Suy Niệm của Huệ Minh

Chúa nhật tuần 5 thường niên, năm A

+++

Chúa Nhật 5 TN – A-2020

Mt 5, 13-16

ÁNH SÁNG CHO TRẦN GIAN

            Trang Tin Mừng này tiếp theo bài giảng về Tám Mối Phúc Thật, nhằm nói lên bản chất và sứ mệnh của người môn đệ trong xã hội trần thế. Bản chất việc tông đồ của họ là muối mặn ướp cho đời khỏi hư hỏng và là ánh sáng soi đường cho thế gian. Họ có sứ mệnh loan truyền Tin Mừng của Chúa đến cho mọi người. Để chu toàn được sứ mệnh khó khăn này thì người môn đệ của Chúa phải trở thành thứ muối có chất mặn và là cây đèn có thể cháy sáng và được đặt lên đế đèn cao để soi sáng mọi vật trong nhà. Nghĩa là họ phải sống tinh thần Tám Mối Phúc Thật của Chúa Giê-su, để nhờ nếp sống tốt lành trổi vượt này, người đời sẽ được cảm hóa và đón nhận Tin Mừng do họ rao giảng.

            Trong thực tế, khi nói đến muối thì ta thấy muối trở thành thứ không thể thiếu trong các món ăn, làm cho món ăn trở nên đậm đà. Muối còn được dùng để bảo quản các thức ăn, giúp chúng khỏi bị hư thối. Nên khi đánh mất vị mặn thì muối sẽ trở thành vô dụng, chỉ còn việc quăng ra ngoài đường cho người ta chà đạp thôi (Mt 5, 13). Thêm vào đó, hạt muối hiện diện cách ầm thầm đến nỗi khi nhìn vào các món ăn người ta chẳng để ý đến nó. Chúa Giêsu mời gọi bạn tôi hãy trở nên những hạt muối cho đời.

            Qua bí tích rửa tội chúng ta được xoá bỏ mọi tội lỗi, tháp nhập vào thân thể mầu nhiệm của Giáo Hội, trở thành con cái Thiên Chúa, và mang trong mình vị mặn của Thầy Giêsu. Vị mặn giúp ta làm cho nơi cho mình sống mỗi ngày một thêm đậm đà tình Chúa, mặn nồng tình người. Vị mặn giúp bảo vệ thế giới khỏi các hiểm hoạ của chiến tranh, khủng bố. Và như hạt muối hiện diện cách âm thầm nhưng thật hữu dụng, người Kitô hữu cũng được mời gọi hiện diện cách khiêm hạ trong yêu thương và phục vụ. Không khoe mình trong các lời quảng cáo hoành tráng, nhưng quên mình trong các hoạt động bác ái từ thiện. Nhưng tiếc thay, nhiều lúc bạn và tôi đã để cho hạt muối đời mình trở nên nhạt nhẽo. Vì quá bận tâm lo lắng sự đời, để cho bả phù vân danh vọng, tiền tài lôi kéo.

            May thay, không như hạt muối vật lý đã nhạt đi thì chẳng có gì muối cho mặn lại, còn hạt muối Kitô hữu sẽ ướp mặn với Thầy Giêsu. Vậy ngay hôm nay bạn và tôi hãy đến bên Giêsu trong thánh lễ, trong các giờ kinh nguyện để làm mặn lại hạt muối đời mình. Có như thế, đời Kitô hữu mới trở nên hữu dụng cho mọi người và ngay sau hết không bị quăng ra ngoài.

            Chúa Giêsu cũng khẳng định: “Chính anh em là muối cho đời, là ánh sáng cho trần gian”.

            Ngày nay ma quỷ cũng đang bao phủ xã hội bằng bóng tối gian dối, hận thù, bất công, các tệ nạn xã hội cờ bạc hút xách, phim ảnh đồi truỵ… Tuy nhiều nước đã tốn bao công sức tiền bạc để chống lại các tệ nạn nói trên… nhưng đến nay kết quả vẫn như muối bỏ biển. Tuy nhiên có một phương thế hữu hiệu có thể giúp chiến thắng bóng tối tội lỗi nói trên là Lời Chúa với ơn phù trợ của Thánh Thần. Chúng ta hãy năng nghe đọc và cầu nguyện để sống Lời Chúa trong phụng vụ tại nhà thờ và trong Giờ Kinh Tối gia đình hằng ngày. Nếu mọi tín hữu đều ý thức tầm quan trọng và giá trị của Lời Chúa, thì gia đình, khu xóm và môi trường sống của chúng ta sẽ không còn tệ nạn, hận thù, ganh ghét và “Trời Mới Đất Mới” công bình nhân ái sẽ xuất hiện.

            Lời Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay cho thấy sứ mạng của người tín hữu cũng giống như muối. Muối chỉ có giá trị khi tan ra và thấm nhập làm cho đồ ăn khỏi bị hư hỏng như câu : “Cá không ăn muối cá ươn”, hoặc làm cho các món ăn thêm đậm đà ngon miệng để tránh tình trạng “nhạt nhẽo vô vị”. Vị mặn là bản chất của muối. Nếu muối không còn vị mặn thì sẽ không còn là muối nữa và sẽ bị quăng ra đường cho người ta chà đạp. Cũng vậy, một khi người tín hữu đã mất phẩm chất là lòng nhân ái, thì họ không còn giá trị và sẽ bị người đời khinh dể.

            Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy trở nên “Ánh Sáng và Muối Đất”. Đó cũng là lệnh Đức Giêsu truyền cho chúng ta: Một khi đã lắng nghe, suy niệm và sống Lời Chúa, thì bấy giờ chúng ta sẽ trở thành nguồn sáng, giúp tha nhân nhìn thấy Chúa Giê-su đang hiện thân qua lời nói và cách ứng xử của chúng ta. Nhờ đó họ sẽ tôn vinh Thiên Chúa trên trời là Cha chúng ta.

            Muối và đèn soi vốn là những hình ảnh gợi lên cho chúng ta cái tư thế thiểu số của Giáo Hội trong trần thế, nhưng lại mời gọi chúng ta xác tín về sứ mệnh vô cùng to tát của Giáo Hội. Bằng mọi giá, Giáo Hội phải ướp mặn thế giới, phải chiếu soi trần gian bằng chính chân lý cao cả mà Chúa Giêsu đã mạc khải và ủy thác cho mình. Cả vận mệnh nhân loại tùy thuộc sứ mệnh của Giáo Hội, do đó không có lý do nào cho phép Giáo Hội xao lãng sứ mệnh ấy. Thánh Phaolô đã nói lên sự khẩn thiết của sứ mệnh ấy như sau: "Gặp thời thuận tiện hay không thuận tiện, cũng phải luôn luôn rao giảng Tin Mừng của Chúa".

            Các tín hữu tiên khởi đã xác tín rằng chính cuộc sống bác ái yêu thương của họ đã là muối và ánh sáng cho nhiều người. Những tiến bộ về khoa học, văn hóa, kinh tế và ngay cả chính trị tại Âu Châu thời Trung Cổ quả là thể hiện vai trò muối và ánh sáng của Giáo Hội. Không ai có thể vai trò hạt nhân về phát triển của các Tu viện Công giáo. Văn minh Tây phương, dù muốn hay không, vẫn là văn minh Kitô giáo. Những giá trị tinh thần mà nhân loại đạt được ngày nay, như tự do, dân chủ, nhân quyền, đều là những giá trị xuất phát từ Kitô giáo. Qua những giá trị tinh thần ấy, chúng ta có thể nói rằng muối của Giáo Hội đã ướp được phần lớn trái đất, ánh sáng của Giáo Hội đã chiếu soi vào những góc tối tăm của tâm hồn.

            Chúa dạy ta phải trở thành muối mặn và chiếu ánh sáng giúp người đời nhận biết ca ngợi Chúa. Trong thực tế, ta xin Chúa giúp cho ta biết khuyên can bạn bè bằng lời nói chân tình phù hợp với hòan cảnh và khả năng của chúng con. Xin cho ta luôn quên mình yêu thương phục vụ những người nghèo khổ bệnh tật, để nên muối men cho đời, trở thành ánh sáng chiếu soi trần gian. Xin cho các bậc cha mẹ biết nêu gương sáng công chính, hòa thuận, khiêm tốn và đạo đức khi phải giáo dục đức tin cho con cái. Xin Chúa giúp ta biết quên mình phục vụ những người nghèo hèn bệnh tật và bị bỏ rơi… Vì họ chính là hiện thân của Chúa.

            Giáo Hội là muối và ánh sáng thế gian. Mỗi Kitô hữu tự bản chất cũng là muối và ánh sáng của thế gian. Họ sẽ đánh mất bản chất mặn của muối và tia sáng của ánh sáng, nếu chỉ vì một chút lợi lộc vật chất, một chút dễ dãi, mà họ thỏa hiệp với những gì đi ngược chân lý của Chúa Giêsu. Một cách cụ thể, người Kitô hữu sẽ không còn là muối và ánh sáng, nếu theo dòng chảy của xã hội, họ cũng lọc lừa, móc ngoặc, dối trá.

