Suy Niệm của Huệ Minh

chúa nhật tuần 4 thường niên, năm A

+++

29.1.2023 Chúa Nhật  Chúa Nhật thứ Tư Mùa Quanh Năm

Xp 2:3,3; Tv 146:6-7,8-9,9-10; 1 Cr 1:26-31; Mt 5:1-12

Phúc thật

          Trong dịp đầu năm, chúng ta thường cầu chúc cho nhau 365 ngày hạnh phúc. Trong những bức thư, chúng ta thường nguyện ước cho nhau gặp nhiều may mắn, thế nhưng trái chín hạnh phúc vẫn ở ngoài tầm tay của chúng ta, vì cả chúng ta lẫn những người chung quanh không ai có đủ yêu thương và đủ quyền phép để thực hiện những điều mong ước. Bởi đó đau khổ vẫn chồng chất trong cuộc sống, đau khổ vì nghèo đói, vì bệnh tật, vì chết chóc. Đau khổ vì thất bại, vì chia ly, vì những cám dỗ đè nặng. Và hạnh phúc mãi mãi vẫn là một khát vọng chưa một lần nguôi ngoai.

          Tất cả những gì mà người ta nghĩ là hạnh phúc thì Chúa Giêsu lại không nghĩ vậy, giáo huấn của Người hoàn toàn biệt lập về sự hạnh phúc là gì, làm thế nào và khi nào chúng ta đạt được hạnh phúc. Tất cả chúng ta đều đã nghe lời giáo huấn của Người nhưng có lẽ chúng ta hoàn toàn thất bại trong việc nắm bắt cho dù là một đặc tính duy nhất mà Chúa Giêsu đã tuyên bố.

          Nhiều người ao ước được giàu có và danh tiếng như ông vua phần mềm máy tính này, thậm chí chỉ xin được bằng cái số lẻ của ông thì đã vô cùng hạnh phúc. Bởi vì “Có tiền mua tiên cũng được!” Hay như thời nay người ta thường nói:

       “Đồng tiền là Tiên là Phật

       Là sức bật của tuổi trẻ,

       Là sức khỏe của tuổi già,

       Là cái đà của danh vọng,

       Là cái lọng che thân,

       Là cán cân công lý,

       Đồng tiền là hết ý”.

          Nhưng Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu lại tuyên bố: “Hạnh phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó” (Mt 5,3). Hơn nữa, Người còn cho là hạnh phúc những ai hiền lành, sầu khổ, bị bách hại…

Giáo Hội gọi đó là Hiến Chương Nước Trời, nghĩa là chỉ những ai sống và thực thi những điều ấy mới được làm công dân của Nước Trời.

          Với người không có niềm tin thì đó là một điều hết sức nghịch lý. Nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, bị bách hại… không thể mang lại hạnh phúc mà chỉ đem đến những bất hạnh thiệt thòi, khinh bỉ mà thôi.

          Như vậy phải chăng Chúa Giêsu ngăn cản nền văn minh tiến bộ của nhân loại đang vươn tới hùng cường, thịnh vượng sao? Phải chăng Người ủng hộ cho hành động bóc lột và đàn áp? Hoàn toàn trái lại. Người đã nói: “Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Vì thế, làm môn đệ Đức Giêsu là phải xua đuổi nghèo nàn và lạc hậu khỏi thế giới này, là phải đẩy lui đau khổ và bất công xa rời con người. Đó là những vị khách không mời mà đến, và chúng ta phải có nhiệm vụ tống khứ chúng ra khỏi mái nhà của nhân loại. Đây là mục tiêu giải quyết của Kitô giáo, và cũng là trách nhiệm của mỗi người tín hữu chúng ta.

          Thực ra, ai cũng biết rằng nghèo không đương nhiên là khổ, đã đành rằng nghèo và khổ thường đi đôi với nhau. Trái lại, giàu có cũng không tất nhiên đem lại hạnh phúc. Vấn đề hạnh phúc chủ yếu ở tại cái Tâm. Bởi thế các bậc thánh nhân, bằng những ngôn ngữ khác nhau, nhưng hầu như đều nhất trí trong việc đề cao đời sống tâm linh. Đó chính là lý do tại sao Chúa Giêsu đề cao tâm hồn nghèo khó, hiền hậu, dám chấp nhận đau hkổ, yêu thích sự chính trực, thương xót anh em đồng loại, trong sạch và xây dựng hoà bình.

          Thực vậy, những đức tính trên đây là những đức tính người nghèo của Thiên Chúa, theo truyền thống Kinh Thánh. Người nghèo của Thiên Chúa không phải là người có đời sống vật chất khó khăn túng quẫn, mà là kẻ luôn tin tưởng phó thác nơi Chúa, biết sống cho Ngài và cho anh em đồng loại. Lấy Chúa làm gia nghiệp và luôn sống trong tình liên đới với anh em. Thực thi điều răn quan trọng nhất là mến Chúa và yêu người.

          Nói theo tư tưởng Đông phương, thì hạnh phúc chủ yếu ở chỗ thực hiện được sự hoà điệu giữa lòng mình với lòng trời, giữa lòng mình với lòng người, nghĩa là sống cho hợp lòng người và lấy lòng trăm họ làm lòng mình.

          Trong tám mối phúc thật, Chúa Giêsu cho thấy hạnh phúc của chúng ta tuỳ thuộc vào mối tương quan ba chiều giữa chúng ta với Thiên Chúa, và giữa chúng ta với anh em đồng loại.

          Tận thẳm sâu của tâm hồn, ai cũng có nỗi khao khát cháy bỏng được sống hạnh phúc, ai cũng muốn người khác đem lại phúc lộc cho mình. Nhưng hạnh phúc đích thực chỉ đến với những người biết đem lại hạnh phúc cho kẻ khác, và hết lòng quảng đại với tha nhân. Chúa Giêsu đã dạy: “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35). Nhà truyền giáo Albert Schweiltzer quả quyết: “Người hạnh phúc nhất trong anh em là người đã tìm thấy con đường hiến thân phục vụ”.

          Hạnh phúc đích thực không đo bằng của cải con người thu tích được, không tùy thuộc nơi những thành đạt mà họ có, cũng không đến từ danh vọng mà con người chiếm hữu, nhưng chính là do nơi họ biết hoàn toàn tín thác vào Chúa mà thôi. Sự giàu có đích thực là sự giàu có ở trái tim, không phải ở túi tiền.

 

31.1.2-23 Thứ Ba Thánh Gioan Bosco, Lm -2023

Dt 12:1-4; Tv 22:26-27,28,30,31-32; Mc 5:21-43

Chỉ cần tin thôi !

          Thánh Gioan Boscô là một vị thánh nổi tiếng trong Giáo Hội vì những đóng góp to lớn của Ngài cũng như của Hội dòng do Ngài thiết lập trên khắp thế giới. Tên đầy đủ của Ngài là Giovanni Melchiorre Bosco. Ngài chào đời ngày 16 tháng 8 năm 1815 tại làng Becchi, thuộc tỉnh Piémont miền Bắc nước Ý, trong một gia đình nông dân nghèo. Cha Ngài là Phanxicô Bosco. Khi ông qua đời, Boscô mới lên hai tuổi. Như vậy Boscô đã phải mồ côi cha từ lúc hai tuổi. Mẹ Ngài là bà Magarita, một người đàn bà rất đạo đức, yêu lao động và rất ham thích việc cầu nguyện. Tuy phải làm lụng vất vả mới kiếm đủ tiền để nuôi con, nhưng không bao giờ bà sao lãng việc giáo dục con cái. Chính bà đã truyền thụ cho Bosco nhiều đức tính cao quý cũng như một trí tuệ thông minh sắc sảo, và một lòng đạo đức có chiều sâu. Chính nhờ đó mà sau này Don Boscô sớm có được một đời sống tốt lành thánh thiện trong công việc tông đồ.

          Boscô đã không được may mắn hưởng những ngày thơ ấu êm đềm như các trẻ nhỏ cùng trạc tuổi. Bosco rất ham học hỏi, nhưng vì không có đủ tiền đi học nên cậu phải đến nhờ cha sở dạy cho. Nhưng rủi thay chỉ ít lâu sau cha sở lại qua đời.
Từ đó, để có tiền đi học, Boscô đã phải làm nhiều việc khác nhau như: chăn bò, làm công việc đồng áng, bồi bàn cà phê, may quần áo, may giầy.v.v.. Mãi đến năm 11 tuổi, Don Boscô mới chính thức được bước chân đến trường. Và năm 16 tuổi Boscô đã vào được bậc trung học.

          Từ nhỏ, Don Boscô đã có ý nguyện muốn dâng mình cho Chúa trong bậc tu trì. Chính vì vậy, mà vào năm 1835, Ngài đã xin vào Đại chủng viện Torino. Ý nguyện của Ngài được chấp nhận và sáu năm sau Ngài được thụ phong linh mục. Và vào ngày 5 tháng 6 năm 1841 lúc đó ngài đã được 26 tuổi. Sau khi chịu chức, Ngài khởi đầu mục vụ tông đồ bằng cách đi thăm các trại giáo hóa dành cho các thanh thiếu niên phạm pháp tại Giáo phận Torino.

          Cuối năm 1841, Ngài nhận nuôi dưỡng Bartôlômêô Garelli, một trẻ em vô gia cư. Dần dà, Ngài nhận nuôi thêm nhiều trẻ em vô gia cư hoặc mồ côi khác. Ban đầu, Ngài quy tụ các em để tổ chức vui chơi, tham dự Thánh Lễ và học giáo lý. Sau khi có nơi ăn chốn ở cố định ở Valdocco, Thành Torinô, Ngài đã cho xây nhà nội trú, mở các lớp dạy học và mở các xưởng dạy nghề cho các em. Số lượng trẻ em ngày càng đông, khiến công việc của Ngài ngày càng vất vả, nên có một lúc Ngài đã từng bị sưng phổi nặng nhưng rất may là cơn bệnh cũng đã qua.

          Năm 1859, Gioan Bosco cùng với các đồng chí của mình chính thức thành lập Hội dòng của Thánh Phanxicô Đệ Salê (tiếng Latin: Societas Sancti Francisci Salesii), với hàm ý noi gương Đức ái Tông đồ, sự Hiền lành và lòng kiên nhẫn của thánh nhân. Ngày 25 tháng 3 năm 1855, Micae Rua trở thành tu sĩ đầu tiên với lời tuyên khấn dòng trọng thể. Năm 1860, Giuse Rossi trở thành sư huynh đầu tiên được đón nhận vào Dòng. Sau đó, ngày 14 tháng 6 năm 1862, 22 tu sĩ Salêdiêng khác đã thực hiện lời tuyên khấn.

          Gioan Bosco cũng đã thành lập Dòng Con Đức Mẹ phù hộ (còn được gọi là Dòng Nữ Salêdiêng Don Bosco) vào ngày 5 tháng 8 năm 1872. Năm 1876, Ngài thành lập Hiệp hội Cộng tác viên Salêdiêng. Ba Nhóm này và nhiều Nhóm khác được thành lập sau này liên kết với nhau thành một Gia đình, một tổ chức xã hội Công giáo thống nhất. Vào năm 1872, Ngài tiếp tục lập thêm hai hội dòng khác: Hội Đức Mẹ hằng Cứu giúp để bảo trợ ơn gọi linh mục; Hội Dòng nữ Salésienne nhằm giáo dục các em cô nhi. Các tổ chức này đã có tầm ảnh hưởng khắp nơi ngay khi Ngài còn tại thế.

          Với những nỗ lực không mệt mỏi của mình, Gioan Bosco kiệt sức, lâm bệnh và qua đời ngày 31 tháng 1 năm 1888 tại Torino, hưởng thọ 73 tuổi. Để tưởng thưởng cho những công lao to lớn quí báu của Ngài với giáo hội và xã hội, Giáo Hội đã phong Ngài lên bậc chân phước ngày 2/6/1929 và ngày 1/4/1934 Đức Giáo hoàng Piô XI đã phong ngài lên bậc hiển thánh với biệt hiệu: Cha và Thầy của thanh thiếu niên.

