Bài vở góp nhặt về Linh Mục, Giám Mục
TRUYỀN GIÁO (3)
JB. Trần Hữu Hạnh, fsf
2007
Bài 3
NGƯỜI GIÁO DÂN THỪA SAI
Chúa Giêsu đã truyền cho các môn đệ của Ngài: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ.” (Mt 28, 19) Do đó, sứ mệnh nền tảng của Giáo hội luôn luôn là, và mãi mãi sẽ là, loan báo Tin mừng cho những người chưa từng được nghe. Không một Kitô hữu nào, không một tổ chức nào của Giáo hội có thể tránh né nhiệm vụ trên hết này: loan báo Chúa Kitô cho tất cả mọi người (x. RM 3).
Truyền giáo là bổn phận của mọi Kitô hữu (linh mục, tu sĩ và giáo dân), vì ơn gọi làm Kitô hữu tự bản chất cũng là ơn gọi làm tông đồ (AA 2). Trong Giáo Hội, có nhiều nhiệm vụ khác nhau, nhưng đều cùng chung một sứ mệnh. Tuy nhiên, người giáo dân thường không nhận ra ơn gọi và sứ vụ của họ. Họ nghĩ rằng việc truyền giáo là của linh mục và tu sĩ, nên đa số họ rất thờ ơ với việc loan báo Tin mừng.
1. Ơn gọi và sứ mệnh của người giáo dân
Tông Huấn “Christifideles laici” (Kitô hữu giáo dân) nói về nền tảng của ơn gọi và sứ mệnh của người tín hữu: qua Phép rửa, người tín hữu được thông dự vào mầu nhiệm của Giáo hội. Họ trở thành con của Chúa (số 11), chi thể của Chúa Kitô (số 12), được thánh hiến làm Đền thờ của Thánh Thần (số 13). Là chi thể của Đức Kitô, họ được thông dự vào ba chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả (số 14). Là Đền thờ của Thánh Thần, họ được thúc đẩy nên thánh qua việc phát triển các hoa trái của Thánh Thần (số 16).
Thật vậy, người giáo dân có những nhiệm vụ khác nhau và họ cũng được kêu gọi nên thánh trong bậc sống của họ. Mỗi Kitô hữu nhận được một ân sủng của Thánh Thần vì lợi ích chung (x. 1Cr 12, 7). Giáo dân có ơn gọi và sứ vụ riêng, đó là sứ vụ giữa đời. Họ hiện diện khắp nơi, nhất là những nơi mà hàng giáo sĩ và tu sĩ không thể hiện diện được. Công đồng Vatican II cũng trình bày một cách rõ ràng về ơn gọi và sứ vụ của người giáo dân: “Những Kitô hữu được tháp nhập vào Thân thể Chúa Kitô nhờ phép Thánh Tẩy, đã trở nên dân Thiên Chúa và tham dự vào chức vụ tư tế, tiên tri và vương giả của Chúa Kitô theo cách thức của họ… Vì ơn gọi riêng, giáo dân có bổn phận tìm kiếm nước Thiên Chúa bằng cách làm các việc trần thế và xếp đặt chúng theo ý Thiên Chúa. Họ sống giữa trần gian, nghĩa là giữa tất cả cũng như từng công việc và bổn phận của trần thế, giữa những cảnh sống thường ngày trong gia đình và ngoài xã hội; tất cả những điều đó như dệt thành cuộc sống của họ. Ðó là nơi Thiên Chúa gọi họ, để dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm, như men từ bên trong, họ thánh hóa thế giới bằng việc thi hành những nhiệm vụ của mình; và như thế, với lòng tin cậy mến sáng ngời, và nhất là với bằng chứng đời sống, họ tỏ lộ Chúa Kitô cho kẻ khác, vì thế, họ có nhiệm vụ đặc biệt soi sáng và xếp đặt những thực tại trần gian có liên hệ mật thiết với họ, để chúng không ngừng phát triển và bành trướng theo Thánh Ý Chúa Kitô, hầu ca tụng Ðấng Tạo Hóa và Ðấng Cứu Ðộ.” (LG 31; x. Can 204)
Trong Giáo Hội, mọi người đều có phẩm giá ngang nhau, dù chức năng có khác nhau: “Chỉ có một Thiên Chúa, một đức tin, một Phép Rửa, một dân riêng của Thiên Chúa, cùng chung một phẩm giá của những chi thể đã được tái sinh trong Đức Kitô, cùng có một ân huệ làm con cái Thiên chúa, một ơn gọi nên trọn lành , một ơn cứu độ và một niềm hy vọng duy nhất và một đức ái không phân chia . Vì thế trong Đức Kitô và trong Giáo hội không có sự hơn kém về nguồn gốc hay dân tộc, vì địa vị xã hội hoặc vì nam nữ.” (LG 32).
