Suy Niệm của Huệ Minh

Chúa nhật tuần 11 thường niên, năm A

+++Chúa Nhật thứ Mười Một Mùa Quanh Năm 2023

Xh 19:2-6; Tv 100:1-2,3,5; Rm 5:6-11; Mt 9:36-10,8

CHẠNH LÒNG THƯƠNG

          Chúa Giêsu đã dành tình yêu thương cho con người, đặc biệt là những người nghèo khó, bệnh tật, bơ vơ không nơi nương tựa. Tin mừng theo thánh Matthêu (Mt 15, 29-37) nêu lên hình ảnh Chúa Giêsu chạnh lòng thương đám đông dân chúng. Vì chạnh lòng thương Chúa đã chữa lành cho người câm nói được, người tàn tật được lành, người què đi được, người mù xem thấy. Trước hành động của Chúa Giêsu mục tử, nhiều người đã nhận ra được tình yêu lòng thương xót của Thiên Chúa, từ đó họ dâng lời tôn vinh Người.

          Thêm nữa, vì chạnh lòng thương Chúa Giêsu đã làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông dân chúng khi họ đi theo và nghe Người giảng dạy. Phép lạ hóa bánh ra nhiều để cho đám đông dân chúng được ăn no nê cũng là một hình ảnh tuyệt vời để diễn tả cõi lòng của Chúa Giêsu, Người muốn cho họ luôn được dưỡng nuôi no đủ và dư đầy. Không chỉ là của ăn vật chất là cơm bánh để nuôi dưỡng thể xác nhưng chính Người muốn tự hiến mình trở nên tấm bánh là chính Mình và Máu Người nên lương thực thiêng liêng nuôi dưỡng linh hồn con người.

          Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa đã làm người để ở cùng chúng ta. Ngài đến trần gian để loan báo Tin Mừng Nước Trời và chữa lành bệnh tật hồn xác cho con người. Ngài ở giữa nhân loại để cảm thông và sớt chia mọi nỗi khổ đau của chúng ta bằng trái tim “chạnh lòng thương” của một Vị Thiên Chúa làm Người.

          Qua con người Chúa Giêsu, Thiên Chúa thật sự rất gần gũi với con người qua mọi thời đại. Ngài cảm được mọi niềm vui nỗi buồn của chúng ta, Ngài thấu cảm bao nỗi lo toan của kiếp nhân sinh, Ngài thấy rõ những khát vọng sâu kín nhất của chúng ta, và chỉ có Ngài mới làm tròn đầy mọi ước nguyện chân thành nhất của chúng ta.

          Thật vậy, trang Tin Mừng hôm nay đã cho chúng ta nhận ra được những điều ấy  nơi con người Chúa Giêsu. Ngài đã đi khắp các thành thị, làng mạc để rao giảng Tin Mừng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền (x.c.35). Khi thấy đám đông, Ngài đã chạnh lòng thương, vì thấy họ lầm than vất vưởng (x.c.36). Ngài thấy rõ nhu cầu cần có những thợ gặt trong cánh đồng của Thiên Chúa (x.c.37), và Ngài đã thành lập Nhóm Mười Hai để tiếp nối công trình cứu độ của Ngài nơi trần gian.

          Tin Mừng của Chúa Giêsu có sức mạnh giải thoát và biến đổi hoàn toàn cuộc đời con người. Thánh Phaolô là một trong những người đã được biến đổi, được lôi kéo bởi Chúa Giêsu và Tin Mừng của Người. Phaolô đã để lại đàng sau quá khứ, con người cũ, để trở thành con người say mê Tin Mừng và miệt mài nói về lòng thương xót của Chúa đã dành cho ông. Phaolô đã nhận ra tất cả cuộc đời của ông là một chuỗi những điều kỳ diệu Thiên Chúa đã làm, chỉ vì Ngài chạnh lòng xót thương ông.

          Chúng ta tin rằng : Con người có thể vô cảm dửng dưng với nhau, nhưng Thiên Chúa không bao giờ dửng dưng với đau khổ của con người. Vì, Thiên Chúa của chúng ta là một vị Thiên Chúa chạnh thương. Tin như thế, để không bao giờ ta thất vọng khi gặp đau khổ, thử thách. Tin, để thấy Chúa luôn ở bên chúng ta, Chúa đang đồng cảm với đau khổ của chúng ta ; Ngài đang bước cạnh chúng ta khi chúng ta gặp thử thách tăm tối nhất. Chúa cũng đang nói với kẻ đau khổ : Đừng khóc nữa ! Đừng buồn, đừng thất vọng nữa! Có Ta đang chia sẻ với con !

          Thiên Chúa cũng đang an ủi, nâng đỡ cuộc sống chúng ta qua bao người chung quanh. Thiên Chúa đang dùng họ để đồng hành, chia sẻ với cuộc sống của ta, chỉ có điều chúng ta có nhận ra sự hiện diện của Chúa hay không mà thôi. Đồng thời, Thiên Chúa cũng muốn qua chúng ta để Ngài đồng hành và an ủi các anh chị em đau khổ khác nữa. Ngài muốn mượn trái tim của ta để chạnh thương những anh chị em bất hạnh. Ngài muốn dùng đôi tay của chúng ta để chạm đến anh chị em, dùng môi miệng ta để nói lời an ủi yêu thương, dùng ánh mắt của ta để khích lệ anh chị em chỗi dậy những khi bị suy xụp.

          Ngày nay, trong đời sống có nhiều những “tấm bánh” chỉ được giữ riêng cho cá nhân và không hề được bẻ ra chia sẻ cho những người đang sống trong cảnh nghèo đói, khốn khổ. Như Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhận định: “chúng ta bị tràn ngập những tin tức và hình ảnh kinh hoàng thuật cho chúng ta đau khổ của con người và đồng thời chúng ta cảm thấy mình không có khả năng can thiệp”. Chính suy nghĩ này làm cho chúng ta có thể lẩn trốn con tim “chạnh lòng thương” vì cho rằng mình không có bổn phận và cũng không có dư đầy để có thể chia sẻ hay cho đi.

          Chúa Giêsu đã muốn chính các môn đệ của Người đem bánh để phân phát cho mọi người. Sứ điệp Lời Chúa mời gọi chúng ta, từng người một, khi nhận lãnh Bánh của Chúa, với con tim chạnh lòng thương cũng biết chia sẻ cho người khác, để Chúa có thể nuôi sống mọi người trên trần gian. Chắc chắn những nỗ lực sống tốt trong ơn thánh Chúa của chúng ta sẽ dễ dàng trở nên gương sáng cho những người đang sống trong sự vô cảm, lệch lạc lương tâm biết nhận ra Chúa đang hiện diện và luôn yêu thương.

          Chúa Giêsu vẫn tiếp tục mời gọi mỗi người chúng ta hãy tiếp bước theo Ngài để đi đến mọi miền đất nước, rao truyền Tin Mừng tình thương cho mọi người bằng cuộc sống yêu thương và phục vụ. Khi có một trái tim biết “chạnh lòng thương” như Ngài, chúng ta mới có thể gặp gỡ, chia sẻ với những người đang lầm than khốn khổ do bệnh tật thể xác hay nỗi đau tâm hồn, do hoàn cảnh khó khăn hay công việc bất trắc, những hoang mang bất định trong cuộc sống do thiếu niềm tin và lý tưởng . . .