Huệ Minh

7.2.23 Thứ Ba tuần 5 Mùa Quanh Năm 2023
St 1:20; St 2:4; Tv 8:4-5,6-7,8-9; Mc 7:1-13
Đừng giả hình
          Dân này thờ kính Ta bằng môi bằng miệng. Đoạn Tin Mừng sáng hôm nay kể lại cuộc xung đột giữa Chúa Giêsu và bọn biệt phái. Họ là những kẻ bới lông tìm vết, vạch lá tìm sâu, để bắt lỗi Chúa Giêsu. Thế nhưng mưu toan ấy đã bị thấ bại, và chính Chúa Giêsu cũng đã có lần thách thức họ: Các ngươi cứ việc bắt bẻ xem Ta lỗi phạm điều chi. Thất bại với Chúa Giêsu, họ quay sang hạch sách các môn đệ: Tại sao các môn đệ của ông lại không tuân giữ tập tục của cha ông. Dùng bữa mà không rửa tay. Thế nhưng Chúa Giêsu đã lên tiếng quở trách họ: Hỡi bọn giả hình, tiên tri Isaia đã nói thật chí lý về các ngươi như sau: Dân này thờ kính Ta bằng môi bằng miệng, nhưng lòng họ thì xa Ta.
          Đọc lại Tin Mừng chúng ta thấy Chúa Giêsu đã tỏ ra rất nhân từ và khoan dung đối với các tội nhân, nhưng Ngài lại tỏ ra nghiêm khắc với bọn biệt phái và luật sĩ. Nhiều lần Ngài đã lên tiếng trách cứ họ nặng lời. Tại sao thế? Tôi xin thưa vì họ là những kẻ kiêu căng và tự phụ, bôi bác và giả hình. Khắt khe với người khác mà lại rộng rãi với chính mình. Nói tới giả hình là chúng ta nghĩ ngay đến sự gian tham tà ý, khẩu phật tâm xà, miệng nam mô bụng bồ dao găm. Tư tưởng không đi đôi với lời nói và lời nói không đi đôi với việc làm. Ngôn hành không có hợp nhất. Nói một đàng làm một nẻo. Vì thế Chúa đã nghiêm khắc kết án: Khốn cho các ngươi hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình, các ngươi giống như mồ mả, bên ngoài thì quét vôi đẹp đẽ, nhưng bên trong thì đầy giòi bọ cùng mọi thứ xú uế.
          Nói tới kẻ giả hình, chúng ta nghĩ ngay tới những kẻ kính Chúa bằng môi bằng miệng nhưng cõi lòng họ thì lại xa lìa Chúa. Họ tuân giữ cặn kẽ những tập tục của cha ông mà quên đi những giới luật của Chúa. Họ chỉ lo giữ gìn tiếng tăm trước mặt người đời, mà không lo giữ gìn tâm hồn khỏi mọi vết nhơ của tội lỗi trước mặt Thiên Chúa. Họ bấu víu vào những hình thức đạo đức bên ngoài như đọc kinh, xưng tội, rước lễ, rước kiệu, dâng hoa… nhưng trong cuộc sống ngoài xã hội, thì lại tỏ ra gian tham độc ác với những người chung quanh. Đúng như Chúa Giêsu đã diễn tả họ kinh kệ dài dòng nhưng lại nuốt trửng gia tài của các bà goá. Họ lo lau chìu chén đĩa bên ngoài, mà không lo gìn giữ tâm hồn mình trong trắng.
          Nguyên nhân chính yếu khiến họ trở nên đáng trách, đó là vì họ thiếu vắng lòng mến chân thành, dù họ có làm gì chăng nữa, thì những hành động của họ cũng chẳng có được một chút giá trị và đến một lúc nào đó, chiếc mặt nạ đạo đức rơi xuống, khiến họ chỉ còn là những kẻ giả dối, bôi bác mà thôi.
          Một trong những đặc trưng của kỹ thuật hiện đại là kỹ thuật làm đồ giả. Chân giả, tay giả, tóc giả, lông mi giả, hoa giả, trái cây giả…. Những thứ giả ấy đi vào cả những sinh hoạt thiêng liêng như mâm ngũ quả, hoa nến nhang đèn đều giả… Mức độ “giả” còn tinh vi nên lắm khi cái giả xem ra còn đẹp hơn cái thật, khó mà phân biệt được thực hư, tốt xấu. Nhưng tệ nhất vẫn là thứ “Giả nhân giả nghĩa”, thứ “giả hình” mà Chúa đã nặng lời khiển trách (Mt 23,13-29). Thánh Gioan đã lật tẩy: “Ai nói rằng mình biết Thiên Chúa mà không tuân giữ các điều răn của Người, đó là kẻ nói dối” (1Ga 2,4); “Ai bảo mình yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối. Vì ai không yêu người anh em mà mình trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (Ga 4,20).
          Cõi lòng hay thế giới nội tâm làm cho con người nên cao cả nhưng nó cũng làm nên sự bi đát. Cao cả và bi đát đan xen trong lòng người như ánh sáng và bóng tối.
          Chúa Giêsu nhấn mạnh sự thanh tẩy từ bên trong. Người chẳng phản đối chuyện rửa tay. Người chỉ phê bình thói hình thức bên ngoài. Điều quan trọng là rửa cõi lòng. Cái ô uế thực sự đáng sợ không đến từ việc đụng chạm hay ăn uống mà nó lại nằm trong lòng người. Nó không từ ngoài vào mà từ bên trong ra.
          Đối với Chúa Giêsu, yếu tố quan trọng để xác định giá trị đạo đức hay luân lý là trạng thái nội tâm chứ không phải những việc làm bên ngoài. Ý hướng bên trong là yếu tố quyết định việc làm bên ngoài có gía trị hay không. Đức Giêsu luôn sống tình thương với mọi người, luôn “chạnh lòng thương”.Tình thương chính là sự thánh thiện. Tình thương là thanh sạch. Đấng Thánh hôm nay có tên gọi là Tình Thương.Tình thương là chia sẽ, là hiệp nhất. Sự thánh thiện của Đức Giêsu luôn rộng mở lan toả hương thơm tình thương, thanh sạch.
          Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa cho mỗi người biết hành động bằng con tim chân thật, để chúng ta biết tôn thờ Chúa không chỉ bằng môi miệng, nhưng bằng cả con tim biết yêu thương mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta.

8.2.23 Thứ Tư tuần 5 Mùa Quanh Năm 2023
St 2:5-9,15-17; Tv 104:1-2,27-28,29-30; Mc 7:14-23
CÁI BÊN TRONG VÀ CÁI BÊN NGOÀI
          Sau những tranh luận khá gay gắt với những người Pharisêu và một số kinh sư về vấn đề sạch dơ trong trình thuật Tin Mừng hôm qua. Lời Chúa hôm nay tiếp tục đề cập đến cái sạcha dơ như một nối tiếp của bản văn Tin mừng hôm qua nhưng theo một chiều hướng khác, đó là cái bên trong và cái bên ngoài.
          Trước hết, phải nhìn nhận rằng cả Chúa Giêsu lẫn người Do thái đều không đứng trên bình diện sinh học để cứu xét thức ăn sạch hay dơ, tốt hay xấu, nhưng cả hai phê phán giá trị thức ăn theo quan điểm luân lý. Người Do thái qui định một số thức ăn không được phép dùng, ban đầu có thể là do yếu tố vệ sinh, y học, nhưng về sau họ đánh giá theo một góc độ khác.
          Chẳng hạn người Do thái không ăn máu và những thú vật bị chết ngạt, vì họ cho rằng máu tượng trưng cho sự sống, mà sự sống là độc quyền của Thiên Chúa, do đó con người không được phép đụng tới. Quan niệm này tiếp tục tồn tại trong Giáo Hội Kitô tiên khởi và các tín hữu gốc ngoại giáo được yêu cầu nhượng bộ các Kitô hữu gốc Do thái ở điểm này.
          Thắc mắc của các môn đệ và giải đáp của Chúa Giêsu được tác giả Marcô ghi lại ở đây, có lẽ phản ánh bầu khí tranh luận của Giáo Hội tiên khởi lúc ấy và hướng giải quyết vấn đề mà Giáo Hội dần dần phải theo, đó là mọi thức ăn đều thanh sạch; điều quan trọng hơn chính là tâm hồn con người, bởi vì thức ăn sạch, chén đĩa sạch, tay chân sạch có ích gì cho việc mưu cầu ơn cứu độ, nếu con người còn có tâm hồn lừa dối Thiên Chúa và phỉnh gạt người khác.
          Có một lần Phêrô đã phản ứng như mọi người Do thái. Trong một thị kiến, Phêrô được lệnh phải giết và ăn các thú vật nằm trên tấm khăn lớn từ trời buông xuống, nhưng Phêrô lập tức từ chối vì cho đó là thức ăn dơ. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã sửa sai quan niệm của ông: những gì Thiên Chúa tuyên bố là thanh sạch, thì con người chớ gọi là ô uế. Thật ra, thị kiến này chỉ có ý nghĩa tượng trưng: Phêrô được lệnh phải tiếp đón lương dân vào Giáo Hội, những người mà Do thái giáo cho là nhơ uế.
          Như vậy, khi trả lời cho câu hỏi về vấn đề sạch, dơ ở đây, Chúa Giêsu muốn nói rằng người ta không thể đánh giá người khác dựa trên mầu da, chủng tộc, văn hóa, ngôn ngữ, giai cấp, vì tất cả những điều ấy chỉ là những hình thức phụ thuộc; mỗi người sẽ bị Thiên Chúa đánh giá dựa vào tâm địa tốt hay xấu của mình và những hành vi xuất tự tâm địa ấy.
          Từ chỗ không kỳ thị về các sự vật, Kitô giáo tiến tới chỗ không kỳ thị về con người. Bằng chứng là trong giáo lý Công giáo hiện nay, không hề có dị ứng trước các thực tế của nhân loại, cũng không đặt bảng phân loại con người để tiếp nhận và Giáo Hội hay lập thang giá trị để đáng giá các phần tử trong Giáo Hội. Trái lại Kitô giáo mang tinh thần đại đồng và phổ quát, xứng đáng được gọi là đạo Công Giáo.
          Trong đời sống thường ngày, chúng ta chỉ quan sát được cái bên ngoài, còn cái bên trong thì ta không thể quan sát hay cảm nhận được bằng các giác quan. Vì vậy, cái bên ngoài và cái bên trong có nhiều điều để nói. Chúa Giêsu nói với đám đông dân chúng: “Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ trong con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế”. Sau đó Chúa Giêsu còn giải thích cho các môn đệ hiểu rõ những lời dạy của Ngài. Thật vậy, cái có thể làm cho con người ra ô uế không phải cái từ bên ngoài mà chính là những cái phát xuất từ bên trong như ghen ghét, lười biếng, trộm cắp, gian dâm, xảo trá, kiêu ngạo… Đó là những cái từ trong lòng xuất phát ra. Nó làm cho con người ta ra dơ bẩn.
          Tội lỗi thường phát xuất từ lòng con người, nó làm cho con người mất ân nghĩa với Chúa, mất tương quan tốt đẹp với tha nhân. Bởi vậy, người ta thường nói: “Tư tưởng của bạn thế nào thì hành động của bạn như vậy”, khi chúng ta nghĩ điều gì, ấp ủ điều gì trong lòng chúng ta dễ dàng hành động theo cái chúng ta suy nghĩ. Khi mình yêu mến ai, nghĩ tốt cho ai mình thường đối xử với người đó một cách dễ dãi, xuề xoà hay có một tương quan khá dễ chịu. Ngược lại, khi ta ác cảm với ai ta thường hay bắt bẻ, so đo, tính toán với người đó.
          Vì vậy, tội lỗi thường xuất phát từ lòng người, đó là cái bên trong làm cho con người ra dơ bẩn. Đó cũng là cái bên trong mà Đức Giêsu muốn nói đến, cái bên trong hay chúng ta còn gọi là “cái tâm”. Cái tâm tốt thì con người tốt và ngược lại cái tâm xấu làm cho con người cũng có những hành động xấu. Là những người Kitô hữu, chúng ta cần phải “tu tâm dưỡng tính” để ta luôn xuất ra bên ngoài những hành động tốt, đầy tình yêu thương. Cái dơ bẩn bên ngoài thì dễ tẩy rửa, nhưng nếu tâm hồn ta hoen ố vì tội lỗi, vì những đó kỵ, những tị hiềm thì ta khó có thể sửa đổi ngay được.
          Đôi khi chúng ta chỉ vì những cái lợi nho nhỏ mà làm mất chính mình, làm mất những tương quan tốt đẹp trong đời sống của mình. Sống trong nền kinh tế thị trường hôm nay, người ta thường đặt lợi nhuận lên hang đầu. người ta tìm mọi cách để trục lợi, bất chấp những luân thường đạo lý. Vì thế người ta thường sống trong nghi kỵ, không còn tin vào người khác
           Nhóm biệt phái thời Đức Giêsu là nhóm chuyên để ý soi mói, lên án và trách móc người khác. Trong khi chính họ lại không quy hướng cuộc sống mình về Thiên Chúa mà luôn ảo tưởng, tự mãn với cái đạo đức giả hình của mình. Vì vậy họ thường tìm cách bắt bẻ người khác, chú tâm đến những luật lệ bên ngoài còn chính họ, họ lại không “tu tâm” để chính họ được sạch và bình an. Lời Chúa hôm nay cảnh cáo chúng ta về những ảnh hưởng của thế gian. Chúng ta phải làm chứng cho Chúa bằng chính cái tâm trong sáng của mình để tất cả những hành động, lời nói của chúng ta là những điều tích cực, mang lại niềm vui và bình an cho người khác.
            Chúng ta thường đánh giá con người qua những gì quan sát được bên ngoài. Đôi khi cái bên ngoài trông rất tầm thường nhưng bên trong lại chứa đựng cả một kho tang vô giá ta không thấy được bằng quan sát bên ngoài mà ta chỉ có thể thấy được bằng cái tâm của mình. Do đó chúng ta cần phải điều chỉnh lại bằng cách xin Chúa giúp cho chúng ta có được cái nhìn thiện cảm về tha nhân để chúng ta biết nhìn sự thật nơi chính mình và luôn thể hiện những điều tốt đẹp qua cuộc sống của mình như những gì Chúa muốn dạy chúng ta.
          Mang danh là Kitô hữu, từ khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, chúng ta thuộc về Chúa Kitô vì vậy chúng ta phải nên gương mẫu về đời sống đạo đức, sống thật với con người của mình từ bên trong lẫn bên ngoài. Chúng ta cần quy hướng về Chúa để mọi hành động và lời nói của ta luôn xuất phát từ một cái tâm ngay thẳng chứ không phải là những lời nói, hành động gây đau khổ cho người khác

10.2.2023 Thứ Sáu tuần 5 TN

Thánh Scholastica, Đt

St 3:1-8; Tv 32:1-2,5,6,7; Mc 7:31-37

Hãy mở ra

          Thánh Scolastica và thánh Bênêđitô là hai anh em sinh đôi. Người là em ruột của thánh Biển Đức (Bênêđitô). Hai anh em thánh Scolastica được sinh ra trong một gia đình thánh thiện, quảng đại và bác ái, giàu sang miền Norcia. Hai anh em vừa mở mắt chào đời được mấy tháng đã vội mồ côi mẹ. Hai anh em chỉ biết sống nương nhờ vào tình thương ấp ủ của người cha hiền từ, đạo đức.

