Suy Niệm của Huệ Minh

Chúa nhật 19 thường niên, năm A

 

C

 

Thứ Ba tuần XIX Thường niên

Ngày 11 tháng Tám

Thánh Clara, trinh nữ

Pl 3, 8-14; Mt 18, 1-5. 10. 12-14

ĐƠN SƠ NHỎ BÉ

          Thánh nữ Clara qua đời ngày 11 tháng 8 năm 1253 tại Saint-Damien và được Đức giáo hoàng Alexandre IV phong thánh hai năm sau. Ngày lễ thánh nữ đưa ta lên tới cội nguồn dòng Phan sinh và giúp ta hiểu được lý tưởng của Poverello (Anh Nghèo, thánh Phanxicô) mà thánh nữ đã thể hiện một cách tuyệt diệu. Chính thánh nữ thường cũng đã tự gọi mình là “cây bé nhỏ do Phanxicô trồng” .

          Clara sinh tại Assise khoảng năm 1193, con gái hiệp sĩ Favarone và phu nhân Ortolana. Hồi còn là thiếu nữ, Clara đã gặp gỡ cha linh hồn nhiều lần. Năm 1208 Phanxicô trở lại và trở thành “người điên có lời nói rực lửa và những việc làm siêu nhân”. Đêm lễ lá năm 1212, sau khi tham dự thánh lễ tại nhà thờ chánh tòa và nhận cành lá từ tay Đức giám mục, cùng với người em họ là Philippa, Clara trốn khỏi nhà, đến với thánh Phanxicô tại Sainte Marie-des-Anges, ngôi nhà thờ bé nhỏ thánh nhân vừa sửa chữa lại. Chính tại đây Poverello cắt tóc cho Clara, đội cho một chiếc lúp và mặc một cái áo vải thô để đánh dấu việc trút bỏ trần gian và tận hiến cho Đức Kitô. Thánh Phanxicô tìm cho Clara một chỗ tạm lánh thân, trước hết là ở nhà dòng các bà Biển Đức.

Tại đây em gái của Clara là Agnes cũng đến theo chị. Sau nhà dòng các bà Biển Đức là một căn nhà cũ gần nhà thờ Saint-Damien cạnh cổng thành Assise. Đây là nơi khai sinh Dòng các nữ tu nghèo hay nữ tu Clara, cũng còn gọi là Dòng Hai Phan sinh. Trong bốn mươi ba năm tu dòng ở Saint-Damien, trong đó hai mươi chín năm bệnh tật đau đớn, Clara đã thực hiện trọn vẹn ơn gọi theo lý tưởng thánh Phanxicô qui định thành một “công thức sống” do Poverello thành Assise và được Đức Giáo Hoàng Innocent IV phê chuẩn. Ngày 5 tháng 10 năm 1226, tại Saint-Damien, Clara chào từ biệt lần cuối thi hài thánh Phanxicô. Trước đó Poverello lúc ấy đã rất đau yếu đã được đón về và săn sóc ở một căn lều dành riêng trong khu vườn nhà dòng suốt mùa thu năm trước.

Nơi thánh Clara, lòng bác ái đó cũng trở thành tình thắm thiết như thấy trong lời chúc của thánh nữ: “chị Clara, môn đệ của Chúa Kitô, là cây nhỏ do thánh Phanxicô trồng, người chị, cùng là mẹ của em cũng như của các chị em nữ tu nghèo khác mặc dầu chị bất xứng ... chị chúc lành cho em khi còn sống cũng như sau khi chị qua đời hết sức có thể và cả hơn sức có thể”. Tương tự như thế, những lời Bà nói với linh hồn mình lúc gần chết chứng tỏ sự thắm thiết đó: “Hãy yên tâm tiến bước, vì em đã đi đúng đường tin tưởng mà bước tới, bởi vì Chúa tạo hóa đã thánh hiến em, gìn giữ em không ngơi, đã yêu thương em với tất cả sự dịu dàng của một bà mẹ đối với con mình. Ôi lạy Chúa, con ca ngợi Chúa vì Ngài đã dựng nên con!”

Suốt ba năm đi theo Chúa Giêsu, các môn đệ cũng có cao vọng muốn được trở thành người lớn nhất trong Nước Trời nên đã đặt câu hỏi với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời?”.Hiểu được tâm tư ấy, Chúa Giêsu liền dạy các ông một bài học thật ý nghĩa đó là “Ai tự hạ, coi mình như em nhỏ này, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời.Còn ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy”.

