| |
Rev.
Stefanô, OFM- Phỏng dịch: Đồng Tâm, CMC |
|
Phụ
chương
·
Phép lạ Thánh
Thể tại Lancianô, nước Ý
·
Phép lạ Mình
và Máu Chúa Kitô
·
Phép lạ Thánh
Thể Offiđa
·
Phép lạ Thánh
Thể tại Walldurn, nước Đức,
năm 1330
·
Phép lạ Thánh
Thể tại làng Santaren, nước Bồ Đào
Nha
·
Phép lạ Thánh
Thể tại làng Bois Isaac, nước Bỉ
·
Thánh Thể
biến mất tại xứ Bùi Thái, Việt Nam
1.
Phép lạ Thánh Thể tại Lanciano, nước
Ý:
Linh
mục nghi ngờ!
Tại
thành phố Anxanum hiện nay còn giữ từ
mười hai thế kỷ qua, một phép lạ
vĩ đại của đạo Công giáo. Vào
hồi thứ kỷ thứ 8, trong ngôi nhà thờ
nhỏ kính thánh Legontian, có một cha Dòng thánh Basiliô
đã hồ nghi không biết Chúa Giêsu có thật
trong phép Thánh Thể hay không!
Khi
linh mục này dâng lễ, sau lời Truyền phép,
bánh đã trở nên thịt và rượu đã
trở nên máu, đông đặc lại thành năm
hột nhỏ theo hình dáng đặc biệt.
Bánh
Thánh Thịt ấy đã được giữ
rất cẩn thận tới ngày nay, cũng có
kích thước lớn như bánh được
Giáo hội quen dùng. Bánh có màu nâu nhạt, và trở
thành màu hồng khi chiếu ánh sáng từ phía sau
dội lại. Máu thì đông lại và ngả
màu đất, vàng vàng như màu đất thô.
Từ năm 1713, Thịt được lưu
giữ trong một Mặt nhật bằng bạc
chạm trổ nghệ thuật, do một nghệ
thuật gia tại thành Neapoli chạm trổ,
máu được đựng trong chén kiểu
nghệ thuật xưa bằng đá phalê trong
suốt.
Các
cha Dòng anh em Hèn mọn thánh Phanxicô đã phục
vụ thánh đường này từ năm 1252
theo lời của Giám mục Landulf, và của
Toà thánh vào năm 1252.
Từ
năm 1574, Mình và Máu Thánh đã được
khảo nghiệm nhiều lần để xác
định tính chất chân thực.
Năm
1970, một cuộc khảo nghiệm gồm một
số khoa học gia nổi danh như giáo sư
Odoardo thuộc viện lịch sử chữa
trị và bệnh lý và Bệnh viện Vi trùng và
Hoá học, cùng với giáo sư Ruggero Bertelli thuộc
đại học Siêna phụ giúp khảo sát.
Cuộc
khảo sát đã đưa đến những
quả quyết khoa học tuyệt đối
không thể chối cãi và trở thành tài liệu
với những bức hình chụp bằng ống
kính hiển vi tinh xảo, có thể giúp ích cho việc
tôn thờ công cộng. Giáo sư Lioni trong một
cuộc họp vào ngày 4 tháng ba năm 1971 tại
nhà thờ có phép lạ đã đưa ra những
kết luận sau:
- Thịt là thịt thật và Máu là máu thật.
- Thịt thành bởi các thớ thịt tim.
- Thịt và Máu là thịt và máu loài người.
- Thịt và Máu cùng một loại AB.
- Trong máu cũng có những khoáng chất như
chlorides, lân tinh, manhê, kali, muối biển và vôi.
- Sự lưu trữ Thịt và Máu trong mười
hai thế kỷ qua là lưu trữ cách tự
nhiên, không bằng chất hoá học, giữ trong
không khí thường và môi trường sinh vật
mà vẫn được gìn giữ trong hiện
tượng khác thường.
