Suy Niệm của Huệ Minh
Chúa nhật tuần 7 thường niên, năm A
+++
Chúa Nhật 7 TN – A-2020
Mt 5, 38 - 48
YẾU NHƯ CHÚA YÊU
Thời Cựu Ước, luật yêu thương được hiểu là không hại người anh em, phải yêu thương đồng loại: “Ngươi không được trả thù, không được oán hận những người thuộc về dân ngươi. Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” (Lv 19, 18). Trong sách Huấn Ca, tác giả cũng dạy không được oán hờn, giận giữ anh em mình, vì nếu thù ghét đồng loại mình và không tha thứ cho nhau thì không xứng đáng được Chúa tha thứ cho mình.
Tuy nhiên, luật Cựu Ước, theo lẽ công bằng thì yêu tha nhân là những người đồng chủng, đồng bào, nghĩa là chỉ người Do thái. Còn tất cả mọi người khác là ngoại bang, là kẻ thù, không được thương mà cũng không được giúp. Ngược lại, còn khuyên tránh xa, và nếu cần có thể giết nữa (Đnl 20, 13-17; 23,4-5; 25,17-19). Luật công bằng cũng hiểu là: “mắt đền mắt, răng đền răng”.
Chúa Giêsu đã khẳng định, ngài đã không đến hủy bỏ Lề Luật, mà là kiện toàn khi đưa nó đến chỗ hoàn hảo của nó. Ngài nói, sự công chính của những người kitô hữu phải vượt qua sự công chính của những người biệt phái và luật sĩ. Như thế, lý tưởng được Chúa Giêsu đề nghị dẫn đi rất xa và rất cao. Phúc Am hôm nay cũng đi theo đường hướng đó, khi thoáng mở cho thấy: đâu là những đòi hỏi của tình yêu đối với một người muốn dứt khoát đi theo Chúa Giêsu.
Chúa Giêsu đến để kiện toàn Lề Luật bằng việc thổi vào đó tinh thần của tình yêu, lòng bao dung và tha thứ. Vì thế, theo giáo huấn của Chúa Giêsu về luật yêu thương tha nhân, thì sự bao dung đại lượng còn phải đi tới chỗ yêu thương luôn cả thù địch nữa, Ngài nói: “Các con cũng đã nghe dạy rằng: ‘Hãy yêu thương tha nhân, và ghét thù địch’. Còn Thầy, Thầy bảo các con: ‘Các con hãy yêu thương thù địch và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi các con’” (Mt 5, 43-44).
Thánh Phaolô cũng tiếp lời giáo huấn của Chúa Giêsu khi nói: “Hãy chúc lành cho kẻ bắt bớ, chúc lành chứ đừng chúc dữ... Nếu kẻ thù ngươi đói hãy cho nó ăn; nó khát hãy cho nó uống [...]Chớ để sự dữ thắng được ngươi, nhưng hãy lấy lành mà thắng dữ” (Rm 12, 14, 20-21). Rõ ràng, Chúa Giêsu đã xóa bỏ nguyên tắc “ăn miếng trả miếng”. Ngài đòi hỏi các môn đệ phải khước từ báo oán, phải tha thứ, yêu thương và cầu nguyện cho kẻ thù, bởi vì: “Cha các con ở trên trời, là Ðấng làm cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ, và cho mưa trên người công chính cũng như kẻ bất lương”. Ngài mời gọi các môn đệ hãy tha thứ vô điều kiện: “Không phải chỉ tha 7 lần nhưng là 70 lần 7”. Như vậy, vị chi là 490 lần, tức là yêu thương không ngừng.
Thiên Chúa đã tạo dựng nên chúng ta, và trong khi tạo dựng nên chúng ta, ngài đã để lại nơi chúng ta dấu ấn linh thánh của ngài. Chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh ngài và giống như ngài. Chúng ta không phải là Thiên Chúa, nhưng trong chúng ta có sắc thái thần thiêng của Thiên Chúa. Chúng ta không phải là Thiên Chúa, nhưng chúng ta là con cái của Thiên Chúa.
