Suy niệm của Huệ Minh

Chúa nhật 12 thường niên, năm A

Chúa Nhật 12 Mùa thường niên, Năm 2023
Gr 20:10-13; Tv 69:8-10,14-17,33-35; Rm 5:12-15; Mt 10:26-33
Đừng sợ

          Trong xã hội ngày nay, có người vì sợ nghèo đói, sợ lao động mà lao vào một cuộc sống phi đạo đức. Có người trái lại, vì muốn làm giàu nhanh chóng, cũng đã thẳng tay chà đạp nhân phẩm của người khác và của chính mình nữa. Cả hai loại người trên đều đánh mất giá trị làm người và đã gây ra những thiệt hại to lớn không chỉ về kinh tế, xã hội mà còn về tinh thần, đạo đức cho cộng đồng nhân loại.
          Trong đời sống tôn giáo nói chung và Kitô giáo nói riêng, cũng luôn có mối đe doạ rình rập giết chết lòng tin của người có đạo. Đó là nỗi sợ hãi. Sợ không kiếm được hay mất việc làm, sợ bị người đời gièm pha, chê cười, khinh khi, sợ bị xã hội kết án và loại trừ chỉ vì họ muốn sống theo những giá trị của Tin Mừng. Không thiếu những Kitô hữu đã đầu hàng, đã thoả hiệp để được yên ổn, để được vinh thân phì da, để được chức tước, địa vị xã hội. Họ sợ những người, những thế lực có thể giết hại họ phần xác.
          Có những người quá nhát sợ. Gặp con dán hay con chuột cũng co rúm người, mặt cắt không còn giọt máu. Có những người, trái lại, chẳng biết sợ là gì. Coi mạng sống nhẹ như tơ. Lên xe là phóng như bay. Liều lĩnh thường thiệt mạng. Nhút nhát quá đâm hỏng việc. Một đàng bất cập, một đàng thái quá. Vì thế vấn đề không phải là sợ hay không sợ. Vấn đề là phải biết phân định. Biết những gì nên sợ và những gì không nên sợ. Hôm nay Chúa Giêsu giúp ta phân định để biết sợ và không biết sợ.
          Các con đừng sợ. (Mt 10,26). Chúa Giêsu không nói tới một sự sợ hãi chung chung, nhưng Người nói rõ về một sự sợ hãi đặc biệt mà người Kitô hữu cảm thấy trong việc sống đức tin của mình. Chúng ta thường e dè, thường do dự mỗi khi nói những lời giống lời của Chúa, làm những việc giống việc của Chúa, bởi vì chúng ta sợ người khác chê cười, châm chọc. Chúng ta sợ bị chê là quê một cục, bị gọi là kẻ lên mặt đạo đức, hay là bị ngược đãi, như chiếc giày bay vèo qua đầu cậu bé.
          Chúa Giêsu không phải là không biết đến những lý do của sự sợ hãi. Bởi vì có những người đã phải mất bạn bè, mất việc làm, mất địa vị và rất có thể mất cả mạng sống vì niềm tin nơi Ngài. Thế nhưng, bên trên những thiệt hại tạm bợ này là niềm hạnh phúc vĩnh cửu Chúa đã hứa ban cho những ai trung thành với Ngài.
          Trong cuộc sống, có những lúc hình như chúng ta cũng cảm thấy sợ hãi. Sợ đọc kinh cầu nguyện trước mặt người khác. Sợ gặp phải những khó khăn khi trung thành sống đức tin của mình. Sợ làm dấu thánh giá trước bữa ăn. Sợ ngả mũ nón khi đi ngang qua nhà thờ. Sợ đổi đề tài khi có người kể những câu chuyện tầm phào và tục tĩu. Sợ không dám từ chối khi bè bạn rủ rê ăn nhậu và cờ bạc. Chúng ta cũng cảm thấy sợ hãi khi Giáo hội bị nhạo cười, bị tấn công.
          “Anh em đừng sợ” Chúa Giêsu nói với các Kitô hữu như thế. Lời mời gọi kèm theo một cách nhìn khác về cuộc sống: “những kẻ giết được thân xác mà không giết được linh hồn”. Theo đó “kinh tế thị trường” có thể “giết được thân xác” với những quy luật phi nhân của nó. Và “kinh tế thị trường” tuy “không giết được linh hồn”, nhưng trong thực tế của con người sau tội nguyên tổ, thì nó có thể giam hãm con người trong vòng tội lụy.
          Thánh Phaolô đã đặc biệt có những suy nghĩ về vấn đề này trong đoạn thư Roma hôm nay “Vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết…” Chúng ta có thể thấy muôn vàn hệ lụy trong xã hội hôm nay : với thời mở cửa, thì cũng là lúc những tệ nạn xã hội : tham nhũng, hối lộ, đầu cơ trục lợi, lũng đoạn thị trường với những sản phẩm nhằm khích động bạo lực, dâm ô, xì ke, ma túy…làm tan nát nền móng đạo đức xã hội là gia đình. Người ta thừa nhận là hợp pháp việc “ly dị”, “hôn nhân thử”, “phá thai”, “ngừa thai”… Hậu quả là xã hội bất ổn, con người càng ngày càng sống trong lo sợ hãi hùng, và nhất là giới thiếu nhi, bị khuôn đúc thành “sản phẩm phục vụ lợi ích kinh tế”, không còn cơ hội đạt tới mức tự do tâm linh vốn là giá trị cao cả tối thượng của một con người. Đứng trước tình trạng ấy, sự khủng hoảng như một định kỳ không thể tránh, đã xảy ra trong mọi xã hội, cách riêng ở những xã hội phát triển cao, gây nên những đổ vỡ không lường.
          “Đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác nhưng không giết được linh hồn. Nhưng hãy sợ Đấng có thể ném cả xác và hồn vào hoả ngục.” Lời nhắc nhở đó không chỉ cho các môn đệ ngày xưa trước lúc lên đường rao truyền Chân lý Phúc âm, nhưng còn cho cả bạn và tôi hôm nay khi mà Chân lý đang bị xé mảnh và đóng đinh từng giây.
          Ngày hôm nay có biết bao người chỉ thấy hưởng thụ thân xác là trên hết; có biết bao người cho luân lý làm cản bước tiến của nhân loại; có biết bao người sẵn sàng bóp chết kẻ khác vì tư lợi; có biết bao người đang đắm chìm trong ngoại tình, phá thai, li dị, gian tham, bất công… mà không hề mảy may giao động cõi lòng. Trước một thế giới đang làm tê liệt lương tâm con người như vậy, bạn và tôi được mời gọi: “Đừng sợ khi phải sống công chính, đạo đức. Đừng sợ khi phải yêu thương cách chân thành. Đừng sợ khó khăn đau khổ khi phải sống theo các giá trị Tin Mừng.”
          Chỉ khi không sợ như thế ta mới trở nên lời chứng cho niềm tin vào một sự sống thiêng liêng phong phú mà nhân loại phải tìm kiếm. by Huệ Minh 2023

26.6 Thứ Hai trong tuần thứ Mười Hai Mùa Quanh Năm
St 12:1-9; Tv 33:12-13,18-19,20,22; Mt 7:1-5
Đừng xét đoán

          Chúa Giêsu nói với các môn đệ: anh em không được xét đoán lên án kẻ khác, vì việc đó thuộc quyền của Thiên Chúa. Anh em xét đoán kẻ khác thế nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ xét đoán anh em như vậy. Sao anh em thấy cọng rác nhỏ trong con mắt kẻ khác, còn cái xà trong mắt anh em, mà anh em không thấy, nghĩa là lỗi lầm nhỏ mọn của người khác thì anh em thấy rõ rồi phê bình lên án đủ thứ, còn tội nặng nề của anh em, anh em lại không chịu thấy, không chịu nhận, không lo sửa chữa. Hãy lo từ bỏ sửa chữa tội lỗi của anh em trước đã rồi anh em mới giúp được kẻ khác chừa bỏ lỗi lầm của họ.
          Xénophon, nhà hiền triết Hy lạp sống vào giữa thế kỷ thứ 5 TCN đã nói như sau: “Thượng Đế đặt trên vai con người hai cái bị: một cái đằng trước, một cái đằng sau. Cái bị đằng sau chứa đựng tất cả những cái xấu của chính con người mình, còn cái bị đằng trước thì đầy rẫy những cái xấu của người khác. Do đó, con người khó mà thấy được những thiếu sót của mình, nhưng lại dễ dàng nhìn thấy những khuyết điểm của người khác”.
          Khuynh hướng tự nhiên của con người là dễ dàng kết án người khác, nhưng lại tỏ ra dễ dãi với mình. Chúa Giêsu đến để chỉnh đốn khuynh hướng lệch lạc ấy. Ngài mời con người hoán cải, nghĩa là quay trở lại với mình, nhìn thẳng vào thực chất của mình, để từ những yếu đuối, bất toàn của mình để dễ dàng thông cảm và tha thứ cho người khác hơn. Đó là nội dung những lời khuyên của Chúa Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay.
          Chúa Giêsu vạch rõ tính cách của nhiều người trong chúng ta thường thì không thấy lỗi lầm của mình, nhưng lại soi mói dò xét cái lỗi của người khác mà lắm khi cái lỗi của chúng ta còn lớn gấp trăm lần cái lỗi của tha nhân.
          “Sao ngươi nhìn cái rác trong mắt anh em, còn cái đà trong chính mắt ngươi thì lại không thấy?” Cái lỗi nhỏ như cái rác của tha nhân thì mình dễ nhìn thấy, nhưng cái lỗi lớn như xà nhà của mình thì lại không thấy. Chúng ta dễ dàng kết án cái lỗi nhỏ nhặt của tha nhân, nhưng lại không ý thức về những tội tày đình của bản thân...
          Con người không thể tự cho mình quyền xét đoán, phê phán người khác, mà chỉ có một mình Thiên Chúa, Đấng thấu suốt mọi sự. Ngài hiểu con người hơn chính họ và mời gọi con người hãy nhìn vào bản thân mình: hãy nhìn vào mắt mình để lấy cái xà đã đóng chặt vào đó, cái xà được kết tinh bằng lỗi lầm, thành kiến, ác ý. Lấy được cái xà, mắt sẽ trong sáng, con người sẽ nhìn rõ sự vật.
          Cái nhìn của đôi mắt không có cái xà sẽ không còn là cái nhìn của phê phán, chỉ trích, nhưng là cái nhìn của Chúa Giêsu, một cái nhìn đầy yêu thương, tha thứ, mang lại cho kẻ được nhìn niềm tin yêu, hy vọng. Lêvi, người thu thuế, sẵn sàng bỏ mọi sự để theo Thầy; Giakêu, người thu thuế trưởng, đã thành tâm hoán cải, Mađalêna đã dứt khoát từ bỏ con đường tội lỗi. Tất cả đã chuyển hướng cuộc đời bởi cái nhìn từ ái bao dung của Chúa Giêsu 
           Chúa Giêsu nhấn mạnh: “Vì anh em xét đoán thế nào thì...cũng sẽ bị xét đoán như vậy....Đong đấu nào...sẽ được đong bằng đấu ấy” (c.2). Ngài khẳng định về cách đối xử của chúng ta với anh em đồng loại sẽ được trả lời trong ngày sau hết, tại có khi sẽ xảy ra ngay tại đời này. Vì sự “đạo đức nửa vời” của chúng ta mà chúng ta tự lên mặt dạy dỗ người khác.
          Đây là thái độ tự mãn, tự cao, tự đại. Nó đối nghịch với nhân đức, hiền lành, khiêm nhường. Nhịn nhục. Chúa Giêsu đề cao cảnh giác về chuyện này. Ngài không cấm chúng ta có những nhận xét khách quan, những nhận xét phân biệt phải trái, sai quấy. Nhưng khi chúng ta kết tội và lên án lương tâm người anh em, là chúng ta xâm phạm lãnh vực dành riêng cho Thiên Chúa.
          Trong đời sống cộng đồng, điều này dễ xảy ra khi chúng ta có một chút gì hơn anh chị em mình: chức tước trong giáo xứ, danh dự trong khu xóm... lúc ấy chúng ta dễ dàng lên “bài giảng” với những bài “đạo đức nửa mùa” theo chủ quan của chúng ta. Chúng ta tự coi mình là “cái rốn vũ trụ” và cho rằng và mọi lời nói và việc làm của chúng ta là hợp lý. Là phải đạo.
           Trong (c.3 và c. 4) Chúa Giêsu nhắc chúng ta về thận phận của chính mình tại sao chúng ta quá chú tâm đến “ cọng rơm trong mắt của người anh em mà quên đi mình đang vác một cái xà”. Cái xà ấy đã che phủ con mắt đức tin của chúng ta, và chúng ta chỉ còn soi mói cái xấu của người anh em mà không biết là: người khi lên án, xét đoán người khác là chính chúng ta đang tự lên án, kết tội mình. Ở đây, Chúa Giêsu nhắc chúng ta phải dè dặt khi xét đoán người khác. Hãy nhớ lại thân phận bụi tro của mình cũng dầy những khuyết điểm tội lỗi... mà bao dung tha thứ những lỗi lầm của người anh em. Có thế, chúng ta mới đấm ngực ăn năn thú nhận và không lên mặt hợm hĩnh khi góp ý xây dựng người anh em, không coi thường, khinh khi người khác mà biết đón nhận nhau trong đức ái.
            Trong câu cuối cùng, Chúa Giêsu gợi những kẻ xét đoán người khác là: Đạo đức giả Ngài ra lệnh: chúng ta hãy lấy cái xà ra trước, rồi thấy rõ mà lấy cọng rơm cho người anh em ( c.5). Nghĩa là chúng ta phải thực hành điều mình hiểu và điều mình nói, thì mới xây dựng người khác trên con đường nhân đức được.
          Chúa Giêsu dạy: “Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán, vì anh em xét đoán thế nào, thì anh em cũng sẽ bị Thiên Chúa xét đoán như vậy; và anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng đong bằng đấu ấy cho anh em” (Mt 7, 1-2), nghĩa là khi chúng ta dùng lăng kính chủ quan của mình để xét cho anh em thế nào, thì chúng ta sẽ phải trả lẽ trước mặt Thiên Chúa thể ấy.
          Vậy nên, nếu khi xét đoán, chúng ta cần biết nhìn lại chính mình, nhất là trong lời xét đoán về anh em có thực sự khách quan hay không, có thực sự vì yêu thương anh em và vì sự thật hay không.

