vườn Giêtsêmani, hoặc bị bỏ rơi trên thập giá trong giờ tử nạn.  

Sau Chúa Kitô, Mẹ Maria là mẫu gương tuyệt hảo về đời sống cầu nguyện của mọi tín hữu. Mẹ đã ca ngợi những kỳ công của Chúa, đón nhận mầu nhiệm cứu độ và giữ vững đức tin sống động, cả dưới chân Thập Giá. Mẹ hằng cầu bầu cho các tín hữu và trở thành gương mẫu đặc biệt cho những người sống đời thánh hiến, nhất là trong việc lắng nghe, gìn giữ Lời Chúa và suy niệm trong lòng khi chưa hiểu, và khi hiểu ra thì mau mắn thực hiện.  

Vì thế, ta phải thiết lập một kỷ luật cầu nguyện cho mình và nắm giữ kỷ luật ấy trong suốt cuộc đời mình, nhất là khi ra làm mục vụ ở giáo xứ, vì cuộc sống linh mục vốn năng liều mình bị phân mảnh do bao nhiêu phận vụ phải gánh vác. Chính đời sống cầu nguyện đã làm cho đời sống ơn gọi được sống động trong thời gian đào tạo ở chủng viện cũng sẽ gìn giữ đời sống và sứ vụ ơn gọi của chúng ta được kiên vững lúc sống giữa lòng đời đổi thay. Hầu hết các linh mục rời bỏ sứ vụ là vì đã sao lãng hay bỏ bê không cầu nguyện nữa. Mẹ thánh Têrêsa Avila nói rõ: “Người bỏ cầu nguyện không cần ma quỉ đẩy xuống hỏa ngục, mà chính người ấy sẽ tự đưa mình đến đó.

Trong bài giảng lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của chân phước Têrêsa Calcutta, ngày 26/08/2010 tại Rôma, Đức Hồng y Comastri kể lại cuộc gặp gỡ cá nhân với vị sáng lập Dòng Thừa sai Bác ái khi ngài còn là một linh mục trẻ. Khi ngài gặp Mẹ, Mẹ hỏi ngài một câu khiến ngài hơi bối rối: “Mỗi ngày cha cầu nguyện mấy tiếng?” Cha Comastri trả lời mỗi ngày đều dâng lễ, đọc các giờ kinh và lần chuỗi Mân Côi. Đáp lại, Mẹ nói: “Như thế không đủ! Tình yêu không thể sống tối thiểu”, và Mẹ yêu cầu ngài hứa mỗi ngày sẽ chầu Chúa nửa giờ. Cha Comastri đáp: “Con hứa”. “Và hôm nay – ĐHY nói– tôi có thể nói rằng điều đó đã cứu vãn chức linh mục của tôi.[2]

Việc cầu nguyện phải được thực hiện tương tác với sứ vụ và đời sống linh mục: cộng đoàn, phụng vụ, và cá nhân phù hợp với những con người, nơi chốn, thời gian và thực hành khác nhau. Người bị chán nản xô đẩy sẽ tìm ra hay tìm lại được con đường cầu nguyện, đọc ra ý nghĩa thiêng liêng của các biến cố trong cuộc sống (lời mời gọi hoán cải, loan báo Tin Mừng và tình hiệp thông huynh đệ…), bằng cách khám phá và sử dụng phương thế thích hợp nhất giúp tiến bộ thực sự trong việc cầu nguyện, cá nhân cũng như cộng đồng.                        

Khi bị ngã gãy tay phải vào bệnh viện bó bột và phải nghỉ ngơi hai tuần, ĐTC Biển Đức XVI chia sẻ cái nhìn đức tin của ngài: “Thiên Thần giữ mình của tôi đã vâng lệnh Chúa không ngăn cản tôi cho khỏi ngã gãy tay, có lẽ Chúa muốn dạy tôi nhẫn nại và khiêm tốn hơn, đồng thời cho tôi có nhiều thời gian hơn để cầu nguyện và suy niệm[3] 

Lạy Chúa, con xin dâng tư tưởng của con cho Chúa, để chúng luôn hướng về Chúa; để lời nói của con có Chúa làm đề tài; để việc làm của con phản ánh tình yêu của con cho Chúa; để đau khổ của con được chịu đựng cho vinh danh Chúa hơn. Con muốn làm những gì Chúa xin con, cách nào và bao lâu Chúa muốn ở con. Xin Chúa soi sáng trí khôn con, đốt nóng ý chí con, thanh tẩy trái tim con và thánh hóa linh hồn con.  

