Suy Niệm của Huệ Minh

Chúa Nhật 1 thường niên, năm A

 

8 tháng 1 năm 2023 Chúa Nhật  Lễ Hiển Linh

Is 60:1-6; Tv 72:1-2,7-8,10-11,12-13; Ep 3:2-3,5-6; Mt 2:1-12

Hãy chiếu sáng như những vì sao

          Lễ Hiển Linh, đó là ngày Thiên Chúa tỏ mình ra cho dân ngoại, mà đại diện là ba nhà đạo sĩ phương đông, để thực hiện lời tiên tri Isaia đã loan báo: Dân ngồi trong tăm tối sẽ được nhìn thấy ánh sáng chói lòa.

Đồng thời đây cũng là ngày trọng đại cho mỗi người chúng ta, vì ơn cứu độ đã được thực hiện cho muôn dân.

          Chúng ta hãy nhìn vào cung cách của ba nhà đạo sĩ để rồi từ đó cùng nhau tự vấn lương tâm và kiểm thảo đời sống của mình.

          Cách đây hơn 2000 năm, trên bầu trời đầy sao bổng xuất hiện một ngôi sao lạ ở phương Đông.Các nhà chiêm tinh nhận ra ngôi sao lạ vì họ chuyên nghiên cứu các vì sao.Ngày xưa người ta tin rằng những vĩ nhân chào đời thường được báo hiệu bằng những ngôi sao. Bởi đó khi thấy xuất hiện một ngôi sao lạ, họ đã nghiên cứu đối chiếu với lời tiên báo trong trong sách Dân số ” Một vì sao xuất hiện từ Giacop,một vương trượng chỗi dậy từ Israel”( 24,17), họ tin rằng có một vị vua mới sinh ra ở đất Do thái.Họ lập tức khởi hành, lên đường tìm kiếm.

          Khi đến thủ đô Giêrusalem, các nhà chiêm tinh dò hỏi tông tích của vị tân vuơng.Nghe tin ấy vua Hêrôđê bối rối liền triệu tập các thượng tế và kinh sư lại.Khi biết rằng Đấng Kitô hạ sinh ở Bê lem theo lời tiên báo các ngôn sứ, Hêrôđê bày trò gian xảo nhằm tiêu diệt ấu vương.Con cáo già giở giọng ngọt ngào: xin quý Ngài đi dò hỏi tường tận về Hài Nhi và khi đã tìm thấy, xin báo lại cho tôi, để tôi cùng đến bái lạy Người. Không gạt được các nhà chiêm tinh, vị bạo chúa ra lệnh giết hết con trẻ ở Bêlem và các vùng lân cận từ hai tuổi trở xuống tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẻ các nhà chiêm tinh.

          “Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông” (Mt 2, 2). Người xưa cho rằng ngày ra đời của các vĩ nhân thường được báo hiệu bằng sự xuất hiện của các ngôi sao lớn. Các chiêm tinh gia thường nghiên cứu những chuyển động của các vì tinh tú để đoán biết định mệnh con người. Vì thế, khi nhìn thấy ngôi sao lạ, các đạo sĩ đã nhận ra sự sinh hạ của Đấng Cứu Thế, Vua dân Do thái.

          Quả thật, người Do thái đã trông đợi Đấng Cứu Tinh từ bao thế kỷ, Đấng ấy được ví như một vì sao từ Giacóp, như có lời trong Kinh thánh: “Một vì sao xuất hiện từ Giacóp, một vương trượng chỗi dậy từ Ítraen ” (Ds 24, 17). Tiên tri Mikha cũng đã tiên báo: “Hỡi Bêlem Épratha, ngươi nhỏ bé nhất trong các thị tộc Giuđa, từ nơi ngươi, Ta sẽ cho xuất hiện một vị có sứ mạng thống lãnh Ítraen ” (Mk 5, 1).

Nếu Thiên Chúa đã dùng cột mây cột lửa để hướng dẫn dân Do thái đi trong hoang địa về đất hứa, thì Người cũng có thể dùng ngôi sao dẫn đường cho các đạo sĩ đến Belem để gặp Đấng Cứu Tinh.

          Ngôi sao lạ lại xuất hiện dẫn đường, các nhà chiêm tinh mừng rỡ tìm đến Bêlem. Họ đã gặp Hài Nhi liền sấp mình bái lạy, với lòng thành họ dâng tiến lễ vật vàng, nhũ hương và mộc dược.

          Thiên Chúa vẫn luôn tỏ mình ra cho nhân loại qua những dấu chỉ tự nhiên của trời đất, qua từng biến cố lịch sử, qua Lời Người trong Thánh Kinh, qua sự hiện diện của Dân Chúa là Giáo Hội, qua các Bí tích. Muốn gặp được Thiên Chúa, nhất thiết phải nổ lực tìm kiếm. Cho dầu có những thử thách, cam go, những hiểm nguy cạm bẫy, vẫn luôn kiên trì trong đức tin, bền đổ trong lòng mến.

          Chúa Giêsu nói: “Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời. (Mt 5, 14-16)

          Thánh Phaolô nhận ra vai trò của chính mình và của mỗi tín hữu, trong kế hoạch của Thiên Chúa, khi đã tiếp nhận ánh sáng cứu rỗi của Thiên Chúa, cũng phải làm ông sao lạ dẫn đường thiên hạ đến với Chúa. Ngài nói: “Hẳn anh em đã được nghe biết về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. Người đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Đức Ki-tô” (Ep 3,2-3). Hoặc, một nơi khác, ngài nói rõ hơn: “Anh em hãy làm mọi việc mà đừng kêu ca hay phản kháng. Như thế, anh em sẽ trở nên trong sạch, không ai chê trách được điều gì, và sẽ trở nên những người con vẹn toàn của Thiên Chúa, giữa một thế hệ gian tà, sa đoạ. Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao” (Philip 2,14-15).

          Lễ Hiển Linh, là cơ hội cho mỗi Kitô hữu, nhìn lại đời sống chứng nhân của mình. Hãy chiếu sáng như những vì sao ở giữa thế gian, nhưng chiếu sáng không phải để thế gian tìm về mình, nhưng là để thế gian tìm về Thiên Chúa, như Đức Kitô, ánh sáng mới cho nhân loại, soi cho nhân loại tìm được lối về với Cha thật trên trời. Tất cả vì “nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện, danh Cha cả sáng”. Bạn và tôi, như ngôi sao kia, đang làm việc của mình phải làm là chiếu sáng, chứ không làm việc của mình thích làm là chiếu sáng cho vinh quang mình.

          Lễ Hiển Linh mời gọi chúng ta một lần nữa xác nhận Chúa Giêsu là ánh sáng mới, ánh sáng cứu độ, đã từ trời xuống; đồng thời cũng nhắc nhớ mỗi người làm một ông sao. Một ông sao lạ, không ở tít trên cao, nhưng xuống cùng mọi người để chia sẻ niềm vui cứu độ. 

 

9 tháng 1 năm 2023 Thứ Hai Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa

Ý thức và sống phép Rửa

          Biến cố Đức Giêsu xuất hiện, đã được Giáo Hội nhìn như một biến cố đặc biệt mà Cựu Ước đã loan báo như chúng ta nghe trong bài đọc thứ nhất: “Hỡi kẻ loan tin mừng cho Sion, hãy trèo lên núi cao; Hỡi kẻ loan tin mừng cho Yêrusalem, hãy cất tiếng lên cho thật lớn … kìa Thiên Chúa các ngươi đang tới”. Nơi Đức Giêsu, người ta thấy vinh quang của Thiên Chúa. Thiên Chúa đến cách đặc biệt nơi Đức Giêsu.

          Biến cố Chúa Giêsu cũng đã chi phối và biến đổi đời sống của những người tin Ngài một cách dứt khoát. Đời sống của Kitô hữu phải dọi theo đời sống của chính Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu luôn chọn ý Thiên Chúa trên tất cả, Ngài luôn yêu thương anh chị em mình. Ngài yêu họ đến độ dám hy sinh chính mạng sống mình cho họ, nói cho họ biết Thiên Chúa yêu thương họ đến cùng khi cho Con Ngài nhập thể, cho dù khi nói như vậy Ngài bị người ta hiểu lầm và giết Ngài. Đức Giêsu là người đã đến sống cho tình yêu và chết cho tình yêu. Xin cho mỗi người chúng ta sống theo gương Ngài, yêu thương và khiêm tốn, để đem hạnh phúc cho những người chúng ta gặp gỡ và sống với.