          Ngài qua đi nhưng hình ảnh của người cha hiền còn sống mãi trong lòng nhân thế. Lòng nhiệt thành và từ tâm của Ngài đối với bầy trẻ côi cút phải là bài học sáng ngời soi dẫn tâm hồn con người trong muôn thế hệ.

          Tin mừng hôm nay nói đến hai người nữ được Chúa Giê-su chữa lành và cứu sống: một là người phụ nữ bị băng huyết 12 năm, một là cô bé đã chết 12 tuổi. Người phụ nữ xuất huyết 12 năm được ơn chữa lành do lòng tin mãnh liệt của bà; cô bé đã chết 12 tuổi được Chúa cứu sống do sự vững tin của người cha. Có một mối liên kết giữa những người nữ được nói tới ở đây với Israel – con số 12 chẳng phải là biểu tượng cho 12 chi tộc Israel đó sao.

          Mở đầu đoạn tin mừng là việc người cha đến xin Chúa Giêsu cứu chữa cho cô con gái 12 tuổi sắp chết của ông; đoạn giữa là sự kiện người bà bị xuất huyết đã 12 năm tìm cách đến gần sờ đụng vào Chúa Giêsu để được cứu chữa: Đối với người Do-thái, máu huyết là chất thiêng, biểu hiện cho sự sống - người đàn bà bị xuất huyết lâu dài tức là sự sống đang rời bỏ bà và bà lâm vào tình trạng rất nguy kịch (vì các thầy lang đã bó tay mà bà thì cũng đã tán gia bại sản bởi căn bệnh) - tuy nhiên nhờ lòng tin mãnh liệt vào Chúa Giê-su mà bà đã được chữa lành; đoạn cuối là việc Chúa Giê-su cứu sống cô bé 12 tuổi nhờ lòng tin của người cha. Mặt khác, để quyền năng Chúa được thể hiện và phép lạ xảy ra, chúng ta thấy tất cả những nhân vật chính trong trình thuật đều vượt qua những rào cản của luật lệ: Người đàn bà loạn huyết theo luật Do-thái không được đến gần tiếp xúc với ai vì có thể làm cho đối tượng mình tiếp xúc ra nhơ uế (Lv 15, 19 – 27), vậy mà bà lại dám cả gan chen chúc vào giữa đám đông theo Chúa Giêsu để động chạm vào áo của Người – bà đã vi phạm luật. Còn ông Gia-ia khi chứng kiến và biết Chúa Giêsu đã bị nhơ uế do người phụ nữ kia mà vẫn để cho Người đến nhà mình để cứu chữa cho con gái thì ông cũng là kẻ vi phạm luật lệ và nhà ông bị nhơ uế. Về phía Chúa Giêsu, Ngài dường như không quan tâm đến việc mình bị mắc uế hay không mắc uế, Ngài chỉ quan tâm đến con người và những nỗi thống khổ của họ. Cho nên, bất chấp những luật lệ khô cứng, phép lạ sống động đã xảy ra.

          Như vậy, đoạn Tin mừng cho thấy Chúa Giêsu là nguồn mạch sự sống và mời gọi con người tin vào Ngài để có được sự sống đích thực và khỏi chết muôn đời. Qua đó, trình thuật cũng diễn tả cho thấy Israel đang trong tình trạng nguy khốn; sự sống niềm tin của họ đã bị xơ cứng và đang chết dần mòn bởi những vỏ bọc luật lệ vô hồn, lắm khi trở thành bất nhân. Họ cần tin vào Chúa Giêsu để được giải thoát khỏi ách nặng nề của lề luật và có được cách thế sống niềm tin tràn đầy niềm vui và tình yêu như Thiên Chúa mong muốn.

          Giáo hội mời gọi con cái mình, những Ki-tô hữu xét lại niềm tin cũng như cách thế sống đức tin của mình một cách tích cực và cấp thiết hơn trong một thế giới mà các giá trị sự sống thánh thiêng dần bị đánh mất và các giá trị luân lý đang bị suy đồi, đồng thời chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng thụ, chủ nghĩa duy lợi nhuận vật chất đang được đề cao và tôn vinh lên thành ‘thượng đế’. Vì vậy, nếu khi phải lựa chọn, bạn đặt quan trọng một dịch vụ làm ăn hơn là Thánh lễ, một đám tiệc hơn là Thánh Thể, một cuộc vui chơi hơn là những việc tông đồ bác ái, công ích…là bạn đang sống theo chủ nghĩa duy vật chất - bạn đang đánh mất niềm tin của mình.

          Khi đời sống bạn lâm vào tình trạng khổ đau thử thách (nghèo đói, tật bệnh, gia đình có nguy cơ tan vỡ…) hoặc có những vấn đề nan giải, bạn suy sụp tuyệt vọng, chạy tìm sự khôn ngoan thế tục hơn là các giá trị giá trị tin mừng, cậy dựa vào các thế lực tăm tối của sa tan (tiền bạc, bói toán, đồng bóng…) hơn là cậy trông vào Chúa thì đó là dấu hiệu niềm tin của bạn đã chết. Thiên Chúa là Đấng có thể cứu bạn, bạn hãy tha thiết chạy đến với Người để xin ơn đức tin, xin Người cứu chữa khỏi tình trạng khốn khổ của mình.

          “Đừng sợ, chỉ cần tin thôi!” (c.36) lời của Chúa Giêsu nói với ông Giai-rô cũng là thông điệp Người nhắn gửi mỗi người chúng ta. Sống trong một thế giới đa tạp, niềm tin đang dãy chết, các giá trị giả - thật, thật – giả nhiễu nhương khó phân biệt, chúng ta cần cầu nguyện rất nhiều, cần cắm neo cuộc đời mình trong lòng bàn tay Chúa, trong tình thương xót của Chúa. Đức tin là một hồng ân Thiên Chúa ban tặng cho những ai khao khát kêu xin Người. Do đó, bạn đừng ngần ngại xin ơn đức tin và hãy kiên trì, kiên vững trong lòng tin. Bởi vì trong cuộc sống chúng ta chỉ cần tin Chúa, can đảm bước đi theo lời chỉ bảo, hướng dẫn của Người, chúng ta sẽ không bao giờ sợ lầm đường lạc lối, và Chúa sẽ thực hiện những điều lạ lùng, diệu kỳ trên cuộc đời của chúng ta.

3.2.23 Thứ Sáu tuần 4 Mùa Quanh Năm 2023
Dt 13:1-8; Tv 27:1,3,5,8-9; Mc 6:14-29
Giá phải trả của người dấn thân loan báo Tin Mừng
          Tin mừng  hôm nay nhắc đến cái chết của Gioan Tẩy Giả. Có vẻ như thánh sử Máccô không lôgic lắm khi đang trình bày sứ vụ công khai của Chúa Giêsu cùng với việc Ngài tuyển chọn và sai các môn đệ đi loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa, thì bất ngờ ở đây lại nhắc đến việc Gioan Tẩy Giả bị chém đầu.
          Thực ra, việc đề cập đến cái chết của Gioan Tẩy Giả là có dụng ý của thánh sử. Số mạng củaGioan Tẩy Giả báo trước số mạng của Chúa Giêsu cũng như định mệnh các môn đệ của Ngài. Con đường làm chứng cho Tin mừng Nước Thiên Chúa là con đường chông gai, đau khổ, thậm chí phải đánh đổi bằng cả mạng sống.
          Nhưng những người dấn thân tới cùng cho sự thật như Gioan Tẩy Giả và các môn đệ chắc chắn sẽ được chỗi dậy như Chúa Kitô Phục Sinh chỗi dậy từ cõi chết.
          Trong Tin mừng hôm nay, thánh Marcô thuật lại cho chúng ta cuộc tử nạn của thánh Gioan Tẩy giả. Khi ấy, danh tiếng Chúa Giêsu lẫy lừng vì những lời giảng và hành động thật uy quyền đã đến tai Hêrôđê khiến ông ta sống bất an, lương tâm cắn rứt và nghĩ rằng chính Gioan Tẩy giả tiếp tục sống trong Đức Giêsu. Những ray rứt của kẻ giết người lại nổi lên trong con người ông và lên án chính ông. Đây chính là tâm trạng của những kẻ gây ra những điều gian ác. Tâm hồn họ đã đánh mất sự hiện diện của Thiên Chúa. Tiếng lương tâm cắn rứt chính là dấu chỉ Thiên Chúa vẫn luôn mời gọi họ hối cải.
          Gioan Tẩy giả không phải là ánh sáng, nhưng chỉ đến làm chứng cho ánh sáng. Dù biết rằng mình sẽ phải chấp nhận cái bi đát nhất của cuộc đời, Gioan vẫn nói lên tiếng nói bất khuất của vị tiên tri. Mọi tiên tri đều phải trả giá cho lời minh chứng của mình. Gioan Tẩy giả đã sống anh dũng, can trường với lời nói của mình. Cái đầu phải trả giá là giá nặng nề và đáng nguyền rủa nhất của vị tiên tri sau cái chết đóng đinh nơi thập giá đối với người Do thái lúc đó. Gioan Tẩy giả đã tự xóa mình để cho Đấng Cứu độ lớn lên trong lịch sử nhân loại. Lời chứng và cái chết của Ngài, đã nói lên sự thật muôn đời là Gioan đã hoàn toàn đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa: Ngài không sợ hãi, lớn tiếng trước mặt các vua chúa. Ngài đã hiến mạng sống cho công bình và chân lý.
          Còn vua Hêrôđê, ông là hình ảnh của những con người yếu đuối, hướng chiều theo tội lỗi. Sở dĩ ông tống ngục ông Gioan Tẩy giả là cũng vì nghe lời Hêrôđiađê xúi giục, chứ riêng ông thì ông nể sợ Gioan Tẩy giả, vì biết Gioan là người công chính thánh thiện. Marcô viết: “Ông che chở Người. Khi nghe ông nói, nhà vua rất phân vân nhưng lại thích nghe”. Hêrôđê chính là mẫu người yếu đuối, buông theo sự dễ dãi đến khi muốn trở lại thì đã quá trễ, không thể làm lại được nữa.
          Hêrôđê để cho mình bị thú vui nhục dục che khuất, loạn luân, rơi vào cái bẫy “mỹ nhân kế” của mẹ con bà Hêrôđiađê bày ra, rồi lỡ miệng thề thốt trong cơn say, cuối cùng để bảo vệ danh dự, ông đã phạm vào tội ác giết người vô tội. Cũng vậy, xã hội ngày hôm nay, và cách riêng mỗi người chúng ta, giữa những cám dỗ thế tục, những thú vui nơi các cuộc ăn chơi - tụ điểm múa nhảy, rồi kéo theo những hệ luỵ sau đó không còn kiểm soát được. Rồi một khi, ai đó dám cảnh tỉnh chúng ta, thì thay vì quay đầu sửa lỗi, lại tìm cách ám hại người nhắc nhở mình, thậm chí sẵn sàng ám hại người khác để bịt đầu mối và bảo vệ danh dự của mình.
          Còn bà Hêrôđiađê từng là vợ của tiểu vương Hêrôđê Philipphê (cũng là một trong ba người con của Hêrôđê Cả), do bị thánh Gioan Tẩy giả can ngăn, làm ảnh hưởng đến chuyện tư tình của mình với Hêrôđê Antipas, nuôi lòng thù hận và đã bày ra trò mỹ nhân kế của cô con gái, rồi dùng bàn tay tình nhân để hãm hại người công chính. Bà là mẫu gương sống theo sự dữ. Đã phạm tội loạn luân, lấy em chồng của mình thì chớ, lại còn căm thù ông Gioan và muốn giết ông...
          Giữa xã hội hôm nay cũng thế, nhiều người không ngại dùng nhiều thủ đoạn thậm chí còn tàn độc hơn cả Hêrôđiađê để trả thù những ai dám cản trở những cuộc tình mờ ám hay những việc làm sai trái của mình.
          Gioan Tẩy giả đã lên tiếng tố cáo bất công và sẵn sàng chết cho công lý. Trong ý nghĩa ấy, ngài là vị tiền hô của Chúa Giêsu, ngài qua đi nhưng tinh thần ngài vẫn còn sống mãi trong các môn đệ của ngài, và một cách nào đó, ngài cũng sống trong chính con người Chúa Giêsu và nơi mỗi người Kitô hữu. Từ 2000 năm qua, Giáo hội vẫn sống trong niềm xác tín đó. Chính tinh thần Gioan Tẩy giả, của các Tông đồ, của các thánh Tử đạo, đã sống mãi trong Giáo hội và trở thành dây liên kết mọi Kitô hữu. Điều này luôn được Giáo hội thể hiện qua cử chỉ hôn kính hài cốt của các thánh được đặt trên bàn thờ.
          Con người ngày nay quá say mê với danh vọng, vật chất thế gian mà sẵn sàng chà đạp lên sự thật, công lý. Chính lối sống đó đã đẩy người ta vào tình trạng sa đọa và chết chóc muôn đời. Ngược lại, nếu ta dân thấn vì Tin mừng cho đến độ có thể phải mất mạng sống mình như Gioan Tẩy Giả và các môn đệ xưa kia, thì ta sẽ được chỗi dậy với Chúa cho một đời sống mới. Nói như thánh Phanxicô Assisi: Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời!


