Suy Niệm của Huệ Minh
Chúa nhật 20 thường niên, năm A
CHÚA NHẬT TUẦN XX THƯỜNG NIÊN NĂM A
Is 56, 1. 6-7; Rm 11, 13-15. 29-32; Mt 15, 21-28
NIỀM TIN CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ XỨ CANAAN
Bà mẹ người Ca-na-an có đứa con bị quỷ ám và làm khổ thân xác nó. Bà biết Chúa Giêsu đang giảng dạy ở gần Bê-ta-ni-a, nên đến xin Chúa chữa con bà. Chúa làm lơ để thử lòng bà. Rồi lại dùng câu tục ngữ: "Không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó", ngụ ý từ chối. Vì thương con và cũng vì được nghe người ta đồn thổi về quyền năng và lòng nhân hậu của Chúa. Bà khiêm nhường nài nỉ : "Thưa Thầy, đúng vậy. Nhưng lũ chó con cũng được ăn những mụn bánh từ bàn ăn rơi xuống".
Với các tông đồ thì hành động của bà chỉ là một sự quấy rầy, còn với Chúa Giêsu thì Người đã dành quyền ưu tiên cho dân Israel, thế nhưng người đàn bà xứ Canaan đã lật đổ các vấn đề đó để đi thẳng tới đối tượng. Chính điều này đã làm cho chúng ta phải suy nghĩ. T
Người phụ nữ bất hạnh có đứa con gái đau yếu, và bà đã kêu tới Chúa Giêsu, nhưng tiếng kêu của bà không có vẻ hiếu thắng. Bà không ý thức là mình đang nêu lên một quyền lợi. Trái lại khi nghe Chúa bảo là Người chỉ muốn hoạt động ở Israel chứ không muốn hoạt động nơi người ngoại giáo, thì bà đã trả lời với một cung cách làm nổi bật mức độ khiêm nhường của lời cầu xin. Bà cầu xin và đặt mình ngang hàng với đàn chó con, sống bằng những mẩu bánh vụn từ bàn rơi xuống. Bà đã gắn cho đức tin cái tính chất khiêm nhường khiến cho Chúa Giêsu cũng phải cảm động và xiêu lòng.
Trước sự kiên trì của người phụ nữ, Chúa Giêsu lên tiếng "không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho chó con", một thử thách dường như quá nặng, quá khó đối với người ngoại giáo này. Nếu người mẹ xứ Armênia chỉ hy sinh những giọt máu để cứu đưa con, thì bà mẹ Canaan lại hạ mình xuống ngang với "con cho" cũng vì đứa con. Nhưng chính lòng khiêm tốn của bà lại làm cho các tông đồ phải ngạc nhiên "Thưa Thầy đúng lắm, nhưng mà chó con cũng đáng được hưởng những mảnh vụn từ trên bàn của chủ nó rơi xuống". Trước câu trả lời đầy khiêm tốn này đã làm cho Chúa Giêsu "phải bó tay" mà thốt lên "Đức tin của bà mạnh thật, bà muốn sao thì được như vậy".
Về đức tin, bà mẹ đau khổ ấy đã tìm đến với Chúa, bà tin Chúa là vị ngôn sứ quyền năng và nhân hậu. Có thể một người khác nghe câu tục ngữ kia đã cảm thấy mình bị xúc phạm vì cho là mình bị khinh chê. Nhưng bà này đã phản ứng một cách rất khiêm nhường. Khiêm nhường là chìa khóa mở lòng thương xót của Thiên Chúa.
Niềm tin của bà thật cảm động, vì bà quá khiêm tốn trước mặt Chúa. Bà chỉ ao ước nhặt từng mảnh vụn ơn thánh rơi rớt của những người con Chúa. Bà biết mình không xứng đáng được ơn. Bà không dám nghĩ mình được tắm trong biển cả yêu thương của Chúa, nhưng chỉ cần một giọt thánh ân trong biển lòng thương xót của Chúa có thể cứu sống con của bà.
Niềm tin của bà còn đạt tới niềm tin tưởng tuyệt đối, không có gì lay chuyển nổi! Cho dù trước thái độ xua đuổi khéo léo của các môn đệ và sự lạnh lùng của Chúa Giêsu. Bà không bỏ cuộc. Bà vẫn một lòng cậy trông vào Chúa đến mức độ mà Chúa phải ca tụng bà: "đức tin của bà thật lớn lao. Bà muốn sao được vậy". Và phép lạ đã diễn ra bởi lòng tin của một người mẹ hết mình vì con.
Đức tin có thể được sánh ví như một bắp thịt. Nếu không chịu khó tập luyện thì bắp thịt ấy sẽ suy yếu dần. Trái lại, càng luyện tập, thì bắp thịt ấy càng trở nên mạnh mẽ. Đức tin cũng vậy, nó cần phải được tập luyện. Trong phạm vi này, chúng ta có nhiều cách để tập luyện để củng cố cho đức tin nên mạnh mẽ.
Trước hết, chúng ta có thể học hỏi lời Chúa, tìm hiểu Phúc Âm như chúng ta đang làm trong giây phút này. Chúng ta có thể tham dự thánh lễ một cách sốt sắng. Chúng ta có thể cầu nguyện riêng tư một cách có ý thức, để kín múc nguồn sinh lực thiêng liêng cho đức tin của mình. Tuy nhiên có một phương cách luyện tập đức tin rất hữu hiệu.
Về cầu nguyện, bà này vừa khiêm nhường vừa kiên trì. Khiêm nhường và kiên trì là hai bí quyết làm dịu lòng Chúa, nên con bà được khỏi sự quấy rối của ma quỷ. Vì dù ta không cầu nguyện thì Chúa cũng đã luôn luôn để ý đến chúng ta, phương chi khi chúng ta tin tưởng mà đến với Chúa với tâm hồn khiêm nhường và kiên trì thì tất nhiên Chúa phải lắng nghe.
Đời sống nội tâm, đời sống cầu nguyện là nền tảng của đời sống kitô hữu nhưng sau khi suy gẫm, sau khi cầu nguyện ta diễn tả niềm tin vào Chúa như thế nào chứ đâu phải cứ ngày ngày, giờ giờ ngồi bên Chúa là hay đâu. Có những người chăm chăm chú chú, ngày ngày giờ giờ cầu nguyện nhưng sau khi cầu nguyện xong trở lại đời sống bình thường thì cư xử khó có ai đón nhận được?
Chẳng nói đâu xa, trong giới "luật sĩ và biệt phái" thời hiện đại cũng thế thôi. Cũng mang trong mình cái áo của "luật sĩ và biệt phái" đấy nhưng cách cư xử chẳng ra làm sao cả. Chính "luật sĩ và biệt phái" không sống lòng tin chân chính vào Chúa, không diễn tả lòng tin thật của mình vào Chúa mà chỉ sống cái hình thức bên ngoài thì làm gì mà đòi hỏi giáo dân sống niềm tin tinh tuyền.
Hình ảnh người phụ nữ "ngoại giáo" hôm nay là cơ hội để chúng ta xét lại niềm tin của chúng ta vào Chúa. Từ "luật sĩ và biệt phái" thời hiện đại cho đến giáo dân xét xem mình còn tin Chúa hay không? Nếu còn tin Chúa thì chắc chắc Chúa sẽ ban ơn lành cho chúng ta. Thiên Chúa bao dung, Thiên Chúa quãng đại, Thiên Chúa hào phóng nhiều hơn là chúng ta tưởng.
