Suy Niệm của Huệ Minh
Chúa Nhật 3 thường niên, năm A
+++
22.1.2023 Chúa Nhật Chúa Nhật thứ Ba Mùa Quanh Năm
Is 8:239; Tv 27:1,4,13-14; 1 Cr 1:10-13,17; Mt 4:12-23; Mt 4:12-17
Chọn lựa của Chúa
Chúa Giêsu quả thật là một nhà cách mạng nhưng Ngài không hề có chủ trương dùng bạo động để thực hiện cách mạng. Hơn nữa, cuộc cách mạng mà Chúa Giêsu đã thực hiện càng không có tính cách chính trị, kinh tế hay xã hội. Cuộc cách mạng mà Chúa Giêsu thực hiện qua chính cuộc sống của Ngài và được Giáo Hội tiếp tục giảng dạy và thể hiện thiết yếu là cuộc cách mạng bản thân. Tính cách mạng ấy được Chúa Giêsu thốt lên khi bắt đầu khai mạc sứ vụ công khai của Ngài: “Hãy hối cải vì Nước Trời đã đến gần”.
Trong chương trình cách mạng ấy của Chúa Giêsu, chúng ta bắt gặp lẽ khôn ngoan nghìn đời của các nhà hiền triết Đông Tây: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Có tu thân nghĩa là cố sống cho ra người thì người ta mới có thể lãnh đạo gia đình, cai trị đất nước và mang lại thái bình cho thế giới.
Khởi đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu đã không chọn rao giảng tại Giêrusalem. Bởi vì Giêrusalem là vùng toàn tòng theo đạo, nhưng lại kiêu căng hợm mình, loại trừ người khác. Khi mới sinh ra, Chúa Giêsu đã phải chạy trốn bạo vương Hêrôđê. Hôm nay Hêrôđê con ông lại ra lệnh giết thánh Gioan Baotixita chỉ để thỏa mãn ước vọng ngông cuồng của một phụ nữ. Chúa Giêsu đã không chọn Giêrusalem làm điểm xuất phát, bởi vì các thày thượng tế, các văn nhân, luật sĩ, biệt phái đã chai đá, luôn tìm cách bắt bẻ, chứ không biết mở rộng tâm hồn đón nhận giáo lý của Người.
Người đã chọn Galilêa vì Galilêa là vùng quê nghèo khiêm tốn, nhưng dân cư thuộc đủ mọi chủng tộc đã biết mở lòng đón nhận giáo lý của Người. Người đã chọn Galilêa vì ở đây không có loại trừ, mọi người biết đón nhận nhau, chung sống hòa thuận. Người đã chọn Galilêa vì Galilêa là vùng đất bị khinh miệt, dân cư bị gạt ra ngoài lề xã hội. Ngay từ buổi ban đầu Chúa Giêsu đã không để giáo lý của Người bị đóng khung trong bốn bức tường đền thờ, bị giới hạn trong một khung cảnh địa lý và dành riêng cho một giai cấp. Ngay từ buổi ban đầu Chúa Giêsu đã vạch ra cho Giáo Hội một đường hướng. Đó là ra đi, ra đi không ngừng nghỉ, ra đi đến những chân trời xa lạ, ra đi đến với mọi người thuộc đủ mọi chủng tộc, ngôn ngữ, màu da. Đó là đi đến với những người bị bỏ rơi, bị khinh miệt, bị gạt ra ngoài lề xã hội.
Việc lựa chọn môn đệ của Chúa Giêsu cũng rất độc đáo. Người không lựa chọn môn đệ trong đền thờ, nhưng lựa chọn môn đệ giữa chợ đời. Người không lựa chọn những kẻ nhàn hạ rảnh rang, nhưng lựa chọn những người đang tất bật làm việc. Người không chọn những người trí thức uyên thâm, thông kinh hiểu luật, nhưng lựa chọn những anh thuyền chài, đơn sơ, cục mịch. Ý định truyền giáo của Người là rất rõ ràng. Người lựa chọn những người dám ra đi, dám mạo hiểm, sẵn sàng từ bỏ, không ngần ngại, không do dự. Người lựa chọn những con người có trái tim mở rộng, biết hy sinh quên mình, không bám víu vào bất cứ một điểm tựa nào, dù là lề luật, dù là đền thờ, dù là kiến thức. Buông tất cả để chỉ nắm lấy Thiên Chúa. Bỏ tất cả để chỉ đi theo Chúa.
Những lựa chọn của Chúa Giêsu khiến ta hiểu rằng: Người yêu thích những tâm hồn rộng mở biết sống hài hòa, biết đón nhận anh em. Người yêu thích những tâm hồn đơn sơ nhỏ bé, ưa thích sống đời khiêm nhường bình dị. Người yêu thích những tâm hồn nồng nàn yêu thương. Đó là những tâm hồn dễ dàng đón nhận và chia sẻ Tin Mừng. Đó là những thửa đất tốt cho hạt giống Tin Mừng nảy mầm, đơm bông kết trái.
Chúa gọi nhiều, chọn ít! Ai cũng biết điều đó. Nhưng “ít” đây không có nghĩa là loại trừ nhóm không được chọn! Với Chúa, mỗi người Chúa giao những nén bạc riêng, trong những hoàn cảnh riêng, môi trường riêng, khả năng riêng. Hạnh phúc nhất chính là khi ta tìm gặp niềm vui nơi chính ơn gọi, vị trí, chổ đứng của mình trong ý định của Thiên Chúa với sự cộng tác tích cực của mình. Khi mình yêu thích công việc ấy và biết chắc, dẫu lựa chọn đó sẽ có thể một lúc nào đó gây cho mình nhiều đớn đau, nhiều buồn tủi, nhiều cam go, nhưng rồi mình sẽ đủ sức vượt qua vì tình yêu và niềm vui đã đủ lớn để trợ lực cho sự lựa chọn của mình.
Có thể nói, một trong những hoạt động chính của Chúa Phục Sinh là cất tiếng gọi con người. Ngài không ngừng mời gọi với một sự kiên nhẫn lạ lùng. Ngài gọi con người dưới trăm ngàn hình thức. Không phải chỉ là gọi ai đó đi tu, nhưng Ngài còn gọi cả giáo dân theo Ngài, theo Ngài bằng cách ở lại gia đình và môi trường xã hội để làm chứng cho Ngài, như một Albert Schweitzer, một Kitô hữu, một triết gia, một nhà thần học, một sử gia, một nhạc công sôlô và là một bác sĩ thừa sai. Chúa Giêsu vẫn cứ gọi và lay động trái tim mọi người, kể cả những kẻ chưa biết Ngài. Đời chúng ta là một chuỗi những tiếng gọi của Chúa. Tiếng gọi nào cũng mới mẻ và cụ thể. Nếu chúng ta đáp lại, Ngài sẽ đưa chúng ta đi xa hơn trong tình bạn, qua những tiếng gọi mới.
Các môn đệ đã đáp lại tiếng gọi của Chúa, không phải bằng lời nói, nhưng bằng hành vi từ bỏ thực sự. Chúa không mời gọi mọi người từ bỏ gia đình để sống đời thánh hiến, nhưng Chúa lại mời gọi tất cả chúng ta bỏ tính ích kỷ và cứng cỏi của mình để sống yêu thương tha nhân. Bỏ cái gì ngoài mình, không phải là điều quá khó. Nhưng bỏ chính bản thân mình với những dự tính, ước mơ, điều đó khó hơn nhiều.
Chúa Giêsu vẫn tiếp tục gọi mỗi người chúng ta hôm nay. Không phải một người đã chết từ 20 thế kỷ gọi chúng ta, nhưng là một Đấng đang sống. Ngài gọi đúng tên từng người trong chúng ta và Ngài muốn giao cho chúng ta một công tác đặc biết. Chúa Phục Sinh hôm nay vẫn cứ mời gọi từng người chúng ta cộng tác với Ngài trong chương trình vĩ đại, đó là chương trình cứu độ toàn thế giới.
Huệ Minh 2023
Chúa Nhật 3 TN – A
25.1.2023 Thứ Tư tuần 3 TN-
Thánh Phaolô, Tông Đồ trở lại
Dt 10:11-18; Tv 110:1,2,3,4; Mc 4:1-20
Trở lại như Thánh Phaolô
Hôm nay, Giáo Hội tưởng niệm biến cố trở lại của Thánh Phaolô. Theo Sách Công Vụ các sứ đồ, quyển sử ký ghi lại giai đoạn tiên khởi của Giáo Hội, Saolê, tên gọi Do Thái của Phaolô, là một thanh niên thông thái và đầy nhiệt huyết đối với Đạo. Vừa thụ huấn xong với một thày Rabbi nổi tiếng trong nước, Saolê xung phong đi săn lùng những người môn đệ của Đức Kitô mà anh cho là một bè phái đi ngược lại với đạo giáo.
Một hôm, đang trên đường đi Damascô để lùng bắt các môn đệ của Chúa Giêsu, anh đã bị một luồng Sáng đánh quật té xuống khỏi ngựa và từ trong ánh sáng ấy, anh đã nhận ra tiếng nói của Chúa Giêsu : “Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt hại”.
Từ đó, sự hăng say bách hại các kitô hữu đã biến thành lòng nhiệt thành phụng sự Giáo Hội của Đức Kitô. Thiên Chúa đã xử dụng Phaolô làm khí cụ Truyền Giảng Tin Mừng cho Dân Ngoại, tức là các dân tộc ở ngoài Do Thái giáo.
Nhìn lại cuộc đời Thánh Phaolô, ta nhận thấy sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa. Ơn Gọi của vị Tông đồ dân ngoại quả là một mầu nhiệm lạ lùng.
Chúa Kitô Phục Sinh đã đổi mới tư tưởng và trái tim của Phaolô. Không biết Đức Giêsu tại thế, Phaolô đã ghét cay ghét đắng và sát hại không thương tiếc các môn đệ của Người. Giờ đây trái tim của Phaolô được Chúa Giêsu chiếm lĩnh như chiếm đoạt trái tim của người yêu ( Pl 3, 12 ). Và Phaolô trở nên như một “người tình” của Chúa Giêsu, đến nỗi Phaolô phải thú nhận: “Tôi sống nhưng không còn phải là tôi, mà là Chúa Kitô sống trong tôi” ( Gl 2, 20 ).
