| |
Rev.
Stefanô, OFM- Phỏng dịch: Đồng Tâm, CMC |
|
6.
Phép Lạ Thánh thể tại làng Bois Isaac,
nước Bỉ:
Mình Thánh Chúa dính chặt
vào khăn
Ở nước
Bỉ có một làng nhỏ được gọi
là Ittre, cách Brussels 15 dặm về hướng
Nam. Ittre không có tên trên bản đồ. Tất
nhiên nó không phải là trung tâm du lịch. Năm
1405, Chúa Giêsu đã chọn nơi này để
ban cho chúng ta món quà đặc biệt của chính
ngài trong một Phép Lạ Thánh Thể.
Chàng thanh
niên Chúa đã chọn để tuôn đổ
ơn phúc của chính Ngài trong Phép Lạ Thánh Thể
Bois d’Isaac (Rừng của lãnh chúa Isaac) là Gioan Bois
(Gioan rừng cây). Chàng là một thanh niên quí tộc
và là người thừa kế của lãnh chúa
Isaac. Đời chàng thì đủ chuyện: trai
gái, ăn chơi hội hè, cỡi ngựa, nhiều
sự sang trọng khác của một người
thuộc hạng quí tộc, không làm chi cả
và lôi thôi đủ điều. Ngày nay ta sẽ
liệt anh ta vào hạng truỵ lạc.
Đối với ta, tất nhiên đây không phải
là người đáng lãnh nhận phép lạ cả
thể của Chúa Giêsu. chàng ta không có một
đức tính nào, đối với suy luận
loài người, cần phải có để đáng
lãnh nhận ơn cao cả này. Sự vớt vát
duy nhất ta thấy nơi anh là chàng Gioan
này cũng có những điểm như Thánh Phanxicô
Assisi. Anh đã thừa hưởng một gia
sản thiêng liêng của các tổ tiên tức lãnh
chúa Isaac, người có mối tương
quan đặc biệt với Đức Mẹ;
lúc bấy giờ lòng sùng kính Đức Mẹ
vẫn còn chìm lắng.
Vào thế
kỷ thứ 11 lãnh chúa Isaac đã bỏ tiền
xây dựng một nhà nguyện tôn kính Đức
Mẹ. Một tượng Mẹ được
đặt trong ngôi nhà nguyện, dưới tước
hiệu “Mẹ Ơn Sủng và Niềm An ủi.”
Ngôi nhà nguyện đã trở nên Đền Thánh
Đức Mẹ cho nhiều người dân địa
phương. Nhiều phép lạ và những
cuộc lành bệnh đã được nhận
như do sự cầu bầu của Đức
Mẹ tại đền thánh này. Rồi năm
1336, một cơn dịch thảm khốc phát
ra, thúc đẩy lòng dân dời tượng Mẹ
khỏi căn nhà nguyện. Họ rước
kiệu cùng với tượng Mẹ đi khắp
cả nước, khẩn xin Mẹ cầu bầu
cho họ được nhận lời,
cơn dịch đã chấm dứt nhưng tượng
Mẹ không trở về ngôi nhà nguyện nữa.
Trong 69 năm tiếp đó căn nhà nguyện
không được dùng làm đền thánh,
cho đến khi Phép Lạ Thánh Thể xảy
ra.
Miêu duệ
lãnh chúa Issac tức Gioan Bois không phải là người
xấu. Anh vẫn giữ đạo Công Giáo của
tổ tiên. Nhưng cũng như những người
khác, nhất là hàng quí tộc, chàng chỉ mang danh
Công Giáo thôi. Đối với chàng, tinh thần
và Đức Tin cũng là quá đủ rồi.
Lúc ấy đang mùa xuân, một thời gian
tốt để chàng nghĩ đến những
vấn đề của con tim hơn là tôn giáo.
Vào ngày thứ ba trước Lễ Hiện xuống,
khoảng nửa đêm, chàng đang ngủ say
trên giường. Ta không đoán được
chàng đã mơ thấy gì, nhưng chắc rằng
giấc mơ chẳng liên quan gì với những
gì sắp xảy ra. Có tiếng nói êm dịu, hùng
hồn đánh thức chàng. Khi mở đôi mắt
ngái ngủ ra, chàng thấy trước mặt
một thanh niên trạc 30 tuổi, mang chiếc
áo khoác màu xanh có viền bằng lông chồn.
Một làn sáng toát ra và bao quanh người thanh
niên ấy. Khuôn mặt người đó xiu xuống.
Cặp mắt người đó đăm chiêu
nhìn Gioan, khiến chàng tỉnh ngủ mau chóng.