4.2.23 Thứ Bảy tuần 4 Mùa Quanh Năm 2023
Dt 13:15-17,20-21; Tv 23:1-3,3-4,5,6; Mc 6:30-34
Tạm lánh để cầu nguyện
           Sau khi đi loan báo Tin Mừng theo lệnh truyền của Chúa Giêsu, các tông đồ trở về với niềm vui hớn hở, họ vây quanh Thầy mình và đua nhau kể thành tích đã thâu lượm được trong sứ vụ. Chắc chắn Thầy Giêsu vui lắm, nhưng Ngài đã nhìn thấy những vất vả, nhọc nhằn vẫn còn in trên khuôn mặt các đồ đệ của mình và quan trọng hơn nữa: Ngài muốn các môn sinh có thời gian nghỉ ngơi phần xác, giống như sau sáu ngày làm việc Thiên Chúa đã nghỉ ngơi. Còn về phần hồn, thì “các trò” có giờ nghiền ngẫm lại những gì Thiên Chúa đã thực hiện cho người trần qua bàn tay và tiếng nói của họ. Vì thế, Chúa mới ân cần nói: “Chính anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút”. Quả thế, kẻ lui người tới quá đông, nên các ông cũng chẳng có thì giờ ăn uống nữa.Vậy, thầy trò xuống thuyền đi lánh riêng ra một nơi hoang vắng.( Mc 6, 31- 32).
          Thậy vậy, người tông đồ thực thụ của Chúa dù ở bậc nào cũng luôn nhìn thấy sứ mạng để chu toàn. Bởi đó, họ luôn bị cám dỗ lao vào các công việc phục vụ đến nỗi không còn thời giờ chăm lo cho mình và quan trọng hơn là dành những giây phút riêng tư cho sự trợ giúp thiêng liêng của Thiên Chúa bằng cầu nguyện, xét mình, hồi tâm, đọc Lời Chúa... nếu thiếu sự trợ giúp của Thiên Chúa, chúng ta có thể ví mình như chiếc xe máy hết xăng giữa đường trường vắng vẻ. Người ta thường nói: “ Ăn cơm nhà Chúa, múa cả ngày” điều đó rất đúng, vì việc nhà Chúa lúc nào cũng có và đều mang tính “khẩn”. Chúng ta “múa” mà có Chúa múa cùng thì điệu múa đó mới đẹp, mới hay và mới có ý nghĩa; còn múa một mình, không mời Chúa giúp, thì e rằng điệu múa đó coi chừng bị rớt nhịp, trơ trụi, lúng túng và thiếu chiều sâu tâm linh.
          Các Tông Đồ Chúa, sau chặng đường dài thi hành sứ vụ Thầy trao  không tiền, không bao bị, không bánh, chỉ một tấm áo mong manh với cây gậy và con tim đầy ắp niềm vui của hành trình loan báo Tin Mừng, các ông đã trở về với Chúa, kể cho Chúa nghe “mọi việc các ông đã làm và đã giảng dạy”. Nhưng Chúa Giêsu khám phá ra sự mệt mỏi, rã rời ẩn bên dưới lớp hào quang của thành công. Vì thế, một đàng đón nhận thành quả đầy an ủi đối với các Tông đồ, đàng khác Chúa Giêsu có vẻ quan tâm đến con người hơn công việc.
          Với tình thầy trò Người bảo các môn sinh : “Các con hãy hãy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi đôi chút”, Người nhẹ nhàng kéo các ông ra khỏi “cơn say” bởi “men chiến thắng”. Sở dĩ như thế là vì Chúa sợ các môn đệ của mình nhiễm cái thói hám danh, thích khoe khoang, phô trương, quyền lực, vì theo Chúa thành công ấy là khởi điểm tốt đẹp cho chặng đường tiếp theo, chứ không làm các ông tự mãn rồi rơi vào ảo tưởng, ngủ quên trong những thành công đầu đời. Đường trước mắt mà thầy trò phải bước không phải là con đường bằng phẳng, mà đó là một con đường dài, đầy gian nan, thử thách, sức lại có giới hạn. Bởi vậy, hơn bao giờ hết, nghỉ ngơi là cần thiết, nghỉ ngơi sẽ giúp các Tông đồ tỉnh táo hồi tâm suy nghĩ và nhấtlà để Chúa bổ sức cho. Thế nên, điều Chúa nói với các Tông đồ ngày xưa, cũng là điều Chúa muốn nói với mỗi người chúng ta hôm nay.
          Một trong những cám dỗ mà bất kỳ Kitô hữu nào cũng có thể rơi vào là muốn làm nhiều điều, và khi thành công với muôn lời chúc tụng ta dễ bỏ bê tương quan với Chúa thậm trí quên Chúa luôn. Sự bận rộn và thành tích là những căn bệnh hiện đại khiến nhiều người trong chúng ta đau khổ. Nghỉ ngơi, trái ngược với sự bận rộn là một trong những điều mà Chúa muốn nơi chúng ta. Sách Giáo Lý nhắc nhở chúng ta rằng trong giờ cầu nguyện, một trong những nguy hiểm nhất là nghĩ rằng có những điều khác cấp bách hơn phải làm, thế là chúng ta chấm dứt giờ kinh nguyện và bỏ qua mối quan hệ thân tình với Thiên Chúa mà chúng ta đang có. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu nói với các môn đệ của mình, những người đã làm việc chăm chỉ, những người đang mệt mỏi và những người hạnh phúc vui cười bởi vì mọi thứ diễn ra tốt đẹp của mình rằng chúng ta phải nghỉ ngơi. Tin Mừng nói với chúng ta : "các ngài xuống thuyền, chèo tới một nơi vắng vẻ hẻo lánh" (Mc 6,33).
          Trong việc tông đồ chúng ta cũng cần phải có những thời gian nghỉ ngơi, hãy tạm quên đi những ồn ào bên ngoài để đi sâu vào tâm hồn mình, để chuyện vãn với Chúa nếu muốn hoạt động tông đồ hiệu quả! Với công việc tông đồ chồng chất nhiều khi chúng ta quên mất việc nghỉ ngơi lấy sức. Cần thinh lặng để thẩm định lại những biến cố và rà soát lại những công việc đã làm cùng lắng nghe tiếng Chúa mời gọi. Nên nhớ rằng chúng ta đang trên đường lữ hành về trời, con đường vừa hẹp vừa dốc nếu không nghỉ ngơi lấy sức thì không thể đến đích.
          Đời sống con người luôn có hai nhịp: lao động và nghỉ ngơi. Lao động chính là phúc lành cho chúng ta, giữa bộn bề cuộc sống hàng ngày, chúng ta phải làm việc, chăm sóc gia đình… Nhưng đôi khi chúng ta quá mải mê lao động mà quên đi phần tâm hồn thiêng liêng mà Chúa trao tặng cho mỗi người, rồi dần dần chúng ta sẽ rời xa Chúa, hình ảnh của Chúa trong tâm hôn chúng ta sẽ phai nhạt dần đi. Cầu nguyện là hơi thở của linh hồn. Như khí trời cần cho con người, người Kitô hữu cũng cần phải cầu nguyện.
          Các học trò của Chúa Giêsu đang làm việc lành phước đức thành công như thế, tại sao Chúa Giêsu bắt các ông phải lánh riêng vào nơi hoang vắng? Chúa Giêsu sau một ngày hoạt động đã chẳng lui vào nơi thanh vắng mà cầu nguyện cùng Chúa Cha sao? Hẳn là Thầy Giêsu cũng muốn các học trò theo sát mẫu gương của Thầy, cùng cầu nguyện với Thầy. Bởi vì có cầu nguyện, kết hiệp với Chúa mới lắng nghe và biết được ý Ngài. Có biết ý muốn của Chúa mới có thể hành động theo ý Ngài.
          Cầu nguyện giúp ta sống khiêm nhường và nhận ra mình là kẻ tội lỗi. Nhờ cầu nguyện ta được ban sức mạnh để chiến đấu với tội lỗi và nhờ đó chúng ta có thể chiến thắng tội lỗi. Nhờ cầu nguyện ta có được nguồn trợ lực thiêng liêng giúp ta yêu Chúa và phục vụ anh em một cách chân thành.

Chúa Nhật 4 TN – A-2020

Mt 5, 1-12a

ĐƯỜNG NÊN THÁNH

            Bài Giảng trên núi diễn tả Tin Mừng về Nước Trời: đề tài Nước Trời là một trong những điểm nhấn mạnh của Bài Giảng. Ngay ở câu đầu của Bài Giảng, ta đã được đặt trong quan hệ với Nước Trời, với Mối Phúc đầu tiên. Bài “Huấn giáo” này (tức Bài Giảng trên núi) là một phần nối dài của kêrygma về Nước Thiên Chúa. Bài Giảng trên núi bắt đầu với 8 Mối Phúc. Các Mối Phúc này xác định chiều hướng hoạt động của Chúa Giêsu.

            Sứ điệp của các Mối Phúc trước tiên là một sứ điệp về Thiên Chúa. Đây là điều Chúa Giêsu nhắm khi loan báo lúc bắt đầu sứ vụ công khai: “Anh em hãy hối cải, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4,17). Sứ mạng của Chúa Giêsu là giúp các thính giả nhận biết vị Thiên Chúa chân thật và quay về với Ngài.

            Chúa Giêsu cho các thính giả hiểu rằng niềm vui của họ sẽ trọn vẹn và vô biên, nếu nó phát xuất từ hành động nhân ái của Thiên Chúa. Khi đó con người sẽ cảm thấy mình được đáp ứng đúng bản tính của mình, ngoài mọi ước mơ và toan tính. Khi đó sẽ biến mất mọi chán nản mệt nhọc, sẽ không còn có cuộc sống vô ý nghĩa và thất vọng, sẽ không có tình trạng buông xuôi và cay đắng, đau thương và mất mát, khổ sở và buồn phiền. Khi đó chỉ còn có hạnh phúc, sự hài hòa chan chứa và sự đồng tâm vô điều kiện, niềm hân hoan vô bờ và niềm vui sướng dạt dào.