Chúa Giêsu đưa ra một hình ảnh rất cụ thể đó là trở nên khiêm tốn đơn sơ như trẻ thơ. Khiêm tốn là một đức tính cao quý của con người. Người người có tâm hồn trẻ thơ thì tin tưởng vào tình thương Thiên Chúa,khiêm tốn không cậy dựa sức riêng nhưng biết nhìn nhận những giới hạn của mình.

Giá trị của cuộc sống không căn cứ trên số đo chiều cao của một người, chất lượng của cuộc sống không tính bằng sự hơn thua về nhan sắc hay hình thức bên ngoài nhưng dựa vào thái độ chúng ta đối xử với mọi người. Chúng ta không sống như một ốc đảo nhưng là sống cùng và sống với người khác. Chúng ta không thể tự thỏa mãn với chính mình nhưng luôn cần sự chia sẻ, nâng đỡ và an ủi của người khác. Người kiêu căng tự cho mình là đầy đủ nên Thiên Chúa không thể ban thêm điều gì, trái lại người khiêm tốn như một chiếc ly còn trống rỗng sẽ dễ dàng đón nhận được nhiều ân sủng của Thiên Chúa.

Đọc lại Kinh Thánh, chúng ta thấy Thiên Chúa đặc biệt yêu thích người có tâm hồn khiêm tốn. Chúa sẽ không mạc khải cho những bậc khôn ngoan thông thái biết về mầu nhiệm Nước Trời nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn. Chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta phải đón nhận người khác như đón nhận chính Chúa, vì “Ai đón tiếp người Thầy sai đến là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Ga 13,20).

Vì thế mỗi người chúng ta cũng đừng tự mãn cho mình là người có đầy đủ mà không cần đến sự giúp đỡ của người khác. Trái lại chúng ta là một thụ tạo với đầy khuyết điểm và tính hư nết xấu. Mang trong mình di chứng của tội nguyên tổ, chúng ta luôn bị cám dỗ chiều theo sự xấu. Nhận ra điều này để chúng ta biết cậy nhờ vào ơn Chúa giúp mà hoàn thiện chính mình.

Và để minh chứng cho lòng thương xót của Thiên Chúa, Chúa Giêsu còn đưa ra một ví dụ về người chủ chăn đã bỏ 99 con chiên mà đi tìm một con chiên lạc. Sứ mạng của Chúa Giêsu đến trần gian không phải để kêu gọi người công chính nhưng là kêu gọi người tội lỗi.

Ai khiêm tốn nhận mình là yếu hèn tội lỗi thì Thiên Chúa càng ban ơn giúp sức. Thánh Phaolô tông đồ có nhiều kinh nghiệm về điều này, thánh nhân đã khiêm tốn nhận mình là tôi tớ yếu đuối chẳng có gì để vênh vang.Chúng ta có là gì thì cũng nhờ bởi ơn Chúa. Còn thánh Augustinô thì xác quyết: “Chúa là Đấng cao cả, nếu con hạ mình xuống, Người cũng hạ mình xuống kết hợp với con; nhưng nếu con nâng mình lên, Người sẽ tránh xa con”.

Thiên Chúa dựng nên mỗi người một vẻ khác nhau, chính sự khác biệt đó càng diễn tả quyền năng và vinh quang của Thiên Chúa.Hình dáng bên ngoài của một người dù đẹp hay xấu, cao hay thấp, trắng hay đen...đối với Chúa không có gì là xấu.Điều quan trọng nằm ở tâm hồn và thái độ sống của mỗi người. Dù nhỏ bé xấu xí nghèo hèn đến đâu, con người đều có phẩm giá và nhân vị vì họ được sáng tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa.

Nhận biết được điều này, chúng ta được mời gọi phải tôn trọng người khác với tất cả sự khác biệt của họ. Ông Gerandy, nhà tư tưởng người Mỹ đã từng nói: “Chúng ta cần giống nhau một chút để hiểu nhau, nhưng cần phải khác nhau một chút để yêu thương nhau”. Chính sự khác biệt nơi mỗi người mà chúng ta được chia sẻ đắp đổi cho nhau, cùng cộng hưởng làm cho cuộc sống thêm phong phú và ý nghĩa.

 

THỨ TƯ TUẦN 19 THƯỜNG NIÊN,

(Ngày 12 tháng Tám )

Thánh Gioana Phanxica Chantal, nữ tu

Cn 31, 10-13. 19-20. 30-31;  Mt 18, 15-20

SỬA LỖI NHAU

Thánh nữ Francoise (Francesca di Bussi di Leoni) được gọi là người Rôma hay là người “rất Rôma trong số các vị thánh”, chỉ vì Bà được sinh ra trong một gia đình quí tộc Rôma và sống suốt đời tại đây, vào lúc Giáo Hội Đông Phương ly khai khỏi Giáo Hội Tây Phương (1378-1417) và bệnh dịch tàn phá thành phố vào năm 1413-1414.

