| |
ĐỜI CẦU NGUYỆN
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
Chương Sáu
THA NỢ CHÚNG CON
Kinh Chúa Dạy phần thứ hai được chia làm hai đoạn, cách nhau bằng một dấu chấm câu. Đoạn thứ nhất trong hai đoạn của phần thứ hai này gồm có hai chi tiết, liên lạc ý tứ với nhau một cách chặt chẽ, bằng một dấu phẩy kèm thêm chữ “và” để nối kết chúng lại với nhau trong cùng một câu văn, diễn tả cùng một ý mà có hai tứ.
Tuy chữ “va” đã làm cho hai mệnh đề đứng trước và sau nó thành hai mệnh đề độc lập, không lệ thuộc vào nhau, nhưng, vì chỉ là một câu văn, nghĩa là vì chỉ diễn tả cùng một ý tưởng, nên, trong câu văn có hai mệnh đề độc lập này, về ý tứ, phải có chính, có phụ. Xét về mạch văn, mệnh đề đứng trước trong câu văn này là chính và mệnh đề theo sau là phụ.
Thật vậy, nếu “xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”, như đã được diễn giải, có thể nguyện khác đi là “xin Cha cho chúng con hôm nay làm trọn ý Cha và hoàn tất công việc Cha trao phó”, thì, “và tha nợ chúng con” không phải là “và xin Cha cũng tha lỗi cho chúng con đã không làm trọn ý Cha và hoàn tất công việc Cha trao phó” hay sao?
Phải, “tha nợ” ở đây chính là “tha tội” vậy.
Bởi vì, tội lỗi là gì, nếu không phải là điều làm mất lòng Chúa, và, phạm tội là gì, nếu không phải là làm điều làm mất lòng Chúa. Mà, điều làm mất lòng Chúa đây không phải là điều con người, vì đam mê, tự ái cùng ý riêng của mình, đã bất tuân ý Chúa, hoặc đã làm trái ý Ngài, hay thậm chí đã phản lại ý Ngài là gì?
Sở dĩ, đối với thành phần có tư cách để đọc kinh Chúa Dạy này, tội lỗi là một món “nợ” họ mắc với Thiên Chúa là vì, Thiên Chúa là Cha của họ, là Đấng yêu họ trước (x.1Gn 4:19), là Đấng yêu họ đang khi họ còn là một tội nhân (x.Rm 5:8), là Đấng không tha cho Con Một Mình vì họ (x.Rm 8:32).
Thế nên, theo nguyên tắc, họ đã nợ tình với Thiên Chúa là Cha của họ rồi. Đằng này, nếu họ không sống xứng đáng với những gì họ đã được một cách nhưng không, nghĩa là không sống xứng đáng với tình yêu Thiên Chúa, thì không phải là họ càng nợ Đấng đã cho họ mượn hay sao? Nếu tính sổ lại, họ không phải là tên đầy tớ mắc nợ chủ nhân ông là vua của mình một món nợ khổng lồ không thể nào trả nổi ư. Đến nỗi, cả con người họ, tức linh hồn, vợ hay chồng của họ, tức thân xác, con cái họ, tức tài năng, và của cải họ, tức công nghiệp, phải chịu khốn khó, tức bị đem bán đi, mới có thể đền bù một phần nào món nợ họ mắc nợ với chủ của mình (x.Mt 18:23-25).
Phần con người, khi bị gọi đến tính sổ với chủ nợ của mình, sẽ thấy rằng mình thật sự mắc nợ với chủ qúa nhiều. Họ mắc nợ chủ ở chỗ chính họ đã tự động đến xin Ngài ban cho họ điều họ muốn, rồi sau đó vì không biết sử dụng đã làm hao phí đi.
Đó là trường hợp của người con hoang đàng: “Thưa cha, xin chia cho con phần gia nghiệp thuộc về con” (Lc 15:12). Căn cứ vào ý muốn đó, “người cha đã phân chia của cải ra (cho nó)” (Lc 15:12). Điều này, trên thực tế, xẩy ra khi con người được chịu phép rửa tội. Tự bản tính và theo ý muốn cứu độ con người, Thiên Chúa thật là Cha của con người, dù con người còn ở trong tình trạng chưa chính thức được cứu rỗi bằng Ơn Thánh của Ngài.
Tuy con người, qua Adong, đã mất ơn nghĩa với Ngài, song không phải vì thế mà Ngài không thương họ nữa, trái lại, “Thiên Chúa (còn) yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Mình” (Gn 3:16), chính vì thế, “khi chúng ta còn bất lực, vào thời gian ấn định, Chúa Kitô đã chết cho chúng ta là những kẻ vô thần” (Rm 5:6) .