            Và ta thấy niềm hạnh phúc này không do con ngươi tạo ra và không chấm dứt trong nỗi chán chường thất vọng. Niềm hạnh phúc này cũng không dựa trên ảo vọng và không biến mất khi phải đối diện với thực tại. Đây là niềm hạnh phúc chân thật, vì phát xuất từ Thiên Chúa.

            Các mối phúc là con đường nên thánh. Con đường này chính Đức Kitô đã đi và mỗi chúng ta cùng đi. Làm thế nào để đạt được phần thưởng Nước Trời? Nước Trời không phải là một thực tại trừu tượng, nhưng cụ thể nơi Đức Giêsu khi Người hiện diện và hoạt động: rao giảng như một Đấng có uy quyền, chữa lành mọi bệnh tật và xua trừ ma quỷ. Nước Trời là một tình trạng hạnh phúc của những người tin vào Chúa.

            Mỗi Mối Phúc có ba phần. Phần đầu là lời công bố Mối Phúc. Phần hai nói về người được đón nhận Mối Phúc. Và phần ba là nền tảng của Mối Phúc (= Mối Phúc ấy dựa trên điều gì?). Nền tảng này luôn luôn là một hành động của Thiên Chúa, được khẳng định vững vàng và được đoan hứa chắc chắn. Còn người được hưởng Mối Phúc chính là những người thực hiện một cách sống hay một thái độ được quy định trong Mối Phúc. Họ được tuyên bố là “phúc thay”, bởi vì hành động kia của Thiên Chúa chắc chắn được dành cho họ.

            Chúa Giêsu không diễn tả các Mối Phúc theo kiểu tình cờ. Người trình bày nền tảng cụ thể của mỗi Mối Phúc. Như chúng ta đã nói, phần thứ ba của mỗi Mối Phúc nói về hành động của Thiên Chúa. Mối Phúc đầu tiên và Mối Phúc thứ tám có cùng một nền tảng: “vì Nước Trời là của họ”. Matthew nói về Nước Thiên Chúa chỉ trong một vài đoạn; thông thường tác giả dùng thành ngữ “Nước Trời” là kiểu nói của người Do Thái thời đó. “Nước Thiên Chúa” và “Nước Trời” có ý nghĩa như nhau: không có nghĩa là một lãnh thổ hay một nơi chốn, mà là quyền chúa tể của Thiên Chúa được tỏ bày ra trực tiếp rõ ràng.

            Vậy “Nước Trời là của họ” có nghĩa là Thiên Chúa với quyền chúa tể là của họ; đây không phải là quyền thống trị của một bạo chúa, mà là hành động quan phòng nhân hậu của một vị Mục tử. Người sẽ chứng tỏ rằng Vương quyền của Người vượt trên mọi thế lực hiện đang thống trị. Những ai sống theo lời Chúa Giêsu dạy sẽ thuộc về Người, còn Người, đầy quyền năng và nhân ái, Người sẽ là của họ. Mối Phúc hoàn toàn dựa trên sự hiện diện trong uy quyền và nhân ái của Thiên Chúa. Chính vì thế thành ngữ “Nước Trời” được nói đến ở Mối Phúc đầu và Mối Phúc cuối như một lời mở và kết luận, và có giá trị cho tất cả các Mối Phúc khác

            Qua Bài Giảng Trên Núi, Chúa Giêsu mời chúng ta hãy có tâm hồn hiền lành, nghèo khó, nghĩa là hoàn toàn tín thác vào một mình Thiên Chúa, có lòng khao khát sự công chính, chỉ mong làm trọn thánh ý người. Trong tương quan vơi tha nhân, Chúa Giêsu mời chúng ta có lòng thương xót, biết đau nỗi đau của người khác, có tâm hồn trong sạch nhất là sống ngay thẳng chân thành, có tinh thần xây dựng hòa bình và công bằng xã hội, nghĩa là chăm lo phát triển toàn diện con người và mọi người. Khi sống các mối phúc trên là chấp nhận mối phúc bị bách hại vì Chúa và vì Tin Mừng.

            Mỗi Mối Phúc có một ý nghĩa và một tầm mức riêng, nhưng kết hợp với nhau như các yếu tố của một bản giao hưởng, làm nên chương trình sống cho người Kitô hữu. Như những ánh đèn tỏa sáng và hướng dẫn trong đêm tối, các Mối Phúc là những nẻo đường hy vọng cho nhân loại.

            Chúa Giêsu đã loan báo hạnh phúc trọn vẹn và niềm vui hoàn hảo tám lần liên tục; tám lần không có nghĩa là tám lần lặp đi lặp lại, mà là “sự đầy đủ hoàn toàn”. Như vậy, Chúa Giêsu không bắt đầu sứ vụ của Người bằng một giáo huấn hay bằng một lệnh truyền, nhưng đơn giản, bằng sứ điệp về “Hạnh phúc trọn hảo”.

            Con đường đạt được phần thưởng Nước Trời là con đường Bát Phúc, là con đường yêu thương. Nên thánh là đáp trả lời mời gọi yêu thương, là để cho tình yêu chi phối toàn bộ cuộc sống, là sống hết tình cho Thiên Chúa và tha nhân. Càng yêu thương, càng phục vụ, chúng ta càng nên giống Chúa nhiều hơn: “Anh em hãy yêu thương nhau như thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34).

            Con đường nên thánh không khó. Vì nên thánh chỉ đơn giản là làm theo ý Chúa. Ý Chúa dạy chúng ta phải trung thành với bổn phận. Ý Chúa dạy chúng ta đừng để danh lợi thú sai khiến mình làm hại tha nhân. Ý Chúa bảo chúng ta đón nhận mọi sự với niềm tín thác nơi Chúa. Ý Chúa mời gọi chúng ta vui sống với phận mình. Và chắc chắn nên thánh luôn là con đường hoàn thiện mình trên con đường của tám mối phúc, của một lối sống để cho ý Chúa luôn thể hiện trong cuộc đời của mình.

Huệ Minh

THỨ HAI TUẦN 4 THƯỜNG NIÊN, 2020

Mc 5, 1-20

TIN ĐỂ THẮNG MA QUỶ

            Thế gian, ma quỷ và xác thịt là ba kẻ thù lớn nhất ngăn cản người Ki-tô hữu chúng ta trên con đường tiến lên hoàn trọn như Cha của chúng ta là Đấng hoàn trọn. Bộ ba kẻ thù này luôn rảo quanh, rình rập và tìm mọi cơ hội để kéo chúng ta xa khỏi tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa. Chúng bất chấp, không vị nể bất cứ ai, dù người đó là thánh thiện, dù người đó đạo đức, dù người đó là bậc tu hành hay dù người đó có lý chí vững vàng... chúng cũng không buông tha.

            Bộ ba kẻ thù này như ma lực trực chờ ta sơ hở kéo ta sa vào đường tội lỗi. Vậy làm thế nào để người Kitô hữu có thể tự giải thoát mình khỏi những sự kìm kẹp này? Không gì khác hơn là tin vào sức mạnh, quyền năng và lòng xót thương của Thiên Chúa. Đồng thời chúng ta khiêm nhường thống hối, trung thành với lời cầu nguyện và năng lãnh nhận Bí Tích Giao Hòa.

            Với trang Tin Mừng hôm nay, ta thấy một trong những chi tiết khá lạ lẫm đó là khi dân ngoại vùng Ghêrasa chứng kiến việc Chúa trừ đám thần ô uế ra khỏi anh thanh niên mà chúng ám và cho chúng nhập vào bày heo mà lao xuống vực, thì lập tức dân chúng nài xin Chúa đi ra khỏi vùng đất của họ.

            Một số nhà chú giải cho rằng vì họ sợ rằng nếu Chúa còn tiếp tục ở lại trong vùng thì tuy rằng thần ô uế không còn hoành hành trong vùng, nhưng họ thiệt hại nặng về mặt kinh tế, lợi nhuận. Một số nhà chú giải khác thì cho rằng do quyền năng của Chúa quá lớn lao mà dân ngoại chưa từng chứng kiến,nên họ quá kinh hãi mà xin Chúa đi ra khỏi vùng đất của họ.

            Thế nhưng rồi ta thấy sau khi dẹp yên bão tố ở biển hồ Tibêria, Chúa Giêsu cùng các môn đệ trực chỉ sang miền Gêsara, là một thành phố dân ngoại thuộc miền thập tỉnh Gêsara nằm về hướng Tây Nam biển hồ có núi đồi mấp mô chạy dài tới biển Địa Trung Hải.

            Chúa vừa bước chân lên đất liền, thì gặp ngay một người bị quỉ ám, thân mình trần trụi (Lc 8, 27), sống chui rúc ở các mồ mả, tiến ra (c.2). Hắn khỏe vô địch, xiềng xích sắt gông cùm hắn bẻ gẫy như củi khô (c.3-4). Hắn lấy đá rạch nát mình mẩy và tru trếu nghe dễ sợ mà không ai trị nổi. Cũng vì vậy mà ít ai dám qua lại vùng này.

            Thế mà hôm nay Chúa Giêsu đến đó. Ngay từ đàng xa đã thấy Chúa, người bị ám xông tới như gặp một con mồi. Nhưng đến nơi hắn lại quì sụp xuống van xin “Xin đừng làm khổ tôi” (c.27) “và Chúa truyền cho thần ô uế ra khỏi người ấy” (Lc 8, 29).

            Hoàn cảnh của người bị quỷ ám xứ Ghêrasa là cực kỳ bi đát. Quỷ ô uế làm cho anh ra thân tàn ma dại: anh lang thang nơi mồ mả; anh hung dữ đến độ xiềng xích anh cũng bẻ gãy; anh “tru tréo và lấy đá rạch mình”. Thế  nhưng, Chúa đã dùng quyền năng giải cứu anh khỏi ách thống trị của quỷ.

            Ai có cảm nghiệm được nỗi thống khổ của anh thì mới hiểu được niềm hạnh phúc của anh khi được giải thoát. Và nhất là hiểu niềm tri ân sâu xa của anh muốn đi theo Ngài để đền ơn cứu mạng. Thế mà lạ thay, Chúa lại nói anh trở về với thân quyến, nhưng lần này trở về như một con người mới và với sứ mạng loan báo cho người thân của mình biết quyền năng Chúa và lòng thương xót của Ngài.

            Ở lại trong một người vẫn còn sướng hơn về hỏa ngục. Nói khác đi, con được một thân chủ là hỏa ngục còn rộng hơn được một chút. Ma quỉ biết rằng Chúa đến tiêu diệt uy lực của chúng, uy quyền mà chúng có từ khi Adong, Evà phạm tội. Nay Chúa đến, chúng dần dần mất chủ quyền mà trở về nơi khóc lóc khổ sở...

            Khi Chúa phán hỏi: “Tên ngươi là gì?” (c.9) thì người đó nói “Tên tôi là cơ binh” (c.9). Cơ binh là một đạo quân La Mã thời ấy có khoảng 6826 người lính. Điều này muốn nói lên rằng thần dữ ở trong người xấu số rất là đông đảo, và cũng nói lên rằng ngoài satan, còn vô số quỉ thần khác nữa. Cho nên, khi nhập vào nạn nhân là chúng làm chủ trí khôn tình cảm, lý chí, nạn nhân sẽ không làm chủ mình được nữa.

            Ta thấy kẻ bị ám có sức mạnh phi thường dù gông cùm xích sắt cũng vô ích, đá sỏi rạch nát mình mà không đau đớn. Một người thường không thể làm như thế. Khi được lệnh xuất ra chúng còn xin được nhập vào bầy heo đang ăn ở sườn núi (c.11), rồi chạy xồng xộc xuống biển chết ngộp lối hai ngàn con (c.13). Đấy còn là sức mạnh của ma quỉ. Chúng ta còn thấy được sức mạnh đó không. Ma quỉ thường thổi phồng trong tội trọng của điều răn thứ V, VI, VII, VIII...