27-6-2023 Lễ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp – Hãy Rước Mẹ Về Nhà Mình
Is 7, 10-17; Kh 12, 1-6.10; Ga 19, 25-27         

Trở về với những trang sách Sáng Thế, chiều chiều gió hiu hiu thổi, Thiên Chúa đi dạo với hai ông bà nguyên tổ trong vườn địa đàng.           

Phải nói rằng cảnh thiên đàng đã đẹp cộng thêm hình ảnh đẹp của Thiên Chúa và hai ông bà nguyên tổ quả là tuyệt vời. Thiên Chúa cho hai ông bà thừa hưởng công trình sáng tạo của Thiên Chúa thế nhưng mà hai ông bà đặc biệt là bà đã không cảm nhận được ân sủng từ Thiên Chúa để rồi bà giơ tay hái trái cấm từ lời ngon ngọt của con rắn.           
E-và đã phạm tội ! Thiên Chúa giận thì giận nhưng vẫn thương con người. Thiên Chúa đã hứa cho một người phụ nữ khác thay thế E-và bất tuân.           
Lời hứa cứu độ đã đến với con người, đã đến với nhân loại sau một thời gian dài. Tưởng chừng như Thiên Chúa lãng quên nhưng không, Ngài đã thực thi lời hứa đó. Người nữ sửa cái sai của E-và đó chính là Trinh Nữ Maria. Hai chữ E-va Mẹ đảo vần. Eva bất tuân còn Mẹ thì xin vâng : “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”            
Mặc dầu chưa hiểu hết ý định và chương trình của Thiên Chúa, nhưng vì tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, Maria đã thưa lời “Xin vâng” và đón nhận tất cả, đón lấy ý Chúa làm ý mình để chương trình tình yêu của Thiên Chúa được hoàn tất.           
Với lời “Xin vâng” của thôn nữ Maria, Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể làm người, mở đầu công cuộc cứu rỗi trần gian. Thôn nữ Maria trở thành Mẹ Đấng Cứu Thế qua thái độ khiêm nhường khi lời đáp xin vâng phát xuất từ lòng tin của mình. Lời “Xin vâng” của Mẹ là cửa ngõ dẫn vào ơn cứu độ. “Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật.” Mẹ “Xin vâng” là Mẹ đón nhận công việc mở cửa cho ơn cứu độ tuôn tràn đến với nhân loại.           
Nhờ lời “Xin vâng” của Mẹ Maria, Đức Giêsu đã đến trần gian, khai mở cho nhân loại một thời đại mới, thời đại của tình yêu cứu độ. Đức Giêsu đã đến phá tan bức màn đêm tăm tối, mở ra một bầu trời hy vọng cho nhân loại. Nhờ lời Mẹ xin vâng, lịch sử nhân loại bước sang trang mới, mở ra một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên hồng ân cứu độ.           
Trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Mẹ Maria là mẫu gương tuyệt hảo về sự vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Bằng niềm tin và sự vâng phục, Mẹ đã tự do cộng tác vào công trình cứu độ. Từ lúc nhận lời Sứ thần truyền tin với lời “Xin vâng” đầu tiên, Mẹ đã sống vâng phục thánh ý Thiên Chúa trong suốt cuộc đời. Qua từng biến cố, Mẹ đã liên tục thưa những tiếng “Xin vâng”, để cùng với Chúa Giêsu tiến bước trong hành trình đức tin với lòng vâng phục thánh ý Chúa Cha, để cuối cùng là lời “Xin vâng” hiệp nhất với Chúa Giêsu trên thập giá hoàn tất ý định của Thiên Chúa. Sau hai tiếng “Xin vâng” của Mẹ, Ngôi Hai Thiên Chúa “đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.”           
Với lời “Xin vâng”, Mẹ Maria quả thực đã trở thành người đầu tiên trong nhân loại nói lên sự vâng phục trọn vẹn đối với Thiên Chúa. Trong khi thế trần vui mừng vì hy vọng được tha thứ nhờ lời “Xin vâng” của Mẹ, thì Mẹ Maria lại nghĩ đến những đòi hỏi gắt gao của lời xin vâng đó. Mẹ biết lời xin vâng ấy sẽ dẫn đưa Mẹ trên con đường hy sinh, nhưng vì yêu nhân loại và khát khao làm vimh danh Thiên Chúa, Mẹ đã đón nhận tất cả để chương trình cứu độ được nên hoàn trọn.           
Hình ảnh, con người xin vâng của Mẹ Maria quá tuyệt vời. Mẹ đã sửa sai cho người nữ đầu tiên trên trái đất này. Mẹ đã làm cho cục diện cứu độ được thay đổi, Mẹ đã làm cho những gì hư mất nay được phục hồi. Chính nhờ lời xin vâng tuyệt hảo mà Thiên Chúa cứ mãi chở che Mẹ, ấp ủ Mẹ.           
Hình ảnh người phụ nữ trong sách Khải Huyền cũng chính là hình ảnh của Mẹ Maria. Đối diện với thế lực của quỷ dữ nhưng Mẹ được chở che vì Mẹ đã ôm trọn, Mẹ đã cưu mang con Thiên Chúa. Mẹ đã được đưa ngay lên tòa của Thiên Chúa trước những thế lực quỷ dữ canh chừng ăn tươi nuốt sống Mẹ.           
Và, hình ảnh hết sức đẹp mà chúng ta thấy trong trang Tin Mừng rất ngắn của Thánh Gioan. Mẹ Maria, đứng dưới chân thập giá, chỉ còn mình Mẹ và người môn đệ Chúa yêu, Mẹ cũng đã ôm trọn Gioan vào lòng để chở che Gioan trong nỗi cô đơn, trong nỗi cay đắng tột cùng của Chúa Giêsu. Mọi người bỏ đi hết, mọi người tháo chạy hết và chỉ còn mình Mẹ can trường dưới chân cây thập giá.            
Mẹ là như thế ! Mãi mãi Mẹ vẫn như vậy trong suốt cả cuộc đời. Mẹ ôm con khi sinh con nơi hang đá Bê lem, Mẹ ôm con trốn sang Ai Cập, Mẹ ôm con dâng mình cho Chúa và Mẹ cũng ôm con Mẹ trên đỉnh đồi Gôn gô tha. Và, Mẹ đã ôm Gioan đại diện cho nhân loại vào trong lòng Mẹ để Mẹ chở che.
Bản tính Mẹ là như vậy, bản chất Mẹ là như vậy.
Mẹ yêu thương, che chở con người để rồi trong thế giới “Thánh tượng” (icon), tranh icon được biết đến nhiều nhất là bức “Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp” (Our Lady of Perpetual Help) – được vẽ vào khoảng thế kỷ 13 có nguồn gốc từ Hy Lạp theo truyền thống Byzantium – mà nguyên bản, từ năm 1866 đến nay, được đặt tại nhà thờ Thánh An Phong (Alfonso) ở Rôma, Ý.
Sự nổi tiếng này có nhiều nguyên do, mà trước hết là bởi niềm tin của giáo dân về sự linh thiêng của “Thánh tượng” (có vô số truyền thuyết về “quyền năng Thiên Chúa” thể hiện qua “Thánh tượng” này được lan truyền khắp nơi…).
Tiếp theo, phải kể đến sự kiện các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế đã chọn “Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp” làm bổn mạng cho sứ vụ chính của Hội Dòng, và nhận sự uỷ thác của Đức Giáo Hoàng Pi-ô IX phải truyền bá hình ảnh “Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp” cho toàn thế giới – kể từ năm 1866.
Đức Mẹ tuy bồng ẵm Chúa Giêsu trong lúc con mình sợ hãi, nhưng lại không hướng ánh mắt về con mình, mà về phía người đối diện ngắm nhìn bức ảnh. Điều đó như Đức Mẹ muốn nhắn gửi sứ điệp:           
“Là người Mẹ, tôi biết con tôi đang tìm sự an ủi chở che, nên ngồi sát nép vào lòng tôi tìm sự an ủi giúp đỡ để con tôi làm trọn hảo ý Thiên Chúa muốn. Và tôi chấp nhận vâng theo ý Thiên Chúa bằng lòng để con tôi hy sinh cho công cuộc cứu rỗi loài người khỏi vòng tội lỗi. Tôi đã nói lời xin vâng theo ý Thiên Chúa ngay từ giây phút Thiên Thần đến truyền tin cho tôi. Điều này tôi không bao giờ rút lại.
Như Chúa Giêsu, con tôi, nép sát mình bên tôi khi sợ hãi lúng túng nhìn thấy cây thập giá, con người các bạn trong cơn khốn khó đau khổ, cũng được phép chạy đến tìm sự an ủi giúp đỡ nơi tôi.
Tôi là người mẹ luôn sẵn sàng phù hộ giúp đỡ cho những người cần đến kêu cầu tôi.
Và trong dòng thời gian do lòng kính mến cùng biết ơn, người ta ca tụng tặng tôi danh hiệu: Đức Bà phù hộ các giáo hữu! Đức Bà an ủi kẻ âu lo!           
Tôi vui mừng được làm công việc của một người mẹ bây giờ ở trên trời chuyển lời cầu xin của người tín hữu tới nhan Thiên Chúa, Đấng là kho tàng mọi ân đức phúc lộc cho con người.”
Và đó đây trong kinh cầu Đức mẹ hằng cứu giúp, người tín hữu Chúa Kitô hát kêu xin: “Con xin dâng lên gia đình con cái, trong tay khoan nhân của Mẹ Chúa trời! Xin Mẹ thương hãy giúp đỡ con!”
Hôm nay, mừng kính Mẹ Hằng Cứu Giúp, một lần nữa, chúng ta chân nhận, chúng ta xác tín rằng Mẹ luôn luôn che chở, Mẹ luôn phù trì chúng ta : Mẹ nguồn cậy trông chưa thấy ai xin Mẹ về không, hỡi Mẹ Thiên Chúa, xin hãy lắng nghe con nài van. Mẹ nguồn an vui, ôi Nữ Trinh là nguồn an vui, hết tình kêu khấn con tin chắc Mẹ luôn nhận lời.
Chuyện quan trọng và hết sức quan trọng là chúng ta có bắt chước như Gioan là mang Mẹ về nhà của mình hay không ? chúng ta mang mẹ nào đó về nhà để rồi chúng ta cứ mãi hoang mang, mãi mất lòng tin.
Cuộc đời này có quá nhiều lắng lo để rồi chúng ta hoang mang, chúng ta mất lòng tin.
Cứ bắt chước như Gioan, hãy rước Mẹ về nhà mình để rồi gia đình chúng ta luôn được bình an dưới sự chở che của Mẹ Hằng Cứu Giúp.          

Lm. Anmai, C.Ss.R.