Khoa
học quả quyết rằng, sau khi đã được
khám nghiệm, đã có câu trả lời chắc
chắn và thoả đáng xác nhận tính cách chân
thực của Phép lạ Thánh Thể tại Lancianô.
Những
lời quả quyết trên đây được
Giáo quyền xác nhận trong một cuốn sách
nhỏ có chuẩn ấn của Đức Cha
Leopoldo Teofili, Tổng Giám mục Lancianô.
2.
PHÉP LẠ MÌNH VÀ MÁU CHÚA KITÔ:
Máu
Thánh chảy trên khăn thánh
Balano
là một làng ẩn núp tại trung tâm đất
Pháp, thuộc tỉnh Côte d’Or (Bờ biển vàng).
Blanot vào năm 1331, không có tên trong bản đồ
Nước Pháp. Dù vậy, nó cũng khá quan trọng
để Chúa chọn nơi vô danh này tỏ mình
Ngài ra và biến Blanot thành nơi danh tiếng.
Ánh
sáng mặt trời toả chiếu trên Blanot vào
buổi sáng Chúa nhật Phục sinh năm 1331
chưa đủ để sưởi ấm
nông thôn. Mùa đông đã tiêu hao hết nhiên liệu
mà mùa xuân vẫn còn lừng khừng chưa muốn
khoe sắc. Giáo dân trong cộng đoàn, không quản
ngại giá lạnh, đã đến tham dự
Thánh lễ đầu tiên Mừng Chúa Phục
Sinh, đây quả là một hành động hy
sinh hiếm có. Họ bị đánh thức khỏi
sự ngái ngủ ban mai do những cơn gió mãnh
liệt. Mặc dầu những bức tường
nhà thờ chắn được luồng gió,
nhưng vẫn không cung cấp đủ sức
ấm chống với cơn lạnh. Nhà thờ
cũng trống trơn chẳng có gì có thể
giảm bớt giá buốt. Những người
này thật là những Kitô hữu đích danh. Không
có gì ngăn cản họ ca tụng Thiên Chúa và
tán tạ ơn Ngài, vì Ngài đã ban cho họ Ơn
Cứu Chuộc.
Sáu
giờ sáng, Cha Hugô de Baulmes, linh mục chánh xứ
đang cử hành Thánh Lễ. Cử chỉ của
ngài phản chiếu thái độ ngái ngủ
lạnh lẽo của giáo dân. Ngài cũng cảm
thấy lành lạnh, đôi khi ngam ngáp vì thiếu
ngủ, nhưng ngài rất vui vẻ và hãnh diện
được cử hành Thánh Lễ đầu
tiên của Mùa Phục Sinh. Thật ra, dâng Thánh
Lễ Chúa Nhật Phục Sinh là một vinh dự
to lớn, mặc dầu phải hy sinh không ít.
Bởi thế mà giáo dân đã khen ngợi cha xứ
hết mình. Ngài hướng dẫn cộng đoàn
qua những bài thánh ca tán tụng Chúa, hát lên lời
ca “Alleuia” nhiều lần.
Điểm
nổi bật trong ngày đại lễ Mừng
Chúa Phục Sinh, cũng như trong các Thánh Lễ,
là việc lãnh nhận Mình Chúa Kitô. Khi linh mục
truyền phép bánh và rượu, ngài nhớ lại
hai ngày vừa qua (Thứ Sáu và Thứ bảy Tuần
Thánh), khi Giáo Hội, coi như đã chết vì
không còn một sinh hoạt nào. Ngài quan niệm
Mùa Chay rất nghiêm ngặt. Thứ Sáu Tuần
Thánh, khi Chúa Giêsu chết trên Thánh Giá, Giáo hội
đã đi vào một trạng thái tối tăm,
và Giáo Hội không ra khỏi trạng thái ấy
cho tới bây giờ, là sáng sớm của ngày
thứ ba, ngày Chúa Phục Sinh.