Đúng như Phaolô viết : “Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng tôi” (2 Cr 5, 14), tất cả nhiệt tình nơi con người và cuộc đời Phaolô đều phát xuất từ mối tình đó: Tình yêu của Chúa Kitô là “chủ thể yêu thương Phaolô”, Tình yêu Chúa Kitô là “đối tượng mà Phaolô yêu mến”. Tâm trí của Phaolô đã hoàn toàn mở ra cho Chúa Kitô, và vì thế có khả năng mở rộng cho mọi người, Phaolô trở nên tất cả cho mọi người (1 Cr 9, 12), sẵn sàng làm mọi sự cho “Tin mừng Tình yêu” mà người rao giảng.
Phaolô hiên ngang được sống và được chết cho Chúa Kitô. Biết mình đã tin vào ai, Phaolô đã sung sướng sống nghèo, lấy việc lao động mà đổi miếng ăn, không để giáo hữu phải cung phụng mình (1Cr 9,3-18; 2 Cr11,8-10), sung sướng vì đã mất tất cả và chịu đủ thứ khốn khổ vì Chúa Kitô. Phaolô không ngại hùng hồn kể về những ”… lao tù đòn vọt, bao lần suýt chết, năm lần bị người do thái đánh bốn mươi roi bớt một, ba lần bị đánh đòn, một lần bị ném đá, ba lần bị đắm tàu, một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi”; Phải chịu đủ thứ nguy hiểm và ra vào tù nhiều lần.
Nói đên Phaolô là nói đến vị Tông đồ của mọi thời đại
Đọc sách Công vụ Tông đồ từ chương 8 trở đi, ta sẽ bắt gặp một Saolô, ở Tacxô, là người Do Thái, trí thức, thông thạo nhiều thứ tiếng miền Do Thái – Hy Lạp, rất sùng đạo theo môn phái Gamaliên ở Giêrusalem. Saolô là biệt phái nhiệt thành đi lùng sục bắt bớ Đạo Chúa, tham gia vào vụ giết Stêphanô và rong ruổi trên mọi đường Đamát để truy lùng các Kitô hữu.
Theo các nhà chú giải Kinh thánh, biến cố ngã ngựa trên đường Đamát là chìa khóa để chúng ta hiểu về con người, ơn gọi và sứ mạng của Phaolô. Saolô đã bị Thiên Chúa quật ngã và chinh phục. Saolô được ơn gặp Đấng Phục sinh, được ơn trở lại. Saolô được biến đổi để trở nên chứng nhân vĩ đại là Phaolô, vị Tông đồ dân ngoại.
Vì thế, có thể nói rằng nửa đời về trước Phaolô là một người Biệt phái chính cống, kiêu căng, nhiệt thành với truyền thống cha ông; còn nửa đời sau Phaolô là một vị Tông Đồ thông minh uyên bác, vô cùng nhiệt thành với tình yêu Thiên Chúa, như chính Ngài thú nhận: “Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng tôi” và xác tín: “Không có gì tách chúng ta ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa trong Đức Kitô” (Rm 8, 35-39). Từ đây cuộc đời của Phaolô đã viết nên thiên anh hùng ca. Thiên anh hùng ca của vị Tông Đồ đã sống và đã chết cho Đức Kitô.
Cuộc trở lại của thánh Phaolô đã đánh dấu một khúc quanh quan trọng nhứt trong lịch sử của Giáo Hội tiên khởi. Tin Mừng không chỉ giới hạn trong ranh giới của Do Thái cũng như Lề Luật Maisen, Tin Mừng không còn là một nối dài của Do Thái giáo, nhưng chính là một tôn giáo mới cho mọi dân tộc mọi văn hóa.
Giáo Hội tưởng niệm biến cố trở lại của thánh Phaolô như cao điểm của tuần lễ cầu cho hiệp nhứt. Nơi thánh Phaolô, con người đã dám vượt ra khỏi ranh giới của dân tộc, của đạo giáo của mình, để tuyên bố : hãy trở thành Hy Lạp với người Hy Lạp, La Mã với người La Mã, nô lệ với người nô lệ. Giáo Hội nhận ra kiểu mẫu đích thực của hiệp nhứt. Sự hiệp nhứt chỉ có thể thực hiện được, nếu mỗi người môn đệ của Chúa Giêsu có đủ can đảm ra khỏi chính mình. Phải chăng đó không là đòi hỏi đầu tiên của sự trở lại ?
Theo từ điển tiếng Việt của nhà xuất bản khoa học xã hội, “trở lại” nghĩa là về nơi mình ra đi.
Nơi mình đã xuất phát, nơi mình đã ra đi đối với người Kitô chúng ta là gì nếu không phải là Thiên Chúa. Như vậy, trở lại chính là quay trở về với Thiên Chúa.
Sự quay trở lại ấy đòi hỏi một sự từ bỏ tận căn và một thái độ sẵn sàng tuyệt đối. Chúng ta hãy đọc lại cuộc trở lại của thánh Phaolô : Phaolô là một người thanh niên hăng say với lý tưởng. Lý tưởng của anh chính là phụng sự Chúa hết mình bằng cách tiêu diệt những kẻ mà anh cho là tà đạo. Nhưng trong phút chốc, lần ngã ngựa đau điếng cả người hôm đó đã buộc anh phải xoay chiều hoàn toàn : những gì anh cho là tà đạo trước kia nay anh phải xem là chính đạo. Phaolô phải quay ngược đường trở lại. Từ bỏ tất cả những gì mình hằng ôm ấp từ trước đến nay, từ bỏ con đường mình đang đi, Phaolô đã trở thành một khí cụ mềm nhũn trong tay Chúa.
Ra khỏi chính mình, từ bỏ chính mình để trở thành khí cụ trong tay Chúa : đó là đặc điểm của sự trở lại trong Kitô giáo chúng ta.
Sự trở lại đó không chỉ là sự quay về với Chúa của những người không tín ngưỡng, của những người từ một Giáo Hội khác, nhưng là đòi hỏi từng ngày của người kitô. Mỗi lúc một đến gần với cùng đích của chúng ta là chính Chúa : đó là lý tưởng của người kitô chúng ta.
Càng đến gần với Chúa, càng sẵn sàng trở nên khí cụ của Chúa, chúng ta càng đến gần với tha nhân.
Xin thánh Phaolô mà chúng ta tưởng niệm biến cố trở lại hôm nay, giúp chúng ta hiểu được sự trở lại đích thực mà người kitô chúng ta phải theo đuổi mỗi ngày.
26-1-2023 Thứ Năm Thánh Timôthêô và Titô, Gm
Dt 10:19-25; Tv 24:1-2,3-4,5-6; Mc 4:21-25
Chiếu sáng
Thánh Timôthê (c. 97?):
Những gì chúng ta biết được về cuộc đời Thánh Timôthê thì giống như của một Giám mục bận rộn ngày nay. Ngài được vinh dự tháp tùng thánh Phaolô, và cả hai đều được ưu tiên rao giảng Phúc Âm và chịu đau khổ.
Thánh Timôthê có cha là người Hy Lạp và mẹ là người Do Thái tên là Eunice. Là kết quả của một hôn nhân "hỗn hợp", nên ngài bị người Do Thái coi là bất hợp pháp. Chính bà ngoại thánh nhân, bà Lois, là người đầu tiên trở lại Kitô giáo. Sau đó, Timôthê được thánh Phaolô rửa tội khoảng năm 47, và sau đó cùng tiếp tay với ngài trong công cuộc tông đồ. Chính ngài và thánh Phalô cùng sáng lập Giáo hội Côrintô. Trong 15 năm làm việc với thánh Phaolô, Timôthê trở nên người bạn trung tín nhất của Phaolô. Ngài được thánh Phaolô gửi đi truyền giáo, thường phải đương đầu với những xáo trộn trong các giáo đoàn mà thánh Phaolô thành lập.
Khi Timôthê đang ở với Phaolô thì bị bắt tại Rôma. Trong một thời gian, chính Timôthê cũng bị tù (Dt 13,23). Và thánh Phaolô đã bổ nhiệm Timôthê làm đại diện cho ngài ở Êphêsô.
Timôthê quá trẻ so với trách nhiệm nặng nề phải đảm trách. "Ðừng để ai coi thường anh vì sự trẻ trung," trong thư I thánh Phaolô viết cho Tm 4,12a). Một vài đoạn khác cho chúng ta biết dường như Timôthê hay bẽn lẽn. Và một trong những câu của thánh Phaolô thường được trích dẫn là câu viết cho Timôthê: "Ðừng chỉ uống nước lã, nhưng hãy dùng thêm chút rượu, vì anh đau dạ dày và ốm yếu luôn" (1Tm 5,23).
Thánh Titô (c. 94?):
Titô có nét đặc biệt là người bạn thân và là môn đệ của thánh Phaolô cũng như tiếp tay trong công cuộc truyền giáo. Ngài là người Hy Lạp, hiển nhiên xuất thân từ Antiôkia. Mặc dù ngài là Dân Ngoại, thánh Phaolô đã không để ngài phải chịu cắt bì ở Giêrusalem. Titô được coi như người hòa giải, người quản đốc, người bạn rất tốt. Trong lá thư thứ hai gửi giáo đoàn Côrintô, thánh Phaolô cho chúng ta thấy tình bạn sâu đậm giữa ngài với Titô, và tình đồng đội giữa hai người khi rao giảng Tin Mừng: "Khi tôi đến Troas... Tinh thần tôi không được khuây khỏa vì không gặp được Titô, người anh em của tôi. Do đó tôi từ giã họ và tiếp tục đến Macedonia... Ngay cả khi đến Macedonia, thể xác chúng tôi cũng chưa được yên, mà phải chịu đau khổ đủ mọi cách, xung đột bên ngoài, lo sợ bên trong. Nhưng Thiên Chúa, Ðấng an ủi những kẻ yếu hèn, đã an ủi chúng tôi bằng cách sai Ti-tô đến..." (2 Cr 2,12a, 13; 7, 5-6).
Trong Thư Gửi Titô, lúc ấy Titô được coi như quản đốc của cộng đồng Kitô giáo trên đảo Crete, có trách nhiệm tổ chức, chấn chỉnh những lạm dụng và bổ nhiệm các giám mục phụ tá.
