Suy Niệm của Huệ Minh

Chúa nhật tuần 10 thường niên, năm A

+++

Thứ Hai tuần 10 thường niên

Thứ Hai

Mt 5, 1-12

PHÚC THẬT

            Bất cứ ai sống trên trần gian đều mong ước có hạnh phúc. Đó là điều người ta cũng thường xuyên cầu chúc cho nhau. 

            Đức Kitô đã đến để chỉ cho người ta biết hạnh phúc đích thực nằm ở đâu, ai là những người thật sự hạnh phúc ở đời này. Không phải những người giàu có, nổi tiếng, oai phong hiển hách, mà là những người nghèo, khiêm tốn, ngay thẳng, biết thương người, xây dựng hòa bình, chịu bách hại,… mới hạnh phúc thật. Chẳng phải là Người muốn phá đổ các tiêu chí quen thuộc của loài người để gây chú ý đâu. Người chỉ muốn khẳng định lại cách sống con người phải theo để trở lại đúng với hình ảnh họ đã đánh mất khi phạm tội, để Thiên Chúa lại trở thành tất cả cho con người.

            Ta thấy Chúa Giêsu được thánh Matthêu giới thiệu như một Môsê mới. Chúa lên núi và công bố một sứ điệp làm thỏa mãn nỗi khắc khoải của con người, sứ điệp về ‘Hạnh Phúc Trọn Hảo’. Đó là hạnh phúc trong Chúa: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3).

            Bài Giảng trên núi cũng diễn tả Tin Mừng về Nước Trời: đề tài Nước Trời là một trong những điểm nhấn mạnh của Bài Giảng. Ngay ở câu đầu của Bài Giảng, ta đã được đặt trong quan hệ với Nước Trời, với Mối Phúc đầu tiên. Bài “Huấn giáo” này (tức Bài Giảng trên núi) là một phần nối dài của kêrygma về Nước Thiên Chúa.

            Chúa Giêsu không diễn tả các Mối Phúc theo kiểu tình cờ. Người trình bày nền tảng cụ thể của mỗi Mối Phúc. Như chúng ta đã nói, phần thứ ba của mỗi Mối Phúc nói về hành động của Thiên Chúa. Mối Phúc đầu tiên và Mối Phúc thứ tám có cùng một nền tảng: “vì Nước Trời là của họ”.           

            Thánh Matthêu nói về Nước Thiên Chúa chỉ trong một vài đoạn; thông thường tác giả dùng thành ngữ “Nước Trời” là kiểu nói của người Do Thái thời đó. “Nước Thiên Chúa” và “Nước Trời” có ý nghĩa như nhau: không có nghĩa là một lãnh thổ hay một nơi chốn, mà là quyền chúa tể của Thiên Chúa được tỏ bày ra trực tiếp rõ ràng.

            Vậy “Nước Trời là của họ” có nghĩa là Thiên Chúa với quyền chúa tể là của họ; đây không phải là quyền thống trị của một bạo chúa, mà là hành động quan phòng nhân hậu của một vị Mục tử. Người sẽ chứng tỏ rằng Vương quyền của Người vượt trên mọi thế lực hiện đang thống trị. Những ai sống theo lời Đức Giêsu dạy sẽ thuộc về Người, còn Người, đầy quyền năng và nhân ái, Người sẽ là của họ. Mối Phúc hoàn toàn dựa trên sự hiện diện trong uy quyền và nhân ái của Thiên Chúa. Chính vì thế thành ngữ “Nước Trời” được nói đến ở Mối Phúc đầu và Mối Phúc cuối như một lời mở và kết luận, và có giá trị cho tất cả các Mối Phúc khác

            Mối phúc thứ nhất và mối phúc thứ tám đều có cấu trúc “Phúc thay […] vì Nước Trời là của họ”. Cấu trúc này tạo thành bộ khung cho toàn bộ sứ điệp ‘Phúc Thật’ và diễn tả: con người chỉ thực sự hạnh phúc khi có được Nước Trời, nghĩa là được sống trong sự cai trị của Thiên Chúa. Chỉ có Thiên Chúa hằng hữu đầy quyền năng và nhân ái mới có thể đem lại cho con người hạnh phúc bất diệt. Thiên Chúa ban hạnh phúc dạt dào khôn tả cho ta qua các hoạt động của Người: Thiên Chúa ban Đất Hứa cho con người làm gia nghiệp, an ủi những ai nghèo khó, làm thỏa lòng những ai khát khao nên công chính…

            Tuy nhiên, Thiên Chúa không muốn con người đón nhận hồng ân lớn lao này cách thụ động như thể không có lý trí và tự do. Chúa Giêsu dạy cho con người cách sống đúng đắn với thánh ý Thiên Chúa để đón nhận được hạnh phúc. Nến tảng của đời sống này nằm trong mối phúc đầu tiên, “tâm hồn nghèo khó”.

            Ở đây, Chúa không có ý nói đến nghèo khó vật chất cho bằng nghèo khó về tinh thần. Đó là những “kẻ bé mọn” (Mt 18,10) biết khiêm nhường nhìn nhận mình hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa và biết phó thác trọn bản thân cho Người. Con người ấy không chỉ hoàn toàn hướng về Thiên Chúa mà còn mở ra với tha nhân trong tình mến: cậy trông vào Thiên Chúa, khát khao nên người công chính, sống hiền lành …

            Kết thúc những mối phúc, Chúa Giêsu đã tuyên bố: "Phúc hay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.” Điều đó như một dự báo tiên tri đầy khó khăn cho những ai tuân giữ các mối phúc của Ngài.

