Suy Niệm của Huệ Minh
Chúa nhật 21 thường niên, năm A và ngày trong tuần
27.8.2023 Chúa Nhật 21 TN, năm A-2023
Is 22:19-23; Tv 138:1-2,2-3,6-8; Rm 11:33-36; Mt 16:13-20
Tuyên xưng niềm tin
Nhìn vào bối cảnh dân Israel thời của Chúa Giêsu, chúng ta thấy toàn dân đang trông chờ một Đấng Mêsia. Đến khi Chúa Giêsu xuất hiện với những lời giảng dạy mới mẻ, đầy quyền năng, thì dân chúng lầm tưởng Người là Gioan Tẩy Giả, là Êlia hoặc là một ngôn sứ thời xưa đã sống lại. Chúa Giêsu không quan tâm đến việc dân chúng nghĩ gì về mình mà chỉ nhằm đến các môn đệ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”. Phêrô liền tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Câu trả lời đúng như Chúa Giêsu muốn, nhưng Ngài cho biết, không phải tự ông biết điều đó, mà do Chúa Cha mạc khải.
Tin Mừng cho chúng ta xác tín sâu xa về Giáo Hội trần thế mà Chúa Giêsu đã thiết lập, là con đường đưa tới Nước Trời. Bảo rằng mình có thể đi tới với Đức Kitô mà không cần đến Giáo Hội là liều lĩnh, đưa tới nguy cơ lần đường lạc lối. Làm như thế là xây dựng cho mình một Đức Kitô theo tầm mức của mình, là tưởng tượng ra một Đức Chúa cho vừa vặn với lòng dạ mình, là từ khước Đức Giêsu như Người đã tự mạc khải cho chúng ta.
Dư luận nói Thầy là ai ? Phần các con, các con bảo Thầy là ai ? Chắc chắn không ai nghĩ là Thầy Giêsu có ý thăm dò đám đông để biết Thầy nổi tiếng tới đâu, hoặc có ý đong đo sự nhạy bén nơi các học trò. Đúng, Thầy muốn nói với muôn thế hệ về giá trị tình yêu, Thiên Chúa sẽ thông ban cho nhân loại qua các môn đệ của Ngài. Ở đời người ta cho rằng, thành công không hệ tại giầu sang địa vị, cũng không phải có con cháu xinh đẹp, tài giỏi, chung chung, họ vẫn quan niệm thành công là phải có bầu khí bình an, niềm vui, các thành viên gia đình đều chu toàn được bổn phận và trách nhiệm. Chúa Giêsu đã cho các môn đệ, cho con cái loài người xác tín, chính Phêrô đã phản ứng nhanh nhất trong số các học trò, không phải vì Phêrô tài giỏi đức độ, mà do ông được yêu thương nhiều hơn.
Câu trả lời vô thưởng vô phạt: hình như, có thể, có lẽ, bao giờ cũng chỉ là câu đối đáp xã giao, vậy vậy thôi. Nói được những lời ngọt ngào yêu thương trên môi miệng, đã là thành công đối với con người mang tính giới hạn rồi. Chúa Giêsu ngay từ ban đầu, Ngài đã muốn các môn đệ theo Chúa phải chứng minh bằng sức mạnh của ý chí, của con tim, đặc biệt phải ý thức đó là tình yêu của Chúa Cha soi sáng. Đọc lại diễn tiến cuộc đối thoại giữa tình Thầy trò Giêsu, thiết tưởng các học trò bị bất ngờ với câu hỏi khó: “phần các con, các con bảo Thầy là ai ?”. Xem ra, Thầy Giêsu phải ngạc nhiên vì một ngư phủ mang tên Phêrô đã phản ứng thật chính xác: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.
Ở đời, người ta chỉ vội vàng không để vụt mất cơ hội làm giầu, không bỏ lỡ cơ hội để được nổi tiếng: phúc bất trùng lai, dịp may, điều thuận lợi, đến rất ít, do đó phải biết tận dụng. Chúa Giêsu thì không trì hoãn niềm vui cho Phêrô, cho các học trò: “hỡi Simon con ông Giona, con có phúc, vì chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Sau khi công bố về ơn ban đặc biệt mà Phêrô đã nhận biết Đấng Kitô Con Thiên Chúa, Thầy Giêsu đã lập Hội Thánh trên nền đá Phêrô, trên sự bé nhỏ hèn mọn, khác với sự thông thái khôn ngoan như các luật sĩ biệt phái. Ngay tự ban đầu, chắc chắn Phêrô đã mập mờ, không hiểu được hết giá trị của tình yêu và trách nhiệm với sứ vụ vừa được trao ban. Phêrô đã lấy tư cách vị trí đứng đầu trong nhóm 12, trấn an, can ngăn Thầy, và Thầy Giêsu đã quở trách, nhắc ông: Phêrô, hãy đi đằng sau Thầy. Dao sắc không gọt được chuôi ; áo mặc sao qua khỏi đầu ?