          Nếu con người thời đại hôm nay đang bị chủ nghĩa “vô cảm” điều khiển cuộc sống và hành động, thì hơn bao giờ hết, người Kitô hữu càng cần mặc lấy trái tim “chạnh lòng thương” của Chúa Giêsu, để sống và hành động trong các mối tương quan với mọi người. Huệ Minh 2023

Thứ Hai trong tuần thứ Mười Một Mùa Quanh Năm

2 Cr 6:1-10; Tv 98:1,2-3,3-4; Mt 5:38-42

Ðừng báo thù

          “Mắt thế mắt, răng đền răng”, đó là luật Talion, nghĩa là luật công bằng của người xưa. Câu đó đã thấy ở trong bộ luật của Hammourabi trước Chúa Giêsu khoảng 2000 năm và ở trong sách Xac 21,24 (Đnl 19,21. Lev 24,20). Luật này của ông Maisen cho phép về việc báo thù. Thật ra luật này đã là luật đặt giới hạn cho việc báo thù rồi, vì xưa Cain được báo thù 7 lần hơn là Lamek được 70 lần 7 (Stk 4,15. 4,7-24).

          Có thể nói luật của người xưa là luật công bằng. Ta không hại người và người cũng không hại ta. Mình làm thiệt hại ai bao nhiêu thì phải trả cho họ bấy nhiêu. Tuy nhiên là con cái của Chúa, Chúa muốn con người sống siêu nhiên hơn, chứj đừng thấp lè tè vỏn vẹn với luật cũ là đức công bình. Thật ra sống công bằng ở trần gian đã là khó lắm rồi. Nhưng luật Chúa phải đời hỏi phải thêm hơn thế nữa. Chúa nói: “Đừng chống cự với người ác” (c.39), “Hãy cho cả áo dài trong” (c.40). “Hãy đi thêm hai dặm” (c.41), “Hãy đưa thêm má trái” (c.39).

          Trước khi tìm hiểu những câu nói trên chúng ta cần nói ngay trước rằng có thể có người hiểu nghĩa đen lạm dụng câu nói này làm phiền khổ thêm cho người anh em mình. Hoặc có người chủ trương rằng với câu nói đó thôi, ta không cần phải lo nâng đỡ hay nâng đỡ những người gặp bất trắc, khó khăn.

          Thật ra, chính Chúa muốn dạy nơi đây là việc trả thù hay ăn thua với người khác. Thường bản tính của con người là không chịu nhịn. Một người hay gây thiệt hại cho ta, là ta cũng muốn cho họ bị thiệt hại như ta. Càng nhiều hơn càng tốt. Ta muốn thấy công lý phải được thực hiện ngay trên đời này, ngay lập tức trước sự chứng kiến của ta. Nhưng Chúa nói rõ: “Oán phạt thuộc về Ta, ta sẽ báo ứng” (Rm 12,19). Chúa muốn nói rằng chính Ngài sẽ là người phán xử sau cùng và sau này. Còn chúng ta, cứ phục lụy Chúa đi. Chính Chúa sẽ biện hộ cho chúng ta thấy sự công bình của Ngài được thực hiện. Đấy cũng là nguyên tắc Chúa đưa ra để chúng ta sử dụng trong cuộc sống cá nhân hàng ngày.

          Luật người xưa là “mắt thế mắt, răng đền răng”. Không phải bây giờ Chúa bỏ luật này đi để dạy một luật khác. Cũng không phải là có mới nới cũ. Sự công bằng của Thiên Chúa vẫn còn đó. Điều Chúa muốn dạy ở đây là đừng đòi hỏi quyền lợi cho mình nhất là quyền trả thù hay hành hạ anh em. Nếu có thì phải đối xử trong tình yêu. Chính vì thế mà Chúa bảo: “Đừng chống cự với người làm dữ” (c.39). Làm thế không phải là Chúa phá đổ mọi luật pháp. Chúng ta thấy qua Kinh thánh, Chúa kêu gọi vâng phục nhà cầm quyền vì nhà cầm quyền được Chúa đặt ra để trừng trị kẻ dữ. Nhưng còn việc Chúa bảo đừng chống cự với người làm dữ nghĩa là đừng đòi hỏi cho mình quyền trả thù. Cho nên khi bị người khác vả má, nghĩa là bị hạ nhục khinh dể, trường hợp ấy, Chúa muốn chúng ta đem tình bác ái ra mà đối xử hầu phản ánh là con cái Thiên Chúa.

          Kinh thánh dạy cho chúng ta thấy Chúa bị nguyền rủa mà Ngài không nguyền rủa lại, mà cứ phó mình cho Đấng phán xét chí công. Có quyền gây thiêt hại và trả thù là chính Chúa, mà Chúa đã không làm huống chi chúng ta là con cái Ngài. Việc cho áo trong áo ngoài, việc đi thêm vài dặm... cũng vậy. Khi làm vậy, không phải là để khuyến khích thêm tội ác đâu. Nhưng hãy đem tinh thần yêu thương bác ái ra mà xử sự. Chứ còn lối trả thù thua đủ, cãi vã, kiện tụng chỉ là oán chồng lên óan mà thôi, bạn hóa thành thù nhân, thay vì một người thù lại thêm hai nữa.

          Chúa Giêsu đã đưa ra một pháp lý hoàn toàn mới mẻ so với Cựu ước. Luật Cựu ước qui định: "Mắt đền mắt, răng đền răng ". So với các dân tộc chung quanh, luật Cựu ước cho thấy dân Israel đã đạt được một ý thức khá cao về công bình. Nhưng Chúa Giêsu đến để kiện toàn lề luật: thay cho thứ công bình “Mắt đền mắt, răng đền răng”, Chúa Giêsu đề ra luật của yêu thương và được qui tóm trong một lề luật duy nhất là mến Chúa, yêu người.

          Luật yêu thương ấy không có giới hạn, cũng chẳng có luật trừ. Yêu thương là yêu thương mọi người và yêu thương cho đến cùng. Qua cách cư xử của Ngài đối với các tội nhân và ngay cả kẻ thù của Ngài, Chúa Giêsu đã chứng tỏ một tình yêu không điều kiện, không giới hạn, không luật trừ, và tình yêu ấy được thể hiện trọn vẹn qua cái chết của Ngài trên thập giá.

          Khi tỏ bày tình yêu của Thiên Chúa và khi nối kết hai giới răn mến Chúa yêu người, Chúa Giêsu cũng chỉ cho con người thấy dược ơn gọi đích thực của nó. Chỉ có một cách thế hiện hữu đối với con người đó là sống yêu thương. Khước từ yêu thương, con người tự chối bỏ chính mình. Đón nhận mạc khải của Chúa Giêsu, người Kitô hữu hiểu rằng chỉ bằng yêu thương, họ mới sống đúng ơn gọi làm người, và tỏ bày hình ảnh của Thiên Chúa mà họ mang trong mình. 

          Chúng ta hãy cầu xin bằng chính lời kinh hòa bình của thánh Phanxicô Assisiô: Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người. Xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa, để con đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn u sầu.

          Ước gì chúng ta ý thức được sứ mệnh cao cả của mình, để trong mọi sự và trong mọi quan hệ, chúng ta luôn thúc đẩy và hướng đến bởi một động lực duy nhất là tình yêu.