            Nói khác đi, những ai không tin, không thấy được cùng đích, không tin sự thưởng phạt, không tin sự sống đời sau, không thể nào cho đó là phúc được, ngược lại, đó là thảm họa! Chúng ta đang sống trong thực tại trần gian đầy cám dỗ, mỗi ngày qua đi đức tin của chúng ta bị hao mòn dần bởi chủ nghĩa thế tục và sự lên ngôi của quyền lực sự dữ, liệu chúng ta có đủ kiên nhẫn để theo đuổi triết lý "thiện thắng ác, hiền thắng dữ, ánh sáng thắng bóng tối…” không?

            Sự nghèo khó, dù là về tinh thần thôi, ngày hôm nay bị người đời rẻ rúng và khinh miệt. Người ta đua nhau làm giàu và tìm đủ mọi cách để phô trương, dù chỉ là khoe mẽ và đua tranh. Nghèo như Chúa Giêsu và gia đình Nazareth ngày hôm nay, giữa thế kỷ 21 này, sẽ bị người đời coi khinh lắm. Điều căn bản ngày hôm nay người ta không chỉ đo sự giàu có để khẳng định đẳng cấp, mà người ta dùng cả tiền bạc để mua tất cả mọi sự. "Còn tiền còn bạc còn ông tôi; có tiền anh nói em nghe, không tiền anh nói em chê anh tồi…” Ngày nay người ta vẫn tôn sự thực dụng ấy đấy thôi.

            Chúa Giêsu cũng chẳng văn hoa bóng bẩy, không cầu kỳ, dùng lời lẽ bình dị, ai cũng có thể hiểu. Nghe rất sướng lỗ tai! Cuối cùng, Ngài còn nói thêm: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế” (Mt 5, 11-12).

            Mỗi cá nhân sẽ cảm nghiệm được những mong manh của phận người và điều còn lại bên chúng ta là: “Tất cả sẽ qua đi, chỉ mình Chúa mới tồn tại muôn đời” (Thánh nữ Têrêxa Avilla). Có Chúa trong cuộc đời, chúng ta sẽ không thiếu thốn điều gì. Giữa những lao công vất vả, giữa những giọt mồ hôi và nước mắt, giữa những quyến rũ trần gian, thì đôi mắt chúng ta vẫn hướng nhìn về Chúa. Chỉ có một sự cần đó là sống cho Chúa để cứu rỗi linh hồn mình.

            Khi sống các mối phúc, chúng ta được hứa ban Nước Trời, Đất hứa, ơn an ủi, lòng thương xót, được thấy Thiên Chúa và làm con Thiên Chúa. Nhưng vì các mối phúc không phải là những điều xa vời, cao siêu mà chúng ta phải cố vươn tới, nhưng diễn tả bản chất đích thật của con người, Vì thế, khi sống các mối phúc, chúng ta đã có kinh nghiệm ngay bây giờ niềm vui và hạnh phúc rồi.

Huệ Minh

 

Thứ Tư

Mt 5, 17-19

Ý HƯỚNG CỦA LUẬT

            Trên bước đường rao giảng Tin Mừng, đã nhiều lần, nhóm Pharisêu và Kinh sư phê phán Chúa Giêsu, họ cho rằng Ngài xem thường lề luật. Thế nhưng, trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu lại khẳng định, Ngài đến không phải để hủy bỏ, nhưng để kiện toàn lề luật. Ngài kiện toàn lề luật bằng hai cách: Thứ nhất, Đức Giêsu cho thấy lề luật được lập ra nhằm phục vụ con người, chứ con người được tạo nên không phải để tuân giữ luật. Thứ hai, Chúa Giêsu kiện toàn bằng cách nội tâm hóa lề luật. Nghĩa là lề luật được tuân giữ không dựa vào mặt chữ bên ngoài, nhưng hệ tại cõi lòng con người. Từ hai nguyên tắc kiện toàn trên, Đức Giêsu lần lượt trưng dẫn một loạt các khoản luật Môsê, trưng dẫn không phải để hủy bỏ nhưng để cho thấy Ngài kiện toàn như thế nào.

            Thoạt đầu, ki nghe những giáo huấn của Chúa Giêsu, nhiều người lầm tưởng là Ngài đến để hủy bỏ luật Môsê. Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa đã khẳng định một cách rõ ràng rằng Ngài đến không phải để hủy bỏ nhưng để kiện toàn lề luật. Chúa Giêsu đến dạy cho con người biết tình yêu là giá trị và quy luật cao cả nhất của cuộc sống. Chỉ khi có tình yêu thì lề luật mới làm cho con người cảm thấy tự do đích thực. Ngài dạy chúng ta biết giữ luật không phải vì bổn phận nhưng là vì lòng mến. Chúng ta phải giữ luật theo ý hướng của Chúa Giêsu thì mới trở thành công dân Nước Trời.

             Lề luật là phương tiện chứ không phải là cứu cánh. “Ngày Sabbát được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày Sabbát” (Mc 2,27). Đã là phương tiện thì phải nhằm phục vụ mục đích. Để đạt một mục đích thì không chỉ có một phương tiện duy nhất. Hơn nữa, khi không thể đạt mục đích hay đang đi lệch mục đích thì phương tiện không còn cần thiết và nhiều khi phải từ bỏ nó. Luật giao thông có ra là nhằm giúp những người tham gia giao thông được đi lại dễ dàng, thuận lợi và nhất là được an toàn.

            Ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới quy định “đi phía bên phải”. Giả dụ một người đang lái xe máy đang đi bên phải mà bỗng có một em bé từ lề phải chạy, người lái xe khi ấy vì không thắng kịp nên đã lái xe qua phía bên trái. Chắc chắn không một ai quy kết người kia lỗi luật giao thông. Cái phương tiện là luật đi bên phải lúc bấy giờ cần phải bỏ qua vì không thể đạt mục đích mà thậm chí còn trái với mục đích là bảo đảm an toàn giao thông.

            Trên núi Sinai, Đức Chúa trao cho ông Môsê hai bia đá có khắc Mười điều luật để ông trao cho dân Ítraen như một giao ước thánh. Lề Luật Thiên Chúa ban ra là để phục vụ con người đồng thời giúp con người tìm về thánh ý Thiên Chúa. Tuy nhiên, luật đã bị méo mó do cách giải thích và thực hành quá tỉ mỉ và nặng hình thức của Pharisiêu và kinh sư. Lề Luật, thay vì diễn tả giao ước tình thương lại trở thành gánh nặng, thay vì phục vụ lại đè bẹp con người. Và khi chứng kiến những lời nói, hành động của Chúa Giêsu, những người này cho rằng Chúa Giêsu muốn phá bỏ lề luật của người Do Thái.

            Chúa Giêsu đã khẳng định: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ luật Môsê hoặc lời ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn”. Đức Giêsu không gạt bỏ Luật của Thiên Chúa được trao cho Môsê. Ngài sẽ giải thích lại Luật ấy cho đúng với ý Thiên Chúa, vì chẳng ai biết rõ ý Cha bằng Con. Do vậy, Chúa Giêsu không đến để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn ý muốn của Thiên Chúa được thể hiện trong Sách Thánh. Người thực hiện và đưa đến mức độ viên mãn tất cả những gì Thiên Chúa đã hứa. “Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành.” 

            Chúa đến không phải hủy bỏ lề luật, nhưng để kiện toàn. Chúa kiện toàn khi cho thấy không chỉ việc xâm phạm sự sống, mới là tội, nhưng cả khi làm hại tâm hồn cũng là một điều dữ. Xin cho chúng con đừng bao giờ làm hại phẩm giá tha nhân bằng những lời nói hành, nói xấu, vu khống, hoặc gây thiệt hại tâm hồn tha nhân, nhất là gương xấu cho giới trẻ. Chúa kiện toàn lề luật khi dạy chúng con: tội không chỉ là những hành động bên ngoài, mà tội còn đến từ lòng người, vì từ lòng người là nguồn tuôn đổ hành động. Nguồn có sạch thì hành động bên ngoài mới thiện hảo. Xin cho chúng con luôn nhớ tâm địa quanh co sao gặp được hạnh phúc, để chúng con tập sống công chính đẹp lòng Thiên Chúa để Chúa ngự trị và từ đó sẽ phát sinh những lời nói và hành động tốt lành.

            Xã hội chúng ta đang sống cũng có biết bao nhiêu thứ luật lệ. Luật lệ được đặt ra nhằm đảm bảo cũng như phục vụ cho nhu cầu và lợi ích của con người. Nhưng ngày nay cũng có những điều luật phá vỡ tình người, làm băng hoại đạo đức và đi ngược lại ý muốn của Thiên Chúa như: cho phép ly dị, phá thai, hay chấp nhận hôn nhân đồng tính… Giáo hội không đồng tình với những đạo luật này. Là những người Kitô hữu, chúng ta có chọn đứng về phía Giáo Hội? Chúng ta có thấy những luật lệ của Giáo hội làm mất sự tự do của chúng ta chăng? Luật giữ ngày Chúa nhật hay luật hôn nhân Công giáo có làm mất đi sự thoải mái của chúng ta trong cuộc sống không? Thái độ của chúng ta trong việc thực thi những điều luật này như thế nào?

            Luật yêu thương là luật tối thượng. Chúa Giêsu đã nhiều lần minh định về giới răn: Kính mến Thiên Chúa hết lòng, hết sức, hết linh hồn và hết trí khôn, đồng thời yêu thương tha nhân như chính mình (Mt 22,34-40; Mc 12,28-34; Lc 10,25-28). Dù xác đinh là giới răn trọng nhất, nhưng chúa Giêsu đã phân thành hai điều trên dưới khác nhau là mến Chúa và yêu người. Chính nhờ biết kính mến Thiên Chúa nên chúng ta mới có thể yêu thương tha nhân vượt quá cảm tính thường tình để rồi có thể yêu thương cả kẻ thù, yêu thương người bắt bớ, làm hại mình (Mt 5,43-48).

            Tuy nhiên, tương tự như các bậc mẹ cha thường đón nhận việc con cái yêu thương, đùm bọc lẫn nhau là cách thế báo hiếu mẹ cha tuyệt vời nhất thì Thiên Chúa đã đoái nhận việc con người yêu thương nhau thật tình là cách thể tỏ bày lòng mến Chúa tuyệt hảo. Sau khi giảng dạy dân chúng nhiều điều thì Chúa Giêsu đã tóm gọn: “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Môsê và lời các ngôn sứ là thế đó” (Mt 7, 12; Lc 6, 31).

            Nhìn thực tế cuộc sống hôm nay, hầu như mọi người chúng ta đều vẫn giữ luật « Chớ giết người ». Nhưng chúng ta còn chưa biết tôn trọng tha nhân. Nhiều người tín hữu viết chửi bới nhau trên các phương tiện truyền thông như internet, facebook… Những lời bình luận của chúng ta nhiều khi gay gắt phê phán, đánh giá hồ đồ chủ quan đã gây hậu quả khó lường... Tuy chúng ta không ra tay giết người, nhưng do sự không tôn trọng phẩm giá của con người là tạo vật cao quý của Thiên Chúa, … là chúng ta cũng có thể đã giết người rồi đấy.