Được rửa tội và thêm sức tại đại thánh đường Saint-Agnès, kết hôn vào lúc 13 tuổi với quận công Lorenzo Ponziani, có được 3 người con. Francoise sống với chồng 37 năm, cho đến lúc ông qua đời. Bà thật là một mẫu gương làm vợ và làm mẹ.

Dù rất tất bật trong gia đình, Francoise cùng với chị dâu và cũng là bạn Vanozza, thích cầu nguyện, thực hành sám hối, viếng nhà thờ và các nhà thương, để chăm sóc người nghèo và bệnh nhân. Theo Hạnh thánh, Bà luôn làm sự lành để đối lại sự ác, luôn tạo việc thiện cho những người nói xấu, phê bình và chăm chít đời sống của Bà.

Khi chồng qua đời, Francoise bỏ lâu đài Transtévère để chia sẻ đời sống với các Người “Tận hiến cho Đức Maria – Oblates de Marie” mà Bà tập họp lại, theo luật Dòng thánh Bênêđictô, trong nhà Tor de’ Specchi tại Rôma. Các Bà đạo đức này sống cuộc đời khổ hạnh và phục vụ các công việc bác ái.

Được Thiên Chúa ban cho nhiều hồng ân đặc biệt, ngất trí và thị kiến, Francoise sống rất mật thiết với Thiên Thần giữ mình của Bà. Bà qua đời ngày 09.03.1440 khi đến nhà người con Battista đang đau. Những lời cuối cùng Bà nói với những người con tinh thần của Bà: “Hãy trung thành cho đến lúc chết. Satan sẽ tấn công các chị cũng như đã tấn công tôi, nhưng không có thử thách nào dữ tợn cả, nếu chúng ta trung thành với Chúa Kitô.”

Được phong thánh vào năm 1608, Bà được chọn làm thánh quan thầy của các Bà đã lập gia đình, các Bà goá và các người lái xe. Mỹ thuật trình bày Bà cùng với Thiên Thần giữ mình và mang một thúng thực phẩm.

Trở về với Tin Mừng hôm nay. Chương 18 Tin Mừng Mátthêu gồm những giáo huấn của Chúa Giêsu về thái độ của người môn đệ trong cộng đoàn. Ở đây chúng ta đọc thấy điểm căn bản cho giáo lý về Giáo Hội như một sự hiệp thông, một cộng đoàn, một thân thể của Chúa Kitô. Chính Chúa Giêsu đã quả quyết: "Ở đâu có hai hay ba người họp lại nhân danh Thầy thì có Thầy ở giữa họ". Ðây là yếu tố quyết định cho lời cầu xin của chúng ta, vì chính Chúa Giêsu mới là Ðấng làm cho lời cầu xin của chúng ta được Thiên Chúa nhậm lời.

Một điểm nữa được nhắc đến trong Tin Mừng hôm nay, đó là thái độ phải có đối với những người tội lỗi trong cộng đoàn. Tội lỗi, nết xấu, đó là một thực tại không thể tránh được, dù đó là cộng đoàn do chính Chúa Giêsu qui tụ. Cộng đoàn có Chúa hiện diện, nhưng đồng thời là cộng đoàn bao gồm những con người yếu đuối, có thể lỗi phạm.

Lời Chúa dạy về việc sửa lỗi huynh đệ cần được chúng ta lưu tâm: Kẻ phạm lỗi kia là người anh em chúng ta, chứ không phải là kẻ thù. Lời khuyên, sự nâng đỡ, sửa lỗi riêng tư phải là bước đầu tiên; kế đến là việc sửa lỗi chung nhờ sự hỗ trợ của cộng đoàn; cuối cùng là phán quyết của vị đại diện đã được Chúa trao cho tác vụ bảo vệ sự hiệp nhất và hiệp thông cũng như chữa trị những gì làm hại đến cộng đoàn.

Lời Chúa cho ta phương thức về cách sửa lỗi anh em mình. Sửa lỗi cho người khác quả là điều không dễ, vì, hoặc ta viện lý “tôi là ai mà dám làm điều đó ?”, hoặc thái độ lạnh cảm “đâu can gì đến tôi”, hoặc sợ “làm ơn mắc oán”, hoặc lên mặt sửa lỗi một cách quá đáng để rồi nhấn chìm người anh em của mình!
Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta, những người theo Ngài, phải và biết sửa lỗi cho anh em của mình khi biết họ đang đi lạc hướng. Nhưng phải sửa như thế nào ? Quả là một vấn đề !