          Trong cảnh gà trống nuôi con, ông Eurôpiô càng tỏ ra là người cha nhân từ, luôn yêu thương con cái với một tấm lòng rộng mở bao la để bù đắp những thiếu thốn của tình mẫu tử. Lớn lên, hai anh em thánh Scolastica và Biển Đức được cha yêu thương cho đến trường học . Hai thánh nhân đã hết mực yêu thương nhau, khuyên nhủ nhau học hành đến nơi đến chốn để không phụ lòng người cha đã hết mình yêu thương các ngài. Hai thánh nhân luôn bắt chước gương nhân đức của cha mình, lòng yêu mến Chúa Thánh Thần, Đấng soi sáng tâm trí của các ngài. Khi thành đạt, hai anh em lại chung một chí hướng tận hiến mình cho Chúa để phụng sự Chúa và phục vụ các linh hồn.

          Thánh Biển Đức (Bênêđitô) đã lập Dòng, em của Ngài là thánh nữ Scolastica cũng sáng lập Dòng nữ tu ở Ý gần rặng Cassino, thuộc Plombariola, cách tu viện của anh ngài chỉ có năm dặm.

          Mỗi năm hai anh em chỉ gặp nhau có một lần, trong một nông trại, vì Scholastica không được phép vào tu viện. Cả hai dành thời giờ để thảo luận về các vấn đề tinh thần.

          Theo cuốn Ðối Thoại của thánh Grêgôriô Cả, trong lần sau cùng hai anh em gặp nhau để cầu nguyện và truyện trò, thánh Scholastica cảm thấy cái chết của mình gần kề nên nài xin anh Bênêđitô ở với ngài cho đến ngày hôm sau.

           Thánh Bênêđitô từ chối lời yêu cầu ấy vì ngài không muốn ở đêm bên ngoài tu viện, vì như thế chính ngài sẽ phá vỡ quy luật do ngài đặt ra. Thánh Scholastica xin Thiên Chúa cho phép anh mình ở lại, và một trận mưa lớn đổ xuống như thác khiến Bênêđitô và các tu sĩ đi theo ngài không thể trở về tu viện. 

Thánh Bênêđitô kêu lên, “Xin Chúa tha tội cho em. Em làm cái gì vậy?” Thánh Scholastica trả lời, “Em xin anh một ơn huệ và anh từ chối. Em xin Chúa, và Chúa nhận lời.” 

          Ba ngày sau, khi thánh Bênêđitô cầu nguyện trong tu viện thì ngài nhìn thấy linh hồn của em mình bay lên trời trong dạng chim bồ câu trắng. Thánh Bênêđitô sai các tu sĩ đem xác của em mình về dòng và chôn trong chính ngôi mộ mà thánh nhân đã chuẩn bị cho mình.

          Thánh Scholastica từ trần vào khoảng năm 543, và sau đó không lâu thánh Bênêđitô cũng từ giã cõi đời.

          Thánh Scholastica và Bênêđitô đã hiến mình trọn vẹn cho Thiên Chúa, và coi trọng việc kết giao bằng hữu với Chúa qua sự cầu nguyện. Các ngài đã hy sinh một số cơ hội sẵn có để cùng nhau thực hiện ơn gọi tu trì. Tuy nhiên, khi càng gần gũi với Ðức Kitô bao nhiêu, họ càng cảm thấy gần nhau hơn. Khi gia nhập cộng đồng tu sĩ, họ đã không quên và cũng không bỏ rơi gia đình mà trái lại họ có thêm các anh chị em mới.

          Sau khi Chúa Giêsu bị dân Nadarét loại trừ (6,1-6a), các môn đệ được sai đi rao giảng sự sám hối và trừ quỷ (6,7-13). Nhưng khi Người đề nghị cho đám đông ăn (6,37), thì các môn đệ sửng sốt, cũng ý như khi họ thấy Người đi trên mặt biển (6,51). Những người nghe đọc Tin Mừng có nắm được tương quan giữa khả năng đi trên mặt nước và khả năng nuôi sống đám đông chăng? Việc Chúa Giêsu đi vào vùng Dân ngoại, tại đó Người đã chữa con gái một bà gốc Phênixi xứ Xyri (7,24-30) và chữa người vừa điếc vừa ngọng (7,31-37) cũng như hóa bánh nhiều lần thứ hai (8,1-10) hẳn là khích lệ các độc giả gốc Dân ngoại nhiều.

          Giai thoại Chúa Giêsu chữa người vừa điếc vừa ngọng này có thể được coi như một dụ ngôn nói về biết bao hoàn cảnh khó khăn và bệnh tật của chúng ta hôm nay. Đây là những hoàn cảnh ngặt nghèo khiến chúng ta ở xa rất nhiều “điều”, nhưng đồng thời lại cho chúng ta gặp được Chúa tể sự sống. Khi đó, đã được tháo cởi tai và miệng, chúng ta có thể nói: “Ngài làm điều gì cũng tốt cả”, với sự kinh ngạc thấm đẫm tâm tình biết ơn.

          Khi Chúa Giêsu nói “hãy mở ra”, tai anh ta mở ra lập tức và “anh ta nói được rõ ràng”. Chúa Giêsu nói ra và điều ấy xảy ra. Hôm nay Đức Giêsu cũng nói Lời Người trên chúng ta, “Hãy mở ra!”. Với đôi tai đã được mở ra, chúng ta không những lãnh nhận lời Người, mà lòng chúng ta cũng được mở ra để đón lấy nữa. Nghe Lời Chúa sẽ biến đổi chúng ta.

          “Hãy mở ra!”. Những lời này mở chúng ta ra với lòng nhân từ của Thiên Chúa. Những lời đó cũng mở ra cho chúng ta thấy Thiên Chúa đang ở trong chúng ta, từng ngày, trong các liên hệ giữa chúng ta và các loài thọ tạo. Đó chẳng phải là một bí nhiệm sao: một người trông thấy và nghe được Thiên Chúa trong những biến cố nhỏ bé, thậm chí không đáng kể thuộc đời sống hằng ngày?

          Chúa Giêsu mời gọi chúng ta mở rộng tâm hồn đón nhận Lời Hằng Sống của Chúa, chính Ngài là lương thực mang lại sự sống đích thực cho chúng ta. Xin cho sự sống ấy tràn ngập tâm hồn chúng ta để chúng ta lớn lên trong tình yêu Chúa và không ngừng yêu thương, liên đới, chia sẻ với mọi người xung quanh.

NGƯỜI BẢO GÌ,

CÁC ANH CỨ LÀM THEO 10 tháng 2 năm 2023

Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo

            Ngày hôm nay, ngày Lễ Đức Mẹ Lộ Đức, ta lại nghe lại trang Tin Mừng quen thuộc kể lại câu chuyện tiệc cưới Cana.

            Câu chuyện tiệc cưới Cana có lẽ ta đã nghe nhiều lần trong đời của ta rồi. Câu chuyện tiệc cưới Cana ấy cho ta nhiều suy nghĩ ở nhiều góc cạnh khác nhau. Một góc cạnh nho nhỏ để ta có thể suy nghĩ trong đời sống đức tin đó là câu nói của Đức Mẹ : Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.

            Dừng lại một chút, ta thấy sau lời của Đức Mẹ thì những người giúp tiệc đã làm theo lời của Chúa Giêsu và nước đã hóa thành rượu. Không phải là rượu xoàng nữa mà là rượu thật ngon.

            Ngày hôm nay, Mẹ Maria và Chúa Giêsu vẫn có bên đời và ngay trong đời của chúng ta. Như đám tiệc, đời của chúng ta cũng hết “rượu” và đâu đó chúng ta cũng chạy đến chỗ này chỗ kia. Thực tế ta thấy nhất là vào dịp đầu năm hay tháng 5 tháng 10 là và 15 tháng 8 là người ta đổ xô nhau đến các Trung Tâm Hành Hương. Đến đó để làm gì ? Đến đó dường như là xin ơn !

            Điều xin ơn là đúng với thực trạng của cuộc đời của chúng ta vì mỗi gia đình, mỗi người chúng ta đang thiếu “rượu”.

            Khi đến như vậy, nơi các trung tâm hành hương mà ta đến đó, ta thường xin đủ thứ ơn nhưng liệu chúng ta có xin cái ơn biết lắng nghe hay không ? Rõ ràng Mẹ Maria nói lớn trong tiệc cưới chứ không nói khẽ, nói âm thầm nữa : Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo

            Nếu các gia nhân không làm theo lời của Chúa thì chắc chắn không có phép lạ ngày hôm ấy. Đơn giản là như vậy. Và từ đó, ta thấy phép lạ xảy ra từ Chúa nhưng phải có sự lắng nghe, sự cộng tác của con người. Gia nhân không đổ nước vào chum thì mãi mãi cũng chả có rượu ngon thêm để mà uống như Chúa Giêsu đã nói.

            Thực tế của cuộc sống, ta bắt gặp khẩu hiệu nhiều quá ! Ta gặp những ngôn từ đẹp đẽ mỹ miều nhiều quá. Nào là, nào là ... Phải thế này, phải thế kia ... Thế nhưng ta quên đi một chuyện cần thiết nhất trong đời sống của ta đó là nghe lời của Chúa.

            Theo cảm nghĩ cá nhân của tôi. Xã hội ồn ào quá, náo nhiệt quá, lăn tăn quá để rồi không còn thời gian thinh lặng bên Chúa nữa. Con người ngày hôm nay dường như đánh mất khả năng từ Thiên Chúa. Con người ngày hôm nay nghe nhiều lắm ! Thế nhưng tiếc thay là con người thích nghe người này người kia phát biểu, thích nghe người này người kia nói những lời thảo mai, thích nghe những lời đường mật nhưng lại không chịu nghe những lời thật và nhất là không nghe Lời Chúa.

            Phải nói thẳng nói thật với nhau rằng chỉ có Lời Chúa mới là lương thực, mới là kim chỉ nam cho cuộc đời người Kitô hữu. Thế nhưng rồi mỗi chúng ta tự đặt mình trước mặt Chúa chúng ta dành bao nhiêu giây trong một ngày để hướng lòng lên Chúa, để nghe Chúa nói với ta. Có lẽ ồn ào quá, có lẽ lăn tăn nhiều chuyện trong cuộc đời quá để rồi ta đánh mất cái gọi là thinh lặng nội tâm, ta mất cái gọi là nghe tiếng Chúa nói.

            Chúa nói với ta nhiều lắm nhưng ta có chịu nghe đâu !

            Thánh Thi, Thánh Vịnh và biết bao nhiêu điều đẹp, điều hay trong Tin Mừng nhưng rồi chúng ta có chịu nghe đâu.

            Ngày hôm qua, tôi gửi cho đứa em tinh thần 1 đoạn Thánh Thi kinh trưa :

Xin dập tắt những đam mê tội lỗi,
Lửa giận hờn còn nung nấu tâm can,
Cho bác ái thành mưa sa tưới gội
Lòng chúng con hoa thắm nở bình an.

Đọc chậm và suy đi. Lời Thánh Thi thấm lắm chứ ! :

Xin dập tắt những đam mê tội lỗi,
Lửa giận hờn còn nung nấu tâm can,
Cho bác ái thành mưa sa tưới gội
Lòng chúng con hoa thắm nở bình an.