Bởi đó, theo tình, con người vẫn là con cái của Ngài, và, bởi đó, mới có đủ tư cách đến để xin Ngài chia gia tài cho mình là sự sống đời đời mà Ngài đã ban cho họ qua Con Một của Ngài, “Đấng đã hiến mạng sống mình làm giá chuộc mọi người” (1Tim 2:6).
Theo đó, Giáo Hội không thể nào ban bí tích rửa tội cho ai, tức ban sự sống đời đời cho người nào, nếu họ không hoàn toàn tự do tỏ ý muốn được “phân chia phần gia nghiệp thuộc về họ”, phần gia nghiệp mà “tất cả của cha cũng là của con” (Lc 15:31). Như thế, khi không sống xứng đáng với những gì được chia ban cho mình, theo ý muốn của mình, thì, theo lý, không phải là con người đã mắc “nợ” với Thiên Chúa là Cha của mình hay sao?
Vậy, cả tình, về phương diện Thiên Chúa đã tỏ lòng yêu chúng ta trước, và lý, về phương diện chúng ta cũng tỏ ý chấp nhận tình yêu của Ngài sau, để có thể trở nên con cái của Ngài: “Ai chấp nhận Người, Người ban cho họ quyền làm con cái Thiên Chúa” (Gn 1: 12), chúng ta, thành phần chính thức để đọc kinh Chúa Dạy, không thể chối cãi được rằng chúng ta đã mắc “nợ” với “Cha ở trên trời” của chúng ta nhiều lắm, to lắm, không gì có thể đền trả cho cân xứng, ngoài việc làm theo ý của Ngài và chu tất mọi công việc Ngài trao, như “lương thực hằng ngày” của mình.
Bằng không, không làm theo ý Ngài và chu tất mọi công việc Ngài trao, như nén bạc còn nguyên, dù không bị mất vì vô ý đánh rơi hay đầu tư bị thua lỗ vẫn bị Ngài trừng phạt như thường (x.Mt 25:25-30).
Không làm theo ý Ngài, không chu tất công việc của Ngài trao cho còn bị Ngài trừng phạt như thế, vì, đối với Ngài, không có lưng chừng, không có nửa vời, “ai không hợp với Ta là chống lại Ta, ai không thu góp với Ta là phá đám” (Mt 12:30) thế thôi, huống chi những kẻ chẳng những không hợp với Ngài thì chớ, lại còn tỏ ra chống lại Ngài, bằng cách làm mất đi cả những gì Ngài đã ban cho họ vì họ đến xin Ngài. Điển hình là trường hợp của người con hoang đàng, người con mà “mấy ngày sau đã thu quén tất cả những gì thuộc về nó và trẩy đi phương xa, ở đó, nó phung phá gia tài của mình vào cuộc sống trác táng trụy lạc” (Lc 5:13).
Thực ra, Thiên Chúa là Cha “thương xót” (Lc 6:36) của chúng ta đã chính thức “tha nợ” cho chúng ta là con cái của Ngài nơi Con Một của Ngài, “Đấng đã không hề biết đến tội lỗi đã trở thành tội lỗi vì chúng ta” (2Cor 5:21). Và, chỉ có Người, Đấng đẹp lòng Cha mọi đàng mới có đủ tư cách và công nghiệp để đền bù lại số nợ khổng lồ tự chúng ta không thể nào trả nổi.
Giang tay trên thập giá, Chúa Giêsu, hơn lúc nào hết, thay cho chúng ta, những kẻ sẽ được tái sinh bởi Người trong Ơn Nghĩa Chúa, kêu lên với Chúa Cha rằng: “Xin Cha tha nợ chúng con”. “Chúng con” đây bao gồm cả Chúa Giêsu vô tội nhưng vì chúng ta đã trở nên tội lỗi để có thể “chết cho tội lỗi của chúng ta” (1Cor 15:3).
Như thế là, chẳng những chúng ta đã nợ tình với Thiên Chúa là Cha, “Đấng đã yêu chúng ta trước”, chúng ta còn nợ nghĩa với Con của Ngài cũng là Thiên Chúa của chúng ta nữa, Đấng đã chuộc chúng ta “bằng một giá cao” (1Cor 6:20,7:23).
Về việc trả nợ cho Ngài, hơn ai hết, Thiên Chúa đã biết chúng ta không thể nào trả nổi, Ngài vẫn sẵn sàng tha thứ cho chúng ta một cách nhưng không mỗi lần chúng ta thành tâm hối lỗi xin Ngài thứ tha (x.Mt 18:26-27).
