dongcong.net
 
 

Linh mục thừa tác, ngài là ai ?


Dẫn nhập

Đã có nhiều cách, nhiều con đường để tiếp cận với vấn đề nầy: Linh mục thừa tác, ngài là ai? Ở đây, nhân Năm Thánh Linh mục, chúng tôi mạo muội đề xuất một cách hiểu về căn tính của vị Linh mục thừa tác (sacerdoce ministériel) qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp (union hypostatique)…

Qua lăng kính mầu nhiệm ngôi hiệp, chúng tôi sẽ lần lượt đào sâu những vấn đề sau đây:

1-Tương quan giữa Đức Kitô và vị Linh mục thừa tác;
2-Tương quan giữa vị Linh mục thừa tác và Bí tích Thánh Thể;
3-Tương quan giữa vị Linh mục thừa tác và Bí tích Hòa giải;
4-Linh mục thừa tác, ngài là ai?

Bài 3:
TƯƠNG QUAN GIỮA VỊ LINH MỤC THỪA TÁC
VÀ BÍ TÍCH HÒA GIẢI
QUA LĂNG KÍNH MẦU NHIỆM NGÔI HIỆP

 Bí tích Hòa giải, trước tiên, có hiệu năng khôi phục lại những tương quan vốn có giữa con người với Thiên Chúa, với tha nhân, với chính bản thân mình và với thiên nhiên vũ trụ đã bị phá vỡ do ích kỷ, kiêu căng, ghen ghét, hận thù, bất tuân và mù quáng, v.v…, hay nói chung là do tội lỗi (xem St 3,1-24).

1- Việc phân tích Công thức tha tội của Giáo hội sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn hiệu năng của Bí tích nầy và tương quan giữa vị Linh mục thừa tác với Bí tích Hòa giải:

1a - Thiên Chúa là Cha hay thương xót, đã nhờ sự chết và sống lại của Con Chúa mà giao hòa thế gian với Chúa…”:

Sự Hòa giải nguyên thủy, hoàn hảo, vẹn toàn, tuyệt đối, một lần thay cho tất cả hay sự Hòa giải của tất cả mọi hòa giải đã được thể hiện nơi Đức Giêsu-Kitô vốn vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật nơi mầu nhiệm Ngôi hiệp, tức là nơi việc thần tính và nhân tính của Đức Kitô hiệp nhất trên cơ sở Ngôi Vị của Ngài “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta” (propter nos homines et propter nostram salutem).
Và, bởi vì nhân tính của Đức Kitô cũng chính là nhân loại toàn thể (xem Ga 1,3; Tv 33,6; Cl 1,15-20; Kh 3,14; 1Cr 8,6), cho nên khi nhân tính của Đức Kitô hoàn toàn hiệp nhất với thần tính của Ngài trên cơ sở Ngôi Vị của Ngài trong hành vi tình yêu dâng hiến hoàn toàn trên đỉnh thập giá cũng chính là lúc toàn thể nhân loại mọi nơi và mọi thời được thần linh hoá, được thánh hiến, được siêu độ, được tha thứ và được tái hòa giải lại với Thiên Chúa, với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ và với chính bản thân mình…

1b- “… và ban Thánh Thần để tha tội…”:

Theo ngôn ngữ Thánh Kinh, chỉ có Thiên Chúa và Con Người hay là Đức Kitô mới có quyền tha tội (xem Mc 2,3-12). Vậy, khi nói “ban Thánh Thần để tha tội”, điều nầy hẳn có nghĩa là Thánh Thần của Đức Kitô cũng là Thánh Thần của Thiên Chúa hay là chính Đức Kitô, chính Ngôi Vị Đức Kitô tha tội… Đó chính là Thần Khí của Đức Kitô Phục Sinh hằng ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (xem Ga 14,16-31; 20,23; Mt 28,19-20).

