Suy niệm của Huệ Minh

Chúa nhật 2 thường niên, năm A

January 24, 2023

 

Chúa Nhật 2 Thường Niên A-2023

Lời Chúa: Is 49,3.5-6; 1Cr 1,1-3; Ga 1, 29-34

Trở nên chiên Thiên Chúa

Phụng vụ hôm nay giới thiệu cho chúng ta Đức Giêsu Đấng Cứu Thế. Ngài là Chiên Thiên Chúa, Đấng đã bị sát tế trên Thập giá, và cũng là đối tượng đức tin của mọi Kitô hữu. Cái chết của ‘Chiên Con khải hoàn’ đã khai mở cho chúng ta kỷ nguyên ơn cứu độ.

Thánh Kinh nói khá nhiều về con chiên. Bên bờ sông Giordan, Thánh Gioan tiền hô đã giới thiệu Đức Giêsu cho đám đông: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian”. Mỗi lần tham dự Thánh lễ, vị chủ tế cũng nhân danh Giáo hội đọc lại văn thức này trước lúc mọi người tiến lên hiệp lễ. Khi chúng ta rước Mình và Máu Thánh Chúa, chúng ta được ngồi vào bàn tiệc cưới Con Chiên, Đấng đã bị hiến tế, và máu của Ngài thanh tẩy mọi tội lỗi nơi chúng ta.

Trong xã hội Do Thái ngày xưa, hình ảnh con chiên đã trở nên rất quen thuộc trong sinh hoạt thường ngày của người dân, vốn sống đời du mục. Trong đêm xuất hành khỏi đất Ai Cập, người Do Thái cũng ăn bữa tiệc vượt qua với thịt chiên. Máu chiên được bôi lên cửa như dấu chỉ sự can thiệp nhiệm mầu của Thiên Chúa, Đấng cứu dân Ngài khỏi ách nô lệ. Bữa ăn vượt qua năm xưa là hình ảnh tiên báo bàn tiệc cánh chung mà sách Khải Hoàn gọi là ‘Tiệc Cưới Chiên Con’. Những ai tham dự bàn tiệc này, đều mặc áo trắng tinh, tấm áo đã được giặt trong máu con chiên vô tội, dấu chỉ của sự trinh trong và vinh thắng khải hoàn. Sách khải hoàn đã lập đi lập lại tất cả 27 lần hình ảnh con chiên sát tế này.

Thánh Phaolô viết: “Nếu máu các con dê, con bò còn thánh hóa được con người, làm cho họ trở nên trong sạch, thì máu của Đức Kitô càng hiệu lực hơn biết mấy” (Dt 9,13-14). Hiệu lực đến nỗi Ngài chỉ cần chết một lần là đủ xóa được tội lỗi toàn nhân loại: “Chúng ta được thánh hoá nhờ Đức Giêsu Kitô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ’ (Dt 10,10), vì Ngài là “Con Chiên vẹn toàn, không tỳ vết” (1Pr 1,19), nhất là vì Ngài cũng chính là Thiên Chúa, nên giá trị cứu chuộc của Ngài là vô cùng. “Máu của Người rảy xuống, máu đó kêu thấu trời còn mạnh thế hơn cả máu Aben” (Dt 12,24). “Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1,20). Đặc tính của con chiên là sự ngây thơ, hiền lành, nhẫn nhục, trong sạch. Đó là những đức tính quý báu của Đức Giêsu Kitô, con chiên không tì vết.

Gioan Tẩy Giả đã làm chứng cho Chúa Giêsu không chỉ bằng lời nói, mà còn bằng cả đời sống mình. Ngài đã chỉ vào Chúa và nói với dân chúng: “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh hết mọi tội trần gian”. Ngài bước đi trên con đường khổ giá và làm chứng cho Chúa Giêsu, Đấng hiến mình chịu chết để cứu chuộc nhân loại. Ngày hôm nay chúng ta là những môn đệ của Chúa, chúng ta cũng cần phải noi gương thánh Gioan Tẩy Giả làm chứng cho Chúa để qua đời sống thánh thiện của mình khiến nhiều người nhận biết Chúa.

Có người đặt vấn nạn: Giữa một xã hội gian dối lọc lừa, ích kỷ, hưởng thụ, ghen ghét, hận thù và coi nhẹ sự thủy chung, chúng ta làm chứng cho Chúa thế nào được?

Ðức Thánh Cha Phanxicô gợi lên cho chúng ta câu trả lời: làm chứng cho Chúa có nghĩa là gì nếu không phải là lấy hiền từ đối lại cái ác, lấy tình yêu thay thế sức mạnh, lấy khiêm nhường bù lại kiêu hãnh, lấy phục vụ đối lại cao danh. Là những người môn đệ của Con Chiên có nghĩa là không sống như một “thành trì bị vây hãm”, nhưng như một thành phố đặt trên núi cao, mở ra, đón nhận và liên đới. Nó có nghĩa là không được có thái độ đóng lại, nhưng mang Tin Mừng đến cho tất cả, làm chứng bằng cuộc sống của chúng ta rằng bước theo Ðức Giêsu giúp chúng ta tự do hơn và hoan lạc hơn” (Kinh truyền tin Chúa nhật 19/01/2014).

Hôm nay, tội lỗi của riêng bản thân chúng ta cũng như của nhân loại còn đang chất ngất. Thế nên, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục hiến mình làm chiên xoá tội trong hy tế thánh thể hằng ngày. Trong mỗi thánh lễ, khi nâng cao Mình thánh Chúa Giêsu cho tín hữu tôn thờ, linh mục dùng lại lời của thánh Gioan tẩy giả để giới thiệu Chúa Giêsu là Chiên Mới đang tiếp tục hiến tế cứu độ thế gian: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian”.

Được trở thành chi thể của Chúa Giêsu nhờ bí tích rửa tội, được hiệp thông nên một với Chúa Giêsu qua hy tế thánh lễ mỗi ngày và nhất là được thông dự vào chức tư tế của Chúa Giêsu, mỗi người chúng ta đều được mời gọi trở nên chiên Thiên Chúa với Chúa Giêsu, để cùng Ngài dâng hiến cuộc đời chúng ta làm hy tế cứu độ thế gian.

Trở nên chiên Thiên Chúa để cùng hiến tế với Chúa Giêsu không chỉ là một lời mời gọi mà là một sứ vụ không thể tách lìa của mỗi người kitô hữu.

 

20.1.2023 Thứ Sáu trong tuần thứ Hai Mùa Quanh Năm

Dt 8:6-13; Tv 85:8,10,11-12,13-14; Mc 3:13-19

Chúa Giê-su gọi những kẻ Người muốn

          Trong Hội Thánh, chúng ta thấy có người là linh mục, người khác là tu sĩ và phần lớn là giáo dân. Tuy có sự khác biệt về bậc sống nhưng tất cả đều có điểm chung là ơn gọi nên thánh, trở nên môn đệ của Chúa Kitô. Trở nên môn đệ của Chúa, Kitô hữu được mời gọi đến và ở lại với Chúa, để rồi được sai đi rao truyền niềm vui ơn cứu độ cho mọi người. Đây chính là hồng ân nhưng không mà Thiên Chúa ban tặng cho mỗi người.

          Tin Mừng kể về việc Chúa Giêsu chọn gọi Mười Hai Tông Đồ. Cách thức và tiêu chuẩn tuyển chọn của Chúa thật đặc biệt vượt xa suy nghĩ của nhiều người. Ngay khi bắt đầu cuộc đời công khai, Chúa Giêsu đã có sức hút đặc biệt đối với dân chúng và đã có rất nhiều người bước theo Người trên hành trình rao giảng Tin Mừng. Bước theo Chúa, người môn đệ được “ở với Người” và “được Người sai đi rao giảng với quyền trừ quỷ”. Đây thực sự là một hồng ân cao quý mà Thiên Chúa ban tặng cho người môn đệ của Chúa. Hồng ân ấy còn cao quý hơn gấp bội khi nó xuất phát từ tình yêu nhưng không của Thiên Chúa chứ không phải do công trạng của con người.

          Thường mỗi khi Chúa Giêsu lên núi, thì hoặc là Ngài cầu nguyện (Mc 6, 46; Lc 6, 12; 9, 28), hoặc là Ngài sẽ thực hiện một điều gì đó rất quan trọng cho dân chúng, như dạy dỗ hay hóa bánh ra nhiều cho dân chúng được no nê chẳng hạn (Mt 5, 1; 15, 29).

          Trong Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng đi lên núi. Dĩ nhiên, mục đích chính yếu của việc Ngài lên núi lần này có lẽ không phải là để cầu nguyện, nhưng là để làm một điều gì đó rất quan trọng cho dân chúng.

          Điều quan trọng Chúa làm cho dân chúng trong lần lên núi này là tuyển chọn các môn đệ. Vì nhu cầu phục vụ đám dân nghèo khổ mà Chúa tuyển chọn các ông. Nói cách khác, cộng đoàn các môn đệ được Chúa thiết lập trên núi là vì đám dân chúng lầm than, vất vưởng, bệnh hoạn tật nguyền đang chờ đợi dưới chân núi.