28.6 Thánh Irenaeus, Gmtđ
St 15:1-12,17-18; Tv 105:1-2,3-4,6-7,8-9; Mt 7:15-20
Tỏa chiếu ánh Tin Mừng như Thánh Irênê
   
          Thánh Irênê sinh tại Tiểu Á và giữa thế kỷ II. Chúng ta biết được phần nào ngày sinh của Ngài, dựa vào bản tường thuật Ngài viết về thánh Policarpô. Ngài viết cho Flôrinô:
          - “Tôi có thể nói với ông nơi thánh Pôlicarpô ngồi khi Ngài rao giảng lời Chúa, tôi được thấy Người ra vào. Bước chân, phong thái, cách sống và lời Ngài nói in sâu vào lòng tôi. Tôi như còn nghe thấy Người kể lại cách người đàm luận với thánh Gioan và các tông đồ khác đã thấy mặt Chúa. Người nói lại cho chúng tôi những lời nói và những điều các Ngài đã học được liên quan đến Chúa Giêsu. Các phép lạ và giáo thuyết của Chúa.
           Thánh Irenê còn phấn khởi ghi thêm:
          - “Tôi ghi nhận các hành vi và lời nói ấy không phải trên bảng viết mà là trong sâu thẳm tâm hồn. Thiên Chúa cho tôi được ơn không ngừng nhớ lại những kỷ niệm ấy trong lòng”.
          Như vậy, thánh Irênê luôn nhớ mãi hình ảnh sống động của thánh Policarpô qua đời năm 155. Vậy có thể là thánh Irênê ra đời khoảng từ năm 130 đến 135, và Ngài được giáo dục tại Smyrna, làm môn đồ của thánh Pôlicarpô. Hấp thụ nền giáo dục gần với các tông đồ. Nhất là với thánh Gioan, thánh Irênê còn ở trong vòng ánh sáng mà tâm điểm là tình yêu đằm thắm giữa thánh Gioan với Chúa Kitô. Trong tác phẩm dài “Adversus Haereses” của Ngài. Chúng ta cảm thấy Ngài là người được thấm nhiễm một trực giác hiếm có.
          Thánh Pôlicarpô gọi Irênê sang Gaule. Tại đây thánh Pôthinô, giám mục Lyon phong chức linh mục cho Ngài. Phần đóng góp của thánh Irênê cho Giáo hội thật lớn. Ngài chú tâm tới mọi khoa học, chuyên cần suy gẫm thánh kinh. Khi nghiên cứu huyền thoại và các hệ thống triết học ngoại giáo, Ngài biết tìm ra nguồn gốc các sai lầm và bác bỏ các lạc thuyết pha trộn huyền thoại vào Kitô giáo. Tertulianô đã tuyên nhận rằng không có ai nỗ lực tìm tòi hơn là thánh Irênê. Thánh Hiêrônimô, nại đến thánh nhân để củng cố uy tín của mình. Ngài được coi như là ánh sáng các vùng Gaules ở Phương Tây.
           Năm 177, thánh Irênê được cử làm đại diện về Rôma, bên cạnh Đức giáo hoàng để thực hiện một sứ mệnh tế nhị là dàn xếp ngày mừng lễ phục sinh
           Trở lại Lyon, thánh Irênê gặp lại một giáo đoàn côi cút. Marcô Aureliô vừa mới giết hại các Kitô hữu. Đức cha Pothinô đã bị sát hại. Thánh Irênê được bầu lên kế vị. Ngài trở thành thủ lãnh Giáo hội tại xứ Gaule, bận rộn với công việc rao giảng, thánh nhân vẫn viết sách để chống đỡ chân lý. Ngài phải chiến đấu không ngừng, bởi vì cuộc bách hại tưởng chấm dứt khi Marcô Aureliô qua đời, nhưng các lạc giáo lại nổi lên chống phá Giáo hội. Thánh Irênê dùng hết tâm trí và đức tin chống lại các lạc thuyết nhưng vẫn yêu thương những kẻ lầm lạc, Ngài cầu nguyện cho họ van nài họ trở về với Giáo hội thật:
           - “Hợp nhất với Chúa là sự sống và là Sự sống .... Khốn khổ cho ai lìa xa sự hợp nhất ấy. Hình phạt đổ xuống họ không phải do Thiên Chúa mà do chính họ, vì khi chọn quay mặt khỏi Thiên Chúa, họ đánh mất mọi tài sản”.
          Các tác phẩm lừng danh Ngài đã soạn khiến cho Ngài đáng được gọi là “Ánh sáng bên trời Tây”.
           Dưới sự dẫn dắt của thánh Irênê, Lyon đã trở thành một trường dạy phụng sự Chúa đào tạo nhà tri thức và có khả năng truyền giáo. Thế hệ đầu tiên của trường đã bảo vệ đức tin tinh tuyền bằng những nghiên cứu và sách vở của họ. Thế hệ thứ hai phổ biến Tin Mừng đến những miền khác.
           Hoàng đế Seltinô – Severô tái diễn cuộc bách hại. Ông gia hình cho đến chết những ai kiên trì với đức tin. Lyon là thành phố diễn ra cuộc hãm xác tập thể các Kitô hữu thật khủng khiếp. Máu chảy thành suối trên đường phố tiếp nối dòng máu các giám mục tử đạo, thánh Irênê, cũng bị hạ sát với đàn chiên mình. Một tài liệu cố tìm được cho thấy có đến 19 ngàn Kitô hữu cùng chịu khổ chịu chết vì đạo với Ngài.
          Thánh Irênê đã dùng tài năng và trí thông minh Chúa ban để bảo vệ đức tin. Noi gương Thánh nhân, chúng ta hãy xin Chúa ban ơn để mỗi chúng ta cũng biết tận dụng khả năng Chúa ban cách riêng cho mỗi người để làm sáng danh Chúa.
          Xưa nay chưa hề có chuyện lạ lùng này là “bụi gai có thể sinh ra trái nho”, hay “bụi găng có thể sinh ra trái vả”. Nhưng, ấy là chuyện của loài thực vật. Còn con người, thật khó mà thấu hiểu lòng dạ bên trong thế nào, có chăng, cũng chỉ nhìn thấy cái vẻ bên ngoài mà thôi. Vì thế, Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta “Hãy coi chừng các tiên tri giả”. Chúa lên án cách sống giả hình của những người không yêu mến Chúa, không sống Lời Chúa   dạy, và chỉ mượn  Chúa,  mượn  Tin Mừng để đánh bóng mình. Họ đang dối Chúa, lừa mọi người.
          Quả thực, đôi khi, chúng ta nhìn thấy cái vẻ ngoài của một người xấu xí, không sạch sẽ thơm tho, mà chúng ta xem thường họ là hèn kém. Và thông thường, nhìn ai sạch sẽ, xinh đẹp, sang trọng hay ra vẻ đạo mạo thì ta lại quý chuộng, kính nể và có khi còn cho là đàng hoàng đạo đức. Đôi mắt phàm của chúng ta luôn nhầm lẫn.
          Nhưng trong mắt Chúa thì không. Bởi vì chỉ có Chúa mới thấu suốt lòng dạ con người. Chúa Giêsu nói: “Hãy xem trái thì biết cây. Cây tốt thì sinh trái tốt”. “Trái tốt” ở đây không phải cái vẻ bề ngoài có thể đánh lừa chúng ta đâu, nhưng là một cuộc sống tỏa chiếu ánh Tin Mừng. Bởi, nếu Tin mừng là sức sống cho cây cuộc đời chúng ta, thì hoa trái cuộc sống của chúng ta sẽ chan hòa tình yêu thương chân thành, như Chúa Giêsu đã sống yêu. Chúa muốn các gia đình chúng ta luôn lắng nghe và sống Lời Chúa Giêsu dạy, để Lời Chúa Giêsu thấm nhuần từ trong cõi lòng, và thể hiện ra trong từng lời nói, cử chỉ hành động, cách ứng xử với nhau, với người, với đời.