Khi
Hiệp Lễ, giáo dân quì nơi bao lơn để
đón nhận Chúa Giêsu trong Bánh Thánh Thể. Cha
Hugô đang cho rước Thánh Thể, thì một
trong những người chịu lễ là bà goá
d’Effours, chưa rước hẳn Mình Thánh vào
trong miệng, bà đã ngậm chặt lại,
để tránh cho Thánh Thể không bị rơi
xuống đất. Thế mà, một mảnh
nhỏ của Bánh Thánh bị bể ra, và rơi
xuống. Chú giúp lễ tên là Tômas Caillot đã hứng
được mảnh Bánh Thánh đó trên tấm
khăn chén. Đây là một mảnh vải gai,
vuông khoảng 5 inches, gấp lại hai ba lần,
được hồ cứng, thông thường
dùng để đậy chén thánh. Tấm khăn
chén cũng được dùng để hứng
dưới cằm những người chịu
lễ, đề phòng khi Bánh Thánh bị rơi.
Cha
Hugô không thể hay biết sự việc đã
xảy ra. Ngài tiếp tục cho chịu lễ.
Khi ngài sắp bỏ Mình Thánh vào nhà Tạm, bấy
giờ Tômas mới nhớ tới mảnh bánh
thánh đã rơi trên tấm khăn chén. Tômas kêu
lên: “Cha, Cha, qua đây coi. Đây, trên tấm khăn
chén, một mảnh Mình Thánh Chúa đã rơi xuống
từ miệng của bà...”
Vị
linh mục tiến mau tới chỗ chú giúp lễ
đang cầm tấm khăn chén. Ý của ngài
là sẽ đốt cháy mảnh Bánh. Nhưng khi
ngài cầm lấy tấm khăn chén thì mảnh
Bánh biến đi, và thay vào đó, một giọt
máu xuất hiện. Tuy nhiên giọt máu không thấm
qua tấm khăn che chén như thường mọi
vết máu. Giọt máu nằm trên tấm khăn
chén như một cục máu nhỏ.
Cha
Hugô đem tấm khăn che chén dính máu vào Phòng
thánh và giặt tấm khăn bằng nước
ấm. Ngài vo đi vo lại nhiều lần (ít
nhất là năm sáu lần). Vết máu lan rộng
nhưng không phai màu, mặc dầu nước
chảy từ tấm khăn xuống chậu
rửa là máu đỏ. Sau cùng, khi biết chắc
là giọt Máu không thể tẩy khỏi chiếc
khăn, vị linh mục cắt phần khăn
có mang vết máu và trở lại nhà thờ cùng
với mảnh khăn ấy.
Hết
mọi phần tử trong cộng đoàn đã
chứng kiến sự lạ. Họ không muốn
ra về trong khi Phép Lạ đang xảy ra. Cha
Hugô đưa mảnh vải có vết máu từ
Phòng Thánh ra với lòng tôn kính. Ngài xin họ đem
cho ngài một Mặt nhật và long trọng đặt
chiếc Khăn thần diệu vào Mặt nhật.
Ngài công bố cho mọi người rằng:
“Hỡi những người tốt lành thánh thiện,
anh chị em có thể tin rằng đây chính là
Máu của Chúa Kitô Chúa chúng ta? Tuy tôi đã vò nát
nhiều lần, nhưng vẫn không có cách nào
tách rời máu ra khỏi Chiếc Khăn.”
Vị
linh mục rơi lệ vì vui mừng trong cơn
bối rối, và rồi tạ ơn Thiên Chúa.
Có thể suốt một đời linh mục
ngài chỉ biết hoạt động trong những
giáo xứ nhỏ rải rác nơi vùng quê. Ngài
chưa một lần bén bảng tới những
nơi phồn thịnh cũng như trụ sở
của Giáo Phận. Chắc ngài cũng chưa
bao giờ được những lời khuyến
khích trong sứ mạng truyền giáo. Có thể
ngài cũng cảm thấy bị bỏ rơi
do chính Đức Giám Mục, hay các linh mục
bạn. Nhưng bây giờ, ngài được
Thiên Chúa, Thầy Chí Thánh của ngài, ban cho một
món quà phép lạ Thánh Thể. Phải chăng đây
chính là lúc Chúa Giêsu nói với ngài: “ Hỡi con, con
đã làm việc phúc đức. Cha rất hài
lòng về cách con phụng sự Cha qua các linh hồn
trong những năm qua?”.