          Tham dự phụng vụ hôm nay, Thánh sử Luca mời gọi chúng ta hướng nhìn về Chúa Giêsu, để chúng ta sống giống như Chúa Con, “đẹp Lòng Chúa Cha”. Đầu tiên, chúng ta thấy Chúa Giêsu sống khiêm nhường, sống giống mọi người. Trước khi dìm mình trong nước để nhận lãnh phép rửa từ tay thánh Gioan Tẩy Giả, Chúa Giêsu đã nhập đoàn dân chúng giống y như mọi người, khiêm tốn và chia sẻ với mọi người nhu cầu sám hối và thanh tẩy. Con đường của Chúa Giêsu đi cũng là con đường của tất cả mọi người chúng ta. Chúa Giêsu trở thành người và sống như mọi người, sống giữa mọi người.

          Kế đến, Chúa Giêsu cho thấy việc thanh tẩy là hình bóng của bí tích rửa tội mà chúng ta lãnh nhận. Tuy nhiên, nghi lễ thanh tẩy của Gioan chỉ là việc tỏ lòng sám hối. Lời Gioan Tẩy Giả cho thấy bản chất của bí tích Rửa tội mà Chúa Giêsu trao ban cho con người gồm hết mọi lễ nghi thanh tẩy của Cựu Ước, bởi vì Chúa Giêsu sẽ thanh tẩy con người với Chúa Thánh Thần và lửa. Bí tích Rửa tội mà Chúa Giêsu hiện thực là lửa đốt cháy sự dữ. Nó như lửa luyện lọc và thanh tẩy lòng con người như lời tiên tri đã báo trước. Nó như nước tẩy rửa mọi vết nhơ trong tâm hồn con người, trao ban phong phú và sự sống. Và điểm đặc thù nổi bật nhất trong bí tích Rửa tội Kitô giáo, là sự hiện diện củ

           Tin Mừng vừa nghe cho chúng ta thấy Chúa Giêsu xuất hiện như là vị cứu tinh của thời đại mới. Gioan lúc này đang làm phép rửa thống hối. Dân chúng đã từng thắc mắc về ông và tự hỏi: Ông có thể là vị cứu tinh của dân tộc, là Đấng Messia từng được mong đợi hay không? Nhưng chính Gion đã trả lời thắc mắc của dân chúng bằng cách giới thiệu Chúa Giêsu trong chính sứ vụ của Người. Đang khi ông chỉ là người làm phép rửa trong nước, thì Chúa Giêsu lại là người làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần và trong lửa. Lời giới thiệu của Gioan cho chúng ta thấy là thời đại cũ, thời chuẩn bị, thời tìm đường đã chấm dứt và thời mới, thời chính yếu đang đến.

          Ở đây Chúa Giêsu đã không chỉ được giới thiệu bởi Gioan mà còn bởi chính Thiên Chúa Cha qua sự kiện siêu phàm: Trời mở ra, Chúa Thánh Thần ngự xuống và tiếng phán từ trời. Người ta quan niệm rằng sau khi con người phạm tội thì trời và đất như đóng kín lại với nhau. Thiên Chúa Chúa không còn đi lại gần gũi với dân của Ngài như ngày xưa nữa. Nay với Chúa Giêsu, thì trời không còn khép kín, nhưng đã được mở ra như một điều kiện dọn đường cho Thánh Thần ngự xuống. Hình ảnh gợi lên cho chúng ta lòng mơ ước của dân Chúa vào thời cứu chuộc, thời Thiên Chúa sẽ xé trời mà xuống.

          Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa gợi nhớ về Bí tích Rửa Tội của chúng ta. Vì tình thương, Chúa Giêsu đã lập nên Bí tích Rửa Tội để tha tội cho chúng ta. Đây là Bí tích cần nhất. Bởi vì, chỉ có người đã lãnh nhận Bí tích này mới có thể lãnh nhận các Bí tích khác. Vì vậy, Giáo lý Hội Thánh Công Giáo gọi Bí tích Rửa tội là “lối dẫn vào các bí tích khác”(x. số 1213). Thật vậy, nhờ bí tích Rửa Tội, chúng ta mới có thể lãnh nhận Bí tích Giao Hoà, Bí tích Thánh Thể, Bí tích Xức dầu…

          Nhờ Bí tích Rửa Tội chúng ta không những được tha tội nguyên tổ và tất cả các tội lỗi của bản thân, mà còn được sinh ra trong sự sống mới, nhờ đó chúng ta trở thành nghĩa tử của Chúa Cha, là chi thể của Chúa Kitô, là đền thờ Chúa Thánh Thần. Nhờ đó, người lãnh nhận Bí tích Rửa Tội được nhập vào Giáo Hội, Thân Thể Chúa Kitô, và được tham dự vào chức tư tế của Chúa Kitô(x. GLHTCG số 1279). Vì vậy, Thánh Grêgôriô Naz gọi “Bí tích Rửa Tội là hồng ân đẹp nhất và tuyệt nhất trong các hồng ân của Thiên Chúa”.

          Nhưng quyền lợi đi đôi với bổn phận. Khi lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, Giáo Hội mời gọi chúng ta: Từ bỏ tà thần, tuyên xưng Đức Tin. Từ bỏ tà thần tức là từ bỏ tội lỗi, từ bỏ những quyến rũ bất chính và từ bỏ ma quỷ. Chúng ta thường gọi là: ma quỷ, thế gian và xác thịt. Giáo Hội cũng mời gọi chúng ta tuyên xưng đức tin, đó là những điều chúng ta đã tuyên xưng trong Kinh Tin Kính. Nhưng Đức Tin không chỉ tuyên xưng ngoài môi miệng mà còn phải thể hiện bằng những hành động cụ thể, vì như Thánh Giacôbê nói “Đức Tin không việc làm là Đức Tin chết”(Gc 2,17).

          Như thế, phép rửa của Chúa Giêsu nhắc nhở cho chúng ta ý thức được ơn gọi cao trọng làm con cái Chúa của mình, ơn gọi mà chúng ta đã lãnh nhận ngày chịu phép Rửa tội. Ơn gọi đó đồng thời cũng bao gồm sứ mệnh làm chứng cho Chúa giữa lòng thế giới này. Và chúng ta chỉ có thể hiện thực được nó khi biết cố gắng sống theo mẫu gương của Chúa Giêsu sống đẹp lòng Chúa Cha mà thôi.

          Khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, Giáo Hội còn trao cho chúng ta chiếc áo trắng và ngọn nến sáng: chiếc áo trắng là tượng trưng cho sự trong sạch tâm hồn; ngọn nến sáng là tượng trưng cho Đức Kitô, Đấng là nguồn mạch ánh sáng. Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy gìn giữ tâm hồn trong sạch, hãy gìn giữ ngọn lửa Đức Tin luôn luôn chiếu sáng cho tới khi ra trước toà Chúa Kitô để chúng ta được sống muôn đời.

 

12 tháng Giêng 2020

Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa

Is 42, 1-4. 6-7; Cv 10, 34-38; Mt 3, 13-17

DÌM MÌNH NHƯ CHÚA

          Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa ta mừng hôm nay được mừng sớm nhất, chỉ sau lễ Phục sinh, vì nó bao hàm lời rao giảng của các Tông Đồ, là điểm khởi hành cho tất cả những việc mà các Tông Đồ phải làm chứng cho (Cv 1, 21-22; 10, 37-41). Bởi thế, vào những thời kỳ đầu các Giáo phụ đã đặc biệt quan tâm, vì tính cổ thời quan trọng của nó. Thứ đến, đây là lần đầu tiên, mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được mạc khải một cách đầy đủ và rõ ràng. Lý do nữa là phép rửa của Chúa Giêsu nơi sông Giordan loan báo trước cho phép rửa bằng Máu của Chúa trên Thập Giá, tượng trưng cho tất cả hoạt động có tính cách bí tích của Ðấng Cứu Thế.