“Nếu anh em ngươi lỗi phạm, hãy đi sửa dạy nó, riêng ngươi và nó thôi”. (18, 15)  Đây là phương thức đầu tiên mà Chúa Giêsu dạy. Khi sửa lỗi cho anh em, ta phải có tâm tình đơn sơ, nhẹ nhàng, tế nhị và phải tâm niệm rằng : “nhân vô thập toàn”. Trước tiên hãy nói chuyện với người anh em của mình như một người bạn. Không gì dễ nghe hơn là những lời tâm sự nhẹ nhàng, tế nhị và đầy tôn trọng.

Đó cũng là điều dễ hiểu thôi, vì con người có lòng tự ái và thích được cảm thông, tôn trọng, hơn là phải lắng nghe những lời chỉ trích cay cú. Nếu không tế nhị trong chuyện này, thay vì mang một người tội lỗi trở lại với cộng đoàn, ta lại vô tình đánh mất người anh em của mình trong giây lát. Thiết nghĩ trong việc này cần có cả một nghệ thuật lẫn một tình yêu cao thượng!
Nếu không có tấm lòng yêu thương, chúng ta khó mà làm được bất cứ điều gì, huống chi khi chúng ta muốn đưa người anh em của mình trở về với yêu thương và sống trong sự thật. Thánh giáo phụ Augustinô khuyên dạy: "Hãy yêu và làm những gì bạn muốn ; nếu bạn thinh lặng, hãy thinh lặng vì yêu ; nếu bạn nói, hãy nói vì yêu ; nếu bạn sửa lỗi, hãy sửa lỗi vì yêu ; nếu bạn tha thứ, hãy tha thứ vì yêu ; hãy nắm giữ trong sâu thẳm con tim bạn gốc rễ của tình yêu … ".

Chúa Giêsu giới thiệu một phương pháp sửa lỗi anh em. Sai lỗi là điều không thể tránh trong cuộc sống hàng ngày (có “chung” thì phải “đụng”!), giữa những người vốn thân thiết như vợ chồng, anh em, huống gì trong tập thể rộng lớn hơn như hàng xóm láng giềng, cộng đoàn xứ đạo. Có sai thì phải sửa. Thông thường ai cũng ngại sửa lỗi người khác, vì chính mình cũng sai lỗi lúc này lúc khác. Chúa Giêsu giới thiệu ba bước sửa lỗi nhau: bằng cá nhân giữa ta với người ấy; nếu không được, thì nhờ đến người thứ ba để phân giải; nếu vẫn không ổn, thì mới đưa ra cộng đoàn. Trong mọi bước, luôn luôn biết tôn trọng người anh em và với tình bác ái. Thiết tưởng chỉ có người cố chấp mới không nhìn thấy thiện chí của người hết lòng muốn cho mình nên tốt hơn.

Trong cộng đoàn các tín hữu, mọi người đều được liên kết vào các quy tắc chung và mọi người phải cảm thấy mình có trách nhiệm về việc không được để một ai bị hư mất. Khởi đi từ mối quan tâm huynh đệ này, là một hình thái cốt yếu của tình yêu đối với người thân cận tùy thuộc ý muốn của Thiên Chúa, có thể là cần phải nhắc đến đòi buộc quan tâm đến một người anh em lầm lạc và mời người ấy hoán cải.

Vâng, tình yêu là cội nguồn, là chìa khóa của tất cả và có thể chắp cánh cho những thứ khác vươn xa!

 

 

Thứ Năm tuần XIX Thường niên

Bài đọc I (năm I)   Js 3, 7-10a. 11. 13-17

          Ez 12, 1-12;  Mt 18, 21 – 19, 1

SỬA LỖI TRONG TÌNH BÁC ÁI

Người ta thường định nghĩa yêu là hiến thân, là hy sinh, là quên mình, là cho đi cách vô vị lợi….Nhưng người ta quên rằng tha thứ có vị trí rất cao trong tình yêu – yêu vô điều kiện, tha thứ vô điều kiện. Và bởi vì người ta quên mất yêu là tha thứ nên có biết bao mối tình trở thành gheni, hận, thù khi bị người yêu quay lưng phản bội, hay hướng đến một đối tượng tình yêu mới. Nơi mạc khải Kinh Thánh, Thiên Chúa đòi chúng ta phải yêu thương hết mọi người. Vì sao? Trình thuật Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu đã nói rõ cho chúng ta.

ta thử làm một bài tính nhẩm: Người bạn của tên đầy tớ nợ anh ta 100 quan tiền, tương đương với số tiền 100 ngày công của người làm thuê thời bấy giờ. Còn tên đầy tớ thì nợ nhà vua 10.000 yến vàng – mà một yến vàng tương đương với số tiền của 6.000 ngày công – như thế y mắc nợ nhà vua số tiền tương đương với 60 triệu quan! Nghĩa là gấp 600.000 lần số tiền người bạn mắc nợ y! Với số nợ quá lớn như thế, dù có bán anh ta, vợ con và tất cả tài sản anh có cũng không đủ trả hết. Thế nhưng nhà vua đã chạnh lòng thương và xoá cho anh tất cả món nợ chỉ vì một lời anh cầu xin. Thế nhưng anh lại không thể cho bạn mình món nợ hết sức nhỏ bé. Hẳn anh có thể tha nợ cho bạn nếu anh nhớ chủ đã tha cho anh món nợ lớn lao thế nào.