Tin
về phép lạ được lan tràn qua những
miền lân cận một cách nhanh chóng. Đức
Giám Mục Địa phận Autun, Địa
phận gần Blanot nhất, phái một đại
diện tới Blanot vào Chúa Nhật thứ ba mùa
Phục Sinh. Người đại diện đem
theo một đoàn linh mục và công chứng viên
để giúp ngài quyết định sự chính
xác của phép lạ được đồn
thổi. Cha Hugô đã đưa những người
chứng kiến Phép Lạ Thánh Thể ra trước
mặt uỷ ban điều tra. Họ tả
lại những biến cố của sáng ngày
Lễ Phục Sinh, khi Bánh Thánh đã biến thành
Máu. Kết thúc việc thẩm vấn, uỷ
ban do Đức Giám Mục phái đến đã
nhất trí đồng ý rằng: Thiên Chúa đã
viếng thăm dân làng Blanot cách đặc biệt,
qua Phép Lạ Thánh Thể.
Năm
sau Đức Giáo Hoàng Gioan XXII ban đặc ân
cho những ai làm Lễ trong Nhà Thờ Blanot. Ngài
cũng ban thưởng đặc ân cho những
ai ủng hộ những lễ phục vì lòng
tôn kính phép lạ và những ai đi kiệu Thánh
Thể. Rất nhiều người hành hương
tuôn đến Blanot. Tấm khăn che chén thấm
Máu Thánh được đặt trong một
hộp đựng thánh tích bằng thủy tinh
Blanot đã trở thành trung tâm của những
đoàn hành hương.
Chiếc
khăn thần diệu được nghiên cứu
một lần nữa vào thế kỷ 18 do Đức
Giám Mục Địa Phận Autun. Ngài xác nhận
rằng chiếc khăn vẫn còn được
duy trì một cách an toàn, màu của Máu vẫn còn
đỏ tươi, và những đường
chỉ của vải đã không tiêu tan qua quãng
thời gian hơn 400 năm từ khi phép lạ
xảy ra.
Trước
cuộc cách mạng Pháp, những chuyến hành
hương và những cuộc rước bị
ngăn cản do các linh mục coi xứ. Tại
Pháp, mối tương giao giữa dân chúng và Giáo
Hội đang trong tình trạng nguy hiểm. Các
linh mục kêu trách rằng những người
hành hương đã nên cớ cho rượu
chè và truỵ lạc, gây nên phạm thượng
hơn là tôn kính những kỷ niệm phép lạ.
Mối bất bình đã lên tới tột điểm
trong thời cách mạng. Những nông dân đã
xâm chiếm nhà thờ Blanot và đã phá tan tành.
Có người còn muốn phá huỷ hòm di tích chứa
tấm vải thần diệu, nhưng những
người địa phương đã ngăn
cản. Một số người cùng với
một nữ tu đã giấu Phép Lạ Thánh thể
trong một nhà riêng. Phép lạ Thánh thể được
tôn kính tại đây vào những ngày Chúa Nhật
và những ngày lễ kính, cho đến khi sự
đe doạ do cách mạng chấm dứt. Sau
đó di tích được trả lại cho Giáo
Hội.
Vào
năm 1831, ngày kỷ niệm 500 năm xảy
ra phép lạ, những nghi thức lễ long trọng
được cử hành tại nhà thờ Blanot,
nơi tôn kính vĩnh viễn Tấm Khăn che
chén Thấm Máu Thánh đã được cung hiến.
Thánh tích luôn được trưng bày tại
đó quanh năm. Ngày nay, hơn 650 năm sau biến
cố phép lạ, tấm vải vẫn còn trong
tình trạng tốt. Vết máu vẫn còn trông
thấy. Vào lễ Mình Máu Thánh Chúa, chiếc khăn
thần diệu được mang theo sau kiệu
Thánh Thể trong cuộc rước.