Gioan giật mình vì làn sáng và sự hiện diện
khó hiểu của người thanh niên trong phòng
ngủ của mình.
Gioan hỏi
xem người đó cần gì. Trước khi
trả lời, người thanh niên mở chiếc
áo khoác ra. Thân hình người đó đầy
những vết sẹo, vết bầm và thương
tích rỉ máu. Gioan muốn ngoảnh mặt đi
nhưng mắt chàng không thể rời khỏi
hình ảnh đáng thương của thân hình
người ấy. Người đó đã bị
đánh đập dã man. Một lần nữa
đôi mắt người thanh niên xuyên thấu
lòng Gioan. Cuối cùng người
đó nói:
-Hãy nhìn
xem họ bạc đãi tôi như thế nào. Hãy
kiếm cho tôi một lang y và một quan toà, người
sẽ biện hộ cho tôi.
Gioan hoảng
hốt hoang mang. Tâm trí chàng rối bời. Chàng
cảm thấy một sự buồn sầu khó
tả khi nhìn vào thân mình bị hành hạ quá dã
man của người thanh niên ấy. Chàng lắp
bắp, xin lỗi vì không thể tìm lang y đến
vào giữa lúc đêm khuya như thế. Về
việc tìm một quan án hay vị quan chức
nào để giúp đưa ra pháp luật những
kẽ gian ác, Gioan không thể giúp mặc dầu
chàng nhớ mình luôn hãnh diện với người
ta vì mình có ảnh hưởng đến những
bậc vị vọng. Tuy nhiên, lúc này chàng buộc
phải nói lên sự thật về địa
vị của mình. Chàng không biết làm cách nào để
giúp vị khách không mời mà đến này được
công lý bênh vực.
Người
khách không tỏ ra dấu gì bất mãn. Ông ấy
nói tiếp như chưa hề nghe Gioan trả
lời.
-Anh đã
có thể tìm thấy một lang y cách dễ dàng
nếu anh biết chỗ tìm.
Ông nói tiếp:
-Làm sao tôi
lại không bị bao phủ bởi những vết
thương? Mỗi ngày họ đều lại
gây nên những vết mới. Rồi người
thanh niên mở rộng chiếc áo khoác ra và chỉ
vào vết thương lớn nhất ở cạnh
sườn, bên dưới trái tim. Ngài nói:
-Vết
thương này giày vò tôi nhiều nhất.
Gioan không
nói lên lời. Chàng tiếp tục nhìn Thanh Niên
đang đứng trước mặt mình. Người
thanh niên khép áo vào.
-Nếu
anh không tìm được thuốc cho tôi, ít là
hãy đặt bàn tay anh lên các thương tích để
xoa dịu tôi. Hãy làm những gì anh có thể. Tôi
sẽ biết ơn anh cho đến khi anh có
thể giúp tôi nhiều hơn...và tôi đã tha thứ
cho thế gian.
Nói đến
đây, người thanh niên biến mất.
Không có sự
gì chứng tỏ Gioan đã đặt tay lên những
thương tích người thanh niên. Chúng tôi không
được biết ngày hôm sau chàng có nói với
ai về chuyện này hay không. Chúng tôi chỉ biết
chắc rằng tối hôm sau Gioan lại đi
ngủ, và lại gặp người
thanh niên trẻ tuổi.
Người
thanh niên hiện ra với Gioan cùng cách thức
như đêm trước. Ngài lại chỉ cho
Gioan những vết thương của mình. Ngài
tỏ ra phật lòng vì Gioan đã không làm gì để
giúp phần chữa trị những vết thương
trên mình ngài. Ngài cũng nói với Gioan, “Chẳng
lẽ tôi phải nổi cơn thịnh nộ
với thế gian bịt tai lại trước
những lời rên siết của tôi?” Gioan
không đáp lại. Có lẽ vì chàng chưa biết
được vì khách ấy là ai, và Ngài muốn
nói gì với mình.
Tuy nhiên,
ngày hôm sau chàng bắt đầu phản ứng.
Anh ta chia sẻ sự việc ấy với những
người trong gia đình. Thật đoán được
phản ứng của họ. Hầu hết họ
gạt câu chuyện ấy đi bằng những
lời lẽ cho rằng vì chàng đã ăn chơi
nhiều quá, hay đã ăn phải những thứ
không hợp tì vị. Họ chẳng tin một
lời nào anh nói. Cả chính anh cũng chẳng
thâm tín. Nhưng anh ta không thể quên được
hình ảnh Người Thanh Niên ấy ám ảnh
chàng suốt ngày hôm ấy. Tối hôm
đó chàng bảo người em trai cùng ngủ
với mình. Chàng cần thêm vài sự chứng
thực. Sự việc này có thật sự xảy
ra không hay vì chàng là nạn nhân của tâm trí mình.