Mỗi ngày, từng người trong chúng ta vẫn đang tuyên xưng và xác tín niềm tin vào Thiên Chúa bằng việc tham dự Thánh lễ, chu toàn công việc hằng ngày trong tình bác ái, cùng yêu thương giúp đỡ mọi người. Nhưng đôi khi, chúng ta vẫn có những giây phút khước từ Thiên Chúa, vì chúng ta là con người thật và đầy yếu đuối trước mọi cám dỗ. Dầu vậy, mỗi ngày, Đức Giêsu vẫn yêu thương và mời gọi chúng ta hãy sống lời tuyên xưng của mình qua việc ăn năn sám hối mỗi khi lỡ lầm. Chính khi chúng ta nhận ra lỗi lầm của bản thân, biết đặt niềm tin tưởng vào Chúa và bắt đầu lại từ đầu, đó là sức mạnh cho chúng ta vững tin và nói được Thiên Chúa là ai đối với mình.
Thiên Chúa là ai mà tôi nên tin? Đó là nghi vấn người ta vẫn luôn đặt ra ở mọi thời đại. Người vô thần cho rằng người hữu thần (cụ thể là Kitô hữu) chỉ ảo tưởng và mơ hồ, nhẹ dạ, nên bị tôn giáo “ru ngủ” và mê hoặc. Người ta luôn muốn dùng các tiến bộ khoa học hoặc bất cứ thứ gì khác để chứng minh rằng “không có Thiên Chúa,” nhưng tất cả đều vô vọng. Đức Tin cần có lý trí, nhưng phải là lý trí trong suốt, dùng lý trí để cố ý chối bỏ và không tin thì hoàn toàn bất trị – ngôn ngữ @ gọi là bó tay chấm com. Người vô thần càng cố tìm cách chối bỏ Thiên Chúa thì chỉ gặp ngõ cụt, những người tin có kiếp luân hồi cũng bế tắc.
Thật vậy, một Saolê giỏi giang và bạo tàn đến thế mà rồi cũng đành phải “bó tay” trước Thiên Chúa để trở nên một con người hoàn toàn khác, một Phaolô thuần hóa và nhiệt thành rao giảng Chúa Giêsu Kitô chịu chết và phục sinh.
Khi ở trong chốn lao tù, ngôn sứ Gioan đã sai đệ tử đến gặp Chúa Giêsu và hỏi xem Ngài có phải là Đấng phải đến hay còn phải đợi ai khác. Ngài không trả lời rõ ràng mà chỉ nói: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.” (Mt 11, 4-6) Dấu chỉ sự thật mãi mãi bất biến, nếu không nhận ra bởi vì người ta cố ý nhắm mắt, cố chấp.
Khi xét xử Chúa Giêsu, vị thượng tế cũng hỏi Ngài: “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Kitô Con Thiên Chúa không?” (Mt 26, 63; Mc 14, 61) Chúa Giêsu cũng không xác định mà lại nói: “Chính ngài vừa nói.” (Mt 26, 64) Theo Thánh Luca, Chúa Giêsu nói rõ: “Tôi có nói với các ông, các ông cũng chẳng tin; tôi có hỏi, các ông cũng chẳng trả lời.” (Lc 22, 67-68). Có thể chính chúng ta cũng đã hoặc đang có những lúc đặt vấn đề như vậy. Sự hoài nghi rất tinh vi nên không dễ nhận ra.
Đối với ta, Đức Kitô có đang sống hay không? Lặng nghe lời tuyên xưng của Tông đồ Phêrô, lòng ta vọng về câu hỏi ấy. Đức Kitô vẫn đang sống bên ta, ngay trong lòng ta, Người đã và đang dẫn ta bước đi trên hành trình cuộc đời. Có những lúc gặp sóng gió, thuyền đời ta lênh đênh mà chẳng thấy Người ở đâu, nhưng Người vẫn sống, bởi Người là Đấng Hằng Sống, Người là Thiên Chúa của tình yêu (1 Ga 4, 8).
28.8.23 thứ Hai 21 TN
Thánh Augustinô, Gmtsht
St 1:2-5,8-10; Tv 149:1-2,3-4,5-6,9; Mt 23:13-22
Kết Án Tội Mù Quáng
Augustinô chào đời năm 354 trên đất Phi Châu đầy sức sống. Xuất thân từ một gia đình trung lưu với những khuynh hướng tôn giáo hỗn hợp: Cha chàng là Patricius, một người ngoại đạo sống khá phóng túng, nuôi nhiều tham vọng cho cậu con trai đầy hứa hẹn này. Mẹ chàng là Monica, một Kitô hữu sốt sắng đã dành cho chàng một tình thương đặt biệt sáng suốt, đã phải khuyên răn và khóc lóc nhiều về hạnh kiểm của con mình nhưng cuối cùng đã được chứng kiến cuộc trở lại của Augustinô và đồng thời được Augustinô dẫn lên những đỉnh cao của chiêm niệm và lòng say mê Thiên Chúa.