Lạy Chúa, xin hãy nhận lấy tất cả tự do của con, ký ức của con, trí hiểu của con, trọn vẹn ý muốn của con, tất cả những gì con có và sở hữu. Chúa đã cho con mọi sự và mọi sự là của Chúa, xin hãy sử dụng chúng như ý Chúa muốn. Xin ban cho con tình yêu và ân sủng của Chúa, và như thế đã đủ cho con. Xin Mẹ Maria, Mẹ của Chúa và mẹ của con, cũng cầu nguyện với Chúa Giêsu cho con. Amen.  

A.6 Phải nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện

ĐHY Chủ tịch Bộ Giáo Sĩ Claudio Humes kêu gọi linh mục cầu nguyện để củng cố sứ vụ của mình: “Quả thật nếu không có của nuôi căn bản là lời cầu nguyện, linh mục sẽ đau yếu, đồ đệ không tìm được sức mạnh để theo Thầy và do đó sẽ chết vì không có thuốc.” Lời cầu nguyện chiếm một chỗ trung tâm của đời sống linh mục và là một khí giới để chiến thắng ma quỉ vốn hằng tìm làm suy yếu chủ chăn hầu tiêu diệt đàn chiên.[4]

Đời sống và sứ vụ tông đồ của linh mục được nuôi dưỡng và phong phú nhờ việc học hỏi thường xuyên: không chỉ lo cập nhật các giáo huấn của Giáo Hội, các trào lưu triết học, thần học, các khoa học xã hội và nhân văn, nhưng phải biết cầu nguyện và chiêm ngắm ở trong và qua các học hỏi này nữa. Đức Gioan Phaolô II nhắc nhở rằng phải lấy Chúa Giêsu làm trung tâm đời sống và luôn kết hợp mật thiết với Chúa bằng cầu nguyện, suy niệm cá nhân hàng ngày, cũng như sốt sắng cử hành Phụng vụ các Giờ Kinh và Thánh Thể: “Nếu các con đầy Chúa, các con sẽ là những tông đồ đích thực của công cuộc truyền giáo mới, vì không ai có thể cho cái mà họ không có trong tâm hồn[5]    

Chính nơi Nhà Tạm mà ta phục hồi và nạp thêm năng lượng cho đời sống thiêng liêng và sứ vụ tông đồ. Quả thế, Chúa Giêsu mời gọi: “Hỡi những ai vất vả và gánh nặng, hãy đến với Ta, Ta sẽ nâng đỡ và bổ sức cho, và tâm hồn các ngươi sẽ gặp được bình an.[6] Ai trong chúng ta đã không có hơn một lần trải nghiệm những gánh nặng mục vụ và những trăn trở cá nhân? Thánh Phêrô khuyên: “Trong khi cầu nguyện, anh chị em hãy trao trút nỗi lòng anh chị em cho Chúa, vì Ngài hằng thương yêu chăm sóc đến anh chị em[7] 

Thánh Gioan Maria Vianey, cha sở họ Ars, nhờ chầu Mình Thánh Chúa mà phục hưng được giáo xứ, lôi kéo không biết bao nhiêu linh hồn hoán cải trở về với Chúa và Giáo Hội. Hiện nay trên thế giới có phong trào phục hưng và canh tân giáo xứ bằng việc chầu Thánh Thể liên lỉ. Chớ gì những thành phần già cả, bệnh tật ở trong cộng đoàn sẽ được mời gọi thay phiên nhau chầu Thánh Thể liên tục. Và chúng ta dù phải đi hoạt động rất nhiều, vượt qua không biết bao nhiêu con đường, chớ gì đừng bao giờ quên con đường dẫn tới Nhà Tạm, nơi Chúa Giêsu đang chờ ta. 