Huệ Minh 16-8-2020
Thứ Hai tuần XX Thường niên
Ez 24, 15-24; Mt 19, 16-22
ƯU TƯ VÀ CHỌN LỰA
Người thanh niên trong Tin Mừng hôm nay đã đến xin Chúa Giêsu chỉ cho một phương cách phải làm gì để tận hưởng sự sống đời đời. Sau khi lắng nghe thiện ý của người thanh niên, Đức Giêsu liền chất vấn anh về một điều tốt lành: “Sao anh hỏi tôi về điều tốt? Chỉ có một Đấng tốt lành mà thôi. Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn”.
Giữa một “rừng luật” tỉ mỉ của Do Thái, người thanh niên muốn Chúa Giêsu nhấn mạnh đến điều răn nào cụ thể nhất. Đức Giêsu kể ra một số điều luật căn bản như: không được giết người, không được ngoại tình, không được trộm cắp, không được làm chứng gian. Phải thờ cha kính mẹ và phải yêu đồng loại như chính mình.
Sau khi nghe Chúa Giêsu kể ra những điều luật quan trọng nhất, người thanh niên tỏ ra là người “ngoan đạo” vì anh đã giữ tất cả những điều luật ấy. Cuối cùng Đức Giêsu đề nghị một điều đụng chạm mạnh mẽ đến tham vọng thâm sâu nhất của người thanh niên đó là bán tất cả của cải anh có để chia cho người nghèo thì sẽ có một kho tàng ở trên trời. Câu chuyện có một kết thúc đáng buồn, đó là cảnh người thanh niên bỏ đi chỉ vì anh ta có quá nhiều của cải.
Thái độ của người thanh niên cho thấy, của cải như một thứ keo dính đeo bám vào con người khiến họ không thể rời xa được “đồng tiền đi liền khúc ruột” là thế. Của cải tự nó không có gì là xấu, nhưng vì con người bị mê hoặc và tôn thờ nó như một thứ thần thánh, nó có sức lôi cuốn mãnh liệt, là vật cản vô hình khiến người ta không đến được với sự sống đời đời. Của cải có sức trói buộc khiến người ta mất ăn mất ngủ, mất cả mạng sống và linh hồn.
Đôi lúc chúng ta cũng có thái độ giống người thanh niên quyến luyến và nô lệ cho tiền bạc mà từ chối kho tàng Nước Trời. Sống trong một xã hội đề cao sự hưởng thụ, con người bị cuốn hút vào cơn lốc của tiền bạc. Mọi người tranh thủ làm giàu, điên cuồng hưởng thụ nhanh chóng và cũng gánh chịu nhiều nỗi thất vọng ê chề. Trước thái độ ấy, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy sử dụng tiền bạc cho đúng mục đích, hãy ưu tiên cho việc tìm kiếm hạnh phúc Nước Trời.
Niềm tin kitô giáo dạy chúng ta rằng: tất cả những gì chúng ta đang có như tiền bạc, thời gian, tài năng và ngay cả tội lỗi đều do ân sủng Thiên Chúa ban. Người là Đấng quảng đại hào phóng đã ban cho chúng ta đấu đủ lượng đã dằn đã lắc. Những ân huệ Thiên Chúa ban để chúng ta sử dụng và mưu ích cho người khác. Khi đi theo Chúa trên con đường trọn lành, đòi hỏi chúng ta phải có thái độ dứt khoát, từ bỏ mọi sự quyến luyến của tiền bạc và sống nghèo khó theo tinh thần Phúc Âm. Một khi đã trút bỏ hết sự bảo đảm vật chất thế gian, chúng ta mới phó thác trong bàn tay yêu thương của Thiên Chúa.
Thánh tiến sĩ Augustinô là người đã cảm nghiệm sâu sắc về sự giàu sang và khôn ngoan của Thiên Chúa sâu thẳm dường nào. Thánh nhân nói: “Ai có nhiều của cải mà không có ơn nghĩa Chúa, ấy là kẻ nghèo nhất. Ai trở nên bần cùng mà có ơn nghĩa Chúa, người ấy có tất cả mọi sự”.
Như vậy dù có nhiều tiền mà không có Thiên Chúa, chúng ta vẫn là kẻ tay trắng. Trái lại, khi sống tâm tình của trẻ thơ tin tưởng vào Thiên Chúa, chúng ta sẽ có Thiên Chúa là gia nghiệp. Muốn được hưởng hạnh phúc dài lâu trong Nước Trời, chúng ta phải tuân giữ các điều răn của Chúa và sống siêu thoát với của cải vật chất. Sống tinh thần nghèo khó, chúng ta thoát được sự lo lắng ở đời và thảnh thơi lo việc phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân.
Ưu tư của chàng thanh niên trong Tin Mừng có vẻ xa vời đối với những bận tâm của chúng ta ngày nay. Vì chưng, xã hội nhìn nhận giá trị con người qua tiền của, sang giàu hơn bất cứ cái gì khác. Cho nên, người ta phải lo tranh dành, tranh đấu, tranh đua và tranh chấp để chiếm cho được nhiều tiền của, dù phải dùng các phương tiện bất nhân, bất nghĩa hay bất lương.
Thế nhưng, được tiền được của mà mất tha nhân và mất Chúa thì nào ích gì! (Mt 16,26). Chúa Giêsu nhắc nhở chàng thanh niên và cả chúng ta rằng thực thi điều răn mến Chúa yêu người là kiến tạo một xã hội đầy tình Chúa và tình người lâu bền và vững chắc. Đó cũng là điều kiện cần thiết để được sự sống đời đời làm gia nghiệp.
Có hai điều kiện để đạt đến sự sống đời đời là tuân giữ những lời Chúa dạy và từ bỏ mọi của cải vật chất trần gian. Thực hiện được hai điều kiện này quả là điều khó vì chúng ta còn mang thân phận yếu đuối. Chúng ta không đủ khiêm tốn và tin tưởng để trao phó cuộc đời cho Thiên Chúa lo liệu nên chỉ lo tìm sự bảo đảm nơi tiền bạc vật chất.
Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu đòi hỏi người niên: “Nếu anh muôn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán ' của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho trên trời. Rồi hãy đến theo tôi”. Nghe lời đó, anh ta bu bỏ đi, vì của cải vật chất đã ngăn cản anh ta theo Chúa.
Để dễ dàng theo Chúa, chúng ta phải thành tâm chí sống khó nghèo để được tự do và thong dong theo Chúa.
Ngày nay, Ngài cũng lập lại đòi hỏi ấy đối với người chúng ta. Theo Ngài cũng có nghĩa là tin rằng:, đang sống và sống một cách thiết thực trong cuộc sống. Do đó, những kẻ đi theo Ngài phải luôn tỉnh thức để nhận ra Ngài trong tất cả mọi sự và trong từng phút giây của sống. Đi theo Ngài cũng có nghĩa là sống như thế nào để người nhìn vào đều có thể thấy được gương mặt của Ngài.
Một cuộc sống như thế hẳn đòi hỏi nhiều hy sinh bỏ, cũng như Lêô Narđô đã sẵn sàng xóa bỏ một chi tiết bức tranh cho dẫu đó là một cánh hoa đẹp để thu hút sự vào gương mặt Chúa Giêsu. Cũng thế, người môn đệ Ngài hãy luôn sẩn sàng tháo gỡ và vứt bỏ mọi thứ vướng để chỉ sống cho Ngài và làm cho mọi người nhận ra mặt của Ngài qua chính cuộc sống của mình.