Trong khi thi hành sứ vụ công khai, Chúa Giêsu thường dùng dụ ngôn mà nói với các môn đệ và dân chúng. Ngài thường dùng những hình ảnh rất cụ thể, gần gủi với đời sống thường nhật của họ mà dạy họ về chân lý. “Chiếc đèn và đấu đong” là hai hình ảnh rất bình dị mà Đức Giêsu đã dùng trong Tin mừng theo thánh Mác-cô hôm nay.
Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Chẳng lẽ mang đèn tới để đặt dưới cái thùng hay dưới gầm giường? Nào chẳng phải là để đặt trên đế sao?”
Chiếc đèn là vật dụng rất thân thuộc với người Do Thái, mà nó cũng rất thân thuộc với người Việt nam chúng ta, hầu như ai cũng biết và cần dùng đến. Khi bóng tối bao phủ, màn đêm buông xuống thì ánh đèn được đốt lên, người ta thường đặt nó trên đế, đặt nơi vị trí cao để ánh sáng của nó có thể lan tỏa đến mọi vật, chiếu sáng cho mọi người. Nếu đốt đèn lên mà đem dấu đi dưới cái thùng hay đặt dưới gầm giường thì quả là sai mục đích, là mâu thuẫn và uổng phí, thà nó tắt đi còn hơn, vì làm như thế là làm mất giá trị của chiếc đèn. Chúng ta công nhận với nhau rằng, công dụng của chiếc đèn là chiếu sáng cho mọi người, soi cho tỏ mọi vật, để nhờ đó ta có thể phân biệt mọi sự cách chuẩn xác và đúng đắng.
“Chiếc đèn” trong Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu muốn nói đến ấy là Tin Mừng, “Tin Mừng ơn cứu độ” mà Ngài đã thắp lên nơi cõi lòng các môn đệ, thắp lên nơi tâm hồn những người đang nghe và đón nhận lời Ngài, Lời chân lý. Chiếc đèn ấy (Tin mừng ấy) không thể được dấu kín, nhưng phải lan tỏa ra cho hết thảy mọi người, hay nói cách khác, Tin mừng mới đầu chỉ một thiểu số biết thôi, nhưng theo thời gian Tin mừng đó cần được chiếu tỏa, phải được loan báo cho mọi dân tộc (x. Mc 13, 10).
Khi đón nhận tin mừng cứu độ từ Chúa Giêsu Kitô, khi đón nhận ánh sáng phục sinh lúc lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, mỗi người Ki-tô hữu trở nên là ngọn đèn cháy sáng giữa muôn dân. Ngọn đèn đức tin ấy được lan tỏa đến mọi người qua đời sống “nên thánh” trong chân lý mạc khải, qua sứ vụ ngôn sứ của người tín hữu. Bằng đời sống cầu nguyện, gắn bó mật thiết với Chúa, qua cách sống chân thành, biết nêu gương lành trong gia đình – xã hội, biết thực thi tình bác ái giữa cộng đoàn, nơi mình đang sống, thì mỗi người chúng ta như ngọn hải đăng giữa biển đời, như ánh đèn chân lý giữa xã hội đầy giả trá đang kêu gào công bình sự thật.
Tuy nhiên, chiếc đèn đức tin nơi ta sẽ không thể phát sáng nếu không đón nhận nguồn sáng nơi Chúa, nơi mẹ Giáo Hội qua Lời của Chúa Giêsu Kitô và các bí tích. Bởi thế, mỗi người chúng cần xin ơn trợ lực, để dám dùng những “cái đấu” (“cái đấu” là mức độ tâm hồn mở ra để đón nhận) thật to của để đón nhận ân sủng Chúa với lòng quảng đại trao ban lại cho những ai cần đến ơn Chúa. Lạy Chúa, ước gì mỗi người chúng con là một ngọn đèn cháy sáng giữa gia đình, nơi công sở, nơi thôn xóm, nơi đường phố… khi nhịp bước giữa đời. Để con biết làm mọi việc tầm thường, với tinh thần phi thường của Chúa.
27.1 Thứ Sáu Thứ Sáu trong tuần thứ Ba Mùa Quanh Năm
Dt 10:32-39; Tv 37:3-4,5-6,23-24,39-40; Mc 4:26-34
Hạt giống, hạt cải
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng hạt giống và hạt cải làm ví dụ để nói về Nước Thiên Chúa.
Nước Thiên Chúa được thiết lập giống hệt như một tiến trình gieo gặt trọn vẹn: từ hạt giống, hạt nẩy sinh thành cây, rồi thành bông lúc. Như người dân Palestina, sau khi gieo hạt giống, họ âm thầm chờ đợi lúa chín để gặt hái, chứ không hề biết hạt giống được gieo xuống đất đã phát triển như thế nào: Chúa Giêsu cũng gieo hạt giống Nước Trời nơi tấm lòng con người, cùng với ơn Chúa, Nước đó âm thầm phát triển lan rộng khắp thế giới, tạo nên mùa gặt các linh hồn. Chúa Giêsu chỉ đích thân có mặt trong mùa gieo giống và mùa gặt hái. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian chờ đợi, Ngài vẫn tiếp tục hoạt động một cách vô hình, qua Chúa Thánh Thần và Giáo Hội. Khi Nước Thiên Chúa đã phát triển đến mức tối đo, Ngài sẽ trở lại trong vinh quang, thu hoạch mùa gặt của Ngài.
Dụ ngôn hạt cải là dụ ngôn cuối cùng trong năm dụ ngôn về Nước Thiên Chúa. Cũng như các dụ ngôn trước, dụ ngôn này được rút ra từ đời sống thôn dã. Nó đưa ra một nét tương phản hấp dẫn: hạt cải nhỏ xíu trở thành một cây to lớn. Nước Thiên Chúa cũng mang nơi mình một nghịch lý tương tự: Dưới cái nhìn của thánh Marcô, dụ ngôn hạt cải chứa đựng cách diễn tả tuyệt vời về bí mật Mêsia. Cho đến lúc này, hành vi của Chúa Giêsu có thể bị coi là vô nghĩa và Nước Thiên Chúa vẫn chỉ là một thực tế khiêm tốn. Dù vậy, các dân ngoại đang nhìn thấy sự tăng trưởng dị thường của nó như các Kitô hữu ở Rôma đã kinh nghiệm được điều này. Chính Giáo Hội tiên khởi, dù yếu đuối, vẫn ý thức được mình đang tham dự vào sự thành công của một công trình đã sẵn tiềm tàng nguồn sinh lực vô biên, công trình này sẽ đạt tới mức hoàn vũ vào cuối giai đoạn phát triển của nó.
Hạt giống đã trải qua một quá trình phát triển âm thầm trước khi tới mùa gặt; hạt cải được trồng dưới đất cũng phải trải qua một quá trình cho đến khi trở thành một cây lớn. Trong những bổn phận dù âm thầm hằng ngày, chúng ta hãy tin tưởng phó thác cho quyền năng yêu thương của Chúa, chính Ngài sẽ làm cho công việc chúng ta thực hiện theo ý Chúa đạt tới kết quả vượt quá sức tưởng tượng của chúng ta, và như vậy chúng ta sẽ làm ích cho chính bản thân, cho tha nhân và cho Nước Chúa
Dụ ngôn về hạt cải được thuật lại trong Tin mừng Mác-cô hôm nay củng cố lòng tin của chúng ta vào tương lai của Hội thánh. Chúa Giê-su nói: “Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất. Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng” (Mc 4, 31-32).
Khác với các giống rau cải tại Việt Nam, ở Ít-ra-en, có giống cải mọc cao gần 3 mét, cành lá xum xuê, chim chóc rất thích ăn những hạt nhỏ bé của nó nên chúng thường tập trung thành đàn dưới những tàn lá của cây cải để tìm thức ăn.
Hình ảnh hạt cải nhỏ bé, một khi được gieo trồng xuống đất có thể phát triển thành cây cao cho chim trời núp bóng, gợi lên một tương lai sáng lạn của Hội thánh Chúa trên hoàn cầu.
Dụ ngôn hạt cải cũng tạo được niềm phấn khởi lạc quan. Sự lớn lên kỳ diệu của hạt cải gợi lên sự phát triển của Nước Thiên Chúa. Dùng dụ ngôn này, Đức Kitô muốn tạo niềm tin tưởng nơi các môn đệ, có lẽ lúc bấy giờ đang dao động trước những khó khăn buổi đầu của công trình rao giảng của chính Chúa Giêsu. Do đó, Ngài không ngại tưởng tượng cái không-như-thật trong cách trình bày của Ngài, khi bảo rằng hạt cải mọc lên lớn hơn các thứ rau, cành lá xum xuê đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng. Nhưng điều không như thật trên bình diện khoa học đó lại là như thật trên bình diện giáo huấn của Ngài. Thiên Chúa thích cho thấy sức mạnh của Ngài trong cái yếu đuối, mong manh của buổi ban đầu.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy ra đi gieo vãi Lời Chúa. Gieo trong kiên trì. Dù đêm hay ngày. Người gieo giống luôn gieo vào nhân thế hạt giống của tin mừng, hạt giống của yêu thương và hạnh phúc. Nếu cô giáo của Malcolm Dolkoff không gieo vào lòng cậu bé lòng tin và nghị lực thì không có một nhà văn tài ba. Người Kitô không gieo Lời Chúa thì làm sao có cánh đồng lúa bát ngát bông lúa vàng là tâm hồn các tín hữu?
“Đêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, thì hạt giống này nảy mần và mọc lên, bằng cách nào thì người ấy không biết”. Sự kỳ diệu của hạt giống là vẫn âm thầm lớn lên theo quy luật tự nhiên và sẽ có một ngày nó trở thành cây cao bóng cả cho đàn chim trú ngụ. Người Kitô hãy gieo trong kiên trì, gieo với niềm cậy trông để nhờ ơn Chúa lời ta nói, việc ta làm sẽ sinh hoa kết trái nơi môi trường chúng ta đang sống.