Nói về thiếu thời của mình, Augustinô tự nhân: “Tôi chỉ ham chơi”. Cậu bé thần đồng ấy rất sợ đi học, nhưng khi đã bị đẩy đến trường thì cậu trở thành một học sinh ưu tú vượt hẳn các bạn đồng liêu.
Đặt nhiều hy vọng vào con đường học vấn của cậu, thân sinh đã gửi cậu đến Carthagô là một trong những trung tâm văn hóa trứ danh nhất thời đó. “Tôi đến thành Carthagô, tất cả chung quanh tôi vùng dậy những quay cuồng đam mê ngang trái”.
Augustinô học hành xuất sắc bao nhiêu thì ăn chơi cũng sành sỏi bấy nhiêu. Chàng đã yêu và yêu tha thiết với sức đam mê mãnh liệt của loài người với một trái tim nóng hổi, với tất cả giác quan nhạy bén. “Lao mình vào tình ái, tôi muốn bị kẹt trong đó luôn”.
Với tài hùng biện sẵn có, Augustinô tự rèn luyện khoa ăn nói và làm quen với các văn hào la tinh, với các triết gia Hy Lạp. Một hôm tình cờ chàng giở quyển Hortensius của Cicéron, và nhận được ánh sáng bừng chiếu qua những hàng chữ của tác giả.
“Quyển sách này đã đổi hẳn các tình cảm của lòng con, hướng con về với Chúa, các ước nguyện và ý muốn của con được xoay chiều. Tất cả những ước mộng viển vông trở thành phi lý. Với một sức mạnh phi thường, con thèm muốn đức khôn ngoan bất diệt. Con bắt đầu đứng dậy trở về với Ngài”.
Từ Carthagô, cuộc sống dần đưa chàng đi tìm kế sinh nhai tại Rôma, Milan. Augustinô nay đã 30 tuổi, với thời gian, nhiều mộng đẹp đã tan vỡ. Những khó nhọc của cuộc sống giúp chàng trưởng thành hơn.
Cho tới một ngày kia, ơn Chúa đã toàn thắng, như một cơn gió lốc cuốn đi tất cả những do dự, khắc khoải trong lòng Augustinô. Một hôm, ngồi ngoài vườn với một người bạn chí thân, Augustinô nghe tiếng trẻ nhỏ nhẩm câu:
“Hãy cầm lấy mà đọc”. Nghe vậy, Người mở thánh thư và câu đâu tiên Người đọc là: “Hãy mặc lấy Đức Kitô và đừng thỏa mãn với những đam mê xác thịt”.
Câu này quả dành riêng cho Augustinô đó. Đây chính là lời đáp của ơn trên. Augustinô chạy báo tin vui này cho mẹ. Bà điềm nhiên trả lời: “Mẹ đã biết mà, Mẹ ở đâu thì con cũng sẽ đến đó”. Sứ mệnh của bà đã chấm dứt, bà mừng rỡ thấy Augustinô bắt đầu cuộc sống mới. Từ nay, Augustinô sẽ rảo bước trên con đường của Luật Chúa.
“Dưới sự hướng dẫn của Ngài, Lạy Chúa, con đã bước vào chính thâm tâm con. Con đã làm được điều đó nhờ sức Chúa nâng đỡ.”
Sau khi khám phá Thiên Chúa là Đấng đáng để cho ta bán hết tất cả để đi theo, Augustinô quyết tâm rút vào sa mạc sống ẩn dật để được thưởng thức Chúa, nhưng Augustinô sẽ không bao giờ được sống ẩn dật lâu. Danh tiếng của ngài đã được truyền lan, dân chúng theo đuổi Augustinô xin ngài hướng dẫn họ, xin ngài cố vấn cho họ trong công ăn việc làm, chỉ dẫn cho họ đường ngay nẻo chính.
Một hôm, trong khi dự lễ tại Hippone, dân chúng nảy ra ý kiến: Augustinô sẽ làm Linh mục của họ, và hơn thế nữa sẽ là Giám Mục chăn dắt học. Ý dân là ý trời, ngay lúc đó Augustinô được tôn làm làm Linh mục và sau một thời gian Augustinô trở thành Giám Mục của dân.
Vì mến Chúa đi đôi với yêu người, Augustinô mang tất cả kinh nghiệm, kiến thức rộng lớn của mình để phục vụ anh em. Nhưng trên hết mọi sự, Augustinô là con người của tình yêu: Ngài dành trọn vẹn tất cả khả năng yêu đương cho Chúa và cho anh em, điểm nổi bật của Ngài là một trái tim nóng hổi.
Năm 430, sau một cơn hấp hối, Augustinô về với Chúa, Đấng mà Ngài đã tha thiết mến yêu.