Đên hôm
ấy, Người Thanh Niên lại hiện ra
với Gioan. Lần này được phấn
khích do sự hiện diện của em trai, Gioan
mạnh dạn nói với Bóng Người:
-Nếu
tôi gọi anh lang y, tôi phải bảo ông ta đến
nơi nào? Tôi không biết Ngài là ai, cư ngụ
ở đâu.
Cuối
cùng Người Thanh Niên biết mình đã chiếm
được lòng Gioan. Ngài trả lời:
-Hãy lấy
chìa khoá nhà nguyện và vào đây.
Ở đây anh sẽ gặp tôi, và sẽ biết
tôi là ai.
Rồi
một sự lạ xảy ra. Gioan cảm thấy
mình ngất trí. Ngày nay ta gọi là “xuất thần”.
Chàng thấy mình lìa khỏi xác, được
di chuyển đến nhà nguyện bởi những
năng lực bởi trời. sự chú ý của
chàng gắn chặt vào Tượng Chịu Nạn
của Chúa Cứu Thế treo phía trên bàn thờ.
Tượng ấy để lộ hình Chúa Giêsu
đầy thương tích, vết thương
lớn nhất ở nơi cạnh sườn,
bên dưới trái tim. Tượng này rất giống
với hình ảnh người Thanh Niên đã ba
lần hiện ra với chàng. Cuối cùng, anh
ta hiểu ra rằng chính chúa Giêsu đã đến
với mình. Lòng chàng được tràn đầy
Thánh Thần của Chúa Giêsu, và đã hiểu được
tất cả những gì Chúa muốn nói với
mình.
Tình trạng
xuất thần chấm dứt. Anh ta được
đem trở lại giường. Tim anh đập
thình thịch. Anh quay sang hỏi xem em trai mình đã
thấy gì. Em chàng đang ngủ say. Gioan không chia
sẻ được gì về những sự
việc đã xảy ra với người em.
Chàng đánh thức người em, và sau khi quở
trách vì đã không thức để bảo vệ
chàng, Gioan chia sẻ với em trai những gì đã
xảy ra. Giờ đây tình thế đảo
lộn trên Gioan. Chàng thấy mình ở cương
vị Người Thanh Niên, cố gắng giải
thích cho em mình, đang nửa mơ nửa tỉnh,
chẳng hiểu tí gì Gioan đang nói với anh
ta.
Suốt
đêm hôm ấy tâm hồn Gioan rạo rực.
Anh không thể ngủ được nữa.
Anh ta không biết ngày hôm sau mình phải làm gì, nhưng
chàng biết mình phải làm điều gì đó.
Chàng hoàn toàn phó mình cho Chúa trong tất cả những
gì ngài muốn về chàng. Chàng đã trở lại
và được tràn đầy Chúa Thánh Thần.
Khi Chúa muốn
chuyển động thì trái đất và mọi
sự trên mặt đất cũng chuyển
động. Các sự việc đó bắt đầu
thành hình. Mọi thành phần đều nằm
vào đúng chỗ. Đêm ấy cha sở, Phêrô
Ost, nghe thấy một tiếng gọi thầm
kín bên trong. Một giọng phát từ trời
nói: “Hỡi Phêrô, sáng mai con hãy đến Nhà Nguyện
Bois Isaac và dâng Thánh Lễ tôn kính Thánh Giá”. Ngài không
buộc phải dâng Thánh Lễ ban sáng, vì Ngài dự
định dâng lễ tại chính thánh đường
ngài vào buổi chiều. Hơn nữa, ba ngày trước
đây Ngài đã dâng Thánh Lễ tại ngôi nhà nguyện
ấy. Vì thế việc này quả là chuyện
bất thường. Nhưng Cha Phêrô Ost là con người
của đức tin và tuân phục. Sự Ngài
không biết rõ đây là việc gì không quan trọng.
Ngài cảm thấy Chúa đang nói với mình. Và
Ngài đã tuân theo.
Cha Phêrô
dậy sớm, và bắt đầu cuộc hành
trình vượt qua rừng cây đến
Nhà Nguyện Bois Isaac. Đến nơi, Ngài mở
cửa nhà nguyện, rung chuông báo cho dân địa
phương biết Thánh Lễ sắp được
cử hành. Giáo dân lần lượt tiến vào
thánh đường. Nhưng người đầu
tiên bước vào, mặc dầu không phải
khách lạ đối với dân chúng, nhưng
là người xa lạ đối với ngôi
thánh đường. Người đó là Gioan
Bois, chàng cũng chẳng hiểu vì sao mình lại
hiện diện ở đây.