Lòng chúng ta đầy dẫy những đam mê tội lỗi và lửa giận hờn người này người kia đầy. Hở chút ra là hờn ghen, là nói hành nói xấu, là chơi xấu nhau, móc mỉa nhau, chà đạp nhau ... để rồi xin dập tắt đi những điều đó. Và xin cho bác ái thành mưa sa trên đời ta để lòng ta được bình anh.

4 câu ngăn ngắn đó không đủ điều chỉnh đời chúng ta sao ?

Còn các khẩu hiệu mà ta vẫn thấy và đang thấy đó. Ta nghĩ sao ? Các khẩu hiệu mãi mãi là khẩu hiệu nếu như ta không sống. Khoảng cách từ cái miệng đến bàn tay xem ra dài thăm thẳm.

Là người Kitô hữu, tôi thiển nghĩ không có điều gì khác mà ta cần phải sống đó chính là lời Chúa Giêsu nhắn nhủ : “cứ dấu này người ta sẽ nhận ra anh em là môn đệ của Thầy : Đó là anh em hãy yêu thương nhau”.

Nếu ta không nghe Lời Chúa, ta không thi hành lời Chúa mời gọi là yêu thương nhau thì thật sự đời Kitô hữu nó vô nghĩa. Những người chưa biết Chúa, không biết Chúa họ vẫn yêu thương nhau mà. Ta biết Chúa, ta miệng thì tôn vinh Chúa nhưng lòng ta và cung cách sống ta có yêu Chúa hay không mới là điều quan trọng.

Và như vậy, điều quan trọng nhất là muốn có phép lạ, muốn được ơn của Chúa thì không có con đường nào khác là đi theo con đường của Đức Mẹ chỉ dạy : Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.

Xin cho mỗi chúng ta biết lắng đọng và nhất là biết nghe tiếng Chúa và làm theo tiếng Chúa.

Lm. Anmai, CSsR

 

XIN MẸ CHỮA LÀNH CHO CHÚNG TA

11 tháng 2 năm 2023 - Lễ Mẹ Lộ Đức

Lộ Đức là một ngôi làng hẻo lánh miền Tây Nam nước Pháp. Nơi đây, Đức Mẹ đã hiện ra 18 lần với thiếu nữ chăn cừu tên Bernadette Soubirous, lần đầu tiên vào ngày 11.02.1858. Trong các lần hiện ra, Mẹ đều khuyên Bernadette hãy siêng năng lần hạt Mân Côi và làm việc đền tội thay cho các người tội lỗi, yếu đuối. Mẹ truyền cho Bernadette lật tảng đá dưới chỗ Mẹ hiện ra và từ đó nguồn nước tuôn trào lạ lùng. Mẹ còn yêu cầu hãy xây một ngôi thánh đường để dâng kính Mẹ.

Bernadette đã trình với cha sở Lộ Đức về những lần Mẹ hiện ra với em tại hang đá. Cha xin Bernadette hỏi tên Mẹ là gì. Ngày 25.03.1858, Đức Mẹ hiện ra với Bernadette và em đã hỏi: “Bà là ai?”. Mẹ đã mặc khải bằng ngôn ngữ địa phương: “Que soy era Immaculada Counceptiou - Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội”. Cha sở đã tin vào việc Đức Mẹ hiện ra với Bernadette, vì đây là tín điều Đức Giáo hoàng Piô IX long trọng công bố 4 năm trước đó (1854). Một ngôi thánh đường nguy nga đã được xây dâng kính Mẹ Maria Vô Nhiễm. Lộ Đức từ đó trở thành nơi hành hương, và nhiều người tuôn đến cầu nguyện, tắm suối nơi dòng nước Bernadette đã tìm ra để xin Mẹ chữa lành.

Năm 1992, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã khởi xướng ngày Quốc tế cầu nguyện cho bệnh nhân hàng năm vào dịp lễ Đức Mẹ Lộ Đức. Với ngài, "Ngày này giới thiệu một cơ hội thuận tiện để quan tâm cách đặc biệt tới hoàn cảnh của các bệnh nhân đang phải khổ đau. Ngày này còn để nói lên lời cảm ơn những người đang âm thầm dấn thân phục vụ các bệnh nhân, đó là người thân, lực lượng y bác sĩ, những vị tu sĩ cùng các tình nguyện viên với ơn gọi Chúa trao để đồng hành với người anh chị em bệnh tật”. Việc cử hành ngày Quốc tế bệnh nhân còn canh tân sức mạnh tinh thần trong Giáo Hội về sứ vụ phục vụ những người bé mọn nhất, các bệnh nhân, những người đau khổ, những người bị đẩy ra bên lề xã hội.

Việc người “Trinh nữ tuyệt mỹ” đã xin cô bé Bernadette cầu nguyện cho các tội nhân, nhắc nhở chúng ta rằng bất cứ bệnh nhân nào đi nữa thì cần được đối xử với tư cách là một con người. Chẳng ai muốn đau bệnh. Tuy nhiên, thực tế đau ốm bệnh tật đã trở nên một phần của đời sống con người. Các bệnh nhân và những người đau khổ không chỉ mang trong mình niềm mong ước muốn được bình phục, nhưng cũng muốn thực thi đời sống Kitô giáo, và trao hiến đời sống đó với tư cách là những môn đệ đích thực của Chúa Kitô. 

Từ những ngày khởi đầu sứ vụ Cứu thế của Chúa Giêsu, vai trò quan trọng của Mẹ Maria đã được thể hiện thật rõ nét trong trình thuật tiệc cưới Cana.

Dù chỉ là 1 khách mời như bao người khác, nhưng bằng con tim nhân ái, tấm lòng nhạy cảm vị tha của 1 phụ nữ, Mẹ đã tinh ý nhận ra "sự cố hết rượu" qua vẻ bối rối mà gia chủ cố tình che giấu. Bằng mối lo toan ấy, Mẹ đã chỉ ra cho chúng ta thấy đâu là nền tảng của nghệ thuật yêu thương. Với Mẹ, “yêu thương” cũng chính là không ngừng học biết và hướng về người khác để trao ban và đón nhận. Và "biết lắng nghe" chính là yếu tố quan trọng để giúp nhau vượt qua khó khăn thách đố của cuộc sống. Có ai đó đã nói một câu thật chí lý: "Đừng phàn nàn café đắng, vì biết đâu, đường của bạn chưa đủ ngọt". Đó là điều Mẹ đã thực hiện trước câu trả lời chẳng ăn nhập vào đâu của Chúa Giêsu. Và đó cũng là điều các gia nhân đã làm trước một lời đề nghị không giống ai của Mẹ. Thật ra, họ không phải là hạng người thích làm chuyện ngược đời, nhưng là những người đã nhận ra thiên ý bằng tấm lòng tin tưởng đơn sơ, chân thành. Và bằng chính bằng tấm lòng đơn sơ, chân thành đó, họ cùng với Chúa Giêsu làm cho "nước lã" hóa thành "rượu ngon", làm cho một "sự cố éo le" trở thành một "biến cố Thánh", làm cho một đám cưới nhà quê thiếu trước hụt sau trở thành một đám cưới tràn đầy niềm vui và ân phúc. Với sự can thiệp của Mẹ, sự lo lắng, bối rối đã biến thành niềm vui hạnh phúc ngập tràn.

Ngày nay, Đức Mẹ vẫn tiếp tục đồng hành với con cái của Mẹ, đặc biệt với những ai đang mang nỗi đau khổ nơi thân xác cũng như trong tâm hồn.

Tại sao có đau khổ ? Đó là vấn nạn muôn thuở của con người. Trước vấn nạn đó, chúng ta cùng nhìn vào Chúa Giêsu “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục”. Trên thập giá, Ngài chẳng còn hình dạng một con người, từ chân đến đầu, chẳng còn chỗ nào lành lặn. Cây thập giá nặng nề, những chiếc đinh sắt ghim chặt thân xác Ngài vào cây gỗ, vết thương từ cạnh sườn nước và máu chảy ra. Ngài đã đón nhận mọi đau đớn nơi thân xác, gánh chịu mọi nhục nhã ê chề.

Dưới con mắt của người đời thì đó là một sự điên rồ, nhưng với cái nhìn của người có niềm tin thì đó là một mầu nhiệm. Mầu nhiệm vì chúng ta không thể hiểu được tại sao Con Thiên Chúa, Đấng vô tội, lại phải trải qua một thân phận đau đớn như thế ? Vâng, chính nhờ sự đau khổ và cái chết cùa Chúa Giêsu mà thập giá trở nên biểu tượng của tình yêu, tình yêu vâng phục của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha, tình yêu dâng hiến của Ngài dành cho nhân loại chúng ta, thập giá trở nên nguồn cứu độ vĩnh viễn, là nơi bày tỏ vinh quang Thiên Chúa, như lời bài hát mà chúng ta thường nghe trong tuần thánh “Vinh quang của Ta là thập giá Chúa Kitô, nơi Người ơn cứu độ của ta, sức sống của ta và sự phục sinh của ta…”. Từ nguồn mạch ấy chúng ta có thể tìm được trọn vẹn ý nghĩa của mầu nhiệm đau khổ. Vì thế mà thánh Phaolô đã thốt lên: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Kitô” (Gl 6,14). Như vậy, những đau đớn trên thân xác và tâm hồn mà chúng ta đang gánh chịu, những người già yếu bệnh tật trong gia đình chúng ta, hay những thiếu thốn về tinh thần của các em mồ côi… cùng với Đức Kitô sẽ làm nảy sinh tình yêu, như trong sứ điệp đặc biệt gởi tới những thành phần bệnh tật, đau yếu, Đức Hồng Y P. Mecouchi đã nói : “Hỡi tất cả anh em, những người đang cảm thấy thập giá đè nặng… xin hãy lấy lại can đảm, anh em là những người được ưu đãi của Nước Chúa - Nước của hy vọng, của hạnh phúc và của sự sống. Anh em là những người em của Chúa Kitô đau khổ và cùng với Ngài, nếu anh em muốn, anh em cùng cứu vớt thế gian”. Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng nói : Sự đau khổ cùng với lời cầu nguyện của người bệnh, là nguồn ơn sủng cho Giáo Hội. Và chính Chúa Giêsu, khi đứng trước Lazarô đang đau nặng, ngài nói : “Bệnh này… là dịp để bày tỏ vinh quang Thiên Chúa : qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh”.

Mẹ là mẹ, là quan thầy của những bệnh nhân, xưa Mẹ đã cùng chia sẻ với Chúa Giêsu trên thập giá và đón nhận nỗi đau ấy với lòng tin mãnh liệt, chắc chắn Mẹ cũng luôn đồng hành với chúng ta trong đau ốm bệnh tật, hãy chạy đến với Mẹ trong đau khổ cô đơn và mời Mẹ về nhà với chúng ta, để Mẹ cùng đồng hành, nhắc nhở và cầu bầu cho chúng ta ơn kiên trì để tiếp tục cầu nguyện, biết tin tưởng vào tình thương, lòng thương xót Chúa và ơn can đảm để đón nhận mọi sự trong thánh ý Chúa, sống theo thánh ý Ngài như Mẹ đã nhắc các gia nhân trong tiệc cưới Cana “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”.

Chúng ta đều được mời gọi phó dâng cho Chúa gánh nặng bởi những đau đớn trên thân xác; những lo âu tấn công tinh thần của chính bản thân chúng ta; của những người thân trong gia đình cũng như tất cả các bệnh nhân trên thế giới, để chúng ta tìm thấy được tâm hồn nghỉ ngơi bồi dưỡng:“Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Tôi, Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng...vì ách Tôi êm ái, gánh Tôi nhẹ nhàng” (Mt 12,28-30).