          Để cứu rỗi nhân loại, dù vô tội, Chúa Giêsu đã đặt mình vào hàng ngũ các tội nhân, mang trên mình tội lỗi của thế nhân. Hành động khiêm nhường và tự hủy này được Chúa Cha chứng dám: " Con là Con yêu dấu của Cha, Con đẹp lòng Cha" (Lc 3, 22). Cùng với Đức Giêsu, Chúa Thánh Thần xuất hiện dưới hình chim bồ câu đậu xuống trên Người, để chỉ cho chúng ta tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh mà chúng ta sẽ thấy diễn ra tương tự nơi biến cố Chúa Biến Hình.

          Bí Tích Rửa Tội là nền tảng của toàn bộ đời sống Kitô hữu, là cửa ngõ dẫn vào đời sống thần linh và mọi bí tích khác. Nhờ bí tích này chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi và tái sinh làm con cái Thiên Chúa, thành chi thể của Đức Kitô, được gia nhập và tham dự sứ mạng của Hội Thánh (GLCG #1213).

          Phép Rửa của Gioan là Phép Rửa bằng nước mời gọi sám hối. Phép rửa của Chúa Giêsu là Phép Rửa tái sinh. Phép rửa này ban cho người được rửa một đời sống mới. Thánh Phaolô đã giải thích về đời sống này cho những người vừa được rửa tội như sau: "Khi được rửa tội, anh em được an táng với Đức Kitô và trong phép rửa anh em cũng được sống lại với Đức Kitô. Anh em đã từng bị chết về mặt tâm linh nhưng giờ đây Thiên Chúa đã mang anh em đến nguồn sống cùng với Đức Kitô."(Cl 2,12-13).

          Chúa Giêsu chịu phép Rửa bởi Gioan đánh dấu bước khởi đầu công cuộc cứu độ của Ngài. Công cuộc trọng đại này là hành động của cả Ba Ngôi, vì chúng ta thấy Chúa Thánh Thần lấy hình chim bồ câu ngự xuống, đồng thời Chúa Cha phán bảo. Biến cố này rất quan trọng, nên Giáo Hội muốn chúng ta mừng kính riêng trong Chúa nhật hôm nay, tựa như ngày đăng quang của Đức Giáo Hoàng hay ngày nhận chức của một tổng thống.

          Đặc điểm chúng ta cần nhấn mạnh đó là Chúa Cha trên trời hài lòng về Người Con yêu quý của Ngài, là Đức Kitô. Có người cha nào lại không vui mừng khi người con của mình khởi sự một chức vụ quan trọng: người cha của một bác sĩ, người cha của một tân linh mục, người cha của chú rể trong ngày cưới. Niềm vui ấy càng lớn lao hơn khi người con ấy vâng phục và tôn kính cha mình.

          Nơi Chúa Giêsu, phép rửa hay phép thanh tẩy đã không còn là một nghi lễ, mà đã trở thành một cuộc sống. Tội lỗi đã bị đánh bại không phải bằng nước của phép rửa mà là bằng máu của sự sống. Bí tích thanh tẩy làm cho Kitô hữu trở thành con Thiên Chúa cũng không thể chỉ là một nghi lễ được lãnh một lần rồi thôi, mà phải là chính cuộc sống làm con Thiên Chúa, cuộc sống từ bỏ và đẩy lui mọi tội lỗi. Không phải chỉ là đẩy lui tội lỗi ra khỏi cuộc sống của cá nhân mình, mà còn là ra khỏi nhân loại.

          Như vậy qua Phép Rửa tái sinh, Chúa Giêsu chia sẻ cho những người được rửa tội đời sống thần linh của Ngài. Đó là sự sống trong Chúa Ba Ngôi. Người tín hữu trở thành thành viên trong Dân Chúa Cha, chi thể trong Thân Mình Chúa Kitô và viên đá sống động kiến tạo Đền Thờ Chúa Thánh Thần, nghĩa là trở nên con cái Thiên Chúa và được thông phần vào sự sống của chính Thiên Chúa hằng sống.

          Bí tích Rửa tội chính là một phép lạ cả thể tác động trên một cá thể trong suốt chiều dài cuộc sống. Người ta được tắm gội trong sự chết và phục sinh của Đức Kitô và được thần hóa một cách nhiệm mầu, để từ đó có thể phát biểu ngất ngây như thánh Phaolô:“Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi”, hay đầy xác quyết như thánh Augustinô: “Chúa đã tạo dưng con người cách lạ lùng và còn tái tạo con người cách lạ lùng hơn nữa”.

          Chính lúc Chúa Giêsu tự nguyện gánh lấy tội lỗi nhân loại, tầng trời bị xé ra. Khi loài người phạm tội, cửa trời đóng lại, đất trời phân ly, ân phúc thôi tuôn đổ. Khi phạm tội, loài người tự giam mình trong bóng tối. Bóng tối tội lỗi giam kín con người trong thân phận bụi đất, không còn hy vọng vươn lên. Hôm nay, tầng trời xé ra có nghĩa là từ nay con người đã có lối thoát. Thân phận con người thay đổi, địa vị con người được nâng lên, vì có ơn Thiên Chúa đổ xuống, có Thiên Chúa đến gieo mầm trường sinh vào kiếp người phàm hèn. Trời đất giao hòa. Thiên giới cúi xuống hạ giới. Thiên Chúa đến ở với con người. Ân phúc tuôn đổ xuống cõi đời nhơ uế.

          Chúa Giêsu vừa chịu phép rửa xong, trời mở ra là Chúa Giêsu nâng thế gian lên cao với Người. Vì khi Ađam phạm tội, ông bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng, cửa trời đóng lại và bị lưỡi gươm lửa cấm đoán, không cho mình mà cũng không cho con cháu vào. Nay nhờ Chúa Giêsu mà cửa trời được mở ra.

          Trời mở ra, còn mạc khải cho Gioan Tẩy Giả và những người Do Thái biết Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Theo thánh Gioan Kim Khẩu, điều này muốn dạy chúng ta rằng, một sự tương tự vô hình cũng xảy ra khi chúng ta chịu Phép Rửa Tội: Chúa Thánh Thần cũng ngự vào tâm hồn của chúng ta. Ngài không ngự đến một cách hữu hình, bởi vì chúng ta không cần: đức tin hiện nay là đủ... Thiên Chúa mở cửa trời để kêu gọi chúng ta hướng về trời, vì quê hương chúng ta là quê trời, và mách bảo chúng ta rằng, chúng ta không có gì ở dưới đất.

          Hôm nay Giáo Hội mừng lễ Đức Giêsu chịu phép rửa. Thêm một lần nữa Kitô-hữu nhận ra Đức Giêsu sống trọn thân phận con người, khi Ngài nhận mình đồng hàng với con người cần lòng thương xót của Thiên Chúa. Mặt khác, chính khi Ngài yêu thương và đồng hóa mình với anh em, thì Thiên Chúa xác chuẩn Ngài là Con Yêu Dấu của Thiên Chúa. Ngài tỏ lộ chân tướng của Ngài qua hành vi và cung cách cư xử của Ngài.

Huệ Minh

 

Thứ Hai Tuần I Mùa Thường Niên 

1 Sm 1, 1-8; Mc 1, 14-20

HÃY THEO THẦY

          Sau khi chịu phép rửa của Gioan ở sông Giođan, Chúa Giêsu biết đã đến lúc mình phải rời bỏ gia đình ở Nadarét, phải chia tay với người mẹ thân yêu, phải từ giã nghề nghiệp mà mình đã theo đuổi mấy chục năm trời. Sau khi nhận Thánh Thần từ trên xuống, Chúa Giêsu biết đã đến lúc mình phải lên đường dấn thân cho sứ mạng do Cha ủy thác. Vùng Galilê là vùng Ngài bắt đầu rao giảng Tin Mừng về Nước Trời (c.14). Ngài mời người ta sám hối và tin vào Tin Mừng mà Ngài rao giảng. (c.15).