Cầu nguyện là yếu tố quan trọng nhất của đời sống thiêng liêng, được nuôi dưỡng và thăng tiến nhờ sự thinh lặng bên trong cũng như bên ngoài, nhờ Lời Chúa và Thánh Thể. Các chủng sinh được khích lệ áp dụng những cách cầu nguyện theo kiểu Á Châu, chẳng hạn như cầu nguyện tập trung và cầu nguyện thân thể. Tập cho họ chủ tọa và hướng dẫn các buổi cầu nguyện chung của cộng đoàn chủng viện là cách tốt nhất để họ trở thành người hướng dẫn cầu nguyện cho đoàn chiên tương lai.


[1] Trích búy ký, thư 2546.

[2] Theo CNA/EWTN News được dịch và đăng trong WHĐ ngày 29.08.2020.

[3] CNA, Italy, 29/7/2009.

[4] CNA, Vatican City, Dec 16, 2009 / 06:57 pm.

[5] John Paull II, “Jesus Must Always Be the Center of Your Life” Vatican, May 2, 2004

[6] Mt 11,28.

[7] 1 Pr 5,7.

VỀ MỤC LỤC
GIỮ CHO TÌNH YÊU LUÔN TƯƠI THẮM

 

Tác phẩm: Cẩm  Nang  Hạnh  Phúc Gia  Đình  Kitô - MỤC VỤ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Tác giả: D. WAHRHEIT (Lm. Minh Anh, GP. Huế tổng hợp biên tập)

A18. GIỮ CHO TÌNH YÊU LUÔN TƯƠI THẮM

Người vợ thứ hai của nhạc sĩ nổi tiếng người Pháp, Claude Gosti đầu thế kỷ 20, có một bí quyết rất độc đáo để giữ chồng. Bà ý thức rằng, với năm tháng, sắc đẹp của bà mỗi lúc một tàn phai. Do đó, để cho người chồng nhạc sĩ không phải thất vọng về nhan sắc của mình, mỗi buổi sáng bà thức dậy trước ông một tiếng đồng hồ rồi lặng lẽ đi trang điểm. Sau đó bà trở lại giường ngủ. Khi thức giấc, Claude Gosti luôn thấy bên cạnh mình một người đàn bà trẻ trung và hấp dẫn.

Người ta thường nói đến bí quyết để giữ chồng. Không có tham vọng đưa ra một bí quyết nào, chúng tôi chỉ xin được góp ý với những người vợ trẻ về việc làm thế nào để tình yêu vợ chồng luôn được thắm tươi và cuộc sống gia đình không trở thành đơn điệu buồn chán.

1. Trong việc sinh con, người cha trong thực tế chỉ can thiệp có một lần và can thiệp từ bên ngoài. Người cha là nguyên lý sự sống cho con cái. Nhưng người mẹ mới thực sự là người tổ chức, là sân khấu, nơi diễn ra tất cả huyền nhiệm việc hình thành sự sống của con cái.

Qua những tháng dài, người mẹ cảm nghiệm được sự sống đang lớn dần lên trong mình. Người mẹ vui với sự hiện diện của đứa con trong lòng. Người mẹ cũng đau đớn vì sự hiện diện của đứa con. Nỗi đau ấy đạt tới tột cùng khi đứa con từ giã cung lòng êm ấm để chào đời. Nhưng nói như Chúa Giêsu, nỗi đau càng lớn thì niềm vui càng tràn ngập tâm hồn người mẹ. Có thể nói, nỗi đau và niềm vui của người mẹ gắn liền với đứa con.

Đó là lý do khiến cho nhiều người đàn bà cảm thấy là mẹ hơn là vợ. Đối với họ, đứa con là mục đích, người chồng chỉ là phương tiện. Sau khi mục đích đã đạt được thì phương tiện, nếu không bị lãng quên, thì cũng bị đặt vào hàng thứ yếu. Trong những âu yếm, bận tâm và nói chung, ngay cả trong tình yêu, tình nghĩa vợ chồng có thể bớt mặn nồng vì sự hiện diện của đứa con. Đó có thể là nguy cơ xảy ra cho một số gia đình trẻ. Vì thế, người vợ phải cư xử thế nào để tình mẫu tử không hạ giảm tình yêu vợ chồng.