Chúng ta cầu nguyện cho các anh chị em thiện nguyện trong gia đình chăm sóc bệnh nhân, các y bác sĩ, điều dưỡng biết noi gương Chúa Giêsu để hy sinh nâng đỡ những phần tử yếu đau của Chúa Giêsu, để Danh Chúa được lan toả khắp nơi.

Xin Mẹ Maria cầu cùng Chúa Giêsu giúp cho các bệnh nhân tìm được sự bình an trong tâm hồn, có thêm sức mạnh vượt qua đau khổ, thử thách và được kiên vững trong niềm tin, luôn tràn ngập hy vọng trên con đường chữa trị và sức khỏe. Amen.

 

Thứ Hai tuần 5 thường niên,
Mc 6, 53-56
LÀ CÁNH TAY NỐI DÀI CỦA CHÚA
             Chúa đã chữa lành nhiều người mà bệnh tật đã khiến họ phải sống cuộc sống nặng nề, đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần. Người đã đến bên họ với lòng xót thương, đưa họ trở về hòa nhập với cộng đoàn, cho họ tham dự vào cuộc sống xã hội và phục hồi phẩm giá cho họ. Chúa Giêsu vẫn tiếp tục công việc chữa lành, Người thực hiện điều này qua chính những môn đệ của Người.
            Trang  Tin Mừng hôm nay nói về việc chữa bệnh của Chúa Giêsu, tại Giênêsarét. Đoạn này được Thánh sử viết kế tiếp việc Chúa Giêsu nuôi đám đông dân chúng hơn 5000 người bằng lương thực hằng ngày (bánh và cá), và Ngài đã khống chế sự dữ trên biển cả khi thuyền của các Tông đồ bị chao đảo, bị sóng dập vùi.
            Chúa   Giêsu phục sinh đã nói với các môn đệ: “Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương thịt như anh em thấy Thầy có đây?” (Lc 24, 39). Thánh Tôma xem ra thích kiểm chứng bằng đụng chạm: “…nếu tôi không đặt ngón tay tôi vào lỗ đinh, không đặt bàn tay tôi vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20, 25). Chúa Giêsu phục sinh đã chiều Tôma (Ga 20, 27). Thiên Chúa đã chiều nhân loại, khi cho Con Ngài làm người như ta, nhờ đó chúng ta có thể đụng chạm đến Thiên Chúa theo nghĩa đen. Thánh Gioan đã reo lên khi loan báo Tin Mừng này: “Điều vẫn có ngay từ lúc đầu, điều chúng tôi đã nghe, Điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và bàn tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống” (1 Ga 1, 1).
            Qua đoạn Mc 6, 53-56, chúng ta thấy Chúa Giêsu đã thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng cứu độ một cách hoàn hảo. Ngài loan báo tin lành bằng cả lời nói và hành vi chữa lành của Ngài. Ngài đuổi xa bệnh tật, khai trừ tội lỗi và giải thoát con người khỏi ách thống trị của sự dữ là ma quĩ.
            Chúa Giêsu- vị lương y tốt lành đang bước ra khỏi thuyền để lên bờ. Họ liền đi theo Ngài bất cứ nơi nào Ngài đến. Ghennêxarét là Thành Phố thuộc phía Tây Nam Caphácnaum, như thế Chúa Giêsu vẫn đang hiện diện tại phần đất dân Do Thái. Sự nổi tiếng của Ngài  đã khiến người ta tuôn đến để xin chữa bệnh. Họ đặt những bệnh nhân nằm la liệt bên các vệ đường, nơi mà Ngài sẽ đi ngang qua. Họ mong chờ bóng Ngài ngả lên họ, được Ngài đặt tay trên mình hoặc được đung chạm đến tua áo Ngài là họ được chữa lành.
            Trong thế giới Sêmít, Y phục tượng trưng cho chính bản thân con người . Khi đụng đến áo của người nào là ta tiếp xúc đến chính bản thân người đó. Hơn nữa, ở đây, tác giả muốn diễn tả rằng: từ thân thể Chúa toát ra một uy quyền thần linh cứu độ (c. 56) và ân sủng này vượt quá những điều trị thể lý thông thường. Chúa Giêsu để cho bệnh nhân chạm đến Ngài nghĩa là vai trò của vị Mục Tử nhân lành được thực hiện cụ thể và thời Mêsia chữa lành đã xuất hiện; Ngài đến chăn dắt những đoàn chiên bơ vơ, (6, 34) không người chăm sóc, dưỡng nuôi.
            Thánh Maccô nêu rõ từng quá trình đi lên của niềm tin mà dân chúng dành cho Chúa Giêsu . Đó là: họ nhận ra - họ đi theo - họ được chạm đến và họ được khỏi . Đây là một niềm tin “ tập thể” qua từ “ họ, người ta”. Có lẽ họ nhận ra đây là vị Cứu Tinh nhân trần, được sai đến để cứu họ, nên quyết tâm đi theo Ngài đến bất cứ nơi nào để được chữa lành, Họ muốn gặp gỡ, đụng chạm tới Ngài dù chỉ là tua áo và tin khi tiếp xúc như vậy, họ được chữa lành.
            Người ra khỏi thuyền, lên đất liền rồi đi vào các làng mạc, thành thị và thôn xóm. Hẳn nhiên đây không phải là sự nhộn nhịp và sống động của phố chợ hoặc bán buôn. Bầu khí sống động được kiến tạo bởi rất đông người ta và những kẻ ốm đau. Sự nhộn nhịp được tôn tạo nhờ vẻ đẹp của những nét mặt căng tràn tươi vui và hy vọng, của những tiếng cười nói động viên nhau chờ đợi và cố tìm cách đến với Chúa Giêsu, của những lời trầm trồ và kinh ngạc vì hồng ân khỏi bệnh quá lớn và quá bất ngờ, nhất là của chính con người Chúa Giêsu: ân cần, tận tụy, dịu hiền, nhanh nhẹn và đầy quyền năng; sẵn sàng để cho con người quấy rầy, réo gọi và đụng chạm.
            Chúa Giêsu có sức thu hút mãnh liệt đối với dân chúng. Họ tin tưởng vào quyền năng và tình yêu thương của Ngài. Họ không mong gì hơn là được chạm vào tua áo của Ngài. Chắc chắn sự đụng chạm này không chỉ sơ sài nơi tua áo, mà là cái đụng chạm của lòng tin, của Trái Tim với trái tim ; mà là sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và loài người, giữa Đấng Chữa Lành và phận người toang vỡ vì đau khổ, bệnh tật và tội lỗi.
            Sự đụng chạm ấy, cuộc gặp gỡ ấy đẹp đẽ và xúc động làm sao. Đẹp vì Con Thiên Chúa làm người đã sẵn sàng hiện diện, sẵn sàng ở ngay bên để con người có thể chạm vào bất cứ lúc nào. Xúc động vì con người đã tìm gặp được Đấng đáng cậy tin để họ hân hoan mở cửa lòng mình và vui nhận hồng ân được tái sinh, được chữa lành. Họ hạnh phúc biết bao ! Hạnh phúc vì phận người mỏng dòn yếu đuối nay được tiếp sức bằng Sự Sống của Đấng ba lần Thánh. Hạnh phúc vì kiếp tục trần nay được chạm vào thánh thiêng.
            Chuyện đụng chạm, chuyện gặp gỡ, chuyện mở cửa lòng, chuyện chữa lành hôm xưa vẫn tiếp diễn hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Thiên Chúa vẫn có đó, trong mọi biến cố đời thường, trong Thánh Kinh, trong giáo huấn của giáo hội, trong kinh nguyện và nhất là trong mỗi Thánh Lễ. Người vẫn đi giữa nhân loại, vẫn rảo bước khắp làng mạc thôn xóm, vẫn ở đó với con người trong mọi phút buồn vui cuộc đời, vẫn sẵn sàng cho những quấy rầy và đụng chạm của con người. Liệu ta có muốn chạm vào Người và mở lòng cho những cuộc gặp gỡ thần diệu ấy chăng ? Liệu ta có muốn Người chữa lành những tật bệnh tinh thần và thiêng liêng cho ta chăng ?
             Trên những bước chân âm thầm dấn thân phục vụ, Mẹ Têrêsa và các nữ tu Dòng Thừa Sai Bác Ái đã bồng ẫm, đón nhận biết bao người bị vất bỏ, sống vất vưởng nơi các đường phố, cống rãnh, hố rác. Mẹ và các chị em của Mẹ đã mang họ về để lau chùi, tắm rửa, chăm sóc, chữa lành. Chính qua công việc dấn thân phục vụ ấy, những con người khốn cùng, mất hết niềm hy vọng đã tìm lại được niềm tin và phẩm giá của mình.
            Nơi đáy lòng con người vẫn có khát khao được đụng chạm đến Thiên Chúa, cả nơi những người không tin có Ngài hay bướng bỉnh như Tôma. Truyền giáo là giúp người ta thực hiện ước mơ chính đáng: chạm đến Thiên Chúa. Nhà truyền giáo phải là người đã có kinh nghiệm chạm đến Thiên Chúa. Mong mỗi Kitô hữu trở nên một nhà truyền giáonhờ đụng chạm đến Lời Chúa và các Bí Tích mỗi ngày.
            Nhờ Đức Giêsu Kitô, cùng với Người và trong Người mà Mẹ Têrêsa và biết bao tâm hồn quảng đại khác đã và đang sẵn sàng hy sinh tất cả để dấn thân phục vụ cho những con người khốn cùng. Các vị ấy chính là những cộng sự viên đắc lực của Chúa mà thế giới ngày nay đang cần. Ta có sẵn sàng trở nên những cánh tay nối dài, những cộng sự viên đắc lực của Chúa không?   