Trích
dịch từ cuốn THIS IS MY BODY, THIS IS MY BLOOD
của Bob & Penny Lord.
3.
Phép lạ Thánh Thể tại Offida:
Máu
Thánh tuân trào lần thứ hai ở Lancianô năm
1273
-Những
nhân vật chính trong câu truyện kỳ lạ
này được đôi vợ chồng mới
cưới, Ricciarella và Giacômô (Giacôbê) Stasiô, con
lừa, và một phù thủy. Thật ra, hôn nhân
của họ không được Thiên Chúa chúc
phúc. Chính ra khi thành vợ chồng hai người
phải nên một, nhưng họ đã sống
riêng rẽ đơn độc. Giacômô không hề
để ý chăm sóc yêu thương vợ, trái
lại chàng chỉ biết đến con lừa
và coi nó hơn vợ mình. Trong khi đó chị
Ricciarella khao khát một đời sống lứa
đôi tốt đẹp. Chị nghĩ, nếu
vợ chồng chị yêu thương nhau thắm
thiết thì hạnh phúc biết bao. Chị đã
không bao giờ để ý đến việc
trả thù về cách đối xử tàn tệ
của chồng đối với chị, cho
dù chị biết rằng chồng chị đã
phản bội và đi ngoại tình với người
khác.
Sức
chịu đựng của Riccirella có hạn và
nàng mong muốn một đời sống ấm
êm bên người chồng lý tưởng. Để
đạt mục đích này, chị đã nhờ
đến một mụ phù thủy. Mụ phù
thủy này nổi tiếng trong việc mang lại
sự kích thích tính dục cho những đôi vợ
chồng hờ hững trong việc chăn gối.
Thế rồi, mụ ta truyền cho Giccirella như
sau:
“Hãy
đi rước lễ, nhưng đừng nuốt.
Đem Mình Thánh về nhà, đặt lên bếp
và đốt thành tro. Sau đó, lấy tro bỏ
vào rượu hoặc canh rồi đưa cho
chồng uống. Chị sẽ thấy chàng bị
kích thích và “khiêu dâm cực độ như mèo
cái kêu gào tìm”. Xong đâu đó hãy cho ta biết
hiệu quả”.
Mụ
phù thủy vừa truyền lệnh xong, máu trong
tim Ricciarella chạy dồn dập. Nàng bị
một hấp lực thúc đẩy mạnh mẽ
và thi hành rất lẹ việc quái ác này. Tuy nhiên,
vì là người công giáo, nàng biết đây là
một tội phạm thánh. Vì vậy, nàng đã
phải vật lộn với lương tâm không
ít trước khi quyết định thực
hiện một hành độâng tai ác này.
Sau
cùng, nàng đã nhắm mắt quyết định
cách liều lĩnh, nàng đến nhà thờ tham
dự Thánh Lễ, và rước Chúa. Tim nàng đập
mạnh trong lúc nàng lập đi lập lại
âm mưu toan tính mình sẽ thực hiện. Tới
giờ Hiệp Lễ, Ricciarella ra vẻ như
một Thiên Thần nhỏ lên rước Mình
Thánh Chúa. Sau khi lãnh nhận Mình Thánh, nàng liền
quay khỏi vị linh mục để có thể
lấy Mình Thánh Chúa ra khỏi miệng. Nàng còn
cẩn thận liếc lia lịa xung quanh, xem
có ai thấy hành động của mình không.
Xong
đâu đấy, nàng vội rời khỏi nhà
thờ và chạy nhanh qua các đường phố
Lancianô cho đến khi tới nhà. Hai bàn tay bỗng
rung rất mạnh, nàng vội nhóm lửa và đặt
nồi đất lên. Khi nồi rất nóng, nàng
vất Mình Thánh vào nồi và Mình Thánh bắt đầu
cháy khói. Tâm hồn bị dày vò, nàng không thể
nào nhắm mắt được và quên đi
hành động quái ác nàng đang thực hiện.