          Chúa gọi các môn đệ lên núi để các ông được ở với Ngài, được mang lấy thao thức của Ngài về đám dân khốn khổ, nghèo hèn kia. Khi đã được ở với Chúa và mang lấy tâm tư của Chúa rồi, thì các ông được sai xuống núi để thi hành sứ mạng loan báo Tin mừng cho dân nghèo.

          Không phải chỉ ngày xưa mới có đám đông dân chúng khốn khổ nghèo hèn cần được Chúa và các môn đệ chăm sóc, mà ngày nay cũng vẫn còn vô số những thân phận bi đát đang cần đến những bàn tay chăm sóc, vỗ về của Hội Thánh Chúa.

          Quả thật, Tin Mừng đã tường thuật lại rằng “Chúa gọi đến những kẻ Người muốn”. Chúa đã chọn các môn đệ từ những hoàn cảnh, nghề nghiệp, tính tình khác nhau... Họ không phải là bậc tài ba xuất sắc, cũng không phải là thành phần ưu tú thuộc giai cấp thượng lưu trong xã hội. Phêrô, An rê, Giacôbê và Gioan há chẳng phải là dân chài quê mùa dốt nát miền Galilê ư? Hay như Mathêu, một người xuất thân từ hàng ngũ thu thuế, tức là hạng người thường bị khinh bỉ trong dân Do Thái thời bấy giờ. Thế nhưng, tất cả đã được Chúa thương tuyển chọn để trở nên “nền tảng” của Giáo Hội.

          Khi ở bên Người, đi đây đi đó các ông học được nơi Chúa Giê-su những điều hay lẽ phải. Nói cách khác là ở bên Chúa các ông được huấn luyện, dạy bảo và sau khi các ông đã lĩnh hội được những điều cần thiết rồi thì Người sai các ông đi rao giảng Tin Mừng và  quyền xua trừ ma quỷ.

          Với quyền năng của Thiên Chúa thì Ngài chỉ cần phán một lời thôi thì cũng khiến cho tất cả thế gian phải tin tưởng, tôn thờ và phụng sự Ngài. Thế nhưng đó không phải ý muốn của Thiên Chúa. Ý muốn của Ngài là mọi người phải cùng cộng tác với Ngài trong công trình sáng tạo và cứu độ trần gian. Chính vì thế, mà chúng ta, từng người, ai cũng được Chúa kêu gọi để trở thành những môn đệ đi rao giảng Tin Mừng của Chúa đến cho mọi người.

          Trong nghi thức cử hành Bí Tích Rửa Tội,  người lãnh Bí Tích nhận được một cây nến cháy sáng và một tấm áo trắng tinh.. Điều này nói nên là; từ nay cuộc đời của họ phải trở nên như ngọn nến cháy sáng bằng cách luôn giữ tâm hồn  trong sạch sẽ như tấm áo trắng, để nhờ đó mà đem Chúa đến với mọi người chung quanh.

          Mang Chúa đến với mọi người và đem mọi người về với Chúa đó là bổn phận và là trách nhiệm của mỗi Ky tô hữu chúng ta. Cuộc sống của chúng ta chỉ có ý nghĩa và giá tri khi chúng ta thực hiện được lời mời gọi này.

          Hôm nay đây, mỗi chúng ta đã được tuyển chọn làm con Chúa qua Bí tích Rửa tội, chúng ta được tràn đầy các ân sủng qua các Bí tích, chúng ta được sống trong Hội Thánh của Chúa, chúng ta được học hỏi chính Lời Chúa qua Hội Thánh, chúng ta luôn có Chúa ở bên chúng ta như lời Chúa hứa: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. (Mt 28, 20)

 

Chúa Nhật Tuần II Mùa Thường Niên, 2020

 Is 49, 3. 5-6; 1 Cr 1, 1-3; Ga 1, 29-34

 ĐÂY LÀ CHIÊN THIÊN CHÚA

          Ta bước vào Chúa nhật Chúa nhật II thường niên A. Ở Chúa nhật này, ta thấy thánh sử Gioan thuật lại cho chúng ta cuộc gặp gỡ sinh động và đầy ấn tượng mà ông chứng kiến tận mắt giữa thầy mình là Gioan Tẩy Giả với Chúa Giêsu, ông viết: "Khi ấy, ông Gioan thấy Chúa Giêsu tiến về phía mình" (Ga 1, 29).

          "Thấy Chúa Giêsu tiến về mình", đây là một hành động tương lai, tiếng Hy bá còn diễn tả “ngày mai”. Nhưng tương lai này có sự liên tục với Giao Ước cũ, vì Gioan Tẩy Giả đã không nói về chính mình, lời của ông được rút ra từ Cựu Ước đan vào nhau để làm sáng tỏ các mầu nhiềm.

          Bằng từ “ngày mai”, chúng ta bắt đầu một ngày mới, Năm Phụng vụ mới khai mào. Gioan Tẩy Giả thấy sự huy hoàng rực rỡ của Giao Ước mới tiến lên thì nói: "Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian." (Ga 1, 29)

          “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian”. Cơ cấu áp bức bên ngoài chỉ là sự biểu hiện một sức mạnh khác ở nội tâm: cái xấu, ác ở bên trong; trong tôi, trong bạn, trong họ. Tôi ở đây là danh từ dùng ở số ít, không phải là chuyện nhỏ mà phải hiểu là toàn thể! Chúa Giêsu sẽ gánh lấy, và làm biến mất toàn thể tội lỗi của thế gian trong một cuộc chiến đấu đẫm máu, Người sẽ đổ hết máu mình làm vật hiến tế trước những tay đao phủ. Chúa Giêsu, Cứu Chúa của chúng ta! Đấng cất bỏ tội lỗi.

          Ơ đây Thánh Gioan dùng một từ ngữ Hy Lạp có nghĩa kép mà thánh sử thích dùng cả hai: “airein”, vừa có nghĩa “gánh vác, lãnh nhận” vừa có nghĩa “cất đi, lấy đi làm biến mất” Chúa Giêsu không phát triển công cuộc giải phóng bằng cuộc chiến đấu bên ngoài theo kiểu “đội đặc công” trả đũa áp bức bằng bạo lực; nhưng bằng cách lãnh nhận trên chính người, bằng cách chịu đựng trong sự liên đới với mọi người bị áp bức của thế giới.

          Lời giới thiệu của Gioan làm cho người Do Thái nói riêng và cho người Kitô hữu nói chung hiểu rằng:

          Như máu con chiên bôi lên cửa nhà vào đêm Vượt qua cứu dân Israel khỏi chết như thế nào, thì máu thánh Chúa Giêsu đổ ra trên thập giá cũng cứu nhân loại khỏi chết như vậy.

          Như con chiên vô tội gánh lấy tội lỗi của dân Do Thái trong ngày lễ Xá Tội hàng năm như thế nào, thì Chúa Giêsu là Đấng vô tội chịu thương khó cũng gánh lấy tội lỗi nhân loại như vậy.

          Như con chiên hiền hành vô tội bị dẫn đến lò sát sinh mà không hề mở miệng kêu ca như thế nào, thì Chúa Giêsu vô tội cũng vui lòng chịu đóng đinh và chịu chết trên cây thập giá như vậy.

          Như Con Chiên đã bị giết, nhưng đã chiến thắng khải hoàn như thế nào, thì Chúa Đức Giêsu chịu nạn chịu chết cũng Phục sinh sáng láng như vậy.

          Nhìn vào cuộc đời Chúa Giêsu, ta thấy: Người quả thật là Đấng gánh tội trần gian và xoá tội trần gian.

          Người gánh tội trần gian khi Người nhập vào dòng người tội lỗi đến xin Gioan làm phép rửa. Người xoá tội trần gian khi Người tuyên bố: "Tôi đến không phải để kết tội, nhưng là để cứu độ."

          Người tín hữu thường được gọi là “Con chiên của Chúa”. Danh hiệu đó ngầm chứa một lời cầu chúc: Mong cho người tín hữu được xếp vào loại ‘chiên’ trong ngày phán xét. Được đứng bên hữu Vua Thẩm Phán. Được vào hưởng vinh quang trong nước Chúa.

          Trước khi lên rước lễ, chúng ta nhắc lại câu nói của Gioan: “Đây Chiên Thiên Chúa”. Điều này có ý nghĩa gì đối với chúng ta? Phải chăng đây chỉ là một hình ảnh thi vị, lãng mạn, nhưng xa lạ với dân Á-đông (con chiên) khiến chúng ta phải nghĩ đến việc tìm một hình ảnh thay thế (hội nhập văn hóa!)? Hay là đây là một hình ảnh đầy ắp những ý nghĩa thuộc Cựu Ước, những ý nghĩa liên quan đến việc cứu độ chúng ta? Có nhận thức rằng Chúa Giêsu là Đấng Cứu Độ duy nhất, chúng ta mới khiêm tốn thưa, như viên sĩ quan (Mt 8,8): “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con…”.

          Ta cũng suy nghĩ về cung cách làm chứng của Gioan. Ông biết tư cách của mình và biết công việc phải chu toàn. Được Thiên Chúa hướng dẫn qua các dấu chỉ, ông đã nêu lên một chứng từ đơn giản và rõ ràng về Chúa Giêsu. Người tín hữu bắt chước vị Tiền Hô, cứ làm chứng trong mức độ hiểu biết lúc này. Qua dòng thời gian, Thiên Chúa sẽ tiếp tục dạy dỗ để người ấy có thể nêu lên một chứng từ rõ nét và sắc bén hơn về Chúa Giêsu.

