Linh mục thừa tác, ngài là ai ?
Dẫn nhập
Đã có nhiều cách, nhiều con đường để tiếp cận với vấn đề nầy: Linh mục thừa tác, ngài là ai? Ở đây, nhân Năm Thánh Linh mục, chúng tôi mạo muội đề xuất một cách hiểu về căn tính của vị Linh mục thừa tác (sacerdoce ministériel) qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp (union hypostatique)…
Qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp, chúng tôi sẽ lần lượt đào sâu những vấn đề sau đây:
1-Tương quan giữa Đức Kitô và vị Linh mục thừa tác;
2-Tương quan giữa vị Linh mục thừa tác và Bí tích Thánh Thể;
3-Tương quan giữa vị Linh mục thừa tác và Bí tích Hòa giải;
4-Linh mục thừa tác, ngài là ai?
Bài 1:
TƯƠNG QUAN GIỮA ĐỨC KITÔ
VÀ VỊ LINH MỤC THỪA TÁC
QUA LĂNG KÍNH MẦU NHIỆM NGÔI HIỆP
Vào đề
Trong ngôn ngữ “nhà đạo” thông thường người ta hay gọi vị Linh mục thừa tác (sacerdoce ministériel) là “Alter Christus”, là “in persona Christi”… “Alter Christus” thường được chuyển ngữ là “Đức Kitô khác” hay “Đức Kitô thứ hai”. “In persona Christi” thường được chuyển ngữ là “nhân danh Đức Kitô”, “đại diện Đức Kitô”, “đồng hình đồng dạng với Đức Kitô”, v.v… Cả hai cách chuyển ngữ nầy đều vừa thừa vừa thiếu. Thừa vì có vẻ như có hai “ngôi vị”. Thiếu vì thiếu tình trạng hiệp nhất giữa Đức Kitô và con người Linh mục…
1- Mầu nhiệm ngôi hiệp (union hypostatique)
Trong ngôn ngữ kitô-học, mầu nhiệm thần tính và nhân tính của Đức Kitô hiệp nhất với nhau trên cơ sở chỉ có một Ngôi Vị duy nhất là Đức Kitô thường được gọi tắt là Mầu nhiệm ngôi hiệp. Nghĩa là thần tính nhận nhân tính cùng với những thụ cảm làm của mình hay “là” mình (appropriation) và thông ban (communication) cho nhân tính đó một số yếu tố đặc thù mà thần tính vốn có “vì loài người chúng ta” và “để cứu độ chúng ta”... Tuy mỗi bản tính vẫn là mình, không hòa lẫn (như nước biển với nước ngọt), nhưng cũng không hoàn toàn tách biệt (như dầu hôi với nước lã)… Một số giáo phụ so sánh sự hiệp nhất giữa thần tính và nhân tính với sự hiệp nhất giữa hồn và xác trên cơ sở ngôi vị của một cá thể… Chúng tôi thích hơn hình ảnh hai người yêu nhau, dù vẫn còn một số yếu tố bất toàn: khi yêu nhau, người ta trở nên một (cái “chúng ta”), dù mỗi người vẫn là mình…
2- Tương quan giữa Đức Kitô và vị Linh mục thừa tác qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp
Để có thể hiểu được vị Linh mục thừa tác là ai và là gì, ở đây, chúng tôi mạo muội đề nghị một lối hiểu qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp. Nghĩa là: Qua Bí tích truyền chức, dưới quyền năng và tác động của Chúa Thánh Thần, Đức Kitô nhận con người Linh mục mà Ngài đã gọi và chọn đó, cùng với những sở trường và sở đoản, “là” Mình hay “là” Ngài (appropriation), đồng thời thông ban cho vị Linh mục đó một số yếu tố đặc thù thần linh mà vốn là sở hữu của Ngài (communication) và cả hai hiệp nhất nên một trên cơ sở Ngôi Vị Đức Kitô (in personna Christi)…
3- Cơ sở Thánh Kinh của những hành vi “nhận làm của mình” hay “nhận là mình” (appropriations)
= Mt 25,31-46: “[…]. ‘Quả thật, Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một người trong các anh em hèn mọn nhất nầy của Ta, là các ngươi đã làm cho chính mình Ta’.[…]. ‘Quả thật, Ta bảo các ngươi, những gì các ngươi đã không làm cho một người nào trong các kẻ hèn mọn nhất nầy, là các ngươi đã không làm cho chính mình Ta’.”