Thứ Ba tuần XX Thường niên
Ez 28, 1-10; Mt 19, 23-30
NGHÈO !
Ta vẫn nghe nói tiền của có sức hút và mê hoặc con người - ‘Đồng tiền đi liền khúc ruột’ – do đó, để có thể làm chủ được nó, con người không được khinh suất, nhưng rất cần đến sự trợ giúp của Thiên Chúa.
Bởi thế mà Chúa Giêsu đã nói: "Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được." (c. 26) Với sự hướng dẫn và ơn Chúa ban, con người sẽ biết cách sử dụng tiền của để mưu cầu lợi ích cho mình và cho tha nhân, giúp phát triển xã hội ngày càng tươi đẹp, lành mạnh và phong phú.
Lời của Chúa Giêsu trong Tin mừng hôm nay gây sốc không những cho người nghe lúc bấy giờ (các môn đệ vô cùng sửng sốt) mà gây sốc cho rất nhiều người trong mọi thời đại: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Thiên Chúa” (c. 24). Đồng thời ngược lại, Chúa lại hứa ban thưởng gấp trăm cả đời này lẫn đời sau cho những ai từ bỏ mọi sự mà theo Người.
Có mâu thuẫn không giữa những điều Chúa nói? Chẳng phải nếu Chúa ban cho họ gấp bội ở đời này thì họ lại trở thành người giàu hay sao, và khi ấy phải chăng họ lại trở thành những kẻ khó vào nước trời?
Thực ra, mấu chốt của vấn đề là tinh thần từ bỏ; người có tinh thần từ bỏ không bị ràng buộc bởi của cải, hay nói khác đi, họ không bị của cải vật chất cản trở bước đường làm người môn đệ, nhưng biết dùng nó như phương tiện Chúa ban để sống theo ý Chúa.
Vì thế, họ có thể là người rất giàu có về của cải nhưng luôn coi nó là hồng ân, là quà tặng của Thiên Chúa ban mà sống trong tinh thần tri ân, cảm tạ và luôn sẵn sàng chia sẻ, cho đi không tính toán.
Đã hẳn Thiên Chúa không bao giờ muốn con người phải sống nghèo nàn mạt rệp. Vì cái nghèo cho thấy sự tồn tại của điều ác. Nó chỉ cho chúng ta biết xã hội, môi trường chúng ta sống vẫn còn đó sự bành chướng của ích kỷ; vẫn còn đó những con người không biết chia sẻ, chỉ biết vun đắp cho chính mình, thiếu vắng tinh thần quảng đại sẵn sàng cho đi của một tình yêu vị tha.
Hơn nữa, sự nghèo túng, bần hàn, khốn cùng như ‘sự dữ hiện hình’ làm cho con người không còn nhân phẩm, sống không ra người và đó không phải là điều Thiên Chúa muốn; vì khi tạo dựng vũ trụ, con người, chẳng phải Thiên Chúa đã chúc phúc và ra lệnh cho nó sinh sôi và phát triển phong phú hay sao? Và Thiên Chúa – Chúa Giêsu Kitô khi đến cứu độ trần gian Ngài đã đến với thân phận nghèo hèn khốn cùng của con người là để cứu vớt, nâng họ lên khỏi vực sâu của bần cùng tội lỗi cho họ trở nên ‘giàu có’ vì được làm con Thiên Chúa.
Tuy nhiên, sự giàu có lại khiến con người dễ xa rời Thiên Chúa bởi mê lầm, tự mãn. Mê lầm vì nghĩ rằng của cải là cứu cánh có thể thỏa mãn tất cả, đem lại sung sướng và hạnh phúc - tiền có thể làm cho họ đạt được danh vọng, vinh quang và mọi thú vui ở đời – bởi thế mà ‘có tiền mua tiên cũng được’; và cũng từ đó dẫn đến tự mãn không cần Thiên Chúa, và tồi tệ hơn nữa là họ có thể quay lưng lại với Thiên Chúa, loại trừ Thiên Chúa, bất chấp mọi thủ đoạn để có thể đạt được những ước muốn bất chính của mình.
Vì vậy mà Chúa Giêsu nói: “Không ai có thể làm tôi hai chủ… các ngươi không thể làm tôi Thiên Chúa lẫn tiền của được” (Lc 16,13). Vì tiền của có thể là một tên đầy tớ tốt, hữu dụng, nhưng ngược lại nó sẽ là ông chủ xấu xa, độc ác.
Cuối Tin mừng, chúng ta thấy một câu có vẻ không ăn nhập gì lắm, nhưng thực ra là một ý hướng chủ đạo dẫn dắt bản văn: “Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu." (c. 30) Những kẻ ‘đứng chót’ ở đây – Chúa Giêsu muốn nói đến những con người ‘nghèo’ của Tin mừng – những người sống khiêm tốn, chỉ biết cậy dựa vào Thiên Chúa chứ không cậy dựa vào thế lực của giàu sang vinh hoa phú quí; họ là những kẻ được Thiên Chúa yêu thương, bênh vực và là những ‘người lớn’ trong nước trời (Lời kinh Magnificat).
Bởi vì họ lấy Chúa là sức mạnh, là gia nghiệp của đời mình. Họ là những người khôn ngoan biết tích lũy kho tàng trên trời nơi mối mọt không thể đục khoét hơn là tìm kiếm của cải phù vân (Lc 12,33); họ hiểu ý nghĩa và vị trí của tiền của, biến nó thành phương tiện để thi hành ý Chúa chứ không coi nó là mục đích của cuộc đời. Vì thế, họ là những người được Thiên Chúa chúc phúc và nước trời sẽ là phần thưởng của họ. (c. 28. 29)
Thứ Tư tuần XX Thường niên
Ez 34, 1-11; Mt 20, 1-16a
LÒNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA
Trang Tin Mừng hôm nay mở rộng thêm về chân dung của Thiên Chúa không chỉ là Đấng phân xử công bằng, mà còn là Đấng quảng đại, tốt lành và giàu lòng xót thương.
Dụ ngôn về “người thợ giờ thứ mười một” làm nổi rõ điều đó. Nếu cứ theo luật công bằng thì những người được mướn vào làm sau thời điểm tảng sáng chắc chắn chỉ đáng nhận được tiền công ít hơn so với người làm từ tảng sáng.
Thế nhưng mọi chuyện thật phi lý khi vào cuối ngày ông chủ gọi từng người đến trả lương. Người làm cuối cùng lại được nhận tiền trước và nhận được số tiền như người làm từ tảng sáng. Chứng kiến việc chủ trả tiền cho những người thợ sau chót, hẳn nhiên những người đầu tiên sẽ phấn khởi mừng vui vì nghĩ mình chắc sẽ được nhiều hơn.
Thế nhưng họ cũng chỉ nhận được một đồng. Và phản ứng bực tức, thất vọng, là điều dễ thấy. Phản ứng này làm chúng ta nhớ lại dụ ngôn về người cha nhân hậu, khi người anh cả cũng phản ứng giận dữ như vậy vì biết cha mình đã tiếp đón linh đình sự trở về của đứa con hư hỏng.
Nhưng dụ ngôn cho chúng ta biết ông chủ không hề đối xử bất công đối với những người thợ làm từ tảng sáng vì ông đã trả cho họ đúng như đã thỏa thuận ban đầu. Câu cuối cùng của dụ ngôn đã làm nổi lời giáo huấn mà Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta : “Tôi muốn cho người làm cuối này như tôi cho anh. Chẳng lẽ tôi không được phép làm điều tôi muốn với tài sản của tôi sao?” Đó là nội dung chính yếu nói lên tấm lòng quảng đại của Thiên Chúa dành cho con người.