Ta thấy ta không phải là Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa lôi cuốn chúng ta về với ngài, gắn bó với ngài, để chúng ta càng ngày càng trở nên giống ngài hơn. Chúng ta không phải là Thiên Chúa, nhưng thần khí của Thiên Chúa ngự trong chúng ta, đến nỗi những tư tưởng của Thiên Chúa có thể trở thành những tư tưởng của chúng ta; những chương trình, dự án của ngài có thể trở thành của chúng ta; đến nỗi chính tình yêu mà Thiên Chúa yêu thương chúng ta có thể trở thành tình yêu mà chúng ta có thể biểu lộ cho nhau.
Lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ”, là câu then chốt của đoạn Tin Mừng này, tức lả “bắt chước Thiên Chúa”, như Fray Luis giải thích: “Phẩm chất đầu tiên của nhân đức này chính là nó làm cho con người nên giống Thiên Chúa và giống đức tính vinh quang nhất ở nơi Người, lòng từ bi nhận hậu của Ngài (Lc 6, 36). Vì chắc chắn sự hoàn thiện bậc nhất một thọ tạo có thể có là phải nên giống Đấng Tạo Hóa của mình; và càng nên giống Người, càng nên hoàn thiện”
“Hãy yêu kẻ thù”. Đó là lệnh truyền đã được Chúa Giêsu nhắc lại hai lần trong bài tin Mừng hôm nay. Đó cũng là lệnh truyền khó thi hành nhất trong các lệnh truyền của Người. Khó nhưng không phải là không có thể. Chính Người đã làm gương cho chúng ta khi Người xin Cha tha thứ cho những kẻ hành hạ mình. Hơn nữa, Người còn minh oan cho họ : “Vì họ lầm chẳng biết”.
Trong thực tế ta thấy ta không bao giờ chúng ta sẽ yêu mến như chúng ta được Thiên Chúa yêu mến, và không bao giờ chúng ta sẽ tha thứ như ngài tha thứ cho chúng ta. Tuy nhiên, đó không phải là lý do để, mỗi ngày, trong suốt cuộc đời, chúng ta không tìm kiếm thực hiện một bài ca tình yêu của lòng thương xót, cho những người chung quanh chúng ta, bằng những hành động cụ thể, cho dù rất nhỏ bé. Trên mặt đất, không bao giờ chúng ta sẽ thánh thiện như Cha trên trời là Đấng thánh, và không bao giờ chúng ta sẽ hoàn hảo như ngài. Tuy nhiên, đó không phải là lý do để chúng ta tự bằng lòng vói cái ít ỏi của mình, và để chúng ta không hướ
Luật Kitô hữu là luật yêu thương. Khi người môn đệ Chúa Kitô chấp nhận những từ bỏ do luật này đòi hỏi, luật yêu thương này chứng tỏ được tất cả trọng lượng của nó. Nếu các nguyên tắc được công bố ở đây đi vào trong xã hội, xã hội này hẳn là sẽ không bị tiêu vong, nhưng sẽ thấy các tương quan giữa con người được đổi mới, bởi vì các bất công và bạo động sẽ bị dập tắt dễ dàng nhờ sống theo luật này hơn là do sợ các biện pháp chế tài hình sự.
Thật ra đây chính là lối sống của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã chết vì không nhường bước trước các áp lực của sự thận trọng hoặc của lương tri. Khi làm như thế, Người không đảo lộn trật tự xã hội, nhưng Người củng cố các tương quan giữa con người với con người. Bắt chước Thiên Chúa, và cũng là bắt chước Chúa Giêsu, là quy tắc duy nhất của lối cư xử của Kitô hữu, là con đường duy nhất để vượt qua nền luân lý Pharisêu.
“Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho họ". Đó là lệnh truyền khó thi hành nhất trong các lệnh truyền của Đức Giêsu. Nhưng Ngài đã làm gương khi xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ hành hạ, đóng đinh mình trên thập giá “lạy Cha, xin tha cho họ vì nó lầm chẳng biết”. Chính hành vi cao cả này đã thể hiện trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa. Đó cũng là nét cao quý nhất trong dung mạo Đấng Cứu Thế. Người đến để yêu thương và cứu chuộc con người. Người đến để tha thứ và đem lại cho con người cơ may hầu sám hối và canh tân để được cứu độ.