            Ý nghĩa của lề luật và tinh thần giữ luật mà Chúa Giêsu đòi hỏi phải là con đường dẫn người ta đến tình yêu, đến hiệp thông và đỡ nâng nhau. Chúa Giêsu mặc cho tinh thần giữ luật chiếc áo của tình yêu, để những ai biết giữ luật, người đó phải biết yêu thương. Yêu thương là cốt lõi của mọi lề luật. Xin Chúa giúp chúng tan biết cảm thông, chia sẻ và yêu thương tha nhân như chính mình.

Huệ Minh

 

Thứ Năm Thánh Barnaba

Mt 10, 7-13

TRỞ NÊN MÔN ĐỆ CHÚA

            Hôm nay Giáo Hội kính nhớ thánh Barnaba tông đồ. Là một người Do Thái sinh trưởng tại đảo Sýp vào khởi đầu của đạo Kitô, Barnaba có tên là Giuse, thuộc dòng tộc Lêvi. Có lẽ thánh nhân từng sống tại Giêrusalem trước khi Chúa Giêsu chịu tử nạn. Vì nhiệt tình và sự thành công trong công tác rao giảng, cho nên thánh nhân được các thánh tông đồ tặng cho biệt hiệu là Barnaba, nghĩa là “người con có biệt tài khuyên nhủ hay an ủi”.

            Thánh Barnaba quê ở đảo Sýp. Ít lâu sau lễ Ngũ Tuần, người có mặt trong cộng đoàn Giêrusalem, rồi ở Antiôkia, nơi người đã giới thiệu ông Saolê thành Tácxô với các anh em.

            Người đã cùng với ông Phaolô đi loan báo Tin Mừng cho Tiểu Á, nhưng sau người trở lại đảo Sýp. Thánh Banaba, với cái nhìn rộng rãi, khoáng đạt, đã giữ vai trò chủ yếu trong tiến trình truyền giáo của Hội Thánh.

            Chính thánh Barnaba là người đứng ra bảo đảm và giới thiệu thánh Phaolô với các tông đồ, nhưng sau đó thánh Phaolô lui về ẩn dật trong nhà ngài tại Tácxô trong nhiều năm và Barnaba vẫn ở lại Giêrusalem. Sau này các thánh tông đồ sai Barnaba đến Antiokia để điều tra về sự thành công của thánh Phaolô trong công tác rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại, Barnaba đã nhận ra ngay ơn Chúa trong công việc của thánh Phaolô. Ðây là lý do để nối kết hai người lại với nhau trong cánh đồng truyền giáo của dân ngoại. Cả hai sát cánh bên nhau tại Antiokia trong vòng một năm. Một trận đói lớn đã tàn phá Giêrusalem, Barnaba và Phaolô đã quyên góp để mang về Giêrusalem cứu trợ. Sau công tác này, cả hai trở về Antiokia và mang theo một người bà con họ hàng với Barnaba là Marcô, vị thánh sử tương lai.

            Thánh Barnaba là một trong những nhà truyền giáo tiên khởi của Giáo Hội. Ngài đóng vai trò chủ yếu trong việc loan truyền và chuyển dịch Phúc Âm cho dân ngoại. Đồng thời, chính ngài là người đã đứng ra đảm bảo về sự trở lại thực sự của thánh Phaolô trước mặt cộng đoàn Kitô hữu khi Phaolô mới trở lại đạo. Sau đó, Barnaba được sai đi rao giảng ở Antiôkia để rao giảng Tin Mừng. Khi công việc ngày càng có kết quả, Barnaba đã xin Phaolô đến giúp sức cho mình. Cả hai đã xây dựng một Giáo Hội thật phát triển tại nơi đây. Theo sách Công Vụ Tông Đồ, chính ở Antiôkia mà "lần đầu tiên các môn đệ được gọi là Kitô hữu".

            Bắt đầu sứ vụ công khai, Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ để các ông ở với người, chứng kiến việc Người làm, rồi được sai đi rao giảng Tin Mừng. Khi lãnh nhận bí tích rửa tội, chúng ta được gia nhập vào Giáo Hội, trở nên người môn đệ của Chúa. Vì thế, mỗi người phải có bổn phận nói về Chúa cho mọi người.

            Nước Trời là nơi Thiên Chúa hiện diện. Qua biến cố Nhập Thể, “Nước Trời” đã đến gần với con người. Đức Giêsu Kitô chính là sự hiện diện hữu hình của Thiên Chúa nơi trần gian. Chúa Giêsu đến để xóa bỏ ngăn cách giữa Thiên Chúa và con người, giữa Nước Trời với thế gian. Bởi đó, khi bắt đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu đã rao giảng: “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4,17).

            Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng sai các Tông Đồ ra đi và rao truyền cùng một sứ điệp: “Thiên Chúa yêu thương con người”. Tình yêu của Thiên Chúa được cụ thể hóa qua việc Chúa Giêsu trao ban quyền năng cho các Tông Đồ để các ông có thể làm những điều vượt khả năng con người. Đó là làm cho người đau yếu được lành, người chết được sống lại, người phong hủi được sạch, người giam cầm được tự do. Qua đó, những ai đang đau khổ, buồn phiền, thất vọng, bị bỏ rơi được hưởng trọn vẹn tình yêu của Chúa.