Khi Phêrô hỏi Chúa Giêsu : "Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?" Ðức Giêsu đáp: "Thầy không bảo là đến bảy lần, nhưng là đến bảy mươi lần bảy." (c. 21. 22) Đồng thời Chúa Giêsu nêu lên một dụ ngôn để cho chúng ta hiểu nguyên do: Vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta trước, dù chúng ta là những con nợ ‘khủng’ của Người; nhưng Người đã tha nợ cho chúng ta chỉ duy với một điều kiện duy nhất là chúng ta cũng phải biết tha nợ cho người anh em mình.

Thiên Chúa đòi chúng ta một sự tha thứ không giới hạn – không phải tha bảy lần, nhưng là bảy mươi lần bảy –  Sự tha thứ không giới hạn mặc nhiên biểu lộ tấm lòng bao dung của trái tim yêu thương không giới hạn – một tình yêu chân thực sẵn sàng hiến mạng cho người anh em: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của kẻ hiến mạng sống vì bạn hữu của mình.” (Ga 15, 13) Đức Kitô khi hiến mình, chịu chết treo thập tự bởi sự ghét ghen, bất trung, phản bội của con người, vẫn thốt lên: “Lạy Cha, xin tha thứ cho họ, vì họ lầm không biết.” (Lc 23, 34)

Theo bản tính tự nhiên, mỗi người chúng ta thật khó thoát khỏi vòng lẩn quẩn là sự tranh chấp và oán thù. Luật “mắt đền mắt, răng thế răng” tuy là một luật giúp trả báo công minh, nhưng lại là nguyên nhân khiến cho thế giới lâm vào tình trạng chiến tranh và hận thù liên miên. Chỉ khi con người biết tha thứ cho nhau thì họ mới có thể sống an bình và hạnh phúc thực sự. Khi tha thứ là ta sẵn sàng chịu thiệt thòi, là xác tín rằng cuối cùng Tình Thương sẽ chiến thắng hận thù. Ngọn lửa tình thương chắc chắc sẽ đánh tan băng giá. Nó sẽ làm cho quả tim chúng ta lại có thể rung động và xót thương kẻ bất hạnh, giống như Thiên Chúa.

Để tha thứ rước hết phải có lòng khiêm tốn:

Một hôm gà con cứ theo bám riết lấy gà mẹ. Nó vừa khóc vừa kể cho mẹ nghe về nỗi uất ức ma nó đang phải chịu. Nó nói: “Mẹ ơi, tụi thỏ dám nhạo con rằng tai con chỉ bằng một góc tai của chúng”. Gà mẹ trả lời: “Con đừng để tâm đến những lời bọn thỏ nói làm chi, và hãy tha thứ cho chúng, con nhé!”. Gà con chưa chịu thua tiếp tục tố cáo: “Nhưng bọn cò lại bảo con rằng: con chỉ cao bằng một phần năm cẳng chân của chúng!” Gà mẹ lại an ủi con: “Con ơi! Đừng chấp với chúng làm chi!” Nghe mẹ nói thế, gà con uất ức khóc to lên và nói: “Mẹ! Lúc nào mẹ cũng nói là phải tha cho chúng, đừng thèm chấp với chúng. Còn con thì cứ phải chịu đựng bị bọn chúng cười nhạo chế diễu hoài! Tại sao vậy hả mẹ?” Bấy giờ gà mẹ mới ôn tồn nói với gà con: “Tại vì bọn chúng nói đúng mà con!”. Gà con không chịu thua hỏi lại mẹ: “Sao lại đúng hả mẹ?”. Bấy giờ gà mẹ mới ôn tồn trả lời: “Tại vì đúng thật con cũng chỉ là một con gà mà thôi!”.

Giống như chú gà con kia, chúng ta thường thấy bị xúc phạm và khó lòng tha thứ cho những kẻ dám cười nhạo khinh thường chúng ta, chỉ vì chúng ta không muốn chấp nhận sự thật hèn kém của mình. Lòng khiêm tốn là điều kiện giúp chúng ta dễ dàng chấp nhận và bỏ qua những lời nói hành nói xấu hay những lời chế nhạo của kẻ khác đối với chúng ta.