Công đồng còn đề cao vai trò của người giáo dân trong sứ mệnh loan báo Tin mừng: “Người giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo hội hiện diện và hoạt động nơi và trong những hoàn cảnh mà nếu không có họ, Giáo hội sẽ không trở thành muối của thế gian. Như thế, vì những ân huệ đã lãnh nhận, mọi giáo dân vừa là chứng nhân vừa là dụng cụ sống động cho chính sứ mệnh của Giáo hội.” (LG 33) Người giáo dân sống và làm việc với những người tin của các tôn giáo khác trong mọi lãnh vực của cuộc sống. Do đó, “nhiệm vụ cao cả của mọi giáo dân là làm cho ý định cứu độ của Thiên Chúa ngày càng lan tới tất cả mọi người ở mọi nơi và mọi thời đại. Vì thế, khắp nơi phải mở đường cho họ tích cực tham gia vào công cuộc cứu độ của Giáo hội, tùy sức lực họ và tùy nhu cầu của thời đại.” (LG 33) Các kitô hữu giáo dân giữ một phần cá biệt và thiết yếu trong sứ mệnh của Giáo Hội (AA 1). Bộ Giáo luật cũng nói lên tầm quan trọng của họ: “Xét vì các giáo dân, cũng như mọi tín hữu khác, được Thiên Chúa ủy thác làm việc tông đồ, do Phép Rửa Tội và Phép Thêm Sức, nên họ có nghĩa vụ tổng quát và có quyền lợi xét như từng cá nhân hoặc kết hợp thành hiệp hội, phải làm sao để sứ điệp cứu rỗi của Thiên Chúa được mọi người khắp thế giới biết đến và đón nhận. Nghĩa vụ này lại càng thôi thúc hơn trong những hoàn cảnh mà chỉ có thể nhờ các giáo dân, người ta mới có thể nghe Phúc âm và biết Ðức Kitô.” (Can 225 §1)
Trong Tông huấn Kitô hữu giáo dân, Ðức Gioan Phaolô II cũng nhấn mạnh đến vai trò của người giáo dân trong Giáo hội và trong thế giới hôm nay: “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho!” Lời mời gọi này không chỉ là việc của các mục tử, các giáo sĩ và tu sĩ. Ðó là lời mời gọi mọi tín hữu: hết mọi giáo dân cũng đều được Chúa mời gọi và sai đi làm việc ở trong vườn nho của Ðức Kitô tức Giáo Hội và ở giữa thế gian” (CL 2). Ngài nhận định tiếp: “Trong hoàn cảnh hiện tại, các giáo dân có khả năng để hoạt động trong nhiều công tác và nhiều lãnh vực; vì thế, họ phải tận lực hoạt động cho giáo xứ để củng cố niềm hiệp thông trung thực và đánh thức lòng nhiệt thành truyền giáo cho lương dân, cũng như lòng tin của các tín hữu đã bỏ đạo hoặc sống đạo thờ ơ” (CL 27).
Tông huấn Giáo hội tại Á Châu cũng khẳng định: “Hơn ai hết, họ chính là những người được mời gọi biến đổi xã hội, cộng tác với các Giám mục, linh mục và tu sĩ, bằng cách đưa ‘tinh thần của Chúa Kitô’ vào trong não trạng, tập quán, luật lệ và cơ chế của thế giới mà trong đó họ đang sống.” (EA 22). “Do ân sủng và tiếng gọi của bí tích Rửa Tội và Thêm sức, tất cả các giáo dân đều là thừa sai; và môi trường hoạt động tông đồ của họ là những lãnh vực mênh mông và phức tạp, từ chính trị, kinh tế, kỹ nghệ, giáo dục, truyền thông, khoa học, cho đến kỹ thuật và thể thao.” (EA 45)
Các văn kiện của Liên hiệp các Hội đồng Giám mục Châu Á (FABC) đều lưu tâm đến vai trò của giáo dân. Người giáo dân là thừa sai số một trong lãnh vực văn hóa và trong toàn bộ cơ cấu đời sống xã hội (FABC 5 -Bandung, 17-27 tháng 7, 1990, 5.1).