20.6.2023  Thứ Ba trong tuần thứ Mười Một Mùa Quanh Năm
2 Cr 8:1-9; Tv 146:2,5-6,7,8-9; Mt 5:43-48
 Hãy yêu kẻ thù

           “Yêu mến anh em, là sống chu toàn giới luật. Yêu mến người lành và yêu thương kẻ gian ác. Chính do tình yêu mà chúng ta được cứu độ, thành con Chúa Trời và thành bạn hữu Chúa Kitô”. Đây là lời bài hát mà có lẽ ai cũng thuộc vì nó được lặp lại nhiều lần trong Mùa Chay.  Đây cũng chính là lệnh truyền của Chúa Giêsu cho các môn đệ, đồng thời cũng là lời mời gọi cho những ai đang bước theo Chúa Giêsu trên lộ trình cứu độ.
          Thật vậy, cốt lõi Đạo Công Giáo của chúng ta là tình yêu thương. Tại sao vậy? Thưa vì Đạo chúng ta bắt nguồn từ Thiên Chúa, mà bản chất của Thiên Chúa là Tình Yêu. Vì thế: "Người làm cho mặt trời mọc lên trên người lành cũng như kẻ dữ, làm cho mưa xuống trên kẻ lành cũng như người bất lương...".
          “Yêu thương kẻ thù" là một nghĩa cử anh hùng, một nỗ lực vượt thắng tình cảm tự nhiên, vượt trên phản ứng thường tình của con người. "Yêu thương kẻ thù" là bước vào thế giới siêu nhiên của con cái Chúa, sống nhân hậu và hoàn thiện như Cha trên trời.
          Khi dạy "hãy yêu kẻ thù", Chúa Giêsu không có ý cổ võ sự nhu nhược, nhát đảm, nhưng là đề cao tinh thần khoan dung, hiền từ, quảng đại, tha thứ.  
          "Hãy yêu kẻ thù", đó là lệnh truyền khó thi hành nhất trong các lệnh truyền của Chúa Giêsu. Tuy nhiên, chính Ngài đã nêu gương khi sẵn sàng tha thứ cho kẻ hại mình và cầu xin Chúa Cha tha cho họ. Ý tưởng ấy rất cao và rất khó nhưng nó tạo nên ý nghĩa.
          Như vậy, Chúa Giêsu mở ra con đường mới cho nhân loại. Con đường lấy thiện thắng ác, lấy tình yêu vượt thắng hận thù. Chỉ có yêu thương mới làm cho thù hận tiêu tan.
          Là những Kitô hữu, chúng ta được mời gọi đứng về phía bất bạo động. Tuy nhiên đó không phải là một chọn lựa cho sự nhu nhược hay thụ động leo thang, nhưng chọn lựa bất bạo động có nghĩa là tin tưởng mạnh mẽ vào sức mạnh của chân lý, của công bằng và tình yêu hơn là sức mạnh của chiến tranh, vũ khí và hận thù…. Chúng ta phải cố gắng dùng điều tốt nhất để đáp lại điều xấu nhất. 
          Những lời dạy của Chúa Giêsu mà Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay, cũng không mập mờ, không nhượng bộ hay chiều theo khuynh hướng tự nhiên của con người muốn giới hạn tình yêu của mình đối với tha nhân.
          "Hãy yêu mến anh em mình", mệnh lệnh này được ghi rõ trong sách Lêvi 19,18. Những "anh em" được nhắc đến ở đây chỉ những kẻ thân thuộc, đồng hương, thuộc về dân riêng của Chúa. Còn câu: "Hãy ghét kẻ thù địch" thì chúng ta không gặp thấy công thức nào tương tự như vậy trong Kinh Thánh. Những lời này có thể hiểu như một diễn tả tự nhiên của tâm lý thường tình nơi con người, một hậu quả của tình yêu thương có giới hạn trong khung cảnh những kẻ thân thuộc, những người thuộc về cùng một dân tộc, một xã hội. Theo tâm thức hạn hẹp của Cựu Ước, bất cứ ai không thuộc về Dân Chúa chọn, thì người đó là kẻ xa lạn, là kẻ thù địch, không được yêu thương.
          Chúa Giêsu đã đến để mạc khải sứ điệp trọn hảo hơn, bẻ gẫy những giới hạn tự nhiên: "Còn Thầy, Thầy bảo các con: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi các con". Chúng ta chú ý đến hai chi tiết trong lời dạy của Chúa Giêsu: thứ nhất: không còn ai bị loại ra khỏi tình yêu thương của người môn đệ Chúa và sự phân chia con người ra làm hai loại: thân thuộc và thù địch không còn nữa. Thứ hai: Tình yêu thương đó được thể hiện bằng những hành động cụ thể, và quan trọng nhất, đó là thi ân và cầu nguyện cho những kẻ không tự nhiên được chúng ta yêu thương, và đây không còn là tình yêu thương theo tình cảm, mà là tình yêu thương thực sự hướng đến lợi ích của người khác.
          Nhưng tại sao phải yêu thương như vậy? Bởi vì chính chúng ta là con cái của Thiên Chúa và do đó phải noi gương trọn lành của Ngài, Ðấng cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người lành.
          Hãy nhớ rằng: “Viên đạn căm thù chỉ có thể làm thương tổn kẻ thù sau khi đã xuyên qua thân xác chúng ta trước”.Khi nuôi trong mình sự trả thù thì đồng nghĩa với việc ta đào thêm một cái hố nữa để chôn chính ta. Người Hy Lạp cổ thường ví von như sau: “Người khôn ngoan thà chịu đựng sự ác hơn là làm điều ác”.
          Xin Chúa đổ tràn trên chúng ta tình thương của Chúa, để chúng ta được giải thoát khỏi tình yêu hạn hẹp, có tính toán, mà quảng đại yêu thương tất cả mọi người, ngay cả kẻ chống đối và có ác cảm với chúng ta.

 

Thứ Hai tuần 11 tn
Mt 5, 38-42

LẤY ÂN ĐỀN OÁN

            Trở về với Luật Cựu ước, ta thấy Luật đưa ra nguyên tắc dựa trên lẽ công bằng: “Mắt đền mắt, răng đền răng”. Chúa Giêsu đi xa hơn Luật cũ khi dạy rằng: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi các con” (Mt 5, 44). Thái độ tự nhiên của con người thường “yêu bạn ghét thù”. Ai phạm đến tôi, tôi tìm trả đũa người ấy. Cuộc sống ăn miếng trả miếng.

            Tuy nhiên, với trang Tin Mừng hôm nay, ta được mời gọi: “Anh em hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6, 36). Chúng ta đã chẳng được tạo thành giống hình ảnh Thiên Chúa hay sao? Chúng ta đã chẳng được gọi là anh em với nhau vì là con cái Cha trên trời hay sao? Vì vậy, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta trở nên hoàn thiện như Thiên Chúa là Đấng hoàn thiện. Chính Chúa Giêsu đã không oán ghét một Giuđa phản bội, đã bao dung tha thứ cho những kẻ sỉ vả và đóng đinh người trên thập giá, và cũng yêu thương chúng ta hết thảy: “Lạy Cha, xin tha thứ cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34).

            Câu nói rất phổ biến trong nhân gian: “Lấy ơn đền oán, oán oán tiêu tan. Lấy ác báo oán, oán oán chất chồng”. Vâng, chính Chúa Giêsu đã đi bước trước làm gương, để dạy chúng ta về sự tha thứ cao thượng, khi Ngài bị quân dữ tra tấn đánh đòn…chịu mọi cực hình cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, ấy thế nhưng Chúa vẫn cầu nguyện cùng Chúa Cha: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc mình làm…”.

            Trong cuộc sống, chúng ta không thể nào tránh được những trường hợp người khác không có thiện cảm với mình. Khi đó, chúng ta sẽ đối xử với nhau ra sao? Đức Thánh Cha Phanxicô cũng mời gọi mỗi người hãy trở nên biển cả của lòng từ nhân. Chỉ có sự quảng đại, bao dung và tha thứ mới đem đến bình an, hạnh phúc đích thực cho mỗi cá nhân và cộng đoàn.