Khi vị
Linh Mục bắt đầu dâng bánh rượu,
Ngài mở chiếc khăn thánh ra và đặt
vào vị trí để dâng hiến. Lúc Ngài cầu
nguyện, Ngài thấy một miếng của
tấm Bánh Thánh lớn nằm trên tấm khăn
thánh mà Ngài đã dùng dâng lễ thứ ba vừa
rồi. Hôm đó cũng chính là ngày Chúa Giêsu hiện
ra với Gioan lần thứ nhất.
Một
luồng sợ hãi xuyên thấu thân mình Ngài. Vị
linh mục nghĩ rằng chắc trong Thánh Lễ
mình đã làm rớt mụn Bánh Thánh xuống khăn
thánh và đã gấp lại sau Thánh Lễ. Ngài
tìm cách nhặt Bánh Thánh khỏi tấm khăn
thánh. Cha Phêrô định sẽ chịu Mình Thánh
sau khi truyền phép. Tuy nhiên, xem như Mình Thánh
dính chặt vào khăn thánh, không chịu rời
ra. Khi Ngài cố sức kéo ra, Máu tươi từ
Bánh Thánh bắt đầu chảy ra nhỏ giọt.
Bánh Thánh vẫn không thay đổi hình dạng,
vẫn màu trắng, nhưng Máu Thánh vọt
ra chung quanh Mình Thánh.
Vị linh
mục cảm thấy đôi chân mình qụy xuống.
Ngài thấy sinh lực mình tan biến căn phòng
bắt đầu quay cuồng. Ngài vịn bàn
thờ để giữ thăng bằng. Gioan
thấy sự việc xảy ra và chạy đến
bên bàn thờ.
Cha đừng
sợ. Phép Lạ này đến từ Thiên Chúa.
Ban đầu
vị linh mục nghi ngờ nhìn Gioan; nhưng
Ngài thấy trong đôi mắt Gioan một ánh nhìn
và một sức mạnh nội tâm phát ra từ
chàng. Cha Phêrô lấy tự chủ và tiếp tục
dâng Lễ. Ngài gấp chiếc khăn thánh có mang
Mình Thánh rỉ máu, và dùng khăn mới dâng Thánh
Lễ. Tuy nhiên trong lúc dâng Thánh Lễ Ngài cứ
chú ý đến tấm khăn thánh ấy và nhận
thấy vết máu càng lúc càng lớn hơn.
Sau Thánh
Lễ, Cha Phêrô mở khăn thánh kia ra để
xem máu từ Bánh Thánh còn chảy ra không. Bánh Thánh
vẫn màu trắng, nổi trên vũng máu. Mọi
người dự Lễ đều chứng
kiến Phép Lạ.
Vị Linh
Mục đau buồn vì nghĩ rằng đó
là tại lỗi lầm của mình. Nếu Ngài
chịu hết Bánh thánh và không chừa lại
mảnh vụn trên khăn thánh khi dâng Lễ 3
ngày trước thì đâu có việc gì xảy
ra.
Trong năm
ngày Máu Thánh vẫn tiếp tục chảy ra từ
Mình Thánh, cho đến thứ Ba sau Lễ Hiện
Xuống. Máu không tuôn chảy nhưng từ từ
và đều đặn chảy ra. Khi ngừng
chảy, Máu thánh chiếm một khoảnh diện
tích rộng độ 3 inches và dài 6 inches trên tấm
khăn thánh. Trong vòng vài tuần sau, Máu Thánh đã
khô hoàn toàn.
Lúc này đây,
những vị chức trách giáo quyền địa
phương đã hết sức chú ý đến
tấm khăn kỳ lạ ấy và mang khỏi
Thánh Đường Bois Isac để điều
tra. Giám Mục Thành Cambrai, Đức Cha Phêrô Ailly,
đã thí nghiệm khăn lễ bằng những
cuộc thử nghiệm ghê sợ, trong đó
có cả sự ngâm vào rượu, sữa, và kền.
Ơn phép lạ của Chúa vẫn đứng
vững dưới tất cả những cuộc
thí nghiệm này. Sức mạnh đức tin
của bao nhiêu người trong nhóm điều
tra hay những nhân viên văn phòng toà Giám mục
được hồi phục do kết quả
của việc Chúa Giêsu đành chịu để
chính mình bị ngâm, đâm chọc và ăn mòn trong
kền.
Đúng
lúc ấy, sự gì đã xảy ta cho anh chàng bê
bối Gioan Bois? Chàng trở nên sốt sắng.