Tình thương và lòng quảng đại của Thiên Chúa đã vượt xa suy nghĩ của con người. Điều con người tưởng chừng như không thể tha thứ thì Thiên Chúa đã thứ tha. Anh trộm lành chấp nhận chịu hình phạt do mình đã gây ra và không thể ngờ Thiên Chúa sẽ thứ tha, thì chính Người đã nói với anh : “Ngày hôm nay anh sẽ ở trên thiên đàng với Ta.” Anh là người thợ thứ 11 như trong dụ ngôn mà Chúa đã đưa ra. Anh được hưởng những gì mà người khác nhiều khi đã phải nỗ lực cả đời mới có. Nhưng nói cho cùng thì không ai có thể xứng đáng để vào Nước Thiên Chúa. Hạnh phúc Nước Trời là một ơn ban nhưng không, hơn là một sự trả công cho những gì con người đã cố gắng đạt tới.
Tấm lòng thương xót của Thiên Chúa còn thể hiện qua việc Ngài chờ đợi con người. Tại sao ông chủ lại phải mất công hàng giờ ra chợ tìm kiếm những con người đang đứng chờ vất vưởng ngoài ấy để gọi vào làm vườn nho? Cũng như tại sao người cha nhân hậu lại phải mỏi mòn chờ đợi đứa con hoang đàng trở về, để khi nó vừa về đến thì vội vàng chạy ra ôm chầm lấy nó.
Tất cả là vì tình thương. Tất cả là ở lòng quảng đại bao la của Thiên Chúa muốn ban ơn cứu độ cho con người. Bởi thế con người đừng thất vọng vì nghĩ rằng mình không còn cơ hội để quay về làm hòa với Thiên Chúa. Cũng đừng chán nản vì đứng cả ngày ngoài chợ mà chưa có ai mời vào làm vườn nho Nước Trời. Sẽ có lúc Thiên Chúa sẽ đến và ban tặng ân phúc cho bạn mà bạn không thể ngờ. Thiên Chúa là thế, Ngài là Đấng nhân hậu và lòng nhân hậu ấy vẫn hằng sẵn sàng chờ đợi cho đến phút cuối cùng của cuộc đời chúng ta.
Đối với Chúa điều quan trọng đâu phải là trước sau, mà chính là giây phút hiện tại, là lúc này. Vì thế mọi sự chểnh mảng coi thường, hoặc giữ đạo cơ hội, xu thời sẽ khó có thể được hưởng hạnh phúc với Chúa.
Hơn nữa, chính thái độ khoan dung nhân hậu của Chúa đã mở ra cơ hội cho nhiều người tuy đi sau nhưng lại về trước. Rất có thể họ đã có một quá khứ chẳng mấy tốt đẹp hay đã từng làm nhiều điều bất chính. Nhưng nhờ lòng xót thương của Chúa mà họ đã không chỉ được đứng dậy trở, về mà còn được vinh dự vào làm trong vườn nho của Chúa. Đây từng là câu chuyện của thánh Phêrô và Phaolô tông đồ, các cột trụ của Giáo Hội.
Ước gì mỗi chúng ta, cũng biết nhìn ra tình thương và lòng Thương Xót của Chúa để biết luôn cảm tạ thay cho nghi kỵ ghen ghét, ước gì mỗi người chúng ta nhận ra lòng tốt của Thiên Chúa đang dành cho mình, để chúng ta biết sống tốt với mọi người. Nhất là khi thấy anh em được những điều may lành. Từ đó, chúng ta sẽ không bao giờ có thái độ buông xuôi chán nản mỗi khi có yếu hèn vấp ngã vì chúng ta biết rằng Chúa chúng ta là Đấng nhân hậu từ bi, chậm bất bình và rất mực khoan dung.
Thứ Năm tuần XX Thường niên
Ez 36, 23-28; Mt 22, 1-14
Dụ Ngôn Tiệc Cưới Hoàng Gia
Chúa Giêsu đã chọn bữa ăn như dấu chỉ ưu việt nhất để rao giảng Tin Mừng của Ngài. Nước Trời giống như một tiệc cưới, đây là một trong những hình ảnh được Chúa Giêsu sử dụng nhiều nhất để nói lên niềm vui của Nước Trời. Chúa Giêsu cũng mặc cho bữa tiệc của Ngài một ý nghĩa tượng trưng đặc biệt. Chúng ta chỉ cần nhớ lại tiệc cưới Cana, trong đó Chúa Giêsu đã biến nước thành rượu để khách dự tiệc được tiếp tục cuộc vui. Ngài dự tiệc do Lêvi, do Zakêu và rất nhiều người thu thuế khoản đãi; Ngài đồng bàn với họ, chia sẻ một tấm bánh và uống một chén rượu với họ.
Không những đồng bàn với những người tội lỗi, Chúa Giêsu cũng không từ chối lời mời của những người Biệt phái, những người giàu có. Ngài chia sẻ bữa ăn thân thiết với gia đình Marta, Maria và Lazarô tại Bêtania. Ngài thiết lập Bí Tích Thánh Thể trong bữa ăn cuối cùng của Ngài với các môn đệ. Sau khi sống lại, Ngài ngồi đồng bàn với hai môn đệ trên đường Emmau. Ngài hiện ra trên bờ hồ và chuẩn bị bữa ăn cho các môn đệ, rồi Ngài cùng ăn cùng uống với các ông.
Bữa ăn là nơi thể hiện của những giá trị cao quí nhất trong cuộc sống của con người, như gặp gỡ, hiệp thông, trao ban, chia sẻ, hân hoan. Chính vì ý nghĩa cao quí ấy, Chúa Giêsu đã mượn hình ảnh bữa tiệc để nói lên những thực tại Nước Trời. Ðến đây, chúng ta hiểu được ý nghĩa của hình ảnh chiếc áo cưới mà thực khách phải mặc vào khi dự tiệc cưới. Chiếc áo cưới ấy chính là tâm tình gặp gỡ, chia sẻ, trao ban, hân hoan mà con người phải mặc lấy để thuộc về Nước Trời.
Để trả lời cho những người muốn biết Nước Trời ở đâu, Chúa Giêsu đã dạy: “Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông” (Lc 17, 21). Như vậy, mỗi gia đình, cộng đoàn hay bất cứ tập thể nào cũng có thể trở thành thiên đàng hay hỏa ngục. Có người đã nằm mơ thấy mình được dự hai bữa tiệc: một tiệc trên thiên đàng và một tiệc trong hỏa ngục và thuật lại sự khác biệt giữa hai nơi như sau:
Cả hai bàn tiệc trên thiên đàng hay dưới hỏa ngục đều có đầy thức ăn ngon, và mỗi người đều được phát một đôi đũa. Có điều các đôi đũa đều dài quá khổ, đến nỗi tuy người ngồi ăn có thể gắp được đồ ăn trên bàn, nhưng lại không sao đưa được đồ ăn vào miệng của mình.
Trong bàn tiệc trên thiên đàng thì mọi người đồng bàn đều có lòng vị tha bác ái, nên biết quan tâm đến người khác và muốn làm vui lòng người khác, nên họ gắp đồ ăn phục vụ cho nhau, nên mọi người đều được ăn no và không khí bàn tiệc rất vui vẻ bình an và hạnh phúc. Ngược lại, tại bàn tiệc trong hỏa ngục thì mọi người đều ích kỷ chỉ nghĩ đến bản thân. Vì không thể tự gắp đồ ăn cho mình, và do thói ganh tị nên họ cũng không muốn phục vụ người khác, nên mọi người đều bị đói và thù ghét đánh lộn nhau. Kết quả là người thì đau khổ khóc lóc, kẻ lại nghiến răng giận hờn.