Huệ Minh 2020
20.2.23 Thứ Hai tuần thứ 7 Mùa Quanh Năm 2023
Hc 1:1-10; Tv 93:1,1-2,5; Mc 9:14-29
Tin vui chữa lành
Tin Mừng hôm nay kể lại một phép lạ chữa lành ngay sau biến cố biến hình của Chúa Giêsu trên núi cao cho ba môn đệ thân tín của Người. Có lẽ chúng ta tạm chọn đề tài cho đoạn Tin Mừng này là “Tình thương chữa lành”, bởi vì chính Đức Giêsu – hiện thân của Thiên Chúa Cha đã tỏ lộ tình thương, không những trong việc chữa lành thân xác đứa con, mà còn củng cố, thêm sức tâm linh cho người cha. Hơn nữa, Người còn truyền dạy cho các môn đệ một bài học quan trọng trong đời sống tông đồ, đó là Cầu nguyện. Thật vậy, chỉ có cầu nguyện mới giúp con người có sự trợ giúp của Thiên Chúa trong tương quan với Ngài. Chỉ có cầu nguyện mới khiến con ngừơi nhận ra những yếu đuối bất toàn của bản thân, để chỉ trông cậy nương tựa vào lòng thương xót của Thiên Chúa.
Trong câu đầu tiên của đoạn Tin Mừng, thánh sử kể lại quang cảnh miêu tả hành trình xuống núi của Chúa Giêsu và ba môn đệ thân tín, có thêm đám đông dân chúng, các môn đệ và một số kinh sư đang chờ tại chân núi. Tất cả mọi người đang bàn tán xôn xao, đám đông nhốn nháo chạy qua chạy lại. Vừa thấy Đức Giêsu, đám đông kinh ngạc và chạy lại chào Người. Họ kinh ngạc có lẽ vì Chúa xuất hiện ngay vào lúc “nút thắt” lên cực điểm. Các luật sĩ đang lý luận. Các môn đệ thì lúng túng, bất lực. Còn đám đông đang bấn loạn không biết cậy dựa vào ai. Sự hiện diện của Chúa Giêsu khiến họ kinh ngạc nhưng rất đỗi vui mừng. Như kẻ sắp chìm vớ được mảnh ván, họ chạy lại đón Người. Nhìn thấy cảnh ấy, Chúa Giêsu đoán rằng đã xảy ra chuyện gì, nên Người hỏi các môn đệ “Anh em tranh luận gì với họ thế?” (16).
Đến đây, sự chờ đợi và bức xúc của dân chúng như oà vỡ qua lời của một người trong đám đông lên tiếng. Ông ta chính là cha của đứa bé, nhân vật chính trong trình thuật này. Ông kể lể mọi tình trạng khốn khổ mà con ông phải chịu đựng. Ông cũng đã xin các môn đệ chữa lành và ông kết luận : họ không làm nổi (18). Vừa nghe xong những lời ấy, Chúa Giêsu tỏ vẻ buồn rầu và kêu lên : thế hệ cứng lòng tin (19). Vì họ không tin, nên phép lạ đã không xảy ra. Chúa Giêsu truyền đem đứa bé lại gần Người. Trước tôn nhan Chúa, quỷ tỏ rõ sức mạnh và khống chế đứa bé bằng cách : lay nó thật mạnh, quật ngã xuống, làm cho lăn lộn và sùi bọt mép... Chúa Giêsu hỏi người cha về thời gian ma quỷ đã cầm tù cháu bé. Một lần nữa, ông được dịp bộc bạch tâm lòng và kể lại những tình huống bi thảm hơn như : quỷ xô vào lửa, đẩy xuống nước... và ông nài xin lòng thương xót của Chúa. Nhưng trong lời van xin ấy, ông vẫn chưa đặt trọn tin tưởng vào Chúa Giêsu “ Nếu Thày có thể làm được gì...” (22).