          Làm chứng cho Chúa có nghĩa là gì nếu không phải là lấy hiền từ đối lại cái ác, lấy tình yêu thay thế sức mạnh, lấy khiêm nhường bù lại kiêu hãnh, lấy phục vụ đối lại cao danh. Là những người môn đệ của Con Chiên có nghĩa là không sống như một “thành trì bị vây hãm”, nhưng như một thành phố đặt trên núi cao, mở ra, đón nhận và liên đới. Nó có nghĩa là không được có thái độ đóng lại, nhưng mang Tin Mừng đến cho tất cả, làm chứng bằng cuộc sống của chúng ta rằng bước theo Chúa Giêsu giúp chúng ta tự do hơn và hoan lạc hơn

          “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh hết mọi tội trần gian”. Ngài bước đi trên con đường khổ giá và làm chứng cho Chúa Giêsu, Đấng hiến mình chịu chết để cứu chuộc nhân loại. Ngày hôm nay chúng ta là những môn đệ của Chúa, chúng ta cũng cần phải noi gương thánh Gioan Tẩy Giả làm chứng cho Chúa để qua đời sống thánh thiện của mình khiến nhiều người nhận biết Chúa.

16.1 Thứ Hai Thứ Hai trong tuần thứ Hai Mùa Quanh Năm

Dt 5:1-10; Tv 110:1,2,3,4; Mc 2:18-22

CŨ VÀ MỚI

          Tin Mừng không thể đi đôi với những gì thuộc về quá khứ, vải cũ, bầu rượu cũ chỉ là những thực hành cũ kỹ của người Do thái. Do đó với thông điệp của Chúa Giêsu, người rao giảng Tin Mừng phải là cuộc tiến hóa, hay một sự khai triển những khởi điểm mới. Tin Mừng hôm nay trình bày đối lập giữa cũ và mới, cho thấy hình ảnh chú rể hân hoan trong ngày cưới, ngay cả mọi người dòng họ, bạn bè, thân quen cũng vui mừng vì “chẳng có khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay”. Và câu trả lời của Chúa Giêsu về việc chay tịnh là không làm mất đi niềm vui nhưng lại là sống một tinh thần mới không bị gò bó lề luật. Qua hình ảnh chú rể là Chúa Giêsu, bữa tiệc cưới là ơn cứu độ, qua đó con người biết sống Tin Mừng trong tinh thần mới.

          Khi có mấy môn đệ của ông Gioan đến gặp Chúa Giêsu thắc mắc về chuyện họ phải ăn chay trong khi môn đệ của Chúa thì không. Bấy giờ Chúa Giêsu dùng ba hình ảnh để so sánh và giải thích cho họ hiểu rõ tinh thần của việc giữ luật ăn chay.

          Thứ nhất: Hình ảnh tiệc cưới: “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay, khi chàng rể còn ở với họ”. Khi khẳng định điều này, Chúa Giêsu không trực tiếp trả lời câu hỏi nhưng Người so sánh việc giữ chay giống như niềm vui của thực khách khi dự tiệc cưới.

          Theo quan niệm của người phương Đông, hôn lễ là ngày “đại hỷ”, là thời gian đặc biệt chứa chan niềm vui. Những vị khách cụ thể là những bạn hữu của chú rể phải góp phần tạo niềm vui cho đôi tân hôn. Vì thế khách mời mà giữa chay khi dự tiệc cưới là không xứng hợp.Theo lối nhìn của các nhà chú giải Kinh Thánh, hôn lễ còn ám chỉ thời cứu độ của Thiên Chúa đã nói trong sách Isaia: “Tôi mừng rỡ muôn phần nhờ Đức Chúa, nhờ Thiên Chúa tôi thờ, tôi hớn hở biết bao! Vì Người mặc cho tôi hồng ân cứu độ, choàng cho tôi đức chính trực công minh, như chú rể chỉnh tề khăn áo, tựa cô dâu lộng lẫy điểm trang” (61,10). Khi thời Cứu Độ đến mọi người sẽ hớn hở vui mừng, áo quần xúng xính chỉn chu như cô dâu chú rể trong ngày tân hôn.

          Một lần nữa thánh sử Matcô nhấn mạnh về thời cứu độđó là lúc Thiên Chúa thực hiện lời hứa ban niềm vui và hạnh phúc cho muôn dân. Chúa Giêsu đến khai mạc thời cánh chung, mở ra chân trời mới đầy hy vọng. Khi có Chúa Giêsu hiện diện, các môn đệ sẽ tận hưởng được niềm vui và cònlan tỏa niềm vui ấy cho mọi người nên họ sẽ không ăn chay. Chúa Giêsu sẽ đến thiết lập trời mới đất mới, khải hoàn vinh thắng, lúc ấy mọi tạo vật reo vui vì không còn phải “rên xiết mong ngóng chờ ngày cứu độ”.

          Thứ hai: hình ảnh rượu chứa trong bầu da. Chúa Giêsu dùng hình ảnh rất quen thuộc về cách chứa rượu của người Do Thái. Thời đó người ta chưa có bình đựng rượu nên họ thường chứa trong một cái bầu làm bằng da thú. Nếu rượu cũ đổ vào bầu da mới, rượu lên men và thải ra lượng khí carbon độc hại, túi da sẽ rách và rượu chảy ra ngoài. Trái lại rượu mới phải chứa trong bầu da mới vì da mới có tính đàn hồi nên sẽ không bị rách.

          Thứ ba: hình ảnh vá áo. Chúa Giêsu dùng hình ảnh một người lấy vải mới vá vào áo cũ, miếng vải mới làm áo dúm lại, và chỗ rách lại càng rách to hơn. Với lối nói so sánh bằng hình ảnh, Chúa Giêsu muốn mời gọi chúng ta cần có một tư tưởng mới, một cái nhìn cởi mở thì mới hiểu được những việc Chúa làm, hiểu được những giá trị của Tin Mừng. Có thể nói đây là một cuộc cách mạnglề luật giúp người ta không bị héo mòn trong mớ luật nặng nề để vươn lên tầm cao mới của tình yêu mến. Việc ăn chay, đi lễ, đọc thiên kinh vạn quyển mà thiếu đức ái thì chẳng có ích gì. Nếu chỉ giữ lề luật mà trong lòng còn chất chứa sự hận thù ghen ghét, đối xử bất công với người khác thì việc ăn chay cũng chỉ là thái độ giả hình.

          Qua ba hình ảnh trên, Chúa Giêsu muốn các môn đệ đi vào sự kết hợp thâm sâu thân tình với Thiên Chúa, thao thức kiếm tìm ý nghĩa đích thực của Tin Mừng giữa những điều luật buộc phải giữ. “Rượu mới, bầu cũng phải mới”, cái “mới” ở đây không phá bỏ cái “cũ” nhưng đã được chắt lọc từ sự tinh hoa của cái cũ. Tin Mừng của Chúa phải được đón nhận bằng tất cả lòng quảng đại và yêu mến. Nếu luật cũ là “mắt đền mắt, răng đềnrăng” thì luật mới phải vượt lên sự hiềm thù đền trả 1-1 mà là “nếu bị ai vả má bên phải thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn anh để lấy áo trong của anh thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm thì hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin thì hãy cho; ai muốn vay mượn thì đừng ngoảnh mặt đi” (Mt 5, 39-42).

          Trong cuộc sống, không phải cái gì cũ cũng là xấu, trái lại kỷ niệm xưa thì đáng trân trọng, bạn cũ thì thân tình, đồ cổ thì quý. Trái lại cũng có trang vở mới tinh khôi, thanh khiết, có con đường mới thẳng tắp, chiếc cầu mới nối liền nhịp sống hai bên bờ sông...Đó là cái mới đáng trân trọng được xây nền tảng cái cũ, được chắt lọc từ sự tinh túy của cái cũ. Chúa Giêsu đã đến không phải để phá bỏ cái cũ nhưng kiện toàn và khắc lên đó một tinh thần mới, tinh thần khiêm tốn phục vụ và yêu thương trọn vẹn.

          Đời sống xã hội hôm nay đang từng ngày đổi thay, vì thế Giáo Hội cũng luôn trăn trở đi tìm cách thế hữu hiệu nhất để loan báoTin Mừng hầu cho đời sống đạo có chiều sâu vững vàng và phải bén rễ vào Đức Kitô, nếu không chúng ta sẽ bị đánh bật bởi những cái mới, trào lưu sống “hời hợt, ào ào, vội vã” mà đánh mất căn tính của mình. Giáo hội Chúa Kitô phải là giáo hội của người nghèo, luôn lắng nghe và đồng cảm với người nghèo. Sở dĩ Tin Mừng chưa được nhiều người đón nhận vì cách rao giảng của chúng ta có phần chưa phù hợp, chưa đáp ứng đủ nhu cầu tâm linh nơi con người. Ước gì mỗi kitô hữu biết đến với mọi người bằng cung cách phục vụ khiêm tốn như Chúa Giêsu, bằng niềm hân hoan của thực khách trong đại tiệc hôn lễ, bằng nỗi khao khát hướng đến điều trọn lành.