Hạt giống Nước Thiên Chúa lại chỉ như một hạt cải. Nhưng nó sẽ thành cây rau lớn. Ðức Yêsu và công việc của Người bề ngoài người ta chỉ thấy nhỏ mọn thôi, nhưng đừng vì vậy mà coi thường và không đón nhận. Phúc cho những ai không bị xúc phạm vì Người và cách sống của Người. Những kẻ không muốn trở nên bé nhỏ không thể vào Nước Thiên Chúa.
28.1.2023 Thứ Bảy
Thánh Tôma Aquinas, Lmts
Dt 11:1-2,8-19; Lc 1:69-70,71-72,73-75; Mc 4:35-41
Sóng gió cuộc đời
Mọi người đều đồng ý rằng Thánh Tôma Aquinas là tiếng nói trổi vượt của truyền thống Công Giáo về lý lẽ và về sự mặc khải của Thiên Chúa. Ngài là một bậc thầy vĩ đại của Giáo Hội Công Giáo thời trung cổ, và được vinh danh với tước vị Tiến Sĩ Hội Thánh và Tiến Sĩ Thiên Thần.
Lúc năm tuổi, ngài được cha mẹ cho vào tu viện Biển Ðức ở Monte Cassino với hy vọng ngài sẽ thích lối sống ấy và trở nên một tu viện trưởng. Trong tu viện, các thầy giáo đều ngạc nhiên về sự tiến bộ của ngài, và mọi bạn cùng lớp đều thua kém ngài về việc học cũng như việc trau dồi nhân đức.
Khi đến tuổi khôn được lựa chọn con đường cho chính mình, Thánh Tôma đã khước từ mọi sự của thế gian và quyết tâm chọn Dòng Ða Minh trái với ý định của cha mẹ. Năm 1239, lúc mười bảy tuổi, ngài gia nhập Dòng Ða Minh ở Naples. Theo lệnh của bà mẹ, ngài bị các anh em bắt cóc và giam ở nhà trên một năm trời. Gia đình còn đi xa hơn nữa bằng cách dùng một cô gái điếm đến dụ dỗ ngài. Nhưng tất cả mọi cố gắng ấy đều vô hiệu, Thánh Tôma vẫn kiên trì với ơn gọi. Như một phần thưởng cho sự trung tín này, Thiên Chúa đã ban cho ngài ơn thanh sạch tuyệt đối, mà nhờ đó ngài xứng đáng với tước vị là "Tiến Sĩ Thiên Thần."
Sau khi tuyên khấn ở Naples, ngài theo học ở Cologne với vị thầy nổi tiếng là Thánh Albert Cả. Ở đây ngài có biệt danh là "bò câm", vì ngài to con và thường im lặng, nhưng thực sự ngài là một người rất giỏi. Vào năm hai mươi hai tuổi, ngài được bổ nhiệm để dạy học tại hai thành phố. Ðồng thời ngài cũng bắt đầu công bố các sáng tác của ngài. Bốn năm sau, ngài được gửi đến Balê. Vào năm ba mươi mốt tuổi, ngài đậu bằng tiến sĩ.
Ở Balê, ngài được vinh dự làm bạn với Vua Louis (sau này được phong thánh). Năm 1261, Ðức Urbanô IV gọi ngài về Rôma để dạy học, và ngài nhất quyết từ chối mọi vinh dự của một chức sắc trong giáo hội. Không những Thánh Tôma có tài viết, mà ngài còn có tài giảng thuyết với nhiều kết quả tốt đẹp.
Sự đóng góp lớn lao của ngài cho Giáo Hội Công Giáo là các trước tác. Sự đồng nhất, sự hài hòa và sự liên tục của đức tin và lý lẽ, của mặc khải và kiến thức loài người, được thấy đầy dẫy trong các văn bản của ngài.
Tập "Summa Theologica" là công trình sau cùng của ngài đề cập đến toàn thể thần học Công Giáo, nhưng không may chưa được hoàn tất. Ngài ngưng sáng tác sau khi cử hành Thánh Lễ vào ngày 6 tháng Mười Hai, 1273. Ðược hỏi lý do, ngài trả lời, "Tôi không thể tiếp tục... Tất cả những gì tôi viết, đối với tôi dường như chỉ là cọng rơm so với những gì tôi được thấy và những gì tôi được mặc khải." Ngài từ trần ngày 7 tháng Ba, 1274.
Thánh Tôma là một trong những thần học gia vĩ đại và ảnh hưởng đến mọi thời đại. Ngài được phong thánh năm 1323 và được Ðức Giáo Hoàng Piô V tuyên xưng là Tiến Sĩ Hội Thánh.
Sự kiện Chúa Giêsu và các môn đệ sang bên kia biển hồ, như được trình thuật trong Tin Mừng hôm nay, không phải chỉ có ý nghĩa địa lý: di chuyển từ nơi này sang nơi nọ, cũng như sóng gió nổi lên không chỉ mang ý nghĩa về khí tượng thuần tuý; nhưng các biến cố đó còn mang ý nghĩa thần học nữa. Chúa Giêsu và các môn đệ rời bỏ miền đất Israel để đi sang phía dân ngoại, điều đó mang ý nghĩa truyền giáo; sóng gió nổi lên tượng trưng cho sức mạnh của sự dữ, của ma quỷ nổi lên chống lại Chúa và các môn đệ.
Sáng kiến vượt hồ là sáng kiến của Chúa Giêsu. Các môn đệ luôn thinh lặng bước theo Người và tận tình thực hiện những việc Người đề nghị. Đức Giêsu luôn tỏ ra là chủ, nắm vững mọi hướng đi.
Tuy nhiên, như trình thuật Tin Mừng cho thấy, lúc đó Chúa Giêsu đang ở đàng lái, gối đầu mà ngủ. Giấc ngủ ấy khiến ta liên tưởng đến cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá. Trong cái chết đó, Chúa Giêsu dường như đã thất bại, trong khi đó các quyền lực sự dữ tưởng chừng như đã thành công, vì đã thủ tiêu được người mà họ coi như kẻ thù, như kẻ quấy rầy nền đạo đức tôn giáo của họ. Thế nhưng, Chúa Giêsu đã thức dậy, nghĩa là Ngài đã phục sinh, và sự Phục Sinh của Ngài loan báo cuộc chiến thắng vĩ đại của Ngài trên mọi quyền lực của ma quỷ và sự dữ cũng như của bất cứ thế lực nào chống đối Giáo Hội.
Lời Chúa Giêsu trách các môn đệ: “Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?” rất đúng cho chúng ta là những người đã biết Chúa Giêsu từ lâu, đã sống với Người, đã được chứng kiến biết bao nhiêu việc kỳ diệu Người làm trong đời sống chúng ta, mà vẫn không biết phản ứng hay lấy những quyết định tương hợp với kinh nghiệm ấy. Nhận biết đúng đắn chân tính của Chúa Giêsu thì sẽ có một thái độ đúng đắn đối với bản thân Người.
Ðời sống của Giáo Hội cũng như của mỗi Kitô hữu được ví như một cuộc ra khơi. Thiên Chúa vẫn luôn hiện diện, ngay cả khi chúng ta tưởng như Ngài vắng mặt trong những thử thách, phong ba của cuộc đời. Ðiều quan trọng là chúng ta biết chạy đến cầu nguyện với Chúa để Ngài làm yên cơn sóng gió và dẫn đưa con thuyền cuộc đời chúng ta về tới bến bờ bình an.
Huệ Minh 2023
Chúa Nhật Tuần III Mùa Thường Niên
Is 9, 1-4 (Hr 8, 23b - 9, 3); 1 Cr 1, 10-13. 17; Mt 4, 12-23 (bài dài); Mt 4, 12-17
SÁM HỐI ĐỂ ĐƯỢC CỨU ĐỘ
Qua Thánh Mát-thêu, ta thấy ngay từ khởi đầu bước đường rao giảng, Đức Giê-su đã lấy miền đất Ga-li-lê, đặc biệt thị trấn Ca-phác-na-um, làm trung tâm hoạt động. Một trong các lý do đưa ra là vì tại Giu-đê Gio-an tẩy giả đã bị bắt cho nên Đức Giê-su phải lẩn tránh. Tác giả sẽ cho biết sau, cách khá chi tiết, tại sao Gio-an rơi vào cảnh tù đầy (Mt 14,1-12 và Mc 6,17-29): vì ông đã can gián vua Hê-rô-đê đừng phạm tội loạn luân, là kết hôn với Hê-rô-đi-a, vợ của ông anh Phi-líp-phê. Việc trốn lánh của Đức Giêsu đã được biện minh, nhưng tôi vẫn thấy có điều chi không ổn: tại sao Đức Giêsu lại không tích cực hơn nữa trong việc ủng hộ Gio-an, khi mà hành động của ông thật quang minh chính đại và có phần anh hùng khí khái đến thế?
Và rồi Ta thấy Gio-an vẫn đáng được người đời lưu truyền và ca tụng. Người đời sẽ còn mãi mãi chờ mong, thậm chí đòi hỏi, các bậc hiền triết – quân tử phải có thái độ đó. Trong bất cứ cuộc đấu tranh công lý nào, tiếng nói đơn độc của một người là không đủ, luôn cần có sự tiếp tay của các ‘đồng chí’. Vai trò càng lớn, tiếng nói càng có thế giá, thì lại càng bị đòi hỏi mạnh.
Sự dấu mặt trốn lánh của Đức Giêsu cũng có thể bị cắt nghĩa theo chiều hướng đó. Sau này cho dầu Người đã dùng những lời cao đẹp nhất để hết lời ca ngợi Gio-an (xem Lc 7,24-30), hoặc đã tỏ ra khá khảng khái trước các đe dọa của Hê-rô-đê (xem Lc,31-33), nhưng xem ra vẫn chưa mạnh đủ; người ta còn mãi mãi chờ đợi nơi Người nhiều hơn thế, xét theo khía cạnh công lý trần gian.
Kế đến, ta đọc được sứ điệp Tin Mừng khi Chúa Giêsu rao giảng tại Ga-li-lê: “Anh em sám hối, vì Nước Trời đã đến gần!” là quan trọng nhưng cũng đầy bí ẩn như thế nào. Vì không đơn giản làm cái việc cải tà qui chính, sứ điệp mời gọi đón nhận Nước Trời kèm theo một đòi hỏi vượt xa mục tiêu khảng khái bảo vệ luân lý cho tới cùng của Gio-an.