Trước khi Chúa Giêsu chữa trị thân xác cho đứa con, Người cũng mở đôi mắt tâm hồn cho người cha “Sao lại nói : Nếu Thày có thể? Mọi sự đều có thể đối với kẻ tin” (23). Ngay lập tức, người cha đau khổ tuyên xưng đức tin “ Tôi tin” và xin Chúa Giêsu thương xót và nâng đỡ lòng tin non yếu của ông (24). Chỉ chờ có thế, Đức Giêsu đã thực hiện một phép lạ chữa lành. Phép lạ này xuất phát từ lòng thương xót của Người, không những đối với thân xác đứa con mà cả tâm hồn của người cha nữa.
Từ câu 25 đến câu 27, chúng ta thấy thánh sử mô tả như là nguyên nhân mà Chúa Giêsu thực hiện phép lạ “khi thấy đám đông tuôn đến...”. Chúa chữa trị, xua trừ ma quỷ khi có đám đông chứng kiến. Điều này có đối nghịch với sự ẩn giấu uy quyền Thiên Chúa nơi Người hay không? Có lẽ ở đây, Chúa muốn cho dân chúng biết thời đại Mêsia đã đến. Thiên Chúa đã viếng thăm dân Ngài và Ngài đến để chiên được sống và sống dồi dào. Hơn nữa, Chúa cũng muốn củng cố niềm tin cho các môn đệ, để các ông vững tâm cùng Chúa tiến lên Giêrusalem, đi vào cuộc Vượt Qua của Chúa.
Với hai câu cuối là một bài học thiết thực trong đời sống tông đồ, mà chính Chúa đã nêu gương trong đời sống thường ngày, đó là : cần cầu nguyện. Với một người Kitô hữu, lương thực nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng là sự tương giao với Thiên Chúa. Đức Thánh Cha Phanxicô trong các bài gỉang, ngài luôn nhắn gửi chúng ta cần cầu nguyện không ngừng... Dù người đó là giáo dân hay tu sĩ, linh mục, dù người đó già trẻ, lớn bé, giàu sang hèn kém, cũng phải cần đến ơn trợ lực của Thiên Chúa, vì “không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” ..
Thật thế, chỉ trong cầu nguyện chúng ta mới có tương quan kết hợp gắn bó với Chúa, mới có được sức mạnh từ Thiên Chúa để chống trả với thế gian, ma quỷ và xác thịt. Sức mạnh duy nhất của người môn đệ có được khi họ luôn đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa trong lòng tin và tình mến. Với những ai tin và yêu, người đó sẽ chiến thắng đau khổ, thử thách, ngay cả sự chết ... khi họ biết dựa trên lòng thương xót và quyền năng cứu độ của Thiên Chúa.
Các môn đệ đã không hiểu lý do tại sao họ không trừ quỷ cho em bé này được. Chúa Giê-su trả lời ngay rằng họ thiếu đức tin. Chúa không nói họ không có đức tin nhưng vì đức tin của họ chưa đủ, còn non yếu. "Mọi sự đều có thể với người tin".
Giáo lý Công giáo dạy chúng ta rằng: "Đức tin là ơn nhưng không mà Thiên Chúa ban cho con người. Chúng ta có thể đánh mất ơn vô giá này... Để sống, tăng triển và bền vững đến cùng trong đức tin, chúng ta phải nuôi dưỡng bằng Lời Chúa; chúng ta phải cầu xin Thiên Chúa tăng thêm đức tin (Lc 17,5; Mc 9,24; đức tin phải "hành động qua đức ái" (Gl 5,6), được cưu mang bởi niềm hy vọng và được ăn rễ sâu trong đức tin của Giáo Hội" (Số 160-162).
Dù đức tin là một ân huệ của Thiên Chúa, nhưng nó cần sự cộng tác của chúng ta để lớn lên và tăng trưởng. Giống như việc tập luyện thể thao, nâng được tạ, thì cần cơ bắp phát triển. Đức tin phải được thực hành, được thử thách và được nuôi dưỡng. Nếu hài lòng với đức tin nhỏ bé mình đang có, thì 'cơ bắp' thiêng liêng chỉ là còi cọc. Chúng ta cần phải vun trồng cho đức tin trưởng thành và bền vững. Nuôi dưỡng bằng các sách vở thiêng liêng và cầu nguyện hằng ngày. Thường xuyên lãnh các bí tích thì mới làm cho đức tin vững mạnh được.