Nhưng một sức mạnh vô hình thúc đẩy
nàng tiếp tục công việc điên cuồng
này là: nàng quá mơ mộng được chồng
sẽ thương yêu và chăm sóc mình tận
tình. Bỗng nhiên, Mình Thành Chúa hoá nên thịt đỏ
tươi, và bắt đầu chảy máu quá
nhiều. Lạ lùng hơn nữa, chính giữa
miếng thịt đóù vẫn giữ nguyên vẹn
hình dạng tấm Bánh Thánh và máu tiếp tục
tuôn chảy từ tấm Bánh Thánh.
Nàng
hốt hoảng lo sợ và không biết phải
làm sao? Trong khi đó Máu Chúa cứ chảy ra đầy
hết đáy nồi, và bắt đầu trào
lên một cách nhanh chóng. Nàng vội lấy sáp ong
và đất đổ vào nồi. Sáp ong và đất
đầy nồi, nhưng máu vẫn thấm
qua đất và sáp ong tràn lên tới miệng nồi.
Hoảng hốt, nàng chộp lấy chiếc khăn
trải bàn và bọc xung quanh nồi. Phân vân không
biết phải bỏ ở đâu, nàng liền
chạy ra chuồng lừa. Nàng chôn cái nồi
cùng với Thánh Thể và khăn bàn.
Chiều
hôm ấy, khi chồng về, Giacômô nhận thấy
con lừa tỏ thái độ bướng bỉnh
khác thường, nó nhất định không bước
chân vào chuồng. Giacômô đã dùng mọi cách, nào
vỗ về, nào vuốt ve, rồi đẩy,
nhưng tất cả đều không kết quả,
con lừa cứ đứng sừng sững nhất
định không vào chuồng. Sau cùng, Giacômô lấy
roi và bắt đầu quất lừa. Lừa
đau đớn rống lên thảm thiết
và miễn cưỡng đưa chân vào trong chuồng.
Con vật nằm xuống gần nơi đống
phân, như trong tư thế tôn thờ một
vật gì?
Giacômô
từ trước đến nay không bao giờ
trách mắng và xử tàn nhẫn đối với
Ricciarelia. Nhưng từ khi biến cố con lừa
khó vâng lời xẩy ra, Giacômô trách mắng vợ
vì thái độ của con lừa, đổ tội
cho nàng đã bỏ cái bùa mê vào chuồng lừa.
Giacômô nổi khùng quật nàng túi bụi bằng
cây roi chàng đã dùng để quất con vật.
Thế là cuộc sống hoả ngục bắt
đầu từ đây. Ricciarella cảm thấy
lương tâm cắn rứt. Nàng bắt đầu
lấy làm lạ tại sao mụ phù thủy lại
có sức mạnh tàn khốc như vậy. Những
điều hứa hẹn đã không thấy,
thật là “tiền mất tật mang”. “Tai hại
hơn nữa, sự chung thủy và yêu thương
gần gũi nhau càng ngày càng trở nên tệ,
trong khi đó nàng mỗi ngày càng cảm thấy
cắn rứt vì mang nặng tội lỗi quái
gở.
Ricciarlla
đã sống trong tình trạng này trong bảy
năm. Tính tình nàng đổi khác thường
và trở nên tức giận với mọi việc
mọi người. Cách cư xử của chồng
càng ngày đối xử với nàng tàn tệ.
Điều này làm cho nàng tin đó là một hình
phạt của Thiên Chúa giáng phạt trên mình nàng.
Nàng thất vọng cực độ. Nàng không
thể nhận thấy rằng Thiên Chúa sẽ
mãi mãi tha thứ cho mình. Nỗi ray rứt nhất
nàng cảm thấy là đã xúc phạm đến
Thiên Chúa, nàng phạm tội không thể tha
thứ. Sau cùng, chịu không được, nàng
ước muốn đi xưng tội để
giải thoát sự đau khổ trong trái tim và
linh hồn. Nhưng khổ nỗi, nàng thiếu
tin tưởng và tự ái quá ác, nàng nghĩ, mình
không có can đảm chấp nhận sự hổ
thẹn khi xưng thú tội tầy đình này
với linh mục.