= Mt 10,40: “Kẻ tiếp đón các ngươi là tiếp đón Ta; và kẻ tiếp đón Ta, là tiếp đón Đấng đã sai Ta”.
= Mt 18,5: “Và kẻ nào tiếp đón một trẻ nhỏ nầy vì danh Ta, tức là tiếp đón Ta”.
= Mc 9,37: “Kẻ nào tiếp đón một trẻ nhỏ thế nầy vì danh Ta, tức là tiếp đón Ta; kẻ nào tiếp đón Ta, thì không phải người ấy tiếp đón Ta, mà là Đấng đã sai Ta”.
= Lc 9,48: “Kẻ nào đón tiếp trẻ nhỏ nầy vì danh Ta, tức là tiếp đón Ta; và kẻ tiếp đón Ta là tiếp đón Đấng đã sai Ta…”
= Lc 10,16: “Ai nghe các ngươi là nghe Ta, và ai thảy bỏ các ngươi là thảy bỏ Ta, mà ai thảy bỏ Ta là thảy bỏ Đấng đã sai Ta”.
= Ga 23,20: “Quả thật, qủa thật, Ta bảo các ngươi: ai chịu lấy kẻ Ta sai đến, là chịu lấy Ta, mà ai chịu lấy Ta, tức là chịu lấy Đấng đã sai Ta”.
= Cv 9,1-5: “[…], ‘Saul, Saul, tại sao ngươi bắt bớ Ta?’ […]. ‘Ta là Giêsu, người đang bắt bớ’.”
4-Cơ sở Thánh Kinh của những hành vi thông ban những yếu tố đặc thù cho nhau (communications): Một số quyền năng Đức Kitô thông ban cho con người Linh mục:
4a-Quyền tha tội trong Ngôi Vị Đức Kitô: Mt 9,1-7; Mc 2,1-12; Lc 5,17-26; Mt 16,19; Cv 10,43; Mt 28,18-20; v.v…
4b-“Quyền năng trên các thần ô uế khiến họ có thể xua đuổi chúng và chữa mọi tật nguyền, bệnh hoạn” trong Ngôi Vị Đức Kitô: Mt 10,1; Mc 3,14; 6, 7; Lc 9,1; v.v…
4c-Quyền năng thực hiện hành vi “nhận làm của mình” và “là mình” (appropriation) và hành vi thông ban một số đặc ân mình có (communication) trong Ngôi Vị Đức Kitô, đặc biệt nơi Bí tích Thánh Thể: Lc 22, 19-20; 1 Cr 11, 23-27; v.v…; và quyền tha tội trong Bí tích Hòa giải (Ga 20,23)…
5-Một vài suy tư thần học:
Trên cơ sở những điều trên đây, có thể nói được rằng mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời và mầu nhiệm Ngôi hiệp nơi Đức Kitô có mối quan hệ hết sức mật thiết với nhau, có tính phổ quát và với nhiều cấp độ khác nhau:
5a-Tương quan giữa Đức Kitô và Thụ Tạo nói chung:
Có thể nói rằng nhân tính nơi Đức Kitô chính là tượng trưng cho toàn thể thụ tạo và toàn thể nhân loại nói chung:
“Lúc khởi nguyên đã có Lời…và Lời là Thiên Chúa…Mọi sự nhờ Ngài mà thành sự và không Ngài thì không gì đã thành sự. Điều đã thành sự nơi Ngài là sự Sống và sự Sống là sự Sáng cho nhân loại.” (Ga 1,1-3).