            Chúa muốn dạy chúng ta, đừng lấy oán báo oán khi chính mình bị xúc phạm. Tuy nhiên Người không cấm chúng ta chống lại những bất công, lại càng không cấm chúng ta bài trừ sự dữ, sự tội lỗi xấu xa ở trần gian. Cuộc sống nơi trần gian, biết sống trong Chúa là sống lý tưởng của sự hiền hòa, khiêm nhường hay tha thứ và yêu thương: vì tất cả đều là con cái một Cha trên trời, là Đấng hằng thi ân cho con cái và tất cả mọi người

            “Mắt đền mắt, răng đền răng” – đó là luật báo thù, người ta xúc phạm làm thiệt hại tổn thương về tinh thần hay vật chất tôi bao nhiêu, theo lẽ công bằng phải đền trả tôi bấy nhiêu, đó là luật thế gian với góc độ con người đối xử với con người với nhau. Biết bao chiến tranh và bạo lực xảy ra trên thế giới cũng xuất phát từ những mâu thuẫn, sống tìm lợi ích, ích kỷ cho bản thân là sống như vậy, chỉ cần một chút thiệt hại về tiền bạc hay về tinh thần người ta sẵn sàng đạp đổ hay đổi mạng sống của nhau.

          “Mắt đền mắt, răng đền răng” : ta thấy sự tàn nhẫn của Cựu Ước. Thật ra, Cựu Ước chẳng bắt người ta phải móc mắt, nhổ răng kẻ thù. Câu này chỉ nhằm giới hạn việc báo thù trong mức độ cân xứng. Trong xã hội mang tính bộ tộc của Ítraen thuở ban đầu, “mắt đền mắt” đã là một tiến bộ đáng kể.

            Chúa Giêsu đi xa hơn khi đòi hỏi đừng chống cự lại người ác, nghĩa là đừng lấy ác báo ác, đừng sống theo luật báo phục. “Nếu bị ai vả má bên phải, hãy đưa cả má kia ra nữa” (c. 39). Bị vả má bên phải nghĩa là bị tát bằng mu bàn tay phải. Không phải là đau hơn, nhưng là nhục nhã hơn nhiều. Chúa Giêsu đã từng có kinh nghiệm này trong cuộc Khổ Nạn (Mt 26, 67). “Đưa má kia” đơn giản chỉ có nghĩa là tránh trả thù, chịu mình ở thế yếu, vì báo oán là chuyện của Thiên Chúa (Rm 12, 19-20). “Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác” (Rm 12, 21).

            “Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong, hãy để cho hắn lấy cả áo ngoài nữa” (c. 40). Ở Đông phương, áo ngoài là quan trọng để chống cái lạnh ban đêm,nên nếu bị cầm cố, thì cũng phải trả lại cho người ta có cái mà đắp (Đnl 24, 13). Đưa cả áo trong lẫn áo ngoài cho kẻ kiện cáo mình là chấp nhận bị trần trụi và xấu hổ, nếu ai đó chỉ có một bộ thôi. Trong xã hội Paléttin bị đô hộ bởi đế quốc Rôma, chuyện bị ép vác đồ dùm cho lính tráng vẫn hay xảy ra (Mt 27, 32). “Người bắt anh đi một dặm, hãy đi với người ấy hai dặm” (c. 41).

            Chúa Giêsu đưa điều răn yêu thương về lại với ý hướng của Đấng Lập pháp đầu tiên. Tình yêu buộc phải cung cấp cho mọi người những gì phải làm: sự tín nhiệm, sự trân trọng, sự trợ giúp. Cũng như trong những cặp đối nghĩa khác, Đức Giêsu không chỉ cho một lời khuyên, nhưng ban một lệnh mới cho các tương quan giữa con người.

            Người môn đệ chỉ trở thành con của Chúa Cha trong mức độ người ấy mô phỏng lối xử sự của mình theo cách ứng xử của Chúa Cha, nghĩa là yêu thương người khác, kể cả kẻ thù, y như Chúa Cha vẫn yêu thương họ. Khi yêu thương mọi người không phân biệt kỳ thị, người Kitô hữu chứng tỏ cách chắc chắn và trung thực nhất dây quan hệ họ hàng với Thiên Chúa.

            Câu “anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48) làm vọng lại lời mời gọi của sách Đnl (18,13): “Anh (em) phải sống trọn hảo với Đức Chúa, Thiên Chúa của anh (em)” và của sách Lêvi (19,2): “Hãy nói với toàn thể cộng đồng con cái Israel và bảo chúng: Các ngươi phải thánh thiện, vì Ta, Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, Ta là Đấng Thánh”.

            Môn đệ Chúa Giêsu, trước những ép buộc không mấy chính đáng, chẳng những được mời ưng thuận, mà còn làm hơn cả điều bị ép buộc. Câu cuối của trang Tin mừng cho thấy thái độ bác ái của Kitô hữu trước những yêu cầu của có thật của tha nhân (c. 42). Mở lòng ra trước người xin, người muốn vay mượn, dù kẻ ấy là kẻ thù hay người không có khả năng hoàn trả.

            Không chỉ ngoài xã hội, nơi cộng đoàn hay gia đình ngày nay cũng vậy, họ có thể cũng sẵn sàng loại trừ nhau để đánh đổi chút danh hão huyền, thiếu đi sự yêu thương, cảm thông và tha thứ cho nhau. Nếu mọi người sống không còn thù oán, hiềm khích, biết sống ôn hòa, tha thứ cho nhau, tuy nhiên làm được điều đó quả thật rất khó, nhưng nơi mỗi người có được những đức tính này, thì nơi họ thể hiện bằng sự khiêm nhường, tha thứ, thiết tha trong lời cầu nguyện hay sống trong bí quyết diệu kỳ của Kinh Mân Côi là họ đã được “ từ ơn hoán cải đến ơn cứu độ”

            Ta thấy Chúa Giêsu muốn kiện toàn khoản luật mới, đó luật yêu thương sống trong sự hoàn thiện biết đối xử, khoan dung với kẻ ác, cụ thể là với kẻ xúc phạm đến phẩm giá con người. Thầy bảo với anh em: “Đừng chống cự với người ác, trái lại nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ má bên trái ra nữa” (Mt 5, 39). 

            Quả thật rất nghịch lý, nhưng đây nghịch lý của tình thương. Người Kitô hữu sống Tin Mừng bằng cách không có khái niệm trả thù, sống trong tình thương sẽ lướt thắng họ, để giúp họ sống luật yêu thương trong đó bao gồm sự tha thứ, hy sinh, chịu đựng, thiệt thòi, từ tinh thần lẫn vật chất, luật yêu thương là cho đi không mong lãnh nhận, họ sẽ không ngoảnh mặt hay thờ ơ, lãnh đạm với bất kể ai, kể cả kẻ làm khó mình. Như Chúa nhắc nhở các môn đệ: “Ai xin anh hãy cho: ai muốn vay mượn thì anh đừng ngoảnh mặt đi” (Mt 5,42).

            Trang Tin Mừng hôm nay Chúa dạy cho các Tông Đồ hãy sống bác ái với chính kẻ thù như chính Ngài đã từng là mẫu gương cho lời dạy của mình. Cũng thế để thăng tiến trên con đường nhân đức, bác ái yêu thương và tha thứ, thì mỗi người Kitô hữu chúng ta hãy nhìn và sống theo mẫu gương của Thầy Giêsu, Người Thầy đầy yêu thương và bác ái và nhất là hãy lấy ân để đền oán. 

 

Thứ Ba tuần 11 tn Mt 5, 43-48
YÊU CẢ KẺ THÙ

            Yêu người yêu thương mình, chào hỏi người chào hỏi mình đó là chuyện bình thường, trong lịch sự giao tiếp. Nhưng Chúa đòi hỏi người Kitô hữu phải đạt tới một mức độ cao hơn: yêu thương cách chân thành.

            Trong trang Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đưa luật yêu thương đến mức hoàn thiện, nghĩa là không chỉ yêu người thân mà yêu cả kẻ thù. Đó chính là yêu thương tất cả mọi người không trừ một ai, không phân biệt dân tộc, màu da, tiếng nói, tín ngưỡng… Và còn một việc mà chẳng có tôn giáo nào dạy: "Cầu nguyện cho kẻ thù". Đây là dấu chỉ đích thực của sự tha thứ, nhớ đến họ khi cầu nguyện như chính những người thân yêu.