Nhà vua trong dụ ngôn hôm nay chắc chắn là cảm thấy bị mất mặt, thậm chí bị xúc phạm nặng nề. Dọn tiệc cưới cho con, nhưng khách mời lại không chịu đến. Để cứu vãn tình hình, ông đành ra lệnh mời tất cả mọi người ngoài đường phố vào dự tiệc. Tuy nhiên, trong số những khách được mời bất chợt này vẫn có người không chịu mặc y phục thích hợp được chuẩn bị cho lễ cưới. Ông buộc phải ra lệnh tống người đó ra ngoài. Tiệc cưới cho hoàng tử, nhưng niềm vui của vua đã không được trọn vẹn vì khách mời đã coi thường bữa tiệc vui quan trọng này.
Dưới con mắt người đời, chương trình của Thiên Chúa tưởng chừng bị phá hủy. Nhưng trái lại Tin Mừng ấy, bữa tiệc Nước Trời ấy lại được mở rộng và mời đón hết mọi người khắp nơi vào dự tiệc. Và chính con cũng đang được hưởng tình thương và ân sủng vô giới hạn của Chúa. Con được gia nhập vào Hội Thánh, được trở thành con cái Thiên Chúa nhờ bí tích Thánh Tẩy. Con được giữ tiệc Nước Chúa hằng ngày mỗi khi dự thánh lễ. Ngay cả khi trở về đời sống thường nhật cũng là lúc con đang sống bữa tiệc ấy. Chúa muốn niềm tin của con phải bao trùm trọn cả đời sống con. Chiếc áo cưới mà Chúa trao cho con khi rửa tội thật đẹp, thật tinh tuyền. Chúa muốn con sống đức tin và gìn giữ chiếc áo cưới để con mặc ra đón Chúa trong ngày Chúa đến.
Vào ngày chúng ta được rửa tội, chúng ta đã được mặc một áo trắng, và vị chủ lễ đã chúc chúng ta giữ cho nó được tinh tuyền cho đến ngày Phán xét. Nếu chúng ta đã làm hoen ố bộ áo rửa tội này, chúng ta vẫn có thể đến trình diện trước tòa của lòng từ bi thương xót, đo là bí tích hòa giải. Tại đây Chúa Giêsu lại giặt sạch bộ áo cưới của chúng ta và lại mời chúng ta vào tham dự bữa tiệc vương giả của Người, trong niềm vui của tình thân mật đã tìm lại được.
Như thế, cũng đừng bao giờ tự hào rằng mình đã “tới nơi”, cũng đừng phê phán ai. Không phải vì ta đang “ở trong” mà ta đã được bảo đảm, và có quyền xét đoán những người “ở ngoài”, những người chưa biết mà đi vào, hoặc thậm chí những người đã từ khước. Cho dù có ở trong Hội Thánh hay Nước Thiên Chúa, chúng ta vẫn chỉ là “khách được mời”, do ân huệ nhưng không.
Thứ Sáu tuần XX Thường niên
Ez 37, 1-14; Mt 22, 34-40
YÊU THƯƠNG LÀ CHU TOÀN LỀ LUẬT
Mở đầu bài Tin Mừng, thánh sử nêu lý do và dẫn vào nội dung vấn đề tranh luận giữa Chúa Giê-su và người Pharisiêu. Người Pharisiêu họp nhau lại để tìm lý lẽ đối chất với Chúa Giêsu. Họ không công nhận một con người có xuất xứ tầm thường, chỉ là: con bác thợ mộc, làng Nagiaret lại có một sự uyên thâm, hiểu và cắt nghĩa luật như vậy.
Họ cử một người trong nhóm nổi tiếng là thông thạo lề luật đặt vấn đề với Chúa Giêsu, cốt để thử tài của Ngài "Trong sách luật Môsê, điều răn nào là điều răn trọng nhất?". Luật Môsê có hàng mấy trăm khoản luật với những chi tiết tỉ mỉ. Nhưng ở đây, họ muốn dò hỏi Đức Giêsu đâu là điều cốt lõi được coi là quan trọng nhất. Vì khi ta xem điều răn nào là trọng, chứng tỏ lòng ta quan tâm đến điều đó và cuộc sống của ta sẽ thực hiện theo chiều hướng đó.
Chúa Giêsu đáp không chút lưỡng lự hay đắn đo cân nhắc. Ngài nói tự trái tim, từ con người, từ cuộc sống của Ngài "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi". Chúa nói về tình yêu, ngôn ngữ của trái tim. Cách giữ luật bằng lòng mến chứ không do sợ hãi, giữ luật với tự do chứ không bị ép buộc.
Luật tình yêu chắp cánh cho người giữ luật vươn lên, chứ không phải là cái ách, cái gông họ đeo vào cổ. Yêu mến ai? Yêu mến Đức Chúa. Đức Chúa nào? Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi. Ngài là Thiên Chúa của Ápraham, của Isaac và của Giacop, là Thiên Chúa của các tổ phụ, của cha ông các ngươi. Yêu mến thế nào? Yêu hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn. Nghĩa là tình yêu đối với Chúa phải đặt trên hết mọi sự, trên cả thân xác, lý trí, linh hồn. Yêu bằng cả con người, cả hồn và xác. Yêu trọn vẹn, yêu cách tuyệt đỉnh, chứ không nửa vời, để lại một phần cho bản thân hay cho điều gì khác.
Đây là cách yêu triệt để, một lối giữ luật triệt để theo Tin Mừng và như lòng Chúa mong ước. Thiên Chúa yêu ta hết mực. Ngài yêu đến nỗi thí mạng Người Con duy nhất vì chúng ta. Ngài yêu đến nỗi sống với, sống cùng và chết đền tội thay cho chúng ta. Ngài yêu đến nỗi hiến mình trong bí tích Thánh Thể làm của ăn nuôi sống chúng ta và ở cùng chúng ta cho đến tận thế. Ngài yêu triệt để nên có quyền yêu cầu chúng ta đáp lại mối tình ấy một cách triệt để : Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi.
Sau khi trả lời cho họ, Chúa Giêsu còn nhấn mạnh: "Đó là điều răn trọng nhất và là điều răn thứ nhất". Nếu đã nói điều răn thứ nhất, tất phải có điều răn thứ hai. Chúa tiếp: "Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình". Chúa không để chúng ta yêu mơ hồ, yêu bóng.
Vì chúng ta sẽ dễ dàng nói yêu Thiên Chúa, là Đấng không thấy, nên Ngài đưa ra một hình ảnh cụ thể để minh chứng tình yêu của ta đối với Thiên Chúa, đó là yêu người. Yêu người nào? Người thân cận. Người anh em đang sống với, sống cùng chúng ta, như Đức Giêsu đã trả lời cho một người hỏi Ngài rằng: Ai là anh em tôi? qua dụ ngôn người Samaritano nhân hậu. Vậy anh em của ta là người thân cận, người mà ta gặp hàng ngày, sống chung mái nhà, cùng hít thở bầu không khí…
Sau cùng, Chúa Giêsu tóm kết "Tất cả luật Môsê và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy". Như vậy các ngôn sứ và ngay cả Môsê đều đi đúng hướng theo luật Thiên Chúa. Luật ấy, lúc này đây, đang được thực hiện nơi con người Giêsu.