          Chúa Giêsu đã đến giải thoát chúng ta khỏi sự trói buộc cũ kỹ của mọi tính hư nết xấu và tội lỗi. Xin cho chúng ta được biến đổi nên những người biết sẵn sàng lắng nghe những gợi hứng của Chúa Thánh Thần mà có thái độ sống đạo linh hoạt, sống động phù hợp với chân lý đức tin và đạo hiếu con người.

          Chúa Giêsu ngài đã dùng hình ảnh  hai dụ ngôn: th“Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ” hay “Cũng như không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ” với ngụ ý Tin Mừng cứu độ của Thiên Chúa đem đến, hầu mong mọi người đón nhận trong hân hoan vui mừng, trong một tinh thần canh tân đổi mới trong tâm hồn để biết từ bỏ lánh xa tội lỗi đang vấp phạm.

          Sống Tin Mừng của Chúa, mỗi người phải đón nhận trong sự thành tâm sám hối, một tinh thần biết thay đổi tận từ gốc rễ của những lầm lỗi quyết tâm trở về bằng sự yêu thương, sống chan hòa trong tình huynh đệ, sự khiêm tốn, sám hối thật sự trong tinh thần Tin Mừng của Thiên Chúa. 

Chúa Nhật 2 TN – A

LÀM CHỨNG CHO CHÚA NHƯ GIOAN

Ngôn sứ Gioan Tẩy Giả được xem là nhân vật lớn cuối cùng của thời Cựu Ước và là nhân vật đầu tiên của Tân Ước. Ông là nhịp cầu nối giữa Giao ước cũ với Giao ước mới, ông có sứ mệnh rất quan trọng là giới thiệu Đức Giêsu cho dân chúng.

Lần thứ nhất, lúc còn là một bào thai trong lòng mẹ là bà Êlisabét, thế nhưng Gioan đã biết nhảy mừng khi Đức Maria đến viếng thăm. Cử động của thai nhi khiến bà Êlisabét nhận ra sự viếng thăm của Thiên Chúa, bà kêu lớn tiếng và nói với Đức Maria: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa đến với tôi thế này? Vì này đây, tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vui sướng” (Lc 1, 42-44).

Và  lần hai Gioan Tẩy Giả về Đức Giêsu là lời này. Ông xác nhận Đức Giê-su là Con Chiên của Thiên Chúa, Đấng cứu độ trần gian. Người là Đấng mà ông có sứ mệnh đi trước dọn đường. Gio-an nhận ra Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai nhờ dấu chỉ mà Thiên Chúa đã cho biết như sau: “Ngươi thấy Thánh Thần ngự xuống trên ai, thì đó chính là Đấng sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần”. Ông đã thấy điều ấy nơi Đức Giê-su khi làm phép rửa cho Người tại sông Giođan, và ông đã làm chứng rằng: “Người thực là Con Thiên Chúa”.

Con Thiên Chúa đã làm người, Ngài đón nhận trọn vẹn thân phận con người tội lỗi. Đến với Gioan Tẩy Giả để chịu phép rửa là Chúa Giêsu đến gánh vác lấy tất cả tội lỗi của nhân loại làm tội lỗi của mình. Và Ngài lấy chính bản thân Ngài, gồm cả cuộc sống, cái chết trên thập giá và sự sống lại của Ngài để đền bù tất cả tội lỗi đó thay cho chúng ta. Là Con Chiên vô tì tích, Ngài chấp nhận trở thành “con chiên gánh tội trần gian.”

Chiên Thiên Chúa" gợi lên trong tâm trí ta toàn bộ giáo lý đức tin của dân riêng Thiên Chúa. Ngay lập tức, ta có thể nghĩ rằng không phải là một con chiên nhỏ bé nhưng là sự lớn lao của quyền năng và lòng thương xót Chúa hướng đến dân Do Thái qua dấu máu của con chiên, nhờ đó dân Do Thái được cứu thoát khỏi ách nô lệ ở Ai Cập và được mang đến sự tự do và đời sống mới nơi đất Hứa. Mỗi năm và dịp lễ Vượt Qua, dân Do Thái tưởng nhớ và mừng lễ Cứu Độ bằng việc tham dự vào bữa ăn tối Vượt Qua.

Con chiên vượt qua là hình bóng Đấng cứu thế như ngôn sứ Isaia đã loan báo: “...chính các bệnh tật của chúng tôi, Ngài đã vác. Ngài đã bị đâm vì những phản nghịch của chúng tôi. Vì tội vạ của chúng tôi, Ngài đã bị nghiền nát...Ngài đã chịu đựng, không mở miệng, như con chiên dẫn đến lò sát sinh...Thiên Chúa đã ái mộ Ngài, đã phục sinh Đấng đã làm lễ hy sinh tạ tội. Ngài đã được trường sinh bất tử” (Is 53, 4-5.7).

Tác giả sách Lêvi diễn tả rất chi tiết về cảnh sát tế chiên trong đền thờ Giêrusalem trong dịp lễ Vượt qua như sau: “con chiên trong sạch được dẫn tới bàn thờ, mọi người giơ cao tay đổ hết mọi tội mình lên đầu con chiên, rồi nhổ lông, xé thịt nó. Nó không mở miệng kêu một tiếng. Người ta thiêu sinh nó làm lễ dâng lên Thiên Chúa, xin Thiên Chúa xoá tội cho dân mình” (Lv 1,4).

Theo truyền thống Do Thái trong sách Xuất Hành (Xh 29,38-42), thì mỗi ngày, vào sáng sớm và chiều tối, các tư tế trong đền thờ phải sát tế mỗi buổi một con chiên nhỏ cỡ một tuổi làm của lễ toàn thiêu để đền tội thay cho dân chúng. Như vậy tội lỗi của cả dân chúng mỗi buổi đều đổ hết lên đầu con chiên, và con chiên gánh tội ấy phải chết để đền tội thay cho dân chúng, hầu dân chúng được khỏi tội trước Thiên Chúa. Tội lỗi của dân chúng đối với Thiên Chúa đáng lẽ phải trả giá bằng sinh mạng của chính con người, nhưng Thiên Chúa đã chấp nhận để con chiên chết thay con người. Đức Giêsu đã trở thành chiên hy sinh như thế: "Đức Kitô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta" (1Cr 5,7)

Người gánh lấy tội của ta để ta được tha thứ. Người hạ mình xuống để ta được nâng lên. Người trở nên nghèo hèn để ta được giàu có. Người làm con loài người để ta được làm con Thiên Chúa. Người trở nên yếu hèn để ta được nên mạnh mẽ. Người chịu nhục nhã để ta được vinh quang. Người nhận lấy thân phận nô lệ để ta được tự do. Người cam lòng chịu chết để trả lại cho ta sự sống.

Theo lời chứng của ông Gioan, Chiên Thiên Chúa là Đấng đầy Thần Khí, được Thiên Chúa tuyển chọn để thực hiện một sứ mạng cao cả, đến để gánh lấy mọi tội lỗi của trần gianvà ban ơn Cứu Độ cho muôn loài. Chiên Thiên Chúa không là một danh hiệu nhưng là một sứ mạng. Đó là Con Chiên hiền lành vô tì tích để cho người ta dẫn đi đánh đòn và chịu sát tế trong lễ Vượt Qua. Đó là vị tôi trung khiêm tốn cúi mình xuống phục vụ con người. Là Con Chiên vô tội, nhưng Chúa Giêsu đã hòa mình vào đám tội nhân. Con Chiên không đi tìm quyền bính hay sự giàu sang nhưng chịu hủy mình ra không để trở thành tất cả cho mọi người.

Chúa Giêsu chính là Đấng cứu thế dẫn đưa đoàn dân sống trong bóng tối lầm than đến với ánh sáng cứu độ. Hài Nhi Giêsu chính là Ánh Sáng xua tan bóng tối của đau khổ, đưa nhân loại thoát khỏi chốn u mê lầm lạc của tội lỗi và sự chết. Người cất đi cái ách nặng và gông cùm đang đè lên cổ loài người. Người chính là món quà tình yêu cao quý được Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta, tên Người là Cố vấn Kỳ Diệu, là Thần Linh dũng mãnh, là Người Cha muôn thưở và là vị Vua Thái Bình. Người đến khai mở một triều đại mới, đưa muôn dân nước trở về hưởng phần gia nghiệp của con cái Thiên Chúa.

Thánh Gioan làm chứng cho Chúa Kitô và muốn cho mọi người đến với Chúa: "Tôi đến làm phép rửa để mạc khải Người cho dân Israel". Sứ mạng của người làm chứng có mục đích hướng dẫn người ta đến gặp Chúa, và khi người nghe đã gặp được Chúa rồi thì người làm chứng phải rút đi, vai trò của mình đã xong, hãy để cho Chúa Kitô trực tiếp hướng dẫn các linh hồn trên con đường mà Ngài muốn. Người làm chứng biết là Chúa Kitô trọng tự do lương tâm của người nghe. Hai người môn đệ của Gioan đã theo Chúa và ở lại với Chúa, họ đã quên đi Gioan để rồi đến phiên họ, họ cũng làm chứng cho Chúa: "Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian".