Toàn chương 23 Phúc Âm thánh Mátthêu ghi lại những lời kết án của Chúa Giêsu đối với các Luật sĩ và Biệt phái. Nhưng trước khi công bố 7 lời kết án đó, tác giả Mátthêu ghi lại nhận định chung của Chúa Giêsu (c.1-12): Chúa Giêsu, Ngài đề ra luật sống mới cho tất cả những ai muốn theo Ngài, Ngài là vị thầy duy nhất thay thế Môsê và các vị thầy nhân loại khác, Ngài muốn cho các môn đệ đừng rơi vào thái độ của những Luật sĩ và Biệt phái: mù quáng, giả hình, vụ hình thức, chú trọng đến cái phụ thuộc mà bỏ quên giáo lý làm linh hồn cho những hình thức bên ngoài.
Ba lời lên án của Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay có cùng một điểm chung là sự mù quáng. Vì mù quáng, các Luật sĩ và Biệt phái chẳng những không được vào Nước Trời, mà còn cản trở những ai muốn vào đó; vì mù quáng, họ chỉ muốn khoe khoang lòng nhiệt thành tông đồ của họ, chứ không thực sự nhằm đến ơn cứu rỗi của những người họ muốn đưa về cùng Chúa; vì mù quáng, họ thay đổi luật Chúa theo ý riêng để có lợi cho cá nhân, chứ không thực sự màng đến luật Chúa.
Ðó là ba lời kết án của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã tự ví mình như người chăn chiên nhân lành đi tìm chiên lạc, như thầy thuốc cần cho bệnh nhân, như một Vị Thiên Chúa quyền năng sẵn sàng tha thứ và giải phóng con người tội lỗi. Thế nhưng, Ngài đã không sợ đưa ra những lời kết án mạnh mẽ, thẳng thắn: "Khốn cho các ngươi", không phải vì Ngài không còn lòng nhân từ và tha thứ, nhưng vì sự cứng lòng chai đá của con người đã đến mức tột cùng; không hoán cải khỏi thái độ giả hình, mù quáng, lạm dụng tôn giáo, con người không thể hưởng được tình yêu thương nhân từ của Thiên Chúa.
Ước gì Lời Chúa hôm nay thức tỉnh chúng ta khỏi thái độ mù quáng, khép kín, tư lợi, và cho chúng ta biết sống khiêm tốn, chân thành trước mặt Chúa và đối với anh em, để chúng ta xứng đáng hưởng chúc lành của Chúa.s
29.8.2023 thứ Ba 21 TN - Lễ Thánh Gioan Tẩy Giả bị chém đầu
St 2:1-8; Tv 139:1-3,4-6; Mt 23:23-26
Thân phận ngôn sứ
Thánh Gioan tẩy giả là người anh họ của Chúa Chúa Giêsu. Thân mẫu ngài là thánh nữ Êlizabeth và thân phụ ngài là ông Zacaria. Chương đầu tiên của Tin mừng theo thánh Luca thuật lại biến cố sinh nhật tuyệt vời của thánh Gioan. Và Tin mừng theo thánh Marcô, nơi chương thứ 6, các câu 14-29, kể lại những chi tiết tàn bạo về cái chết của Gioan tẩy giả.
Tin Mừng hôm nay là một thảm kịch diễn ra trong một bữa tiệc, kết thúc thật là bi thảm với cái chết oan nghiệt của Gioan Tẩy Giả. Ông đã bị bỏ tù vì dám quở trách Hêrôđê Antipa về tội ngoại tình lộ liễu. Cuối cùng ông đã phải chết cách bi thảm vì sự thật.
Trình thuật này khiến ta nghĩ đến số phận đang chờ đón Chúa Giêsu, báo trước cho thấy cuộc khổ nạn, cái chết và cuộc an táng sau này của chính Ngài. Ông Gioan là chính hình ảnh phản ánh Chúa Giêsu, đến độ mới chỉ nghe danh tiếng Chúa Giêsu, vua Hêrôđê đã bị ám ảnh, mường tượng đó chính là hiện thân của Gioan Tẩy Giả trỗi dậy nên mới quyền năng như thế.
Cả cuộc đời và cả cái chết của ông Gioan đều báo trước cho sứ mạng Tiền Hô, tiền hô cả khi sống và cả lúc chết cho Đấng Cứu Thế. Cái chết của vị Ngôn sứ cuối cùng nói lên số phận của các Ngôn sứ là thế đó. Mở đầu và kết thúc đoạn Tin Mừng này đều nhắc tới Chúa Giêsu, cho thấy cái chết của ông Gioan như mối liên hệ, là báo trước cho cái chết của Chúa Giêsu. “Môn đệ ông đến lấy thi hài ông đem đi mai táng, rồi đi báo cho Chúa Giêsu.”