            Chúa Giêsu trích dẫn lề luật cổ xưa dạy rằng: “Ngươi hãy yêu thân nhân, và hãy thù ghét địch thù.” Những dòng chữ này không được tìm thấy như thế trong Cựu Ước. Nói đúng hơn đó là một câu hỏi tâm lý của thời đại, theo đó thì trong thực tế chẳng có vấn đề gì nếu mà người ta thù ghét kẻ địch thù của mình.

            Chúa Giêsu đã không đồng ý và nói rằng: “Nhưng Ta bảo các con: Vì nếu các con yêu thương những ai mến trọng các con, thì các con được công phúc gì? Các người thu thuế không làm như thế ư? Nếu các con chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì các con đâu có làm chi hơn? Những người ngoại giáo không làm như thế ư? Vì thế, các con không được đặt giới hạn cho tình yêu của các con, như Cha các con trên trời đã không giới hạn tình yêu của Ngài”. Và Chúa Giêsu ban cho chúng ta bằng chứng. Vào giờ phút lâm chung của mình, Chúa đã thực hành những gì Người giảng dạy.

            "Hãy yêu mến anh em mình", mệnh lệnh này được ghi rõ trong sách Lêvi 19,18. Những "anh em" được nhắc đến ở đây chỉ những kẻ thân thuộc, đồng hương, thuộc về dân riêng của Chúa. Còn câu: "Hãy ghét kẻ thù địch" thì chúng ta không gặp thấy công thức nào tương tự như vậy trong Kinh Thánh.

            Những lời này có thể hiểu như một diễn tả tự nhiên của tâm lý thường tình nơi con người, một hậu quả của tình yêu thương có giới hạn trong khung cảnh những kẻ thân thuộc, những người thuộc về cùng một dân tộc, một xã hội. Theo tâm thức hạn hẹp của Cựu Ước, bất cứ ai không thuộc về Dân Chúa chọn, thì người đó là kẻ xa lạn, là kẻ thù địch, không được yêu thương.

            Chúa Giêsu đã đến để mạc khải sứ điệp trọn hảo hơn, bẻ gẫy những giới hạn tự nhiên: "Còn Thầy, Thầy bảo các con: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi các con". Chúng ta chú ý đến hai chi tiết trong lời dạy của Chúa Giêsu: thứ nhất: không còn ai bị loại ra khỏi tình yêu thương của người môn đệ Chúa và sự phân chia con người ra làm hai loại: thân thuộc và thù địch không còn nữa. Thứ hai: Tình yêu thương đó được thể hiện bằng những hành động cụ thể, và quan trọng nhất, đó là thi ân và cầu nguyện cho những kẻ không tự nhiên được chúng ta yêu thương, và đây không còn là tình yêu thương theo tình cảm, mà là tình yêu thương thực sự hướng đến lợi ích của người khác.

            Điều Chúa dạy tưởng chừng nghịch lý: kẻ thù ta, kẻ làm hại ta, khiến ta phải đau khổ, điêu đứng, ngay cả việc nhìn mặt đã phát ghét, khó ưa thì làm sao có thể yêu cho nổi. Nhưng lịch sử đã chứng minh: hận thù chỉ kéo theo hận thù, chiến tranh, chết chóc, nghèo đói, bệnh tật, thất học… Hậu quả thật khủng khiếp và rồi sự trả thù không xóa đi lòng hận thù, nhưng chỉ có tình yêu mới hoá giải được tất cả.

            Các con hãy nên hoàn hảo như Cha các con trên trời là Đấng hoàn hảo. Chúa Giêsu không chỉ đơn thuần muốn làm hoảng sợ, bởi vì điều này sẽ vô ích. Người muốn thay đổi cách loài người sống chung với nhau. Sự đổi mới mà Người muốn xây dựng đến từ kinh nghiệm mới mà Người có với Thiên Chúa, Chúa Cha, đầy dịu dàng, Đấng chấp nhận tất cả mọi người! Những lời đe dọa đối với người giàu có không thể là cơ hội trả thù cho người nghèo. Chúa Giêsu ra lệnh rằng chúng ta phải có thái độ ngược lại: “Hãy yêu thương thù địch!” Tình yêu đích thực không thể phụ thuộc vào những gì mà người ta nhận được từ kẻ khác. Tình yêu là phải ước muốn điều tốt lành cho kẻ khác bất kể những gì họ đã làm cho tôi. Bởi vì đây là phương cách mà tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta.

            Chỉ trong sự tha thứ, tôi mới có thể họa lại nơi bản thân mình cái nhìn cảm hóa của Đức Kitô. Một cái nhìn không chỉ dừng lại ở việc giao hòa, mà còn đi sâu vào lòng người, xóa tan mọi ấn tượng, mặc cảm tội lỗi nơi họ. Một cái nhìn tha thứ đến mức tuyệt đối: bảy mươi lần bảy (Mt 18,22).

            Chúa Giêsu cảm thấy buồn và đã cầu nguyện : “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm!” Chúa Giêsu, trong tinh thần đoàn kết, gần như là xin lỗi cho những kẻ đang hành hạ và tra tấn mình. Chúa giống như một người anh đi với các người em sát nhân đến trước mặt Quan Tòa và, Người là nạn nhân của chính anh em mình, thưa với quan tòa: “Họ là các anh em của tôi, ngài biết là họ không biết gì. Xin hãy tha thứ cho họ! Họ sẽ trở nên tốt hơn!” Chúa đã yêu mến kẻ thù!

            Luật Tình yêu kẻ thù đảo lộn các cách xử sự theo quy ước của loài người. Thường yêu thương là quan tâm đến những ai có cùng kiểu nhìn như mình, trình độ văn hóa như mình, địa vị xã hội như mình. Sứ điệp Tin Mừng vượt quá các giới hạn ấy. Đức ái Kitô giáo không “cào bằng” các con người, nhưng tỏ ra kính trọng họ, thậm chí cả các giới hạn và khiếm khuyết của họ. Lòng nhân ái của Kitô hữu là thông dự vào tình yêu của chính Thiên Chúa.

            Luật Kitô hữu là luật yêu thương. Khi người môn đệ Chúa Kitô chấp nhận những từ bỏ do luật này đòi hỏi, luật yêu thương này chứng tỏ được tất cả trọng lượng của nó. Nếu các nguyên tắc được công bố ở đây đi vào trong xã hội, xã hội này hẳn là sẽ không bị tiêu vong, nhưng sẽ thấy các tương quan giữa con người được đổi mới, bởi vì các bất công và bạo động sẽ bị dập tắt dễ dàng nhờ sống theo luật này hơn là do sợ các biện pháp chế tài hình sự.

            Thật ra đây chính là lối sống của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã chết vì không nhường bước trước các áp lực của sự thận trọng hoặc của lương tri. Khi làm như thế, Người không đảo lộn trật tự xã hội, nhưng Người củng cố các tương quan giữa con người với con người. Bắt chước Thiên Chúa, và cũng là bắt chước Chúa Giêsu, là quy tắc duy nhất của lối cư xử của Kitô hữu, là con đường duy nhất để vượt qua nền luân lý Pharisêu.

            Chúa dạy chúng ta không được đặt giới hạn cho tình yêu của các con, như Cha các con trên trời đã không giới hạn tình yêu của Ngài”. Và Chúa Giêsu ban cho chúng ta bằng chứng. Vào giờ phút lâm chung của mình, Chúa đã thực hành những gì Người giảng dạy.           

            Xin Chúa đổ tràn trên chúng ta tình thương của Chúa, để chúng ta được giải thoát khỏi tình yêu hạn hẹp, có tính toán, mà quảng đại yêu thương tất cả mọi người, ngay cả kẻ chống đối và có ác cảm với chúng ta.