Trong thánh lễ, chúng ta cùng tuyên xưng niềm tin vào Đấng là Chiên Thiên Chúa “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian, phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa”. Với tất cả lòng biết ơn Thiên Chúa về những gì đã lãnh nhận, chúng ta hãy thể hiện niềm tin ấy bằng đời sống bác ái yêu thương, bằng thái độ phục vụ quảng đại khiêm tốn.

Khi nhận ra những ân huệ cao quý của Thiên Chúa, chúng ta cũng được mời gọi chia sẻ cho tha nhân. Bởi lẽ chúng ta đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không. Chia sẻ không làm cho chúng ta nghèo đi nhưng là trở nên giàu có trong ân sủng và tình yêu.Thánh Gioan đã dành cả cuộc đời để giới thiệu và làm chứng cho Đấng là Chiên Thiên Chúa, chúng ta cũng được mời gọi can đảm đón nhận tất cả những khó khăn hy sinh vất vả vì danh Chúa Giêsu. Chúng ta hãy ý thức thân phận yếu đuối tội lỗi của mình mà vững lòng trông cậy vào ơn Chúa.

Ta cùng nguyện xin Chúa cho ta ở trong quyền năng của ơn thánh, để được lãnh nhận sức mạnh giải thoát từ Chiên Thiên Chúa, để chúng ta có thể sống xứng đáng phẩm giá con người như Thiên Chúa đã tạo dựng. Chúng ta cũng cầu xin Đức Kitô chịu đóng đinh và sống lại luôn tỏ quyền năng của Người, để giúp chúng ta luôn sống trong tình yêu Người.

Huệ Minh

 

 

Thứ Hai Tuần II Mùa Thường Niên 

1 Sm 15, 16-23; Mc 2, 18-22

SỐNG PHÙ HỢP VỚI TIN MỪNG

          Tin Mừng hôm nay kể lại sự việc những người Do Thái thắc mắc với Chúa Giêsu và các môn đệ vì lý do nào mà các môn đệ Gioan và người Pharisêu ăn chay. Trong khi đó các môn đệ của Chúa lại không ăn chay. Chúa Giêsu đã chỉ cho họ biết ăn chay và các việc đạo đức không phải là một phong trào hay những thói quen vô hồn nhưng phải được thực hiện với tâm tình mến yêu và thái độ khiêm nhường.

          Mục đích của việc ăn chay là sám hối và cầu xin Thiên Chúa đến với con người. Vậy mà, Chúa Giêsu đã đến với họ trong một con người đầy tình yêu thương và gần gũi nhưng họ lại không nhận biết Người. Phải chăng chỉ vì họ quá chú trọng đến cái hình thức bên ngoài mà bỏ Chúa ra ngoài cuộc đời của mình?

          Chúa Giêsu muốn các môn đệ đi vào sự kết hợp thâm sâu thân tình với Thiên Chúa, thao thức kiếm tìm ý nghĩa đích thực của Tin Mừng giữa những điều luật buộc phải giữ. “Rượu mới, bầu cũng phải mới”, cái “mới” ở đây không phá bỏ cái “cũ” nhưng đã được chắt lọc từ sự tinh hoa của cái cũ. Tin Mừng của Chúa phải được đón nhận bằng tất cả lòng quảng đại và yêu mến.

          Nếu luật cũ là “mắt đền mắt, răng đền răng” thì luật mới phải vượt lên sự hiềm thù đền trả 1-1 mà là “nếu bị ai vả má bên phải thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa. Nếu ai muốn anh để lấy áo trong của anh thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm thì hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin thì hãy cho; ai muốn vay mượn thì đừng ngoảnh mặt đi” (Mt 5, 39-42).

          Trong Tân Ước, chính Chúa Giêsu là chàng rể trong bữa tiệc như Is 25, 6-9 đã loan báo. Ngài là Đấng Mêsia đang có mặt giữa khách dự tiệc cưới. Vì thế, các môn đệ của Ngài không ăn chay, nhưng sẽ tới ngày chàng rể (Chúa Giêsu) bị đem đi, tức là bị giết, các môn đệ mới ăn chay. Và các ông ăn chay là để chờ đợi ngày chàng rể trở lại (Cv 14,1-3).

          “Không ai lấy vải mới mà vá áo cũ, chẳng vậy, miếng vải vá sẽ rút lại mà kéo áo cũ, và chỗ rách lại tệ hơn. Cũng không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, chẳng vậy, rượu sẽ làm vỡ bầu da, và rượu đổ, bầu da hư. Nhưng rượu mới phải để trong bầu da mới".

          Ví dụ này nhấn mạnh đến sứ vụ của Đức Giêsu là không thể theo khuôn mẫu cổ điển của Do thái giáo (thể hiện qua lối thực hành của người biệt phái, hay nếp sống khắc khổ của môn đệ Gioan Tẩy giả).

          Con người sống trong giai đoạn nào thì phải theo tinh thần của giai đoạn đó. Sống trong thời đại mới, thời đại của Tân Ước, con người phải sống theo thời kỳ mới, sống theo tinh thần mới, trong niềm vui Ơn Cứu Ðộ.

 

          Trong cuộc sống, không phải cái gì cũ cũng là xấu, trái lại kỷ niệm xưa thì đáng trân trọng, bạn cũ thì thân tình, đồ cổ thì quý. Trái lại cũng có trang vở mới tinh khôi, thanh khiết, có con đường mới thẳng tắp, chiếc cầu mới nối liền nhịp sống hai bên bờ sông...Đó là cái mới đáng trân trọng được xây nền tảng cái cũ, được chắt lọc từ sự tinh túy của cái cũ. Chúa Giêsu đã đến không phải để phá bỏ cái cũ nhưng kiện toàn và khắc lên đó một tinh thần mới, tinh thần khiêm tốn phục vụ và yêu thương trọn vẹn.

          Đời sống xã hội hôm nay đang từng ngày đổi thay, vì thế Giáo Hội cũng luôn trăn trở đi tìm cách thế hữu hiệu nhất để loan báo Tin Mừng hầu cho đời sống đạo có chiều sâu vững vàng và phải bén rễ vào Đức Kitô, nếu không chúng ta sẽ bị đánh bật bởi những cái mới, trào lưu sống “hời hợt, ào ào, vội vã” mà đánh mất căn tính của mình.

          Giáo hội Chúa Kitô phải là giáo hội của người nghèo, luôn lắng nghe và đồng cảm với người nghèo. Sở dĩ Tin Mừng chưa được nhiều người đón nhận vì cách rao giảng của chúng ta có phần chưa phù hợp, chưa đáp ứng đủ nhu cầu tâm linh nơi con người. Ước gì mỗi kitô hữu biết đến với mọi người bằng cung cách phục vụ khiêm tốn như Chúa Giêsu, bằng niềm hân hoan của thực khách trong đại tiệc hôn lễ, bằng nỗi khao khát hướng đến điều trọn lành.

          Con người ngày nay đang sống trong một thế giới mà khoa học kỹ thuật và các giá trị vật chất được đề cao. Họ mải mê chăm lo quá nhiều cho đời sống vật chất để rồi chỉ nhìn thấy những giá trị bên ngoài tức thời mà không nhận biết các giá trị tâm linh cao quí bên trong. Từ đó dẫn con người đến việc sống và thực hiện các việc đạo đức cách hình thức hay phong trào mà thiếu đi tâm tình và quên đi niềm vui tâm hồn. 

          Và rồi ta được mời gọi sống đạo cho phù hợp với Tin Mừng của Chúa, là sống đạo yêu thương. Trong cuộc sống đạo, chúng ta không thể không đặt ra để tự vấn lương tâm mỗi ngày: tôi có sống công bình, bác ái chưa? Tôi có yêu thương người anh em bên cạnh tôi chưa? Tôi có nhắm mắt làm ngơ trước nỗi khổ của người xung quanh tôi không?

          Ta nhận biết, tin tưởng, yêu mến Chúa Giêsu nhờ Tin Mừng, nhờ giáo huấn của Hội Thánh, chúng ta còn phải biết chia sẻ niềm vui ơn cứu độ cho những anh chị xung quanh. Đó mới là việc Chúa mong muốn, mời gọi tất cả chúng ta tích cực tham gia công tác tông đồ trong giáo xứ và giáo phận; nhờ đó nhiều người đón nhận ơn cứu độ của Chúa.

Thứ Ba Tuần II Mùa Thường Niên 

 1 Sm 16, 1-13; Mc 2, 23-28

 LUẬT VÌ CON NGƯỜI HAY CON NGƯỜI VÌ LUẬT

          Khi được Chúa sai đến xức dầu cho một vị vua mới thay thế Vua Saolê, tiên tri Samuel đã đánh giá và chọn dựa vào dáng vóc bề ngoài, nhưng Thiên Chúa đã nhắc nhở ông: “Thiên Chúa không nhìn theo kiểu người phàm, người phàm chỉ thấy điều mắt thấy. Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng” (Sm 16,7b). Trong bài Tin mừng hôm nay, người Pharisêu đã kết án các tông đồ khi các ngài bứt lúa để ăn vào ngày Sabat. Người Pharisiêu tuân giữ lề luật cách cứng nhắc và hình thức bên ngoài, mà không hiểu bản chất đích thực của ngày Sabat là nhằm tôn vinh Thiên Chúa và thăng tiến con người trong yêu thương.