          Chúa Giêsu bắt đầu sứ mạng giảng đạo tại xứ Galilê mà nội dung được tóm gọn trong câu: “Thời kỳ đã mãn và Triều Đại của Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Người cũng mời gọi bốn môn đệ đầu tiên là hai đôi anh em: Simon và Anrê, Giacôbê và Gioan. Các ông đã mau mắn đáp lại bằng sự dứt khoát từ bỏ nghề cũ, từ giã cha già mà theo làm môn đệ của Người.

          Hình ảnh nổi bật trong bài Tin Mừng hôm nay là chiếc lưới. Nó được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong một đoạn Tin Mừng tương đối ngắn (Mc 1, 16. 17.18.19). Lý do dễ hiểu bởi vì câu chuyện được kể lại hôm nay xảy ra trên một bờ biển, lúc Chúa Giêsu “đang đi dọc theo biển hồ Galilê” (Mc 1, 16), và thuật lại việc Chúa kêu gọi những môn đệ đầu tiên đi theo Người: Simôn, Anrê, Gioan và Giacôbê, đều là những ngư dân đang bận rộn với việc công việc hằng ngày của mình: “quăng lưới xuống biển” hoặc , đang “vá lưới trong thuyền”.

          Để kêu gọi những tay đánh cá chuyên nghiệp đó đi theo Người thực hiện một sứ mạng mới, Chúa Giêsu cũng đã dùng chính ngôn ngữ của họ, với hình ảnh chiếc lưới quen thuộc của họ: “Các anh hãy đi theo Tôi, Tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mc 1, 17). Ngay sau đó, các ông đã “bỏ chài lưới mà theo Người” (Mc 1, 18).

          Nghe lời và rồi họ đã bỏ chài lưới, bỏ nghề dánh cá, bỏ những thú vui của sông nước. Hơn nữa họ còn bỏ gia đình, bỏ vợ, bỏ cha, để gắn bó với Thầy Giêsu. Họ bỏ một giá trị để sống cho một Giá Trị lớn hơn, bỏ một tình yêu để sống cho một Tình Yêu lớn hơn. Chúa Giêsu đã có kinh nghiệm về sự đau đớn khi phải từ bỏ như vậy. Nhưng bỏ chính là để theo (cc. 18.20). Theo một Đấng sống không chỗ tựa đầu, và bước vào cuộc phiêu lưu bấp bênh.

          Chúa Giêsu cần người cộng tác, dù nước Israel chỉ là một nước bé nhỏ. Đức Giêsu đi tìm môn đệ, và Ngài bắt gặp các anh đánh cá nơi hồ Galilê. Có hai đôi anh em ruột đã lọt vào mắt của Ngài. Ngài thấy Phêrô và Anrê đang quăng lưới bắt cá. “Hãy theo tôi. Tôi sẽ làm các anh thành những kẻ lưới con người” (c. 17). Đây là một mệnh lệnh nhưng cũng là một lời mời thân thương. Ngài gọi họ đi theo Ngài, theo chính con người của Ngài, chứ không phải theo một lý tưởng hay một chủ nghĩa nào đó, dù là cao đẹp. Theo Ngài sẽ dẫn đến một thay đổi lớn nơi họ: từ lưới cá đến lưới con người. Bây giờ con người là mối bận tâm của họ, không phải là cá như xưa nữa.

          Các ông đã được kêu gọi đi theo làm môn đệ Chúa để “lưới người”. Thánh Alphongsô - đấng sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế - giải thích: tấm lưới mà Chúa Giêsu nói ở đây chính là “lưới tình yêu”, Chúa dùng tình yêu để bắt lấy linh hồn con người, để họ cũng yêu mến Chúa, để họ ràng buộc với Chúa. Như một tấm lưới, Chúa bao bọc chúng ta bằng tình yêu: Lời Chúa, Thánh Thể Chúa, Thánh Giá Chúa, các Bí tích trong Hội Thánh… tất cả đều là tình yêu. Xa hơn: trời đất muôn loài, thiên nhiên vạn vật, thế giới quanh ta… đều kể lại tình thương của Thiên Chúa đối với loài người. Tất cả dệt thành tấm lưới của Chúa, lưới tình yêu. Chúa sai các môn đệ của Người dùng tấm lưới ấy để đánh bắt các linh hồn, dùng tình yêu để đem những tâm hồn thiện chí về với Chúa. 

          Những kẻ đánh cá được Chúa Giêsu chọn và sai đi, họ ra đi và đã mang lại kết quả mĩ mãn hơn cả những kẻ mạnh, người giầu có và khôn ngoan. Với giáo lý Chúa dạy, họ đã thu hút nhiều người mà không cần bạo lực; phận nghèo khó, họ đã dạy dỗ những kẻ giàu có; là người dốt nát, họ huấn giáo những kẻ khôn ngoan.

          Điều quan trọng và cần thiết đó là chúng ta phải nhận ra tiếng Chúa gọi, nhất là phải mau mắn và quảng đại đáp trả tiếng gọi ấy. Chúa nói với chúng ta qua những biến cố xảy ra, cũng như qua những người mà chúng ta có dịp tiếp xúc với. Chúng ta có thể đáp trả bằng một đời sống đạo đức và thánh thiện, chúng ta có thể đáp trả bằng những hành động bác ái và yêu thương. Thực vậy, Chúa cũng kêu mời chúng ta phục vụ Ngài nơi những người anh em, thế nhưng chúng ta đã mau mắn và quảng đại đáp trả hay chưa?

          Ngày nay Chúa cũng mời gọi chúng ta mang vào thế giới sứ điệp sự thật và tình thương của Chúa. Hãy sẵn sàng tham gia vào sứ mạng này và nhất là cầu xin Chúa đừng để những chia rẽ và tranh chấp giữa các tín hữu Kitô làm lu mờ khả năng chiếu tỏa của Tin Mừng. Các cuộc gặp gỡ đại kết trong thời gian gần đây gia tăng trên thế giới là một dấu chỉ chứng tỏ điều đó.

 

Thứ Ba Tuần I Mùa Thường Niên

1 Sm 1, 9-20; Mc 1, 21-28

          QUYỀN UY CỦA CHÚA

          Theo Tin Mừng Mác cô, Chúa Giêsu đã bắt đầu hoạt động công khai của Người bằng việc “Đi khắp miền Galilê rao giảng trong các hội đường và trừ quỉ” (Mc 1,39). Sau khi kêu gọi những môn đệ đầu tiên, hôm nay Người dẫn các ông đến hội đường Caphácnaum vào ngày sa bát. Bản văn Tin Mừng hôm nay được xem như bài tóm tắt hoạt động của Chúa Giêsu: giảng dạy và trừ quỷ. Cả hai đều tỏ cho thấy uy quyền có sức cứu độ của Ngài.

          Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu giảng dạy tại hội đường Capharnaum và chữa lành một người bị thần ô uế ám, để ghi nhận ấn tượng Chúa Giêsu tạo ra nơi dân chúng: “Người giảng dạy như một Ðấng có thẩm quyền” (Mc 1,22). Dân chúng đã kinh ngạc về giáo lý của Người: bởi Người giảng dạy có uy quyền, với lời nói có sức mạnh, có hiệu lực tuyệt đối, khác với những điều họ vẫn nghe từ các luật sĩ.

          Chúa Giêsu giảng dạy như Đấng có quyền, mọi ánh mắt của những người ngồi đấy đều đổ dồn vào Người, còn thần ô uế thì buộc phải vâng lệnh và xuất ra khỏi người nó ám. Người giảng dạy với uy quyền của Thiên Chúa, chứ không như các Tiên tri trong Cựu Ước là những người được Thiên Chúa ủy thác cho; cũng không giảng dạy như các kinh sư Do thái là những người chỉ giải thích Kinh Thánh. Lời giảng dạy của Chúa Giêsu là một cuộc giải phóng, là Tin Mừng cứu rồi, cách riêng cho những người nghèo khổ, những người bị loại ra bên lề xã hội. Lời của Chúa Giêsu tương phản với lời giảng dạy của các thầy thông luật (Mc 1, 22).