1c- “…Xin Chúa dùng thừa tác vụ của Hội Thánh mà ban cho […] ơn tha thứ và bình an…”:

Ơn tha thứ và bình an, như đã phân tích ở trên, chỉ có thể có “trong”, “bởi” và “với” Đức Kitô cách uyên nguyên và “Thân Mình mầu nhiệm” của Ngài là Giáo Hội nhờ ân sủng được ban cho (hay “thừa tác”) - tức là do được Đức Kitô nhận “là” Mình - mà thôi. Tác vụ hòa giải và tha tội đích thực và toàn vẹn, như vậy, chỉ có thể được thực hiện bởi vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô và trong Giáo Hội là Thân Mình mầu nhiệm của Ngài mà thôi…

1d- “…Vậy, tôi tha tội cho […] nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần.”:

Cũng như trong mầu nhiệm ngôi hiệp, tuy là hai bản tính (thần tính và nhân tính), nhưng ở nơi Đức Kitô chỉ là một Ngôi Vị hay chỉ có một cái “TÔI” mà thôi, cũng vậy, cái “tôi” ở đây chỉ có thể là cái “tôi” trong ngôi vị Đức Kitô, cái “tôi” được nhận là “cái tôi thiên chúa”: chỉ trong điều kiện cái tôi thiên chúa như vậy (nghĩa là thuộc về cấu trúc hữu thể học) mới có thể có quyền tha tội (xem Mc 2,3-12).

Và, trên cơ sở mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi cùng tương ngụ trong nhau (inhabitation trinitaire), hành vi tha tội và hòa giải trong ngôi vị Đức Kitô hẳn đồng thời cũng phải là hành vi trong và bởi Mầu nhiệm Thiên Chúa-Ba Ngôi: được tha thứ bởi Thiên Chúa-Ba Ngôi và được hòa giải với Thiên Chúa-Ba Ngôi…

2-Cơ sở Thánh Kinh của việc tha tội bởi Thiên Chúa, bởi Con Người và của việc hòa giải với Thiên Chúa, với tha nhân, với thiên nhiên vũ trụ và với chính bản thân mình:

2a- Mc 2,3-12: “…[…]. ‘Ai nào có thể tha tội được, trừ phi là một mìmh Thiên Chúa?’.[…]. ‘Song để các ông biết Con Người có quyền tha tội dưới đất’.”

2b- Mt 16,19: “…Ta sẽ trao cho ngươi chìa khóa Nước Trời, và điều gì dưới đất ngươi cầm buộc, thì cũng sẽ bị cầm buộc trên trời, và điều gì dưới đất ngươi tháo cởi thì cũng sẽ được tháo cởi trên trời.”

Quyền năng tha tội không chỉ được ban cho Phêrô thôi mà còn cho toàn thể tông đồ đoàn (collège apostolique): “Quả thật, Ta bảo các ngươi: mọi điều dưới đất các ngươi cầm buộc, thì cũng sẽ bị cầm buộc trên trời , và mọi điều dưới đất các ngươi tháo cởi, thì cũng sẽ được tháo cởi trên trời.” ( xem Mt 18,18); và cho các môn đệ được qui tụ lại với nhau như một tập thể, một cộng đoàn: “… Nói thế rồi, Ngài thổi hơi trên họ và nói với họ: ‘Hãy chịu lấy Thánh thần. Các ngươi tha tội cho ai, thì tội họ được tha; các ngươi cầm giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ!’.” (Ga 20,23).

2c- Lc 15,11-32: “[…]. Hồi tâm lại, nó nói: Biết bao nhiêu người làm công cho cha tôi có dư thừa bánh ăn, còn tôi thì phải chết đói ở đây ! Thôi dậy ! tôi sẽ về cùng cha tôi, tôi sẽ nói với người: ‘Thưa cha, con đã trót phạm tội nghịch với Trời và với cha; con không còn đáng gọi là con cha nữa, xin xử với con như một người làm công của cha thôi’ (đối chiếu với St 3,1-24). […]. ‘Ta phải ăn khao mới được ! vì nầy con ta đây: nó đã chết mà lại hoàn sinh, đã mất đi mà lại tìm thấy được’.”

2d- Cl 1,18-20: “Ngài là đầu của Thân mình, tức là Hội thánh. Ngài là khởi nguyên, là trưởng tử giữa các vong nhân, ngõ hầu trong muôn sự Ngài là đệ nhất vô song! Vì chưng, Thiên Chúa đã quyết ý cho tất cả Viên mãn đậu lại trong Ngài. Và đã giảng hòa cả vạn vật nhờ Ngài và cho Ngài, đã ban lại bình an nhờ bửu huyết đổ ra nơi Thập giá của Ngài, cho mọi vật dù ở dưới đất hay ở trên trời !”