Tuy nhiên, dù Thiên Chúa không kể đó là “nợ” cho chúng ta mượn và đòi chúng ta phải trả, về phía chúng ta là “những đứa con được thừa nhận” (Gal 4:5) cũng cảm thấy đó là “ơn” phải đền. Nếu chúng ta làm theo ý Ngài và chu tất công việc Ngài trao cho là chúng ta đền ơn Ngài, bằng không, tất cả những ơn đó liền trở thành nợ mà chúng ta phải trả lại Ngài một cách công bằng.
Trên thực tế, dù đã được Ơn Nghĩa với Chúa, một khi còn sống trong “thân xác chết chóc này” (Rm 7:24), “chúng ta chứa đựng kho tàng (Ơn Nghĩa) này trong một bình sành” (2Cor 4:7) dễ vỡ là thân xác với “bản chất yếu nhược” (Mc 14:38) của chúng ta. Do đó, không thể nào chúng ta tránh được việc làm mất lòng Thiên Chúa, tức làm hao hụt đi kho tàng Ơn Thánh của chúng ta bằng những vết nứt ở bình sành thân xác, tượng trưng cho tội nhẹ, thậm chí, còn có thể làm vỡ toang chiếc bình thân xác bằng những tội trọng của chúng ta, làm tan hoang cả kho tàng Ơn Thánh vô cùng qúi gía và qúi trọng mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta.
Chính vì biết được chúng ta như thế, Thiên Chúa là Cha của chúng ta vẫn luôn sẵn sàng tha thứ cho chúng ta, như thái độ của người cha đối với đứa con bỏ nhà ra đi phung phí hết gia tài ông đã chia cho nó theo như ý muốn của nó: “Đang khi hắn còn ở đằng xa, vừa trông thấy hắn, hết sức xúc động, ông đã vội chạy tới gặp hắn, ôm chầm lấy cổ hắn mà hôn” (Lc 15:20). Miễn là, sau khi phạm tội, nặng nợ với Ngài, chúng ta biết mình, hối lỗi và trở về với Ngài, như trường hợp của người con phung phá: “Con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng gọi là con Cha nữa” (Lc 15:21).
Đối với Thiên Chúa là Cha trọn lành của chúng ta ở trên trời thì như thế, dù chúng ta có tội lỗi đầy trời ngập đất đi nữa, cũng không thể nào vượt được lòng yêu thương vô cùng bất tận, bất biến và bất diệt của Ngài. Chỉ cần chúng ta biết mình tự hạ trước nhan Thiên Chúa như người thu thuế cúi mặt và đấm ngực: “Ôi Thiên Chúa, xin thương đến con là kẻ tội lỗi” (Lc 18:13), thì sẽ được thứ tha, “được công chính hóa” (Lc 18:14).
Dù chúng ta có được Thiên Chúa hay tha thứ tội lỗi, nhưng, nếu chúng ta không thực sự biết mình và không thực tình thống hối tội lỗi của chúng ta, chỉ lợi dụng lòng thương xót của Chúa, chúng ta sẽ không thể nào giấu được Ngài và giấu được thiên hạ.
Trường hợp của người đầy tớ thanh toán nợ nần với chủ vương của mình thì rõ. Trong khi chủ vương của anh ta tha hết nợ cho anh ta, thì anh ta lại không chịu tha nợ cho bạn bè của mình, dù số nợ của bạn bè đối với anh ta chẳng đáng là bao nhiêu, so với số nợ anh ta phải trả cho chủ vương của anh ta mà lại được chủ vương thương tình tha cho (x.Mt 18:24-30).
Phải chăng, hắn muốn đòi nợ người để trả nợ chủ của hắn? Thế nhưng, hắn không hiểu chủ hắn nhân từ là chừng nào, mặc dù hắn không xin chủ tha nợ không thể trả được của hắn, chỉ khất thôi, tự chủ hắn cũng vốn đã có ý tha hết nợ cho hắn rồi: “Động lòng thương, chủ liền thả hắn về và tha hết nợ cho hắn” (Mt 18:27). Được chủ đối xử nhân từ như vậy, (không phải là hắn không biết điều đó), song, chỉ vì lòng tham lam vị kỷ của hắn, chứ không phải để lấy nợ trả nợ, (hắn còn nợ chủ hắn nữa đâu mà sợ), hắn đã đối xử với con nợ của hắn qúa ư là bất nhân và tàn nhẫn, không giống như chủ hắn đã đối xử với hắn một tí nào.
Do đó, thật là công bằng khi chủ hắn, vì biết được thái độ chấp nhất và hành động bủn xỉn của hắn như vậy, đã bắt hắn phải trả cho bằng hết số nợ với ông (x.Mt 18:32- 34). “Cha Ta trên trời sẽ đối xử với các ngươi y hệt như vậy, trừ phi các ngươi thật lòng tha thứ cho anh em mình” (Mt 18:35).
Đó là:
Xin “tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”.