thứ Hai tuần 7 thường niên,
Mc 9, 14-29
NHỜ ĐỨC TIN THẮNG SỰ DỮ
Ta thấy sau biến cố biến hình của Chúa Giêsu trên núi cao cho ba môn đệ thân tín của Người. Có lẽ chúng ta tạm chọn đề tài cho đoạn Tin Mừng này là “tình thương chữa lành”, bởi vì chính Đức Giêsu – hiện thân của Thiên Chúa Cha đã tỏ lộ tình thương, không những trong việc chữa lành thân xác đứa con, mà còn củng cố, thêm sức tâm linh cho người cha. Hơn nữa, Người còn truyền dạy cho các môn đệ một bài học quan trọng trong đời sống tông đồ, đó là Cầu nguyện.
Trước khi Chúa Giêsu chữa trị thân xác cho đứa con, Người cũng mở đôi mắt tâm hồn cho người cha “Sao lại nói : Nếu Thày có thể? Mọi sự đều có thể đối với kẻ tin” (23). Ngay lập tức, người cha đau khổ tuyên xưng đức tin “ Tôi tin” và xin Chúa Giêsu thương xót và nâng đỡ lòng tin non yếu của ông (24). Chỉ chờ có thế, Chúa Giêsu đã thực hiện một phép lạ chữa lành. Phép lạ này xuất phát từ lòng thương xót của Người, không những đối với thân xác đứa con mà cả tâm hồn của người cha nữa.
Vừa thấy Chúa Giêsu, đám đông kinh ngạc và chạy lại chào Người. Họ kinh ngạc có lẽ vì Chúa xuất hiện ngay vào lúc “nút thắt” lên cực điểm. Các luật sĩ đang lý luận. Các môn đệ thì lúng túng, bất lực. Còn đám đông đang bấn loạn không biết cậy dựa vào ai. Sự hiện diện của Chúa Giêsu khiến họ kinh ngạc nhưng rất đỗi vui mừng. Như kẻ sắp chìm vớ được mảnh ván, họ chạy lại đón Người. Nhìn thấy cảnh ấy, Chúa Giêsu đoán rằng đã xảy ra chuyện gì, nên Người hỏi các môn đệ “Anh em tranh luận gì với họ thế?” (16).
Đến đây, sự chờ đợi và bức xúc của dân chúng như oà vỡ qua lời của một người trong đám đông lên tiếng. Ông ta chính là cha của đứa bé, nhân vật chính trong trình thuật này. Ông kể lể mọi tình trạng khốn khổ mà con ông phải chịu đựng. Ông cũng đã xin các môn đệ chữa lành và ông kết luận : họ không làm nổi (18). Vừa nghe xong những lời ấy, Chúa Giêsu tỏ vẻ buồn rầu và kêu lên : thế hệ cứng lòng tin (19). Vì họ không tin, nên phép lạ đã không xảy ra. Chúa Giêsu truyền đem đứa bé lại gần Người.
Trước tôn nhan Chúa, quỷ tỏ rõ sức mạnh và khống chế đứa bé bằng cách : lay nó thật mạnh, quật ngã xuống, làm cho lăn lộn và sùi bọt mép... Chúa Giêsu hỏi người cha về thời gian ma quỷ đã cầm tù cháu bé. Một lần nữa, ông được dịp bộc bạch tâm lòng và kể lại những tình huống bi thảm hơn như : quỷ xô vào lửa, đẩy xuống nước... và ông nài xin lòng thương xót của Chúa. Nhưng trong lời van xin ấy, ông vẫn chưa đặt trọn tin tưởng vào Chúa Giêsu “ Nếu Thày có thể làm được gì...” (22).
Từ câu 25 đến câu 27, chúng ta thấy thánh sử mô tả như là nguyên nhân mà Chúa Giêsu thực hiện phép lạ “khi thấy đám đông tuôn đến...”. Chúa chữa trị, xua trừ ma quỷ khi có đám đông chứng kiến. Điều này có đối nghịch với sự ẩn giấu uy quyền Thiên Chúa nơi Người hay không? Có lẽ ở đây, Chúa muốn cho dân chúng biết thời đại Mêsia đã đến. Thiên Chúa đã viếng thăm dân Ngài và Ngài đến để chiên được sống và sống dồi dào. Hơn nữa, Chúa cũng muốn củng cố niềm tin cho các môn đệ, để các ông vững tâm cùng Chúa tiến lên Giêrusalem, đi vào cuộc Vượt Qua của Chúa.