            Hành động đi bước trước của Chúa Giêsu đem lại hai thái độ đáp trả hoàn toàn khác nhau. Nếu như chàng thanh niên được giải thoát khỏi ma quỷ, anh muốn được ở với Người (x. Mc 5, 18) hay anh mạnh dạn ra đi rao truyền tất cả những gì mà Người đã làm cho anh (x. Mc 5, 20). Trái lại, đám đông dân chúng khi biết Đức Giê-su thực thi, giải thoát cho anh, họ lại “đuổi khéo” Người. Thay vì được chứng kiến một phép lạ cả thể như thế, họ sẽ hân hoan vui mừng mời Ngài ở lại với họ. Nhưng tất cả là không, họ đã quen thuộc với những việc làm của chàng thanh niên, những hành động kỳ quái của ma quỷ.

            Thay vì phải khước từ quyền lực của quỷ ma, dân làng lại chối từ Đấng có sức mạnh trên ma quỷ (Mc 5,17). Hai thái độ, hai hành vi đáp trả hoàn toàn trái ngược. Chàng thanh niên được giải thoát khỏi ma quỷ đã thành tâm, khiêm tốn đón nhận lòng xót thương và thực sự đã trở nên chứng nhân của lòng thương xót (Mc 5, 20). Đám đông, dân làng khép mình, đóng cửa và trốn chạy khỏi Đấng xót thương.

            Dù vì lý do nào chăng nữa, thì rõ ràng dân vùng đất Ghêrasa chưa đón nhận Chúa; họ muốn ở lại trong tình trạng bình thường của họ dẫu biết rằng tình trạng đó còn tăm tối, mê muội.

            Qua trang bài Tin mừng hôm nay, biết đâu đấy có những lúc trong cuộc sống của bạn và tôi, chúng ta muốn được an ổn theo lẽ thế gian mà không muốn đón nhận Chúa. Chẳng hạn, vì sợ ảnh hưởng đến tương lai, sự nghiệp mà không ít người tín hữu trong chúng ta ngày nay không dám tuyên xưng mình là kẻ có đạo.

            Trên con đường nhân đức tiến về quê hương Nước Trời, đôi khi chúng ta cũng mang tâm tưởng của đám đông. Chúng ta bám víu, níu kéo những thực tại trần gian như quyền lực, lợi lộc, danh vọng... mà không dám mạnh dạn nói không với “ba thù” để rồi đời sống đức tin của người con cái Chúa bị chao đảo, khủng hoảng khi phải đối diện với những nghịch cảnh, bệnh tật, đâu khổ, khó khăn và tội lỗi...

            Ước mong sao chúng ta luôn biết năng nhận Bí Tích Giao Hòa để lắng nghe và đón nhận lòng nhân từ từ nơi Cha Nhân Lành để rồi mạnh dạn ra đi, rao truyền về tình thương và lòng nhân hậu của Thiên Chúa cho anh chị em đang sống xung quanh chúng ta. 

huệ Minh

THỨ BA TUẦN 4 THƯỜNG NIÊN, 2020

Mc 5, 21-43

ĐỪNG SỢ ! TIN THÔI

            Chúa Giêsu là Đấng cứu độ trần gian mà Thiên Chúa Cha ban cho trần gian để giải thoát họ khỏi xiềng xích của tử thần. Ai tin vào ngài sẽ được ơn cứu thoát khỏi tội lỗi, sự chết, được thông ban sự sống và sống dồi dào. Trình thuật Tin mừng hôm nay là bằng chứng cho thấy sức mạnh của lòng tin vào Chúa Giêsu – một sức mạnh có thể làm cho kẻ chết chỗi dậy và sự sống được phục hồi.

            Thiên Chúa không để con người phải chết, Ngài vẫn sẵn sàng ban cho con người sự sống đời đời, nếu con người biết quay về với Ngài. Thiên Chúa đã cho Chúa Giêsu nhập thể để dạy, để hướng dẫn, để chỉ cho con người phương cách tìm lại sự sống trường tồn. Đó là: chỉ cần tin thôi, hay vì “lòng tin của con đã chữa con”. Chúa Giêsu nói câu đó không chỉ cho người phụ nữ bị băng huyết mà con nói cho chúng ta. Quả thật, nhờ tin mà chúng ta được chữa lành khỏi bệnh tật; nhờ tin thì dù có chết cũng được sống lại.

            Chúa Giêsu tiên báo trước: chính Người sẽ chiến thắng cái chết bằng sự Chết và Phục Sinh của Người. Chúa Giêsu tiên báo điều đó để chúng ta tin vào Người, để chúng ta trông đợi ngày được sống lại với Người và nhất là, để chúng ta biết từ bỏ những cám dỗ, những điều trái luật Thiên Chúa, những điều gây ra sự chết. Đó chính là niềm Tin của chúng ta, niềm tin giúp chúng ta phục hồi lại sự trường tồn mà Thiên Chúa đã hứa ban cho.

            Và ta thấy hay nói theo kiểu của Chúa Giêsu: chỉ cần có đức tin bằng hạt cải thôi, anh em có thể chuyển núi dời non (Mt 21, 21). Suy gẫm đoạn Tin mừng, chúng ta hãy tự cật vấn lòng tin của mình vào Chúa Giêsu Ki-tô, xét lại thái độ sống đức tin của mình, đồng thời xin ơn đức tin để có thể đứng vững trong một thế giới hướng chiều về vật chất và đang chịu sự kiềm tỏa của bóng tối tử thần.

            Trang Tin mừng hôm nay nói đến hai người nữ được Chúa Giê-su chữa lành và cứu sống: một là người phụ nữ bị băng huyết 12 năm, một là cô bé đã chết 12 tuổi. Người phụ nữ xuất huyết 12 năm được ơn chữa lành do lòng tin mãnh liệt của bà; cô bé đã chết 12 tuổi được Chúa cứu sống do sự vững tin của người cha. Có một mối liên kết giữa những người nữ được nói tới ở đây với Israel – con số 12 chẳng phải là biểu tượng cho 12 chi tộc Israel đó sao.

            Mở đầu đoạn tin mừng là việc người cha đến xin Chúa Giêsu cứu chữa cho cô con gái 12 tuổi sắp chết của ông; đoạn giữa là sự kiện người bà bị xuất huyết đã 12 năm tìm cách đến gần sờ đụng vào Chúa Giêsu để được cứu chữa: Đối với người Do Thái, máu huyết là chất thiêng, biểu hiện cho sự sống - người đàn bà bị xuất huyết lâu dài tức là sự sống đang rời bỏ bà và bà lâm vào tình trạng rất nguy kịch (vì các thầy lang đã bó tay mà bà thì cũng đã tán gia bại sản bởi căn bệnh) - tuy nhiên nhờ lòng tin mãnh liệt vào Chúa Giê-su mà bà đã được chữa lành; đoạn cuối là việc Chúa Giêsu cứu sống cô bé 12 tuổi nhờ lòng tin của người cha.

            Mặt khác, để quyền năng Chúa được thể hiện và phép lạ xảy ra, chúng ta thấy tất cả những nhân vật chính trong trình thuật đều vượt qua những rào cản của luật lệ: Người đàn bà loạn huyết theo luật Do Thái không được đến gần tiếp xúc với ai vì có thể làm cho đối tượng mình tiếp xúc ra nhơ uế (Lv 15, 19-27), vậy mà bà lại dám cả gan chen chúc vào giữa đám đông theo Chúa Giêsu để động chạm vào áo của Người – bà đã vi phạm luật. Còn ông Giaia khi chứng kiến và biết Chúa Giêsu đã bị nhơ uế do người phụ nữ kia mà vẫn để cho Người đến nhà mình để cứu chữa cho con gái thì ông cũng là kẻ vi phạm luật lệ và nhà ông bị nhơ uế.

            Về phía Chúa Giêsu, Ngài dường như không quan tâm đến việc mình bị mắc uế hay không mắc uế, Ngài chỉ quan tâm đến con người và những nỗi thống khổ của họ. Cho nên, bất chấp những luật lệ khô cứng, phép lạ sống động đã xảy ra. Như vậy, đoạn Tin mừng cho thấy Chúa Giêsu là nguồn mạch sự sống và mời gọi con người tin vào Ngài để có được sự sống đích thực và khỏi chết muôn đời.

            Qua đó, trình thuật cũng diễn tả cho thấy Israel đang trong tình trạng nguy khốn; sự sống niềm tin của họ đã bị xơ cứng và đang chết dần mòn bởi những vỏ bọc luật lệ vô hồn, lắm khi trở thành bất nhân. Họ cần tin vào Chúa Giêsu để được giải thoát khỏi ách nặng nề của lề luật và có được cách thế sống niềm tin tràn đầy niềm vui và tình yêu như Thiên Chúa mong muốn.

            Giáo hội luôn luôn mời gọi con cái mình, những Kitô hữu xét lại niềm tin cũng như cách thế sống đức tin của mình một cách tích cực và cấp thiết hơn trong một thế giới mà các giá trị sự sống thánh thiêng dần bị đánh mất và các giá trị luân lý đang bị suy đồi, đồng thời chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa hưởng thụ, chủ nghĩa duy lợi nhuận vật chất đang được đề cao và tôn vinh lên thành ‘thượng đế’.

            Chúng ta là những người yếu tin nhưng cũng là những người ích kỷ. Cho dù Đức Tin của mình còn yếu kém, nhưng chúng ta chưa biết củng cố Đức Tin cho nhau; chúng ta chưa biết khuyến khích nhau đón nhận Ơn Chúa ban để chính Ngài củng cố Đức Tin cho mình và cho người khác. Chúng ta sống trong sự ích kỷ, vì chúng ta chỉ nghĩ đến Đức Tin của bản thân mình, để mình được Ơn Phần Rỗi, được hưởng sự sống đời đời. Chúa Giêsu dạy chúng ta phải biết củng cố Đức Tin cho nhau, để tất cả chúng ta đều có được sự trường tồn mà Thiên Chúa đã ban cho.

            Vì vậy, nếu khi phải lựa chọn, bạn đặt quan trọng một dịch vụ làm ăn hơn là Thánh lễ, một đám tiệc hơn là Thánh Thể, một cuộc vui chơi hơn là những việc tông đồ bác ái, công ích…là bạn đang sống theo chủ nghĩa duy vật chất - bạn đang đánh mất niềm tin của mình.

            Khi đời sống bạn lâm vào tình trạng khổ đau thử thách (nghèo đói, tật bệnh, gia đình có nguy cơ tan vỡ…) hoặc có những vấn đề nan giải, bạn suy sụp tuyệt vọng, chạy tìm sự khôn ngoan thế tục hơn là các giá trị giá trị tin mừng, cậy dựa vào các thế lực tăm tối của sa tan (tiền bạc, bói toán, đồng bóng…) hơn là cậy trông vào Chúa thì đó là dấu hiệu niềm tin của bạn đã chết. Thiên Chúa là Đấng có thể cứu bạn, bạn hãy tha thiết chạy đến với Người để xin ơn đức tin, xin Người cứu chữa khỏi tình trạng khốn khổ của mình.

            “Đừng sợ, chỉ cần tin thôi!” (c. 36) lời của Chúa Giêsu nói với ông Giairô cũng là thông điệp Người nhắn gửi mỗi người chúng ta. Sống trong một thế giới đa tạp, niềm tin đang dãy chết, các giá trị giả - thật, thật – giả nhiễu nhương khó phân biệt, chúng ta cần cầu nguyện rất nhiều, cần cắm neo cuộc đời mình trong lòng bàn tay Chúa, trong tình thương xót của Chúa.

            Đức tin là một hồng ân Thiên Chúa ban tặng cho những ai khao khát kêu xin Người. Do đó, bạn đừng ngần ngại xin ơn đức tin và hãy kiên trì, kiên vững trong lòng tin. Bởi vì trong cuộc sống chúng ta chỉ cần tin Chúa, can đảm bước đi theo lời chỉ bảo, hướng dẫn của Người, chúng ta sẽ không bao giờ sợ lầm đường lạc lối, và Chúa sẽ thực hiện những điều lạ lùng, diệu kỳ trên cuộc đời của chúng ta.

