|
8.
TỪ CHIẾN TRƯỜNG ĐẾN TÔN GIÁO
Ngày
lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời 15 tháng 8 năm 1917 nơi chiến tuyến
Ide, một thung lũng nằm trong vương quốc Bỉ, một y sĩ tham chiến
vừa thi hành phiên trực vừa lần hạt mân côi để bày tỏ lòng kính
mến Đức Mẹ trong ngày trọng đại mừng kính Người.
Đang lần hạt, miệng lẩm nhẩm đọc lời kinh "Kính mừng Maria...",
bỗng nguồn thiên hứng dâng trào khiến vị y sĩ thay thế lời kinh
"Kính mừng Maria" bằng một chuỗi dài các vần thơ nhỏ
dâng kính Mẹ Thiên Chúa. Các vần thơ tuôn ra như những cánh chim
nhỏ tung bay từng con một tiến về trời cao nơi Mẹ Thiên Chúa được
hiển vinh cả hồn lẫn xác. Đó là những vần thơ suy gẫm và chúc
tụng mười lăm mầu nhiệm của kinh Mân Côi. Vị y sĩ vừa là thi sĩ
vừa là tín hữu Công giáo bị động viên trong thời thế chiến thứ
nhất đó không ai khác hơn là văn sĩ Ăngri Ghêông người pháp.
Ăngri Ghêông sinh năm 1875 trong một gia đình công giáo, nhưng
chỉ có mẹ là người đạo đức còn ông bố là người không giữ đạo.
Trong tuổi thơ ấu vào mỗi buổi tối cậu bé Ăngri thường quì gối
giữa mẹ và chị đến đọc kinh trước tượng thánh giá và bức ảnh Đức
Mẹ Lên Trời của họa sĩ Lôrinô như bao nhiêu trẻ em công giáo khác.
Ăngri cũng theo học giáo lý rồi xưng tội và rước lễ lần đầu. Nhưng
không lâu sau đó cậu bé Ăngri bỗng thay đổi tâm tình. Sau này
chính Ăngri Ghêông kể lại:
Vào một Chúa nhật khoảng hai hay ba năm sau ngày tôi rước lễ lần
đầu, khi mẹ tôi trang điểm chuẩn bị để đến nhà thờ dự lễ, thì
tôi say mê đọc truyện ở phòng dưới. Một lúc sau mẹ tôi gọi vọng
xuống:
- Ăngri con thay áo nhanh lên đi lễ, giờ này là trễ rồi!
Tôi ngồi im không trả lời tiếng giục gọi của mẹ. Một lúc sau tôi
mới lên phòng mẹ.
Trông thấy tôi mẹ tôi liền nói:
- Sửa soạn lẹ lên con! Nếu không con sẽ bị mất lễ.
Tôi liền trả lời mẹ, nhưng mắt nhìn xuống đất, có lẽ vì xấu hổ
với chính mình:
- Con không đi lễ đâu mẹ! Vì thật ra, thưa mẹ, con đâu có tin!
Từ biến cố đó Ăngri sống mà không hề nghĩ đến Thiên Chúa đúng
y như là một người vô thần thực thụ. Trong thời gian này Ăngri
theo học ngành thuốc, rồi ra trường hành nghề bác sĩ. Song song
với nghề bác sĩ, Ăngri còn là một văn thi sĩ. Ông viết sách và
cộng tác với nhiều tờ báo nổi tiếng tại Pháp. Ông cũng sáng tác
các vở kịch và giữ vai trò đạo diễn hay diễn viên.
Ngày kia Ăngri cùng với một người bạn đi tham quan nước Italia.
Ông đến Phôrenxô nơi có bảo tàng viện thánh Maccô. “Thánh Maccô”
trước đây là tu viện của các cha dòng Đa Minh. Bảo tàng viện Thánh
Maccô nổi tiếng về các bức tranh vẽ trên tường của nhà danh họa
Angelicô. Khi chiêm ngưỡng các bức họa trên tường, Ăngri như cảm
nhận được lòng tin Kitô chiếu tỏa trên các khuôn mặt và toàn thân
thanh khiết của các nhân vật trên các bức tranh. Ăngri thật sự
bị xúc động mạnh. Nước mắt ông tuôn trào. Sự vô tín ngưỡng của
ông bị lung lay. Sau này khi kể lại dây phút đáng nhớ ấy ông viết:
"Nơi hành lang trần trụi và thinh lặng của tu viện thánh
Maccô, tôi đứng bất động trước bức tranh vẽ cảnh Chúa tắt thở
trên Thánh giá và bức tranh diễn tả cảnh Thiên Thần đến truyền
tin cho Đức Trinh Nữ Maria. Phút chốc tôi như chạm phải ranh giới
không thể giải thích được giữa con người và Thiên Chúa, giữa nơi
tục lụy và thiên đàng, giữa những gì thuộc về thế giới và những
gì thuộc về thế giới của trời cao."
Mặc dù bị xúc động mạnh như thế, nhưng Ăngri vẫn chưa dứt khoát
trở về với đức tin Kitô. Phải đợi mãi cho đến khi thế chiến thứ
nhất bùng nổ và bị động viên trong tư cách là một y sĩ nơi mặt
trận nước Bỉ và may mắn gặp một tín hữu công giáo nhiệt thành
tên là Đôminicô Ghibuây, một sĩ quan hải quân, cuộc đời Ăngri
mới thực sự được biến đổi.
Số là sau khi quen thân nhau một thời gian, ông Ghibuây bị ngã
gục trong chiến trường vào ngày thứ Bảy Tuần thánh năm 1915. Cái
chết bất ngờ của bạn hiền cộng thêm với không biết bao nhiêu cái
chết của các binh sĩ tham chiến đã đưa tâm hồn cứng cỏi vô đạo
của Ăngri trở về với tôn giáo.
Một ngày trong tháng 9 năm 1915 lần đầu tiên kể từ hơn 25 năm
sau ngày rước lễ lần đầu Ăngri bắt đầu đọc kinh Lạy Cha và kinh
Kính Mừng. Từ đó ông cầu nguyện mỗi ngày, đặc biệt là lần hạt
Mân Côi kính Đức Mẹ. Năm 1944 ông bị bệnh liệt giường và xin chịu
các phép bí tích sau hết. Sau khi ban các bí tích vị linh mục
nói:
- Ông Ăngri à, ông thật là có phúc, bởi vì chiếc áo sau cùng theo
ông vào phần mộ không phải là chiếc cẩm bào, không phải là bộ
áo diễn kịch, cũng không phải là bộ đồng phục danh dự của Hàn
Lâm Viện Pháp, nhưng là chiếc áo trắng thô sơ của một tín hữu
dòng ba Thánh Đaminh, vị tông đồ khởi xướng Kinh Mân Côi.
Cuộc hành trình tìm lại đức tin của ông Ăngri quả là lâu dài và
khó khăn. Điều đó cho ta thấy được phần nào sự cao quí của đức
tin. Là người tin Chúa, chúng ta có biết quý trọng đức tin chúng
ta đang nắm giữ không? Chúng ta có nhiệt thành sống đức tin và
làm tăng trưởng đức tin qua mọi sinh hoạt của đời mình không?
|