Bởi đó, “Thánh Công đồng nhân danh Thiên Chúa tha thiết khuyên nhủ tất cả giáo dân, hưởng ứng sự thúc đẩy của Thánh Thần, hãy mau mắn, quảng đại và hy sinh đáp lại tiếng gọi của Đức Kitô giờ đây đang tha thiết kêu mời họ… Quả thật, chính Chúa một lần nữa nhờ Thánh Công Đồng này, mời gọi tất cả các giáo dân hãy kết hiệp với Người ngày một mật thiết hơn và nhận thức được những gì của Người cũng là của chính mình ( Pl 2,5), họ hãy tham gia vào sứ mạng cứu rỗi của chính Người và một lần nữa Người sai họ đi tới các thành và những nơi Người sẽ đến” (AA 33).
Tóm lại, nhờ lãnh nhận bí tích Rửa tội và Thêm sức, mỗi tín hữu được trở thành con cái Chúa, trở thành chi thể trong Thân thể Chúa Kitô, được Chúa sai làm tông đồ. Thêm vào đó, các bí tích, nhất là bí tích Thánh thể- linh hồn của mọi hoạt động tông đồ, thông ban và nuôi dưỡng trong họ đức ái đối với Thiên Chúa và đối với loài người.
2. Đào tạo cho sứ mệnh của người giáo dân
“Giáo hội chưa được thiết lập thực sự, chưa sống đầy đủ, cũng chưa là dấu chỉ tuyệt hảo của Chúa Ki-tô giữa loài người nếu như chưa có hàng giáo dân đích thực và nếu hàng giáo dân này chưa cùng làm việc với hàng Giáo phẩm. Thật vậy, Phúc âm không thể đi sâu vào tinh thần, đời sống và sinh hoạt của một dân tộc nếu không có sự hiện diện linh hoạt của giáo dân. Do đó, ngay khi thiết lập, Giáo hội phải hết sức chú tâm đến việc đào tạo một hàng giáo dân Kitô giáo trưởng thành.” (AG 21).
Vì thế, người giáo dân cần được học hỏi giáo huấn của Giáo hội về xã hội liên quan đến các vấn đề như ơn gọi, phẩm giá và sứ vụ của người Kitô hữu; đời sống nhân loại; gia đình; xã hội. Giáo hội cần quan tâm vào việc đào tạo những người giáo dân trưởng thành và dấn thân, biết làm men làm muối, bênh vực công lý, xây dựng hòa bình, hòa giải. Giúp họ thực thi sứ mạng loan báo Tin Mừng trong các môi trường xã hội, nhất là trong một số môi trường mà chỉ có họ mới có thể hiện diện.
Việc đào tạo về Kinh thánh phải được xem như là một phương tiện thiết yếu để giáo dục họ trong đức tin và trang bị cho công việc loan báo Tin mừng của họ (x. EA 22). Do đó, việc đào tạo giúp người giáo dân theo một “tiến trình trưởng thành liên tục của cá nhân trong đức tin và là một tiến trình nên giống Đức Kitô, theo ý muốn của Chúa Cha, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần” (CL 57). Kế đó, việc đào tạo giúp họ trở thành người giáo dân đích thực và trưởng thành; nghĩa là giúp họ khám phá ra ơn gọi và sứ vụ của họ, tích cực sống ơn gọi và chu toàn sứ vụ ấy (x. CL 58). Đó là hàng giáo dân có khả năng và điều kiện để cùng làm việc, cộng tác và đồng trách nhiệm (chứ không phải chỉ là những người thừa hành) với các chủ chăn để thực thi sứ mạng mà Chúa Giêsu trao phó cho toàn Giáo hội.