Hêrôđia đã giữ mối hận thù đối với Gioan. Và khi dịp thuận tiện xảy đến, bà đã ra tay sắp đặt để Gioan bị chém đầu. Gioan đã phải chấp nhận những hậu quả nghiệt ngã cho việc giảng dạy chân lý Phúc âm.
Thánh Gioan tẩy giả rao giảng phép rửa sám hối, chuẩn bị cho người ta đón nhận Đấng Mêsia. Ngài đã làm phép rửa cho Chúa Giêsu trong dòng sông Giođan và được hưởng kiến niềm vui vì sứ mệnh công khai của Chúa Giêsu đã khởi sự. Gioan tẩy giả đã khích lệ các môn đồ của mình đi theo Đức Chúa Giêsu. Ngài biết rằng danh Chúa phải tỏa sáng ra, còn danh mình phải lu mờ đi. Trong chương thứ nhất Tin Mừng theo thánh Gioan, thánh Gioan tẩy giả nhận mình chỉ là tiếng kêu trong hoang địa, chỉ thức tỉnh người ta hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng mà thôi! Thánh nhân mời gọi mọi người hãy sẵn sàng để chuẩn bị đón nhận Đấng Mêsia.
Gioan không phải là ánh sáng, nhưng Gioan tới để minh chứng về ánh sáng. Vì chứng minh cho Chúa Giêsu là sự thật, là ánh sáng. Gioan đã không bao giờ chịu khuất phục trước những việc chướng tai gai mắt của con người, của xã hội đương thời và của nhân loại. Gioan đã có lần nói: “Có Đấng đến sau ông và ông không xứng đáng cởi giây dép của Ngài”. Gioan quả thực đã tới trần gian để dọn đường cho Chúa Cứu Thế.
Làm công tác dọn đường, Gioan đã sống đích thực sứ mạng của vị tiên tri. Ngôn sứ phải nói lên sự thật và không bao giờ sợ nguy hiểm cho dù công tác của vị ngôn sứ luôn gặp sự hiểm nguy. Để làm chứng cho Đấng cứu thế, Ngài đã nói công khai với mọi người khi họ lầm tưởng Gioan là Đức Kitô: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại”. Gioan đã lớn lên trong sự minh chứng cho sự thật. Chống lại hành động loạn luân và dâm dật của đôi dâm phụ Hêrôđê và Hêrodias. Gioan Tẩy Giả đã phải chấp nhận cái bi đát nhất của cuộc đời ngôn sứ của mình: cái chết. Hêrôdias vì không chấp nhận sự thật, không chịu nổi lời quở trách của vị tiên tri. Nên đã căm thù tìm cơ hội khử trừ vị ngôn sứ đầy uy tín. Với sự nhảy múa cuồng nhiệt nhân ngày sinh nhật, Hêrodiađê đã làm ngây ngất vua Cha. Cái đầu, vẫn là sự căm tức ngông cuồng của Hêrôdias. Đầu của vị ngôn sứ Gioan Tẩy Giả đã nằm gọn trong chiếc dĩa trước mặt Hêrôđê.
Thánh Gioan Tẩy Giả đã sống hoàn toàn đúng nghĩa của một vị ngôn sứ chân chính, đích thực, Ngài đã hoàn toàn đáp trả lại lời mời gọi yêu thương của Thiên Chúa: “Ngài đã không sợ hãi, lớn tiếng trước mặt các Vua Chúa. Ngài đã hiến mạng sống cho công bình và chân lý”. Thánh Gioan Tẩy Giả đã vạch mặt chỉ tên mọi người sống bê tha, tội lỗi. Lời rao giảng sám hối và phép rửa cải tà qui chánh, cải hoá nội tâm của Ngài đã nói lên một sự thực muôn đời: “Tất cả đều phải sám hối và ăn năn”. Thánh nhân đã không chùn bước trước những thế lực mạnh nhất lúc đó là Hêrôđê. Ngài đã can đảm nói lên việc Hêrôđê cướp vợ của anh mình là Philíp, nàng Hêrôđia… Sự can đảm và cương quyết của Ngài đã bị cường bạo đè bẹp bằng lời hứa thật đê hèn và thô bạo. Nhưng cái chết của thánh Gioan Tẩy Giả đã minh chứng cho chân lý ngàn đời: “Sự thật sẽ giải phóng tất cả”.
Gioan Tẩy Giả đã chết đi để bảo vệ cho sự thật, minh chứng cho Chúa Giêsu: “Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14, 6).
Gioan Tẩy Giả chỉ là vị ngôn sứ dọn đường cho Chúa Cứu Thế: “Tôi chỉ là tiếng kêu trong hoang địa, để dọn đường cho Chúa đến” (Mc 1,23) và khi Đấng Thiên Sai đến, thánh nhân xác định rõ ràng: “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3, 30). Thánh Gioan Tẩy Giả đã trở nên chứng nhân tuyệt vời và hoàn hảo nhất nơi Đức Kitô Giêsu.