Tiếp đến phải nhìn kẻ thù bằng một cái nhìn mới, giống như Đức Giê-su đã làm đối với những kẻ giết hại mình. Tuy nhiên, để có thể thay đổi được cách nhìn, chúng ta cần làm theo mấy bước cụ thể sau:

Một là xin Chúa giúp cho ta biết noi gương Chúa làm, sống Lời Chúa dạy, nhất là về lòng khoan dung tha thứ.

Hai là nhớ lại Chúa đã tha thứ cho chúng ta, và đòi chúng ta cũng phải sẵn sàng tha thứ lỗi lầm cho anh em mình.

Ba là đổi mới cách nhìn đối với kẻ thù ghét chúng ta: Hãy nhìn họ như người đang bị lầm đường lạc lối, để cầu xin Thiên Chúa tha tội cho họ như Chúa Giê-su đã cầu xin Chúa Cha tha cho những kẻ làm khốn mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23, 34).

Để tha thứ cho người xúc phạm đến mình, nếu nhìn vào mình thì chúng ta sẽ khó mà tha thứ vì con người mình thường nuôi tính trả thù. Nếu nhìn vào người xúc phạm đến mình thì càng khó tha thứ vì hậu quả họ gây ra nhiều khi không thể đền bù, giống như ly nước đã đổ ra thì không thể hốt lại được. Làm sao có thể tha thứ cho nhau được? Chỉ còn cách là nhìn vào Chúa. Chúa là Cha giàu lòng thương xót, Ngài tha thứ một cách vô điều kiện.

 

THỨ SÁU TUẦN 19 TN

Ngày 14 tháng Tám Thánh Maximilianô Maria Kolbê, linh mục, tử đạo

        Kn 3, 1-9 hay1Ga 3, 14-18; Ga 15, 9-17

Ở LẠI TRONG TÌNH YÊU

Trong một bức thư gởi cho một người bạn, thánh  Maximilianô Maria Kolbê viết: “Thiên Chúa đã muốn ủy thác việc ban phát lòng thương xót của Ngài cho Đức Maria. Điều hiển nhiên là Đức Maria chỉ muốn cho chúng ta những gì Thiên Chúa muốn. Khi chúng ta hiến mình cho Mẹ, thì trong tay Mẹ, chúng ta sẽ trở thành khí cụ Thiên Chúa dùng để thực thi lòng thương xót của Ngài, như chính Mẹ là khí cụ trong tay Thiên Chúa.”

Maximilianô Kolbê sinh ngày 8 tháng Giêng năm 1894 tại Ba Lan. Với tấm lòng sùng kính Đức Mẹ Maria từ thuở ấu thơ, có lần thánh nhân kể: “Đêm đó tôi nài xin Đức Mẹ cho tôi được trở thành đứa con ngoan. Đức Mẹ hiện ra mang theo hai triều thiên sáng chói, một màu trắng và một màu đỏ. Đức Mẹ hỏi tôi thích chọn triều thiên nào? Màu trắng nghĩa là tôi sẽ được trở nên trong trắng và màu đỏ tôi sẽ trở thành một vị tử đạo. Tôi trả lời tôi thích cả hai.”

Năm 1907, Maximilianô gia nhập Dòng Anh Em Hèn Mọn (còn được gọi là dòng Phanxicô). Ngài được gởi qua Rôma tu học.  Năm 1914 khấn tạm với tên thánh Maximilianô Maria và năm 1918 thụ phong linh mục. Trong thời gian ở Rôma, ngài đã chứng kiến nhiều cuộc biểu tình kịch liệt do Hội Tam Điểm tổ chức chống lại Đức Giáo Hoàng  Piô thứ 10 và Đức Giáo Hoàng Biển Đức thứ 15. Để đối phó với làn sóng này, ngài thành lập hội “Đạo Binh Đức Maria Vô Nhiễm”  với ý nguyện qua lời chuyển cầu của Đức Mẹ, những ai tội lỗi chống phá Giáo Hội Công Giáo sẽ quay về đường ngay nẻo chính. Maxilianô còn phát hành bán nguyệt san “Hiệp Sỹ của Đức Mẹ Vô Nhiễm” để cổ vũ lòng sùng kính Đức Mẹ và truyền bá đức tin Công Giáo.

Năm 1930 linh mục Maximilianô Maria Kolbê qua Nhật Bản và ở lại truyền giáo nơi đây trong vòng sáu năm dưới sự bảo trợ và che chở của Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Ngài xây dựng nhiều cơ sở Công Giáo và tu viện, trong đó có một tu viện trên sườn núi ngoại ô thành phố Nagasaki. Năm 1945 khi thành phố này bị ném bom nguyên tử, tu viện được cứu thoát nguyên vẹn như một phép lạ Đức Mẹ ra tay che chở.