Thứ Ba tuần 5 thường niên,
Mc 7, 1-13
ĐỪNG VỤ HÌNH THỨC
            Nhiều tôn giáo lấy việc tẩy rửa làm một trong những nghi thức linh thiêng của đạo. Chẳng hạn người Ấn Giáo tắm ở sông Hằng trước khi vào tế tự ở đền thờ, hoặc các thành viên Cộng đoàn Qumrân thời Chúa Giêsu lấy việc tắm rửa hằng ngày để diễn tả thái độ sẵn sàng của mình cho ngày Đấng Mêsia đến; ngay cả Gioan Tẩy giả cũng đã coi việc dìm người xuống dòng sông Giođan rồi trồi lên khỏi nước như cử chỉ nói lên sự hoán cải tâm hồn, sẵn sàng gia nhập đoàn dân mới của Thiên Chúa khi Ngài ngự đến.
            Với người Do thái, việc rửa tay trước khi ăn, rửa chén bát, đồ dùng,… không chỉ nhằm giữ vệ sinh nhưng trên hết là giữ truyền thống của tiền nhân. Đó là những giáo lý, quy định do các bậc thầy Do Thái đề ra. Những nghi thức thanh tẩy này là phương thế giúp dân tiến gần đến Thiên Chúa và phụng sự Ngài cách xứng hợp hơn.
            Thế nhưng rồi ta lại thấy các lãnh đạo Do thái lại coi chúng là luật buộc và đặt ngang hàng với điều răn Thiên Chúa. Khi tuân giữ cẩn thận những qui tắc này, họ cho rằng đã chu toàn bổn phận thờ phượng Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã chống lại thứ tôn giáo méo mó chỉ lo tuân giữ một loạt lề luật do con người đặt ra. Việc thờ phượng Thiên Chúa như thế trở nên vô ích vì: "Nó sùng kính Ta cách giả dối, bởi vì nó dạy những giáo lý và những luật lệ loài người" (Mc 7, 7). Từ đó, Đức Giêsu mời gọi ta thờ phượng Thiên Chúa cách đích thực.
             Đối với người Do Thái, việc rửa tay, rửa chén đĩa, rửa thực phẩm, không chỉ là một biện pháp vệ sinh nhằm phòng bệnh, mà còn là một nghi thức tôn giáo nói lên ước nguyện trở nên thanh sạch để có thể hiệp thông với Thiên Chúa là Đấng Thánh. Ta thấy đây là điều tốt, nhưng người Biệt phái đã quá vụ hình thức mà bỏ quên điều thiết yếu, họ phán đoán những người xấu hay tốt dựa trên những hình thức bên ngoài.
            Chúa Giêsu đã trả lời cho thái độ vụ hình thức ấy như sau: “Các ông gạt bỏ giới răn của Thiên Chúa qua một bên, mà duy trì truyền thống của người phàm.” Chúa Giêsu muốn cho thấy các việc làm bên ngoài ấy, dù có tính cách tôn giáo đến đâu, cũng không thể thay thế cho một việc khác quan trọng hơn. Điều quan trọng là sự thanh sạch của tâm hồn, chứ không phải việc rửa tay, rửa vật dụng bên ngoài, đừng lẫn lộn ý muốn của con người với ý muốn của Thiên Chúa, đừng lẫn lộn tập tục của truyền thống phàm nhân với lề luật do chính Thiên Chúa ban bố.
            Chúa Giêsu nhắc đến trường hợp những người Do Thái nhân danh tập tục dâng cúng một số của cải vào Đền thờ, gọi là copan, nghĩa là lễ phẩm đã dâng cho Chúa, để rồi biện minh cho sự thiếu sót bổn phận đối với Cha Mẹ. Tập tục dâng cúng là do con người, thảo kính Cha Mẹ là lệnh truyền của Thiên Chúa, thế nhưng trong trường hợp vừa kể, vì tinh thần sống vụ hình thức, những người Biệt phái đã bỏ luật của Thiên Chúa để tuân giữ tập tục loài người.
            Ngày mỗi ngày, ta thấy các phương tiện truyền thông lại ra rả nhắc nhở dân chúng coi chừng hàng giả. Ngày nay mọi sự đều có thể là đồ dỏm, từ thứ đáng giá tiền tỷ như thiên thạch đến bó rau, củ cà rốt cũng có thể là hàng Trung Quốc giả hàng Việt. Thế nhưng, tinh vi nhất và đáng trách nhất vẫn là những thứ giả liên hệ đến bản thân con người như thói giả nhân giả nghĩa hay thứ tình yêu giả hiệu khiến bao người bị lừa đau đớn.
            Thậm chí với Chúa, cũng có người dâng cho Ngài những thứ giả mà cứ làm như là thật. Chúa Giêsu đã trách những người Pharisêu và các kinh sư thờ phượng Chúa trên đầu môi chót lưỡi, nhưng trái tim lại xa cách Ngài, chăm chăm tuân giữ các truyền thống xưa, còn điều răn yêu thương cốt lõi Chúa dạy thì lại bỏ quên không giữ.
            Chúa Giêsu hơn một lần cảnh báo người Do Thái thời của Ngài “Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa mà duy trì truyền thống của người phàm” và rằng “Các ông thật khéo coi thường điều răn của Thiên Chúa, để nắm giữ truyền thống của các ông”. Thời Chúa Giêsu người Do Thái tự cho mình cái quyền giải thích và suy diễn luật và coi đó là truyền thống của tiền nhân bắt mọi người phải theo. Thậm chí, họ còn bỏ qua điều luật của Thiên Chúa mà tuân giữ những gì mà họ coi đó là truyền thống của cha ông.
            Nhiều lúc chính chúng ta lại mắc phải điều mà người Do Thái đã mắc thời của Chúa Giêsu. Chúng ta cũng dựa vào những truyền thống này nọ để bỏ đi lề luật của Thiên Chúa, chúng ta chỉ giữ đạo hình thức mà không có chiều sâu nội tâm. Mỗi dịp lễ lớn, chúng ta đều được chứng kiến những cuộc rước rầm rộ, thu hút đông người, nhưng nhiều người trong số đó chỉ đi rước rồi về không tham dự thánh lễ nữa. Đó là một trong những dẫn chứng việc một số người chỉ giữ đạo hình thức bên ngoài và thích những gì là hội hè hơn lễ lạy, duy trì truyền thống hơn là tuân giữ và sống theo luật Chúa.
            Ngày hôm nay, người Kitô hữu cũng đang bị cám dỗ tôn thờ Thiên Chúa cách hình thức, giả tạo còn lòng trí thì ở xa Ngài; bị cám dỗ bằng lòng với việc giữ đạo cách tối thiểu chỉ để lương tâm yên ổn… Do đó, lời khiển trách của tiên tri Isaia năm xưa: "Dân này kính Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng chúng ở xa Ta" (Mc 7,6; Is 29,13) vẫn còn giá trị.
            Chúa Giêsu mời gọi ta tôn thờ Thiên Chúa cách chân thực, tận đáy lòng. Sự thờ phượng đích thực đòi buộc ta chọn giáo huấn của Đức Kitô làm kim chỉ nam hướng dẫn cuộc sống mình. Dù nhiều khi, việc chọn lựa này đòi hỏi bản thân phải chịu hy sinh và lội ngược dòng. Nhưng khi nỗ lực yêu mến và sống Lời Chúa, ta đang trở nên người môn đệ chân chính của Ngài. Đồng thời, ta cần đón tiếp Chúa Giêsu vào trong cuộc đời mình. Ngài sẽ thanh tẩy cõi lòng, tâm tư và tình cảm của chúng ta nên thánh thiện, tinh tuyền, xứng đáng thờ phượng Thiên Chúa (Rm 12, 1).
            Sứ điệp quan thiết nhất cho ta hôm nay lại nằm ở câu trích sách Isaia mà Chúa Giêsu dùng lại: dân này tôn kính Ta bằng môi miệng. Lời này vừa như để tố cáo cách khôn ngoan mà thẳng thắn những kẻ tự cho mình là công chính qua việc giữ luật thật tỉ mỉ ; mà cũng vừa như thể trách móc dân chúng và những ai đã nhẹ dạ cả tin đi theo thói đạo đức giả của những người lãnh đạo thiếu hẳn một tấm chân tình và lòng kính sợ Thiên Chúa thật sự.

Thứ Tư tuần 5 thường niên,
Mc 7, 14-23
LÒNG NGƯỜI XẤU !
            Qua đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe, ta thấy Chúa Giêsu dạy ta biết đâu là nguồn gốc thâm sâu của những sự xấu xa và ô uế. Ngài dạy rằng tất cả những điều xấu đều không xuất phát từ bên ngoài, nhưng “chỉ có những gì từ con người ta xuất ra, chính những cái đó mới làm cho họ ra ô uế.” (Mc 7, 15).
            Và điều này dường như không hợp với suy nghĩ thông thường của chúng ta. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã giải thích rất cụ thể: “Vì từ bên trong, từ tâm trí người ta xuất phát những tư tưởng xấu, ngoại tình, dâm ô, giết người, trộm cắp, tham lam, độc ác, xảo trá, lăng loàn, ganh tị, vu khống, kiêu căng, ngông cuồng” (Mc 7, 21-22). Như vậy, nguồn gốc thâm sâu nhất của sự xấu xa chính là lòng người.
            Luật sạch và ô uế của các luật sĩ và biệt phái Do Thái dễ làm cho người ta bị rơi vào đời sống giả hình, vụ hình thức bên ngoài. Chúa Giêsu lên án gắt gao thói vụ luật đó. Chẳng những nó không thể thanh tẩy tâm hồn mà còn làm cho con người ra cứng cỏi và ảo tưởng mình đã là công chính chỉ dựa vào hình thức bề ngoài. 
             Nhóm biệt phái thời Chúa Giêsu là nhóm chuyên để ý soi mói, lên án và trách móc người khác. Trong khi chính họ lại không quy hướng cuộc sống mình về Thiên Chúa mà luôn ảo tưởng, tự mãn với cái đạo đức giả hình của mình.
            Vì vậy họ thường tìm cách bắt bẻ người khác, chú tâm đến những luật lệ bên ngoài còn chính họ, họ lại không “tu tâm” để chính họ được sạch và bình an. Lời Chúa hôm nay cảnh cáo chúng ta về những ảnh hưởng của thế gian. Chúng ta phải làm chứng cho Chúa bằng chính cái tâm trong sáng của mình để tất cả những hành động, lời nói của chúng ta là những điều tích cực, mang lại niềm vui và bình an cho người khác.
            Chúa Giêsu khẳng định: "Những gì từ con người ta xuất ra, đó là cái làm cho người ta ra ô uế" (Mc 7, 15b). Các luật sĩ, biệt phái đề cao việc thanh sạch phần xác hơn cả sự thanh sạch tâm hồn. Họ cho rằng tay bẩn, chén dĩa bẩn làm cho con người ra ô uế, trong khi lại coi nhẹ cõi lòng, nơi chất chứa biết bao sự xấu xa, tội lỗi.
            Trái lại, Chúa Giêsu muốn hướng người Do Thái đến sự thanh sạch bên trong tâm hồn hơn “luật sạch sẽ bên ngoài” của họ: “Vì từ bên trong, từ tâm trí người ta xuất phát những tư tưởng xấu, ngoại tình, dâm ô, giết người, trộm cắp, tham lam, độc ác, xảo trá, lăng loàn, ganh tị, vu khống, kiêu căng, ngông cuồng” (Mc 7, 21-22).
            Khi đối diện với sự xấu, ta thường đổ lỗi cho người khác hoặc cho ngoại cảnh. Vợ đổ lỗi cho chồng. Chồng đổ lỗi cho vợ. Cha mẹ đổ lỗi cho con cái. Con cái đổ lỗi cho cha mẹ... Chúng ta dễ trách cứ người khác, nhưng lại ít khi tự trách mình. Chúng ta muốn tề gia trị quốc bình thiên hạ, nhưng lại không chịu tu thân; muốn thay đổi thế giới, nhưng lại không muốn thay đổi mình.
            Chúa Giêsu nhắc nhở ta hãy khoan tìm kiếm nguyên nhân từ bên ngoài, nhưng cần duyệt xét kỹ càng chính lòng mình, hầu nhận ra đâu là nguồn gốc của những điều xấu đã gây cho mình và cho người khác. Ngài cũng mời gọi ta từng bước tẩy trừ nó, và lấp đầy lòng mình bằng những nhân đức tốt lành, đặc biệt là đức mến mà thánh Phaolô đã nhắn nhủ: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.” (1Cr 13, 4-7) 
            Trong thực tế cuộc sống, ta thường đánh giá con người qua những gì quan sát được bên ngoài. Đôi khi cái bên ngoài trông rất tầm thường nhưng bên trong lại chứa đựng cả một kho tang vô giá ta không thấy được bằng quan sát bên ngoài mà ta chỉ có thể thấy được bằng cái tâm của mình. Do đó chúng ta cần phải điều chỉnh lại bằng cách xin Chúa giúp cho chúng ta có được cái nhìn thiện cảm về tha nhân để chúng ta biết nhìn sự thật nơi chính mình và luôn thể hiện những điều tốt đẹp qua cuộc sống của mình như những gì Chúa muốn dạy chúng ta.
            Thật thế, con người nên tốt lành, thánh thiện hoặc xấu xa, tội lỗi đều bắt nguồn từ cõi lòng của con người, từ thái độ sống của con người có ý thức và tự do hay không, từ lòng yêu mến Chúa đích thực và yêu thương tha nhân cách chân thành hay giả dối, hình thức bề ngoài.