Dù biết rằng mình sẽ phải chấp nhận cái bi đát nhất của cuộc đời, Gioan Tẩy Giả vẫn nói lên tiếng nói bất khuất của vị ngôn sứ. Mọi tiên tri đều phải trả giá cho lời chứng của mình. Gioan Tẩy Giả đã sống anh dũng, can trường với lời nói của mình. Cái đầu phải trả là giá nặng nề và đáng nguyền rủa nhất của vị ngôn sứ sau cái chết chịu đóng đinh nơi thập giá đối với người Do Thái lúc đó. Gioan Tẩy Giả đã tự xóa nhòa mình để cho Đấng cứu độ lớn lên trong lịch sử nhân loại. Lời chứng và cái chết của Ngài, đã nói lên sự thật muôn đời là Gioan đã hoàn toàn đáp trả hoàn toàn lời mời gọi của Thiên Chúa: “Ngài không sợ hãi, lớn tiếng trước mặt các vua chúa. Ngài đã hiến mạng sống cho công bình và chân lý”.
Gioan Tẩy Giả đã lên tiếng tố cáo bất công và sẵn sàng chết cho công lý. Trong ý nghĩa ấy, ngài là vị tiền hô của Chúa Giêsu, ngài qua đi nhưng tinh thần ngài vẫn sống mãi trong các môn đệ của ngài, và một cách nào đó, ngài cũng sống trong chính con người Chúa Giêsu và nơi mỗi người Kitô hữu. Từ 2000 năm qua, Giáo Hội vẫn sống trong niềm xác tín đó. Chính tinh thần của Gioan Tẩy Giả, của các Tông Ðồ, của các Thánh Tử Ðạo, đã sống mãi trong Giáo Hội và trở thành giây liên kết mọi Kitô hữu.
Chúng ta cũng hãy hiên ngang nói lên niềm tin và lòng trung thành với Chúa Kitô. Cùng với thánh Phaolô, chúng ta cũng hãy thốt lên: "Không gì có thể tách tôi ra khỏi lòng yêu mến Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô".
30.8.2023 Thứ Tư 21 TN
St 2:9-13; Tv 139:7-8,9-10,11-12; Mt 23:27-32
Sống thành thật
Tin Mừng hôm nay trích trong một loạt các lời khiển trách hay còn gọi là lời nguyền rủa của Chúa Giêsu đối với các kinh sư và người Pharisêu thời đó. Chúa thường gọi họ là những người Pharisêu giả hình, vì họ nó một đàng lại làm một lối. Các kinh sư và người Pharisêu thời Chúa Giêsu họ là những người lãnh đạo dân Chúa. Họ là những người có học và tự hào là những người thầy của dân để chỉ bảo các luật lệ cho dân Chúa. Nhưng khi đến thế gian, Chúa đã bị những người này chê bai hạch sách. Trớ trêu hay họ lại dựa vào luật Chúa để chê trách Người – Đấng cứu thế.
Chúa so sánh họ với những mồ mả, họ chỉ lo cho tốt mã bên ngoài nhưng cái bên trong cần sống đạo đức thì họ lại che dấu những tính nết xấu như là: đầu óc hám danh, hám lợi, hám sắc, bất công, kiêu căng, nhỏ nhặt, ti tiện và ích kỷ. Họ làm bộ phàn nàn vì tổ tiên đã sát hại các Ngôn Sứ của Chúa, đàng khác họ lại có tâm địa tệ hại hơn tổ tiên của họ. Họ căm thù và tìm cách sát hại chính Đấng mà các Ngôn Sứ đã loan báo.
Đáng lẽ các kinh sư và những người Pharisêu phải là những người thông hiểu đúng luật Chúa hơn mà dẫn dắt dân Chúa. Họ cũng phải là người gương mẫu thực thi Lời Chúa, phải có đời sống nội tâm cũng như bên ngoài xứng với bậc thầy của dân. Họ đã không có được đời sống tốt đẹp ấy nên đã bị Chúa ghét cay ghét đắng. Nhân đọc đoạn Tin Mừng này, xin điểm lại mấy tội của họ mà Chúa đã nặng lời quở trách: “…Các ngươi đã khóa Nước Trời không cho thiên hạ vào… Các ngươi nuốt hết tài sản của các bà góa lại còn làm bộ cầu nguyện lâu giờ…Các ngươi rủ được một người theo đạo, nhưng khi họ theo rồi các ngươi lại làm cho họ đáng xuống hỏa ngục gấp đôi…Các ngươi lọc con muỗi nhưng lạ nuốt con lạc đà…Các ngươi nộp thuế thập phân, mà bỏ những điều quan trọng nhất trong lề luật là công lý, lòng nhân và thành tín…” (Mt 23,13-26).