Huệ Minh 23

29 tháng 6 năm 2023
St 17:1,9-10,15-22; Tv 128:1-2,3,4-5; Mt 8:1-4
Thánh Phêrô và Phaolô, Tông Đồ
          Hôm nay Giáo Hội mừng trọng thể lễ kính hai vị thánh Tông Đồ của Hội Thánh: Thánh Phê-rô và thánh Phao-lô. Nhà văn Oscar Wilde nói: “Không có thánh nhân nào mà không có quá khứ và cũng không có tội nhân nào lại không có tương lai”. Thật vậy, khi nhìn vào tiểu sử của hai vị thánh mà chúng ta mừng kính hôm nay, chúng ta thấy các Ngài cũng có những lúc yếu đuối, lỗi lầm. Song các Ngài đã biết sửa sai, làm lại cuộc đời.
          Khi Nhìn lại quá khứ của Phêrô và Phaolô, chúng ta cảm thấy hơi ngán ngại. Nếu Phêrô chối Chúa Giêsu trong cơn nguy khốn và cô đơn tuyệt đỉnh, thì Phaolô ở trong tình trạng căng thẳng hơn nhiều. Vì quá nhiệt thành với Do Thái giáo, nên Phaolô rất dị ứng với Kitô giáo. Ông muốn tẩy trừ Danh Đức Giêsu Kitô ra khỏi cuộc đời này. Vì thế, ông rất hăng say bắt bớ và giết hại những ai xưng mình là Kitô hữu. Dù vậy, Chúa vẫn thương ông vì biết ông hành động do không hiểu biết và lầm lạc cách vô tình. Chúa nhìn thấu tâm hồn của ông chứ không theo những gì thể hiện bên ngoài. Biến cố Phaolô ngã ngựa trên đường đi Đamas mang nhiều ý nghĩa thâm sâu, nhưng trên hết là biến cố của lòng thương xót Chúa dành cho Phaolô nói riêng và cho con người chúng ta nói chung.
          Chúa Giêsu đã mạnh dạn và táo bạo trong việc tuyển chọn môn đồ để kế tục sự nghiệp của mình. Trong Nhóm Mười Hai, có những thành phần bị coi là rốt cùng trong xã hội như làm nghề chài lưới, thu thuế . . . Để rồi có người đã chối Thầy, có người bán Thầy, có người chạy thục mạng khi Thầy gặp nguy hiểm . . . Nhưng với những việc đó cũng không làm cho Chúa Giêsu  thất vọng và chán nản, Ngài còn tuyển thêm một đồ đệ vốn là “thù địch” của mình nữa, đó là Phaolô. Việc làm như thế quả là liều mạng.
          Thánh Phê-rô, còn gọi là Simon, là một con người ít học, sinh sống bằng nghề chài lưới. Khi được Thầy Giêsu kêu gọi làm môn đệ thì liền lập tức bỏ lại mọi sự mà đi theo Thầy,  trong quá trình theo Chúa ông tỏ ra nhiệt thành và năng nổ, bộc trực, luôn nhanh nhẹn  trả lời câu hỏi mỗi khi Thầy đưa ra, nhưng bởi vì bộc trực và năng nổ cộng với sự cậy mình: “ta đây” khiến ông hay vướng vào sai lầm; cụ thể ông đã can ngăn Thầy đừng lên Giêrusalem để chịu khổ nạn, chịu chết để chuộc tội cho thiên hạ.
          Trong cuộc thương khó của Thầy, vì sợ bị liên lụy nên ông đã chối Thầy ba lần…Nhưng sau đó ông đã ăn năn than khóc, hối hận vì những việc mình đã làm đối với Thầy, từ đó ông không còn dám cậy mình, để cho cái tôi kiêu hãnh trong mình chi phối hành động nữa, ông đặt trọn niềm tin và vâng lời tuyệt đối nơi Thầy Giê-su Chí Thánh. Chính vì thế mà Chúa Giêsu đã đặt ông làm đầu thay Ngài để xây dựng và bảo vệ Hội Thánh thuở sơ khai. Cuối cùng ông đã anh dũng hy sinh mạng sống để bảo vệ niềm tin vào Thầy Giêsu. Ông xin chịu đóng đanh ngược vì nghĩ không xứng đáng được như Thầy. Thánh nhân có câu nói bất hủ: “Lạy Thầy, bỏ Thầy con biết theo ai? Chỉ có Thầy mới có lời ban sự sống đời đời” (Ga 6, 68).
          Ngược lại, Thánh Phao lô là một trí thức, ông trung thành với truyền thống Do-Thái giáo, ông chống đối Chúa Giêsu và ra tay bắt bớ những kẻ theo Ngài. Cụ thể là ông đã ủng hộ việc người Do Thái sát hại thánh Têphanô…Nhưng về sau, chính Thầy Giêsu đã dùng biến cố ngã ngựa khi ông trên đường đi đến Đamas để thu phục ông. Kể từ đó ông đã thay đổi hoàn toàn, ông trở thành tông đồ của dân ngoại, bôn ba khắp nơi rao giảng Tin Mừng nước trời để rồi cuối cùng bị vua Nêrôn giết bằng cách chặt đầu vào khoảng năm 67. Thánh nhân có những câu nói rất hay:  “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi”. (Gl 3, 20). “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô ? Phải chăng là gian truân,  khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?” (Rm 8, 35).
          Tin Mừng hôm nay thánh sử Mathêu thuật lại việc Thầy Giê-su hỏi các môn đệ của Người  xem thiên hạ nói gì về Người?  Các ông thưa:  “Kẻ thì nói là Gioan Tẩy giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông giê-rê-mi-a hay là một trong các ngôn sứ”. Như vậy, người đồng thời với Chúa Giêsu không một ai có cái nhìn đúng đắn về Ngài cả. Có lẽ đây chỉ là tiền đề cho một câu hỏi khác của Thầy Giê-su. Câu hỏi mang tầm vóc quan trọng và cụ thể hơn dành cho các môn đệ “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Ông Simon Phê-rô thưa: “Thầy là Đấng Ki-tô , Con Thiên Chúa hằng sống” Câu trả lời của ông Phê-rô làm Chúa Giêsu hài lòng. Ngài liền khen: “Này anh Simon con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời”.
          Và rồi ngay sau đó Chúa Giêsu đã chính thức trao cho Thánh nhân một trọng trách vĩ đại là làm đầu Hội Thánh với quyền thế:  Mở cửa Nước Trời, quyền tha thứ cũng như cầm buộc.  “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này. Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời, dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy”.
          Mầu nhiệm Nước Trời và sự quan phòng của Thiên Chúa. Ôi tuyệt vời. Chúa đã dùng những con người xem ra bất toàn và yếu đuối, chống đối lại Ngài. Ngài cảm hóa, hướng dẫn để rồi cuối cùng trở nên những trụ cột  hết lòng xây dựng Hội Thánh.
          Mừng kính hai vị thánh cả hôm nay. Trước hết chúng ta cảm tạ và ngợi ca Thiên Chúa. Vì biết bao hồng ân Chúa đã ban cho hai vị thánh cũng như đã ban cho mỗi người chúng ta. Đấng đã biến đổi hai vị thánh thành rường cột của Giáo Hội. Sau là chúng ta nhìn lên hai vị thánh nhân mà học tập, bắt chước các nhân đức nơi các Ngài để rồi cuộc đời chúng ta luôn biết cậy trông, tín thác vào sự quan phòng và tình yêu vô biên của Thiên Chúa.
30.6.2023
St 16:1-12,15-16; Tv 7:21-29; Mt 8,5-17
Yêu thương và phục vụ
          Mỗi ngày sống của chúng ta, dù có thế nào đi nữa thì cũng chỉ được gói trọn trong 24 giờ đồng hồ. Thế nên, chúng ta phải sống làm sao để một ngày trôi qua thật là ý nghĩa và giá trị. Chúa Giêsu trong đoạn Tin Mừng hôm nay là một mẫu sống tuyệt vời cho chúng ta. Một ngày sống của Chúa tràn đầy tình yêu thương và tinh thần phục vụ. Tình yêu thương phục vụ ấy đã được lan tỏa đến mọi người, không phân biệt lương giáo hay đẳng cấp trong xã hội.
          Sau khi chữa người bị phong hủi (8,1-4), Chúa Giêsu vào thành Ca-phác-na-um. Ngay lúc ấy có một viên đại đội trưởng đến gặp Người để xin chữa lành cho một người đầy tớ. Chúa nhận lời sẽ đến nhà ông. Nhưng với một lòng tin vững mạnh, ông chỉ xin Chúa phán một lời thì đầy tớ của ông sẽ lành mạnh (c.5-8). Lòng tin của ông đã được Chúa Giêsu đề cao và ngay giờ đó Chúa đã chữa cho người đầy tớ của ông được khỏi bệnh (c.13).
          Hình ảnh và lòng tin sắt đá của viên đại đội trưởng hẳn làm chúng ta phải tự hổ thẹn với chính bản thân mình. Bởi lẽ trong cuộc sống, mỗi khi gặp khó khăn thử thách, chúng ta rất dễ nghi nan, ái ngại, rồi nản chí, những lúc ấy lòng tin của chúng ta như vẫn còn dang dở, mờ ám, bấp bênh. Vẫn biết rằng, Chúa luôn hiện diện ngay bên để trợ giúp và hướng dẫn chúng ta ngay giữa những thăng trầm của cuộc sống. Nhưng nào chúng ta có nhận ra Ngài đâu chứ? Chúng ta vẫn cứ mải mê với những sự vật trần thế, vẫn bám víu vào những trợ lực mau qua của con người thời đại, mà quên đi Chúa đang đồng hành bên chúng ta.
          Đây là cơ hội để chúng ta tự vấn về lòng tin của mình: khi những gian nan thử thách đến với chúng ta, liệu chúng ta có dám vững tin rằng Chúa đang âm thầm ngự trên con thuyền đời mình không? Dù rằng đôi lúc Chúa vẫn im lặng và ngủ say trên con thuyền đời ta. Nhưng đâu phải là Ngài chẳng biết điều gì đang xảy ra cho chúng ta, mà có lẽ là chưa tới giờ của Ngài đó thôi. Vì Ngài vẫn mãi mãi yêu thương và luôn luôn sẵn sàng phục vụ chúng ta. Điều quan trọng là chúng ta có dám buông thả đời mình trong vòng tay yêu thương của Ngài không? Như viên đội trưởng trong bài Tin Mừng, đã dám tin rằng chỉ một lời Ngài phán ra, đủ để cứu mạng sống người đầy tớ của ông.
          Về phần Chúa Giêsu, Ngài đến trần gian để đem ơn cứu độ đến cho mọi người, không phân biệt dân Do thái hay dân ngoại. Bởi đó tất cả mọi người đều có quyền hưởng ơn cứu độ. Ngài đến để xây dựng một gia đình mới trong tình yêu Thiên Chúa. Một gia đình trong đó mọi người là anh chị em với nhau, có Thiên Chúa là Cha, cùng sống yêu thương và phục vụ lẫn nhau cách chân thành quảng đại. Do đó tất cả mọi người đều được mời gọi gia nhập vào gia đình của Thiên Chúa.
          Chúng ta cũng được mời gọi theo gương Ngài, sống yêu thương và sẵn sàng giúp đỡ, phục vụ mọi người chung quanh, không phân biệt tôn giáo, đẳng cấp. Đó chính là một cuộc sống đầy ý nghĩa và giá trị nhất. Một cuộc sống mà Thiên Chúa luôn ước mong nơi mỗi người chúng ta trong cõi đời đầy thương đau thử thách này.
          Phép lạ thứ hai trong đoạn Tin Mừng là việc Chúa chữa cho bà mẹ vợ ông Phêrô khỏi cơn sốt, sau đó bà chỗi dậy phục vụ Ngài (c.15). Chính Chúa Giêsu đã đi bước trước để ban ân phúc cho bà, điều đó nói lên tình thương cứu độ của Thiên Chúa dành cho mọi người, không phân biệt giới tính hay đẳng cấp (vì theo quan niệm Do thái: phụ nữ bị xếp vào loại công dân hạng hai, không có tiếng nói trong cộng đoàn). Hình ảnh bà chỗi dậy phục vụ Ngài đã diễn tả sứ mạng phục vụ của Giáo hội theo gương Thầy Chí Thánh Giêsu. Cũng vậy, Giáo hội và mỗi người chúng ta sau khi được Thiên Chúa thanh tẩy và chữa lành nhờ sự Phục sinh của Đức Kitô, đều có sứ mạng phục vụ nhân loại, phục vụ Nước Thiên Chúa.
          Như thế, yêu thương và phục vụ chính là sứ mạng quan trọng nhất của Giáo hội và của chúng ta. Thế giới và con người thời đại hôm nay đang rất cần những chứng tá đích thực của một tình yêu chân chính, cần được cảm nghiệm thực sự những nghĩa cử phục vụ tận tình vô vị lợi của những người môn đệ Đức Kitô. Chúng ta phải trở nên những chứng nhân thực sự của Tin Mừng giữa thế giới hôm nay. Chúng ta phải để cho mọi người chất vấn chúng ta về sứ mạng yêu thương và phục vụ.
          Chúa Giêsu trong đoạn Tin Mừng đã phục vụ không biết mỏi mệt và không ngừng phục vụ. Tất cả những ai đến với Ngài đều được chữa lành và được chúc phúc (c.16). Chúng ta thử hồi tâm xét lại lòng mình xem chúng ta đang ở ngưỡng nào trên hành trình yêu thương và phục vụ?
          Mỗi bước chân yêu thương phục vụ của chúng ta theo gương Chúa Giêsu trong từng ngày sống sẽ có tác dụng rất lớn cho con người và thời đại hôm nay. Vì ơn cứu độ và hạnh phúc Nước Trời thuộc về tất cả mọi người mà chúng ta có nhiệm vụ rao truyền và sẻ chia. Những hành vi yêu thương và nghĩa cử phục vụ của chúng ta sẽ có sức mạnh lôi kéo nhiều người đến gia nhập Giáo hội để lãnh nhận ơn cứu độ, đặc biệt trong Năm Thánh này.
          Nhiều tâm hồn đang khát khao tìm kiếm công lý, yêu thương và an bình giữa một thế giới đầy hận thù, chiến tranh và chia rẽ. Chúng ta có sứ mạng làm chứng tá cho Nước Trời, Vương Quốc của tình yêu, thứ tha và an hòa.

by Huệ Minh

 

1 tháng 7 năm 2023

Thứ Bảy trong tuần 12 Mùa Quanh Năm
St 18:1-15; Lc 1:46-47,48-49,50,53,54-55; Mt 8:5-17
Tuyên xưng niềm tin

          Trag Tin Mừng hôm nay thuật lại câu truyện lòng tin của viên bách quản Rôma, một lòng tin đã khiến Chúa Giêsu phải ngạc nhiên. Nếu Chúa Giêsu đã khen lòng tin của người đàn bà bị bệnh loạn huyết khi bà nghĩ rằng chỉ cần đụng vào gấu áo Ngài cũng đủ để được khỏi, thì lòng tin của viên bách quản này còn mạnh hơn nhiều: Ông tin rằng Chúa Giêsu chỉ cần nói một lời, thì đầy tớ của ông, dù có ở xa đến đâu cũng sẽ được lành. Trước lòng tin ấy, Chúa Giêsu đã thốt lên: "Tôi không thấy một người Israel nào có lòng tin như thế".
          Đanh khi Chúa Giêsu đến thành Capharnaum, thì một viên sĩ quan ngoại giáo đến van xin Ngài chữa cho đầy tớ ông bị bại liệt đau khổ. Ngài hứa sẽ đến cứu chữa, nhưng ông quá khiêm tốn, không dám rước Chúa về nhà, chỉ xin Chúa phán một lời cho đầy tớ ông lành bệnh. Chúa thấy ông ta có lòng tin và khiêm tốn như thế thì ngạc nhiên và hết lời khen ngợi. Ngài bảo viên sĩ quan: ông cứ về, ông tin thế nào thì được như vậy. Và ngay lúc đó đầy tớ ông được khỏi bệnh.
          Lời tuyên xưng của viên bách quản là kết quả hiểu biết đúng đắn về bản thân và quyền năng của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu. Ðể có sự hiểu biết đúng đắn cần phải có thái độ khiêm nhường và thành thật. Vì con người là một tinh thần kết hợp với thể xác: thể xác bị ràng buộc bởi các điều kiện không gian và thời gian, còn tinh thần chẳng bị một ràng buộc nào; thể xác đang nằm sát đất, nhưng tinh thần có thể vươn tới trời cao; thể xác đang ở hiện tại, nhưng tinh thần có thể lùi lại quá khứ hoặc hướng tới tương lai rất xa.
          Óc tưởng tượng đưa con người viễn du khắp nơi, cả những vùng không tưởng. Óc tưởng tượng vẽ ra cho con người muôn vàn hình ảnh, mà nếu không khiêm nhường trong hiểu biết, con người sẽ bám víu mãi vào đó. Khiêm nhường đem tinh thần con người trở về với thân xác hạn hẹp yếu đuối; khiêm nhường chỉ cho con người thấy thực tại của thân phận làm người, đó là hoàn toàn lệ thuộc vào Thiên Chúa; tất cả những gì con người có đều là do Thiên Chúa ban. Nhận thức được chân lý này, nên niềm tin của viên bách quản được Chúa Giêsu khen thưởng, và Giáo Hội đã mượn lời tuyên xưng này để hằng ngày trong Thánh Lễ, người tín hữu có thể dâng lên Chúa tâm tình khiêm tốn, bất xứng của mình.
          Chúa Giêsu không loại trừ ai. Trái lại ai càng bị loại trừ thì Chúa Giêsu lại càng ưu ái với những người đó và giúp họ trở về với cộng đoàn yêu thương.
          Xét mình kỹ, tôi thấy mình có phần giống Chúa nhưng cũng có phần khác Chúa. Giống Chúa ở chỗ tôi có cố gắng yêu thương giúp đỡ những người tội lỗi, bệnh tật, nghèo nàn mà tôi gặp ở bên ngoài cộng đoàn mà tôi đang sống. Nhưng khác Chúa ở chỗ là tôi loại trừ một số anh em đang cùng tôi chung sống trong cộng đoàn. Xin Chúa giúp con sống yêu thương đối với hết mọi người, và xin Chúa nhắc con nhớ “Bác ái phải bắt đầu từ những người gần mình nhất.”
          Viên đại đội trưởng này tuy là người ngoại nhưng đã dạy tôi một cách cầu nguyện rất đẹp:
          Ông không xin gì cho mình cả mà xin cho người khác. Mà người khác đó chỉ là một tên đầy tớ của ông.
          Thường những lời cầu nguyện của tôi chỉ luẩn quẩn quanh những cái tôi của bản thân mình và một ít của người thân mình.
          Thực ra ông cũng chẳng xin gì nữa. Ông chỉ kể cho Chúa nghe hoàn cảnh của ông, rồi để tùy Chúa định liệu. Ông lại còn nói mình không xứng đáng. Ngược lại, nhiều khi tôi xin Chúa mà như ra giá cho Ngài.
          Ngoài đức tin và lòng khiêm tốn, vị sĩ quan này còn có lòng thương người, bằng chứng là ông không xin gì cho ông mà lại xin cho người đầy tớ của ông được khỏi bệnh. Tin mừng còn cho thấy một bên là hình ảnh của con người đau khổ bệnh tật, một bên là tình yêu cứu chữa của Chúa Giêsu. Sợi dây nối kết con người khốn khổ với Chúa Giêsu chính là lòng tin của con người. Chúa Giêsu đã làm phép lạ chữa lành người đầy tớ của viên đại đội trưởng là do lòng tin của ông. Lòng tin của người này cần thiết để cho người khác được cứu chữa.
          Ngày nay, Chúa Giêsu cũng cần lòng tin của chúng ta, để cứu chữa những người đau khổ chung quanh chúng ta. Lòng tin ấy được thể hiện bằng những cử chỉ cụ thể, những sự hiện diện để giúp đỡ ủi an. Lòng tin ấy cũng chính là một thể hiện của tình yêu Thiên Chúa đối với con người. Tin ở tình yêu Thiên Chúa ngay giữa những lúc ốm đau thử thách là thái độ cơ bản nhất của người Kitô hữu. Thiên Chúa yêu thương con người, tình yêu ấy vượt mọi suy nghĩ, mọi giới hạn của ngôn ngữ loài người, đó phải là sứ điệp mà người Kitô hữu mang lại cho người khác. by Huệ Minh

 

 

Chúa nhật XII TN-2020
Mt 10, 26-33
ĐỪNG SỢ !