          Câu hỏi được đặt ra : Vậy có điều gì mới chăng ? Thưa không, Người không dạy điều gì mới mẻ hoặc trái với giáo lý, cũng không mang đến một giáo lý mới. Chính uy nguyền và phong cảnh giảng dạy làm người ta khám phá ra cái mới. Đồng thời, mới, là vì uy quyền của Người trên các thần ô uế : "Chúng vâng lệnh Người "(x. Mc 1, 25-26). Chúa Giêsu không tiếp chuyện, hay tranh luận với thần ô uế. Người đoạn tuyệt đối thoại với chúng. Và ta sẽ thấy câu trả lời vào cuối trình thuật cám dỗ trong hoang địa. Chúa Giêsu khẳng định : "Người là Chân Lý ".

          Dân chúng hôm nay còn kinh ngạc hơn nữa khi được chứng kiến tận mắt uy quyền của Chúa Giêsu trên thần ô uế: “Người dùng uy quyền mà truyền lệnh cho cả các thần ô uế, và chúng vâng lệnh Người”. Thần ô uế đã phải gào thét lên rằng: “Hỡi Giêsu Nadarét, có chuyện gì giữa chúng tôi và ông? Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao? Tôi biết ông là ai: là Ðấng Thánh của Thiên Chúa”. Chúa Giêsu đã chiến thắng thần ô uế chỉ bằng cách ra lệnh: “câm đi, hãy xuất khỏi người này!” (Mc 1,25).

          Với lời nói hữu hiệu và việc làm của Người, Chúa Giêsu chứng tỏ quyền lực đích thực của Triều Đại Thiên Chúa mà Người loan báo. Người cho thấy rằng Thiên Chúa mới có tiếng nói cuối cùng và Thiên Chúa đang dùng quyền lực của Người, để giải thoát con người và trả lại cho họ sự tự do. Như vậy, Chúa Giêsu muốn nói rằng Người là Con Thiên Chúa.

          Dân chúng ngày xưa đã kinh ngạc về giáo lý của Chúa Giêsu. Con người ngày nay thì có vẻ ngược lại, chúng ta cảm thấy chán ngán Lời Chúa và dửng dưng với giáo lý của Người, bởi chúng ta nghe Lời Chúa cách vô ý thức. Hơn nữa, thay vì suy phục trước uy quyền của Chúa, thì chúng ta lại chạy theo biết bao nhiêu thứ ngẫu tượng như tiền bạc, dục vọng, tiền tài, chức tước,…Chính khi chúng ta nô lệ cho những thứ ấy là chúng ta đang nô lệ cho ma quỷ đang ẩn núp phía sau.

          Khi lắng đọng, ta sẽ thấy được thân phận yếu đuối, bất toàn và hay sa ngã, chúng ta hãy luôn tỉnh thức và xem xét lại lối sống đạo của mình, để gạt bỏ đi những chướng ngại; đồng thời cậy dựa vào uy quyền của Thiên Chúa, để nhờ ơn Chúa soi sáng, chúng ta không bị sa ngã trước những âm mưu của ma quỷ. Nếu chúng ta có sa ngã trước những cám dỗ, thì chúng ta càng phải cậy dựa vào Chúa hơn, vì Thiên Chúa là Đấng Giàu Lòng Thương Xót sẽ tha thứ và chữa lành chúng ta, miễn là chúng ta có lòng sám hối, muốn được tha thứ và muốn được yêu thương.

          Hội Thánh của Đức Kitô hôm nay vẫn tiếp tục được sai đi để rao giảng Tin Mừng Cứu Độ và thực thi những việc làm của lòng xót thương. Sứ vụ của Hội Thánh nhất định không phát xuất “từ một ước muốn thống trị hay quyền lực, nhưng từ sức mạnh của tình yêu, từ Đức Giêsu đấng đã đến giữa chúng ta, và trao ban cho chúng ta không chỉ một phần của Ngài, nhưng trọn vẹn con người Ngài. Ngài trao ban cho chúng ta cuộc sống của Ngài để cứu độ chúng ta, và để tỏ cho chúng ta tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa… Ngài không chỉ sai chúng ta đi, Ngài đồng hành với chúng ta, Ngài luôn luôn ở bên chúng ta trong sứ vụ tình yêu của chúng ta”

 

Thứ Tư Tuần I Mùa Thường Niên 

1 Sm 3, 1-10. 19-20; Mc 1, 29-39

 LÀM VIỆC NHƯ CHÚA GIÊSU ĐỂ LOAN BÁO TIN MỪNG

          “Người đi rao giảng trong các hội đường, trong khắp xứ Galilêa và xua trừ ma quỷ” (Mc 1, 39).

          Chắc hẳn chúng ta đã nghe hoặc từng theo dõi những chương trình truyền hình dành cho các “sao” hay những “người nổi tiếng”. Trong những chương trình ấy, nhân vật chính hoặc bộc lộ cho khán giả thấy những tài năng, sở thích, phong cách của họ; hoặc là thể hiện cho người xem cuộc sống thường nhật của mình với những công việc này công việc nọ. Những chương trình truyền hình như thế nhằm mục đích tôn vinh người nghệ sĩ và đạt được một lợi ích cụ thể nào đó.

          Mỗi người trong chúng ta tự hỏi: Chúa Giêsu làm gì trong một ngày sống? Ngài đã thể hiện những tài năng gì khiến cho biết bao người trong hơn hai mươi thế kỷ qua vẫn còn say mê, thần tượng Ngài? Câu trả lời nằm ngay trong trình thuật Tin Mừng của Thánh sử Máccô hôm nay. Chúng ta cùng khám phá một ngày của “người nổi tiếng” Giêsu – Thần tượng và là gương mẫu cho hàng tỷ người ở khắp nơi trên thế giới: “Từ sáng sớm, lúc trời còn tối mịt. Chúa Giêsu đã thức dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó”.

          Sau đó, Ngài đến “giảng dạy trong các hội đường” của người Do Thái. Và lúc “Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Ngài” và Ngài đã chữa họ. Những dòng Tin Mừng ngắn ngủi nhưng đầy ý nghĩa: Một ngày của Chúa Giêsu là sự kết hợp hài hòa giữa cầu nguyện và lao động, giữa làm việc và nghỉ ngơi, giữa thinh lặng lẫn ồn ào náo động.

          Cuộc đời của Chúa Giêsu, tuy ngài là Thiên Chúa nhưng Ngài nhập thể mang thân phận con người để thực hiện Ơn Cứu Độ. Cho nên cầu nguyện là một phương thế hữu hiệu để Ngài gặp gỡ Thiên Chúa. Bài Tin Mừng cho chúng ta thấy: “Sáng sớm tinh sương, Người chỗi dậy, ra khỏi nhà, đi đến một nơi thanh vắng và cầu nguyện tại đó” (Mc 1, 35). Và Tin Mừng cho chúng ta rất nhiều lần Ngài cầu nguyện với Chúa Cha, để minh chứng cho chúng ta thấy việc cầu nguyện là cần thiết trong đời sống. Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu tuy sống ẩn dật trong dòng kín, ít bước chân ra ngoài đời sống xã hội, nhưng ngài sống đời cầu nguyện liên lỉ. 

          Chúa Giêsu hiện thân như một vị “bác sĩ”, nhưng vị “bác sĩ” này rất khác người, chữa bệnh không cần thuốc men nhưng bằng uy quyền của Thiên Chúa, Người làm việc không biết mệt mỏi, liên tục chữa lành các loại bệnh cho nhiều bệnh nhân, bệnh nhẹ cảm sốt như bà nhạc gia Simon đến những bệnh nhân nặng do bị quỷ ám. Ơn Cứu Độ của Chúa không chỉ cứu độ về phần tâm linh, nhưng Chúa còn chữa bệnh nơi thể xác hữu hình để bệnh nhân lấy lại sức khỏe tiếp tục cuộc sống đời thường, Chúa nhìn thấy họ đau đớn khổ sở về thân xác Ngài động lòng thương, cảm thông và đã đem sự an lành cho họ về mặt thể xác.  

          Không có gì tách Ngài ra khỏi sự kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa Cha cũng như không có ai khiến Ngài ngưng việc rao giảng Tin Mừng: “Người bảo các môn đệ: Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng mạc chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó”. Như vậy, Chúa Giêsu đã trở nên thần tượng và gương mẫu cho những ai tiếp bước theo Ngài: Gương mẫu của cầu nguyện và làm việc không ngừng. Một ngày với Chúa Giêsu – “người nổi tiếng” là bài học cho mỗi người chúng ta hôm nay cũng phải biết kết hợp cách hài hòa giữa cầu nguyện và lao động trong từng ngày sống.

          Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa không dành cho riêng cho riêng ai, mà dành cho tất cả mọi người. "Chúng ta hãy đi đến những làng, những thành lân cận, để Ta cũng rao giảng ở đó nữa" (Mc 1, 38). Hiện nay chúng ta đã thấy, từ mười hai vị tông đồ của Chúa, Lời của Chúa đã lan truyền khắp năm châu. Ơn Cứu Độ của Chúa đã lan tỏa khắp bốn phương.

          Tuy vậy, khi ta nhìn lại tổng dân số đang hiện diện trong đầu thế kỷ 21 hôm nay, số người tin vào Đấng Cứu Thế vẫn còn khá khiêm tốn. Chẳng nhìn đâu xa, ngay trên đất nước Việt Nam, dân số xấp xỉ 90 triệu người, số giáo dân Công Giáo xấp xỉ 7 triệu tín hữu. Cánh đồng truyền giáo của chúng ta còn bát ngát bao la. Lời của Giêsu trong bài Tin Mừng hôm nay đang mời gọi mọi người: “chúng ta hãy đi đến những làng, những thành lân cận …” (Mc 1, 38a) để loan báo Tin Mừng cho mọi người.

          Trong việc sống đạo hôm nay, ta thấy kinh nguyện hằng ngày là những lời cầu nguyện thiết thực nhất. Ngoài ra chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa cách mật thiết đó là bằng lời cầu nguyện tự phát từ đáy lòng mỗi người khi vui cũng như lúc buồn, lúc đau khổ cũng như khi hạnh phúc. Những lời nguyện đơn sơ đó sẽ làm cho tâm hồn chúng ta cảm thấy thư thái an bình cũng như là lời cầu nguyện cho việc loan báo Tin Mừng cách hữu hiệu nhất mà ta có thể làm và thực hiện.

Thứ Năm Tuần I Mùa Thường Niên 

1 Sm 4, 1-11; Mc 1, 40-45

LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA CHÚA

          Người mắc bệnh phong cùi trong xã hội Do thái xưa kia dù có sống thì cũng bị coi như đã chết. Họ bị coi là nhơ uế và tội lỗi (Ds 12, 10 – 15; Đnl 28, 27; 2 V 5, 25 – 27) và bị loại ra khỏi cộng đoàn để khỏi làm cho người khác bị nhơ uế theo (Lv 14, 45 – 46). Nếu họ được chữa lành khỏi căn bệnh đó, thì chẳng khác nào họ coi như đã chết mà nay được sống lại (Ds 12, 10 – 12; 2 V 5, 7).

          Theo quan điểm Do Thái giáo, bệnh phong hủi là một sự ô uế cho xã hội. Người mắc bệnh phong hủi phải ở riêng, không được đến gần ai, và cũng không ai được đến với họ cho đến khi lành bệnh và được thanh tẩy theo nghi lễ. Thế nhưng, ở đây người hủi bất chấp lề luật, đã tiến đến bên Chúa Giêsu để xin Người chữa lành. Đứng trước nỗi đau thể xác và tinh thần của người phong hủi, Chúa Giêsu, thay vì phải xa lánh con bệnh kẻo bị ô uế, đã chạm đến anh ta để chia sẻ nỗi đau khổ cùng anh và chữa anh lành bệnh. Chúa thương anh không chỉ bằng lời nói nhưng còn bằng hành động cụ thể. Đối với Chúa, không có vấn đề kỳ thị chủng tộc, bệnh tật, cấm kị, phân biệt giàu nghèo... Chúa là tất cả cho mọi người. 

          Và ta thấy vào thời Chúa Giêsu còn tại thế là thời bệnh phong cùi còn là bất trị, bệnh nhân bị phát giác sẽ bị đuổi ra khỏi làng và cũng không được bén mảng đến các con đường có người đi lại. Muốn xin ăn chỉ có thể để cái thúng bên vệ đường rồi đứng xa tầm người ta là có thể liệng đá tới, gào lên xin làm phúc. Đêm đêm lại phải chui vào hang hốc để tránh lạnh, và chẳng ai dám đến đó dọn dẹp giúp  họ, mà họ thì chân tay lở loét dọn dẹp sao được, nên các nơi họ có thể trú, lại là chỗ bẩn thỉu hôi thối đem thêm đau khổ cho họ .

          Không ai dám gần họ và họ cũng không dám liều lĩnh đến gần ai, người thân thì bỏ chạy vì sợ, người lạ thì lấy đá ném đuổi đi .

          Được nghe về Chúa Giêsu, và cũng được thấy dung nhan hiền dịu của Chúa từ xa, nhờ lúc vắng người, anh chạy nhanh lại bên Chúa quì xuống van xin một cách khiêm nhường; Nếu ngài muốn Ngài có thề cho con được lành bệnh. Chúa giang tay đón anh  nói: “Tôi muốn chứ Anh dược lành sạch ngay đi.”. Nhưng để được về làng và vào nhà, anh phải được các tư tế xem xét và chứng nhận là anh đã khỏi.

          Và rồi ta thấy Chúa đã chữa lành cho một người phong cùi, nghĩa là đưa anh ta từ cõi chết trở về cõi sống. Với tất cả lòng chạnh thương trước nỗi khốn khổ của anh ta, Chúa đã sẵn sàng mở rộng vòng tay đón anh về lại cuộc sống. Đang khi mọi người sợ bị nhơ uế mà không dám tiếp xúc với anh ta, thì nay Chúa đã đưa tay ra và chạm đến anh. Cánh tay chất chứa lòng xót thương của Ngài đã nối kết giữa sự thánh thiện, tốt lành của Thiên Chúa với tình trạng bị coi là nhơ uế, tội lỗi của con người. Sự thánh thiện của Thiên Chúa đã thánh hóa tình trạng nhơ uế, tội lỗi của con người.

          Và rồi ta thấy Trái tim của Chúa đã rung lên giai điệu đồng cảm trước nỗi đau của bệnh nhân. Ngài giơ tay sờ chạm đến anh và chữa lành cho anh. Theo luật Lêvi, ai mắc bệnh cùi sẽ bị nhiễm uế và ai đụng vào họ cũng bị nhiễm uế theo. Chúa Giêsu vẫn luôn tuân thủ lề luật, song đối với Ngài, việc chạm đến bệnh nhân không thể làm cho Ngài ra ô uế.

          Dẫu rằng Chúa không khinh suốt lề luật, nhưng Chúa đã hành xử theo một lề luật mới, đó là luật của tình yêu, một thứ luật lệ vượt trổi trên tất cả mọi rào cản do con người thiết định. Người đàn ông bị bệnh đã ý thức được số phận hẩm hiu nơi mình. Anh đã đến với Chúa, không dám nài ép Chúa và chỉ thốt lên một ước muốn giản đơn : ‘Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”. Mơ ước này biểu thị một động thái xác quyết và đầy tin tưởng, và anh ta còn nói tiếp theo : “Ngài có thể làm được việc này”. Đây là một hành vi đức tin, biểu tỏ sự khiêm tốn và rất chân thành.

          Cuối cùng phép lạ đã xảy ra. Thánh Marcô muốn từ từ vén mở chân dung cứu thế nơi Đức Giêsu, mặc dầu nơi sách Tin Mừng thứ 2, tác giả vẫn hay đề cập đến điều mà các nhà chú giải vẫn thường đề cập đến, đó là ‘Bí Mật Thiên Sai’ (Messianic Secret). Phép lạ Chúa thực hiện không phải nhằm phô diễn một kỳ tích, nhưng để diễn bày lòng thương mến sâu tận của Thiên Chúa đối với con người. Người đàn ông mắc bệnh cùi là đại biểu cho cả một thế giới đang bị vi trùng Hansen thiêng liêng tấn công và hủy hoại tâm hồn dần dần. Chúa Giêsu luôn mở rộng tấm lòng đối với tất cả chúng ta, chỉ cần chúng ta đến với Ngài và thưa với Ngài tâm tình đơn sơ gống như anh cùi hôm nay : “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi được sạch”

          Cách  cầu xin của người phong cùi nay là một mẫu gương. Anh không dám xin Chúa làm theo ý muốn của anh, mặc dầu anh liều mang chạy đến là vì anh rất muốn được khỏi. Nhưng anh đã thưa: “Nếu Ngài muốn – Ngài có thể cho con được lành sạch”, lời ấy tỏ ra Đức Tin của anh nơi quyền năng phi thường của Chúa mà cũng nói lên lòng khiêm nhường của anh vì anh không dám xin điều mình muốn mà chỉ xin theo ý Chúa.