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường quên đi điều chính mà chỉ chú ý điều phụ; quên đi điều cốt lõi mà chỉ loanh quanh những điều vụn vặt, vô nghĩa; nên cuộc đời ta cứ loay hoay, không xác định rõ hướng đi cho cuộc đời mình. Như người Pharisiêu xưa, chúng ta chỉ chú ý đến cái vỏ bên ngoài mà quên điều cốt tủy bên trong. Nhiều khi chúng ta lại dùng những luật lệ vụn vặt làm khổ người khác. Chúng ta đã dùng luật do con người tự tạo để phá bỏ luật Thiên Chúa, luật tình yêu. Thậm chí có lúc chúng ta nhân danh luật để kết án người công chính như dân Do Thái đã đối xử với Đức Giêsu xưa kia.
Tin Mừng hôm nay nhắc lại cho chúng ta ơn gọi cao cả của con người. Trả lời cho thắc mắc của luật sĩ, Chúa Giêsu đã thu tóm tất cả lề luật thành một giới răn duy nhất là mến Chúa và yêu người. Hai mệnh lệnh này là một giới răn duy nhất, bởi vì không thể kính mến Chúa mà lại ghét bỏ hình ảnh của Ngài là con người, cũng như không thể yêu thương con người mà lại không nhận ra và yêu mến Thiên Chúa là nguồn mạch tình yêu chân thật.
Tách biệt hai mệnh lệnh ấy là chối bỏ tình yêu. Các luật sĩ và các biệt phái thời Chúa Giêsu quả là những người đạo đức: họ ăn chay, cầu nguyện và tỏ ra yêu mến Thiên Chúa hơn ai hết; thế nhưng Chúa Giêsu đã điểm mặt họ là những kẻ giả hình, bởi vì lòng yêu mến Chúa nơi họ không được thể hiện bằng tình yêu đối với tha nhân. Chúa Giêsu còn gọi họ là những mồ mả tô vôi, bên ngoài thì bóng loáng, nhưng bên trong thì thối rữa. Có thể so sánh thái độ giả hình ấy với một người máy: người máy có thể làm được nhiều cử chỉ ngoạn mục, nhưng không có một tâm hồn để yêu thương thực sự.
Yêu thương là kiện toàn lề luật; yêu thương là cốt lõi, là linh hồn của Ðạo. Ði Ðạo, sống Ðạo, giữ Ðạo, xét cho cùng chính là yêu thương; không yêu thương thì con người chỉ còn là một thứ người máy vô hồn. Thánh Gioan Tông đồ, người đã suốt đời sống và suy tư về tình yêu, vào cuối đời, ngài đã tóm gọn tất cả thành một công thức: "Thiên Chúa là Tình Yêu", và ngài dẫn giải: "Ai nói mình yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em thì đó là kẻ nói dối, bởi vì kẻ không yêu thương người anh em nó thấy trước mắt, tất không thể yêu mến Ðấng nó không thấy".
Thứ Bảy tuần XX TN
Mt 23, 1-12
TRÁNH LỐI SỐNG GIẢ HÌNH
Nói và làm là hai hành động hoàn toàn khác nhau. Nói là bộc lộ những điều chúng ta nghĩ ra, còn làm là thực hiện những gì chúng ta nói. Từ suy nghĩ đi ra hành động là một con đường dài đằng đẵng mà mọi người vẫn ví von với nhau: con đường dài nhất là từ cái đầu tới bàn tay. Đoạn Lời Chúa hôm nay đã làm nổi bật sự cách biệt giữa lời nói và hành động của các Thầy Pharisêu. “Họ chất lên vai anh em mình những gánh nặng mà chính họ cũng không vác nổi”. Nhưng Chúa Giê su lại dạy chúng ta rằng: “tất cả những gì họ nói thì anh em hãy làm, hãy giữ.”
Có những người sống rất khuôn phép luật lệ và cứng nhắc, nhưng lại không thành thực. Chúa Giêsu lên án gay gắt những người như thế, vì họ sống giả hình. Có những người sống cứng nhắc và đồng thời sống hai mặt: bề ngoài mà mọi người nhìn thấy thì đẹp đẽ, nhưng khi không ai thấy, thì họ lại làm những điều xấu xa. Cũng có nhiều bạn trẻ bị cuốn vào vòng cám dỗ của lối sống cứng nhắc như thế.
Đã có rất nhiều lần trong Tin Mừng, Chúa Giêsu lên án thói đạo đức giả. Tiêu biểu cho lối sống này là người Pharisêu cùng với những luật sĩ, giới lãnh đạo Do thái. Họ rất chuộng lối sống hình thức, họ cố gắng chăm chút cho vẻ bề ngoài bằng cách giữ tỉ mỉ mọi luật lệ. Đây không phải là lý do Chúa Giêsu khiển trách họ. Lý do khiến Chúa Giêsu lên án là thái độ của họ trong việc giữ luật. Họ giữ luật không phải vì muốn mình nên hoàn thiện, càng không phải vì yêu mến Đấng ban Lề Luật, nhưng họ giữ luật cốt để lấy cớ bắt chẹt người khác, họ nại vào luật mà kết án tha nhân.
Đã không ít lần Chúa Giêsu khiển trách họ bằng những lời lẽ rất nặng nề “khốn cho các người” (x. Mt 23; Lc 11). Thậm chí Ngài thẳng thắn nói họ như những “nấm mồ tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế” (Mt 23,27). Điều này cho thấy Chúa không ưa gì những kẻ đạo đức giả, thích hình thức mà coi thường tâm tình yêu mến. Quả là điều bất hạnh cho những người chuộng hình thức, vì mải mê tô vẽ cho hình thức bề ngoài mà họ quên mất Thiên Chúa là Đấng thấu suốt những gì kín đáo, Ngài nhìn thấu tận đáy lòng con người.
Chúa Giêsu gọi các Kinh-sư và Biệt-phái là những hạng người này: "Khốn cho các ngươi, hỡi các Kinh-sư và Biệt-phái giả hình! Các ngươi khoá cửa Nước Trời không cho thiên hạ vào. Các người đã không vào, mà những kẻ muốn vào, các ngươi cũng không để họ vào. Khốn cho các ngươi, hỡi các Kinh-sư và Biệt-phái giả hình! Các người nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ, cho nên các người sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn.”
Kinh-sư và Biệt-phái khóa cửa Nước Trời bằng lối sống giả hình. Làm sao họ có thể vào Nước Trời bằng giữ chi li bao lề luật không cần thiết mà bỏ quên biết bao điều quan trọng của Luật như công bằng, nhân từ và trung tín? Và nếu dân chúng cũng tin họ và làm như thế thì cũng chẳng được vào Nước Trời.
Các Kinh-sư và Biệt-phái là những người làm luật và thông luật. Họ biết cách phiên dịch luật sao cho trắng hóa đen, đúng hóa sai, bằng cách thêm bớt hay tìm chỗ sơ hở của lề luật. Một ví dụ Chúa Giêsu đưa ra hôm nay về việc chỉ Đền Thờ mà thề. Luật dạy khi đã chỉ Đền Thờ, nơi Thiên Chúa hiện diện, thì phải giữ lời thề đó bằng bất cứ giá nào. Nhưng các Kinh-sư và Biệt-phái tìm cách làm cho lời thề đó không phải giữ bằng cách lý luận loanh quanh.