Sau
cùng, trong thời gian ròng rã suốt 7 năm, nàng
sống như người không hồn, Ricciarella
đã mạnh dạn liên lạc với vị
tu viện trưởng của tu viện Augustinô
gần nhất ở Lancianô. Vị tu sĩ này
quê quán ở Offiđa chính ngài đã giúp đỡ
nàng tận tình và giải thoát nàng. Thế rồi
Ricciarella đã xưng thú hết trọng tôïi của
mình với vị linh mục. Ngài đi theo nàng
về nhà. Họ đi thẳng vào chuồng lừa,
đào qua lớp phân đã bị chất đống
lại hơn bảy năm. Khi vị tu sĩ
này thấy chiếc khăn và mở ra, ngài thấy
dưới đáy nồi Mình Thánh Chúa đang chảy
máu nhưng không hề bị hư hỏng chút
nào trong mấy năm qua.
Ngài
lấy khăn và che nồi đất chứa
đựng Mình Thánh Chúa mang đi. Ngài không nói cho
ai biết đến biến cố này. Riccialla
cảm thấy khuây khoả vì tội ác của
mình không bị tiết lộ ra bên ngoài. Nhờ
vậy, hai vợ chồng nàng cảm thấy
gắn bó và thông cảm với nhau hơn. Trong
khi đó, để tránh liên lụy đến
Riccirella, vị tu sĩ đó mang Phép Lạ Thánh
Thể ra khỏi thành phố Lancianô. Ngài muốn
sự vinh hiển của Phép Lạ Thánh Thể
sẽ được tôn vinh mãi mãi, không muốn
bị quên lãng, nên đã đưa về thành phố
Offiđa, quê hương của ngài. Cũng vì
lý do đó, vị linh mục xin phép các Bề trên
rời khỏi tu viện. Vài ngày sau, ngài rời
khỏi tu viện. Ngài mang Mình Thánh Chúa đến
cha Michael Mallcani, tu viện trưởng tu viện
Thánh Augustinô ở Offiđa. Cha Mallcani ôm lấy
Phép Lạ như sản nghiệp vô giá của
Offiđa, và lập tức xây một nhà thờ
để tôn kính Phép Lạ Thánh Thể này. Đây
là năm 1280, bảy năm sau khi Ricciarella đã
phạm tội phạm thánh.
Cha
Millicani tiến hành công việc rất nhanh. Cũng
trong năm đó, Ngài và một tu sĩ khác đến
Venice đặt mua một mặt nhật mà sau
này trở thành nhà chứa đựng Phép Lạ
Thánh Thể. Họ thuê một người thợ
vàng làm việc đó trong bí mật. Sau khi làm xong,
cha Millicani đã đặt Phép Lạ Thánh Thể
vào và hai vị tu sĩ liền trở về
Offiđa bằng thuyền. Nhưng lúc đó, người
thợ vàng quyết định tiết lộ
cho Công Tước thành Venice, tức là chính địa
phương tại đó biết bí mật. Rất
ước ao lấy lại Phép Lạ Thánh Thể
cho riêng tỉnh của mình, Công Tước ra lệnh
lấy thuyền đuổi theo và chận lại
chiếc thuyền đang đưa hai tu sĩ
và Phép Lạ Thánh Thể trở về Offiđa.
Nhưng
Thiên Chúa đã can thiệp. Trong lúc thuyền của
Công Tước đuổi gần tới thuyền
chở hai tu sĩ, thình lình biển Adriatic động
mãnh liệt và hai tu sĩ thoát nạn. Hai tu sĩ
tạ ơn Chúa và họ đổ bộ lên bến
Ancôna, an toàn trở về tu viện tại Offiđa.
Mặt nhật được đặt trong
nhà thờ Offiđa, và Phép Lạ Thánh Thể còn
giữ nguyên vẹn cho đến ngày nay.
|