          Khi chữa lành người phong hủi, Chúa Giêsu không chỉ chứng tỏ Ngài có quyền chữa lành mọi bệnh tật, giải thoát con người khỏi mọi tội lỗi mà còn cho thấy Thiên Chúa luôn đồng cảm, chia sẻ và sẵn lòng cứu giúp khi con người cầu xin Ngài. Về phần mình, khi đứng trước những đau khổ và thử thách trong cuộc sống, chúng ta có được chữa lành hay không là tùy sự sẵn sàng mở lòng ra để đón nhận Thiên Chúa của chúng ta. 

          Chúa Giêsu không phải là một nhà phù thủy tài ba, cũng không phải là một con người chuyên đi làm công tác từ thiện xã hội. Ngài là một thầy thuốc cao tay ấn và thang thuốc Ngài sử dụng chính là lòng thương xót đối với con người.  Chúa Giêsu đã gặp gỡ và chữa lành cho người phong cùi. Không những chữa lành tấm thân bệnh hoạn, Ngài còn tái lập họ trong cộng đoàn nhân loại, khi bảo bệnh nhân đi trình diện với các tư tế, nghĩa là hội nhập họ trở lại cuộc sống. Sự tái hội nhập này luôn đòi hỏi sự cảm thông, lòng quảng đại và cởi mở đón nhận của người khác. Vi trùng Hansen đục khoét và hủy hoại thân xác con người, thì cũng có biết bao thứ vi trùng khác độc hại hơn đang ẩn núp trong tâm hồn con người, tên của chúng là dửng dưng, ích kỷ, thù hận. Chúng đang giết dần giết mòn con người mà con người không hay biết.

          Ngày nay, ta cũng học nơi người phong thái độ mau mắn đi làm chứng để bày tỏ lòng biết ơn đối với Thiên Chúa, Đấng đang liên tục ban muôn vàn ân sủng cho chúng ta. Muốn vậy, cần phải ý thức chúng ta đã và đang nhận được những ân huệ lớn lao nào.

 

Thứ Sáu Tuần I Mùa Thường Niên 

1 Sm 8, 4-7. 10-22a; Mc 2, 1-12

 CHÚA GIÊSU - HIỆN THÂN CỦA LÒNG XÓT THƯƠNG

          Trong đời sống con người, điều khó thực hiện nhất là tha thứ, nhất là khi đối tượng xúc phạm là người thân cận, gần gũi của ta. Nhưng đối với Thiên Chúa, không gì mà không thể thực hiện. Lòng tha thứ của Thiên Chúa vô bờ bến, đến độ Chúa Giêsu yêu cầu Phêrô phải tha đến 70 lần 7. Một sự tha thứ mãi mãi, không ngừng.

          Có lẽ Thiên Chúa thấu hiểu sự yếu đuối mỏng giòn của con người, nên Ngài dễ đồng cảm và đã thể hiện lòng đồng cảm ấy qua việc tha thứ không biết mệt mỏi của Ngài. Trang Tin Mừng hôm nay, thánh sử Máccô thuật lại một hành vi chữa bệnh lạ lùng của Chúa Giêsu. Người phục hồi không những phần xác mà cả phần hồn của con người, mặc dù con người chẳng hề mở miệng kêu xin. Chúng ta hãy cùng Thánh Máccô bước vào một ngày của Chúa Giêsu tại thành Caphacnaum.

          Trong xã hội Do thái, quan niệm bệnh tật là hậu quả của tội lỗi đã đẩy số phận những người bệnh phong, bại liệt,… vào hoàn cảnh bi đát. Họ khao khát được chữa lành để giảm cơn đau thể chất và quan trọng hơn là được hòa nhập vào đời sống chung của cộng đồng. Nhờ niềm tin mãnh liệt của mình, người bất toại đã được Chúa Giêsu cứu chữa, không chỉ căn bệnh thể xác mà còn ơn tha thứ tội lỗi phần hồn.

          Trong câu mở đầu của chương hai, tác giả giới thiệu nơi chốn rõ ràng: ở thành Caphacnaum và trong nhà của Người. Caphacnaum là nơi Chúa Giêsu khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Căn nhà mà Người đang ở có thể là nhà Simon, Anrê. Nghĩa là trong chính căn nhà Giáo Hội, Thiên Chúa thực thi lòng thương xót và tha thứ.

          Bao quanh Người là làn sóng dân chúng.  Họ tụ tập đông đến nỗi chỗ nào cũng chật cứng người, để nghe lời Người giảng dạy. Có một kẻ bại liệt muốn được chữa lành phải nhờ đến sự trợ giúp của người khác. Anh ta nằm trên chõng và được đưa tới gần Chúa Giêsu bằng một lối đi hết sức ngoạn mục và đầy sáng kiến.

          Vì dân chúng quá đông, len lỏi vào còn khó huống hồ khiêng một cái chõng nặng. Nhưng khó khăn ấy không làm chùn bước khao khát của họ. Tình yêu đầy sáng kiến. Họ liền dỡ mái nhà và thòng dây đưa cái chõng cùng kẻ bại liệt xuống ngay trước mặt Chúa Giêsu. Chúa Giêsu thấy rõ lòng tin và sự khao khát kiếm tìm Thiên Chúa của họ. Họ mong được Chúa giải thoát cho kẻ bại này khỏi sự trói buộc của bệnh tật.

          Chúa Giêsu – hiện thân của lòng thương xót Thiên Chúa – đã không những chữa lành căn bệnh bại liệt thể xác nơi bệnh nhân, mà còn chữa lành tâm linh cho anh nữa “Con đã được tha tội rồi”. Có lẽ độc giả khá ngạc nhiên trước sự “lẩm cẩm” của Chúa Giêsu. Người ta đến xin chữa bệnh chứ đâu xin ơn sám hối. Nhưng ở đây, Chúa Giêsu tỏ hiện quyền năng của một Đấng Mêsia, một Vị Thiên Chúa với uy quyền  tối cao. Các ông kinh sư rất nhạy bén về giáo lý này. Các ông nghĩ ngay rằng: “ Sao ông này dám nói phạm thượng, xúc phạm đến Thiên Chúa. Vì không ai có quyền tha tội, duy một mình Thiên Chúa?”.

          Chúa Giêsu thấu hiểu lòng họ đang nghĩ gì, Người bảo họ: “Trong 2 điều, “con đã được tha tội rồi” và “đứng dậy, vác chõng mà về”, điều nào dễ hơn?”. Ở đây, Chúa đưa các kinh sư vào hai thái cực: một hành vi chữa lành tâm linh và một hành vi chữa trị thể xác của Người. Bất cứ ở thái cực nào, Người cũng có đủ quyền năng để thực hiện. Điều này chứng tỏ Người có uy quyền trên mạng sống và cả linh hồn con người nữa. Chúa Giêsu khẳng định: Vậy để các ông biết: ở dưới đất, Con Người có quyền tha tội.

          Đến đây, ta thấy Chúa Giêsu mạc khải cho các kinh sư biết chính Người là Đấng Mêsia, Đấng phải đến để cứu dân thoát xiềng xích của ma quỷ và tội lỗi. Đấng đến để đưa con người vào hưởng hạnh phúc Thiên Chúa. Như vậy, thánh sử muốn chúng ta biết lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con người toàn vẹn nơi anh bại liệt, mặc dù anh đến chữa bệnh không một lời hay cử chỉ van xin, mà chỉ do sự nhiệt tình của những người khiêng.