Sám hối là đề tài xuyên suốt lịch sử cứu độ từ thời Cựu Ước sang thời Tân Ước và có lẽ được tiếp tục mãi cho đến Tận Thế. Thật vậy, các ngôn sứ luôn kêu gọi con người sám hối. Thánh Gioan Tẩy Giả bắt đầu rao giảng bằng việc kêu gọi con người sám hối và lãnh nhận phép rửa thống hối.
Và hôm nay, Đức Giêsu bắt đầu sứ mạng Cứu thế của mình cũng bằng việc rao giảng sự sám hối: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến” (Mt 4.17). Lời rao giảng mời gọi mọi người sám hối vẫn được tiếp tục nơi các Tông đồ và nơi Giáo hội mãi cho đến Tận thế.
Nước Trời hay Tin Mừng chính là tình yêu thương xót và cứu độ của Thiên Chúa đang được Đức Giê-su công bố và thực hiện. Tin Mừng này không chỉ cổ súy công lý chính trực, mà còn ôm lấy cả tội lỗi và lầm lạc để đưa vào sự sống. Nước Trời này, như lời ngôn sứ I-sai-a mà Mát-thêu trích dẫn, có khả năng làm cho “đoàn dân đang ngồi trong cảnh tối tăm đã thấy được ánh sáng huy hoàng, những kẻ đang ngồi trong vùng bóng tối của tử thần nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi”.
Nước Trời này không hề kết án hay nguyền rủa nhân loại lầm lạc hay tội lỗi, không vạch mặt xỉa xói những sai trái của con người, nhưng sẵn sàng ban cho tất cả mọi người lòng xót thương vô bờ và ơn cứu độ, chỉ với một điều kiện đơn giản là mở lòng đón nhận. Gọi địa hạt Dơ-vu-lun và Náp-ta-li là ‘miền đất của dân ngoại’ lại càng làm nổi bật tính phổ quát và nhưng không của Nước Trời. Dân ngoại là những người không thuộc số được tuyển chọn và thanh lọc như dân Híp-ri, dân riêng của Đức Chúa; họ chưa từng ký kết với Ngài giao ước sòng phẳng nào dựa trên luật pháp. Đơn giản họ bị người Do Thái liệt vào hàng tội lỗi và nhơ bẩn. Thế rồi chính cái đoàn dân còn đang ‘ngồi’ trong bóng tối và sự chết đó đột nhiên được ánh sáng rọi tới, được chứng kiến ánh sáng của tha thứ và cứu độ bừng lên!
Ðức Giêsu đã đi rao giảng Tin Mừng về Nước Trời gần bên. Ðể đón lấy quà tặng đó, cần sám hối, hoán cải. Hoán cải là để Ngài kéo vào một chuyển động, là quay lại, là bỏ con đường mình đã quen từ lâu, để đi cùng chiều với Chúa và ngược chiều với cái tôi ích kỷ. Ðức Giêsu gieo rắc niềm vui khắp nơi. Niềm vui cho người nghe, niềm vui cho người khỏi bệnh. Bước chân không mỏi, lời nói thiết tha, trái tim gần gũi… Hôm nay Hội Thánh vẫn sống giữa những Galilê dân ngoại. Chúng ta có đủ niềm vui để làm Galilê bừng sáng không?
Đức Giêsu gọi các môn đệ của mình "Hối cải". Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta rằng, dù thuộc về Phaolô, Phêrô hay Apôlô cũng chỉ có một Đức Kitô. Mọi con mắt phải hướng về Ngài, chính Ngài cứu chuộc chúng ta. Vì thế, khi gọi các môn đệ, là để các ông trở nên những chứng nhân của Tin Mừng, nên thánh Phaolô có thể nói: "Đức Kitô không sai tôi đi rửa tội, mà là đi rao giảng Tin Mừng, không phải bằng lời nói khôn khéo, kẻo thập giá của Đức Kitô ra hư không". Phaolô được chọn, để loan báo một Đấng Cứu Thế bị đóng đinh cho thế gian.
Ngày nay Chúa cũng mời gọi chúng ta mang vào thế giới sứ điệp sự thật và tình thương của Ngài. Chúng ta hãy sẵn sàng tham gia vào sứ mạng này và nhất là cầu nguyện xin Chúa đừng để những chia rẽ và tranh chấp giữa các tín hữu Kitô làm lu mờ khả năng chiếu tỏa của Tin Mừng.
Và mãi cho đến ngày hôm nay, Chúa vẫn tiếp tục mời gọi chúng ta qua Lời Chúa, qua các biến cố trong cuộc sống, chúng ta hãy lắng đọng tâm hồn để sẵn sàng đáp trả tiếng Chúa mời gọi.
Huệ Minh 2020
Thứ Ba Tuần III Mùa Thường Niên
2 Sm 6, 12b-15, 17-10; Mc 3, 31-35
THI HÀNH THÁNH Ý
Thiên Chúa đã dựng nên con người theo hình ảnh của Thiên Chúa và ban cho họ dự phần vào sự sống thần linh của Ngài. Tuy nhiên, con người đã đánh mất vinh phúc ấy khi phạm tội bất tuân chống lại Thiên Chúa, khiến con người phải chết và xa lìa Thiên Chúa. Do lòng thương xót, Thiên Chúa không muốn con người phải chết, nên đã sai Con Một của Ngài là Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể, để “Ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16b).
Chúa Giêsu đã thi hành thánh ý Chúa Cha trong việc giảng dạy dân chúng, ban phát những ơn lành hồn xác cho những người bệnh, ban ơn tha tội cho những tội nhân…như Chúa đã khẳng định với người Do thái rằng: “Tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 5, 30b). Cuối cùng, nhờ cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá mà con người được giao hòa cùng Thiên Chúa, nên nguồn ơn cứu độ cho mọi loài thụ tạo.
Chúa Giêsu không nói một cách chung chung rằng ta phải thực thi ý Thiên Chúa. Nhưng ngang qua đời sống của Ngài, Ngài dạy ta cách cụ thể phải tìm ý Thiên Chúa và thi hành triệt để ý Thiên Chúa như thế nào.
Động cơ thúc đẩy Mẹ và anh em đến tìm Ngài là: có dư luận dân chúng cho rằng Ngài bị ‘điên’ (c. 21b), nên họ tìm đến để lôi kéo Ngài từ bỏ sứ vụ rao giảng Lời Thiên Chúa. Tuy nhiên, chẳng những không từ bỏ, Chúa Giê-su còn tận dụng cơ hội này để loan báo một sự thật khác trong Nước Thiên Chúa, dù ‘nói thật mất lòng’, một sự thật ‘khó nghe’, ‘chướng tai gai mắt’, ngay cả cho thân nhân của Ngài. Ngài muốn nhấn mạnh mối liên hệ đích thực với Ngài không hệ tại ở huyết thống, mà là ở việc thi hành ý muốn của Thiên Chúa.
Thiên Chúa là cha yêu thương, Người đã tạo dựng chúng ta giống hình ảnh của Người để chúng ta được hiệp thông trong sự sống tình yêu của Người hầu được hạnh phúc. Khi sống yêu thương là chúng ta thi hành ý muốn của Thiên Chúa; khi chấp nhận mọi nghịch cảnh, mọi thử thách và hy sinh để xây dựng và làm cho cuộc sống tốt đẹp là chúng ta đang làm theo thánh ý của Người. Ai không muốn làm người nhà của Thiên Chúa; Ai lại không muốn làm người thân thuộc của Người. Chúng ta phải biết sống tâm tình cảm tạ, tri ân và mau mắn làm theo ý Chúa để đáp trả hồng ân lớn lao Chúa ban tặng cho chúng ta và mời gọi chúng ta lãnh nhận là được làm con Chúa, được thừa hưởng gia nghiệp nước trời Chúa dành cho những ai thực hiện ý muốn của Người. Đồng thời mỗi người chúng ta cũng có trách nhiệm và bổn phận giúp cho tha nhân cũng được trở nên người nhà của Thiên Chúa qua việc nhận biết và thi hành thánh ý của Người.
Thánh ý Chúa được tỏ lộ trong mặc khải Kinh thánh, qua các giới răn của Người, cách đặc biệt giới răn yêu thương trong Tin mừng qua lời dạy của Đức Giêsu Kitô; thánh ý Chúa còn được tỏ lộ qua tiếng nói của lương tâm nhắc nhở làm lành lánh dữ; qua những giáo huấn của Hội Thánh; qua những biến cố cuộc đời.
Người Kitô hữu yêu mến và sống niềm tin vào Thiên Chúa sẽ giữ đạo, giữ luật Chúa một cách hết sức nhẹ nhàng tự nhiên như một người con hiếu thảo thực hành ý muốn của Cha mình trong ý hướng muốn làm đẹp lòng Cha vì tin tưởng, biết Cha luôn muốn điều tốt lành cho mình, như Đức Giêsu Kitô: “Lương thực ta dùng là thi hành ý muốn của Cha ta.” (Ga 4, 34) Vì vậy mà Ngài là “Con rất yêu dấu của Cha, đẹp lòng Cha mọi đàng” (Mt 3,17; Mc 1, 11). Nếu không yêu mến và tin kính Chúa, Người Ki-tô hữu sẽ dễ dàng rơi vào tình tràng giữ đạo hình thức, nệ luật, né luật hoặc giữ luật vì sợ hãi (sợ tội, sợ Chúa phạt, sợ dư luận cộng đồng…)
Với trang Tin Mừng hôm nay Chúa đã gợi mở cho chúng ta một cái nhìn mới, một lối suy nghĩ mới về gia đình. Thông thường, một gia đình hội tụ cha, mẹ và con cái. Chúa Giêsu cũng có một gia đình như thế mà chúng ta quen gọi là “Thánh Gia” : Ngài có cha (theo luật pháp) là Thánh Cả Giuse và mẹ là Đức Maria. Nhưng Chúa Giêsu không muốn nói về gia đình tự nhiên này, Ngài hướng chúng ta đến một gia đình thiêng liêng rộng lớn hơn nhiều. Đại gia đình ấy có Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh chị em. Điều kiện để gia nhập vào đại gia đình ấy là “làm theo ý Thiên Chúa” (Mc 3,35).