Các vị kinh sư và những người pharisêu đầy quyền lực, họ không muốn đồng bào của mình tin vào một ông Giêsu bị đóng đinh. Như thế họ đã khóa cửa Nước Trời để chẳng ai vào được, kể cả họ. Họ hăng say trong việc truyền giáo. Họ muốn làm cho dân ngoại trở thành Dân Chúa. Tiếc thay, sau khi đã vào đạo rồi, những người tân tòng này trở nên cứng nhắc vì nệ luật, và rơi vào thói giả hình.
Lối sống đạo đức giả của các Ký lục và Biệt phái giả hình còn đi tới mức độ một đàng tỏ ra phàn nàn phản đối chuyện tổ tiên mình đã sát hại các ngôn sứ của Chúa, cho nên họ đã xây mộ cho các vị này. Nhưng đàng khác thì “cha nào con nấy”, họ có tâm địa tệ hơn tổ tiên là căm thù chính Đấng các ngôn sứ đã loan báo – Chúa Giêsu tỏ ra hết sức bực bội sự đạo đức giả của nhóm này. Ngài dùng một câu vừa thách đố vừa nói trước về cái chết của mình : “Đổ thêm cho đầy đấu tội của tổ tiên” (Mt 23, 32). Người xưa chỉ giết các ngôn sứ, còn các Ký lục và Biệt phái giả hình thì giết chính Đấng Mêsia.
Thật là xác đáng Chúa đã dùng hình ảnh những mồ mả quét vôi ở nghiã địa để chỉ về họ: “Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngòai có vẻ đẹp nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ những thứ ô uế”. Những thứ dơ bẩn ấy thời đó họ ghê tởm, kiêng đụng vào. Ai vấp phải sẽ dơ bảy ngày không mừng lễ trọng được.
Chúa chê ghét gớm giếc các ông ấy vì họ đang mưu tính một việc rất giả hình và độc ác. Họ “xây mồ cho các ngôn sứ và tô mả cho các người công chính” và tỏ vẻ thương tiếc mà tự nhủ: “Nếu như chúng ta sống vào thời của tổ tiên, hẳn chúng ta đã không thông đồng với các ngài mà đổ máu các ngôn sứ”. Nhưng thực sự trong lòng họ đang mưu giết Người là Chúa các ngôn sứ.
Lời Chúa hôm nay thật đáng để cho chúng ta nhìn lại và làm mới mình. Nếu hôm nay Chúa đến gặp và nói với mỗi người chúng ta, liệu Chúa có gọi chúng ta là “đồ giả hình” không ? Lắm khi chúng ta ngại làm điều tốt nhưng nếu có anh chị em nào làm điều tốt thì chúng ta lại dèm pha. Lắm khi chúng ta làm những việc đạo đức nhưng chúng ta lại không làm vì yêu mến Chúa mà chúng ta làm vì tư lợi. Tệ hơn nữa chúng ta lại chủ động lôi kéo người khác đi theo con đường xấu mà mình đã đi.
Trong đời sống đạo hiện nay, cũng có nhiều khi chúng ta tìm mọi cách để che đậy những chuyện xấu xa, khuyết điểm, lỗi lầm để tự cho mình là người đạo đức hơn người. Điều khó hiểu là chúng ta an tâm để sẵn sàng lên án kẻ khác vì những thiếu xót của họ mà không hề suy nghĩ hay áy náy gì đến lỗi lầm của mình. Hơn nữa, nhiều khi quá giỏi che đậy, nên không ai biết đến những khuyết điểm của mình, vì vậy, chúng ta lại an tâm và “bình chân như vại” để tiếp tục lún sâu vào con đường tội lỗi tiếp theo.
Tuy nhiên, chúng ta có thể che dấu bằng những biện pháp tinh vi, xảo quyệt để che mắt người đời, nhưng với Chúa, Ngài biết hết và biết rõ ràng từng lỗi lầm của chúng ta. Chỉ có điều là Ngài muốn cho chúng ta có cơ hội để hối lỗi, sửa mình và được cứu độ mà thôi.
31.8.2023 Thứ Năm 21 TN
St 3:7-13; Tv 90:3-4,12-13,14,17; Mt 24:42-51
Hãy sẵn sàng vì không biết ngày giờ nào?
Tin mừng hôm nay đề cập đến việc Chúa sẽ đến bất thình lình, mời gọi mọi người biết sống tỉnh thức và sẵn sàng, để khi cái chết ập đến, chúng ta sẵn sàng nghênh đón Chúa để đi vào đời sống vĩnh cửu. Trong khi chờ đợi, Chúa muốn mỗi người sống trung tín và trách nhiệm đối với tha nhân. Thiên Chúa được ví như ông chủ đi dự tiệc cưới sẽ trở về bất cứ lúc nào, vì thế các đầy tớ không được lơ là việc bổn phận, luôn tỉnh thức sẵn sàng đợi chờ để mở cửa cho ông chủ.