            Chúa Giê-su còn căn dặn khá chi tiết: “Anh em đừng đi tới vùng các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của người Samari. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Israel”. Như thế, khi thi hành sứ vụ, chúng ta luôn phải thi hành theo sự hướng dẫn của Lời Chúa, được lắng nghe trong cầu nguyện, qua việc nhận định thiêng liêng hay qua các trung gian. Trong những lời này, Đức Giê-su còn nêu rõ đối tượng của sứ vụ rao giảng Nước Trời: “các con chiên lạc nhà Israel”. Như thế, trong sứ vụ, người môn đệ luôn phải lựa chọn đối tượng ưu tiên; và khi lựa chọn, đừng quên “các con chiên lạc” của Chúa hiện diện ở giữa chúng ta, ở ngay bên cạnh chúng ta.

            Ta được mời gọi nhận ra tình yêu nhưng không của Thiên Chúa ban cho chúng ta, nhưng không trong ơn huệ sự sống và cũng nhưng không trong ơn tha thứ. Và ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm này : sự sống đích thật, chỉ có thể sinh ra và lớn lên được trong sự nhưng không mà thôi. Cuộc sống của chúng ta, nhất là trong Cộng Đoàn và ngay cả trong xã hội, nếu không có sự nhưng không, sẽ bị bóp nghẹt. « Nhưng không » thì ngược với « sòng phẳng ». Nếu Thiên Chúa là « sòng phẳng », thì không có sự sống, và nếu có, sự sống cũng không thể được duy trì ; giữa chúng ta cũng vậy, nếu chỉ là sòng phẳng, sẽ không có chúng ta trên đời, và nếu có, con người sẽ loại trừ nhau và cuộc sống sẽ trở nên gánh nặng không thể chịu nổi ; và nếu chúng ta sống sòng phẳng với nhau, chúng ta sẽ không có ngày hôm nay ở Cộng Đoàn này, chúng ta được qui tụ từ rất xa trong niềm vui sống ơn gọi như thế này.

             Khi sai họ đi, Chúa Giêsu không đòi hỏi các Tông Đồ điều gì quá sức, chỉ là những gì “đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10,8b). Điều mà các Tông đồ nhận được cách nhưng không từ Chúa không gì khác hơn chính là tình yêu. Đến lượt mình, các Tông Đồ đã ra đi và loan báo tình yêu cứu độ của Chúa cho mọi người. Đó là truyền giáo. Là Kitô hữu, mỗi người chúng ta cũng được Chúa mời gọi ra đi và làm cho môi trường chúng ta sinh sống trở thành nơi tình yêu Chúa hiện diện, cụ thể, trong gia đình, nơi xứ đạo, trường học, công xưởng và ngoài xã hội.

            Lời rao giảng « Nước Trời đã đến gần » đi đôi với một dấu chỉ, đó là dấu chỉ « nhưng không » : « Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy » (c. 8). có thể nói, nếu chúng ta không kinh nghiệm sự nhưng không, không thực hành sự nhưng không, không xây dựng sự nhưng không, thì Nước Trời sẽ không hiện diện ở giữa chúng ta. Bởi vì Nước Trời là Nước của Thiên Chúa, và Thiên Chúa là nhưng không.

            Thiên Chúa là nhưng không, bởi vì Ngài tạo dựng nên muôn loài muôn vật và tạo dựng nên chính loài người chúng ta, khi chúng ta chưa làm được gì, chưa lập công được gì. Giống như cha mẹ trước khi sinh con, cha mẹ đã cho rất nhiều và còn muốn cho hơn cả cái mình có, hơn nữa, còn tha thứ và bao dung trước, nếu chẳng may đứa con trở nên hư hỏng.

            Trong đời dâng hiến, Chúa gọi chúng ta đi theo Ngài trong một Hội Dòng, khi chúng ta chưa làm được gì cho Chúa và cho Dòng. Trong đời hôn nhân, Chúa ban tặng cuộc đời người này cho người kia, khi mà cả hai chưa làm được gì cho nhau. Lãng quên điều này, chúng ta không thể sống hạnh phúc và không thể sống đến cùng ơn gọi của mình ; và nhất là không để cho Nước Trời trị đến trong ngay tâm hồn chúng ta và ở giữa gia đình, Cộng Đoàn của chúng ta.

            Thánh Barnaba là mẫu gương nhiệt thành trong đời sống tông đồ và hết lòng với tha nhân. Ước mong mỗi người đều học được nơi ngài những nhân đức cao cả đó, hầu trở nên chứng nhân của Chúa giữa cuộc đời.

Huệ Minh

 

Thứ Sáu

Mt 5, 27-32

HÃY TRUNG TÍN

            Để nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thuần khiết ngay từ trong lòng, Chúa Giêsu đưa ra lời khuyến nghị thà móc mắt phải và chặt tay phải còn hơn là “toàn thân bị ném vào hỏa ngục”.

            Chống lại sự bất trung, Chúa Giêsu lên án cách nhìn ngắm không trong sạch của những ước muốn xác thịt, liều mình đi đến chỗ phạm tội trong tâm hồn. Cử chỉ này bị coi là đã thành tội, vì tội phát sinh bởi ý muốn thầm kín của tâm hồn. Với những lời gắt gao, Chúa nhắc lại việc cần phải dấn thân một cách nghiêm chỉnh và cương quyết chống lại những lạc hướng do ích kỷ, để cứu vãn và tăng cường tình yêu hôn nhân bằng mọi giá.