           Cũng như mọi tổ chức xã hội, dân tộc Do-thái cũng có luật cho riêng mình. Nhưng luật của họ lại rất đặc biệt vì nó là quà tặng, là giới răn của Thiên Chúa. Đó chính là 10 điều răn Thiên Chúa đã ban cho dân riêng của Người qua trung gian ông Mô-sê. Trong 10 giới răn, luật giữ ngày sa-bát có một tầm quan trọng đặc biệt: “Ngươi hãy nhớ đến ngày hưu lễ để tác thánh ngày ấy.

          Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi việc của ngươi. Nhưng ngày thứ bảy là hưu lễ kính Gia-vê Thiên Chúa của ngươi; ngươi sẽ không làm bất cứ việc nào, ngươi và con trai con gái ngươi, tớ trai tớ gái của ngươi, thú vật của ngươi và khách ngụ cư ở bên trong cổng thành ngươi. Vì trong sáu ngày Gia-vê đã làm nên trời đất, biển cả và tất cả mọi sự trong các nơi ấy, nhưng Ngài đã nghỉ ngày thứ bảy; bởi thế Gia-vê đã chúc lành cho ngày thứ bảy và tác thánh nó.” (Xh 20, 8 – 11).

          Trong Tin Mừng, chúng ta thường bắt gặp những cuộc tranh luận giữa Chúa Giêsu và những người Biệt phái. Tin Mừng hôm nay thuật lại câu chuyện nhóm người biệt phái tranh luận với Chúa khi họ phản đối các môn đệ của Ngài ngắt một vài bông lúa để ăn trong ngày Sabbat, ngày nghỉ của người Do Thái.

          Luật ngày sa-bát là một ngòi nổ thường trực tiếp làm bùng lên những cuộc đụng độ giữa Đức Giê-su và những người Pha-ri-sêu. Và bao giờ cũng vậy, đối với thói nệ luật đến mức phi nhân và nô lệ hoá con người như thế, Đức Giê-su luôn chống lại. Luật phục vụ cho con người, chứ không ngược lại.

          Đây cũng là chuẩn mực tối hậu của luật Giáo Hội. Là một cơ chế lớn, Giáo Hội cần một bộ giáo luật khá ‘kềnh càng’; tuy nhiên, bộ giáo luật ấy được đúc kết ở điều cuối cùng (đ. 1752) như sau: luật tối thượng là phần rỗi các linh hồn. Đáng tiếc là trong thực tế, thói nệ luật xem ra vẫn còn vướng vất đâu đó, ít hay nhiều, nơi các ‘chủ chăn’ lẫn ‘con chiên’.

          Và rồi trong ngày này, người ta không được phép làm việc, dù những việc rất nhỏ. Thực ra, nguyên nhân chính xuất phát từ tính ghen tương hay nghi ngờ, thói hay vạch lá tìm sâu, bới lông tìm vết của họ. Về phía mình, Chúa Giêsu nhắc họ chú trọng đến tinh thần của lề luật. Luật là nhằm phục vụ con người: “Ngày Sabbat làm ra vì loài người”. Ngài còn tỏ ra cho họ thấy quyền năng của Ngài: “Con Người cũng làm chủ cả ngày Sabbat”.

          Trong cuộc sống, bản chất của nhiều sự việc nhiều lúc không như chúng ta nghĩ. Người ta xem trọng những cái bên ngoài, đánh giá một con người qua nghề nghiệp, tiền bạc, địa vị xã hội, nhan sắc… Thiên Chúa không nhìn như kiểu nhìn của con người. Ngài nhìn vào tâm hồn và thấu hiểu những tư tưởng và ý hướng bên trong của họ. Ước chi chúng ta có được ánh nhìn của Thiên Chúa để biết nhận ra những phẩm chất, tính tốt của anh chị em sống quanh mình.

          Ngày hôm nay chúng ta thường giữ luật vì cái gì? Có những người thiếu hiểu biết, thiếu tình yêu nên thường tìm cách né luật, trốn luật, không tôn trọng luật chung và nhiều khi còn có những hình thức gây rối. Có những người lại quá nệ luật, biến luật thành ông chủ và trở thành khắt khe, thiếu bao dung, thiếu tình bác ái. Chúng ta nên nhớ ưu tiên của luật là phục vụ cho hạnh phúc con người.

          Do đó phải có sự tế nhị, có tình yêu thực sự trong tâm hồn thì chúng ta mới có thể giữ luật cách tự do, tròn đầy và làm cho cuộc sống của mình cũng như của tha nhân được sung mãn.

          Trang Tin Mừng hôm nay đặc biệt nói đến việc giữ luật ngày “của Chúa”. Người Ki-tô hữu chúng ta được mời gọi dành riêng ngày Chúa nhật cho Thiên Chúa để thờ phượng, tạ ơn vì biết bao ơn lành chúng ta đã lãnh nhận nơi tay Ngài, nhất là tưởng niệm, kính nhớ sự thương khó và sự phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô bằng việc tham dự Thánh lễ, cùng nhau hiệp thông trong niềm tin, trong tình liên đới và huynh đệ. Đồng thời đó cũng là ngày để chúng ta quan tâm tới nhau, chia sẻ với nhau trong tình yêu, nơi gia đình, trong lối xóm, làm việc tông đồ, từ thiện, bác ái…

          Những lời dạy của Chúa và chỉ dẫn của Giáo Hội rất cần thiết cho đời sống Kitô hữu vì giúp chúng ta sống theo thánh ý Chúa. Vì thế, dựa vào những khoản luật của Chúa để làm khổ người khác là đi ngược lại luật. Giữ lề luật Chúa mà làm chúng ta xa lánh Ngài thì không mang lại ơn ích gì. Điều cần thiết là phải tránh thái độ vụ luật và giữ những luật Chúa và Giáo Hội đúng với tinh thần mà Chúa muốn.  

 

Thứ Tư Tuần II Mùa Thường Niên

Sm 17, 32-33. 37. 40-51; Mc 3, 1-6

TÌNH YÊU HƠN LUẬT LỆ

          Ta thấy Tin Mừng hôm nay là một trong 5 cuộc tranh luận gay gắt giữa Chúa Giêsu và người Do Thái về việc giữ luật trong ngày Sabát. Khởi đầu công cuộc rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu. Ngài đã gặp những cuộc phản ứng chống đối bằng những hành vi và lời nói công khai của nhóm Pharisêu, đại diện cho tầng lớp những người sống “vị luật” thời bấy giờ.

          theo lề luật và phong tục của người Do Thái thời Chúa Giêsu, luật giữ ngày Sabát thật khắt khe. Các kinh sư, các biệt phái, các thượng tế giữ một cách tỉ mỉ và rất cẩn thận luật này, thậm chí đến mức vụ hình thức. Họ sẵn sàng dựa trên đòi hỏi của lề luật để dò xét và kết án người khác, nhất là những người có thể làm mất đi phần nào tầm ảnh hưởng của họ. Chúa Giêsu luôn là đối tượng họ nhắm tới không vì mục đích tôn thờ yêu mến, nhưng là đối tượng để dò xét và kết án. Nhiều lần họ không ngần ngại kết án Chúa Giêsu là kẻ hay ăn nhậu, giao du với phường tội lỗi và người thu thuế, bất chấp luật ngày Sabát...

          Trong ngày sa bát người không được làm bất cứ việc gì kể cả việc đi bộ cũng có giới hạn. Vì vậy, trong cuộc tranh luận thứ 5 này, chúng ta sẽ nhận ra cao điểm của cuộc “chạm trán” ấy, như mở đầu con đường Thập giá mà Chúa Giêsu sẽ đi qua.

          “Chúa Giêsu lại vào hội đường. Ở đó có một người bị bại tay”. Trong câu 1, Thánh sử Maccô đã giới thiệu nơi chốn và nội dung của sự kiện. Một ngày như mọi ngày, Chúa Giêsu vào hội đường để đọc hoặc để nghe và giải thích Sách Thánh. Đó là thói quen tốt lành của người Do Thái ngoan đạo. Vậy mà, nơi “ được rao giảng” việc sống đạo lại chính là nơi “hành đạo” không được thực hiện. Tại hội đường, cũng có những người Do Thái, họ vào hội đường với mục đích khác, đó là để “rình và tố cáo” Chúa Giêsu (c. 2). Họ đã biến việc nghe và sống Lời Chúa thành việc sẵn sàng “ khử trừ” những ai diễn giải Lời Chúa khác với quan điểm của họ.