            Trong cuộc sống thường nhật, thật buồn cười vì có những người quá nhát sợ. Gặp con dán hay con chuột cũng co rúm người, mặt cắt không còn giọt máu. Có những người, trái lại, chẳng biết sợ là gì. Coi mạng sống nhẹ như tơ. Lên xe là phóng như bay. Liều lĩnh thường thiệt mạng. Nhút nhát quá đâm hỏng việc. Một đàng bất cập, một đàng thái quá. Vì thế vấn đề không phải là sợ hay không sợ. Vấn đề là phải biết phân định. Biết những gì nên sợ và những gì không nên sợ. Hôm nay Chúa Giêsu giúp ta phân định để biết sợ và không biết sợ.

            Trên đường đức tin, phải biết sẵn sàng đón nhận sự chống đối, phân rẽ, công kích, tố cáo. Phải biết thẳng tay loại bỏ những mộng ước dễ dãi về một công cuộc Phúc âm hóa đầy may mắn và tốt đẹp. Đừng sợ, nghĩa là phải chống đối, đấu tranh, kiếm tìm. Có trăm ngàn lý do để sợ: tiến bộ hay thủ cựu, khuynh hữu hay khuynh tá, bạo lực hay yếu hèn … Tất cả đều hợp lực làm lu mờ chân lý. Giữa bao cảnh bạo tàn và gian manh láo khoét ấy, vang dội lời này: “Các con đừng sợ chúng”.

            Chúa Giêsu luôn nhắc nhở cho cúng ta cái tư tưởng là “Đừng sợ”. Chúng ta có thể tìm thấy từ ngữ “đừng sợ” 365 lần trong Thánh Kinh. Người Tông đồ chỉ có thể tìm được sự can đảm nếu biết tin cậy phó thác cho Chúa. Chính Ngài sẽ ban ơn đầy đủ để chúng ta có thể hòan thành sứ mạng đã được giao phó.

            Chúa quan phòng cai trị mọi vật. Chúa dựng nên những cái vĩ đại cũng như những cái bé nhỏ. Chúa săn sóc người này cũng như người kia: “Nào người mẹ có thể quên con mình không? Và cho dù người mẹ có quên con mình đi nữa, Chúa cũng không quên chúng ta”, “Hai con chim sẻ chỉ bán được một hào phải không? Thế mà không một con nào rơi xuống đất ngoài ý của Cha anh em”, “Hãy xem chim trời, Cha anh em vẫn nuôi chúng. Anh em lại không hơn chúng sao?”, “Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng, Chúa còn cho chúng đẹp đến thế, phương chi anh em, Chúa còn săn sóc hơn nhiều”.

            Thánh  Augustinô nói: “Lo lắng cho cả vũ trụ còn vĩ đại hơn làm cho năm ngàn người no nê bằng năm chiếc bánh, vậy mà chẳng ai lạ lùng về chuyện đó. Chúa săn sóc mỗi người dường như chỉ có một người đó ở trên đời và Chúa săn sóc tất cả mọi người dường như Chúa săn sóc cho một người”.

            Trong chỗ thân tình, Chúa Giêsu giáo huấn chỉ một nhóm nhỏ môn đệ, còn với đám đông Ngài chỉ dạy bằng dụ ngôn, tuy nhiên khi thời gian đến “không có gì che dấu mà sẽ không được tỏ lộ, không có gì bí mật, mà người ta sẽ không biết”. Thánh Luca cũng trích dẫn hai lần câu nói nầy: lần thứ nhất theo cùng một ‎ý nghĩa như thánh Mát-thêu, không ai lấy hũ che ngọn đèn thắp sáng hoặc đặt nó ở dưới gầm giường (Lc 8,  17); còn lần thứ hai, câu nói nầy theo văn mạch có ý nghĩa rất khác: Chúa Giêsu tố cáo thói giả nhân giả nghĩa của người Biệt Phái (Lc 12, 2-3).

            Bằng cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Ngài, Chúa Giêsu sẽ đưa Mặc Khải đến hồi viên mãn. Lúc đó, các môn đệ của Ngài, các thừa tác viên của Lời Ngài, những người phục vụ Lời Ngài, sẽ phải thông truyền Lời Ngài cách công khai cho hết mọi người, công bố lớn tiếng Lời Ngài “trên mái nhà”. Mái nhà, theo kiểu xây nhà của người xứ Palestin, là một sân thượng, ở đó vào lúc chiều hôm mát mẽ người ta trò chuyện với nhau từ sân thượng nầy sang sân thượng khác. Chúa Giêsu đối lập Mặc Khải chưa hoàn tất với Mặc Khải nên trọn, cũng như sự nhát đảm hiện nay của nhóm Mười Hai với lời rao giảng đầy quyền năng của họ sau biến cố Ngũ Tuần.

            Sau khi đã loan báo cho các môn đệ biết sự bắt bớ đang chờ họ và họ thấy rõ nguyên nhân của sự bắt bớ – căn tính sâu xa giữa Người và các môn đệ – Chúa Giêsu hướng dẫn họ thái độ phải có khi gặp thử thách. Một tư tưởng hướng dẫn chạy xuyên suốt các lời Thầy, một điệp khúc tạo nên dấu chấm câu: “Các con đừng sợ!… Đừng sợ! Đừng sợ gì cả…”

            Vậy anh em đừng sợ (26): Từ ngữ “vậy” nối cc. 26-27 với phần đi trước, nhưng không phải là để đưa tới một kết luận, mà là một lời khích lệ. Ý nghĩa không phải là” đừng sợ họ, bởi vì họ không thể làm gì anh em; nhưng là: đừng sợ họ, bởi vì anh em không được mong mình có một số phận bớt đau thương hơn Thầy (cc. 24-25). Như thế, dù vẫn sợ những người bách hại, anh em phải đảm nhận lấy nỗi sợ hãi ấy mà cứ tuyên xưng niềm tin. Anh em sợ hãi người ta là chuyện dễ hiểu (cc. 17-25), nhưng đừng vì thế mà thôi làm chứng.

            Đừng sợ, dám nói, vì lời họ nói không phải là lời của riêng họ nhưng là lời Chúa Giêsu, lời có hiệu quả của lời Thiên Chúa. Do đó, môn đệ đừng mất can đảm nếu thành công trong hiện tại còn mỏng manh, thậm chí còn chưa thấy; như mặt trời mọc lên chiến thắng đêm đen, sứ điệp rồi cũng sẽ xuyên thủng tăm tối. Đừng sợ khi bị bắt bớ, vì nếu những kẻ bắt bớ chỉ có quyền trên sự sống dương trần (thân xác) chỉ mình Thiên Chúa nắm giữ đời sống vĩnh cửu và phán quyết của Người có thể huỷ diệt trần thế con người (cả xác lẫn hồn).

            Đừng sợ, vì Thiên Chúa, Đấng xét xử ta cũng là “Người Cha” chăm sóc mọi người, dù bé nhỏ đến đâu, và yêu thương từng người con bằng sự âu yếm của người mẹ: “Các con đáng giá hơn những con chim sẻ nhiều”. Đối với những ai gắn bó sự nghiệp của họ với sự nghiệp của Người đến liều cả mạng sống, Chúa Giêsu cũng hứa sẽ gắn bó với họ trong ngày phán xét. Người sẽ là luật sư biện hộ cho họ “Ai tuyên xưng Ta trước mặt người đời, Ta sẽ tuyên xưng họ trước mặt Cha Ta trên trời”.

            Hẳn ta còn nhớ Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu, dù sợ vẫn cứ bước vào cuộc khổ nạn, Người môn đệ vẫn can đảm tuyên xưng danh Chúa, vẫn kiên trì rao giảng Lời Chúa, chấp nhận tất cả những khó khăn hiểm nguy đe doạ, rình rập, chấp nhận những đau đớn thua thiệt chóng qua đời này, với niềm tin vững chắc rằng chính Thiên Chúa là Cha nhân lành an bài mọi sự, Người sẽ ban thưởng cho ta phần thưởng không gì so sánh được, đó là hạnh phúc vĩnh cửu đời sau.

            Ta là môn đệ của Ngài. Vì thế việc chúng ta gặp khó khăn và bách hại không có gì lạ, vì Thầy của chúng ta cũng đã từng bị như thế và còn bị năng hơn chúng ta nhiều. Vì vậy, nếu là môn đệ Đức Giêsu thì đừng tìm cách trốn tránh khó khăn và bách hại.

            Hãy noi gương Chúa Giêsu mà can đảm giữ vững lập trường của mình và tiếp tục sứ mạng của mình, không phải bận tâm về bất cứ điều gì khác : không cần bận tâm đến mạng sống bởi vì ngay cả mạng sống một con chim sẻ nhỏ bé mà còn do Chúa định đoạt, huống chi mạng sống con người ; không cần bận tâm đến sự chống đối của người đời, vì “Ai tuyền xưng Thầy trước mặt người đời thì Thầy sẽ tuyên xưng người ấy trước mặt Cha Thầy”.

Huệ Minh

 

Thứ Hai tuần 12 tn
Mt 7, 1-5

ĐỪNG ĐOÁN XÉT

            Để sống công chính theo Tin Mừng, Chúa Giêsu cảnh giác các môn đệ đừng xét đoán ai. Xét đoán người khác, ta sẽ bị người khác xét đoán lại, đó là lẽ tự nhiên, nhưng ở đây cái hại lớn hơn là ta sẽ bị Thiên Chúa xét đoán. Xét đoán người khác thường gây ra sự bất công. Người ta dễ tin và dễ thấy khuyết điểm của người khác hơn khuyết điểm của mình. Vì lẽ đó, xét đoán người khác một cách sai trái là phạm vào luật bác ái và công bằng. Mỗi người cần tự xét mình, “hãy gỡ cái xà ra khỏi mắt mình, rồi mới lấy cái rác ra khỏi mắt người khác”.

            Đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán. Chữ xét đoán ở đây hiểu nghĩa là chỉ trích phê bình đạp đổ, là lên án bất công nhục nhã nghiêm khắc. Những người lên án như thế là nhóm người biệt phái và luật sĩ thời Chúa Giêsu, thường là ra vẻ đạo đức, hay lên án người khác và cho rằng chỉ có mình mới tốt còn mọi anh em khác là tội nhân đáng bị khai trừ. Đó là thái độ lên án và đáng bị lên án trước.

            Chúa nói: “Đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán” (c.1) nghĩa là đừng xét đoán vu khống, đừng chụp mũ trong sự bất công, phá đổ anh em mình. Như vậy, Chúa cho xét đoán phê bình để sửa chữa, để thăng tiến, để xây dựng, chứ không phải để đạp đổ. Phê bình với tình yêu để cảm hóa, chứ không xỉ nhục, rồi nhìn họ với cặp mắt khinh thường. Cần và rất cần cho người khác biết rằng họ đang ở trong tình trạng sai lạc với con đường của Chúa. Cần phải thức tỉnh và sửa sai. Chúa dựng nên mỗi người một vẻ khác nhau là để bù đắp xây dựng cho nhau. Phần sửa sai cho nhau để thăng tiến, đó là phần của mọi người. Còn việc lên án là phần của Chúa.