“Ngài (Đức Kitô) là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử giữa mọi thụ sinh, vì trong Ngài vạn vật đã được tạo thành, chốn trời cao và nơi dương thế, vật hữu hình, vật vô hình, dù là thiên tòa hay thiên chủ, dù là thiên phủ hay là uy linh: mọi sự đã được tạo thành nhờ Ngài và cho Ngài ! Và Ngài có ưu thắng trên mọi sự, và mọi sự đều tồn tại trong Ngài.” (Cl 1,15-17).
5b- Tương quan giữa Đức Kitô và nhân loại nói chung:
Bởi vì con người đã được tạo dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa (St 1,26-27), mà hình ảnh Thiên Chúa chính là Đức Kitô (1Cr 11,7; 2Cr 4,4; Cl 1,15), cho nên có thể nói rằng nhân tính của Đức Kitô cũng chính là toàn thể nhân loại, hiểu theo nghĩa cá thể cũng như tập thể. Chính vì thế, khi Đức Kitô cứu độ, thánh hóa nhân tính của Ngài và nhận nhân tính đó là của mình và là mình, điều đó có nghĩa là Ngài, trong chỉ một hành vi, một lần là đủ, đã cứu độ và thánh hóa toàn thể nhân loại, mọi nơi và mọi thời… Như thế, chúng ta hiểu vì sao Giáo hội trước sau như một luôn khẳng định Đức Kitô là Đấng Trung gian và là Đấng Cứu độ duy nhất và phổ quát, ngoài Ngài ra chẳng có ai khác cả (Ep 2,13-18; Rm 11,25-29).
“Nhưng nay, trong Đức Kitô Giêsu, anh em, những kẻ xưa kia ở xa, thì đã nên gần nhờ bửu huyết của Đức Kitô. Vì chính Ngài là sự bình an của ta, Đấng đã làm cho đôi bên nên một, triệt hạ tường ngăn thành chắn, (tiêu biểu cho) mối hằn thù – nhờ thân xác Ngài, - thủ tiêu Lề luật nguyên những điều răn lệnh chỉ, ngõ hầu trong Ngài, Ngài tạo dựng hai loại người ấy nên một người mới; đem lại bình an, và giảng hòa hai dân – trong một Thân mình – với Thiên Chúa, nhờ Thập giá, giết chết hằn thù – nơi mình Ngài. Và Ngài đã đến loan báo Tin Mừng bình an cho anh em những kẻ ở xa, và bình an cho những kẻ ở gần. Vì chính nhờ Ngài, chúng ta đôi bên, trong một Thần khí, được đến chùng Cha.” (Ep 2,13-18).
“Hỡi anh em, tôi không muốn để anh em không hay biết mầu nhiệm nầy, để anh em đừng tự phụ mình khôn: Israel đã ra chai đá phần nào, cho đến khi toàn thể dân ngoại đã gia nhập, và như thế tất cả Israel cũng sẽ được cứu. […]. Vì chưng cũng như anh em, xưa kia bất tuân đối với Thiên Chúa, mà nay đã được thương xót, nhân vì họ bất tuân, thì họ cũng thế, nay bất tuân, bởi anh em được thương xót. Vì chưng Thiên Chúa đã dồn mọi người hết thảy vào đàng bất tuân, ngõ hầu Ngài dũ lòng thương hết mọi người.” (Rm 11,25-26.30-32).
5c- Tương quan giữa Đức Kitô và Giáo hội hay là các kitô-hữu nói chung:
Giáo hội, trước tiên, là “Thân Mình” của Đức Kitô (Cl 1,15-24; 1Cr 12,27; 1Ga 3,2; Rm 12,5; v.v…), thứ đến, là cộng đoàn những kẻ tin vào Đức Kitô và được tập hợp lại để lắng nghe Lời của Thiên Chúa (Xh 19, 3-8.25; Gs 8,32-35; 24,1-28; v.v…) và cử hành các Bí tích của Đức Kitô (Cv 2,42) …
“Nay tôi vui sướng trong các nỗi thống khổ chịu vì anh em; và trong thân xác tôi, tôi bù đắp những gì còn thiếu nơi các nỗi quẫn bách Đức Kitô phải chịu vì Thân Mình Ngài, tức là Hội Thánh…” (Cl 1,24).