Ðược Thánh Thần ban sức mạnh và nhờ các bí tích cũng cố, người giáo dân sẽ dấn thân vào trong cuộc sống và sứ mệnh của Giáo Hội, đem Tin mừng của Chúa Giêsu áp dụng vào trong mọi môi trường sống của mình. “Các kitô hữu đã được đào tạo đầy đủ sẽ thành thừa sai đối với bạn đồng cảnh của mình: thanh niên thì phúc âm hóa thanh niên, công nhân thì phúc âm hóa công nhân, chuyên nghiệp thì phúc âm hóa các bạn đồng nghiệp, công chức thì phúc âm hóa công chức, gia đình thì phúc âm hóa gia đình; và như thế, tất cả sẽ trở thành men để biến đổi xã hội Châu Á” (FABC 5 -Bandung, 17-27 tháng 7, 1990, 5.2).
Tông huấn Giáo hội tại Á Châu khuyến khích thành lập và đào tạo những Cộng đoàn Giáo hội cơ bản (Basic Ecclesial Community: BEC). Đây là cách thể hiện mới của Giáo hội. Nó cung cấp cho người giáo dân cảm giác thuộc về Giáo hội, khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động của Giáo hội, giúp họ nhận ra sự hoạt động của Chúa Thánh Thần trong đời sống hằng ngày của họ. Họ tập họp cùng nhau trong những nhóm nhỏ, cử hành Lời Chúa và Thánh Thể để họ có thể nuôi dưỡng ý thức về cộng đoàn và tông đồ. Đó chính là chất men làm biến đổi thế giới của chúng ta.[36] “Các Cộng đoàn Giáo hội Cơ Bản như một phương thế hữu hiệu đẩy mạnh sự hiệp thông và cộng tác trong các giáo xứ và giáo phận, và như một lực lượng thực sự cho công cuộc Phúc âm hóa. Những tập thể nhỏ bé này sẽ giúp các tín hữu sống thành những Cộng đoàn Đức Tin, cầu nguyện và yêu thương như các Kitô hữu đầu tiên (x. Cv 2, 44-47; 4, 32-35). Các Cộng đoàn này còn giúp các thành viên sống Tin Mừng trong tinh thần yêu thương huynh đệ và phục vụ, từ đó trở thành khởi điểm vững chắc cho một xã hội mới, biểu hiện một nền văn minh tình thương. Cùng với Thượng Hội Đồng, tôi khuyến khích Giáo hội tại Á châu, chỗ nào có thể được, hãy coi các Cộng đoàn cơ bản ấy như một nét tích cực trong công tác Phúc âm hóa của Giáo hội.” (EA 25).
Trong thời đại chúng ta, người giáo dân đóng vai trò chủ đạo trong sứ mệnh loan báo Tin mừng và tân Phúc âm hóa. Qua các đặc sủng của họ, họ tích cực loan báo Tin mừng cho toàn thế giới qua con đường đối thoại bằng đời sống, mang sứ điệp của Tin mừng đến khắp mọi nơi. Giáo hội tại Á Châu phải là Giáo hội tham gia (Participatory Church) mà trong đó không ai cảm thấy bị loại trừ (x. EA 45). Toàn bộ Giáo hội được sai đi để loan báo và phục vụ nước Thiên Chúa. Tất cả các thành viên của Giáo hội đều có trách nhiệm xây dựng Giáo hội và chia sẻ toàn bộ sứ vụ của Chúa Kitô. Thật vậy, chúng ta là Giáo hội. Đó là cộng đoàn con cái Thiên Chúa, cùng là môn đệ của Chúa Kitô nhờ Chúa Thánh Thần. Vì vậy, sự hiệp thông trong cộng đoàn và sứ vụ phải liên kết và thúc đẩy lẫn nhau. Trong Châu Á ngày nay, Chúa Thánh Thần đang thúc giục những môn đệ của Chúa Kitô sống và làm chứng về sự hiệp nhất trong Giáo hội địa phương, đặc biệt là tại lãnh vực giáo xứ, xây dựng một Giáo hội tham gia mà trong đó các Giám mục, linh mục, tu sĩ và giáo dân cùng hiệp thông, chia sẻ, hợp tác và đồng trách nhiệm trong sứ vụ loan báo Tin mừng.[37]
(tiếp bài 4).
Lm JB Trần Hữu Hạnh fsf. -Trong giaosivietnam