Thế nhưng, lý do và động lực thúc đẩy chúng ta tha cho kẻ mắc nợ chúng ta không phải là vì để được Thiên Chúa tha thứ cho chúng ta, mà là vì đã được Thiên Chúa thứ tha cho chúng ta rồi, nên chúng ta cũng phải thứ tha cho người mắc nợ chúng ta.
Nếu vì để được Thiên Chúa tha nợ cho mình mà mình tha nợ cho kẻ khác thì chỉ là trả lẽ công bằng với Thiên Chúa mà thôi. Bởi vì, nếu chúng ta cảm thấy chúng ta không mắc nợ gì với Chúa, chúng ta sẽ không còn tha nợ cho kẻ khác nữa, khi kẻ khác mắc nợ của chúng ta.
Còn, nếu chúng ta tha nợ cho kẻ khác chỉ vì đã được Thiên Chúa thứ tha cho mình thì mới là đáp lại tình yêu của Ngài, nhờ đó, mới làm Ngài hoàn toàn mãn nguyện. Bởi vì, lúc ấy, lúc chúng ta tha nợ cho kẻ khác như đã được Thiên Chúa thứ tha cho chúng ta là lúc chúng ta để cho lòng thương xót của Ngài tuôn chảy sang kẻ khác qua chúng ta; bằng không, lòng thương yêu vô bờ bến của Ngài sẽ bị chặn đứng lại nơi chúng ta. Như thế, vô tình hay cố ý, chúng ta đã làm trái với bản tính vô cùng trọn lành của Ngài, tức là chúng ta đã xúc phạm đến Thần Tính Ngài, làm tổn thương đến Danh Thánh Ngài và tổn hại đến Nước của Ngài.
Một khi chúng ta để cho tình yêu thương vô cùng bất tận của Thiên Chúa tuôn chảy từ chúng ta đến các linh hồn, nhất là các linh hồn mắc nợ chúng ta, thì chúng ta không thể nào không tha thứ cho họ, bất kể họ là ai, bất kể họ nợ chúng ta bao nhiêu, bất kể họ có tỏ ý xin chúng ta tha nợ cho họ hay không, nhất là bất kể họ cố tình chứ không phải vô ý làm tổn hại đến chúng ta cách nào.
Bất kể kẻ mắc nợ chúng ta là ai, vì Thiên Chúa đã tha thứ cho chúng ta, chúng ta cũng phải thứ tha cho họ. Bởi đó, Chúa Giêsu đã dạy chúng ta: “Và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”, chứ Chúa không dạy chúng ta chỉ nguyện “như chúng con cũng tha” cho nhau, (tức cho anh chị em trong gia đình nhiệm thể Giáo Hội của mình cũng là con cái của Cha trên trời với mình) mà thôi.
Bất kể kẻ mắc nợ chúng ta bao nhiêu, vì Thiên Chúa đã tha thứ cho chúng ta số nợ chúng ta “không thể nào trả nổi”, chúng ta cũng phải tha cho họ “chẳng những bảy lần mà là bảy mươi lần bảy lần” (Mt 18:22), nghĩa là luôn luôn tha thứ, không bao giờ chấp nhất, không bao giờ giới hạn, không bao giờ tính toán, như Thiên Chúa đã thứ tha cho chúng ta.
Bất kể kẻ mắc nợ chúng ta có tỏ ý xin chúng ta tha nợ cho họ hay không, vì Thiên Chúa đã tự ý yêu thương chúng ta, chết cho chúng ta khi chúng ta còn là những tội nhân thù nghịch với Ngài, chúng ta cũng phải tự động tha cho họ như không có gì xẩy ra: “khi thấy anh em ngươi có gì với ngươi (chứ không phải ngươi có gì với họ) ... hãy đi làm hòa với (họ) trước đã, rồi hãy đến mà dâng lễ vật của mình” (Mt 5:23-24).
Bất kể kẻ mắc nợ chúng ta có cố tình xúc phạm hay làm hại đến chúng ta, vì Thiên Chúa đã tha cho chúng ta tất cả mọi tội lỗi, dù vô tình hay cố ý mà chúng ta phạm thượng đến Ngài, chúng ta cũng phải thứ tha cho họ như vậy: “Đừng chống cự lại kẻ gian ác. Khi người ta vả má bên phải ngươi, hãy chìa cho họ cả má bên trái nữa. Nếu có ai muốn lột áo ngươi, hãy cởi cả áo khoác ngoài cho họ. Nếu ai bắt ngươi đi một dặm, hãy đi với họ hai dặm. Cứ cho kẻ xin ngươi. Đừng chối từ kẻ muốn vay nợ ngươi” (Mt 5:39-42).
“Và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” là như thế!
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
|
|