Sứ mệnh người đàn bà không chỉ là sinh con mà còn phải làm cho quả tim của người đàn ông luôn tươi trẻ. Người đàn ông bảo vệ người đàn bà. Nhưng chính người đàn bà mới là người nuôi dưỡng người đàn ông bằng tình yêu.

2. Một trong những đặc điểm cơ bản của tâm hồn người đàn ông chính là khát vọng tự do. Họ sẽ cảm thấy nghẹt thở khi bị ràng buộc. Đó là lý do giải thích tại sao người đàn ông thích ra khỏi nhà, thích tìm đến với bạn bè để nhâm nhi tách cà phê, ly rượu nồng, hoặc để qua giờ trong những cuộc sát phạt bài bạc. Những chiều chủ nhật, họ thích đến sân vận động để xem bóng đá, hoặc đi câu cá. Giải trí ở bên ngoài gia đình là thể hiện khát vọng muốn tự do.

Một người vợ yêu chồng, biết chiều chồng hẳn là người biết chẩn đoán tâm hồn của chồng và sẵn sàng tạo điều kiện để chồng thỏa mãn khát vọng tự do của họ.

Tình bạn của họ, sự hiện diện của những người bạn trong cuộc đời của họ là điều không thể thiếu nếu người đàn ông muốn giữ sự quân bình nội tâm. Do đó, thiết tưởng người vợ không những không ngăn cản mà còn phải tạo điều kiện để mối quan hệ của chồng với bạn bè luôn được tốt đẹp.

Việc gặp gỡ bạn bè, hay nói chung, những lần ra khỏi gia đình là những liều thuốc bổ cần thiết cho đời sống vợ chồng. Mối quan hệ với người chung quanh càng tốt đẹp thì tình yêu vợ chồng càng được củng cố. Niềm vui có thêm một người bạn mới, niềm vui được sống hài hoà với người chung quanh, phải chăng không làm gia tăng niềm vui sướng trong gia đình?

3. Đời sống gia đình tự nó là một cuộc sống độc điệu dễ đưa đến buồn chán. Thi sĩ Paul Valéry của Pháp đã nói một câu chí lý: “Số lượng của sự âu yếm mà người ta có thể cảm nhận và diễn tả trong một ngày thường rất giới hạn”. Hẳn thi sĩ Paul Valéry muốn nói rằng, không ai có thể sống một ngày, một tuần hoặc những năm tháng dài mà luôn giữ được sự âu yếm ở một mức độ không thay đổi.

Nói cách khác, người ta dễ mỏi mệt, và mỏi mệt ngay cả đối với những người thân yêu của mình. Do đó, phải tránh làm cho đời sống vợ chồng trở thành đơn điệu, nhàm chán. Tình yêu vợ chồng, hay đúng hơn, sự diễn tả tình yêu cần được thay đổi và mới mẻ luôn.

Thói quen nào cũng dễ làm phát sinh sự nhàm chán. Khi tình yêu bị giới hạn trong những công thức thì tình yêu ấy dễ trở thành giả dối. Trong một câu chuyện ngắn, một văn sĩ đã ghi lại những cuộc hẹn hò dưới trăng của một đôi tình nhân. Cứ mỗi tối, người con trai lại nói với người con gái bằng một giọng rất lãng mạn không bao giờ thay đổi: “Em yêu, đây là chiếc ghế đá trung thành của chúng ta”. Nhưng cô gái đã nhàm chán với điệp khúc ấy bèn thốt lên: “Phải, nhưng lúc nào cũng chỉ là chiếc ghế đá ấy”.