 

THỨ TƯ TUẦN 4 THƯỜNG NIÊN, 2020

Mc 6, 1-6

ĐỪNG KHINH THƯỜNG NGƯỜI KHÁC

            Trong xã hội hôm nay, có rất nhiều người nổi tiếng ở nhiều lĩnh vực như văn hóa nghệ thuật, chính trị xã hội,… Tuy nhiên, không phải ai cũng được cộng đồng đón nhận một cách tuyệt đối tin tưởng mà trước đó lại không có vài câu hỏi được đặt ra: Sao người này lại được nổi tiếng nhanh như vậy? Có phải là người ấy không? Không dừng lại đó mà có thể có hàng trăm thắc mắc khác nữa.

            Từ thuở tạo thành, Kinh Thánh đã cho ta thấy nỗi đau, sự nghiệt ngã do lòng người cao ngạo gây ra: Tổ tông loài người đã cao ngạo đến mức không thể hiểu nổi. Được làm người hạnh phúc, tự do, và thấm đẫm tình yêu Thiên Chúa đã là một ân phúc tuyệt vời, vậy mà tổ tông đã không coi đó làm đủ, lại dám nuôi một giấc mộng tầm cỡ thiên đàng: đòi bằng Thiên Chúa, Đấng mà mình phải phát xuất từ đó. Tổ tông không ngờ giấc mộng của mình lại chính là ảo vọng và tội lỗi.

            Bởi cao ngạo quá đỗi, tổ tông đã kéo theo những mất mát cũng lớn không kém: mất Thiên Chúa. Bằng chứng là tổ tông đã tìm cách trốn Thiên Chúa. Mất cả tương quan với đồng loại. Mới ngày nào Ađam còn reo to vui mừng khi được Eva làm bạn: “Đây xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi”. Nhưng sau khi phạm tội, tình nghĩa thắm thiết đã không còn. Nguyên tổ bắt đầu đổ lỗi cho nhau: “Người đàn bà Chúa ban cho con đã hại con”. Và trong tội, nguyên tổ đã đánh mất chính mình, trở thành những kẻ vong thân, sống trong lầm lũi, sợ hãi và tủi nhục.

            Và hôm nay, một lần nữa, Tin Mừng lại cho thấy người đương thời của Chúa Giêsu, cụ thể là chính đồng hương của Chúa đã sai lầm vì cao ngạo.

            Khởi đi từ cái lý lịch ấy, làm cho họ, thay vì được nhiều ơn lành từ Chúa Giêsu, thì ngược lại, họ đánh mất tất cả. “Người đã không làm phép lạ nào được”. Có Thiên Chúa ở với mình, nhưng không biết đón nhận, vì thế, họ đã đánh mất cả Thiên Chúa: Không những không thể làm phép lạ, Chúa Giêsu còn bỏ ra đi. Người “qua các làng chung quanh mà giảng dạy”. Khi cố tình đẩy Chúa Giêsu ra khỏi cuộc đời mình, những người đồng hương của Chúa đã làm tổn thương mối liên hệ với Chúa Giêsu xét như một con người: tổn thương mối tương quan giữa người với người.

            Sau một thời gian đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng Nước Trời, Chúa Giêsu đã về thăm quê hương là làng Nagiarét. Dân làng ngạc nhiên trước lời giảng khôn ngoan và thán phục trước các phép lạ Người làm ở khắp nơi. Nhưng họ lại đặt nghi vấn về thân thế dòng dõi của Người và không tin Người có thể là Đấng Thiên Sai. vì họ cứng lòng tin nên Chúa Giêsu đã không làm nhiều phép lạ tại đó.

            Có lẽ đây là lần đầu tiên Chúa Giêsu trở về Nagiarét sau khi đi thi hành sứ mạng công khai. Nagiarét là cái nôi của thời thơ ấu, thời niên thiếu của Chúa Giêsu. Nơi ấy có gia đình, bà con, thân bằng quyến thuộc, bạn bè, quê hương, nên khi Chúa Giêsu trở về nhà họ biết ngay. Trong số họ có người đã từng thấy Chúa Giêsu được mẹ ẵm bế, như bao nhiêu trẻ em khác. Con cái họ và Chúa Giêsu đều học chung một lớp, cùng chơi và cười đùa với nhau. Cùng thảo luận những bài học về cái cửa, cái xà. Chúa Giêsu đã từng cầm cưa, bào, đục, và nhất là nói giọng nói miền quê Nagiarét trong suốt bấy nhiêu năm trời.

            Lần trở về này nhằm ngày Sabát, Chúa vào hội đường, dân làng đón tiếp Chúa rất vui vẻ. Tại đây, Chúa bắt đầu giảng dạy : "Nhiều thính giả sửng sốt về giáo lý của Người, nên nói rằng : "Bởi đâu ông này được như vậy? Sao ông được khôn ngoan như vậy? Bởi đâu tay Người làm được những sự lạ thể ấy?" (Mc 6, 2). 

            Nói xong bỗng nhiên thái độ của họ đổi hẳn vì những cái đã biết về Người. Sự gần gũi, thân thiện gia đình, tình làng nghĩa xóm ấy làm cho họ ngạc nhiên. Từ ngạc nhiên bởi sự khôn ngoan và lời nói thốt ra từ miệng Người, cũng như các phép lạ Người làm tại Galilê sang từ chối, khiến họ không nhận ra Chúa Giêsu Con Thiên Chúa làm người ở giữa làng họ và họ "vấp phạm vì Người" (Mc 6, 3).

            Hoàn cảnh của Chúa Giêsu hôm nay cũng bị dân làng Nazaret hoài nghi về Chúa và họ cũng đặt hàng loạt câu hỏi: “Bởi đâu ông này được như vậy? Sao ông được khôn ngoan như vậy?” Quả thật, họ ngạc nhiên, hoài nghi cũng là phải lẽ bởi chưng họ biết rõ nguồn gốc của Chúa Giêsu từ đâu mà đến, khi họ nhìn bằng con mắt của người phàm: “Ông này chẳng phải bác thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao? Chị em ông không ở với chúng ta đây sao?” 

            Họ hoài nghi, ngạc nhiên bởi trong thời gian sống chung với Chúa Giêsu họ chỉ nhìn thấy Ngài như bao thanh niên ở làng Nazaret mà thôi. Nhưng hôm nay, là một con người mới hoàn toàn được thể hiện nơi Chúa Giêsu và “họ vấp phạm vì Người”.

            Qua những việc kỳ diệu Chúa làm, người ta bộc lộ bản chất thật của mình là sự ghen tương, khinh dể: “Bởi đâu tay Người làm được những sự lạ thể ấy”. Họ không thể chấp nhận được một con người quá đỗi khôn ngoan đang đứng trước họ. Bởi thế Chúa Giêsu nói: “Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương”. Vì lòng tin của họ đã ra chai đá, họ ước vọng một Đấng Mesia sẽ đến trong vinh quang chứ không phải là một bác thợ mộc nghèo hèn và không có một chút gì gọi là danh giá trong xã hội.

            Như thế, khi chúng ta nhìn vào chính mình, nhìn vào thực tại xã hội hôm nay nhiều người đang cố chấp, đang chối bỏ niềm tin của mình và cũng có lúc chính chúng ta như những người Do Thái xưa, chỉ vì ghen tức mà đặt câu hỏi: “Bởi đâu ông này được như vậy.”

            Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên không là gì khác, đó chính là sự kiêu ngạo của những người đồng hương.

            Tại sao vậy? Thưa, sự kiêu ngạo đã là đó ngáng chỗ và lòng kiêu căng đã chiếm mất chỗ của Chúa trong cuộc đời của họ.

            Trước thái độ trên, Chúa Giêsu đã tuyên bố một câu mà muôn đời vẫn giữ nguyên giá trị: đó là: “Tiên tri không bao giờ được tôn trọng trên chính quê hương mình”.

            Quả vậy, vì, xét theo lẽ tự nhiên, một con người dù tài giỏi đến đâu, làm việc hiệu quả thế nào, và thành đạt trên nhiều lãnh vực hay nhiều nơi đi nữa, thì khi trở về gia đình, quê hương, họ luôn bị chính những người thân cận, làng xóm coi ở mức độ “thường thường bậc chung” vì lối suy nghĩ thiển cận, nên: “Gần chùa gọi bụt bằng anh”. Điều này Chúa Giêsu đã trải qua khi Ngài trở về quê hương của mình!

            Nhưng sự coi thường đáng tiếc này đã khiến cho ơn cứu độ của Thiên Chúa vuột mất khỏi họ, và suốt bao thế kỷ, họ vẫn đang chờ đợi một Đấng Kitô khác chứ không phải Đức Giêsu, Đấng đã hiện diện giữa họ cách đây hơn 2.000 năm.

            Chúa Giêsu đến mặc khải Thiên Chúa là Cha yêu thương và Người là Con Thiên Chúa thì họ đã kết án Người là kẻ phạm thượng, là kẻ bị quỷ ám và điên khùng. Người đến đem bình an, chân lý và thiết lập nước Trời thì bị mang tiếng là xách động quần chúng và là kẻ cầm đầu phản loạn. Cuối cùng, các đầu mục dân Do thái đã ra tay bắt bớ và kết án tử hình cho Chúa Giêsu rồi còn làm áp lực đòi Tổng Trấn Philatô kết án tử hình thập giá cho Người.

            Ngoài thành kiến thì sự cứng lòng là nguyên nhân khiến người ta cố chấp không muốn nhìn, không muốn nghe, không muốn tin… như Tin Mừng ghi nhận: “Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ Isaia, rằng: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy; vì lòng dân này đã ra chai đá: chúng đã bịt tai nhắm mắt, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành (Mt 13,13-15).

            Xin Chúa giúp chúng ta đủ khôn ngoan nhận ra giá trị lớn lao của nhau, để có thái độ tôn trọng và tri ân. Xin Chúa ban cho chúng ta một tâm hồn rộng mở và giàu lòng quảng đại để chúng ta đón nhận nhau trong yêu thương, và nhất là biết đối xử tốt với nhau khi còn đang sống bên nhau, đừng để thời gian trôi qua trong sự tiếc nuối xót xa…, vì mình đã không một lần đối xử tốt với những người thân yêu mà nay đã không còn.

 

THỨ NĂM TUẦN 4 THƯỜNG NIÊN, NĂM 2020

Mc 6, 7-13

NGHÈO KHÓ KIỂU TIN MỪNG

            Khi sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu cũng nhắn nhủ và căn dặn các ông rất kỹ lưỡng. Nhưng có một điều khá lạ thường, thay vì trang bị cho các môn đệ những vật dụng tùy thân để phòng hộ, Chúa Giêsu lại khuyến mời các ông từ bỏ tất cả, ngay cả giầy dép, áo quần, gậy gộc hoặc tiền bạc. Điều duy nhất các ông mang theo nơi mình, là năng quyền trừ quỷ nhân danh Chúa Giêsu. Điều này xem ra khá nghịch thường, nhưng đó lại là một mệnh lệnh, một đòi hỏi bắt buộc. Trang Tin Mừng hôm nay phác vẽ chân dung đích thật của người môn đệ và đây cũng là sứ điệp Chúa muốn nhắn gửi đến mọi người chúng ta hôm nay.