Ta thuộc về đại gia đình thiêng liêng của Chúa nhờ bí tích Rửa tội. Ơn huệ này thôi thúc chúng ta đáp lại thánh ý Thiên Chúa, không chỉ bằng lời nói nhưng bằng việc làm, không phải là lắng nghe xuông nhưng là thực hành triệt để những điều Chúa truyền dạy. Hơn nữa, mỗi người và mỗi gia đình Công giáo phải trở nên những thành viên đắc lực mở rộng đại gia đình của Chúa qua việc đem Chúa đến cho mọi người không phân biệt giàu nghèo, chủng tộc. Đồng thời đừng quên giúp đỡ và yêu thương nhau như những người anh chị em trong cùng một nhà.
Hồng ân cứu độ mà Chúa Giêsu đem đến cho mọi người có đến được với từng người hay không, là còn tùy vào việc mỗi người đáp ứng lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi”. Nhờ bí tích Thánh Tẩy, người tín hữu được trở nên con cái Thiên Chúa, được thông dự vào ba chức năng của Chúa Giêsu: Ngôn Sứ, Tư Tế và Vương Đế, để có điều kiện thi hành thánh ý Chúa Cha.
Tuy nhiên, người tín hữu chỉ có thể thi hành thánh ý Thiên Chúa cách dễ dàng trong Giáo Hội, nhờ đời sống phụng vụ của Giáo Hội, tuyên xưng về Chúa Giêsu: “Chính nhờ Người, với Người và trong Người, mà mọi danh dự và vinh quang đều quy về Chúa, là Cha Toàn Năng, trong sự hợp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời”.
Bí quyết để nhận ra ý Thiên Chúa, Đức Giêsu hằng liên lỉ đi vào đời sống cầu nguyện tương giao mật thiết với Thiên Chúa là Cha của Ngài. Và Ngài thực thi ý Cha khi trao phó vào trong tay Cha mọi sự xảy đến trong cuộc đời của mình. Ngay cả lúc tăm tối nhất của cuộc đời mình (giờ phút trên thập giá), Ngài vẫn có thế trao phó tất cả mọi sự cho Cha Ngài: “Lạy Cha con phó linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23, 46).
Thứ Tư Tuần III Mùa Thường Niên
2 Sm 7, 4-17; Mc 4, 1-20
HÃY ĐỂ CHO LỜI CHÚA SINH HOA KẾT QUẢ
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng dụ ngôn người gieo giống để giảng về Nước Trời. Việc gieo giống có lẽ rất quen thuộc với người Việt Nam, vì có đến 4/5 dân số sống bằng nghề nông nghiệp. Người gieo giống nào cũng muốn gieo hạt trên đất đã cày bừa cẩn thận; Thiên Chúa cũng muốn tâm hồn con người được trở nên như thửa đất để hạt giống Lời Ngài có thể mọc lên, phát triển và sinh nhiều hoa trái, làm ích cho mình và cho người khác nữa.
Chúa Giêsu dùng dụ ngôn “Người Gieo Giống” để nói cho dân chúng biết về mầu nhiệm Nước Trời. Hạt giống gieo vào đất là bước khởi đầu của Lời Chúa được ban cho thế giới. Các loại đất đón nhận hạt giống là những cách đáp ứng khác nhau trước Lời Chúa. Tột đỉnh của dụ ngôn là mùa gặt, nghĩa là sự hoàn tất của Nước Thiên Chúa.
Hạt giống Lời Chúa được ban cho tất cả mọi người. Thế nhưng trong thực tế, không phải bất cứ ai nghe Lời Chúa cũng hiểu và thực hành đúng. Quả thật, hiểu được dụ ngôn và có nghị lực thực hành Lời Chúa là hồng ân Thiên Chúa ban vì nếu không có ơn Chúa thì người ta sẽ “nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu” (Mc 4, 12). Đồng thời, cũng cần có tâm hồn đơn sơ và rộng mở trước Lời Chúa, để nhờ Thánh Thần Chúa hoạt động, sứ điệp Tin Mừng của Đức Giêsu được đơm bông kết hạt.
Đức Giêsu cắt nghĩa dụ ngôn cho các môn đệ (c.13-20). Ngài phân tích rõ từng hoàn cảnh mà Lời Chúa không có tác dụng hay được trổ sinh mỹ mãn. Có lẽ đây là mảnh đất tâm hồn của mỗi người chúng ta.
Trang Tin Mừng này như một bản xét mình về đời sống thiêng liêng, chúng ta đã để Lời Chúa được gieo vãi trong tâm hồn chúng ta như thế nào?. Nếu tâm hồn tôi là vỉa hè, đường trải nhựa, xi măng không đất cát, nóng bỏng, thì làm sao hạt giống đâm rễ được ?. Nếu tâm hồn ta là một bụi gai um tùm, đâm tua tủa, khi hạt giống rơi vào sẽ bị vướng và nằm chơ vơ giữa bụi gai, thì làm sao hạt giống chạm tới đất và nảy mầm được ?. Nếu cõi lòng tôi như một mảnh đất hoang khô cằn sỏi đá, không một dòng nước hay một bóng cây, chỉ có nắng, sỏi với đá cứng cỏi, khô khốc... và nếu hạt giống có rơi vào kẽ đá và nảy mầm, thì “tuổi thọ” của nó cũng không kéo dài được bao lâu hoặc chỉ phát triển trong èo uột vì thiếu nước, thiếu đất.
Có những hạt giống không bao giờ trở thành một cái gì tốt đẹp, vì rơi trên vệ đường, sỏi đá, bụi gai… Chỉ những hạt giống rơi vào đất tốt mới đem lại hoa quả cho đời. Ta thử hình dung nếu hạt giống mà biết buồn biết vui thì thật tội nghiệp cho những hạt rơi vào bụi gai, sỏi đá hay trên vệ đường. Chúng sẽ tủi phận như ‘thân gái mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu” … Chúa Giêsu giải thích rằng hạt giống đây là Lời Chúa. Và ta thấy đó, Lời Chúa nhiều khi thật tội nghiệp, thật tủi thân!
Khi gieo Lời Chúa vào mảnh đất tâm hồn chúng ta, Chúa muốn hạt giống của Ngài sinh nhiều hoa trái. Chính tinh thần của Tin Mừng làm phát triển đời sống của người Kitô hữu và đời sống của Hội Thánh.
Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc nhở chúng ta phải đón nhận và lắng nghe Lời Chúa như sau: “Tất cả việc Phúc Âm hóa được thiết lập dựa trên sự lắng nghe, suy niệm, sống, cử hành Lời Chúa và làm chứng cho Lời Chúa. Thánh Kinh là nguồn mạch của việc Phúc Âm hóa. Vì vậy, chúng ta phải liên tục được đào luyện trong việc lắng nghe Lời Chúa. Hội Thánh không rao giảng Tin Mừng nếu không liên tục để cho mình được Phúc Âm hóa. Ðiều quan trọng là Lời Chúa "càng ngày càng trở nên trung tâm của mọi hoạt động của Hội Thánh". (Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, số 174).
Đức Thánh Cha cũng kêu gọi các giáo phận, giáo xứ tổ chức học hỏi Lời Chúa một cách “nghiêm túc và kiên trì”: “Việc Phúc Âm hóa đòi hỏi chúng ta phải làm quen với Lời Chúa, và điều này đòi buộc các giáo phận, các giáo xứ và các nhóm Công Giáo đề ra một chương trình học hỏi Thánh Kinh nghiêm túc và kiên trì, cũng như thúc đẩy việc đọc Thánh Kinh trong cầu nguyện của cá nhân và cộng đồng.” (Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, số 175).
Nhìn lại cuộc đời của ta, có lẽ ta phải thành thật nhận rằng từ trước tới nay chúng ta chưa đón nhận và sống Lời Chúa được bao nhiêu, bởi vì ta vẫn để cho tâm hồn xao xuyến lo lắng, những đam mê sự đời, tham vọng địa vị và của cải làm chết ngạt Lời Chúa. Ðấy là chưa kể những biến cố xảy đến trong cuộc sống bản thân, gia đình, xã hội, đều là những tiếng Chúa nhắc nhở, mời gọi ta, nhưng ta vẫn chưa thoát khỏi những đam mê, ích kỷ trong đời sống. Lời Chúa vẫn chưa bén rễ sâu trong tâm hồn ta.
Nếu ta là đất tốt, Lời Chúa sẽ sinh sôi thành ba chục, sáu chục, hay một trăm. Nếu ta là vệ đường, sỏi đá hay bụi gai, Lời Chúa sẽ thành vô ích vĩnh viễn. Lời là ánh sáng, Lời có sức cứu độ, Lời đem lại sự sống… mà cuối cùng trở thành vô ích cho ta! Hãy hình dung nỗi buồn của Chúa, người gieo Lời!
Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy cải tạo mảnh đất lòng mình, cộng tác với ơn Chúa để cho Lời Chúa triển như ý Chúa muốn. Và ta cũng xin Chúa cho ta biết mở rộng tâm hồn đón nhận hạt giống Lời Chúa. Xin làm cho những hạt giống ấy được bám rễ, mọc lên tươi tốt và trổ sinh được nhiều bông hạt, để mỗi ngày ta được lớn lên trong tình yêu Chúa và góp phần xây dựng Giáo Hội Chúa ngày một lớn mạnh hơn.
Thứ Năm Tuần III Mùa Thường Niên
2 Sm 7, 18-19. 24-29; Mc 4, 21-25
HÃY LÀ NGỌN HẢI ĐĂNG
Trong khi thi hành sứ vụ công khai, Đức Giêsu thường dùng dụ ngôn mà nói với các môn đệ và dân chúng. Ngài thường dùng những hình ảnh rất cụ thể, gần gủi với đời sống thường nhật của họ mà dạy họ về chân lý. “Chiếc đèn và đấu đong” là hai hình ảnh rất bình dị mà Đức Giêsu đã dùng trong Tin mừng theo thánh Mác-cô hôm nay.