          Nhưng điều kỳ diệu hơn nữa của ơn tha thứ là: trước khi tha thứ cho anh, Chúa Giêsu đã khai mở ơn cứu độ cho các kinh sư, khi các ông nhận ra: chỉ có Thiên Chúa mới có quyền tha tội. Nhưng rất tiếc là sự hiểu biết ấy chỉ trên lý thuyết, các ông vẫn không mở lòng mở trí đón nhận ơn cứu độ, mặc dù họ biết: Chúa Giêsu đang thi hành sứ vụ của Đấng Mêsia. Người chính là Đấng Cứu Thế mà dân Do Thái đang mong chờ.

          Ngược với thái độ cứng lòng, cố chấp của các kinh sư là tâm tình tôn vinh quyền năng và tình yêu Thiên Chúa mà dân chúng cảm nhận được “ chúng ta chưa thấy vậy bao giờ” (12). Họ trầm trồ thán phục, ngạc nhiên ngỡ ngàng trước tình yêu nhân hậu của Thiên Chúa được thể hiện qua con người Giêsu Nagiarét.

          Nhìn thái độ của các kinh sư và gẫm lại đời sống của mỗi người chúng ta: chúng ta có nhận ra tình yêu Thiên Chúa bàng bạc trong cuộc đời ta, trong lịch sử nhân loại, trong các biến cố xảy ra trên thế giới hàng ngày không? Hay cũng như họ, khi chúng ta được ơn khôn ngoan nhận xét diện mạo thay đổi của trời đất, mà vẫn “bưng tai, bịt mắt” mà không sám hối trở về ?

          Khi suy niệm về thân phận, tâm tình và niềm xác tín mạnh mẽ của người bất toại, chúng ta cũng tập nhìn lại bản thân để nhận biết thân phận yếu đuối, giới hạn và đầy tội lỗi của mình. Cho dù tâm hồn còn mang những lầm lỗi, thiếu sót nhưng chúng ta luôn tin vào tình thương diệu vợi mà Chúa dành cho chúng ta, để trong mọi khoảnh khắc, chúng ta luôn sống trong tâm tình tri ân, cảm tạ của những người đã được chữa lành.

 

Thứ Bảy Tuần I Mùa Thường Niên

1 Sm 9, 1-4. 17-19; 10, 1a; Mc 2, 13-17

 LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA GÂY KINH NGẠC

          Đức Ki-tô được sai đến trần gian là để kêu gọi người tội lỗi. Ngài là Đấng Thánh, là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian. Ngài đến để kêu gọi. “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21). Hội Thánh và mỗi người chúng ta, cũng được Ngài sai đến để kêu gọi: sống và làm chứng cho muôn dân về Ơn Cứu Độ. Trước tiên là sống Ơn Cứu Độ cho chính mình, nghĩa là phải ý thức mình là người tội lỗi và cần được cứu độ; sau là làm chứng về chương trình này của Thiên Chúa trong Đức Ki-tô.

          Chúa Giêsu dùng bữa tại nhà ông Lê-vi cùng với những người thu thuế và tội lỗi. Đây là một điều lạ lẫm và bất thường trong văn hóa của người Do thái thời bấy giờ, thời mà có sự tách biệt rõ ràng giữa những người công chính, thánh thiện và người tội lỗi. Vì thế, điều này làm chướng tai gai mắt những biệt phái, kinh sư -những người tự cho mình là đạo đức khi tuân giữ một cách nghiêm khắc luật Môsê. Tuy nhiên, chính trong bữa ăn này Chúa Giêsu muốn đưa con người thức tỉnh, trở về đúng với thực trạng của mình. Một thực trạng trong đó ai cũng phải nhận ra rằng, là con người thì bất toàn, tội lỗi và cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa. 

          Chúa Giêsu kêu gọi một người tội lỗi làm môn đệ và đến nhà dùng bữa với người ấy.  Chúa Giêsu kêu gọi ông Lêvi, một người thu thuế, và ông lập tức bỏ mọi thứ mà đi theo Chúa Giêsu. Ông trở thành một người của nhóm các môn đệ.  Sách Tin Mừng viết rằng:  “Trong khi Chúa Giêsu đang dùng bữa tại nhà ông.”  Có một số người cho rằng “nhà ông” có nghĩa là nhà của ông Lêvi.  Nhưng đa số các bản phiên dịch lại cho rằng đó là nhà của Chúa Giêsu. Chính Chúa Giêsu là người mời mọi người đến nhà của Chúa dùng bữa:  những người tội lỗi và phường thu thuế, chung với các môn đệ.

          Với người Do Thái, những người thu thuế là gương mù cần phải tránh xa, xét về phương diện tôn giáo và xã hội, vì hai lý do: thứ nhất, vì họ cộng tác với chính quyền ngoại quốc; thứ hai, vì họ có bàn tay dơ bẩn bởi tiền của dơ bẩn. Ðối với những vị có trách nhiệm về luật Môsê và về phụng tự, thì người thu thuế bị loại trừ khỏi ơn cứu độ, vì họ bị coi như không thể từ bỏ con đường xấu xa, cũng không thể sửa lại những gian lận trong nghề được. Do đó, tiền của người thu thuế dâng cúng vào đền thờ không được nhận; họ không có quyền dân sự, không thể làm thẩm phán hoặc chứng nhân, tất cả những tiếp xúc với họ đều bị coi là nhơ uế.

          Chẳng khác thời Chúa Giêsu, ngày nay không thiếu những kẻ giả hình, tự cho mình là nhân đức, thánh thiện, nhưng lại khinh thường kẻ khác. Cần phải sống kinh nghiệm tình yêu thương của Thiên Chúa để hiểu được bài Tin Mừng hôm nay. Không gì an ủi hơn việc khám phá ra tình thương của Thiên Chúa đối với người tội lỗi. Thiên Chúa đã so sánh mình với vị Mục Tử nhân lành dám bỏ 99 con chiên để đi tìm một con chiên lạc, và khi tìm được Ngài vác nó trên vai đưa về đàn chiên.

          Việc Thiên Chúa yêu thương người tội lỗi không có nghĩa là Ngài dung thứ tội lỗi. Tình yêu thương của Thiên Chúa không miễn trừ việc nhìn nhận lỗi lầm của con người, cũng không cho phép con người lạm dụng lòng nhân hậu của Ngài. Chúa Giêsu đã đến để giải thoát con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Ngài thấu hiểu sự yếu đuối của con người và sẵn sàng tha thứ, với điều kiện là con người thành thật nhìn nhận tội lỗi của mình và trở lại với Ngài

          Chúa Giêsu không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.  Cử chỉ hay hành động này của Chúa Giêsu khiến cho những giới chức tôn giáo rất tức giận.  Luật cấm không được ngồi ăn cùng với phường thu thuế và những kẻ tội lỗi, bởi vì ngồi cùng bàn ăn với ai đó thì cũng có nghĩa là người ấy được coi như là anh em của mình! 

          Thay vì nói thẳng với Chúa Giêsu, các kinh sư thuộc nhóm Pharisêu lại nói với các môn đệ:  “Sao Ông ấy lại ngồi ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi?”  Chúa Giêsu trả lời họ:  “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.  Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.”  như đã nói trước đó với các môn đệ (Mc 1:38), trọng tâm của sứ vụ của Người đã giúp Chúa Giêsu tìm ra câu trả lời và chỉ ra con đường cho việc công bố Tin Mừng của Chúa Giêsu.

          Trong cuộc sống, đôi khi chúng ta mang những cặp mắt kính định kiến để phê bình người này hoặc lên án người kia, mà lại không ý thức chính mình cũng đầy khiếm khuyết và tội lỗi. Những xích mích, đụng độ và căng thẳng trong đời sống gia đình, hàng xóm láng giềng vẫn thường xảy ra. Nguyên nhân cũng chỉ vì chúng ta chỉ thấy những tật xấu, những mặt tiêu cực của nhau chứ không nhận ra những điều thiện hảo tốt đẹp nơi những người mà chúng ta gặp gỡ.

          Và như vậy, Lời Chúa ngày hôm nay như là một ngọn đèn soi chiếu cõi không gian tâm hồn còn u tối của chúng ta, để chính Chúa chứ không ai khác nói với mỗi người hãy yêu thương nhau, đừng chấp nhất nhau vì những tội lỗi của quá khứ, nhưng biết đón nhận nhau như chính Chúa đã đón nhận chúng ta. 

January 24, 2023