            Chúa nói “Đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán” (c.1). Câu này không có nghĩa là nếu chúng ta không xét đoán ai, thì ngày sau Chúa sẽ tha thứ cho chúng ta dù chúng ta bê bối cách mấy. Ăn miếng trả miếng là thói thường. Chúng ta cư xử với người làm sao thì người ta đối xử với chúng ta như vậy. Tuy nhiên cách chúng ta đối xử với anh em, cũng được Thiên Chúa thẩm xét vì lý do anh em là con cái Thiên Chúa và Chúa đã từng nói “Ai làm cho một trong anh em hèn mọn, là làm cho chính Ngài” (Mt 25,31tt).

            “Chúng ta là những tội nhân” (Đức Thánh Cha Phanxicô), ý thức như thế không những giúp ta tránh thái độ thỏa hiệp với tội lỗi, mà còn ngăn ta khỏi cơn cám dỗ phê phán người khác: tôi có là gì, có đáng gì mà dám lên án người anh em của tôi? Thực tế cho ta kinh nghiệm về những người thực sự đạo đức: họ cẩn trọng khi nói về một người khác. Điều này không đồng nghĩa với việc họ ngây ngô không biết đúng sai, phải trái, nhưng ngược lại, cho thấy sự thận trọng trong suy nghĩ theo gương Đức Giêsu Kitô.

            Là con người, chúng ta không tránh khỏi lỗi lầm, nhưng hãy dùng tình người mà nâng đỡ nhau và tin tưởng vào tình thương, ơn biển đổi nơi Thiên Chúa. Hãy dành thời gian bên Giêsu để nhìn lại nội tâm con người mình hầu nhận ra và gỡ bỏ “cây đà” đang án ngữ trong mắt ta, đang che khuất ánh nhìn yêu thương mà Thiên Chúa đặt nơi ta. Hãy khiêm nhường và trao dâng cho Thiên Chúa quyền xét xử người khác.

            Trang Tin Mừng hôm nay nhắc nhớ cho ta về một cố tật của con người: tính thích phê phán, quy tội và lên án người khác.Theo khoa tâm lý học, điều xấu mà ta dễ nhận ra và lên án nơi người khác chính là điều xấu căn cốt mà ta mang trong mình. Chúa Giêsu không dạy ta phải bịt mắt mình lại trước cái xấu, nhưng việc ta cần làm trước tiên là liệu xem “tầm nhìn” của mình có “thông thoáng” không trước khi nhận định một điều gì về người khác.

            Chúa Giêsu đã không nói: “Trong mắt bạn ngươi không hề có cái rác như ngươi nói!”. Nhưng Người nói: “Hãy lấy cái đà trong mắt ngươi ra trước đã!”. “Người bạn kia của con có tội của họ, phải, điều đó không sai, nhưng con hãy xem lại mình đi, tội của con còn ngàn lần lớn hơn, nặng hơn tội của họ”.

            Ta thấy Chúa Giêsu nói ra lời nào cũng được xem như là một bài học, một huấn dụ có giá trị, vì những điều Ngài nói thường nhắm vào nội tâm con người. Nhờ bản tính Thiên Chúa, nên Ngài có thể nhìn thấu lòng dạ con người. Lý do Chúa Giêsu dạy không nên xét đoán một mặt Ngài muốn giúp các môn đệ không nên xoi mói, bắt bẻ hành động của người khác nhưng biết dành thời gian đi vào thâm sâu cõi lòng mình. Hãy lấy cái xà trong mắt mình trước khi giúp người khác lấy cái rác trong mắt họ.

            Hơn nữa, khi một ai đó cho mình có quyền dạy người khác, xét đoán lương tâm người khác là đã tự cho rằng mình đạo đức hơn. Đó là thái độ tự mãn, tự kiêu, trước mặt Thiên Chúa là một tính xấu không nên có. Chúa Giêsu không cấm nhận xét phải trái về hành vi của người khác, nhưng nếu chỉ dựa vào những gì bề ngoài mắt phàm thấy được mà qui kết tội người khác là ta vi phạm thẩm quyền Thiên Chúa. Chỉ Thiên Chúa mới có đủ khả năng và thẩm quyền để xét đoán một người là có tội hay không.

            Con người không thể tự cho mình quyền xét đoán, phê phán người khác, mà chỉ có một mình Thiên Chúa, Ðấng thấu suốt mọi sự. Ngài hiểu con người hơn chính họ và mời gọi con người hãy nhìn vào bản thân mình: hãy nhìn vào mắt mình để lấy cái xà đã đóng chặt vào đó, cái xà được kết tinh bằng bao lỗi lầm, thành kiến, ác ý. Lấy được cái xà, mắt sẽ trong sáng, con người sẽ nhìn rõ sự vật.

            Cái nhìn của đôi mắt không có cái xà sẽ không còn là cái nhìn của phê phán, chỉ trích, nhưng là cái nhìn của Chúa Giêsu, một cái nhìn đầy yêu thương, tha thứ, mang lại cho kẻ được nhìn niềm tin yêu, hy vọng. Lêvi, người thu thuế, sẵn sàng bỏ mọi sự để theo Thầy; Zakêu, người thu thuế trưởng, đã thành tâm hoán cải; Mađalêna dứt khoát từ bỏ con đường tội lỗi. Tất cả đã chuyển hướng cuộc đời bởi cái nhìn từ ái bao dung của Chúa Giêsu.

            Bình thường, ta thấy ta gieo nhân nào thì gặt quả đó, chúng ta mong nhận được kết quả tốt thì trước tiên phải hành động tốt vì : “Anh em xét đoán thế nào, thì anh em sẽ bị Thiên Chúa xét đoán như vậy” (Mt 4, 2). Ngài biết mỗi khi ta phạm sai lầm thì vị luật sư sẽ lên tiếng bao biện hòng che đậy, không muốn để ai biết về lỗi lầm đó, nếu chẳng may bị lộ thì rất mong nhận được sự thông cảm của người khác. Ngược lại, thay vì thông cảm, bỏ qua, chúng ta lại hay để ý đến những sai sót của người khác và thậm chí muốn nói cho nhiều người về lỗi lầm của họ càng nhanh càng tốt.

            Trước lời dạy của Chúa Giêsu :“Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không để ý tới?” (Mt 7, 3). Điều này cho thấy, ta rất nhạy bén trước lỗi nhỏ nơi người khác nhưng cái lỗi to trong ta lại không thấy. Thái độ cần có khi đứng trước sai sót của tha nhân là thông cảm và nâng đỡ để họ biết đứng lên và tiếp tục tiến bước. Nhưng còn khôn ngoan hơn nữa, nếu từ vấp ngã của người khác ta biết nhìn lại mình để nhận ra khuyết điểm mà sửa chữa. Nhờ đó ta sẽ được hoàn thiện hơn mỗi ngày. Còn nếu chẳng may vì phận sự mà phải xét xử, hãy rộng lượng và đối xét theo hướng dẫn của Đức Khôn ngoan. Hãy nhớ lời cảnh cáo : “Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em”

            Chúa Giêsu quả quyết: “Anh em xét đoán thế nào, thì anh em cũng sẽ bị Thiên Chúa xét đoán như vậy.” Ta hãy ghi khắc lời dạy này của Chúa, xác tín Chúa sẽ dùng chính cái đấu ta đong với người khác mà áp dụng cho mình. Từ hôm nay, ta hãy dần dần từ bỏ thói xấu này, thay đổi cái nhìn về người khác, để không bị Chúa xét đoán, cũng như để sống công bằng hơn với anh chị em chung quanh ta.

 

Thứ Ba tuần 12 tn

Mt 7, 6.12-14

ĐƯỜNG VÀO NƯỚC TRỜI

            Cuộc đời là một chuyến đi dài, trên hành trình ấy mỗi người là một lữ khách. Người lữ hành khi bước vào chuyến đi thì đã chọn cho mình một hướng nhất định để đến đích họ muốn. Người lữ hành mang danh Kitô hữu lên đường cho chuyến đi dài và xa ấy từ ngày lãnh Bí tích Rửa tội. Trên hành trình đi có những trạm tiếp sức nhờ các ơn thánh qua các Bí tích chúng ta được lãnh nhận. Như vậy, con đường ta đi là con đường mang tên Giêsu.

            Trên con đường đó, “Lời Ngài sẽ là đèn soi cho ta bước, là ánh sáng chỉ đường ta đi” (Tv 119, 110). Nhưng đường Giêsu không thênh thang, không phân thành nhiều len, không có cỏ hoa trang trí. Đường thì chật, cửa vào thì hẹp, đòi hỏi phải bỏ mình và vác lấy thập giá, do đó mà ít người theo đường này. Còn “cửa rộng và lối thênh thang thì dễ đưa ta đến hố diệt vong” (Mt 7, 13), nhưng trớ trêu thay lại có nhiều người thích đi. Được vào Nước Trời hay bị rơi vào hố diệt vong bắt đầu từ chọn lựa hôm nay của chúng ta, và đã lên đường thì sự chọn lựa không còn nằm trong trí tưởng nhưng là qua cách sống, lối sống mà Tin Mừng đòi hỏi.

            Cửa hẹp là hình ảnh dùng để diễn tả những khó khăn trước mắt phải cô gắng vượt qua; rồi sau đó mới đạt được kết quả tốt đẹp.

            Chúa Giêsu dùng hình ảnh “cửa hẹp” và “đường chật” (Mt 7, 13-14) trong Tin Mừng hôm nay để dạy các tông đồ cần phải biết từ bỏ những ham muốn, những quyến rũ thoải mái, bất chính của bản thân mình. Thay vào đó là hãy lựa chọn những hy sinh, hãm mình, kiêng khem tiện nghi vật chất, biết từ bỏ ý riêng của bản thân, sẵn sàng vâng theo thánh ý Chúa, chấp nhận chương trình cứu độ bằng khổ nạn thập giá để rồi nhờ cuộc phục sinh của Đức Ki-tô đưa các ông đến sự sống đời đời.

            Quả vậy, không ai muốn đưa mình đến sự chết nhưng đều chọn về cõi sống. Ngặt một nỗi đường đến sự sống thì chật hẹp, gồ ghề, bị cản trở bởi ngăn sông cách núi, đòi hỏi từ bỏ nhiều và chỉ có tình yêu dẫn lối. Tình yêu Chúa để nhận ra “chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14, 6). Ngài sẽ là đường và là người dẫn đường, để khi vấp ngã, lúc mỏi mệt hay phải mang gánh nặng nề, ta được Ngài cho nghỉ ngơi bồi dưỡng (Mt 11, 28). Ngài sẽ kiên nhẫn nâng ta dậy, ấp ủ ta “như gà mẹ ấp ủ gà con dưới cánh” (Mt 23, 37).

            Tình yêu tha nhân cũng là động lực thúc đẩy ta tiến bước, đó không còn là rào cản bước chân ta. Yêu thương anh em là bước đi trong ánh sáng (1 Ga 2, 10). Một cuộc sống đầy yêu thương và quảng đại để xoa dịu nỗi đau của tha nhân, làm cho họ những gì họ muốn, đồng hành trong từng nhịp bước với họ và nhất là dìu nhau vào Nước Trời.

            Con người hôm nay sống giữa một xã hội vật chất tiện nghi, ai cũng thích dễ dãi, tự do, chẳng ai muốn vác lấy khó khăn, kỉ luật, hy sinh. Lắng nghe lời Chúa hôm nay chúng ta ý thức con đường đưa tới sự sống vĩnh cửu là chính Chúa Giêsu. Đường ấy là đường khổ giá đau thương. Bước trên con đường ấy thì “phải đương đầu với sức mạnh”, sức mạnh của danh vọng, lạc thú, tiền tài, hưởng thụ nhưng “ai mạnh sức thì chiếm được” (Mt 11, 11).

            Con người ngày nay thích an nhàn hưởng thụ hơn là cố gắng hướng thiện, sống thánh; thích thỏa mãn bản năng của thân xác càng nhiều càng tốt; muốn hưởng thụ tiện nghi vật chất tối đa. Chỉ biết tôn thờ thân xác, của cải vật chất và xem thường đời sống tâm linh của chính mình…

            Vô hình chung con người trở nên nô lệ cho thân xác, và vật chất; quên mất phẩm giá linh thánh của mình. Quên mất căn tính của mình là con của Đấng Tối Cao, được chung hưởng hạnh phúc, và có bổn phận phụng sự Người trong chân lý.

            Con người ta đã quên nhớ con đường bên trong, con đường nội tâm mới thực sự dẫn con người trở về với con người thật của mình. Để dù muốn hay không, cũng phải nhận chân thực tại tự thân: Nhìn lại con người thật của mình với những hệ lụy đúng sai mà nhận ra thiện ác…

            Và ta được mời gọi tin tưởng vào tình thương Thiên Chúa và đáp lại lời mời gọi của Ngài, chúng ta cùng tìm cho mình một con đường, một lối đi chật hẹp mang tên Giêsu; và nhanh chân bước theo cách xác tín “vì chúng ta biết chúng ta tin vào ai” (Tm 1,12). Đồng thời cùng mở lòng và đưa dẫn bao người chưa biết tin vào ai, hay còn hoài nghi chưa chịu bước theo đường Giêsu.

