Dầu dừa : vũ khí mới chống lại bệnh tim (3)

DẦU DỪA: VŨ KHÍ MỚI CHỐNG LẠI BỆNH TIM (03)
Trích: “The Coconut Oil Micracle” by Dr. Bruce Fife
Kim Tuyến chuyển ngữ

8-VIÊM MÃN TÍNH VÀ XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH

Một điều tra nghiên cứu gia tăng sự chú ý là liên hệ giữa viêm mãn tính và xơ vữa động mạch. Dường như có một tương quan nhân-quả giữa viêm mãn tính nhẹ và bệnh tim. Nhiều nghiên cứu đã tường trình sự liên hệ giữa bệnh tim và nhiễm vi khuẩn hay virút mãn tính.
-Trong thập niên 1970, các nhà nghiên cứu đã nhận ra sự phát triển xơ vữa động mạch trong máu của những con gà bị nhiễm virút herpes.
-Thập niên 1980 kết quả tương tự nơi người tường trình với nhiễm các loại khuẩn như: Helicobacter pylori, Chlamydia pneumoniae, và các loại virút herpes khác đặc biệt là virút cytomegalo. Ví dụ: Petra Saikku và đồng nghiệp tìm thấy 27 trong 40 người bị nhồi máu cơ tim và 15 trong 30 người bị bệnh tim có chất kháng thể với chlamydia là virút gây bệnh lợi răng và viêm phổi.----
-Các nhà nghiên cứu ở Baylor College of Medicine ở Houston, tiểu bang Texas, tìm thấy 70% bệnh nhân giải phẫu vì xơ vữa động mạch có kháng thể với cytomegalovirus (CMV), một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp.----
-Những năm đầu thập niên 1990, các nhà nghiên cứu tìm thấy những mảnh của vi khuẩn trong mãng của động mạch. Brent Muhlestein và đồng nghiệp , bác sĩ tim mạch của LDS Hospital tại Salt lake City và University of Utah đã tìm thấy chlamydia trong 79% mãng (speciment) trong động mạch vành của 90 bệnh nhân. Trong số những người bình thường thì có đến gần 4% là có chlamadia trong vành mạch rồi. Muhlestein chứng minh rằng thỏ bị nhiễm chlamadia có mạch vành bị dầy. Khi cho thỏ uống thuốc kháng sinh để diệt chlamadia, mạch máu trở lại bình thường. Có ít nhất 50% người trưởng thành ở các nước thứ ba có kháng thể với Helicobacter pylori, Chlamydia pnemoniae, hay cytomegalovirus (CMV).

Sự hiện diện của kháng thể không nhất thiết nói lên tình trạng nhiễm trùng dương tính hay sự hình thành của xơ vữa động mạch. Nó là dấu hiệu cho biết sự nhiễm trùng đã xảy ra ở giai đoạn nào đó. Ví dụ: herpes là virút ẩn sinh trong cơ thể chúng ta. Khi hệ miễn nhiễm yếu đi thì virút tấn công gây nhiễm trùng. Khi vào máu, chúng chúng có thể tấn công vành mạch, gây viêm mãn tính nhẹ với dấu hiệu không rõ rệt. Khi chúng định cư ở vành mạch, chúng gây thương tổn các tế bào mạch vành. Để chữa lành tình trạng thương tổn đó, các mãng trong máu, cholesterol, và protein kết hợp lại ở mạch vành, hình thành mãng và xơ vữa động mạch. Một khi nhiễm trùng và viêm còn tồn tại, mãng tiếp tục phát triển. Như vậy nhiễm trùng có thể kích thích và làm tăng tiến sự phát triển của xơ vữa động mạch dẫn tới bệnh tim.
Cho tới lúc này, các nhà nghiên cứu chưa sẵn sàng để kết luận rằng nhiễm trùng là nguyên nhân cho mọi trường hợp mắc bệnh tim. Những yếu tố khác ( gốc tự do, cao máu, tiểu đường, v.v…) cũng có thể gây tổn thương cho mạch vành và kích thích sự hình thành mãng xơ vữa. Và không phải mọi nhiễm trùng đều gây xơ vữa động mạch. Chỉ khi nào hệ miễn nhiễm suy yếu thì nguy cơ này mới xảy ra. Những tác nhân có thể làm suy yếu hệ miễn nhiễm như bệnh nặng, ăn uống thiếu dinh dưỡng, hút hay ngửi khói thuốc, trầm cảm, thiếu vận động, cũng có thể mở đường cho viêm mãn tính nhẹ, có thể dẫn đến xơ vữa động mạch.