Ta thấy rõ ràng khi chưa có điện, ngọn đèn dầu đem lại ánh sáng cho cả căn nhà. Bởi vậy không thể nào hiểu được chuyện ai đó thắp đèn lên, rồi lại đặt nó dưới cái thùng hay gầm giường. Cứ sự thường phải đặt nó trên đế để soi sáng mọi sự. Ngọn đèn mà Thầy Giêsu nói ở đây có thể ám chỉ Tin Mừng của Ngài, và cũng có thể ám chỉ chính Con Người của Ngài. Tin Mừng ấy không được phép đem giấu đi, nhưng phải được quảng bá và rao giảng. Con Người Đức Giêsu không được che kín sau bức màn, nhưng phải được từ từ vén mở cho mọi người thấy.
Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Chẳng lẽ mang đèn tới để đặt dưới cái thùng hay dưới gầm giường? Nào chẳng phải là để đặt trên đế sao?”
Chiếc đèn là vật dụng rất thân thuộc với người Do Thái, mà nó cũng rất thân thuộc với người Việt nam chúng ta, hầu như ai cũng biết và cần dùng đến. Khi bóng tối bao phủ, màn đêm buông xuống thì ánh đèn được đốt lên, người ta thường đặt nó trên đế, đặt nơi vị trí cao để ánh sáng của nó có thể lan tỏa đến mọi vật, chiếu sáng cho mọi người. Nếu đốt đèn lên mà đem dấu đi dưới cái thùng hay đặt dưới gầm giường thì quả là sai mục đích, là mâu thuẫn và uổng phí, thà nó tắt đi còn hơn, vì làm như thế là làm mất giá trị của chiếc đèn. Chúng ta công nhận với nhau rằng, công dụng của chiếc đèn là chiếu sáng cho mọi người, soi cho tỏ mọi vật, để nhờ đó ta có thể phân biệt mọi sự cách chuẩn xác và đúng đắng.
Công dụng của chiếc đèn chính là tỏa ánh sáng và giúp con người đi trong đêm tối mà không sợ bị vấp ngã. Ý nghĩa ấy được Chúa Giêsu vận dụng để ví Tin mừng của Người như chiếc đèn chiếu tỏa và dẫn đưa con người đến quê hương đích thực là Nước Trời. Các môn đệ đã đón nhận sứ điệp Tin Mừng từ Chúa Giêsu nên các ông có sứ mạng làm tỏa rạng Tin Mừng ấy cho nhân loại với lòng quảng đại của mình như Chúa đã quảng đại trao ban cho các ông.
Khi đón nhận tin mừng cứu độ từ Đức Giêsu Kitô, khi đón nhận ánh sáng phục sinh lúc lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, mỗi người Ki-tô hữu trở nên là ngọn đèn cháy sáng giữa muôn dân. Ngọn đèn đức tin ấy được lan tỏa đến mọi người qua đời sống “nên thánh” trong chân lý mạc khải, qua sứ vụ ngôn sứ của người tín hữu. Bằng đời sống cầu nguyện, gắn bó mật thiết với Chúa, qua cách sống chân thành, biết nêu gương lành trong gia đình – xã hội, biết thực thi tình bác ái giữa cộng đoàn, nơi mình đang sống, thì mỗi người chúng ta như ngọn hải đăng giữa biển đời, như ánh đèn chân lý giữa xã hội đầy giả trá đang kêu gào công bình sự thật.
Có thể có lúc ngọn đèn đức tin lu mờ, dầu đức tin vơi cạn, gây ra những gương xấu trong đời sống hằng ngày: thành kiến, ghen tỵ, gian lận, trộm cướp, lời nói tục tĩu, thiếu trong sạch trong tư tưởng…Thậm chí, tim đèn đức tin có thể bị dập tắt bởi những trận cuồng phong của giết người, phá thai, ngoại tình, thờ ngẫu tượng… Chúng ta cần hồi tâm nhìn lại đời sống để lau đi những vết loang, thắp lại ngọn đèn đức tin bằng bí tích Hòa giải, đồng thời bổ sung dầu bằng việc lãnh nhận ân sủng từ Lời Chúa, từ các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, và các việc lành phức đức…
Cuộc đời người Kitô hữu, người đã lãnh nhận phép thanh tẩy, cũng giống như ngọn đèn đã thắp sáng đặt trên đế. Không được vì bất cứ lý do gì mà che giấu đi: vì khiêm tốn không muốn cho ai thấy ánh sáng của mình, hay vì không dám đương đầu với sức mạnh của bóng tối. Thế giới hôm nay cần những ngọn đèn Kitô hữu. Hai tỷ Kitô hữu làm nên hai tỷ ngọn đèn. Ánh sáng bừng lên xua tan bóng tối của dối trá, hận thù, sa đọa. Ánh sáng đem lại sự ấm áp của cảm thông, an bình và nâng đỡ. Khi cảm nhận được ánh sáng, người ta sẽ nhận ra được Kitô hữu là ai.
Là môn đệ của Chúa Giêsu, mỗi người tín hữu cũng có sứ mạng làm chiếu tỏa Tin mừng của Chúa cho con người trong thế giới hôm nay bằng chính đời sống chứng tá của mình, một đời sống thấm đẫm lòng thương xót như Thiên Chúa đã xót thương ta, mà dành cho anh chị em xung quanh mình. Người tín hữu có trách nhiệm không bớt xén hay che giấu Tin mừng, nhưng quảng đại cho đi để đáp đền lòng quảng đại bao la của Chúa.
Các Kitô hữu giáo dân cũng là một “ngọn hải đăng” thắp giữa trần đời. Thật vậy, khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, ngọn đèn đức tin của mỗi tín hữu được thắp lên với lời nhắn nhủ “gìn giữ đức tin tinh tuyền”. Đón nhận ngọn đèn đức tin từ Giáo Hội, người Kitô hữu cần phải bừng sáng lên giữa dòng đời, “Có ai đem đèn sáng đặt trong thùng hay dưới gầm giường chăng? Chẳng phải là đèn đặt trên giá đèn sao?” (Mc 4,21)
Thứ Sáu Tuần III Mùa Thường Niên
2 Sm 11, 1-4a. 5-10b. 13-17; Mc 4, 26-34
HẠT GIỐNG ÂM THẦM
Với trang Tin Mừng hôm nay, thánh sử Maccô diễn tả cho chúng ta thấy được sự huyền nhiệm của Nước Trời ngang qua các hình ảnh hết sức cụ thể và quen thuộc: những hạt giống âm thầm nảy mầm, phát triển và những giá trị to lớn mà nó mang lại. Thế nhưng điều đáng nói là dường như chẳng mấy ai có thể cảm thấu được những ý nghĩa này. Ấy thế mà Tin Mừng lại khẳng định: “Đức Giêsu không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn”. Chẳng lẽ Người lại không muốn cho họ đón nhận mặc khải của mình sao? Đương nhiên là không, bởi lẽ ta thấy rằng tất cả đều là do họ không thực lòng muốn nghe, muốn hiểu.
Ta có thể thấy rõ hơn thái độ này của họ nếu đối chiếu đoạn Tin Mừng hôm nay với phần “Các bài giảng bằng dụ ngôn” trong Tin Mừng của thánh Matthêu (Mt 13,1-52). Thật vậy, nếu họ thật lòng muốn nghe, muốn hiểu để tin thì họ đã phải giống như các môn đệ xin Chúa giải thích cho mình rồi. Ở đây, Đức Giê-su cần họ đáp trả với một lòng khao khát thực sự, bởi vì có như thế họ mới có thể trổ sinh hoa trái tốt đẹp được.
Sau khi hạt giống đã được gieo vào trong đất, nó phát triển ra thành một mùa gặt lớn lao. Chỉ với một ít nước, ánh sáng mặt trời và một ít kiên nhẫn thì một sự tăng trưởng kỳ diệu đã diễn ra.
Những điều đó xảy ra thế nào chúng ta không biết. Đây là một sự kiện kỳ diệu, khi một bụi cây được cắt tỉa, một số cành bị cắt đi, nó thực sự trở nên sung mãn và sinh được nhiều hoa trái.
Đó là một mầu nhiệm trong tự nhiên mà có thể được miêu tả lại nhưng không thể cắt nghĩa. Chúng ta có thể nói huyên thuyên rằng những gì sẽ bay lên hoặc phải rớt xuống, nhưng chúng ta không biết vì sao lại có trọng lực nhưng chỉ thấy những việc đó diễn ra. Vì sao mọi vật chất đều được kéo đến trung tâm trái đất mà không chuyển đi từ đó
Cuộc sống càng văn minh hiện đại, chúng ta càng dễ bắt gặp nhiều hơn những hình ảnh của đám đông dân Do-thái xưa. Nhiều người đổ xô đi tìm sự thật liên quan đến vũ trụ vạn vật, với khao khát hiểu biết và nắm bắt. Và như chúng ta thấy, tất cả những nỗ lực ấy đều cách này cách khác đưa họ đến với những mặc khải về sự hiện hữu của Thiên Chúa, về Nước Trời.
Chúa Giêsu đến rao giảng sự tăng trưởng của Nước Thiên Chúa, thế mà hơn 2000 năm đã trôi qua, dường như Nước Thiên Chúa vẫn còn quá xa. Hội Thánh nỗ lực xây dựng Vương quốc của tình yêu, công lý và hoà bình. Nhưng biết đến bao giờ vương quốc ấy mới đến? Đôi khi xem ra lịch sử thay vì tiến lên thì lại thụt lùi tụt dốc. Tội lỗi vẫn còn đó, lòng hận thù, bất công vẫn còn đó. Hội Thánh là dấu chỉ của Nước Chúa trên trần gian, nhưng cho tới hôm nay, Hội Thánh vẫn chỉ là "đoàn chiên bé nhỏ" (Lc 2,32) giữa cộng đoàn nhân loại. Dân số thế giới vẫn gia tăng với những bước nhảy vọt, còn các Kitô hữu không tăng bao nhiêu, thậm chí ở một vài nơi lại sụp đổ từng mảng lớn và tỉ lệ lại càng chênh lệch lớn hơn.
Thánh Gioan viết: "Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian; thế gian nhờ Người mà có nhưng lại không nhận biết Người" (Ga 1,9-10). Dù thế gian không biết Người, Người vẫn như hạt cải mọc lên lớn hơn mọi thứ, xum xuê cho muôn dân tụ họp, sinh sống dưới bóng mát tình thương của Người. Lời Người, ân sủng của Người, công cuộc cứu thế của Người đang soi sáng và bao phủ khắp muôn dân. Người là đèn sáng, không ai có thể lấy thùng úp lại được, không một thế lực phàm trần nào có thể đè nén được. "Chẳng lẽ mang đèn đến để cho đặt dưới cái thùng hay dưới gầm giường? Nào chẳng phải đem đèn đến để đặt trên cao sao?" (Mc 4,21).