 

Thứ Tư tuần 11 tn Mc 6, 1-6, 16-18
LOẠI BỎ THÀNH KIẾN

             Theo tập tục thì mọi người Do Thái ở tuổi trưởng thành đều có thể lên tiếng khi tham gia phụng vụ tại hội đường. Chúa Giêsu đã sử dụng quyền này của Ngài và lên tiếng rao giảng Tin
Mừng. Nội dung rao giảng hẳn phải có một cái gì khác lạ với những điều từng được rao giảng tại đây.

            Ngài trở về quê hương Nagiarét sau hơn một năm đi giảng dạy khắp nơi. Hôm ấy đúng vào ngày Sabat, mọi người đến hội đường để nghe đọc Kinh Thánh và nghe diễn giảng. Chúa Giêsu cũng vào đây để dự phụng vụ lời Chúa.

            Và hôm nay, sau bài đọc, như luật cho phép, Ngài diễn giảng lời Chúa. Kết quả: dân chúng không nhận ra Ngài là ai và họ khinh khi Ngài, họ có thái độ hiểu lầm Ngài, hiểu lệch lạc về con người của Ngài. Bởi vì Ngài nói như một người có uy quyền, như bậc thầy nói với học trò, như một người muốn gây dựng cho mọi người lòng tín nhiệm nhau để tiến tới tin nhau. Điều Ngài dạy vượt mọi khuôn phép cổ truyền đến nỗi mọi người phải thắc mắc.

            Nghĩa là trước những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, dân làng Nagiarét ngạc nhiên, vì họ thấy Ngài không đi học ở trường lớp nào mà sao lại có những lời lẽ khôn ngoan, cao siêu, mới lạ. Mặt khác, họ thấy Ngài chỉ là con bà Maria và bác Giuse thợ mộc, bản thân Ngài cũng chỉ là một anh phó mộc, mà sao có thể đảm nhận chương trình đại sự của Thiên Chúa được? Họ không thể ngờ được giữa bụi đất lại có kim cương, họ không thể hiểu được nơi Chúa có hai bản tính, họ không thể nhận ra yếu tố Thiên Chúa và con người, hữu hạn và vĩnh cửu, trời và đất, hạnh phúc và đau khổ giao hòa lại trong một thực tại duy nhất, là nơi con người Chúa Giêsu. Đó là điều làm cho họ vấp phạm, họ khinh thường Chúa và không thiết nghe lời chân lý của Ngài.

            Khác đến độ mọi người đều có thể nhận ra và sửng sốt trước sự khôn ngoan của Ngài. Thực tế trước mắt đã khởi sự lay động họ, kéo họ ra khỏi giấc ngủ yên tĩnh giữa những cái biết rồi, đẩy họ vào con đường của những khám phá mới. Thế nhưng những câu hỏi chỉ loé lên trong thoáng chốc không đủ để chiếu sang cho họ tới được với Đấng đã đến giải phóng họ. Họ đã bỏ thực tế để trở về với lối lý luận thông thường của họ. Họ tưởng rằng họ đã biết quá rõ về Ngài khi nói ra được Ngài là con ai, đã làm gì và ai là những người thân thích với Ngài. Họ đã trở về với những cái họ đã nắm được để rồi quay lưng trước lời kêu gọi của thực tế trước mắt.

            Điều họ mắt thấy tai nghe đã đánh động để họ phải đặt lại vấn đề, thế nhưng họ đã đóng chặt cửa lòng trước những cái mới mẻ đã từng làm cho họ sửng sốt và ngạc nhiên. Họ tự tách mình ra khỏi Nước Trời đang đến với họ. Tin Mừng còn ghi lại: thấy họ cứng lòng tin, Chúa Giêsu đã không làm một phép lạ nào, nghĩa là Ngài đã không tỏ quyền năng của Nước Trời cho họ và Ngài đi rao giảng ở những làng xung quanh.

            Tin Mừng lại cho thấy người đương thời của Chúa Giêsu, cụ thể là chính đồng hương của Chúa đã sai lầm vì cao ngạo. Chính cái lý lịch xem ra rất tầm thường của Chúa mà họ đã xúc phạm nặng nề với Chúa: "Bởi đâu ông này được như vậy? Sao ông được khôn ngoan như vậy? Bởi đâu tay Người làm được những sự lạ thể ấy? Ông này chẳng phải bác thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao?". Cũng chính cái lý lịch ấy, làm cho họ, thay vì được nhiều ơn lành từ Chúa Giêsu, thì ngược lại, họ đánh mất tất cả. "Người đã không làm phép lạ nào được".

            Có Thiên Chúa ở với mình, nhưng không biết đón nhận, vì thế, họ đã đánh mất cả Thiên Chúa: Không những không thể làm phép lạ, Chúa Giêsu còn bỏ ra đi. Người "qua các làng chung quanh mà giảng dạy". Khi cố tình đẩy Chúa Giêsu ra khỏi cuộc đời mình, những người đồng hương của Chúa đã làm tổn thương mối liên hệ với Chúa Giêsu xét như một con người: tổn thương mối tương quan giữa người với người.

            Hằng ngày chúng ta cũng đã bỏ lỡ biết bao nhiêu cơ hội, ta đã bỏ lỡ không tiếp đón Chúa đến thăm do ta có thành kiến. Đó chính là khi ta bịt mắt không nhìn thấy những cảnh khổ chung quanh; khi ta bưng tai không nghe những tiếng kêu than khóc lóc; khi ta làm ngơ trước những cảnh ngộ nghiệt ngã, khi ta ngoảnh mặt quay lưng trước những nạn nhân của thiên tai hoạn nạn. Nhất là ta bỏ lỡ không nghe thấy tiếng Chúa cảnh báo để ăn năn sám hối. Chúa đã nhắc nhở ta nhiều lần nhiều cách: qua các vị bề trên; qua các tai nạn; qua lời khuyên của những người thân; qua lời phê phán của những người thù ghét ta.

            Thành kiến là một tâm trạng thiên lệch rất tai hại, là một sự yên trí, phán đoán mọi người mọi vật theo những quan niệm làm sẵn, có sẵn trong đầu óc, nhất là khi những tư tưởng có sẵn đó lại sai lạc, thì có thể đưa đến những hậu quả không hay, sai lầm hoặc nguy hại. Thật vậy, ai đeo kính đen thì nhìn cái gì cũng tối hết; lưỡi đắng thì ăn gì cũng đắng; lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Yêu nên tốt, ghét nên xấu: "Yêu nhau yêu cả đường đi. Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng". Lòng chúng ta có khuynh hướng mạnh về điều gì, thì mắt chúng ta hay tìm, trí chúng ta hay tưởng và rồi chúng ta phán đoán người khác cũng giống như chúng ta và hơi chút là chúng ta đoán về đàng đó liền.

            Thành kiến là một chứng bệnh di truyền kinh niên bất trị của loài người, không ai thoát khỏi. Chúng ta hằng to tiếng lên án lối sống phô trương bên ngoài. Nhưng trên thực tế, chúng ta lại hay căn cứ vào những cái bên ngoài mà đánh giá thiên hạ. Đánh giá một người theo bên ngoài có thể đúng nhưng cũng có thể sai lầm.

            Câu nói: "Trông mặt mà bắt hình dong" không phải là nguyên tắc chính xác, nên chính Chúa Giêsu có lần khuyên chúng ta: "Đừng có xem mặt mà bắt hình dong". Khổng Tử cũng xác nhận: "Người tôi yêu chưa chắc đã tốt; người tôi ghét chưa chắc đã xấu". Phong dao cũng có câu: "Người xấu duyên lặn vào trong. Bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài". Lặn vào thì còn lại, bong ra thì mất đi rồi. Và hẳn chúng ta cũng không quên câu nói: "Tốt gỗ hơn tốt nước sơn","Xanh vỏ mà đỏ lòng". Cho nên, đánh giá một người mà chỉ căn cứ vào bề ngoài có thể là nông nổi, thiển cận và nguy hiểm.