            Ta thấy, Chúa Giêsu rất quan tâm đến tinh thần của người môn đệ. Một trong những điều mà Ngài quan tâm hơn cả, đó là tinh thần nghèo khó của người được sai đi. Tinh thần nghèo khó có nghĩa là chỉ gắn bó với sự giàu có của Thiên Chúa mà thôi. Vì thế, Ngài đã không gọi những người giàu có, tài ba lỗi lạc, mà đa phần là những người nghèo, tội lỗi để loan báo Tin Mừng. Có thế, Chúa Giêsu muốn cho các ông hiểu rằng: hành trang các ông mang theo trên đường truyền giáo là trái tim, sự khiêm nhường và lòng phó thác.

            Chúa dặn dò các môn đệ : “Anh em không được mang gì đi đường chỉ trừ cây gậy. Không được mang lương thực bao bị hay tiền bạc giắt lưng, được đi dép nhưng không được mặc hai áo” (Mc 6, 8-9 ). Sống nghèo khó triệt để là một mệnh lệnh. Đó cũng là điều kiện tiên quyết để trở thành môn đệ Chúa Giêsu và để phục vụ cho vương quốc Nước Trời. Nghèo khó là mối phúc đầu tiên trong tám mối phúc mà Chúa Giêsu công bố trong bài giảng trên núi. Chúa cũng nói với chàng thanh niên: “Nếu anh muốn nên trọn lành, hãy về bán hết của cải anh có và bố thí cho người nghèo, rồi đến theo Ta” (Mc 10, 21).

            Khi chỉ thị cho các môn đệ: “không được mang gì khi đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo”, Chúa Giêsu muốn các ông sống trong cảnh nghèo khó để hoàn toàn tin tưởng phó thác vào Chúa. Tiền của, tiện nghi vật chất dễ tạo ra một thứ an tâm giả tạo, dẫn con người đến chỗ tự mãn, tự kiêu, tự phụ cho rằng mọi thành công là nhờ tài sức riêng mình.

            Vì thế, dễ tha hoá, làm theo ý mình hơn là làm theo ý Chúa, sắp đặt chương trình cho Chúa hơn là tìm thực hiện chương trình của Chúa. Nghèo khó sẽ giúp người môn đệ ý thức sự nghèo nàn thiếu thốn, sự yếu ớt của mình, ý thức đó sẽ giúp người môn đệ biết khiêm nhường, tin tưởng phó thác cho Chúa. Tôi chỉ là hư vô, là cát bụi. Mọi thành công đều của Chúa, nhờ Chúa. Những thành công do tài sức con người sẽ mau tàn. Chỉ có công trình của Chúa mới bền vững. Vì thế đơn sơ phó thác là một hành trang rất cần thiết cho người môn đệ. Không mang theo gì của loài người, chỉ mang theo niềm tin yêu phó thác vào Thiên Chúa, đó chính là mang theo tất cả.

            Tinh thần nghèo khó Chúa nói ở đây hệ tại ở thái độ nội tâm, không dính bén của cải vật chất để toàn tâm phục vụ cho ơn cứu độ và trở nên sứ giả cho việc rao giảng Tin Mừng. Chắc chắn Chúa Giêsu không cổ súy cho một lối sống bần cùng, túng quẫn đến độ làm tha hóa con người và khiến chúng ta dễ rơi vào tình trạng đánh mất phẩm giá của chính mình. Trong ba năm rao giảng, Chúa vẫn nhờ vả sự giúp đỡ của những phụ nữ giàu có. Ngài cũng chọn một trong các học trò của mình làm người quản lý tài sản. Chúa vẫn lui tới dùng bữa với những người giàu có như Giakêu.

            Tất cả vì Tin Mừng nên tiền bạc cũng chẳng màng tới. Và nhờ vậy mà tránh được biết bao nhiêu phiền toái tiền bạc có thể gây ra. Không tham lam, không thu gom, không cất giữ, đỡ phải mệt mỏi ôm đống tiền trong lòng, đỡ phải phí phạm chẳng đáng gì. Hơn nữa, trong xã hội Đông Phương thời đó, thì khi không mang tiền bạc trên mình, sẽ tránh được sự trấn lột của kẻ cướp qua đường.

            Để tổ chức bữa tiệc ly và thiết lập Bí Tích Thánh thể, Ngài cũng mượn ngôi nhà của một người giàu sang trong vùng. Sự giàu có mà Chúa kết án ở đây là thái độ thượng tôn tiền bạc một cách hẹp hòi ích kỷ đến mức độ Chúa phải nói một cách thẳng thừng: “Người giàu vào Nước Trời khó biết bao. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào được Nước Trời” (Mt 19,23). Người thanh niên giầu có khi đến gặp Chúa, được Chúa nhìn với đôi mắt thiện cảm vì anh ta tuân thủ lề luật rất nghiêm túc. Chúa nói với anh ta rằng, anh chỉ thiếu mỗi một điều là hãy về cho đi mọi của cải anh có.

            Cái thiếu nơi người thanh niên ấy, là anh ta đã không biết cho đi, vẫn bám vào của cải và đặt tiền bạc lên trên hết. Chúng ta cũng nhớ lại dụ ngôn người phú hộ giàu có và chàng Lazarô nghèo kiết xác (Lc 16, 19-31). Anh chàng phú hộ này chẳng có tội tình gì. Anh ta đâu có ăn trộm ăn cắp của ai. Anh ta cũng không giận ghét hay oán thù người nào. Nhưng anh ta bị kết án trầm luân trong hỏa ngục chỉ vì mỗi một tội duy nhất, đó là anh ta mang nơi mình một con tim ích kỷ và keo kiệt, luôn rửng rưng và vô cảm trước sự khốn khổ của người khác.

            Một triết gia đã nói : “Chỉ có loài vật mới dã tâm ngoảnh mặt lại trước nỗi đau của đồng loại để chăm chút cho bộ lông mượt mà của nó, còn con người thì không.” Nghèo khó của Tin mừng mà Chúa muốn nói tới, luôn gắn liền với lòng quảng đại, biết cảm thông, biết hiến dâng và trao ban. 

            Lời Chúa hôm nay muốn chúng ta ý thức về sứ mạng tiên tri. Kẻ Người chọn không có khả năng tự nhiên. Chính Người trao Lời của Người cho kẻ ấy. Nhà tiên tri đến nói thay cho Người; và như vậy chỉ là phát ngôn viên của Người. Sứ điệp tiên tri có mục đích đưa người ta trở về giao ước, nối lại sự hiệp thông mà tội lỗi đã phá hủy khi dựng nên những tham vọng bất chính. Lời nói đạo đức ấy không vừa tai nhiều người. Bị xua đuổi, bắt giữ, giết chết là số phận của hầu hết các tiên tri chân chính; đang khi những kẻ tuyên sấm chiều theo sở thích của người đời lại thường được bảo hộ. Nhưng như lời Phaolô nói sau này: tiên tri của Chúa có thể bị cầm giữ nhưng Lời Chúa chẳng bao giờ xích lại. Môn đồ của Amos đã ghi lại lời sấm của ông. Sứ điệp này được loan qua các thời đại và ảnh hưởng của nhà tiên tri luôn mạnh mẽ.

            Tinh thần của người loan báo tin mừng là trở nên tự do hoàn toàn với mọi thứ. Mọi thứ đều trở thành thứ yếu. Chỉ có Tin Mừng, Nước Thiên Chúa và ơn cứu rỗi cho mọi người là tất cả. Không có gì hơn cả. Cả quần áo, cả tiền bạc, cả lương thực, cả balô. Vâng, nói theo tinh thần của thánh Inhaxio, thì người môn đệ của Chúa cần phải trở nên bình tâm và tự do hoàn toàn, để luôn sống theo thánh ý Chúa, và luôn ao ước được trở nên nghèo khó như Đức Kitô,

            Ngày nay để thi hành sứ mạng vương đế ấy, Chúa Giêsu bảo các tông đồ phải có hành trang nhẹ. Họ không được đem gì đi đàng; không bánh, không bị, không tiền. Ðược cầm gậy, được mang hai áo. Ðến đâu, họ cứ vào nhà ai tiếp rước họ và ở đấy cho đến lúc ra đi. Chỗ nào không đón tiếp thì họ hãy đi khỏi nơi ấy, rũ bụi chân để làm chứng trước mặt chúng.

 

THỨ SÁU TUẦN 4 THƯỜNG NIÊN, 2020

Mc 6, 14-29

THUỐC ĐẮNG DÃ TẬT - SỰ THẬT ... MẤT ĐẦU

            Người ta thường nói sự thật thì mất lòng. Sự thật là chuyện rất khó nói bởi vì nó chỉ đem lại cho chúng ta những phiền toái, mích lòng nhau. Trong trường hợp của Gioan tẩy giả thì tệ hại hơn … Ông nói ra sự thật về tội loạn luân của nhà vua Hêrôđê : chiếm đoạt vợ của anh mình là Hêrôđiađê, nên ông Gioan tẩy giả đã bị thiệt thân. Lương tâm của vị ngôn sứ đã thúc đẩy Gioan lên tiếng can ngăn và tố cáo những hành vi sai trái của nhà vua, kêu gọi nhà vua hãy trở về nẻo chính đường ngay. Vì thế Gioan tẩy giả đã bị vua chém đầu, bị chết vì công lý.

            Chân lý là sự thật. Chân lý đến từ Thiên Chúa và đã được mạc khải cho con  người. Chân lý có trong Phúc âm của Chúa Giêsu. Hiểu Chân lý Chúa, mỗi người Kitô hữu hãy cố gắng sống và làm chứng cho chân lý trong đời sống hằng ngày.

            Và rồi ta thấy trình thuật Tin mừng thứ Sáu tuần IV thường niên hôm nay nhắc đến cái chết của Gioan Tẩy Giả. Có vẻ như thánh sử Máccô không lôgic lắm khi đang trình bày sứ vụ công khai của Chúa Giêsu cùng với việc Ngài tuyển chọn và sai các môn đệ đi loan báo Tin mừng Nước Thiên Chúa, thì bất ngờ ở đây lại nhắc đến việc Gioan Tẩy Giả bị chém đầu.

            Gioan Tẩy Giả là nạn nhân của bất công. Có bất công khi người ta đặt chính trị lên trên những giá trị khác của cuộc sống, như tinh thần và niềm tin; có bất công khi người ta hành động theo bản năng hơn là theo tinh thần. Vua Hêrôđê lẫn nàng Hêrôđia đều đã hành động theo lối ấy. Hêrôđia sống bất chấp luân thường đạo lý, còn Hêrôđê thì cho dù vẫn sáng suốt để phân biệt được điều ngay với lẽ trái, nhưng lại chọn sống theo bản năng hơn là lý trí.

            Hêrôđê nói: “Ðó chính là Gioan trẫm đã chặt đầu, nay sống lại”. Vì chính vua Hêrôđê đã sai bắt Gioan và giam ông trong ngục, nguyên do tại Hêrôđia, vợ của Philipphê anh vua mà vua đã cưới lấy. Vì Gioan đã bảo Hêrôđê: “Nhà vua không được phép chiếm lấy vợ anh mình.” (Mc 6, 16)

            Gioan đã bị trảm quyết vì đã dám lên tiếng tố cáo cuộc sống vô luân của vua Hêrôđê, là người đã bỏ vợ để lấy vợ của anh cùng cha khác mẹ của mình. Mang trong mình sứ mệnh răn bảo, sửa dạy, và kêu mời dân chúng hoán cải, từ bỏ lối sống tội lỗi để trở về đường ngay nẻo chính, Gioan không thể làm ngơ trước cuộc sống vô luân có thể ảnh hưởng đến đời sống tinh thần và luân lý của toàn dân. Khi tố cáo cuộc sống tội lỗi của Hêrôđê, Gioan không chỉ tố cáo tội lỗi của một cá nhân, mà còn cảnh cáo giới lãnh đạo thời đó đã vì địa vị, danh vọng, mà để mặc cho bất công ngự trị, tung hoành.