            Hôn nhân không phải là một sự phối hợp tạm thời để có thể dễ dàng phân ly vì sự thay đổi hoặc vì đam mê của con người. Chúa Giêsu lên án những phóng đãng luân lý, như sự bất trung, ngoại tình, ly dị do pháp luật cho phép.

            Tất nhiên sẽ là quá ngô nghê và không chính xác nếu chúng ta hiểu các lời khuyến nghị này theo sát mặt chữ.

            Điều quan trọng là chúng ta không được phó mặc các quan năng của mình cho bản năng thấp hèn, nhưng phải biết làm chủ chúng một cách có trách nhiệm. “Con mắt” biểu tượng cho ước muốn; “bàn tay” biểu tượng cho hành động. Cần phải loại bỏ tất cả những ước muốn xấu xa ngược với sự tinh sạch trong lòng.

            Không chỉ tôn trọng vợ người khác, mà còn phải cư xử đúng đắn với vợ mình và tôn trọng sự hiệp thông trong tình yêu và sự sống với vợ của chính mình.

            Chống lại việc ly dị, Chúa Giêsu đã sửa lại luật Môsê cho phép ly dị trong một số trường hợp. Ðối với Ngài, lý do là sự lựa chọn của một tình yêu dâng hiến, với tình yêu này, người nam và người nữ dấn thân sống chung với nhau suốt đời. Ngài kêu gọi lương tâm của con người, và không luật nào được thay thế và vi phạm lương tâm này. Tội tà dâm phải được loại trừ tận gốc rễ, và trong tư tưởng thầm kín. Cái nhìn trong sạch : "Phúc cho ai có tâm hồn trọng sạch, vì họ sẽ được thấy Thiên Chúa"; muốn thế, cần phải hy sinh những gì gây cớ vấp phạm.

            Chúa Giêsu nói: “Luật còn dạy rằng: Ai rẫy vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình” (cc.31-32).

            Chúa Giêsu nói cái gì trở nên dịp tội thì hãy lo cắt đi, chấp nhận mất một bộ phận mà tránh được hoả ngục. Ở đây không hiểu theo nghĩa đen là phải chặt tay móc mắt, vì nếu thế thì không còn ai toàn vẹn vì bản năng yếu đuối của con người. Điều Chúa muốn nói ở đây chính là “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Nghĩa là phải cất đi và xa lánh những nguy cơ có thể đẩy chúng ta đến phạm tội, dù phải chấp nhận phần thiệt về mình, như lánh xa những ấn phẩm đen, không đến những nơi chốn không thích hợp, tránh dùng những thức uống làm mình mất kiểm soát…

            Trong luật cũ có vẻ bao dung đối với nam giới và nghiêm khắc đối với nữ giới, thì Chúa Giêsu đặt cả hai trên cùng một cấp bậc: Ngài lên án rõ ràng và như nhau về việc ly dị đối với cả hai giới, và tuyên bố việc phối hợp với người khác sau khi ly dị là ngoại tình.

Luật cũ cho ly dị thực ra không phải Thiên Chúa ban, nhưng vì sự yếu đuối của dân mà Môsê đã chấp nhận. Chúa Giê-su đã kiện toàn theo tinh thần mới khi khẳng định sự bất phân ly của hôn nhân.

            Có lần nhóm Biệt phái đến hỏi Chúa Giêsu xem họ có được phép ly dị không? Thay vì trả lời “Có” hay “Không”, thì Chúa Giêsu lại nhắc cho họ điều căn bản là từ thuở ban đầu trong ý định của Thiên Chúa đã muốn con người nam và nữ kết hợp với nhau trong việc cộng tác sáng tạo và bất khả phân ly. Thế nhưng, vì ích kỷ mà con người phản bội dối gian nhau, thiếu tình yêu thương và tha thứ cho nhau… dẫn đến đổ vỡ. Chính vì thế mà Môsê cho phép ly dị như một chọn lựa ngoài ý muốn để giải gỡ cho họ. 

            Chúa Giêsu cấm không được ly dị mà Chúa còn ngăn chặn ngay cả nguyên nhân sâu xa đưa đến tình trạng bất tín trong đời sống hôn nhân: "Các con đã nghe dạy người xưa rằng: "Chớ ngoại tình". Phần Thầy, Thầy bảo các con: Ai nhìn người nữ mà ước ao phạm tội, thì đã ngoại tình với người ấy trong lòng rồi" (Mt 5,27-28).    

            Như vậy, dù chỉ là trong lòng có sự thèm muốn vợ hay chồng người khác, thì đã phạm tội ngoại tình trong tư tưởng. Vì trong lòng đã nuôi dưỡng ước muốn sự xấu, từ đó sẽ là nguyên cớ dẫn đến hành động phản bội tình nghĩa vợ chồng.

            Con người phạm tội, hầu hết đều xuất phát từ trong lòng. Do đó, muốn tránh tội thì phải dứt khoát từ bỏ ước muốn bất chính ngay trong lòng. Nhưng để tránh được sự ước muốn bất chính trong lòng, chúng ta cần phải giữ gìn đôi mắt. Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn, nên mọi điều tốt - xấu muốn vào được ngôi nhà tâm hồn đều phải qua cửa sổ là đôi mắt.

            Bà E-va chính vì đã không giữ được đôi mắt, nên đã hướng cái nhìn về trái cấm và đã nuôi dưỡng trong lòng sự thèm muốn. Từ ước muốn này, bà đã đưa tay hái trái cấm ăn, dù biết rằng hành động ấy là phạm tội bất trung với Chúa.