            Thành kiến đã làm cho dân làng Nagiarét phán đoán sai về Chúa Giêsu. Họ đã không nhận ra Ngài là Đấng cứu tinh. Đối với chúng ta cũng vậy, thành kiến có thể làm chúng ta mù quáng, không nhận định và phê phán một cách khách quan đúng đắn được. Thành kiến làm chúng ta không thể đối thoại, cởi mở với người khác và không nhìn thấy cái hay cái tốt nơi người.

            Vì thế, chúng ta phải loại bỏ tất cả những gì là thành kiến về bản thân để khỏi tự ti mặc cảm; cũng như thành kiến về những người chung quanh, để có được một cái nhìn đúng đắn hơn, một nhận xét chân thành hơn, một phán đoán khách quan hơn, và một đời sống yêu thương cởi mở hơn.

 

Thứ Năm tuần 11 tn

Mc 6, 7-15

LỜI KINH ĐẸP NHẤT

            Trong cuộc sống nhân sinh, chúng ta khó thoát khỏi cạm bẫy cám dỗ và những hệ lụy của tội lỗi. Chính Chúa Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa mà còn phải chịu cơn cám dỗ, huống nữa là chúng ta, là môn đệ của Người. Vấn đề ở chỗ chúng ta có tỉnh thức hay không trước mọi cơn cám dỗ mà ma quỷ giăng ra hòng tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa. Trong mọi thử thách, điều chúng ta muốn là làm sao những cạm bẫy, những mưu mô của thế lực ác thần không làm cho chúng ta sa ngã, không làm cho chúng ta rơi vào tay của chúng. Để được thế, chúng ta không ngừng chạy đến với Chúa và nhất là cầu nguyện để xin ơn trợ lực, giúp chúng ta vượt qua.

            Cầu nguyện là nhu cầu thiết yếu của đời sống của mỗi người Kitô hữu. Cầu nguyện cần thiết đến nỗi ví được như cá cần sống trong nước.Ý tưởng này gợi lên cho chúng ta một sự liên tưởng bài Tin Mừng hôm nay về việc Chúa Giêsu dạy cho các tông đồ cầu nguyện bằng kinh “Lạy Cha” mà chúng ta quen đọc hằng ngày. Đó cũng chính là lời cầu nguyện của Chúa Giêsu.

            Kinh Lạy Cha- một lời kinh tuyệt vời và phong phú vì chất chứa bao điều huyền nhiệm- được thánh sử Luca đặt trong bối cảnh hành trình lên Giêrusalem của Chúa Giêsu cùng với các môn đệ, nơi mà ở đó, chính Người sẽ trút hơi thở sau hết cùng với lời nguyện cầu dâng lên Chúa Cha. 

            Theo thánh sử Mathêu, kinh “Lạy Cha” mà Chúa Giêsu dạy cho các tông đồ gồm 7 lời cầu được chia làm hai phần: phần thứ nhất, gồm 3 lời đầu tiên liên quan đến Thiên Chúa, Đấng mà Chúa Giêsu gọi là Cha và còn dạy chúng ta gọi là Cha: “Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời”. Sở dĩ gọi Thiên Chúa là Cha, bởi vì Con Thiên Chúa làm người đã mạc khải cho chúng ta, và Thánh Thần của Ngài sẽ giúp chúng ta nhận ra điều đó. Hơn nữa, gọi Thiên Chúa là Cha, chẳng những mời gọi chúng ta bước vào mối tương quan thân tình với Chúa Cha, mà còn gợi lên trong chúng ta tâm tình của người con thảo, với ý thức rằng chúng ta là con của Thiên Chúa, trong người Con chí ái của Người là Đức Giêsu Kitô.

            “Xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển”: là lời chúc tụng tạ ơn Thiên Chúa, vì những công trình Người đã thực hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô. Như Mẹ Maria ngày xưa đã ca tụng “Đấng toàn năng đã làm cho tôi những điều cao cả, danh Ngài thật chí thánh chí tôn” thế nào, thì ngày nay, khi đọc lời kinh này, chúng ta cũng nâng tâm hồn và tâm trí chúng ta để nhận ra những việc diệu kỳ của Chúa đang thực hiện trong cuộc đời của mỗi người chúng ta để tôn vinh và chúc tụng Thiên Chúa, nhưng không phải bằng lời nói suông, nhưng bằng chính đời sống thánh thiện và sự tốt lành của mỗi chúng ta.

            “Triều đại Cha mau đến” :Theo thánh Tôma Aquinô, Nước Thiên Chúa ám chỉ vương quyền của Đức Kitô vào thời cánh chung. Nước Thiên Chúa còn được hiểu là vinh quang của các thánh trên thiên đàng và sau cùng, Nước Thiên Chúa còn là nơi Thiên Chúa ngự trị, đó là tâm hồn của mỗi người chúng ta. Quả thật, nếu tâm hồn là nơi Thiên Chúa ngự trị, thì chúng ta cần làm cho tâm hồn mình trở nên hiền hậu, khiêm tốn như Đức Kitô là Đấng nhân từ và khiêm nhường trong lòng (x. Mt 11, 29).  

            “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”:Trước hết, ý muốn của Chúa Chađã được thể hiện cách tuyệt hảo nơi con người của Đức Giêsu Kitô, Đấng được sai đến để cứu độ loàingười. Ngài đã làm những gì Cha muốn và thi hành ý muốn của Cha cho đến cùng. Noi gương Đức Kitô, chúng ta kết hợp ý muốn của chúng ta với ý muốn của Thiên Chúa, bởi vì ai làm theo ý Chúa, thì Chúa Cha cũng sẽ nhận lời người đó (x. GLCG số 2827).

            Đó là cốt lõi của 3 lời cầu nguyện trong phần thứ nhất. Không những thế, phần thứ hai gồm 4 lời xin liên quan đến con người cũng đặt mọi sự trên nền tảng “Ý Cha”.

            “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày” : Với lòng tin tưởng và phó thác, Chúa Giêsu dạy chúng ta xin Chúa Cha ban lương thực hằng ngày để mọi người được sống và sống hạnh phúc. Nhưng không phải chỉ nhờ cơm bánh, chúng ta còn được sống bởi Lời vàcủa ăn của uống nhờ mình và máu Kitô, Con Cha. Bởi vì Cha là Đấng tốt lành vượt trên mọi sự tốt lành.

            “Xin tha tội cho chúng con, như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con” :Đây là lời cầu xin tha thứ. Chúng ta xin Thiên Chúa tha thứ cho chúng ta vì nhận ra mình là kẻ tội lỗi, đồng thời chúng ta cũng tuyên xưng lòng thương xót của Người, vì trong Chúa Con và qua các Bí tích, “chúng ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha mọi tội lỗi” (Cl 1,14). Tuy nhiên, lời cầu xin của chúng ta chỉ được nhận lời, nếu chúng ta cũng biết tha thứ cho những người xúc phạm đến chúng ta.

            “Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ” :Ý thức mình là kẻ yếu đuối, chúng ta xin Thiên Chúa đừng để mình đơn độc dưới quyền lực của cơn cám dỗ. Trái lại, khi cầu xin như thế, chúng ta được Thánh Thần của Đức Giêsu hướng dẫn, dạy ta biết phân định giữa thử thách làm tăng trưởng trong sự thánh thiện và cơn cám dỗ dẫn chúng ta đến tội lỗi và sự chết. Đức Giêsu đã chiến thắng cám dỗ bằng lời cầu nguyện, chúng ta cũng xin ơn trung thành với Đức Giêsu và luôn tỉnh thức trong cầu nguyện. 