Chúng ta biết rằng trong một số trường hợp, bệnh tim có thể được điều trị với thuốc kháng sinh. Nhưng thuốc kháng sinh chỉ diệt được vi khuẩn, nếu nhiễm trùng do virus, nhiễm trùng vẫn tồn tại. Tuy nhiên, ABctb hay dầu dừa có thể hủy diệt được cả vi khuẩn (Helicobacter pylori và Chlamydia pneumoniae) và virus (CMV) có liên hệ đến xơ vữa động mạch. Đúng vậy, dù bạn tin hay không tin, ABctb trong dầu dừa được biết là diệt được cả ba loại chính của vi sinh vật gây xơ vữa động mạch. Những acid béo đặc biệt này vô hại cho chúng ta, nhưng trái lại chúng cung cấp chất dinh dưỡng và năng lượng, hơn thế nữa lại tiêu diệt vi sinh vật gây nhiễm trùng và bệnh. Nghiên cứu đã chứng minh rằng ABctb trong dầu dừa có thể diệt vi khuẩn và virút gây cúm, herpes, nhiễm trùng đường tiểu, bệnh lợi răng, và nhiều bệnh khác. Dầu dừa cung cấp phương cách an toàn và hữu hiệu để phòng ngừa và ngay cả vượt qua bệnh thông thường.

9-TỔN THƯƠNG DO GỐC TỰ DO

Một nguyên nhân chính khác gây tổn thương cho động mạch dẫn đến xơ vữa động mạch là gốc tự do. Những gốc tự do này, được tìm thấy trong khói thuốc, ô nhiễm không khí, và nhiều chất trong thực phẩm và môi trường, chúng có thể gây tổn thương cho tế bào và mô bất cứ nơi nào mà chúng được cho phép lan tỏa đến. Thức ăn có nhiều nguy cơ cho tim mạch là chất béo bị oxy-hóa, chất béo bị ôi và dầu tinh luyện bị biến chất do chất kháng oxy-hóa tự nhiên. Chất béo bị oxy-hóa có rất nhiều trong thức ăn hiện đại, đặc biệt nơi các loại dầu thực vật và chúng đã được phát hiện tích tụ nhiếu ở mãng xơ vữa trong máu.

Cách duy nhất ngăn chặn gốc tự do là dùng chất kháng oxy-hóa. Đây là những phân tửtrung hòa gốc tự do, khiến chúng trở nên vô hại. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh thức ăn với nhiều trái cây và rau cải giàu chất kháng oxy-hóa ( vitamin A, C, E, và beta-carotene ), chúng làm giảm nguy cơ bệnh tim và đột quỵ. Nếu chất kháng oxy-hóa có sẵn trong máu, chúng có thể bảo vệ các động mạch không bị tổn thương bởi gốc tự do và làm giảm nguy cơ bệnh tim.

Có nhiều chất kháng oxy-hóa trong trái cây và rau tươi, nhưng phần đông người ta ăn không đủ lượng để cung cấp sự bào vệ cơ thể. Bổ sung thuốc kháng oxy-hóa có thể giúp cải thiện vấn nạn này, và dầu dừa cũng tác dụng tương tự. Khác hẳn với các loại dầu thực vật khác, dầu dừa có cấu trúc hóa học rất bền vững và rất khó bị oxy hóa.

Thực tế, dầu dừa đề kháng lại sự tấn công của oxy-hóa, giúp cho các loại dầu khác không bị oxy-hóa. Dầu dừa bảo vệ tim mạch không bị tổn thương do vi khuẩn, virút, và gốc tự do bằng cách gỡ bỏ những nguyên nhân gây tổn thương mạch máu, dầu dừa phòng ngừa những tổn thương lan rộng, thúc đẩy tiến trình chữa lành vành mạch, vì vậy không chỉ làm giảm nguy cơ gây bệnh tim mà thực sự còn làm tăng sự chữa lành nữa.

10- SỨC KHỎE CỦA RĂNG VÀ BỆNH TIM

Chìa khóa để tìm ra chế độ dinh dưỡng lý tưởng là nhìn vào tỉ lệ dân số ít bị bệnh nặng kéo dài, kể cả sâu răng và bệnh về lợi. Nhờ có công việc tiên phong của bác sĩ Weston A. Price mà chúng ta có được những tài liệu về những xã hội khỏe mạnh và thực phẩm họ dùng.