Sự đơn điệu dễ mang lại nhàm chán. Do đó, các đôi vợ chồng phải tổ chức đời sống thế nào để giữ cho tình yêu luôn được tươi trẻ. Thỉnh thoảng họ cần phải ra khỏi khung cảnh gia đình để được sống trọn vẹn cho nhau. Ngoài ra, tình bạn, những quan hệ với những người xung quanh cũng là những thức ăn cần thiết để giữ cho tình yêu vợ chồng được tươi trẻ và tránh được sự độc điệu nhàm chán.

4. Trong việc gìn giữ cho tình yêu vợ chồng được tươi trẻ, hẳn người vợ phải là người đóng vai trò quan trọng nhất. Ở đây, chúng tôi muốn nói đến vẻ đẹp mà người đàn bà luôn giữ gìn, chăm sóc. Vẻ đẹp của người đàn bà chính là quyền lực của họ đối với chồng. Đó cũng là bí quyết để bảo vệ hạnh phúc lứa đôi.

Dĩ nhiên, vẻ đẹp tâm hồn là yếu tố quan trọng hơn cả. Một vẻ đẹp thể lý dù lộng lẫy kiêu sa đến đâu cũng sẽ trở thành vô duyên khi người đàn bà không có vẻ đẹp trong tâm hồn. Và dĩ nhiên, vẻ đẹp của tâm hồn không nhất thiết phải là sự thông minh, cũng không hẳn là cái duyên dáng của những điệu bộ, mà chính là tấm lòng quảng đại, yêu thương, tha thứ, phục vụ, quên mình của người đàn bà.

Nhưng, đề cao vẻ đẹp tâm hồn không có nghĩa là không cần quan tâm đến vẻ đẹp của thân xác. Nhiều người đàn bà nghĩ rằng, sự trang điểm và làm đẹp chỉ cần thiết trong thời kỳ hẹn hò với nhau. Họ quên rằng, chính trong đời sống vợ chồng mà người đàn bà cần làm đẹp hơn bao giờ hết. Người đàn bà thường làm đẹp khi họ đang yêu. Phải chăng trong đời sống vợ chồng, người đàn bà không còn đối tượng để yêu thương nữa?

Trang điểm, làm đẹp, giữ cho thân xác luôn tươi tắn là một trong những bí quyết quan trọng để giữ chồng, hay đúng hơn, để bảo vệ hạnh phúc gia đình. Làm đẹp là một cách thế để nói lên tình yêu đối với chồng.

VỀ MỤC LỤC
BỆNH THỦY ĐẬU

 

“Tôi ở chơi mấy tháng Hè với bà chị tôi, cùng khi đó thì cháu trai con bả bị bệnh trái dạ. Tôi cứ sợ bị lây. Tôi năm nay đã gần ba mươi tuổi rồi, liệu tôi có bị lây bệnh không bác sĩ và làm sao ngừa bệnh này”.? Cô Hương-Sai Gon Nhỏ 

Xin góp ý như sau.

Nếu trong đời cô chưa bao giờ bị bệnh thủy đậu,  thì cô vẫn bị lây, vì bệnh này có thể xảy ra ở người lớn cũng như trẻ con. Khi gần người bệnh, ta có 90% nguy cơ bị lây, và bệnh cũng rất nguy hiểm vì vài biến chứng của nó như sưng phổi, viêm não, nhiễm độc ngoài da.

Hàng năm, ở Mỹ, có tới hơn 60.000 người lớn bị bệnh thủy đậu.

Nguyên nhân

Bệnh do loại virus varicella-zoster (human herpesvirus type 3). Bệnh lan truyền do không khí chứa siêu vi trùng gây bệnh, khi người bệnh ho, hắt hơi virus sẽ phát tán trong không khí hoặc do tiếp xúc với chất nước ở những mụn đậu, nước mũi người bệnh.

Bệnh bắt đầu lây khoảng hai ngày trước khi mụn đậu xuất hiện, kéo dài cho tới khi mụn đậu khô và đóng vẩy.

Ai hay bị bệnh

Những người sau đây hay bị lây bệnh, nếu chưa bao giờ bị bệnh, và khi làm việc ở môi trường nhiễm bệnh:

•           giáo chức dậy học sinh nhỏ tuổi,

•           nhân viên chăm sóc trẻ em ở trung tâm giữ trẻ,

•           học sinh trung học,

•           nhân viên quân đội, thân nhân người có bệnh thủy đậu, nhân viên y tế.