Trong khi lên án các Kinh sư và Biệt phái về thái độ bất nhất trong lời nói và việc làm, Chúa Giêsu dạy các môn đệ và dân chúng phải nhất quán trong lời nói và hành động của mình. Lời nói có khả năng thuyết phục người khác, nhưng chính hành động mới làm cho lời nói trở nên giá trị và đáng tin. Chúa Giêsu đã chứng minh điều này trong cuộc đời rao giảng của Người. Dân chúng không chỉ ngưỡng mộ, bị thu hút vì Chúa Giêsu giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền, mà còn dám tin tưởng và dấn thân theo Chúa bởi những hành động của Người như chữa lành bệnh tật, trừ quỷ, tha tội, cho kẻ chết sống lại…
Không ai có thể phủ nhận giá trị của lời nói. Có những lời nói hết sức cần thiết mà nếu không nói, chúng ta có thể mắc lỗi. Đó là những lời chúc mừng, những lời chia sẻ, an ủi, động viên, khích lệ, và cả những lời sửa dạy nữa. Tuy nhiên, nếu chỉ nói mà không làm hoặc làm ngược lại những điều mình nói thì không những chúng ta trở thành những kẻ nói dối, mà còn đánh mất niềm tin nơi người khác. Chính hành động sẽ minh chứng cho lời nói, bởi vì: “lời nói lung lay, gương bày lôi kéo”. Như vậy, lời nói phải đi đôi với việc làm thì mới sinh nhiều hoa trái thánh thiện.
Cuộc sống hôm nay, người người phải đương đầu với một thách đố và hoang mang rất lớn là “đồ giả”. Nhiều sự vật, với một cái võ bọc thật đẹp đẽ bắt mắt che đậy cái không thật chất bên trong của rất nhiều sự vật: bằng giả, thuốc giả, thức ăn giả, người giả...Đời sống nội tâm cũng thế, tâm hồn trống rỗng, không có chiều sâu, kinh nghiệm sống thiêng liêng hời hợt, người ta thường tìm cách khỏa lấp những yếu kém nội tâm của mình bằng những lối sống giả hình, bằng những lời nói khoác lác phô trương. Thường vì thiếu tự tin và không đủ khẳng định thực chất bên trong, người ta thường có khuynh hướng tạo một lớp võ đạo mạo bên ngoài:“ làm cốt để cho người ta thấy, nới rộng thẻ kinh, may dài tua áo, thích ngồi chỗ nhất ưa bái chào...”
Chúa Giêsu không chỉ kết án thái độ giả hình của những biệt phái, mà còn kêu gọi mọi người hãy đề phòng thái độ giả hình ấy. Giả hình là căn bệnh chung của tất cả những ai mang danh Kitô. Thật thế, nếu giả hình là tách biệt giữa niềm tin và cuộc sống, thì có ai trong chúng ta dám tự phụ mình không rơi vào một thái độ như thế? Giả hình vẫn là cơn cám dỗ cơ bản và triền miên trong cuộc sống người Kitô hữu. Khi căn tính Kitô chỉ là một danh xưng mà không được thể hiện trong cuộc sống hàng ngày, khi sinh hoạt tôn giáo chỉ đóng khung trong bốn bức tường nhà thờ, khi lòng đạo đức được thúc đẩy bởi khoe khoang, tự phụ, khi cuộc sống đạo không là lối sống về niềm tin, mà là trở ngại cho nhiều người đến với Chúa và Giáo Hội, phải chăng đó không là một cuộc sống giả hình?
Sống giả hình là tự đánh mất dần nhân cách là mình, và sống vong thân vì không tự tin thể hiện là chính mình, mà chỉ sống gượng và che đậy chính mình và như thế đánh mất niềm tin, sự quý trọng của mọi người dành cho mình. Sống giả hình không chỉ làm ảnh hưởng đến cá nhân, mà còn làm lẫn lộn những giá trị đạo đức, khiến cho thật giả bất phân, làm suy đồi văn hóa xã hội và gây nhiều hậu quả khôn lường khác.
Hue Minh
THỨ BẢY TUẦN 20 THƯỜNG NIÊN,
22.8 ĐỨC MARIA NỮ VƯƠNG
Thứ Bảy
Is 9, 1-6 ; Lc 1, 26-38
ĐỨC MAIRIA NỮ VƯƠNG
Đức Pius XII đã thiết lập lễ này vào năm 1954 để đáp ứng niềm tin truyền thống đồng tâm nhất trí vào Đức Maria Nữ Vương, Mẹ Vua các vua và Chúa các chúa. Trong thực tế củua cuộc đời, ta thấy mọi ân sủng ban xuống cho chúng ta đều qua sự trung gian của Mẹ chí thánh, Nữ Vương gần gũi nhất của mọi người. Việc tôn vinh Mẹ là Nữ Vương mọi thụ tạo liên hệ mật thiết với sự kiện Mẹ lên trời hồn xác. Với tất cả tâm tình đó, chúng ta chiêm ngắm sự kiện tuyệt vời này trong mầu nhiệm thứ Năm mùa Mừng.
Mẹ Chúa Kitô được tôn vinh làm ‘Nữ Vương vũ trụ nhưng với lòng khiêm hạ, Mẹ tự nhận là ‘nữ tì của Thiên Chúa’ trong ngày Truyền Tin, và Mẹ vẫn trung thành với danh xưng này suốt cả cuộc đời trần gian của Mẹ.
Qua tâm tình và xác tín đó, ta thấy Mẹ nhìn nhận mình là ‘môn đệ’ đích thực của Chúa Kitô, Đấng đã tuyên bố sứ mạng đến để phục vụ của Người: ‘Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người’ (Mt 20:28).
Như vậy, ta thấy Đức Maria trở thành người đầu tiên, ‘phụng sự Chúa Kitô trong tha nhân, một cách khiêm nhượng và nhẫn nại, để hướng dẫn anh chị em mình đến cùng Đức Vua, Đấng mà phụng sự Người là cai trị’ (Lumen gentium, 36), và Mẹ đã hoàn toàn đạt đến sự tự do vương giả riêng của các môn đệ Chúa Kitô. Phụng sự Chúa Kitô là cùng cai trị với Người… ‘Vinh quang trong phục vụ’ của Mẹ hoàn toàn phù hợp với địa vị vương giả cao sang của Mẹ. Được đưa về trời, Mẹ không ngừng phục vụ vì phần rỗi của chúng ta.
Tín điều Mẹ hồn xác lên trời mà chúng ta mừng kính tuần trước tự nhiên đưa đến ngày lễ chúng ta mừng kính hôm nay, lễ Đức Maria Trinh Nữ Vương.
Mẹ Marra về trời để được Thiên Chúa Ba ngôi chí thánh tôn phong làm nữ vương toàn thể vũ trụ. Được gìn giữ tinh sạch khỏi mọi vết tội nguyên tổ, và sau khi hoàn tất cuộc đời dưới thế, Đức Nữ Trinh Vô Nhiễm đã được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác, và được Thiên Chúa tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ, để nên giống Con Ngài trọn vẹn hơn, là Chúa các chúa, Đấng đã chiến thắng tội lỗi. Chân lý này đã được xác quyết từ ngàn xưa nơi lòng đạo đức của các tín hữu, và được Huấn Quyền Giáo Hội rao truyền. Thánh Ephraim đã đặt những lời tuyệt diệu này trên môi miệng Mẹ Maria: Trời đất hãy ôm ấp tôi, bởi vì tôi được tôn vinh trên cả tầng trời, tầng trời chỉ là ngai toà của Người, chứ không phải là mẹ của Người. Dĩ nhiên, Mẹ của đức vua thì đáng vinh dự và tán dương hơn ngai toà của Người rất nhiều!