Đức Mẹ luôn đồng hành và chúc lành cho những công đức của thánh nhân.  Năm 1938 có tới hơn 800 tu sỹ Dòng Anh Em Hèn Mọn sống và truyền bá lòng sùng kính Đức Mẹ tại Trung Tâm Thánh Mẫu hay còn gọi “Đô Thành Đức Mẹ Vô Nhiễm” do ngài thành lập gần thủ đô Warsaw, Ba Lan. Ngài còn thành lập một đô thành tương tự ở Ấn Độ. Trong một bức thư gởi cho một anh em Dòng Anh Em Hèn Mọn, ngài viết: “Chúng ta hãy để Mẹ hướng dẫn, hãy đưa tay cho Mẹ dìu dắt, hãy sống yên hàn dưới sự che chở của Mẹ. Chính Mẹ sẽ chăm sóc và tiên liệu mọi sự cho chúng ta. Mẹ sẽ mau cứu giúp, đáp ứng những nhu cầu hồn xác, đẩy lùi những khó khăn phiền toái cho chúng ta.”

Một bài viết tựa đề “Những ‘thay cho’ mà Chúa muốn” của đức cha GB. Bùi Tuần có đoạn: “ Chúa Giêsu muốn mọi môn đệ của người: hãy cẩu nguyện thay cho người khác, hãy đền tội thay cho người khác và hãy chết thay cho người khác. Mong muốn đó của Chúa Giêsu được kể như một sự sai đi.  Tôi hiểu như vậy khi nghe Người cầu nguyện với Chúa Cha: ‘Như Cha đã sai Con đến thế gian, thì Con cũng sai họ đến thế gian’ (Ga 17,18). Đến thế gian, Chúa Giêsu đã luôn cầu nguyện thay cho nhân loại, luôn đền tội thay cho nhân loại, đã hy sinh mạng sống thay cho nhân loại.” 

Maximilianô Maria Kolbê đã sống và có một tình yêu tuyệt đẹp với tha nhân: chết thay cho một bạn tù. Đúng như lời Chúa Giêsu dạy: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Năm 1939, Đức Quốc Xã xâm chiếm Ba Lan. Linh mục Kolbê và một số tu sỹ bị bắt nhưng ba tháng sau được thả vào đúng ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Tuy nhiên, ngài bị bắt trở lại vào trại tập trung lao động nổi tiếng cực khổ Auschwitz  ngày 17 tháng Hai năm 1941.

Ngày 31 tháng Bảy năm đó một tù nhân trốn thoát. Theo quy định của trại, viên sỹ quan quản lý trại bắt mười tù nhân khác chết thay trong đó có Phanxicô Gazowniczed. Anh kêu van khóc lóc không muốn chết vì còn mẹ già con thơ không ai nuôi dưỡng. Trước cảnh tượng bi thảm này, Maximilianô Maria Kolbê dõng dạc tuyên bố tình nguyện xin chết thay: “Tôi muốn thế chỗ ông kia. Ông ấy còn có gia đình vợ con!” Thánh nhân bị giam chung với các tù nhân khác trong một căn hầm chật chội tăm tối. Các tù nhân chết dần cho đến áp ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời 14 tháng Tám năm 1941 chỉ còn bốn người sống sót. Viên cai ngục kết liễu đời ngài bằng mũi thuốc độc. Thi hài ngài được thiêu cháy vào ngày hôm sau, đúng lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.

Một trong những lý do Đức Quốc Xã tìm bắt bỏ tù linh mục Maximilianô Maria Kolbê là bởi những hoạt động truyền thông của ngài nhằm truyền bá đức tin Công Giáo. Năm 1927, ngài thành lập nhà xuất bản Công Giáo tại Ba Lan, in ấn và phổ biến sách báo tài liệu Công Giáo. Cùng với anh em tu sỹ Dòng Anh Em Hèn Mọn hàng tháng xuất bản  bán nguyệt san về Đức Mẹ phát hành khắp thế giới. Kể cả thời gian những năm  ở Nhật Bản ngài cũng sử dụng báo chí như là phương thế truyền giáo của mình. Ngoài ra,  ngài còn thành lập đài phát thanh và truyền hình để rao truyền Tin Mầng của Chúa cho mọi người.