•           Vì bệnh này có ở mọi quốc gia, nên khi ta đi du lịch, cũng cần cẩn thận.

•           Phụ nữ có thai mà chưa bị bệnh thủy đậu bao giờ, cũng có nhiều nguy cơ lây bệnh, và bệnh có thể gây nhiều khó khăn cho cả mẹ lẫn thai nhi như sanh non, sưng phổi,hài nhi mang tật nguyền ở tứ chi, thủy tinh thể đục.

Hiện nay, khi nhập cảnh Hoa Kỳ, người nhập cảnh  bắt buộc phải khai đã có bệnh hay đã được chích ngừa thủy đậu. Trường hợp của cô, nếu chưa bao giờ bị bệnh thủy đậu, thì cô có nhiều nguy cơ mắc bệnh này, đề nghị cô đi khám bác sĩ để chích ngừa.

Mỗi năm, ở Mỹ có tới cả hơn 4 triệu trẻ em tuổi từ 1 đến 14 tuổi mắc bệnh này, cả gần 10.000 phải nhập viện vì bệnh nặng.

Dấu hiệu

Bệnh xuất hiện sau 2-3 tuần lễ tiếp xúc với người bệnh.

Bệnh nhân thấy đau nhức cùng mình, nóng sốt, ăn mất ngon. Vài ngày sau, mụn đậu bắt đầu xuất hiện, trước hết là ở ngực, bụng, lưng rồi lan lên mặt, tay chân. Trung bình có từ 100 tới 250 mụn, phẳng đỏ, rồi chứa đầy nước trong trước sau đò đổi ra đục lờ.  Độ 1 tuần lễ sau mụn khô và đóng vẩy. Hai tuần sau, vẩy rụng để lại vết sẹo. Các mụn này rất ngứa, khi gãi dễ gây nhiễm độc ngoài da.

Tất cả trẻ em nếu chưa mắc bệnh, đều có thể bị thủy đậu, nhất là ở tuổi đi học, hoặc ở các nhà giữ trẻ. Khi trẻ con bị bệnh, cần nghỉ học cho tới khi các mụn hoàn toàn khô, để tránh truyền bệnh cho người khác.

Điều trị

Ở trẻ em, bệnh thường không trầm trọng. Ngược lại, bệnh nặng hơn ở người đứng tuổi, bệnh nhân bị rối loạn tự miễn hoặc đang hóa trị, dung nhiều corticosteroid.

Với bệnh nhẹ, chỉ cần chăm sóc điều trị dấu hiệu.

Với ngứa da, áp khăn thấm nước lạnh hoặc thoa thuốc chống histamine (benadryl…)

Không gãi mụn ngứa hoặc chọc vỡ mụn nước để tránh nhiễm với vi khuẩn lạ và lây lan bong nước với hậu quả là các vết sẹo khó coi, khiến bé bị mặc cảm khi lớn lên.

Tắm rửa thường xuyên, giữ quần áo sạch sẽ.

Không thoa kem kháng sinh, không thoa phấn rôm trên vùng da bị nhiễm.

 Nếu bội nhiễm, có thể uống kháng sinh do bác sĩ biên toa.

Trường hợp bệnh nặng, bác sĩ có thể cho dùng thuốc chống virus như acyclovir, famciclovir.

Hậu quả lâu dài

Sau khi bệnh thủy đậu lành, siêu vi này có thể ở tình trạng nằm ngủ cả nhiều năm trong hạch của rễ sau dây thần kinh tủy sống, rồi đến một thời gian nào đó sẽ tái hoạt động và gây ra bệnh Zona-thần-kinh còn gọi là shingles.

Shingles có ở mọi lứa tuổi nhưng thường hay thấy từ 50 tuổi trở lên.

Bệnh cũng thường có ở:

-Người bị suy giảm tính miễn dịch

-Người nhiễm HIV

-Người bị bệnh đang ở trong tình trạng tăng phát triển tế bào mới như ung thư

-Bệnh nhân đang điều trị với hóa chất ức chế miễn dịch

-Người tiếp nhận ghép bộ phận cơ thể

-Sau những căng thẳng tinh thần.