Trong sáu năm trời, chàng dùng thế lực
của một người thuộc hàng quý tộc,
xoay trở đủ cách cầu xin Đức
Giám Mục trả tấm khăn thánh về Nhà
Nguyện Bois. Gia đình và bạn hữu cho rằng
chàng lập dị, bị mất trí vì chiếc
khăn dính máu này. Đức Giám mục biết
rằng mình không thể yên thân cho đến khi
làm theo lời Gioan yêu cầu. Ngày 03.05.1411, Đức
Giám mục phó đã thánh hiến nhà nguyện để
tôn kính Máu Thánh Chúa, tôn kính Đức Mẹ cũng
như thánh Gioan Tẩy Giả. Phép Lạ Thánh
Thể được trả về nhà nguyện.
Gioan Bois
rất hài lòng, nhưng xem ra chàng chẳng bao giờ
có thể tha thứ cho mình vì đã không nhạy
cảm với Chúa Giêsu trong 2 lần đầu
tiên Ngài hiện ra dưới hình Người
lần đầu tiên Ngài hiện ra dưới
hình Người Thanh Niên. Nhìn lại quá khứ,
chàng không thể hiểu được vì sao mình
lại không hiểu được đó chính
là Chúa Giêsu đang khẩn xin sự giúp đỡ
của mình. Gioan tiếp tục làm phiền Giám
Mục Ailly, sau này thành Hồng Y. Sau hơn 2 năm
bị Gioan nài nỉ, ngày 23.09.1413, Đức Hồng
Y mở một cuộc điều tra để
công khai xác nhận tính cách xác thực của phép
lạ.
Đức
Hồng Y gọi mình là một tín hữu đơn
sơ, cá nhân Ngài hoàn toàn tin rằng sự can thiệp
của Chúa đã làm nên Phép Lạ Thánh Thể tại
Bois Isaac. Nhưng Ngài muốn tiến hành theo như
Giáo Luật. Vì thế sự thử thách dành cho
Chúa Giêsu và Gioan lại được bắt đầu.
Tuy nhiên, Chúa Giêsu không cho phép thời gian thử
thách quá lâu vì chỉ 17 ngày sau, ngày mồng 10.10.1413,
một Tông Chiếu được ban hành, xác
nhận tính cách xác thực của Phép Lạ. Đức
Hồng Y cũng ban lệnh mỗi năm phải
rước kiệu Thánh Thể cùng với sự
tôn kính Mẹ Maria đã được ban chuẩn
cho Nhà Nguyện trước biến cố phép
lạ xảy ra. Từ đó đến nay mỗi
năm đều có tổ chức rước
kiệu, trừ trong thời gian Cách Mạng Pháp,
và có lẽ thời gian Quân Đức Quốc
Xã chiếm đóng tại Bỉ.
Phép Lạ
Thánh Thể vẫn còn được trưng
bày trong thánh đường ở cái thân Ittre bé
nhỏ, nước Bỉ. Khách hành hương
khắp Âu Châu đến đền thờ này
để kính viếng ơn đặc biệt
Chúa GiêSu ban cho chúng ta.
Minh Ngọc
trích dịch từ cuốn THIS IS MY BODY, THIS IS
MY BLOOD của Bob và Penny Lotd.
7. Thánh
Thể biến mất tại xứ Bùi Thái,
Việt Nam:
Chúa không
muốn ngự vào lòng kẻ còn thù hận nhau.
Tại
Xứ Bùi Thái, tỉnh Biên Hoà, giáo phận Xuân Lộc,
Việt Nam, có một gia đình làm nghề giết
và bán thịt chó. Nhiệm vụ của ông chồng
là giết chó, còn nhiệm vụ của bà vợ
là đem thịt ra chợ bán. Vào quãng năm 1984
bà vợ lâm trọng bệnh. Cha chính xứ Bùi
Thái, lúc ấy là Cha Bách, được mời
đến để ban các phép cuối cùng và cho
chịu Của Ăn đàng. Cha xứ tới
ban phép Giải tội và Xức dầu xong, khi
trao Mình Thánh Chúa cho kẻ liệt thì không thấy
Mình Thánh trong hộp đựng Mình Thánh đâu!
Ngài tưởng mình quên, nên chỉ khuyên bảo
bệnh nhân đôi lời rồi ra về.
Ngày thứ
hai, trước khi tới nhà bà ấy, Cha Bách
đã nhắc mình nhớ lấy Mình Thánh Chúa. Ở
tại nhà kẻ liệt, khi ngài làm các lễ nghi
xong, tới lúc mở hộp đựng Mình Thánh
Chúa ra, ngài cũng chẳng thấy Mình Thánh đâu.
Thật lạï lùng, chẳng hiểu tại sao.
Sau đó, ngài cũng lại âm thầm trở
về.