            “Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ” : “Sự dữ” ám chỉ một kẻ phản loạn chống lại Thiên Chúa là Satan mà Kinh Thánh gọi là “kẻ chuyên mê hoặc toàn thể nhân loại” (Kh 12, 9). Vì vậy, chúng ta cầu xin Thiên Chúa cho gia đình nhân loại được thoát khỏi Satan và những việc làm đen tối của nó, đang khi chờ đợi ngày Đức Kitô trở lại để giải thoát chúng ta khỏi sự dữ một cách dứt khoát.

            Kinh lạy Cha là lời kinh tuyệt vời và huyền nhiệm nối kết con người với Thiên Chúa. Đây là lời kinh đến từ Thiên Chúa, là quà tặng của Thiên Chúa trao ban cho con người. Chính vì thế, Thiên Chúa ưa thích và không ngừng ban muôn ơn cho con người thông qua lời kinh thân thương, đơn giản và dễ hiểu này. Ước mong mỗi người chúng ta biết tận dụng món quà quý giá này, để không ngừng chạy đến với Chúa, trò chuyện, chia sẻ với Người. Chắc một điều, Chúa sẽ không quên chúng ta và không ngừng thi ân giáng phúc cho hết những ai chạy đến với Người.

Huệ Minh

 

Thứ Sáu tuần 11 thường niên,

Lễ Thánh Tâm

Lc 2, 41-52

TRÁI TIM KHÔNG NGỦ YÊN

            Thứ Sáu sau lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô, Phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta cử hành lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu với lòng biết ơn sâu xa đối với Chúa là Đấng có Trái Tim đầy lòng thương xót đối với tội nhân. Chính Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu khi còn trên Thánh Giá đã bị đâm thâu vì tội lỗi chúng ta (Ga 19, 31-37). Hôm nay cũng là ngày cầu nguyện cho ơn thánh hóa các linh mục. Chúng ta hãy xin với Chúa Ba Ngôi, cho Giáo hội có thêm nhiều ơn gọi thánh thiện. Đời nọ tới đời kia, Thánh Tâm Chúa vẫn hằng nuôi dưỡng ý định cứu dân Người khỏi tay thần chết và nuôi sống trong cảnh cơ hàn

            Giáo Hội mừng kính trọng thể lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, một trái tim con người của Đấng là Con Thiên Chúa, qua đó, Giáo Hội mời gọi con cái mình hướng về Thánh Tâm Chúa Giêsu, để chiêm ngưỡng dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Đồng thời, hơn bao giờ hết, chúng ta được mời gọi nhìn ra thế giới để thấy được thực trạng vô cảm đáng báo động của nhân loại hiện nay, từ đó, người Kitô hữu sẽ trở nên chứng nhân của trái Tim nhân hậu Chúa Giêsu trong thế giới hôm nay.

            Vì quá yêu thương Thánh Tâm Chúa đã lo lắng, trăn trở vì chúng ta, và Ngài chỉ mong muốn những kẻ tội lỗi sớm quay đầu ăn năn để được ơn cứu độ mà thôi. Trong Cựu Ước Chúa đã dùng miệng ngôn sứ Êgiekiel mà nói rằng: “Ta không muốn kẻ gian ác phải chết , nhưng Ta muốn nó ăn năn và được sống” (Ed 18, 23). Như vậy khi người tội lỗi biết thống hối ăn năn, thì cả triều thần thiên quốc đều hớn hở vui mừng. Điều này nói lên tầm quan trọng của sự sống đời sau: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào được ích chi.”

            Trái tim của Chúa Giêsu đã không dửng dưng đối với những người đang khao khát Lời Chân Lý, thế nên, Ngài đã lên tiếng giảng dạy họ (Mt 5, 1-12). Ngài cũng không thể không rung động trước sự đói khát của đám dân bần hàn, nên đã hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng (Mc 8,1-10). Ngài cũng không thể ngoảnh mặt làm ngơ trước cảnh đám đông đem chôn một người con trai duy nhất của bà hóa thành Naim, vì thế, Ngài đã cho anh ta sống lại (Lc 7,11-17). Ngài cũng đã rơi lệ khi thấy Mátta và Maria khóc thương Lazarô chết (Ga 11,1-45).

            Hơn nữa, trái tim của Chúa Giêsu luôn hướng tới những người tội lỗi để xót thương họ. Điều này đã được chính Chúa Giêsu minh định: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi" (Mc 2,17). Thế nên, chúng ta không lạ gì khi Chúa Giêsu thể hiện hành động cảm thông cho người phụ nữ ngoại tình và nói: “Tôi không kết án chị đâu” . Ngài muốn cho chị có cơ hội làm lại cuộc đời “chị hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8,11). Hay với  Giakêu và Mátthêu, hai ông bị liệt vào tội bán nước hại dân ngang hàng với gái điếm, ấy vậy mà trái tim của Ngài đã đoái thương, nên đã chọn và gọi họ làm môn đệ.

            Nguyên nhân chính yếu dẫn đến sự vô cảm, dửng dưng này chính là con người đã không cảm nghiệm được lòng thương xót, nhân hậu của Thiên Chúa trên cuộc đời của mình, từ đó, họ cũng không biết xót thương ai…

            Chúa muốn chúng ta thực hiện hôm nay là phải luôn ý thức rằng Thánh Tâm Chúa Giêsu hằng yêu thương chúng ta bằng một tình yêu vô bờ bến. Bởi thế, chúng ta phải biết trân trọng tình thương của Ngài mà sống một cuộc sống đúng với tâm tình con thảo. Và nhờ đó chúng ta được có sự sống đời đời, để công trình cứu chuộc của Ngài không trở thành vô ích nơi chúng ta.

            Là môn đệ của Thánh Tâm Chúa Giêsu không thể đứng chỉ tay năm ngón, hay dửng dưng không can hệ đến nỗi đau khổ của con người, hoặc coi thường khinh bỉ những người tội lỗi. Không bao giờ chúng ta được phép tự cho mình có những hành vi ấy, mà ngược lại, phải hiểu rằng: “Vui mừng và hy vọng, ưu tư và lo âu của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những người đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu tư và lo âu của cộng đồng môn đệ Đức Kitô”

            Được Chúa xót thương tìm kiếm và tha thứ, được Chúa thông cảm và yêu thương, chúng cần phải mang trái tim của Chúa, biết chạnh thương với anh chị em chung quanh. Đừng bao giờ cố tình hay quá vô tình hắt hủi, xua đuổi, hoặc vì quá khắt khe, nghi kị, thiếu cảm thông khiến cho anh em mình phải xa đàn đến độ lạc đàn bỏ Chúa, bỏ Giáo hội. Hãy dùng ngôn ngữ và hành động do sự thúc đẩy của trái tim yêu thương để đối xử với nhau trong gia đình, với xóm giềng. Đừng để trái tim của mình trở lên lạnh lùng vô cảm hoặc khô cứng trước những nỗi đau của anh chị em.

            Hôm nay cũng là ngày thế giới xin ơn thánh hóa các linh mục. Ảnh hưởng của vật chất, khoa học công nghệ, đã biến một số linh mục trở nên như những người máy, vô hồn, vô cảm. Nếp sống tiêu cực của xã hội cũng đang ảnh hưởng trên các linh mục, khiến cho một số linh mục không còn là hình ảnh rõ nét của Thánh Tâm Chúa Giêsu. Ta cầu nguyện thật nhiều cho các linh mục luôn biết để cho Chúa Giêsu huấn luyện, uốn nắn để các ngài trở nên giống Chúa Giêsu mục tử hơn. Xin cho các linh mục có được trái tim, đôi mắt và tâm hồn chạnh thương của Chúa, để các Ngài không mệt mỏi yêu thương, phục vụ và tìm kiếm dân Chúa. Amen.

June 27, 2023