Tuy nhiên thay vì khiêm tốn đón nhận để có thể đi sâu hơn vào Chân Lý ấy, họ lại chọn cách dừng lại để thỏa mãn bản tính kiêu căng của mình. Nhưng dù có muốn hay không, thái độ của họ cũng không bao giờ có thể che giấu hay lấp đầy được Sự Thật ấy bằng những giới hạn của mình. Thiên Chúa và vinh quang của Người vẫn sẽ luôn âm thầm lớn lên và sinh hoa kết quả nơi những tâm hồn biết đón nhận.
Thiết nghĩ đây cũng là một bài học quý giá cho chúng ta, những người Ki-tô hữu trên hành trình đức tin của mình. Bởi lẽ, ngày nay nhiều tín hữu đã và đang chọn cho mình những hình thức thực hành đức tin rất cực đoan, lệch lạc. Thay vì khiêm tốn đặt mình trong sự quan phòng và trong vinh quang của Thiên Chúa, chúng ta lại hay an ủi và lừa dối lương tâm của mình bằng những thực hành đức tin mang tính đối phó, làm vì bổn phận,… Hãy nhớ lại lời ưu tư mà Chúa Giê-su đã từng thốt lên: “Liệu rằng khi Con Người trở lại có còn thấy niềm tin trên mặt đất nữa không?”
Ta hãy tin tưởng và kiên nhẫn bởi vì sẽ có ngày Nước Chúa sẽ trồi lên từ tâm hồn chúng ta và phát triển thành một thực tại vinh quang mà muôn đời chúng ta sẽ phải cảm tạ Chúa luôn mãi. Tóm lại, Thiên Chúa đã trồng hạt giống Nước Trời trong tâm hồn chúng ta vào ngày chúng ta lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Bổn phận của chúng ta hôm nay là phải nuôi dưỡng nó với lòng tin tưởng và kiên nhẫn, qua việc cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích, để rồi đức tin sẽ nẩy mầm, lớn lên và đem lại hoa trái cho cuộc đời chúng ta.
thứ 7 tuần 3 thường niên, Mc 4, 35-41
QUYỀN NĂNG CỦA CHÚA
Là những người được ở gần Đức Giêsu, được chứng kiến biết bao phép lạ Chúa làm, thế nhưng, các tông đồ lại chưa có lòng tin sắt son vào Chúa. Khi phải đối mặt với phong ba bão táp như muốn nhận chìm con thuyền của mình, các tông đồ đã tỏ ra khiếp đảm sợ hãi đến nỗi quên đi quyền năng cao cả của Chúa Giêsu, Người đang hiện diện cùng các ông trên thuyền. Trong cơn hốt hoảng sợ hãi, các ông đã chạy đến cùng Chúa và chỉ với một lời Người phán ra tức thì sóng biển đang gào thét đã phải im hơi lặng tiếng.
Sau một ngày giảng dạy dân chúng, Đức Giêsu bảo các môn đệ chèo thuyền đưa Ngài sang bên kia Biển Hồ. Biển Galilê dài 21km, rộng 12km, xung quanh có những rặng núi bao bọc. Nhiệt độ ở Galilê thuộc miền Bắc Israel và ở Biển Chết thuộc miền Nam chênh lệch nhau, thỉnh thoảng tạo ra những cơn gió mạnh. Biển Galilê nổi sóng dữ dội vì hình thể lòng chảo với núi non bao quanh. Vì thế, người xưa quan niệm rằng, biển là biểu hiện cho những gì nguy hiểm, tối tăm và sợ hãi. Biển động sóng gào biểu trưng cho một thế giới hỗn loạn và phường tội lỗi (Is 57, 20). Ý định băng qua bên kia Biển hồ lúc trời đã về chiều quả là một ý định táo bạo, liều lĩnh, bất chấp hiểm nguy.
Trước sự sợ hãi của các môn đệ đang bị sóng gió ập tới, Đức Kitô đã đem sự bình an và lòng tin cậy. Người cất tiếng gọi hỏi sóng gió hung dữ, và biển liền câm lặng. Con thuyền đó là cuộc đời chúng ta, theo thời gian, đã biết thế nào là sóng gió bão bùng và những giây phut sợ hãi. Con thuyền cũng là giáo hội của chúng ta, mà chúng ta là thành phần liên đới. Thuyền lướt êm trên biển lặng và thuyền quay cuồng muốn lật úp dưới sóng gió bão táp hung tàn. Chúng ta đều thấy rõ, dù là tín hữu, cuộc đời không nhân nhượng với chúng ta, nhưng giữa những thử thách của niềm tin, chúng ta phải giữ vững mũi tàu của chúng ta: “Tại sao các con sợ hãi?”
Đức Giêsu thức dậy và ra lệnh cho sóng biển: “Im đi! Câm đi!”. Cử chỉ và lời nói của Chúa giống như lúc Ngài trừ quỉ. Lập tức, gió ngừng thổi và biển yên lặng như tờ. Rồi Chúa quở các môn đệ : sao các con lại sợ hãi thế? Đức tin của các con như thế nào?. Rõ ràng, Chúa không nói các môn đệ không có đức tin; Chúa cũng không nói các môn đệ có đức tin bé nhỏ; ở đây đức tin của các môn đệ giới hạn quyền năng của Thiên Chúa, thua sức mạnh thiên nhiên, sự hiện diện của Chúa Giêsu không thể cứu nguy cho những người cùng thuyền được nên họ phải đánh thức Chúa dậy.
Lời Đức Giêsu trách các môn đệ: “Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?” rất đúng cho chúng ta là những người đã biết Đức Giêsu từ lâu, đã sống với Người, đã được chứng kiến biết bao nhiêu việc kỳ diệu Người làm trong đời sống chúng ta, mà vẫn không biết phản ứng hay lấy những quyết định tương hợp với kinh nghiệm ấy. Nhận biết đúng đắn chân tính của Đức Giêsu thì sẽ có một thái độ đúng đắn đối với bản thân Người.
Ta hãy lắng nghe một lần nữa lời trách của Đức Giêsu dành cho các môn đệ: “Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?” Lời trách vừa thẳng và nặng. Thẳng và nặng giống như Chúa nói với sóng gió. Tại sao vậy ? Bởi vì lòng chúng ta cũng có sóng gào gió thét, cũng có hỗn mang. Để dẹp yên, có lẽ còn khó hơn; vì thế, theo lời kể của thánh Mátthêu, Người thực hiện điều này trước khi nói với sóng gió.
Như các tông đồ năm xưa, chúng ta cũng đang giương buồm vượt biển trần gian để tiến về bến bờ là Quê Trời. Trong cuộc hành trình này, không ít lần con thuyền của chúng ta phải đi trong những đêm đen và phải đương đầu với sóng to gió lớn nổi lên như muốn vùi dập và nuốt chửng con thuyền của chúng ta. Đó là lúc mà ta phải đối mặt với những đau yếu bệnh tật, hiểu lầm trái ý, thiếu thốn khó khăn, tai ương hoạn nạn, bị khinh dể bỏ rơi… Trong những giờ phút đen tối ấy, chúng ta hãy noi gương các tông đồ chạy đến với Chúa. Người sẽ dẹp yên sóng biển và dẫn đưa chúng ta về bến bờ bình an.
Tin Mừng cho thấy, lúc đó Chúa Giêsu đang ở đàng lái, gối đầu mà ngủ. Giấc ngủ ấy khiến ta liên tưởng đến cái chết của Chúa Giêsu trên Thập giá. Trong cái chết đó, Chúa Giêsu dường như đã thất bại, trong khi đó các quyền lực sự dữ tưởng chừng như đã thành công, vì đã thủ tiêu được người mà họ coi như kẻ thù, như kẻ quấy rầy nền đạo đức tôn giáo của họ. Thế nhưng, Chúa Giêsu đã thức dậy, nghĩa là Ngài đã phục sinh, và sự Phục Sinh của Ngài loan báo cuộc chiến thắng vĩ đại của Ngài trên mọi quyền lực của ma quỷ và sự dữ cũng như của bất cứ thế lực nào chống đối Giáo Hội.
Chúa Giêsu đã luôn kết hiệp mật thiết với Chúa Cha và hoàn toàn tín thác cậy trông nơi Cha. Ngày nay, vì thiếu lòng tin nên người ta coi thường việc cầu nguyện. Mỗi khi gặp phải hoàn cảnh khó khăn hay gặp gian nan thử thách, người ta chỉ biết dựa vào sức riêng mình, đang khi lẽ ra vừa phải xin Chúa ban ơn soi sáng để tìm ra giải pháp tốt nhất, lại vừa phải cố gắng làm hết sức để giải quyết các khó khăn ấy theo hướng tích cực nhất.
Ðời sống của Giáo Hội cũng như của mỗi Kitô hữu được ví như một cuộc ra khơi. Thiên Chúa vẫn luôn hiện diện, ngay cả khi chúng ta tưởng như Ngài vắng mặt trong những thử thách, phong ba của cuộc đời. Ðiều quan trọng là chúng ta biết chạy đến cầu nguyện với Chúa để Ngài làm yên cơn sóng gió và dẫn đưa con thuyền cuộc đời chúng ta về tới bến bờ bình an.
Trong cuộc sống, có những lúc chúng ta gặp thử thách hay hiểm nguy, chúng ta kêu và Chúa “thức dậy” cứu chúng ta. Nhưng cũng có khi, chúng ta được mời gọi có kinh nghiệm tương tự như kinh nghiệm của mầu nhiệm Thương Khó, nghĩa là hoàn toàn phó thác, để cho Thiên Chúa dẫn chúng ta đi ngang qua bão tổ của thử thách, như Đức Giêsu. Thực ra, dù muốn dù không, đó sẽ là thời điểm của sự chết, tất yếu sẽ đến với mỗi người chúng ta; và chúng ta được mời gọi sống thực tại này như một hành trình Vượt Qua.
Huệ Minh
January 26, 2023