Việc tôn vinh Mẹ Maria làm Nữ Vương qua việc đội vương miện các tượng ảnh của Mẹ đã được sự chuẩn nhận công khai của nhiều vị Giáo Hoàng. Ngay từ những thế kỷ đầu, nghệ thuật Kitô Giáo đã trình bày Đức Maria như Nữ Vương và Bà Chúa, chung quanh ngai toà có các thiên thần chầu kính, với tất cả những huy hoàng xứng bậc mẫu nghi. Đôi khi, người ta còn trình bày Mẹ được Chúa Con đôäi triều thiên. Các tín hữu từ ngàn xưa đã đến nương nhờ Mẹ như Nữ Vương, thể hiện qua những kinh như kinh Salve Regina, kinh Ave Regina Caelorum, và kinh Regina Coeli.
Chúng ta hãy thường xuyên đến nương nhờ sự chở che của Mẹ, bằng cách nhắc nhớ cho Mẹ về tước hiệu vương giả cao sang này. Chúng ta hãy suy gẫm mầu nhiệm thứ Năm mùa Mừng của chuỗi Mân Côi. Hôm nay, trong giờ cầu nguyện và suốt ngày sống, chúng ta hãy làm điều ấy một cách đặc biệt: Mẹ là Toàn Mỹ, không hề vương chút bợn nhơ. Mẹ là vườn khép kín, là chị, là hiền thê, và vườn rào kính, là suối niêm phong. ‘Veni: conronaberis… Hãy đến: Ngài sẽ được đội triều thiên’ (Dc 4:7, 12; 8).
Một điềm lạ vĩ đại xuất hiện trên trời: Một người nữ đội trên đầu mười hai ngôi sao, mặc mặt trời, và đạp mặt trăng dưới chân (Kh 12:1). Đức Maria, Trinh Nữ Vô Nhiễm, đã bù đắp lại sự sa ngã của Eva: Mẹ đã đạp dập đầu rắn hoả ngục bằng gót chân vô nhiễm của Mẹ. Nữ Tử Thiên Chúa, Mẹ Thiên Chúa, Hiền Thê của Thiên Chúa… Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần đã tôn vinh Mẹ làm Nữ Vương vũ trụ. Và các thiên thần - như những thần dân - suy phục Mẹ, các thánh tổ tông, các thánh tiên tri, các thánh tông đồ, các thánh tử vì đạo, các thánh hiển tu, và thánh đồng trinh và toàn thể các thánh… và toàn thể các tội nhân, cả bạn và tôi nữa, hãy tán dương Mẹ.
Chúng ta đọc trong bài Phúc Âm hôm nay: Này Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai báu vua Đavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.
Vương quyền cao sang của Đức Maria được gắn liền chặt chẽ với vương quyền của Con Mẹ. Chúa Giêsu Kitô là Vua vì Người có quyền toàn vẹn, riêng biệt, và tuyệt đối, trong trật tự tự nhiên cũng như siêu nhiên. Vương quyền của Đức Maria cũng vậy: phát xuất từ Con của Mẹ. Các tước hiệu Nữ Vương và Bà Chúa dành cho Đức Thánh Trinh Nữ không phải là những tước hiệu bóng bẩy. Qua những tước hiệu này, chúng ta nhìn nhận một địa vị ưu việt, một phẩm giá và quyền năng đích thực của Mẹ trên trời cũng như dưới đất. Là Mẹ của Đức Vua, Đức Maria thực sự và đúng là Nữ Vương. Mẹ là đỉnh cao trên mọi thụ tạo, và là con người vượt trên mọi người. Thiên Chúa Toàn Năng đã đặt Mẹ vượt trên mọi thần thánh, và đổ tràn trên Mẹ tất cả ân sủng trên trời, những ân sủng từ kho tàng châu báu của Thiên Chúa, để Mẹ được miễn khỏi mọi tì ố tội lỗi. Mẹ toàn mỹ và hoàn hảo. Mẹ không thể phạm tội và thánh thiện không thể tìm được một nơi nào khác, ngoài Thiên Chúa, và không ai, trừ Thiên Chúa, có thể hiểu thấu.
Đức Maria được tôn làm Nữ Vương vì mối liên kết hợp nhất với Chúa Kitô trong tư cách là hiền mẫu, như lời sứ thần Gabriel đã tuyên xưng, và vì sự cộng tác của Mẹ trong công trình cứu độ thế giới của Con Mẹ. Với nguyên nhân thứ nhất, Mẹ là Nữ Vương vì là hiền mẫu của Đức Vua, Đấng là Thiên Chúa, nên Mẹ được tôn vinh trên mọi thụ tạo. Với nguyên nhân thứ hai, Mẹ là Nữ Vương vì Mẹ ban phát các kho tàng và thiện ích trong nước Chúa qua vai trò cộng tác trong công trình cứu độ.
Khi thiết lập ngày lễ này, Đức Pius XII đã mời gọi tất cả các tín hữu hãy đến ngai toà ân sủng và xót thương của Nữ Vương và Mẹ chúng ta, để nài xin Mẹ phù trợ trong những nghịch cảnh, ban ánh sáng trong lúc tối tăm, và nâng đỡ giữa khổ đau. Ngài khuyến khích mọi người hãy nài xin ơn Chúa Thánh Thần, ra sức gớm ghét tội lỗi, và thoát ly cảnh nô lệ, để có thể dâng lên Đức Nữ Vương, từ mẫu tuyệt vời, một tâm hồn luôn luôn vâng phục và thơ thảo yêu mến.
Vậy chúng ta hãy đến ngai toà ân sủng với niềm tín thác, để nài xin lòng thương xót và tìm ơn thánh trong những khi cùng quẫn. Như thế, ngai toà Nữ Vương của Mẹ là biểu hiện quyền bính của Chúa Kitô. Chúa muốn Mẹ Người là một ngai toà ân sủng, nơi chúng ta dễ dàng tìm được sự cảm thông, bởi vì Chúa ban Mẹ Người để làm trạng sư ân sủng cho chúng ta và Nữ Vương của mọi thụ tạo.
Hôm nay, chúng ta nhìn về trời để mừng kính Thiên Chúa Ba Ngôi đã nâng Mẹ lên ngai cao sang. Thật chính đáng việc Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần đã tôn vinh Đức Trinh Nữ, Mẹ của chúng ta, làm Nữ Vương và Bà Chúa của toàn thể tạo vật.
Và mỗi người chúng ta phải cậy nương quyền thế của Mẹ. Với lòng bạo dạn của một con trẻ, bạn hãy hợp mừng lễ này với thiên đàng. Về phần tôi, tôi không có viên bích ngọc nào hoặc nhân đức nào để kính dâng, nên tôi xin tôn vinh Mẹ Thiên Chúa và cũng là Mẹ tôi bằng những sa ngã của tôi, sau khi chúng đã được tẩy rửa.
Mẹ chờ mong một điều gì đó nơi bạn. Mẹ đang mong đợi và muốn chúng ta hãy chung vui với các thiên thần và các thánh. Chúng ta có quyền được mừng chung một ngày đại lễ như thế, vì chúng ta là con của Mẹ. Và chuyện quan trọng nhất là mỗi người chúng ta hãy sống với niềm tin tưởng và xác tín của ta là Mẹ là Trinh Nữ Vương của đời ta.
August 22, 2020