“Mà anh em là Thân Mình của Đức Kitô, và ai theo phận nấy mà làm chi thể” (1 Cr 12,27).
“Anh em thân mến, hiện giờ ta là con cái Thiên Chúa; ta sẽ là gi, thì chưa được tỏ hiện, ta biết rằng một khi điều ấy (hay là Đức Kitô “quang lâm” hay là Thân Mình mầu nhiệm của Đức Kitô là Giáo hội [ctctg]) tỏ hiện, thì ta sẽ được giống như Ngài (Đức Kitô “quang lâm” [ctctg]), vì Ngài thế nào, ta sẽ được thấy như vậy.” (1Ga 3,2).
“Họ chuyên cần với giáo huấn của các tông đồ và sự hiệp thông, việc bẻ bánh và kinh nguyện.” (Cv 2,42).
5d- Tương quan giữa Đức Kitô và vị Linh mục thừa tác:
Vị Linh mục thừa tác hiệp nhất với Đức Kitô trên cơ sở Ngôi Vị của Ngài, như nhân tính hiệp nhất với thần tính của Đức Kitô trên cơ sở Ngôi Vị của Đức Kitô. Cũng như Đức Kitô, trong tư cách vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật, khi thì Ngài nói và cư xử như là con người, có khi Ngài nói và cư xử như là Thiên Chúa, con người Linh mục trong Ngôi Vị Đức Kitô (in personna Christi) cũng nói và hành xử như vậy.
“Lạy Cha ! nếu Cha muốn, xin cất chén nầy đi khỏi con ! (Đức Giêsu nói trong tư cách là con người bình thường như chúng ta: chú thích của tác giả [ctctg]). Song đừng cho ý của con, mà là ý của Cha được thành sự ! (Ở đây, Đức Giêsu nói trong tư cách là Thiên Chúa [ctctg])” (Lc 22,42; tham chiếu Ga 12,27-29; Lc 2,49; Ga 8,58; 10,30; v.v…).
“Tất cả các con hãy nhận lấy mà ăn: vì nầy là Mình Thầy, sẽ bị nộp vì các con. […]. Tất cả các con hãy nhận lấy mà uống: vì nầy là chén máu Thầy, máu giao ước mới và vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội. Các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Thầy”. (Những lời nầy chỉ thành sự và hữu hiệu khi được vị Linh mục thừa tác nói trong ngôi vị Đức Kitô, chứ không phải trong tư cách con người bình thường như mọi người).
“[…]. Vậy, Cha tha tội cho con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.” (Những lời nầy chỉ thành sự và hữu hiệu khi được vị Linh mục nói trong ngôi vị Đức Kitô mà thôi, vì chỉ có Thiên Chúa và Con Người mới có quyền tha tội [Mc 2,3-12]…).
Vì thế, có thể nói rằng không có Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hòa Giải thì cũng không có chức Linh mục thừa tác và ngược lại. Đó chính là cơ sở chính yếu để phân biệt giữa chức Linh mục chung của mọi kitô-hữu (sacerdoce commun) và chức Linh mục thừa tác của một số người được gọi chọn bởi Thiên Chúa qua trung gian Giáo hội (sacerdoce ministériel). Và đó cũng chính là một trong những cơ sở nói lên sự khác biệt căn bản giữa Giáo hội công giáo và các giáo hội thệ phản và Anh giáo liên quan các Bí tích, chức Linh mục thừa tác, và các vấn đề giáo hội học, v.v…
Năm Thánh Linh mục 2009
Linh mục Phêrô NGUYỄN THIÊN CUNG
Trích : gpphanthiet.net
dongcongnet 22-1-2010