            Vua Ða-vít cũng vì không giữ được đôi mắt, nên nhìn đắm đuối người phụ nữ tắm khỏa thân và có ước muốn dục vọng khoái lạc. Từ ước muốn này, vua đã thực hiện tội ác: ngoại tình và giết người.

            Theo giáo huấn của Chúa, việc phối hợp giữa người nam và người nữ là một biểu lộ của tình yêu, và tình yêu này đến từ Thiên Chúa, chứ không do tình dục ích kỷ. Tình yêu là một sự trao ban cho nhau, là cuộc gặp gỡ của tự do.

            Sự hiệp thông sự sống và tình yêu giữa hai vợ chồng là thực tại thiện hảo bất khả chuyển nhượng. Người ta phải ra sức bảo vệ và vun đắp cho sự hiệp thông đó.

            Nhìn vào thực tế, chưa có lúc nào những giá trị của đời sống hôn nhân gia đình bị xâm thực trầm trọng đến như vậy. Hiện tượng gia đình chia rẽ, bất hoà nhan nhản khắp nơi. Các vụ ly dị ngày càng nhiều, đặc biệt nơi các gia đình trẻ. Các giải pháp của xã hội và cả Giáo Hội nữa sẽ không có hiệu quả nếu không có thái độ dứt khoát tận căn.

            Trước tiên đó là thái độ tôn trọng hôn nhân trong chương trình của Thiên Chúa: một vợ một chồng bất khả phân ly. Tiếp đến phải tiêu diệt tận gốc rễ lòng ham muốn hưởng thụ ích kỷ nơi mỗi người. Có lẽ trong đời sống gia đình bạn cũng có những lúc xào xáo, xung đột, thậm chí cả những lần có nguy cơ bị tan vỡ. Những lúc như vậy bạn hãy nhớ lại liệu pháp trị bệnh tận căn này.

            Ngày hôm nay, Giáo hội Công giáo vẫn trung thành với luật Chúa là duy trì sự bất khả phân ly, nghĩa là khi một cuộc hôn nhân đã thành sự thì Hội thánh không thể chấp nhận cho ly dị. Vì như lời Chúa Giêsu dạy hôm nay, khi hôn nhân đã thành sự thì việc rẫy vợ là đẩy vợ đến chỗ ngoại tình. Chỉ trừ những trường hợp chứng minh được tiêu hôn, hoặc một số trường hợp được ly thân mà thôi. 

Huệ Minh

 

Thứ Bảy

Mt 5, 33-37

SỐNG THEO SỰ THẬT

            Thánh Antôn Padova đã hết lòng sống giới răn yêu thương mà Đức Giêsu đã truyền dạy mỗi người chúng ta phải tuân giữ.

            Thánh Antôn Padova đã hết lòng sống giới răn yêu thương mà Đức Giêsu đã truyền dạy. Qua cách ngài sống và những công việc ngài làm,

            Hôm nay ngày 13.06, Giáo Hội mừng lễ kính thánh Antôn Pađôva. Ngài sinh ra trong một gia đình quyền quí, đạo đức tại Lisbone, Bồ Đào Nha, năm 1195. Được hấp  thụ một nền giáo dục đạo đức và đầy bác ái, nên ngài sớm nhận ra tiếng Chúa mời gọi. Ngài lãnh nhận sứ vụ linh mục dòng Thánh Augustinô. Tuy nhiên, vì yêu thích đời sống chiêm niệm và khắc khổ, khiêm tốn, Antôn xin gia nhập dòng Anh Em Hèn Mọn Phanxicô năm 1220 với ước muốn được truyền giáo cho dân ngoại và mong được tử vì đạo.

            Bề trên sai cha Antôn đi truyền giáo cho thổ dân Sarrasins Phi Châu. Nhưng vừa tới Phi Châu, ngài ngã bệnh nặng và phải quay trở về. Được ơn lợi khẩu nên lời giảng của thánh Antôn lôi cuốn nhiều người trở lại đạo. Chúa củng cố lời giảng của thánh Antôn Pađôva bằng nhiều phép lạ. Bông hoa đẹp Antôn được Chúa gọi về khi mới tròn 36 tuổi. Năm 1946, Đức Giáo hoàng Piô XII đã tôn phong thánh Antôn Pađôva làm tiến sĩ Hội Thánh vì những đóng góp to lớn trong việc loan báo Tin Mừng Chúa và ơn làm phép lạ cho nhiều người vì tình yêu thương anh chị em nghèo khó.

            Nhờ tài lợi khẩu, nhờ gương sáng đạo đức và thánh thiện, Ngài được các Bề Trên tin tưởng, tín nhiệm sai đi giảng khắp nơi và lo công việc đào tạo, giáo dục các tu sĩ trong Dòng. Chúa ban sức mạnh cho thánh nhân, Chúa Thánh Thần luôn tác động tâm hồn thánh nhân, nên lời giảng của Ngài luôn luôn có sức thu hút, lôi cuốn nhiều người. Chúa củng cố lời giảng của thánh Antôn Pađua bằng nhiều phép lạ kèm theo. Thánh nhân đã có ảnh hưởng rất lớn tại Ý, tại Pháp, thánh nhân làm việc không mệt mỏi, không ngơi nghỉ. Ngài được đặt tên là “ Hòm Bia Giao Ước” và “ Cái búa của bọn lạc giáo” đúng như lời  sách thánh:” Các hiền sĩ sẽ chói lọi như bầu trời rực rỡ, những ai làm cho muôn người nên công chính, sẽ chiếu sáng như những vì sao, đến muôn thuở muôn đời”( Đn 12, 3 ).