Ngày 10 tháng Mười năm 1982, Đức giáo hoàng Gioan Phaolô đệ nhị đã tôn phong linh mục Maximilianô Maria Kolbê, Dòng Anh Em Hèn Mọn, lên hàng hiển thánh tử đạo. Lễ kính ngài hằng năm vào ngày 13 tháng Tám, áp ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Âu cũng là một vinh dự vô cùng trọng đại dành cho một vị thánh lúc sinh thời đã hết mình tôn sùng và bằng mọi cách cổ súy lòng sùng kính Đức Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội. Thánh nhân là bổn mạng của giới truyền thông và các tù nhân chính trị.

Với trang Tin Mừng hôm nay, thánh Gioan ghi lại lời xác quyết của Chúa Giêsu bày tỏ tình yêu cho loài người: Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy (Ga 15:9). Vậy ta thử xét coi Chúa Giêsu yêu mến loài người như thế nào. Và ta cũng chỉ giới hạn cái việc Ðức Giêsu yêu mến loài người theo như Phúc âm hôm nay ghi lại mà thôi. Nếu xét tất cả những việc Chúa Giêsu làm vì yêu mến loài người trong toàn bộ Phúc âm, thì không biết bao giờ ta mới nói hết. Chúa Giêsu đã yêu mến loài người bằng cách chấp nhận cuộc tử hình thập giá để chuộc tội loài người. Ðó là lời Chúa phán trong Phúc âm hôm nay: Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hi sinh tính mạng vì bạn hữu của mình (Ga 15:13). Thổ lộ cho ai về cảnh ngộ cá nhân hay gia đình, ngay cả những tâm tư và bí mật của đời mình là dấu chỉ mình tín nhiệm người đó kín đáo, muốn gần gũi với người đó và muốn mở lòng để người đó đi vào đời mình. Ðó là cách thế Ðức Giêsu đã làm để trở nên bạn hữu với ta: Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thẩy đã cho anh em biết (Ga 15:15).

Bạn hữu nhất là bạn cùng ăn một mâm, cùng nằm một chiếu là người quan tâm đến ta, và ta quan tâm đến bạn. Bạn hữu là người gắn bó với ta khi vui cũng như lúc buồn, khi thành công cũng như lúc thất bại, khi yếu đau cũng như lúc mạnh khoẻ. Bạn hữu là người ta có thể tin cậy. Bạn hữu thường trung thành với nhau, giúp đỡ nhau, sống chết có nhau. Trong một xã hội phong kiến hay dưới một thể chế quân chủ, khi một người nhỏ tuổi hoặc cùng đinh mà gọi người lớn tuổi hay phú quí là bạn, có thể bị coi là chơi trèo, hỗn xược, vì cha ông ta dạy kính lão đắc thọ. Chúa Giêsu còn cao trọng hơn ta gấp bội phần, nhưng Người đã tự hạ mình xuống làm bạn với ta. Chúa bảo các tông đồ và qua các tông đồ, Chúa cũng bảo ta: Anh em là bạn hữu của Thầy (Ga 15:14).

Vậy được gọi là bạn hữu với Chúa, là một ân huệ lớn lao dường bao! Ðiều thắc mắc ở đây là ta có thực sự tin rằng Ðức Giêsu là bạn với ta không? Ta có thể tin, vì Chúa nói như vậy. Tuy nhiên ta có cảm nghiệm được tình yêu và tình bạn với Chúa hay không lại là chuyện khác.

Ở lại trong tình yêu của Chúa là ở lại trong tình bạn hữu với Chúa. Cảm nghiệm ta có về tình bạn với Chúa giống như cảm nghiệm của hai người yêu. Hai người yêu luôn cảm thấy gần gũi nhau. Khi xa nhau, họ vẫn tưởng nhớ đến nhau, nhớ bóng dáng người yêu, ánh mắt của người yêu và cả tiếng thì thầm của người yêu. Nói cách khác, họ cách mặt mà không xa lòng. Cảm nghiệm của ta có được về tình yêu và tình bạn với Chúa cũng tương tự như vậy.

Khi và chỉ khi ta có được cảm nghiệm về tình yêu/ tình bạn với Chúa, ta sẽ cảm thấy sự hiện diện của Chúa trong ta, bên ta và xung quanh ta. Khi ăn uống, làm việc, giải trí và cả khi ngủ nghỉ, ta cũng cảm nghiệm sự diện diện của Chúa. Có được cảm nghiệm như vậy, ta không còn cảm thấy thiếu thốn chi trong lòng, không còn muốn đổi chác lấy gì khác, mà bị mất cảm nghiệm thần linh này. Ở lại trong tình yêu của Chúa là muốn được gần gũi với Chúa, muốn đặt niềm tin cậy phó thác vào Chúa, muốn Chúa làm chủ đời sống và làm lẽ sống cho cuộc đời.

August 22, 2020