          Trong cuộc sống hàng ngày đôi lúc chúng ta cũng có thái độ như người Do Thái khi đến nhà thờ hoặc khi làm những công việc đạo đức. Lúc đó thay vì chúng ta tìm ý Chúa, chúng ta lại dò xét và bình phẩm lẫn nhau. Thay vì kết tình thân ái giữa mọi người, chúng ta lại gây chia rẽ bằng việc “ xuyên tạc” lời nói và hành vi của người khác. Thay vì để tâm suy gẫm Lời Chúa, để Lời Chúa thấm vào tâm hồn, thì chúng ta lại âm mưu toan tính sao cho mình có lý hoặc luôn tìm phần thắng, phần lợi về cho mình. Chúng ta hãy xem thái độ của Chúa Giêsu như thế nào trước tâm địa độc ác của họ.

          Chúa Giêsu gọi anh bại tay ra giữa đứng (c. 3). Ngài muốn người Do Thái nhìn thẳng và nhận ra vấn đề vì thế Ngài hỏi họ: “ Ngày Sabát, được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay giết đi ?” (c. 4). Câu hỏi của Ngài như một lời chất vấn lương tâm, dẫn họ lần bước trở về tính thiện ban đầu mà Thiên Chúa đã đặt để trong tâm hồn con người. Tác giả mô tả tình trạng của họ : “ làm thinh”.

          Họ làm thinh có lẽ không dám trả lời trái với lẽ lương tâm, nhưng cũng là cách phản đối, từ chối con đường yêu thương mà Chúa Giêsu đặt ra trong ngày sa bát giữa “ lành – dữ; cứu mạng – giết đi”. Thánh sử nói rõ : lòng họ đã chai lì trước lời mời lãnh nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa qua Chúa Giêsu vì thời đó, người Do Thái quan niệm bệnh tật là do ma quỉ và tội lỗi gây ra nên Chúa Giêsu muốn trải rộng nguyên tắc đem lại sự sống giải phóng con người khỏi ách nô lệ của Satan là ngày được cứu người, được phép làm điều tốt điều lành. Đó là ngày Thiên Chúa thi ân giáng phúc cho dân Người, nhất là những người nghèo.

          Với sự lặng thinh cứng lòng của người Do Thái, chúng ta thấy thái độ của Chúa Giêsu “ giận dữ rao mắt nhìn và buồn khổ”. Đây là tấm lòng của một Thiên Chúa yêu thương gần như bất lực trước tự do của con người. Khi thấy họ cố “ bịt mắt bưng tai” trước lời mời cứu độ và hành vi yêu thương của Thiên Chúa, Chúa Giêsu đón nhận thái độ ấy trong sự cương quyết bày tỏ tình yêu Cứu độ : Người bảo anh bại tay “ giơ tay ra!” (c. 5) và tay anh được chữa lành.

          Khi Tình Yêu được bày tỏ thì quyền lực chống lại nó cũng lộ ra “ Người Pharisêu bàn tính với phe Hêrôđê để tìm cách giết Chúa Giêsu” (c. 6).

          Con người hợp nhau để chống lại Thiên Chúa. Cái ác đồng lòng phá đổ sự thiện tội lỗi hợp lực, bóng đen bao trùm để dập tắt ánh sáng. Nhưng khi tội ác lên đến đỉnh điểm là Thập Giá thì Tình Yêu Thiên Chúa  cũng được mở ra cho nhân loại qua trái tim Chúa Giêsu bị đâm thâu trên đồi Can Vê.

          Ngày xưa và ngày nay cũng thế ! Rất nhiều người vẫn dựa vào lề luật để nguỵ biện cho mình và thậm chí còn dựa trên lề luật để kết án người khác. Ước mong cho các tín hữu Chúa Kitô luôn có được thái độ can đảm và tấm lòng độ lượng để luôn hành động vì lợi ích của tha nhân.

 

Thứ Năm Tuần II Mùa Thường Niên 

 1 Sm 18, 6-9; 19, 1-7; Mc 3, 7-12

SỨ VỤ CỦA CHÚA GIÊSU

          Với trang Tin Mừng hôm nay, dường như tác giả muốn đưa chúng ta vào một sự hiểu biết như thế. Thánh Marcô trình bày cho chúng ta nhiều phản ứng hay đúng hơn nhiều nhận thức khác nhau về con người Chúa Giêsu.

          Trước hết là đám đông từ các nơi tìm đến với Chúa Giêsu, họ nghe và chứng kiến nhiều phép lạ Ngài thực hiện. Nhưng trong nhận định của Marcô, đám đông chỉ tìm đến để được ăn no nê, để được chữa trị khỏi các bệnh tật, chứ không phải để hoán cải; đám đông chỉ thấy cái trước mắt là phép lạ, mà không đọc ra được ý nghĩa của phép lạ là dấu chỉ của Nước Trời mà Chúa Giêsu đã loan báo.

          Ta thấy đám đông không biết gì về Chúa Giêsu, và đây là lý do tại sao Chúa Giêsu tỏ ra dè dặt đối với đám đông, Ngài thường lẩn tránh họ. Duy chỉ có ma quỷ biết Chúa Giêsu là ai, nhưng biết đối với ma quỷ không đồng nghĩa với tri giao, mà chỉ là thù hận.

          Ðặt vào đúng văn mạch, thì Tin Mừng hôm nay muốn trình bày cho chúng ta nhiều thứ hiểu biết về Chúa Giêsu: ma quỷ biết Chúa Giêsu, nhưng biết trong thù hận; đám đông thì tìm đến với Ngài vì mục đích trục lợi; bà con thân thuộc của Ngài chỉ có về Ngài một sự hiểu biết hời hợt, thiếu chiều sâu; những người Biệt phái thì hoàn toàn mù tịt về con người Chúa Giêsu; chỉ có Nhóm Mười Hai về sau này mới có một hiểu biết chính xác về Ngài.

          Sứ vụ của Đức Giêsu khi đến thế gian: Kêu gọi, rao giảng và chữa lành.Ngài kêu gọi các môn đệ hãy ở lại trong tình yêu của Ngài, và trở nên những kẻ chinh phục người khác: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá.” Ngài rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa: “Thời kỳ đã mãn, và triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy hối cải và tin vào Tin Mừng.”

          Ngài chữa lành cho nhiều bệnh nhân, khiến ai ai có bệnh cũng đều đến với Ngài. Chúa Giêsu không những chữa lành thể xác mà Ngài còn chữa lành linh hồn.

          Ta đã được Thiên Chúa tuyển chọn và mời gọi, thì hãy cố gắng hết mình, để làm cho các ơn đó nên vững mạnh. Có thế, chúng ta sẽ không bao giờ vấp ngã, và nhờ đó, con đường rộng mở để đón nhận chúng ta vào Nước vĩnh cửu Chúa Giêsu Kitô là Chúa và là Đấng Cứu Độ chúng ta. (2 Pr 1, 10-11)

          Các môn đệ đầu tiên đã có những cuộc gặp gỡ mang lại sự biến đổi. Chúng ta cùng gặp gỡ Chúa qua cầu nguyện, qua việc lắng nghe Lời Chúa, qua việc cử hành phụng vụ để được Chúa biến đổi trở nên chứng nhân của Ngài.

          Chúa Giêsu bày tỏ quyền năng của Ngài trong vai trò là Đấng Thiên Sai bằng cách chữa lành những kẻ bệnh hoạn tật nguyền. Dĩ nhiên, Ngài thi hành sứ mạng thiên sai của Ngài trong tâm thế Người Tôi Trung đau khổ đã được ngôn sứ Isaia loan báo, nghĩa là Ngài mang lấy nơi Ngài tất cả bệnh hoạn tật nguyền của dân; “bị đâm vì chúng ta phạm tội, … bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm” (Is 53, 4 – 5). Vì sợ người ta hiểu sai vai trò thiên sai đích thực của mình, Ngài đã cấm ngặt, không cho các thần ô uế tiết lộ danh tính của Ngài.

          Với Chúa Giêsu, biết Ngài không chỉ là một nhận thức của trí tuệ, mà là đi vào tri giao mật thiết với Ngài, đi theo Ngài, nên một với Ngài. Ðó là lý do tại sao sau khi Phêrô đại diện Nhóm Mười Hai tuyên xưng Ngài là Ðức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống, Ngài liền loan báo về cuộc Tử nạn của Ngài và mời gọi họ vác lấy Thập giá mỗi ngày và đi theo Ngài. Và đó chính là sự hiểu biết về Ngài mà Chúa Giêsu đang chờ đợi nơi mỗi Kitô hữu. Biết và tuyên xưng trên môi miệng mà thôi chưa đủ, biết Ngài thật sự là nên một với Ngài đến độ thốt lên như Thánh Phaolô: "Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi".

          Chỉ vì yêu thương nhân loại Chúa đã đến dạy bảo con người những điều hay lẽ phải để mọi người đem ra thực hành trong đời sông của mình hầu tìm được hạnh phúc ngay ở đời này và nhất là hạnh phúc vĩnh viễn vô cùng đời sau. Chỉ vì yêu thương nên Chúa đã ra tay chữa lành bệnh cho tất cả những ai tin tưởng tìm đến với Ngài.

           Thiên Chúa là tình yêu. Người muốn trao ban tình yêu ấy cho nhân loại để ai tin và đón nhận Người thì được cứu độ. Nhằm tỏ bày tình yêu, Thiên Chúa đã dùng nhiều cách, nhưng phương thế cuối cùng và hoàn hảo là qua chính Con Một Người (Dt 1,1-2). Nghe biết các việc Chúa Giê-su đã làm, người ta lũ lượt kéo đến với Người; việc tìm đến với Chúa mới chỉ là bước đầu cho một tiến trình đón nhận ơn cứu độ.