Virus tấn công rễ dây thần kinh tủy và vùng da chịu ảnh hưởng của dây thần kinh này. 

Chủng ngừa

Hiện nay, đã có thuốc chích ngừa bệnh thủy đậu như Vavirax.

Hội Nhi Hoa Kỳ và Trung tâm CDC đưa ra đề nghị chích ngừa như sau:

Khi em bé ở tuổi 12 tới 15 tháng thì chích liều đầu tiên.

Khi bé được 4-6 tuổi thì chích lần thứ hai.

Người từ tuổi 13 trở lên mà chua bao giờ chích ngừa thủy đậu cần  chích hai lần, cách nhau từ 4 đến 8 tuần lễ.

Người từ 13 tuổi trở lên mà chỉ chích một lần và chưa bị bệnh trái dạ thì chíchliều thứ hai.

Phụ nữ trong tuổi có thai và người mang bệnh mãn tính đều cần chích ngừa.

Đậu mùa thường xẩy ra vào mùa Đông-Xuân từ tháng 2 đến tháng 5, cao điểm là tháng 3-4. Vì vậy nên chích ngừa trước thời điểm này để được bảo vệ với bệnh.

Vaccin có thể tạo ra mấy rủi ro nhẹ như nóng sốt, hơi sưng đảu chỗ kim chích hoặc nổi ban da rất nhẹ. Hãn hữu lắm mới có phản ứng mạnh như cơn co giựt, sưng phổi.

Một số rất nhỏ các em (2%) đã chích ngừa mà vẫn có thể bị trái dạ, nhưng bệnh thường là nhẹ hơn.

Thuốc chủng ngừa cũng bảo vệ nếu ta vừa tiếp xúc với bệnh nhân trong vòng 72 giờ. 

Không chủng ngừa nếu:

-đang bị bệnh trầm trọng

-đang có thai

-đang dùng thuốc corticosteroid liều cao

-bị rối loạn tự miễn, suy nhược miễn dịch như HIV/AIDS, ung thư hoặc nhận cấy ghép tạng phủ

-dị ứng với kháng sinh neomycin

-trẻ em đang uống thuốc loại salicylate vì rủi ro bị hội chứng Reye với.

Phụ nữ mới chích ngừa cần đợi một tháng rồi mới có thai. 

Thuốc chích ngừa trái dạ được hợp thức hóa tại Hoa Kỳ từ năm 1995, rất công hiệu và đã giảm thiểu số người bị bệnh. Theo thống kê kết quả ở Mỹ và Nhật, thuốc ngừa có công hiệu kéo dài từ 10 tới 20 năm.

Một số tiểu bang tại Hoa kỳ bắt buộc phải có giấy chứng nhận chích ngừa thủy đậu trước khi trẻ em được nhận vào nhà giữ trẻ hay trường mẫu giáo.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức - Texas-Hoa Kỳ

 
VỀ MỤC LỤC
NGỤ NGÔN THỜI BẤN LOẠN (KỲ 17)
  

Ngụ ngôn 54

Cọp hung hăng tấn công các loài thú, ăn tươi nuốt sống bất cứ con thú nào cọp gặp. Nhiều loài trong rừng liên kết lại tự bảo vệ mình và dạy cho cọp những bài học nhớ đời. Nhưng chồn thì không thích chống lại cọp. Thỏ bảo: “Chống cọp là chống cái ác”. Sơn ca nói: “Phải dạy cọp bỏ thói hung hăng” Dê núi thì lý luận: “Cái ác là đối nghịch sự sống. Mà để sự đối nghịch ung dung, thì sự sống sẽ lụi tàn”. Nhưng chồn bảo: “Để trao đổi với cọp xem sao”. Chồn cử người vào hang trao đổi với cọp. Cọp khoái chí “trao đổi” với từng con chồn một. Xong từng con, cọp bảo: “Khoái khẩu”.