Thứ Năm tuần 5 thường niên
Mc 7, 24-30
NIỀM TIN CỦA NGƯỜI NGOẠI
            Hành trình sứ vụ công khai của Chúa Giêsu được thánh Maccô miêu tả ngay từ những chương đầu cho đến hôm nay, ngài nhắm đến một mục tiêu duy nhất là cho mọi người thấy và nhận biết Chúa Giêsu là ai.
            Dù là dân ngoại, nhưng với niềm tin tưởng vào uy quyền của Chúa Giêsu, người phụ nữ gốc Phênixi đã van xin Người cứu chữa con gái bà. Cảm kích trước sự khiêm nhường và lòng tin của người phụ nữ, Chúa Giêsu đã ban cho bà phép lạ như lòng ao ước. Nhờ được thử thách trong đức tin, lời cầu xin của bà đã được Chúa nhậm lời. Bà là một tấm gương cho sự khiêm tốn và kiên trì trong cầu nguyện. Trong lời cầu xin của bà, chúng ta tìm thấy những điều kiện cần có để được Chúa nhậm lời: khiêm tốn, tin tưởng, kiên trì và mạnh dạn.
            Chúa Giêsu thử nghiệm thái độ thành khẩn của người đàn bà bằng câu nói gây tổn thương nửa đùa nửa thật : "Phải để cho con cái ăn no trước đã, vì không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho chó con." Người đàn bà không chút mảy may, bà bày tỏ sự khiêm tốn và lòng thành trong khi cầu xin. Mặc dù bà đang trong thảm kịch khó khăn của gia đình, khi có đứa con gái bị quỷ ám. Nghe câu nói ấy chắc hẳn bà cũng buồn, nhưng bà đã đáp lại câu nói như đùa mà thật ấy, bằng lập luận của người có lòng tin : “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng chó con ở dưới gầm bàn lại được ăn những mảnh vụn của đám trẻ con”.
            Mẩu đối thoại ban đầu xem như gây cấn, tổn thương, làm thất vọng cho người nghe… nhưng tình huống đã quay ngược lại bằng cách đối đáp đầy tự tin, dí dỏm, khôn ngoan, nhưng cũng đầy lí luận chứa đựng một niềm tin vững chắc của người đà bà gốc dân ngoại. Chúa Giêsu đã cảm nhận lòng tin ấy, và Ngài đã ra tay cứu chữa : "Vì bà nói thế, nên bà cứ về đi, quỷ đã xuất khỏi con gái bà rồi”.
            Chúa Giêsu không bao giờ tỏ ra kỳ thị con người như thế. Tin Mừng hôm nay là một bằng chứng. Cũng như các tác giả Tin Mừng khác, thánh sử Marcô cho thấy phần lớn hoạt động và thời giờ của Chúa Giêsu được dành cho người Do thái; chỉ sau khi sống lại, Ngài mới chính thức sai các Tông đồ truyền giảng Tin Mừng cho mọi người, bất luận là Do thái hay không Do thái.
            Qua câu trả lời của Chúa Giêsu với người đàn bà gốc Phênixi, ta không thể giải thích dấu hiệu thi sự khinh miệt của Ngài đối với người khác đạo và khác tổ quốc; đúng hơn, Chúa muốn mọi người đừng quên ưu thế của người Do thái trong việc thừa hưởng ơn cứu độ, bởi vì Thiên Chúa đã chọn cha ông họ và muốn tỏ lòng trung thành với cha ông họ. Người Do thái được ưu tiên, chứ không phải là những người duy nhất được hưởng ơn cứu độ; vì thế, dù quan tâm săn sóc người Do thái nhiều đến đâu, Chúa Giêsu cũng không để trở thành vật sở hữu độc quyền của họ, Ngài vẫn có tự do bày tỏ tình thương đối với người khác.
            Thật ra ngay những năm rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã hé mở cho thấy chiều kích phổ quát của giáo lý và của ơn cứu độ mà Ngài mang lại. Ngoài những giáo huấn về tình huynh đệ đại đồng và thái độ không bài ngoại của Chúa Giêsu, Tin Mừng còn thuật lại các chuyến đi của Ngài tới vùng đất ngoại giáo, tại đây, Ngài cũng đã làm nhiều phép lạ, như trừ quỷ cho một thanh niên ở Gêrasa, cho một người câm ở miền Thập tỉnh nói được, và lần này trừ quỷ cho con gái của một phụ nữ Hy lạp gốc Phênixi.
            Thánh Máccô khắc họa chân dung Chúa Giêsu là Đấng cứu độ phải đến, Ngài đã vượt qua rào cản Do Thái giáo để đến với mọi người kể cả dân ngoại. Nhân loại hôm nay trong bối cảnh toàn cầu hóa, họ nhìn Ngài một cách đầy thiện cảm. Ngài đến với mọi người như một “người ngoại quốc”, nhưng Ngài lại cư xử với mọi người như là “người thân cận”. Ở đây chúng ta có thể liên tưởng đến đoạn Tin Mừng theo thánh Luca 10, 30 khi chàng thanh niên hỏi Chúa Giêsu, “ai là người thân cận của tôi ?”
             Có phải là người đàn bà ngoại quốc này là người thân cận của Chúa Giêsu hôm nay. Có phải là người đang cần sự giúp đỡ, người đang cần được yêu thương là câu trả lời đúng về người thân cận ?
            Đối với người Kitô hữu, tất cả chúng ta phải vượt ra khỏi rào cản của văn hóa, của ranh giới địa lý. Không có khái niệm “người ngoại quốc” như là “người xa lạ” trong não trạng của một Kitô hữu. Người Kitô hữu theo chân Chúa Giêsu trên mọi nẻo hành trình, phải học được cách hành xử vượt biên cương của Chúa Giêsu. Phải học được sự khiêm tốn và lòng thành khẩn của người đàn bà ngoại giáo, khi bà vượt qua biên cương địa lý, để kêu xin, để khẩn nài Chúa cứu giúp.
            Chúa Giêsu đến, Ngài đổi mới và kiện toàn mọi sự. Chúa Giêsu đến, Ngài hoàn thiện luật Cựu Ước, thay thế luật Cựu Ước bằng luật yêu thương. Sự xuất hiện của Chúa Giêsu với nhiều điểm mới, đã làm cho các kinh sư, Pharisiêu, biệt phái, cùng hàng ngũ lãnh đạo Do Thái thấy ngột ngạt vì họ bị Ngài sửa lưng khi họ làm những chuyện không đúng. Họ dò xét, dòm ngó, tìm cách bắt bẻ và tấn công Ngài… Chúa Giêsu đến, Hêrôđê lo sợ coi Ngài như một mối đe dọa đến vương quyền của ông. Ông sợ Ngài sẽ chiếm mất ghế và vị trí của ông. Chúa Giêsu đến, dân chúng người theo kẻ không theo, người được chữa lành thì đi theo tung hô, nhưng kẻ bị la mắng, bị chỉnh sửa thì thấy Ngài là né…
             Thiên Chúa biết chúng ta cần gì, và Người luôn ban ơn cho chúng ta dư dật hơn cả lòng chúng ta ước ao. Người yêu thương, chăm sóc chúng ta cách chu đáo hơn bất cứ người cha tốt lành nào trên thế gian lo cho con cái mình. Dẫu vậy, đôi khi, Thiên Chúa “bắt” chúng ta phải chờ đợi để chúng ta có thể sẵn sàng hơn, để chúng ta khát khao ân sủng một cách nao nức hơn, mãnh liệt hơn.
            Cũng có khi Chúa thanh luyện lời cầu xin của chúng ta và Người sẽ ban điều thật sự cần thiết cho cuộc đời chúng ta. Và, cũng sẽ có những lúc Thiên Chúa không ban cho chúng ta điều chúng ta cầu xin, vì lẽ những điều ấy chẳng đem lại ơn ích gì cho chúng ta. Điều cần là chúng ta phải tin tưởng và kiên trì trong lời cầu nguyện của mình, không bao giờ ngã lòng, hay thất vọng vì không được Chúa ban cho điều mình ước vọng. 

Thứ Sáu tuần 5 thường niên,
Mc 7, 31-37
XIN CHÚA CHỮA LÀNH CHO TA
            Duy chỉ có Tin Mừng Mác-cô thuật lại việc Chúa Giêsu chữa lành một người bị câm điếc. Người thực hiện phép lạ này tại miền Thập Tỉnh, nơi cư dân hầu hết là dân ngoại. Người đã chữa bệnh câm điếc như sau: đặt ngón tay vào tai anh ta, bôi nước miếng vào lưỡi anh ta, ngước mắt lên trời cầu nguyện, rên lên một tiếng và nói “Épphatha!”-“Hãy mở ra!” Lập tức bệnh nhân được chữa lành: tai anh ta đã mở ra để nghe được và lưỡi anh ta đã được tháo cởi sợi dây ràng buộc để nói được rõ ràng.
            Ta thấy người ta đem đến cho Người một người vừa điếc vừa ngọng (Mc 7, 31-32). Người điếc là người mất khả năng nghe và ngọng là khả năng nói bị hạn chế hay nói không rõ ràng. Anh không nghe nên anh không hiểu được mọi người nói gì. Anh ngọng nên khả năng diễn tả của anh không rõ ràng.
            Chúa Giêsu đã  “hãy  mở ra” với anh điếc câm, chính là Chúa muốn đưa anh từ một trạng thái bất toàn đi đến một sự hoàn hảo. Sứ vụ của Chúa khi đến thế gian là loan báo và chữa lành. chính Chúa cũng muốn khi được chữa lành, chúng ta phải là những người nói về Thiên Chúa. Nhưng thử hỏi có bao nhiêu người trong chúng ta nói về Thiên Chúa như  lòng Chúa mong muốn ?
            Trong cử hành bí tích rửa tội trẻ em, có lời nguyện hãy mở ra như nhắc nhớ sự chữa lành của Chúa đã có ngay từ ban đầu và kêu mời chúng ta hãy ca tụng Thiên Chúa, nói về Ngài ngay từ tấm bé chứ không phải chỉ có lúc lớn khôn. Nhưng không hiểu sao lớn lên chúng ta dễ bị khiếm thính và câm lặng !? Nếu chẳng may có dấu hiệu khiếm thính,  hãy cầu xin Chúa chữa ngay kẻo trở nên mạn tính sẽ phải chìm đắm suốt đời trong im lặng.
            Điều đó khiến cho mọi người không hiểu được anh. Cuộc sống của người vừa điếc vừa ngọng bị đóng kín lại và các mối tương quan với xã hội, với con người bị cắt đứt và khép kín lại. Đặc biệt, người đương thời quan niệm bệnh tật là biểu hiện của tội lỗi. Điều đó làm cho mọi người có thành kiến không tốt về người bệnh, xem thường họ và xa tránh họ.
            Sau khi hoàn tất mỗi công trình sáng tạo, “Thiên Chúa thấy mọi sự Người làm đều tốt đẹp” (St 1, 31). Tội lỗi đã khiến cho con người sợ hãi và đi vào cõi chết. Chúa Giêsu, Đấng Thiên Sai đã đến và thực hiện những việc chữa lành và khôi phục lại phẩm giá con người. Nhờ hành động của Chúa Giêsu, thế giới được tạo thành đã bị hỏng do tội nay được tái thiết tốt đẹp.
            Tạo thành mới đã được bắt đầu qua hành động cứu độ của Chúa Giêsu, Người đã làm người để con người được làm Con Thiên Chúa. Ngày đó, Thiên Chúa sẽ chữa lành cho từng người, “mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được. Bấy giờ kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò”( Is 35,5-6). Chính Chúa Giêsu đã đưa tay kéo anh thanh niên ra khỏi đám đông. Người dùng tay sờ vào tai và chạm vào lưỡi để chữa lành anh. Lập tức tai anh mở ra, lưỡi như hết bị buộc lại. Anh nói được rõ ràng.
            Thời Chúa Giêsu, nhiều người Do Thái cũng bị điếc trước Tin Mừng, họ cứng đầu cứng cổ, lòng và tai không cắt bì (Cv 7, 51), lòng họ đã ra chai đá và họ đã bịt tai nhắm mắt (Mt 13, 15) trước lời rao giảng của Chúa Giêsu và những phép lạ Người làm. Nhiều môn đệ sau một thời gian theo Chúa cũng quyết định bỏ Người vì lời Người chướng tai quá (Ga 6, 60), còn nhiều ông không hiểu được những lời rao giảng của Chúa Giêsu vì lòng họ còn ngu muội, họ có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe (Mc 17-18).
            Nhiều người Kitô hữu ngày nay mặc dù thể xác họ lành lặn, bình thường nhưng họ “có hai tai, mà chẳng thể nghe chi” ( Tv 135, 17). “Họ ngoảnh tai đi không nghe chân lý, nhưng hướng về những chuyện hoang đường” (2 Tm 4, 4). Họ để tâm đến những lời bất chính, lắng tai nghe những chuyện hại người. Họ sống khép kín với những người thân chung quanh, dửng dưng với những con người nghèo hèn bên lề xã hội, vô cảm trước những hoàn cảnh khó khăn của người khác.
            Và có thể đôi khi chúng ta cũng có khuynh hướng sống như những người câm điếc, khi chỉ quan tâm đến chính mình. Rơi vào tình trạng đó, chúng ta tự tách biệt, xa lìa anh em. Chúng ta bị câm điếc khi để mất khả năng lắng nghe người khác; vì thế, không hiểu biết, cảm thông và chia sẻ. Chúng ta bị câm điếc, khi nghe người khác, nhưng lại cố tình không hiểu, hoặc hiểu sai, hay hiểu theo ý mình, bóp méo sự thật, làm sai lạc chân lý. Chúng ta bị câm điếc, khi chúng ta không dám mạnh dạn sống đức tin, e ngại tôn trọng sự công bình, chính trực, thiếu nghị lực thực hiện đức bác ái, yêu thương, không biết thương cảm, giúp đỡ những người bất hạnh, khổ đau. Xa lià anh em cũng là dấu chỉ cho biết không gần gũi với Thiên Chúa. Bởi vì, sống với anh em bằng xương, bằng thịt hữu hình thế nào, chính là sống với Thiên Chúa vô hình như vậy.
            Phải chăng hôm nay chính chúng ta cũng phải kêu cầu Chúa mở tai và miệng lưỡi để lắng nghe và rao truyền Lời Chúa ? Nhất là các gia đình ngày nay đang phải đối mặt với nhiều bão táp kinh khủng của tiền tài, vật chất, công việc, danh vọng, hưởng thụ như cuốn hút mọi người ra khỏi sự an toàn của những luân thường đạo lý… Nếu cứ để cho tai bị điếc, chúng ta sẽ không nghe thấy những nhức nhối, khao khát, ưu tư hay sự chuyển biến của gia đình và xã hội.
            Người câm điếc nầy cũng là hình ảnh của thế giới chúng ta đang sống, một thế giới đang bị chi phối bởi cá nhân chủ nghĩa. Chỉ bo bo giữ chặt lấy những lợi lộc riêng tư, hay những đặc quyền, đặc lợi của riêng mình, trở thành câm điếc với tất cả những gì không phải là của mình, không thuộc về mình.
            Phép lạ chữa người câm điếc như được ghi lại trong Tin Mừng hôm nay, không chỉ là một chữa lành bệnh tật thân xác, mà còn là dấu chỉ của một thực tại cao siêu hơn, đó là sự sống đích thực mà Chúa Giêsu muốn mang lại cho con người. Khi phục hồi người câm điếc trong khả năng nghe và nói, có lẽ Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta rằng con người không chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn bằng Lời Chúa nữa; con người chỉ có thể sống thực, sống trọn phẩm giá con người, khi nó biết mở rộng tâm hồn đón nhận và sống Lời Hằng Sống của Chúa.