Với hai câu cuối là một bài học thiết thực trong đời sống tông đồ, mà chính Chúa đã nêu gương trong đời sống thường ngày, đó là : cần cầu nguyện. Với một người Kitô hữu, lương thực nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng là sự tương giao với Thiên Chúa. Đức Thánh Cha Phanxicô trong các bài gỉang, ngài luôn nhắn gửi chúng ta cần cầu nguyện không ngừng... Dù người đó là giáo dân hay tu sĩ, linh mục, dù người đó già trẻ, lớn bé, giàu sang hèn kém, cũng phải cần đến ơn trợ lực của Thiên Chúa, vì “không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” ..
Phải, chỉ trong cầu nguyện chúng ta mới có tương quan kết hợp gắn bó với Chúa, mới có được sức mạnh từ Thiên Chúa để chống trả với thế gian, ma quỷ và xác thịt. Sức mạnh duy nhất của người môn đệ có được khi họ luôn đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa trong lòng tin và tình mến. Với những ai tin và yêu, người đó sẽ chiến thắng đau khổ, thử thách, ngay cả sự chết ... khi họ biết dựa trên lòng thương xót và quyền năng cứu độ của Thiên Chúa.
Thật vậy, chỉ có cầu nguyện mới giúp con người có sự trợ giúp của Thiên Chúa trong tương quan với Ngài. Chỉ có cầu nguyện mới khiến con ngừơi nhận ra những yếu đuối bất toàn của bản thân, để chỉ trông cậy nương tựa vào lòng thương xót của Thiên Chúa.
Thời nay, ta thấy được sức mạnh ghê gớm của sự dữ, của ma quỷ hoành hành trong thế gian này. Đến ngay thân phận của một cháu bé đơn sơ, không có vị thế gì trong cuộc sống mà ma quỷ cũng không buông tha. Nó làm cho “em ngã vật xuống đất, lăn lộn, sùi bọt mép, ngã vào lửa, rớt xuống nước…”
Nhưng dẫu sức mạnh của sự dữ, của ma quỷ có ghê rợn tới đâu chăng nữa, thì quyền năng và tình thương Thiên Chúa nơi Đức Kitô vẫn vượt thắng tất cả. Nói cách khác, ở đâu có sự hiện diện đầy quyền năng và tình thương của Chúa Giêsu thì ở đó sức mạnh tàn phá của ma quỷ, của sự dữ bị dẹp tan.
Điều kiện để quyền năng và tình thương của Chúa được biểu lộ trong cuộc sống đó là người ta phải có lòng tin, phải kiên định trong niềm tin tưởng, tín thác vào quyền năng và tình thương của Chúa.
Trong cuộc chiến đấu thiêng liêng, các môn đệ hôm nay đang lâm vào tình huống nan giải: Chúa đã ban cho các ông quyền trừ quỷ thế mà sao các ông lại không trừ nổi tên quỷ hung tợn đang hành hạ dằn vặt cậu bé trai kia? Chính Chúa đã can thiệp trừ tên quỷ đó và Ngài giải thích lý do thất bại: không phải các ông không có vũ khí tối tân hùng hậu, nhưng vì thiếu cầu nguyện nên các ông đã không thể thực hiện quyền năng trừ quỷ mà Chúa ban cho.
Nhìn vào cuộc sống xã hội chúng ta hôm nay, chúng ta không thể không nhận thấy sức mạnh ghê ghớm của thần tăm tối, gian dối đang hoàn hành một cách mạnh liệt. Trước sức mạnh bạo tàn ấy, ta được mời gọi đặt niềm tin và sự tín thác vào quyền năng và tình thương của Chúa để có thể vượt thắng sự dữ ở giữa thế gian này.
Huệ Minh 2020
February 20, 2023