          Một cách tiệm tiến, Thiên Chúa dẫn đưa họ vào mầu nhiệm tình yêu trọn vẹn nơi cuộc khổ nạn và phục sinh của Đức Giê-su, để rồi cùng với Đức Giê-su họ sẽ dâng về cho Thiên Chúa một tình yêu tự do và trọn hiến. Quá trình mạc khải không nhằm cho con người một danh xưng hay một khái niệm, song là một tình yêu. Và tình yêu phải được đáp trả bằng tình yêu, chứ không thể chỉ bằng sự hiểu biết suông hay ‘tụng kinh’ suông trên môi miệng.

          Tình yêu cần được thể hiện qua việc làm. Một việc làm thiếu tình yêu là sự lừa dối; tình yêu thiếu việc làm thì tình yêu chết. Xã hội ngày càng dạt theo lối sống hưởng thụ, thực dụng, hời hợt thiếu chiều sâu, thành thử con người thường đánh giá và đối xử với nhau qua hình thức bề ngoài. Hậu quả là một xã hội suy thoái về đạo đức. “Anh em chớ uốn mình theo thế gian này!” (Rm 12,2).

          Chúng ta cũng phải tin tưởng tìm đến với Ngài để khẩn cầu Ngài chữa lành cho chúng ta mọi chứng bệnh về thể xác cũng như tâm hồn. Đồng thời cũng  xin noi gương Ngài biết hy sinh phục vụ mọi người, nhất là những người yếu đau bệnh tật cần đến sự giúp đỡ chia sẻ của chúng ta

 

Thứ Sáu Tuần II Mùa Thường Niên Năm chẵn

1 Sm 24, 3-21; Mc 3, 13-19

CHÚA CHỌN TA VÀ TA NGHE THEO TIẾNG CHÚA CHỌN

          Trước hết và trên hết, chúng ta được mời gọi nhận ra rằng, ơn gọi của các tông đồ phát xuất từ chính ý muốn của Đức Giê-su: Khi ấy, Đức Giêsu lên núi và gọi những ai Người muốn. Các ông đến với Người. (Mc 3, 13)

          Chính Chúa Giê-su nhiều lần nói với chúng ta rằng môn đệ của Người là “những kẻ Cha đã chọn từ giữa thế gian mà ban cho” (Ga 17,6a.9b.11-12) Người. Ngài khẳng định nếu như Cha không lôi kéo thì sẽ không có ai có thể đến được với Người (Ga 6,44). Ngài muốn những kẻ muốn theo Ngài biết ngồi xuống nhận định để nhận ra rằng chính họ không tự sức theo Ngài được nhưng phải có Cha lôi kéo (Lc 14,25-33; 18,18-27).

          Trước khi chọn các môn đệ, Chúa Giê-su đã phải lên núi (Mc 3,13), để cầu nguyện với Cha suốt đêm (Lc 6,12). Ngài cầu nguyện để nhận định xem Cha muốn Ngài chọn ai. Đến sáng hôm sau, khi đã cầu nguyện và tìm hiểu ý Cha xong, Ngài mới chọn lấy mười hai ông (Lc 6,13a; Mc 3,13b). Như vậy, chính Chúa Cha thực hiện bước trước trong ơn gọi của chúng ta, những người môn đệ của Chúa. Để nhận định ơn gợi, trước hết phải dành thời gian để cầu nguyện xem “Chúa muốn tôi làm gì?”.

          Cũng thế, ơn gọi của chúng ta đến từ chính ý muốn của Chúa: Chúa gọi đích danh từng người chúng ta và chúng ta tự nguyện đáp lại. Cho dù khi đến với Chúa trong một ơn gọi, chúng ta có nhiều động lực hay lí do khác nhau. Nhưng với thời gian, nhất là trong thời gian chuẩn bị hay thời gian huấn luyện trong sống Thánh Hiến, chúng ta được mời gọi đặt cuộc đời của mình trên nền tảng tận cùng là “Ơn Được Gọi”, nghĩa là chính ý muốn của Chúa. Nếu ơn gọi của chúng ta đặt trên một nền tảng khác, thì chắc chắn sẽ sụp đỗ, không sớm thì muộn; và sụp đổ ngay từ bên trong.

          Nhưng Chúa muốn gọi chúng ta từ khi nào? Chúng ta nghe được tiếng gọi của Chúa vào một lúc nào đó trong cuộc đời, nhưng theo Thánh Phaolô, Chúa đã gọi và chọn chúng ta ngay từ trong bụng mẹ và từ trước muôn đời (Gl 1, 15 và Ep 1, 4). Xác tín được Chúa gọi, không chỉ một lần là xong, nhưng phải được xác tín lại hằng ngày; chúng ta cần làm mới lại ơn được gọi mỗi ngày, như thể ngày nào chúng ta cũng nghe được tiếng Chúa gọi.

          Trang Tin Mừng theo thánh Máccô nêu đích danh từng người được Đức Giêsu kêu gọi: Người lập Nhóm Mười Hai và đặt tên cho ông Simôn là Phêrô, rồi có ông Giacôbê con ông Dêbêđê, và ông Gioan em ông Giacôbê -Người đặt tên cho hai ông là Bôanêghê, nghĩa là con của thiên lôi-, rồi đến các ông Anrê, Philípphê, Batôlômêô, Mátthêu, Tôma, Giacôbê con ông Anphê, Tađêô, Simôn thuộc nhóm Quá Khích, và Giuđa Ítcariốt là chính kẻ nộp Người. (c. 16-19)

          Như thế, Chúa gọi đích danh từng người: Phêrô, Giacôbê, Gioan… Cũng vậy, Chúa cũng đã gọi tên từng người chúng ta một cách đích danh. Và các môn đệ được Chúa gọi, khi các ông vẫn như các ông là, nghĩa là vẫn còn đầy giới hạn, còn bất toàn như chính chúng ta. Vì thế, như các tông đồ và nhất là như tông đồ Phê-rô, ơn gọi của chúng ta đặt nền tảng trên tình yêu nhưng không và lòng thương xót của Chúa:

          Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi… Bấy giờ Đức Giêsu bảo ông Simôn: “Đừng sợ!” (Lc 5, 8 và 10)

          Và con số được gọi là Mười Hai. Điều này có nghĩa là số người được gọi là xác định, không có may rủi. Mỗi lớp tập hay mỗi lớp khấn, chúng ta thường so sánh hơn kém, nhiều ít. Nhưng trong Chúa, số người được gọi là xác định từ trước muôn đời.

          Nhưng Đức Giêsu gọi những kẻ Người muốn để làm gì? Như bài Tin Mừng theo thánh Máccô kể lại: Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người, và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ. (c. 14-15)

          Ở lại với Đức Giêsu và sau đó, được Ngài sai đi, làm nên hai chiều kích căn bản của đời sống chúng ta, đó là cầu nguyện và hoạt động. Hai chiều kích này đan xen vào nhau trong mỗi ngày sống của chúng ta (cầu nguyện hằng ngày), trong tháng sống (tĩnh tâm tháng), trong năm sống (tĩnh tâm năm) hay trong một giai đoạn huấn luyện hay hành trình ơn gọi đặc biệt.

          Ta vẫn sống hai chiều kích này mỗi ngày, hay nói đúng hơn, hai chiều kích này vẫn được ban cho chúng ta mỗi ngày, nhưng dưới ánh sáng của Lời Chúa hôm nay, chúng ta được mời gọi nhận ra đó là những điều Chúa muốn, và rằng đó là những điều làm cho chúng ta trở nên giống Chúa, vì đời sống của Chúa cũng được dệt nên bởi hai chiều kích này: “Khi ấy, Đức Giêsu lên núi”; và Ngài lên núi chính là để cầu nguyện, như lời tường thuật của thánh Luca: “Đức Giêsu đi ra núi cầu nguyện, và Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa” (Lc 6, 12).

          Được mời gọi trở nên môn đệ của Ngài là một ơn đặc biệt Chúa dành chúng ta. Tuy nhiên, tự sức chúng ta cũng không thể đáp lại lời mời gọi đó. Vì thế, Chúa mời gọi chúng ta hãy tin tưởng và phó thác vào tình yêu của Ngài.

          Để có thể tin tưởng và phó thác, chúng ta cần có lòng quảng đại đối với Chúa. Lòng quảng đại ấy thể hiện qua sự sẵn sàng từ bỏ những gì mình đang có để theo Ngài. Có những người như Simon, Anrê, Giacôbê, hoặc Gioan khi nghe tiếng mời gọi của Người thì bỏ mọi sự ngay lập tức mà theo Người. Nhưng cũng có người như anh thanh niên giàu có, được Chúa mời gọi, nhưng không theo Ngài được vì không dám từ bỏ những gì mình đang có để theo Người (Mc 10, 17-22). Từ bỏ tất cả để chúng ta có thể tự do, không bị ràng buộc; và chỉ có khi từ bỏ thì tim của chúng ta mới có chỗ cho tình yêu của Chúa ngự vào.

January 24, 2023