 

Thứ Bảy tuần 5 thường niên, năm II

Mc 8, 1-10

CẢM THƯƠNG THA NHÂN

            Trang Tin Mừng hôm nay liên quan đến phép lạ hóa bánh ra nhiều mà thánh sử Marcô đã tường thuật trước đó (Mc 8, 1-10). Phép lạ ấy chứng tỏ uy quyền của Chúa Giêsu. Ngài chính là Môisen mới, ban lương thực nuôi dưỡng muôn dân.

            Ta thấy đây là lần thứ hai Chúa Giêsu làm phép lạ hóa bánh ra nhiều. So với lần thứ nhất (Mc 6, 30-44), thấy đám đông dân chúng đi theo, các môn đệ xin Chúa Giêsu cho họ giải tán vào làng mạc tìm thức ăn. Chúa Giêsu đề nghị các ông hãy cho họ ăn. Sau đó Người dùng 5 chiếc bánh và 2 con cá thực hiện phép lạ cho 5 ngàn người đàn ông ăn và còn dư 12 thúng đầy.

            Phép lạ lần thứ hai xảy ra là do lòng thương của Chúa Giêsu khi thấy đám đông đi theo suốt ba ngày mà không có gì ăn. Từ 7 chiếc bánh và vài con cá nhỏ, Chúa Giêsu đã làm phép lạ cho 4 ngàn người ăn no và còn dư 7 giỏ bánh. Trong Kinh Thánh, số 7 tượng trưng cho sự hoàn hảo, cho đức ái và ân sủng của Thiên Chúa. Trong cuộc sáng tạo kỳ diệu, Thiên Chúa đã hoàn tất mọi việc trong sáu ngày và ngày thứ bảy Người nghỉ ngơi. Từ đó “số 7” trở thành khuôn mẫu để quy định thời gian làm việc mà chúng ta thường gọi là “một tuần”.

            Vì thế phép lạ từ 7 chiếc bánh là một bằng chứng sống động cho tình thương của Thiên Chúa. Người không chỉ cho ăn qua cơn đói mà cho cách hào phóng dư thừa suốt chu trình của 7 ngày sống. Người không chỉ đáp ứng nhu cầu vật chất tạm thời mà còn hướng dân chúng đến nguồn lương thực Thần Linh để được sống muôn đời.

            Dẫu vậy, những người Pharisêu vẫn không tin vào Chúa. Họ còn đòi hỏi Chúa cho thấy một dấu lạ từ trời (Mc 8, 11). Còn với những người thuộc phái Hêrôđê, họ chỉ lo những chuyện chính trị và quyền lợi vật chất, nên phép lạ hóa bánh ra nhiều của Chúa Giêsu cũng chẳng có ý nghĩa gì đối với họ. Bởi thế, Chúa Giêsu đã khuyến cáo các môn đệ: "Các con hãy coi chừng và giữ mình cho khỏi men biệt phái và men Hêrôđê" (Mc 8, 15).

            "Men biệt phái" là thói giả hình, đạo đức giả, kiêu căng, phô trương,…; "men Hêrôđê" là thói háo danh, tham lam, yêu lợi lộc, quyền bính,… Tất cả những nết xấu này của những người Pharisêu và phái Hêrôđê đã bị Chúa Giêsu nhiều lần lên án. Thế nên, lời Chúa Giêsu căn dặn các môn đệ năm xưa cũng là điều mà chúng ta - những Kitô hữu hôm nay phải cẩn thận đề phòng.

            Quả thật, sống trong xã hội xô bồ hiện tại, con người bị lôi cuốn bởi lối sống hưởng thụ, chạy theo danh-lợi-thú,… Không tỉnh táo, người môn đệ của Chúa Giêsu cũng dễ bị "lây nhiễm" những thứ "men" này. Để khỏi bị lây nhiễm những thứ "men xấu" trên, người môn đệ cần luyện tập một lối sống được tác động bởi những "men tốt". Đó là một đời sống luôn kết hiệp với Chúa Giêsu qua việc chuyên chăm đọc và suy gẫm Lời Chúa; qua việc năng lãnh nhận các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể và Hòa Giải; qua việc thanh luyện bản thân mỗi ngày. Nhờ vậy, chúng ta sẽ trở nên những Kitô hữu nhiệt thành và góp phần làm cho thế giới hôm nay nồng thắm "men Giêsu". 

            Chúa Giêsu đã không khởi sự phép lạ một cách mơ hồ, nhưng từ chính sự thật của con người, cho dù đó là sự thật yếu kém đến đâu đi nữa. Ngài đã làm phép lạ từ bảy chiếc bánh và mấy con cái và mấy con cá nhỏ. Hành vi của Chúa không phải là hành vi đột xuất, bởi vì Ngài vẫn tiếp tục phục vụ kẻ khác một cách quảng đại như thế ngay cả khi đã chết.

            Quả thật, các kiểu nói và từ ngữ trong Tin Mừng hôm nay, cũng chính là các kiểu nói và từ ngữ được áp dụng cho Bí tích Thánh Thể, như "cầm lấy bánh", "dâng lời tạ ơn", "bẻ ra, trao cho các môn đệ". Như vậy, phải hiểu Bí tích Thánh Thể là một hành vi cứu giúp người đói khát, là sự nối dài hành vi quảng đại của Chúa Giêsu hôm nào, khi từ bảy chiếc bánh và mấy con cá nhỏ, Chúa Giêsu đã cho đám đông ăn no nê chỉ vì Ngài yêu thương họ.

            Con người được ban cho hai món quà vô giá là sự sống và tình yêu. Sự sống là một huyền nhiệm và tình yêu là điều thiêng liêng cao quý. Tình yêu mang đến cho con người sự sống và sự sống duy trì được là nhờ vào tình yêu. Sự sống và tình yêu đều xuất phát từ Thiên Chúa, hay nói cách khác Thiên Chúa là cội nguồn của sự sống và tình yêu. Thiên Chúa đã biểu lộ tình yêu của Người qua cuộc sáng tạo kỳ diệu để trao ban sự sống cho muôn vật muôn loài. Sự hiện hữu của chúng ta trên cõi đời này là bằng chứng hùng hồn nhất về tình yêu nhiệm mầu của Thiên Chúa.

            Ngày hôm nay, để nuôi sống nhân loại, Chúa Giêsu đã lấy chính Thịt Máu Ngài làm lương thực. Với lương thực này, Ngài tin chắc mọi người sẽ được no thỏa để phát triển đến mức tối đa. Tuy nhiên, để lương thực ấy đủ cho mọi người thuộc mọi thế hệ, Chúa Giêsu cần đến sự cộng tác của con người, đặc biệt của Giáo Hội, bằng cách phân phát, chia sẻ. Ðám đông sẽ vẫn tiếp tục đói khát, nếu hôm ấy, các Tông đồ không phân phát bánh và cá cho người khác, vì sợ thiếu hay sợ không còn phần cho mình. Nếu vậy, cảnh đói khát hiện nay vẫn còn, là vì người ta từ chối phân phát và chia sẻ cho người khác, mà chỉ bo bo giữ lấy cho mình.

            “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi… Ngài dọn sẵn cho tôi bữa tiệc…” Lời Thánh Vịnh 22 trên đây chẳng xa lạ gì đối với dân Israel, diễn tả niềm tin vào một Thiên Chúa đầy tình yêu thương đối với dân riêng của Ngài, lời ấy giờ đây được hiện thực cụ thể, bằng xương bằng thịt nơi Chúa Giêsu, Đấng Chúa Cha sai đến. Ngài đến để giải thoát con người khỏi tội lỗi và đưa dẫn đến sự sống đời đời, nhưng không vì thế mà Ngài không cảm thương trước những nỗi cùng khổ nhọc nhằn của cuộc sống đời này. Ngài chạnh lòng thương đám đông vì “đã ba ngày họ không có gì ăn;” thế rồi, chỉ với vài chiếc bánh và một ít cá nhỏ Ngài cho đoàn dân đang đói được no thoả, và qua đó, Ngài báo trước tấm bánh trường sinh Ngài sẽ ban cho nhân loại sau này.

            Chúa Giêsu đã chạnh lòng thương đám đông dân chúng, dưới ánh sáng của Lời Chúa, chúng ta cũng được mời gọi “cảm thương” trước nhu cầu của tha nhân. Xung quanh chúng ta còn biết bao người đang chịu cảnh thiếu thốn về của ăn vật chất, thiếu công bằng bác ái. Ước gì chúng ta biết trao cho nhau một cử chỉ yêu thương, một ánh mắt thân thiện, một câu nói cảm thông thể hiện tinh thần Phúc Âm, cho tình thương Chúa thẫm đẫm mọi sinh hoạt của đời sống chúng ta.

February 17, 2023