3-Một vài suy tư thần học

3a- Sự tha thứ “bởi” con người và sự tha thứ “bởi” Thiên Chúa:
Sự phân biệt và so sánh nầy thực ra chỉ có tính tương đối và vạn bất đắc dĩ mà thôi, cốt là để cho dễ hiểu và dễ nắm bắt hơn, bởi vì, nói theo ngôn ngữ thần học, tất cả mọi hiện hữu, mọi hành vi thánh thiện của con người đều chỉ có thể có được “trong” Thiên Chúa mà thôi (xem Rm 11,36; 1Cr 8,6; Cl 1,16tt). Khi nói tha thứ “bởi” con người là có ý nhấn mạnh khía cạnh hành vi tha thứ giữa con người với con người nói chung dù hành vi đó trên thực tế diễn ra trong Thiên Chúa. Còn khi nói tha thứ “bởi Thiên Chúa” là có ý nhấn mạnh sự tha thứ bởi vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật.

Trong ngôn ngữ Thánh Kinh có vẻ như có sự khác biệt giữa sự tha thứ nói chung giữa con người với nhau và với sự “tha tội” chỉ bởi Thiên Chúa mà thôi: tha thứ thì tất cả mọi người đều có bổn phận phải tha thứ (Mt 18,21; Lc 17,4; 11,4; v.v…), nhưng “tha tội” (quyền “cởi trói” và “cầm buộc”) thì có vẻ như chỉ những ai được ban cho “thẩm quyền tha tội” mới được tha tội (xem Mt 9, 6; Mc 2,10; Lc 5,24; Mt 12,31). Ngoài ra, việc con người có được Thiên Chúa tha tội như thế nào có phần còn tuỳ thuộc vào việc con người có tha thứ cho nhau hay không và như thế nào (xem Mt 6,12-15; 18,35; Mc 11,25-26).

3b- Thẩm quyền tha tội (quyền “cởi trói” và “cầm buộc”) của vị Linh mục thừa tác trong ngôi vị Đức Kitô:

Như đã lưu ý ở trên, mục 2b, chỉ có Thiên Chúa và Con Người, tức là chính Đức Kitô, vừa là Thiên Chúa thật vừa là con người thật mới có quyền tha tội: đó là Thẩm quyền nguyên thủy, do căn… Các thừa tác viên có chức thánh khác (trừ phó tế), kể từ Giáo hoàng, Hồng y, Giám mục, và Linh mục thừa tác chỉ có quyền tha tội trong ngôi vị Đức Kitô mà thôi, tức là do ân sủng được ban cho: “Chỉ có tư tế là thừa tác viên của bí tích Sám Hối” (GL. Khoản 965)…

Tuy nhiên, bởi vì Phêrô, vị Giáo hoàng tiên khởi và tông đồ đoàn (các hồng y và giám mục?) vốn được ban cho thẩm quyền nầy có lẽ không phải cách đầy đủ hơn và trọn vẹn hơn mà đúng hơn là vì phạm vi phục vụ của các ngài rộng lớn hơn và bao quát hơn (xem Mt 18,18; Ga 20,23), nên thẩm quyền của các ngài mang tính phổ quát hơn là các Linh mục thừa tác mà phạm vi phục vụ vốn là những cộng đoàn nhỏ bé hơn: điều nầy được phản ánh trong Bộ Giáo luật 1983 bao gồm các Khoản từ 965 đến hết 973… Đàng khác, có lẽ bởi vì một đàng để đề cao tầm quan trọng của Bí tích nầy và đàng khác để tránh những lạm dụng có thể xãy ra, Giáo luật Khoản 973 qui định: “Năng quyền giải tội thường xuyên phải được ban bằng văn bản”.

Ở đây, cần lưu ý là thẩm quyền tha tội mà vị Linh mục thừa tác có được là vì vị Linh mục thừa tác đó được hiệp nhất với Đức Kitô trong ngôi vị của Ngài và vì thế “trong cương vị của Đức Kitô” (“en raison d’être le Christ”) chứ không vì bất cứ lý do ngoại tại nào khác cả, thì dụ như những kiểu nói không thích hợp như: “vì thay mặt hay đại diện Đức Kitô” hoặc “vì được ủy quyền”, thậm chí cả những kiểu nói “đồng hình đồng dạng” hay “alter Christus”, v.v…

Năm Thánh Linh mục 2009
Linh mục Phêrô NGUYỄN THIÊN CUNG

Trích : gpphanthiet.net
dongcongnet 22-1-2010

 

 

 
     

Tỉnh Dòng Đồng Công Hoa Kỳ
1900 Grand Ave - Carthage, MO 64836
Phone: ( 417) 358-7787 Fax: (417) 358-9508
cmc@dongcong.net (văn phòng CD) - web@dongcong.net (webmaster)