            Sự thật luôn là yếu tố cần thiết trong cuộc sống của con người. Sống giữa cuộc đời thật hư lẫn lộn, con người không còn biết đâu là chân lý và ai đáng để mình tin. Đức Giêsu mời gọi mỗi người chúng ta hãy tin vào Ngài vì Ngài “chính là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”. Nơi Đức Giêsu, ta sẽ không bị phản bội, không bị thất tín, dù ta đã bao lần phản bội và thất tín với Người. Nơi Ngài ta không con thấy nghi nan, nhưng là cả nguồn chân lý đích thực để ta kín múc mà bước vào cuộc đời.

            Đức Giêsu nói: “Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Đức Chúa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: đừng thề chi cả. Đừng chỉ trời mà thề, vì trời là ngai Thiên Chúa. Đừng chỉ đất mà thề, vì đất là bệ dưới chân Người. Đừng chỉ Giêrusalem mà thề, vì đó là thành của Đức Vua cao cả. Đừng chỉ lên đầu mà thề, vì anh không thể làm cho một sợi tóc hoá trắng hay đen được. Nhưng hễ “có” thì phải nói “có”, “không” thì phải nói “không”. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ” (Mt 5,33-37).

Sở dĩ có chuyện thề thốt trong xã hội, là vì có sự thiếu chân thành giữa người với người. Sự thề thốt, tự nó, đã là một bằng chứng rõ ràng của sự trục trặc trong tương quan giữa người với người. Các kinh sư và các người Pharisêu phận biệt hai loại thề: thề nhân danh             Đức Chúa và lấy sự vật mà thề. Họ cho rằng loại thứ nhất có tính ràng buộc, còn loại thứ hai thì không, tức là người ta có thể rút lại lời thế.

            Trong Nước Thiên Chúa, sự chân thật là quy luật sống và “phúc thay ai tinh sạch trong lòng”. Vì thế, sự thề thốt hoàn toàn không còn giá trị. Và Đức Giêsu dạy: “Đừng thề chi cả”

Chúa Giêsu muốn rằng các môn đệ của Ngài phải sống thành thật, đến nỗi không cần một lời thề để bảo đảm cho lời nói của mình. Vì lời nói phải luôn đi đôi với sự thật. Để tạo tín nhiệm nơi người khác, chúng ta “có thì nói có, không thì nói không” nghĩa là nói đúng sự thật khách quan, bụng nghĩ sao miệng nói vậy… không cần phải dựa vào thế giá của Thiên Chúa để bảo đảm cho sự thật. Như vậy, khi bảo chúng ta không được thề, Chúa Giêsu muốn trả lại cho con người giá trị đích thực của lời nói là thành thật, đáng được tôn trọng.

             Chính sự giả dối đã làm cho người ta mất đi niềm tin nơi nhau, làm cho cuộc sống phập phồng lo sợ và gây bao thiệt hại cho người khác. Nhiều người đã vì lợi ích cá nhân mà bất chấp thủ đoạn gian lận,lừa dối nhau, gây ra bao hậu quả đau đớn cho tha nhân.Chính vì sợ lòng người nay thay mai đổi mà con người ngày nay luôn cần có những bản hợp đồng, giấy tờ chứng thực…

         Chúa Giêsu không chấp nhận bất cứ một luật trừ trong giới răn này: "Có thì nói có, không thì nói không, thêm thắt điều gì là do ma quỉ mà ra". Nền tảng của giới răn này chính là phẩm giá của con người. Con người là hình ảnh của Thiên Chúa, mà Thiên Chúa là Ðấng chân thật, cho nên thuộc tính cơ bản nhất của con người cũng phải là chân thật. Thiên Chúa phán một lời liền có trời đất muôn vật, không có quãng cách giữa lời và hành động của Thiên Chúa. Người tôn trọng phẩm giá cao cả của minh đương nhiên cũng là người tôn trọng lời nói của mình, đó là đòi hỏi của bất cứ nền luân lý đạo đức nào.

         Ðón nhận chân lý mạc khải của Thiên Chúa về con người, người Kitô hữu phải ý thức hơn ai hết về phẩm giá cao trọng của mình. Phẩm giá ấy được thể hiện hay không là tùy ở mức độ trung thực của họ. Bản sắc của người Kitô hữu có được thể hiện hay không là tùy ở mức độ trong suốt của cuộc sống của họ. Niềm tin của người Kitô hữu có khả tín hay không là tùy họ có can đảm để lội ngược dòng giữa một xã hội mà dối trá đã trở thành luật sống.

            Do đó, việc sống thành thật trong thế giới hôm nay dường như trở nên hiếm hoi, ngu ngơ và dại dột trước mắt người đời. Khi con người đẩy Thiên Chúa là Chân Lý và Sự thật ra khỏi cuộc đời họ thì lương tâm nay thay mai đổi của con người sẽ làm chủ và gây bao thảm họa cho nhân loại.

            Xuyên suốt chiều dài lịch sử Giáo Hội, noi gương Chúa Giêsu, đã có biết bao con người dám sống, làm chứng và chết cho sự thật. Họ là những người đã can đảm làm chứng cho niềm tin vào Đấng Chân Thật dầu phải trả giá bằng đau khổ, hiểu lầm, chống đối và thậm chí hy sinh chính mạng sống mình. Tuy nhiên, khi sống theo Sự Thật ta chẳng cần phải thề thốt, ta tìm thấy bình an, không chỉ cho bản thân mình mà còn cho những người sống chung quanh chúng ta.

Huệ Minh

June 12, 2020