Bác sĩ Price đã trải qua một thập kỷ đi khắp thế giới, tìm và nghiên cứu những giống dân này. Ông đi tới những vùng thung lũng xa xôi trong dãy núi Alpes Thụy Sĩ, vùng ngoại vi và nội địa  Hebrides ngoài khơi Tô-cách-lan, thăm viếng những ngôi làng người Eskimo ở Alaska, những thổ dân Mỹ tại miền trung và miền bắc Canada và Florida, người Melanesian và người Polynesian ở vô số đảo tại nam Thái Bình Dương, các bộ tộc miền đông và trung Phi, thổ dân Úc, các bộ tộc Malay ở trên các đảo miền bắc nước Úc, giống dân Maori ở Tân-tây-lan, và người da đỏ Nam Mỹ ở Pê-ru và Vùng lòng chảo Amazon.

Khi bác sĩ Price đến một khu vực nào đó, ông thường khám sức khỏe cho dân chúng, đặc biệt là răng, và ghi chú cẩn thận thức ăn họ dùng, phân tích tỉ mỉ chất dinh dưỡng có trong khẩu phần ăn. Những mẫu thức ăn được gửi tới phòng thí nghiệm nơi thực hiện những phân tích chi tiết. Chẳng cần nhiều thời gian, ông cũng đã nhận ra sự tương phản về sức khỏe giữa những người ăn thức ăn truyền thống với những người ăn thức ăn hiện đại trong chế độ dinh dưỡng của mình.

Bất cứ nơi nào người ta dùng thức ăn truyền thống, ông ghi nhận rằng cả sức khỏe về răng và toàn thân đều tốt, trong khi những người dùng thức ăn hiện đại , sức khỏe đều bị suy giảm. Khi thiếu sự chăm sóc y tế hiện đại, thì sự suy giảm sức khỏe đó lại càng rõ nét. Những bệnh về răng, cũng như nhiễm trùng và những căn bệnh hiểm nghèo khác như viêm khớp, lao phổi, rất phổ biến trong nhóm người dùng thức ăn phương tây.

Nói về những người dân sống sâu trong đảo, bác sĩ ghi nhận: “Có sự phát triển về thể chất, kể hàm răng rất có thứ tự đều đặn.”  Một so sánh giữa những người sống gần hải cảng với những người sống ở các khu vực hẻo lánh cho thấy có tỉ lệ gia tăng rõ rệt đối với các trường hợp sâu răng. Đối với những người sống chủ yếu dựa vào thức ăn địa phương thì tỉ lệ sâu răng chỉ là 0,14%, trong khi đó những người sống bằng thức ăn mua bán trên thị trường thì tỉ lệ là 26%. Ông còn tiếp tục với nhận xét là có những căn bệnh hiểm nghèo đang lần lần phát triển quanh khu hải cảng.

Không cần phải có một thay đổi to lớn trong chế độ ăn uống thì mới phát sinh ra những căn bệnh nguy hiểm, mà chỉ cần thêm vào một vài sản phẩm thương mại là đã đủ, những sản phẩm này đã thay chỗ cho thức ăn dinh dưỡng. Đó là những thức ăn nhập cảng thông thường như : bột trắng, gạo trắng, đường, và thực phẩm đóng hộp.

Trong những nhóm đối tượng nghiên cứu thì số người dùng thực phẩm truyền thống bị sâu răng chỉ là 0,78% (chưa tới 8 trường hợp trong 1000 trường hợp), trong khi những người ăn thực phẩm phương tây bị sâu răng là hơn 33% (333 người trong 1000 trường hợp). Những người ăn thực phẩm hiện đại thì có tới 90-100% bị sâu răng. Hàm răng chắc khỏe của họ là kết quả trực tiếp của chế độ ăn uống tốt. Tình trạng răng của họ rõ ràng là phản ánh được sức khỏe thể chất toàn diện của họ.

Dừa là nguồn thực phẩm chính của tất cả dân chúng trên đảo. Số lượng chất béo (từ dừa) trong bữa ăn cao hơn của người Tây phương nhiều, nhưng cả sức khỏe của răng lẫn sức khỏe toàn diện đều rất tốt. Qua nghiên cứu của bác sĩ Price, chúng ta thấy dừa và dầu dừa không gây hại chút nào cả, trái lại dừa đã cho dân trên dảo sức khỏe tuyệt vời so với đa số chúng ta.

www.dongcong.net