            Chúa Giêsu dạy rằng: "Tất cả những gì các con muốn người ta làm cho các con, thì chính các con hãy làm cho người ta như thế!" (Mt 7, 12) và Người mời gọi: "Các con hãy vào qua cửa hẹp, vì cửa rộng và đường thênh thang là lối đưa đến hư mất, và có nhiều kẻ đi lối ấy; cửa và đường đưa tới sự sống thì chật hẹp, và ít kẻ tìm thấy" (Mt 7, 13-14). Đó là lối sống mà Kitô hữu chúng ta cần phải chọn lựa để sống trong tương quan với Chúa và với tha nhân.

            Chúa Giêsu giáo huấn : con đường dễ dãi là con đường dẫn đến hư mất, đó là định luật chung của cuộc sống. "Hãy vào qua cửa hẹp, vì cửa rộng và đường rộng đưa đến diệt vong". Thái độ hững hờ không thể đi đôi với những đòi hỏi của Tin Mừng; cuộc sống dễ dãi, buông thả không có chỗ đứng trong nếp sống của những người theo Chúa. Ðã một thời cùng ăn, cùng uống, cùng nghe giảng dạy, chưa phải là giấy thông hành để vào Nước Trời: "Ai nghe những lời Ta dạy mà không đem ra thực hành, thì ví được như người ngu xây nhà trên cát". Nếu viện lý do mình là con dòng cháu giống, cũng chưa phải là lý do để được thâu nhận vào Nước Trời.

            Xin Chúa giúp chúng ta biết khôn ngoan chọn cho mình một con đường hẹp. Đó là con đường của thập giá, con đường sống vị tha, sống vì tha nhân bằng cả tấm lòng yêu mến chân thành, dù cho sẽ phải gặp nhiều gian truân và đau khổ; đồng thời, chúng ta hãy luôn xác tín rằng, đó là con đường dẫn chúng ta đến niềm vui, hạnh phúc và sự sống đời đời.

            Xin Chúa giúp chúng ta biết khôn ngoan chọn cho mình một con đường hẹp. Đó là con đường của thập giá, con đường sống vị tha, sống vì tha nhân bằng cả tấm lòng yêu mến chân thành.

 

Thứ Tư tuần 12 tn (24-6)

Sinh nhật Thánh Gioan

Lc 1, 57-60.80

ĐỂ CHÚA LỚN LÊN

             "Có một người được Thiên Chúa sai đến tên là Gioan.  Ông đến để làm chứng về ánh sáng và chuẩn bị lòng dân sẵn sàng đón Chúa"(Ga 1, 6-7 ; Lc 1, 17).

            Hôm nay, Hội Thánh mừng ngày sinh nhật của thánh Gioan Tẩy Giả, vị tiền hô  của Đấng cứu thế.

            Mỗi người sinh ra, đều được cha mẹ đặt cho một tên gọi. Trong Kinh Thánh, tên gọi các nhân vật lớn thường rất giàu ý nghĩa, tên gọi ấy có khi phản ánh tình trạng của tập thể gia đình, hoặc phản ánh tình trạng của chính cá nhân đương sự, hoặc nói lên số phận hay hoạt động của người mang tên.

            Thế nên, cùng với tên gọi là hàm ý một dự phóng cho tương lại, có khi chỉ một ước vọng, đôi khi gợi lên tình cảm lúc sinh ra hoặc tương lai mà cha mẹ thấy được, và thường khi là cả một sứ mạng, sứ mạng đó nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa muốn thực hiện giữa dân Người. Trường hợp của Gioan Tẩy Giả là một ví dụ, khi sinh ra được cha mẹ đặt tên theo lời Sứ thần đã loan báo. Danh xưng Gioan có nghĩa là Thiên Chúa biểu lộ tình thương.

            Cuộc đời của Thánh Gioan và Chúa Giêsu rất lạ thường: Sự thụ thai của hai con trẻ được báo trước bởi cùng một Thiên Thần Gabriel; Cả hai được sinh ra bởi hai người nữ đáng lẽ không thể có con: bà Elizabeth tuổi đã già trong khi Đức Mẹ khấn trọn đời đồng trinh, không biết đến người nam; Cả hai con trẻ được đặt tên và trao nhiệm vụ từ lúc còn trong lòng mẹ: Gioan/Đấng Tiền Hô và Giêsu/Đấng Cứu Thế (Lc 1, 5 & 1, 26); Cuối đời Thánh Gioan chịu chết vì đức tin và nhiệm vụ của Ông trước khi Chúa Giesu chịu chết vì tội nhân loại chúng ta trên Thánh Giá.

            Qua tưởng thuật của Kinh Thánh, chúng ta thấy ý định của Thiên Chúa về Gioan đã được biểu lộ hiển nhiên ngay từ giây phút ông được thụ thai, rồi trong việc ông sinh ra, việc đặt tên cho ông, việc mẹ ông và mẹ Chúa Cứu Thế gặp nhau vv..

            Trong các biến cố đó, ta thấy có sự can thiệp lạ lùng của Chúa vào trong cuộc đời của Gioan để định hướng cho nó. Điều đáng nói hơn là về phần ông, một khi đã khôn lớn và nhận ra sứ mạng mà Thiên Chúa giao phó, Gioan Tẩy Giả không còn biết gì khác hơn là sống trọn vẹn cho sứ mạng đó một cách lô-gic, kiên quyết, trọn vẹn, cho tới cùng.

            Gioan rút lui sớm vào hoang địa, sống khắc khổ xa lánh mọi mời mọc, níu kéo của trần gian là để được sống trọn vẹn hướng về Đấng Cứu thế mà ông phải làm kẻ "dọn đường". Ông rao giảng bằng những lời lẽ thật nghiêm khắc, mạnh mẽ để lôi kéo người ta sám hối đổi đời vì thời gian không còn nhiều, Nước Thiên Chúa sắp tới. Sau khi thiên hạ đã rời ông để quay sang Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế, ông âm thầm rút lui vào bóng tối vì đã hoàn thành nhiệm vụ "Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi", ông tuyên bố như thế (Ga 3, 30). Rồi cả cái chết của ông cũng là một phần không thể tách lìa của sứ mạng của một kẻ "dọn đường" và "làm chứng cho ánh sáng và sự thật".

            Dọn đường để chào đón một nhân vật quan trọng là một hình ảnh quen thuộc. Đường sá thì ghồ ghề khó đi, dân làng được huy động để san bằng những chỗ lồi lõm. Thế nhưng Chúa Giêsu không phải chỉ đi trên những con đường xứ Palestine, mà Ngài còn muốn đến với cõi lòng của mỗi người. Và như thế, công việc dọn đường của Gioan có nghĩa là rao giảng sự hoán cải trong dân để được tha thứ: lưỡi rìu đã kề sẵn gốc cây, cây nào không sinh hoa kết trái thì sẽ bị chặt đi và quăng vào lửa.

            Tin mừng đã mô tả Gioan như một vị tiên tri. Ông được xức dầu một cách thiêng liêng ngay từ trong lòng mẹ để hiến dâng cho Thiên Chúa. Ông được đầy tràn Thánh Thần và có được những đặc điểm của một vị tiên tri. Và như các vị tiên tri khác, ông có nhiệm vụ rao giảng sự sám hối ăn năn. 

            Thánh Gioan đã tóm tắt tất cả cuộc sống của Ngài trong câu nói: "Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại". Dưới cái nhìn của con người, như Chúa Giêsu cũng đã có lần khen tặng, Gioan là con người cao cả nhất được sinh ra từ người nữ. Ngày sinh của Ngài được đánh dấu bằng những biến cố khác thường. Sự chào đời của Ngài đã mang lại niềm vui và hy vọng cho mọi người xung quanh. Vị tiên tri được xem là là cao cả nhất trong lịch sử Isreal ấy đã lôi kéo được một đám đông mà chưa từng có vị tiên tri nào đã quy tụ được... Thế nhưng, cuối cùng, để hoàn tất sứ mệnh của mình, con người ấy đã nhỏ lại và mất hẳn trong kiếp tù đày và một cái chết bỉ ổi.

            Gương can đảm nói lên sự thật cho dù sự thật kéo theo sinh mạng của Ngài, thánh Gioan đã thật hiên ngang loan báo cái chết của Đức Kitô để cứu độ nhân loại. Nhân loại trong đó có mỗi người chúng ta liệu có nhạy cảm và quảng đại, can đảm làm chứng cho Chúa Kitô hay không ? Thánh Gioan đã viết: "Sự thật sẽ giải phóng con người". Mỗi người chúng ta có để cho Chúa lớn lên trong ta  hay chúng ta để cho bóng tối, tội lỗi, ích kỷ xâm lấn đời sống chúng ta ? Thập giá có là nguồn sống để chúng ta vươn tiến hay chúng ta tránh né và sợ thập giá ?  Đẩy lùi những cản trở của hận thù, của ích kỷ, của hờn căm, Chúa mới thực sự lớn lên trong ta.

            Hôm nay mừng kính sinh nhật thánh Gioan, Chúa cũng muốn ta trở nên tiền hô cho Chúa: rao giảng Chúa Giêsu cho người khác, đem Chúa Giêsu cho người khác, và đem người khác đến với Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là mục đích đời ta, Chúa Giêsu cũng là mục đích của người khác. Còn tôi chỉ là người môi giới, là phương tiện Chúa dùng, để đem người khác đến với Chúa chứ không phải đem người ta đến với tôi mà quên Chúa, cũng không phải đem người ta đến với tôi mà xa Chúa.

            Mừng sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả, chúng ta hãy nhớ lại ngày sinh nhật của chúng ta. Đó là giây phút lịch sử đáng ghi nhớ nhất đời. Ngày ấy, cha mẹ, ông bà, cô bác đều mừng vui vì ta được sinh ra đời. Ai cũng muốn nhìn ta, ai cũng mỉm cười với ta, ai cũng muốn bồng ẵm ta... và ai cũng đặt nơi ta một niềm hy vọng: "Trẻ này rồi sẽ nên như thế nào?" Cha mẹ và bà con hy vọng ta sẽ có tương lai xán lạn, hy vọng ta sẽ đem lại danh giá cho gia đình và họ hàng.

 

Thứ Năm tuần 12 tn

Mt 7, 21-29

TUÂN GIỮ LỜI

            Chúa Giêsu dạy cho chúng ta biết điều kiện cần phải có để được vào Nước Trời, đó là: lắng nghe và thực hành lời Chúa.  Việc tuân giữ Lời Chúa là thể hiện lòng yêu mến đích thực. Chúng ta không thể nói yêu mến Chúa mà lại không tuân giữ Lời Người, vì như thế là nói dối. Thật vậy, giữa tin có Chúa và yêu mến Chúa phải là một khi tuân hành ý Chúa.

            Chúa Giêsu không nói thi hành "Lề Luật", nhưng là thi hành "ý muốn của Cha Thầy", và cũng là Cha của chúng ta. Thế mà, ý muốn của Thiên Chúa được thể hiện nơi Lề Luật, và ngang qua Lề Luật, ý muốn của Chúa Cha liên quan đến nguồn gốc, nền tảng và cùng đích của Lề Luật, vì ý muốn của Chúa Cha còn liên quan đến con tim và lòng mến của chúng ta ; và ý muốn của Chúa Cha còn liên quan đến lựa chọn ơn gọi của chúng ta, đến mọi hành vi, lời nói và tâm tình của chúng ta, ở mọi nơi mọi lúc. Và gương mẫu tuyệt vời nhất của chúng ta là chính Chúa Giêsu, bởi vì Ngài đã sống với Chúa Chúa bằng tình yêu con thảo cách trọn vẹn và cho đến cùng.

            Ai là người khôn và ai là kẻ dại? Đây là câu trả lời của Chúa Giêsu: Người khôn là người chỉ nhắm hướng cuộc đời của mình đến hạnh phúc Nước Trời. Để đạt được mục tiêu đó, người ấy chuyên cần thực thi ý muốn của Chúa Cha là Đấng ngự trên trời.

            Ngược lại kẻ dại là người chỉ giữ đạo ngoài môi miệng, có thể mang những chức vụ cao trong Hội Thánh như nhân danh Chúa mà nói tiên tri, trừ quỷ và làm phép lạ, nhưng lại không thi hành ý muốn của Chúa Cha. Những người như thế sẽ bị tống đi cho khuất mắt Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã minh họa hình ảnh người khôn kẻ dại bằng việc xây nhà trên nền đá hay trên nền cát, rất cụ thể, rất dễ hiểu. Sẽ còn lại gì sau mưa sa nước cuốn hay bão táp ập đến?

            Như vậy, nếu chúng ta muốn được hưởng trọn vẹn hạnh phúc Nước Trời thì không chỉ có việc nghe và nói những lời hay ý đẹp, mà điều quan trọng là phải thực hiện những lời hay ý đẹp ấy trong đời sống.