Chẳng bao lâu chồn gần như tuyệt chủng. Những lần “trao đổi” với cọp, chồn dù tinh ranh nhưng vẫn thua cọp sức vóc, nên chưa “trao đổi” xong thì chồn đã êm ái nằm trong bụng cọp. Nhiều năm sau, trong khu rừng ấy vắng hẳn bóng chồn.

Thi thoảng người ta cũng thấy vài anh chồn láo liên ngang dọc. Nhưng tiếng kêu của những anh chồn ấy bây giờ đã giống tiếng gầm của loài cọp dữ.

           

Ngụ ngôn 55

Phố đẹp. Đèn rực rỡ. Hoa khoe sắc. Ai bảo xứ này nghèo? Lụa là gấm vóc, cao lương mỹ vị, đất hiền trời thanh. Tao nhân mặc khách nhẹ nhàng nho nhã. Giai nhân thục nữ thanh thoát dịu dàng. Thật là cảnh thanh bình ngàn năm có một.

Lễ hội rồi cũng qua đi.

Có vị tiên ông bay ngang qua, lắc đầu phẩy tay. Lớp trang điểm rơi xuống. Hoa tàn, đèn tắt, giai nhân tài tử thoát hình bướm, hiện nguyên hình nhộng vùi đầu vào công việc nhọc nhằn bất an.

Từ gầm cầu, từ miệng cống, từ những con hẻm tối đen, từ ao tù kênh lạch túa ra bao mái tóc rối bù, len vào cuộc đời.

Hôm sau, trên báo thấy có câu: Tiếc thay vẫn còn tàn dư của ngày chưa khai hóa! 

           

Ngụ ngôn 56

Để quảng cáo bán hàng ngày Tết, sư tử dựng sân khấu quảng cáo hát hò rùm beng bên con đường mòn. Bao nhiêu loài côn trùng bịt tai chạy trốn.

Để tranh đua sắc tài, những con két mở gian hàng tỉ thí bao nhiêu thứ giọng ca muốn rung cây bay lá.

Để mừng công cuối năm, chó sói tru liên hồi như muốn phá tan cả rừng rậm ngàn năm. Cả suối cũng ngừng reo vì sợ loài sói dữ.

Bỗng có một chú chim họa mi bay về đậu trên cành hoa mai rừng hót dịu dàng bài ca xuân. Lập tức sư tử, két và chó sói vồ ngay lấy và bảo: “Mi dám làm ồn cho khu rừng đang yên tĩnh”!

Gioan Lê Quang Vinh, VRNs

 

VỀ MỤC LỤC

- Mọi liên lạc: Ghi danh, thay đổi địa chỉ, đóng góp ý kiến, bài vở..., xin gởi về địa chỉ

giaosivietnam@gmail.com

- Những nội dung sẽ được đề cao và chú ý bao gồm:

Trao đổi, chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trong việc mục vụ của Giáo sĩ;  Những tài liệu của Giáo hội hoặc của các Tác giả nhằm mục đích Thăng tiến đời sống Giáo sĩ; Cổ võ ơn gọi Linh mục; Người Giáo dân tham gia công việc “Trợ lực Giáo sĩ” bằng đời sống cầu nguyện và cộng tác trong mọi lãnh vực; Mỗi  Giáo dân phải là những “Linh mục” không có chức Thánh; Đối thoại trong tinh thần Bác ái giữa Giáo dân và Giáo sĩ… (Truyền giáo hay xây pháo đài?)

- Quy vị cũng có thể tham khảo những số báo đã phát hành tại

www.conggiaovietnam.net

Rất mong được sự cộng tác, hưởng ứng của tất cả Quí vị

Xin chân thành cám ơn tất cả anh chị em đã sẵn lòng cộng tác với chúng tôi bằng nhiều cách thế khác nhau.

TM. Đặc San Giáo Sĩ Việt Nam

Lm. Luca Phạm Quốc Sử  USA

 

 

Duoc chon giua loai nguoi va cho loai nguoi; GIAO SI: Xuat phat tu giao dan, hien dien vi giao dan va cay dua vao giao dan, de cung lam VINH DANH THIEN CHUA

*************