            Cái chết của Gioan Tẩy Giả là có dụng ý của thánh sử. Số mạng củaGioan Tẩy Giả báo trước số mạng của Chúa Giêsu cũng như định mệnh các môn đệ của Ngài. Con đường làm chứng cho Tin mừng Nước Thiên Chúa là con đường chông gai, đau khổ, thậm chí phải đánh đổi bằng cả mạng sống.

            Thánh Gioan đã chu toàn sứ mạng của mình cách trọn hảo. Ngài đã dám sống và dám đánh đổi ngay cả mạng sống mình để trung thành với sứ mạng làm chứng cho sự thật dù phải thiệt thân. Dung mạo của Gioan loan báo trước dung mạo của Chúa Giêsu, đến nỗi khi Chúa Giêsu đến vua Hêrôđê tưởng rằng ông đã sống lại. Ước gì đây là khuôn vàng thước ngọc cho người Kitô hữu chúng ta trong cuộc sống hiện tại để dám sống và trung thành bảo vệ chân lý Tin Mừng như Gioan dù có thể bị oán ghét, thiệt thòi.

            Gioan Tẩy Giả đã lên tiếng tố cáo bất công và sẵn sàng chết cho công lý. Trong ý nghĩa ấy, ngài là vị tiền hô của Chúa Giêsu, ngài qua đi nhưng tinh thần ngài vẫn sống mãi trong các môn đệ của ngài, và một cách nào đó, ngài cũng sống trong chính con người Chúa Giêsu và nơi mỗi người Kitô hữu.

            Và ta thấy từ hơn 2000 năm qua, Giáo Hội vẫn sống trong niềm xác tín đó. Chính tinh thần của Gioan Tẩy Giả, của các Tông Ðồ, của các Thánh Tử Ðạo, đã sống mãi trong Giáo Hội và trở thành giây liên kết mọi Kitô hữu. Ðiều này luôn được Giáo Hội thể hiện qua cử chỉ hôn kính hài cốt các thánh được đặt trên bàn thờ.

            Hêrôđê là một con người tha hóa, nhu nhược. Bà Hêrôđia là một con người thời cơ lợi dụng, âm mưu và tội lỗi. Con gái bà Hêrôđia là người không có phán đoán, sống theo hưởng thụ và sẵn sàng cộng tác vào những điều bất chính. Tất cả những cách sống của những nhân vật như: Đức Giêsu, Gioan Tẩy giả, Hêrôđê, bà Hêrôđia và con gái bà, chúng ta có thể thấy rất nhiều trong môi trường ngày nay, và đôi khi cũng là chính khuân mặt của chúng ta.

            Con người ngày nay quá say mê với danh vọng, vật chất thế gian mà sẵn sàng chà đạp lên sự thật, công lý. Chính lối sống đó đã đẩy người ta vào tình trạng sa đọa và chết chóc muôn đời. Ngược lại, nếu ta dân thấn vì Tin mừng cho đến độ có thể phải mất mạng sống mình như Gioan Tẩy Giả và các môn đệ xưa kia, thì ta sẽ được chỗi dậy với Chúa cho một đời sống mới. Nói như thánh Phanxicô Assisi: Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời!

            Và nhất là ta hãy để cho chân lý của Phúc âm đi sâu vào tâm hồn và đời sống gia đình. Gia đình chúng ta hãy siêng năng đọc sống và sống Lời Chúa dạy, sống hòa thuận yêu thương nhau, mọi người biết tôn trọng nhau, phục vụ nhau, sống chân thành với nhau, và biết từ bỏ những thái độ xấu của bản thân, chẳng hạn như sống giả dối, lường gạt, làm ăn phi pháp, …

            Sống và làm chứng cho Phúc âm không chỉ mang lại ơn ích cho gia đình, mà còn mang lại nhiều lợi ích cho các gia đình xung quanh, qua đời sống bác ái yêu thương của mỗi gia đình.

 

thứ bảy tuần 4 thường niên, 2020

Mc 6, 30-34

TRỞ VỀ VỚI CÕI LẶNG

            Con người hôm nay đang phải đối diện với các loại ô nhiễm, trong đó có ô nhiễm tiếng ồn của các phương tiện giao thông, của máy móc công nghiệp, hay những âm thanh của truyền hình, chuông điện thoại… Ở những nơi giải trí thì sự ồn ào lại đáng kể hơn bởi âm nhạc với các loại loa phóng thanh cực mạnh. Sự ồn ào quen thuộc ấy một mặt “tra tấn” con người, mặt khác khiến họ xa lạ với bầu khí thinh lặng vốn rất cần thiết để nghỉ ngơi, để trở về với chính mình.

            Đời sống con người luôn có hai nhịp: lao động và nghỉ ngơi. Lao động chính là phúc lành cho chúng ta, giữa bộn bề cuộc sống hàng ngày, chúng ta phải làm việc, chăm sóc gia đình… Nhưng đôi khi chúng ta quá mải mê lao động mà quên đi phần tâm hồn thiêng liêng mà Chúa trao tặng cho mỗi người, rồi dần dần chúng ta sẽ rời xa Chúa, hình ảnh của Chúa trong tâm hôn chúng ta sẽ phai nhạt dần đi. Cầu nguyện là hơi thở của linh hồn. Như khí trời cần cho con người, người Kitô hữu cũng cần phải cầu nguyện.

            Ta thấy Chúa khuyên các môn đệ lui ra nơi thanh vắng để nghỉ ngơi, không chỉ về phần xác nhưng cả về đàng thiêng liêng. Sự nghỉ ngơi giúp các ông lấy lại sức mạnh thể lý đã tiêu hao nhưng quan trọng hơn, sự kết hiệp với Chúa trong thinh lặng giúp các ông tìm lại sự quân bình và kín múc nguồn sức mạnh của ơn thánh làm công tác tông đồ sinh hoa kết quả. Như thế, hoạt động và nghỉ ngơi, cầu nguyện là hai nhịp không thể tách rời nhau trong đời sống của người môn đệ.

            Thường ta thấy tâm trạng người tông đồ thực thụ của Chúa dù ở bậc nào cũng luôn nhìn thấy sứ mạng của mình và cố gắng để chu toàn. Bởi đó, họ luôn bị cám dỗ lao vào các công việc phục vụ đến nỗi không còn thời giờ chăm lo cho mình và quan trọng hơn là dành những giây phút riêng tư cho sự trợ giúp thiêng liêng của Thiên Chúa bằng cầu nguyện, xét mình, hồi tâm, đọc Lời Chúa... nếu thiếu sự trợ giúp của Thiên Chúa, chúng ta có thể ví mình như chiếc xe máy hết xăng giữa đường trường vắng vẻ.

            Và ta nghe người ta thường nói: “Ăn cơm nhà Chúa, múa cả ngày” điều đó rất đúng, vì việc nhà Chúa lúc nào cũng có và đều mang tính “khẩn”. Chúng ta “múa” mà có Chúa múa cùng thì điệu múa đó mới đẹp, mới hay và mới có ý nghĩa; còn múa một mình, không mời Chúa giúp, thì e rằng điệu múa đó coi chừng bị rớt nhịp, trơ trụi, lúng túng và thiếu chiều sâu tâm linh.

            Cạnh đó, ta thấy một trong những cám dỗ mà bất kỳ Kitô hữu nào cũng có thể rơi vào là muốn làm nhiều điều, và khi thành công với muôn lời chúc tụng ta dễ bỏ bê tương quan với Chúa thậm trí quên Chúa luôn. Sự bận rộn và thành tích là những căn bệnh hiện đại khiến nhiều người trong chúng ta đau khổ. Nghỉ ngơi, trái ngược với sự bận rộn là một trong những điều mà Chúa muốn nơi chúng ta.

            Sách Giáo Lý nhắc nhở chúng ta rằng trong giờ cầu nguyện, một trong những nguy hiểm nhất là nghĩ rằng có những điều khác cấp bách hơn phải làm, thế là chúng ta chấm dứt giờ kinh nguyện và bỏ qua mối quan hệ thân tình với Thiên Chúa mà chúng ta đang có. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu nói với các môn đệ của mình, những người đã làm việc chăm chỉ, những người đang mệt mỏi và những người hạnh phúc vui cười bởi vì mọi thứ diễn ra tốt đẹp của mình rằng chúng ta phải nghỉ ngơi. Tin Mừng nói với chúng ta : "các ngài xuống thuyền, chèo tới một nơi vắng vẻ hẻo lánh" (Mc 6, 33)

            Với tình thầy trò Người bảo các môn sinh : “Các con hãy hãy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi đôi chút”, Người nhẹ nhàng kéo các ông ra khỏi “cơn say” bởi “men chiến thắng”. Sở dĩ như thế là vì Chúa sợ các môn đệ của mình nhiễm cái thói hám danh, thích khoe khoang, phô trương, quyền lực, vì theo Chúa thành công ấy là khởi điểm tốt đẹp cho chặng đường tiếp theo, chứ không làm các ông tự mãn rồi rơi vào ảo tưởng, ngủ quên trong những thành công đầu đời. Đường trước mắt mà thầy trò phải bước không phải là con đường bằng phẳng, mà đó là một con đường dài, đầy gian nan, thử thách, sức lại có giới hạn. Bởi vậy, hơn bao giờ hết, nghỉ ngơi là cần thiết, nghỉ ngơi sẽ giúp các Tông đồ tỉnh táo hồi tâm suy nghĩ và nhấtlà để Chúa bổ sức cho. Thế nên, điều Chúa nói với các Tông đồ ngày xưa, cũng là điều Chúa muốn nói với mỗi người chúng ta hôm nay.

            Sức mạnh của chúng ta là nghỉ ngơi trong Chúa. Trong sự thinh lặng và cậy trông! Chúng ta có thể thấy tầm quan trọng trong việc dành thời gian thinh lặng trong đời sống của Chúa Giêsu. Người thức dậy rất sớm và đi vào nơi thanh vắng một mình cầu nguyện (Mc 1, 35). Người cần thời gian tĩnh nguyện với Thiên Chúa Cha. Đương nhiên, chúng ta cần thời gian đó! Chúng ta không cần phải lấp đầy thời gian biểu của mình với hàng trăm hoạt động làm cho chúng ta bận rộn. Chỉ trong thinh lặng và ở với Chúa chúng ta mới tìm được sức mạnh trong các hoạt động của mình.

            Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người hãy trở về với lòng mình trong cõi thinh lặng: “Các con hãy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một chút” (Mc 6, 31). Sự trở về không phải chỉ quay lại nơi xuất phát nhưng là trở về lòng mình trong thinh lặng thẳm sâu để nơi đó ta được nghỉ ngơi bên Chúa, tìm gặp và kín múc nguồn ân sủng làm sức mạnh cho cuộc hành trình.

            Cuộc sống chúng ta rất cần những giây phút lắng đọng riêng tư để đối thoại nội tâm với Thiên Chúa, với chính mình, để có thể đọc và hiểu quá khứ, hiện tại và tương lai đời mình. Những ngày cuối năm là thời gian thuận tiện nhất để chúng ta canh tân cuộc sống mình. Khi dám trở về bên Chúa trong thinh lặng chúng ta sẽ lắng nghe được tiếng thì thầm của Thiên Chúa, khám phá ra lòng thương xót của Ngài đang bao phủ ta.

            Cuộc sống hôm nay cuốn hút chúng ta vào những công việc, những hoạt động không ngừng đến độ chúng ta không còn thời gian nghỉ ngơi và thiếu những khoảng không tĩnh lặng để gặp gỡ nhau và gặp gỡ Chúa. Vì thế, chúng ta dễ trở nên căng thẳng, mệt mỏi và kiệt sức, ngay cả khi dấn thân hoạt động tông đồ. Ước chi mỗi kitô hữu chúng ta biết ghi nhớ và áp dụng lời dạy của Chúa Giêsu để tìm thấy sự quân bình cần thiết trong làm việc và nghỉ ngơi, cho nhu cầu thể xác và linh hồn của mình.  

Huệ Minh

February 17, 2023