            Nói cách khác, chúng ta dừng lại ở việc chỉ nghe lời Chúa là chưa đủ, mà điều quan trọng là phải thực hành lời Chúa. Bởi người nào thực hành lời Chúa thì được xem là người khôn ngoan, vì đã xây dựng ngôi nhà đời mình trên nền tảng vững chắc là nền đá, dù cho bão táp mưa sa cũng không sụp đổ. Ngược lại, người nào chỉ nghe và nói lời Chúa mà thôi, thì được xem như là người khờ dại, vì đã xây dựng ngôi nhà đời mình trên nền cát, nên khi bão táp mưa sa thì ngôi nhà ấy sẽ sụp đổ hoàn toàn.

            Thật ra, thi hành ý muốn của Chúa Cha là tất cả những gì bao trùm toàn bộ cuộc sống của chúng ra và luôn là những lựa chọn khó khăn. Hãy xem cuộc đời của Chúa Giêsu, hãy hình dung những lời cầu nguyện và giờ phút Chúa hấp hối trong vườn Cây Dầu để biết thi hành ý muốn của Chúa Cha là như thế nào, và chúng ta biết phải nỗ lực biết chừng nào.

            Nếu đức tin chỉ có nơi đầu môi chót lưỡi thì chưa đủ hoặc nếu người ta có nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỉ, nhân danh Chúa mà làm phép lạ mà không chăm lo thực thi ý Chúa với lòng mến yêu chân thành thì cũng vẫn bị vào số những người bị Thiên Chúa từ chối: “Ta không biết các ngươi là ai, xéo đi cho khuất mắt ta, hỡi bọn làm điều gian ác” (Mt 7, 23).

            Chỉ những ai đón nhận Lời Chúa, hiểu được ý Chúa và chuyển hóa thành hành động cụ thể mới xứng đáng vào Nước Trời. Họ được ví như người khôn ngoan, xây nhà trên đá dù mưa sa nước cuốn hay bão táp ập vào thì nhà ấy cũng không bao giờ sụp đổ.

            Chúa Giêsu mời gọi chúng ta thi hành «ý muốn của Chúa Cha». Nhưng ai trong chúng ta cũng gặp khó khăn trong nỗ lực tìm kiếm ý Chúa. Lề Luật, thì chúng ta có thể đọc được trong sách hay trong kinh, nhưng ý muốn của Chúa Cha thì không thấy ghi ở đâu hết, nhất là khi chúng ta muốn biết ý Chúa trong những hoàn cảnh éo le riêng của mình, trong trường hợp riêng của mình, trong những vấn đề riêng tư và tế nhị của mình, trong những khó khăn phức tạp của mình.

            Chúa Giêsu đã không rao giảng bằng lời nói suông nhưng bằng hành động cụ thể. Ngài đã trở thành con người bằng xương bằng thịt. Ngài đã không chỉ ngắm nhìn lịch sử nhân loại như khách bàng quan, nhưng Ngài đã nhập cuộc làm một với nhân loại, đã chung chia vui buồn sướng khổ của phận người. Ngài không rao giảng thập giá như một lý thuyết, nhưng đã thực sự đón nhận thập giá, vác lấy và bước đi.

            Sau cùng, Ngài chấp nhận chịu chết trên thập giá để chia sẻ trọn vẹn sự đau khổ của con người. Ngài đã Phục Sinh để thánh hóa và biến đổi đau khổ thành niềm vui, cái chết thành sự sống đời đời viên mãn. Do đó, không thể có niềm tin Kitô giáo đích thực nếu không có dấn thân. Không thể rao giảng Tin Mừng bằng lời nói suông, không thể là Kitô hữu chân chính nếu không cố gắng nên hoàn thiện mỗi ngày như Cha trên Trời và đi vào con đường Chúa Giêsu đã đi, con đường yêu thương phục vụ vô vị lợi.

            Đi tìm ý Chúa cho chính mình, cho ơn gọi của mình hay trong một hoàn cảnh đặc biệt, luôn luôn là một hành trình khó khăn. Và dường như Chúa thích để như thế, Chúa thích chúng ta đoán ra ý Chúa, thay vì để cho Chúa phải nói thẳng ra. Giống như đối với cha mẹ : khi chúng ta còn bé, cha mẹ ra lệnh cho chúng ta ; nhưng khi chúng ta lớn rồi, cha mẹ sẽ rất vui, nếu chúng ta tự mình làm vui lòng cha mẹ, tự mình khám phá ra ý thích của cha mẹ.

            Nếu chúng ta không nghe và sống Lời Chúa, sự sống của chúng ta sẽ trở nên chết chóc và sụp đổ tan tành, chết chóc và sụp đổ tan tành ngay ở đời này, không chỉ ở mức độ cá nhân, nhưng ở mức độ « căn nhà », nghĩa là cả « gia đình ». Như Chúa Giêsu nói : "Người ngu dại xây nhà trên cát. Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành" (c. 27).

            Xin cho chúng ta nhận ra sự ngu dại của chúng ta, bởi vì chúng ta thường hay xây dựng cuộc sống của chúng ta, cá nhân cũng như nhóm, cộng đoàn và gia đình, trên cát. Trên cát, có nghĩa là không phải trên Lời Chúa là đá tảng, nhưng trên những gì là chóng qua, là phù vân.

            Ta cũng xin Chúa giúp chúng ta biết quý trọng lời Chúa dạy và tích cực đem lời Chúa ra thực hành trong đời mình. Nhờ đó, chúng ta mới có thể hy vọng đón nhận được tình thương của Chúa và được hưởng hạnh phúc Nước Trời.

 

Thứ Bảy tuần 12 tn

Mt 8, 5-17

LÒNG TIN CỦA ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG - LÒNG TIN CỦA TA

            Trang Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe Mt 8, 5-17, ta thấy niềm tin tưởng và tín thác gần như tuyệt đối của viên đại đội trưởng vào Chúa Giêsu khi ông đáp: “Thưa Ngài, tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói một lời là đầy tớ tôi được khỏi bệnh” (Mt 8, 8).

            Lời tuyên xưng của viên bách quản là kết quả hiểu biết đúng đắn về bản thân và quyền năng của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu. Ðể có sự hiểu biết đúng đắn cần phải có thái độ khiêm nhường và thành thật. Vì con người là một tinh thần kết hợp với thể xác: thể xác bị ràng buộc bởi các điều kiện không gian và thời gian, còn tinh thần chẳng bị một ràng buộc nào; thể xác đang nằm sát đất, nhưng tinh thần có thể vươn tới trời cao; thể xác đang ở hiện tại, nhưng tinh thần có thể lùi lại quá khứ hoặc hướng tới tương lai rất xa.

            Viên đội trưởng cầm đầu một toán quân lính, chắc hẳn là người ngoại đạo. Thế mà trong cuộc gặp gỡ và đối thoại ngắn ngủi với Chúa Giêsu, chúng ta thấy toát lên nơi ông một tấm lòng kính trọng với Chúa, một đức tin mạnh mẽ, một lòng tín thác nồng nàn và đầy vẻ chân thành. Việc ông nói ông đủ thẩm quyền để sai khiến các người thuộc cấp, và ông tin Chúa cũng đủ quyền năng để làm cho đầy tớ ông khỏi cơn đau đớn, đó là cả một sự tin tưởng tuyệt đối.

            Và rồi đứng trước lòng chân thành và sự tin tưởng tuyệt đối này, Chúa Giêsu liên tưởng đến những người gọi là dân của Chúa, thế mà lòng tin của họ lại không bằng viên đội trưởng ngoại đạo này. Sự liên tưởng có tính so sánh ấy chắc chắn làm Chúa thấy chạnh lòng. Vì dân riêng của Chúa đã trở nên chai cứng, lòng tin có khi bị biến dạng, và tôn giáo có khi trở thành vụ lợi.

            Với lời khen ông đại đội trưởng, ta thấy là lời khen dành cho người ngoại giáo, nhưng cũng là lời xót xa Chúa trao gởi cho những người “có đạo”. Làm sao ra nông nỗi này? Chắc chắn có vấn đề trong lối sống đạo của người Công Giáo. Một lối sống bị tù hãm trong thói quen vô hồn. Một sự hiểu biết nông cạn về giáo lý, Kinh Thánh và Giáo Hội, dễ đưa chúng ta đến một lối thực hành Đạo máy móc, vô nghĩa vì thiếu vắng tình yêu.

            Nếu Chúa Giêsu đã khen lòng tin của người đàn bà bị bệnh loạn huyết khi bà nghĩ rằng chỉ cần đụng vào gấu áo Ngài cũng đủ để được khỏi, thì lòng tin của viên bách quản này còn mạnh hơn nhiều: Ông tin rằng Chúa Giêsu chỉ cần nói một lời, thì đầy tớ của ông, dù có ở xa đến đâu cũng sẽ được lành. Trước lòng tin ấy, Chúa Giêsu đã thốt lên: "Tôi không thấy một người Israel nào có lòng tin như thế".

            Chúa Giêsu chưa hề gặp một người dân Isreal nào bộc lộ được một lòng tin như ông này. Ông là một người ngoại, có nghĩa là một người đã không được giáo dục theo văn hóa và tín ngưỡng Do thái, một người không biết đến Kinh thánh, và tất nhiên không biết có Đức Chúa là Thiên Chúa chân thật. Chính ông ta là một con người như thế mà lại đã thẳng thắn bộc lộ lòng tin vào Chúa Giêsu là một người Do thái!

            Ta thấy khi nhận ra điều đó, Chúa Giêsu cũng thốt lên đầy chua chát: “con cái Nước Trời sẽ bị quăng ra bên ngoài”. Lời này của Chúa thực sự cảnh tỉnh cho chính chúng ta hôm nay: Tôi là Kitô hữu, là người môn đệ theo Chúa, liệu tôi có thực sự tin vào Chúa cách mạnh mẽ, có được tấm lòng chân thành và tín thác như người ngoại giáo kia không? Câu hỏi này chất vấn tôi hằng ngày. Lời của Chúa hôm nay phải là lời cảnh tỉnh tôi mọi lúc.

            Ta thấy qua lòng tin và sự khiêm nhường của ông mà người đầy tớ đã được Chúa cứu chữa. Chính Chúa Giêsu cũng đã ngạc nhiên về niềm tin của ông vào Chúa, khi Người nói với những kẻ theo Người rằng: “Tôi bảo thật các ông, tôi không thấy một người Israel nào có lòng tin như thế” (Mt 8, 10). Hằng ngày, khi chúng ta cầu nguyện, tham dự thánh Lễ, làm các việc tông đồ... vì lòng tin vào Chúa chứ không phải vì lợi ích, vì hư danh ấy là lúc chúng ta đang tiến gần đến Nước Trời.

            Đức tin không phải là tổng hợp các tín điều và nghi thức mà chúng ta chấp nhận vì thói quen. Nhưng tin là sự sống. Sống niềm tin trong mọi chuyện vui buồn của kiếp người. Sống đức tin là đón nhận Ý Chúa đang thể hịên trong cuộc sống, qua những vui buồn, thành công hoặc thất bại mà lòng trí chúng ta xác tín Chúa đang ở với Chúng ta. Tin là một sự gặp gỡ sống động, luôn đổi mới chúng ta nhờ gặp được Chúa Giêsu trong từng ngày.

            Một điều thực hành chúng ta cần ghi nhớ, đó là đức tin của người này đem lại những điều tốt lành cho người khác. Đức tin sống động của người cấp trên, là ân huệ bảo vệ người cấp dưới. Đức tin vững vàng, phong phú của cha mẹ, là ân huệ để Chúa chữa lành bệnh tật cho con. Biết như  thế, để chúng ta sống trách nhiệm với những người chúng ta có liên hệ. Biết như thế, để chúng ta cầu nguyện cho những người thân yêu, như người đại đội trưởng đã xin ơn cho người tôi tớ của mình.

            Trong cuộc sống, ít khi ta chấp nhận đau khổ, mấy khi ta nhớ đến Chúa và bám vào Chúa khi ta thất bại, bệnh tật, khổ đau. Đó là do ta còn giữ cái tôi ích kỷ, còn bám vào thế gian và chưa hiểu hết tình thương của Chúa. Chúa muốn chúng ta thấy một điều rằng qua đau khổ mang ta đến với Chúa, qua đau khổ ta mới cậy trông nơi Chúa.

            Hãy làm bất cứ công việc gì trong bổn phận của mình với lòng chân thành, làm với trách nhiệm của người có niềm tin. Hãy học nơi người đại đội trưởng biết quan tâm tới tất cả mọi người, không phân biệt họ là người trên hay kẻ dưới để rồi có thể học được bài học yêu thương của Thầy Giêsu đã dạy chúng ta.

            Hãy gìn giữ và tăng triển đức tin của mình qua từng ngày sống, để rồi chúng ta sẽ cùng với mọi người từ phương đông phương tây đến dự tiệc cùng các tổ phụ trong Nước Trời, chứ không phải bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài Nước Trời để phải khóc lóc và nghiến răng.

            Chớ gì và ước mong lời Chúa hôm nay là một nhắc nhở chúng ta trong công việc hằng ngày, giúp chúng ta vững tin và nhận ra mọi ơn lành đến từ Chúa và dâng lời cảm tạ Ngài.

Huệ Minh

July 2, 2023