Tới
lần thứ ba, Cha Bách mới nói với Ông Chủ
Tịch Hội Đồng Giáo Xứ biết
hôm trước ngài đem Mình Thánh đến nhà
kẻ liệt mà thấy Mình Thánh Chúa biến mất.
Lần này ngài xin ông ấy làm chứng ngài đã
lên nhà thờ lấy Mình Thánh Chúa để đem
tới nhà kẻ liệt. Nhưng kết quả
lần thứ ba này cũng như hai lần trước:
khi mở hộp Mình Thánh Chúa ra thì cũng chẳng
còn Mình Thánh Chúa nữa. Cha Bách và Ông Chủ Tịch
trở về đầy kinh ngạc.
Tới
lần thứ tư, Cha Bách cùng với ông Chủ
Tịch đem Mình Thánh Chúa cho kẻ liệt như
ba lần trước. Lần này trước
khi mở hộp đựng Mình Thánh Chúa ra thì
Cha Bách hỏi bệnh nhân:
Đã ba
lần tôi đem Mình Thánh cho bà, mà cả ba lần
Mình Thánh Chúa đều biến mất. Vậy
để lần này Chúa khỏi biến mất
đi như trước thì bà xét mình lại xem
có điều gì ngăn trở cho được
chịu lễ chăng?... Trong những lần
xưng tội vừa qua bà có xưng tội nên
không? Có giấu tội không?
-Thưa
cha con không giấu tội.
- Vậy
không hiểu tại sao Mình Thánh Chúa biến đi?
Bà nhớ coi, trong gia đình có sự hoà thuận
yêu thương nhau không?
- Thưa
cha, không có hoà thuận, vì trước đây có
mấy lần con đi bán thịt về, bán không
được giá, phải bán rẻ, nhưng
nhà con không hiểu lại hồ nghi cho con giấu
tiền hay làm thế này thế nọ, nên giữa
con và chồng con từ đó không tin
tưởng và yêu thương nhau nữa!
- Nếu
vậy thì bà hãy làm hoà với ông ấy để
xứng đáng Chúa ngự vào lòng bà. Chúa không muốn
ngự vào những tâm hồn giận ghét
nhau.
Cha xứ
cho mời ông chồng đến bên giường.
Hai vợ chồng làm hoà cùng nhau. Sau đó ngài mở
hộp đựng Mình Thánh Chúa ra thì Mình Thánh Chúa
vẫn còn. Bệnh nhân đã được Rước
lễ, sau đó mấy ngày thì qua đời.
Một
người trong cuộc đã thuật lại
câu chuyện này trong tuần tĩnh tâm của
tổ chức Gia đình Đồng công tại
Thủ Đức, Gia Định Việt
Nam.
(Tu sĩ
Kim Ngân, CMC thuật chuyện)
Bài Suy
niệm:
Bánh Ăn và Thánh Thể
Năm 70,
khi người Do Thái nổi loạn Tướng
Titô của Rôma đã đem quân đi chinh phạt.
Khi tới Giêrusalem ông biết sẽ gặp sức
phản kháng mãnh liệt nên đã nghĩ kế
không cần tấn công ngay, chỉ vây hãm thành để
trong thành sẽ thiếu lương thực, nạn
đói sẽ xảy ra lúc đó mới tấn
công. Ông đã vây hãm thành từ tháng 3 năm 70.
Quả thật đó là thần kế. Khi thấy
quân Rôma kéo đến dân chúng đã đổ xô
chạy trốn vào thành. Số người
quá đông nên chỉ trong vài tháng bị cô lập
nạn đói rùng rợn đã xảy ra. Sử
gia Josephus đã tả lại nạn đói mỗi
một ngày thêm tàn khốc, nhiều gia đình
đã chết cả nhà. Trên tầng lầu đầy
đàn bà trẻ con ngồi rũ rượi chờ
chết. Những thanh niên như những con ma
đói lang thang đầy phố chợ và ngã
qụy bất cứ lúc nào. Bên vệ đường
xác chết nằm ngổn ngang không thể chôn
xuể được, hơi bốc lên ngột
ngạt. Những người mệt yếu thì
không đủ sức, còn một ít người
tương đối mạnh khỏe không
sao chôn hết xác chết, và chính họ cũng
không biết sẽ chết lúc nào. Có nhiều người
đã ngã gục trước khi kịp chôn người
khác.
Không còn
một ngọn rau, ngọn cỏ nào trong thành,
người ta nhai cả những miếng da của
những chiếc giầy, xăng đan cũ.
Nhiều người đói quá phải đến
những ống cống những đống phân
súc vật để đào bới và rồi ăn
cả phân của súc vật, cái mà trước
kia họ chỉ nhìn cũng đã ghê tởm bây
giờ lại dùng làm đồ ăn. Ghê rợn
hơn có bà mẹ đã giết con đem nướng
rồi ăn. Thật là một cảnh tượng
ghê rợn.
Sau 6 tháng
vây hãm, tới tháng 9 năm 70 khi quân Rôma chiếm
được thành thì 1 triệu 1 trăm ngàn
người đã chết vì đói và gươm
giáo- phần lớn vì đói- và chỉ còn 97 ngàn
người sống sót bị bắt làm tù binh.
Thực
phẩm đi liền với sự sống con
người. Khi thiếu người ta phải
cố tìm kiếm cho bằng được. Khi
nào không tìm được cơm bánh nữa người
ta sẽ hết sống.
Dân Do Thái
trên đường về đất hứa khi
đi trong sa mạc cũng thiếu cơm bánh
và họ ca thán Môisen và Aaron. "toàn thể cộng
đoàn Israel kêu trách Môsen và Aaron. Phải chi chúng
tôi chết bởi tay Yavê trong đất Ai Cập
khi còn ngồi bên niêu thịt và được
ăn bánh thoả thê! Thật các ông đã
đem chúng tôi ra sa mạc này để làm cho chúng
tôi cả lũ chết đói ở đây"
(Xh.16,2-3). Khi đói thì dân Do Thái đã coi trọng
của ăn hơn cả tự do.
Sách
Nhị Luật đã hướng tâm hồn dân
Do Thái lên cao hơn việc tìm kiếm của ăn
phần xác: "Các ngươi hãy nhớ lại
các con đường Yavê Thiên Chúa dẫn dắt
các ngươi trong sa mạc bốn mươi
năm, với dụng ý hạ các người
xuống để thử cho biết các ngươi
có thật lòng với Người có tuân giữ
lệnh truyền của Người hay không.
Người đã hạ các ngươi xuống
đã để các ngươi phải đói,
rồi Người lại cho các ngươi Manna
cái ngươi chưa từng biết và cha
ông các ngươi cũng không hay để dậy
cho các ngươi biết là người ta không
sống nhờ bánh mà thôi, nhưng còn sống bằng
mọi điều phát ra từ miệng Yavê."
(Đnl 8,2-3).
Con người
không chỉ đói về phần xác nhưng
còn đói về tinh thần, và cơn đói tinh
thần cũng mãnh liệt như cơn đói
thể xác. Cơm bánh có thể làm giãn đói thể
xác nhưng chỉ có Lới Chúa mới thoả
mãn được cơn đói tinh thần. Tiên
tri Amos đã tả cảnh tượng người
ta tranh nhau đi tìm kiếm Lời Chúa: "Này
sẽ đến những ngày ta sẽ sai đói
đến trong xứ không phải đói về
bánh, không phải khát về nước song là đói
khát nghe những lời của Yavê. Chúng sẽ
rảo quanh từ Bắc qua Đông để
tìm kiếm lời của Yavê." (Am ,11-12).
Chúa Kitô
tuyên bố những kẻ đói khát chân
lý, đói khát Lời Chúa là hạnh phúc: "Phúc
cho những kẻ đói khát chân lý, họ sẽ
được no thoả." (Mt 5:6). Những
người đói khát chân lý được
hạnh phúc vì họ sẽ đi tìm kiếm, họ
sẽ nhận biết sự thiếu thốn
của mình và khiêm tốn chạy đến với
Đấng là nguồn mạch sự công chính
để được thánh hoá; còn kẻ
kiêu hãnh họ cho mình là đầy đủ không
thiếu thốn gì nên sẽ giống nhưng
những người Laodicea bị Chúa rủa:
"Người tự bảo ta giàu, ta đã
thành phú túc ta chẳng thiếu thốn gì, ngươi
không biết ngươi là kẻ khốn nạn,
đáng thương, nghèo nàn, trần trụi"
(Kh3,17). Trong lãnh vực thiêng liêng ai thấy mình
giàu có đầy đủ người đó
là kẻ nghèo nàn, cùng cực.
Chúa
Kitô chính là Lời của Thiên Chúa mà tiên trị
Amos đã thấy mọi người đi tìm
kiếm. Ngài là Bánh để ai đến với
Ngài sẽ được no thoả và dư
tràn, Ngài đã quả quyết. Ta là bánh hằng
sống, ai đến cùng Ta không khi nào đói,
ai tin kính Ta không bao giờ khát." (Ga 6, 35).
Như bánh cần thiết cho thân xác thể nào
thì Thánh Thể cũng cần thiết cho linh hồn
như vậy. Thân xác cần phải có bánh
mới sống, linh hồn cần phải có Thánh
Thể mới đủ sức đi về quê
trời. Thánh Thể là thần lương nuôi
dưỡng những người mệt mỏi
là sức mạnh nâng đỡ những người
yếu đuối, là sức nóng sưởi ấm
linh hồn lúc giá lạnh, là sự êm dịu an
ủi linh hồn lúc chán nản.
Thánh
Thể chính là Thiên đàng của các thánh, nơi
đây các ngài đã kín múc được nguồn
hoan lạc. Nhiều tâm hồn thánh thiện đã
chỉ sống bằng bánh Thánh Thể. Người
đầu tiên được sử liệu ghi
chép đầy đủ là Chân phước Alpais.
Chân phước là một thiếu nữ đồng
quê chất phát, đã phải làm việc đồng
áng giúp đỡ cha. Một thầy dòng khổ
tu quen biết chân phước đã viết tiểu
sử về chân phước ngay khi ngài còn sống
và kể lại Alpais đã mắc bệnh phong
cùi nhưng được Đức Mẹ hiện
ra chữa khỏi. Sau đó Alpais lại bị
mắc bệnh tê bại tay phải nằm liệt
giường. Trong một thời gian lâu
Alpais không ăn uống gì hết chỉ
chịu Lễ để sống. Đức Tổng
Giám mục Thành Sens đã cử phái đoàn đến
điều tra và đã xác nhận sự kiện.
Nhiều phép lạ xảy ra do lời cầu
nguyện của Alpais và người ta đã
xây một nhà thờ nối liền với nhà
của Alpais nên ngài có thể nhìn qua cửa sổ
để tham dự Thánh Lễ. Alpais qua
đời năm 1211.
Thánh Nữ
Lidwina ở Hoà Lan khi còn nhỏ trượt
tuyết bị ngã gẫy xương sườn.
Chứng hoại thư bành trướng từ
vết thương rồi lan tràn khắp thân
thể làm ngài chịu đau đớn suốt
cả đời. Thêm vào những đau đớn
bệnh tật, ngài còn được Chúa in những
dấu thánh trên mình ngài để thông phần
đau khổ với Chúa. Niềm an ủi duy
nhất của ngài là được chịu Thánh
Thể. Những năm đầu cha giải
tội chỉ cho ngài chịu Lễ mỗi năm
hai lần nhưng một lần thấy Bánh Thánh
chảy máu, cha giải tội biết mình lầm
lỡ nên cho Liwina chịu Thánh Thể bất cứ
lúc nào ngài muốn. Thánh nữ đã chỉ sống
nhờ chịu Mình Thánh Chúa trong suốt 19 năm
cho tới lúc ngài qua đời năm 1433. Những
lúc bị trì hoãn rước Lễ ngài thấy
mệt mỏi, yếu ớt nhưng khi chịu
Mình Thánh Chúa xong thì ngài lại khoẻ mạnh
và vui tươi.
Gần
chúng ta hơn có Chị Têrêxa Neumann ở Tây Đức,
người đã được Chúa cho mang dấu
thánh, Chị cũng chỉ sống bằng
Bánh Thánh Thể trong suốt 36 năm từ năm
1926 đến lúc Chị chết năm 1962. Trong
suốt thời gian này Chị không ăn không uống
gì ngoài rước Thánh Thể. Bánh Thánh còn nguyên
trong Chị hầu như cả ngày. Đến
lúc cuối của khoảng thời gian 24 giờ
từ lúc rước Lễ Chị cảm
thấy mệt lả yếu sức nhưng khi
rước Thánh Thể Chị lại được
sức mạnh trở lại. Hiện giờ
thủ tục phong thánh cho Chị đang được
tiến hành.
Thánh Thể
là nguồn vui là sức mạnh của các thánh.
Thánh Thể cũng là nguồn hy vọng, sức
nâng đỡ của chúng ta. Như manna đã
nuôi sống dân Do Thái 40 năm trên đường
về đất hứa, như bánh Thiên Thần
đem đến đã làm cho Êlia đủ sức
đi suốt 40 đêm ngày tới Núi Horep, Thánh
Thể cũng nuôi dưỡng, ban sức mạnh
để chúng ta đi tới quê trời. Những
khi cảm thấy mệt mỏi, yếu đuối
hãy chạy đến với Thánh Thể chúng
ta sẽ được thêm nghị lực. Thánh
Thể là nguồn suối mọi ơn thánh, một
nguồn mạch không bao giờ vơi cạn,
tuỳ mức độ tin tưởng
và tha thiết cầu nguyện của chúng ta sẽ
lãnh nhận được nhiều ít ơn thánh
từ Thánh Thể.
Hết
|