Cũng như chủ nhà không biết khi nào kẻ trộm đến “viếng” nhà mình, nên phải luôn canh chừng sẵn sàng để khỏi mất mát, thì việc Chúa đến với mỗi người trong giờ chết cũng bất ngờ như vậy, nên phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng, nghĩa là phải luôn sống trong ơn nghĩa Chúa, để khi Chúa đến bất cứ lúc nào cách nào cũng không sợ gì.
Ông chủ đi ăn cưới về bất ngờ. Nếu ông trở về bất cứ lúc nào mà gặp thấy đầy tớ đang hăng say tận tâm làm việc, đang tín trung với phận vụ được trao, thì sẽ được uỷ thác cho những trách nhiệm lớn lao hơn, nghĩa là được hưởng hạnh phúc đời đời với Chúa. Ngược lại, nếu ông gặp thấy đầy tớ bê trễ công việc, nhậu nhẹt say sưa, thì sẽ loại bỏ, nghĩa là bị loại ra khỏi hạnh phúc đời đời.
Có một vị tu sĩ nọ đóng một chiếc quan tài nhỏ đặt ngay trên bàn làm việc của mình. Nhiều người thấy vậy lấy làm lạ, bèn hỏi:
Thầy để cái hòm ở trên bàn làm chi vậy?.
Vị tu sĩ trả lời : Để mỗi sáng, sau khi thức dậy nhìn thấy cái quan tài đó nó sẽ nhắc nhở cho tôi nhớ rằng kiếp người chóng qua và tôi sẽ phải luôn chu toàn bổn phận của mình, để bất cứ lúc nào Chúa gọi tôi đều ở trong tư thế sẵn sàng cả!
Nhờ kinh nghiệm và kiến thức con người ta có thể dự đoán, biết trước được một số sự việc sẽ xảy ra tương đối chính xác. Chẳng hạn người ta có thể dự đoán nắng ráo hay mưa bão… Nhưng có một việc quan trọng mà loài người không thể biết trước được; Đó là bao giờ mình chết , chết bằng cách nào và chết ở đâu?
Mọi người đều phải chết. Đây là một sự thật hiển nhiên ;vậy mà con người lại sống theo cách như là họ chẳng bao giờ phải chết cả. Họ cứ ăn chơi sa đọa, họ chạy theo tiên bạc danh vọng, sắc dục… Chính vì vậy lời Chúa hôm nay cảnh tỉnh cho chúng ta biết và ý thức được thân phận của mình để chọn lựa cho mình đời sông luôn ở trong tư thế sẵn sàng.
Suy cho cùng thì con người ta sống trên đời này là để chuẩn bị cho minh một cái chết! Hay nói cách khác là để chuân bị cho mình một cuộc sống mới mà nó sẽ bắt đầu sau cái chết. Mà đời sống mới này phụ thuộc hoàn toàn vào những việc lành phúc đức mà con người ta đã thực hiện khi còn sống. Chúa Giêsu đã nói: “Được lời lãi cả và thế gian này mà mất linh hồn thì nào có ích chi? ” (Mt 16,26). Như vậy nếu như trong đời sống trần gian này chúng ta có đạt được những thành công mỹ mãn, giầu sang tuyệt đỉnh… bao nhiêu đi chăng nữa mà cuối cùng chết đi trong tội lỗi, mất linh hồn thì thật là vô phúc và bất hạnh cho chúng ta, vì chẳng có thể lấy gì mà bù đắp, thay thế lại được!
Từ hai ngàn năm trước, Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta một thái độ sống khôn ngoan nhất, đó là hãy luôn sẵn sàng cho giờ chết của mình. Thái độ sẵn sàng đó đòi hỏi chúng ta phải là những người đầy tớ trung tín và không ngoan của Thiên Chúa, luôn ý thức bổn phận của mình, để hoàn thành, không mải mê say sưa với những thú vui tầm thường của trần gian.
Truyền thống Giáo hội dạy, ngày chết là ngày Chúa đến viếng thăm ta. Vì thế, chúng ta hãy tỉnh thức, chờ đợi để nghênh đón Người. Sự chờ đợi của chúng ta không phải là sự chờ đợi trong buồn sầu và lo lắng, nhưng trong tư thế sẵn sàng; nói đúng hơn, đó là sự chờ đợi trong hy vọng và niềm vui, trong tâm tình yêu mến, tinh thần phục vụ hăng say.
Đây cũng chính là tâm tình và thái độ tỉnh thức chờ đợi mà Chúa Giêsu nói đến trong dụ ngôn về người quản lý trung tín và khôn ngoan, luôn “cấp phát lương thực cho gia nhân đúng giờ đúng lúc”. Như vậy, tỉnh thức chờ đợi Chúa là chu toàn bổn phận, là biết mở mắt tâm hồn để nhận ra sự hiện diện của Chúa trong cuộc sống thường ngày.
Vai trò của chúng ta như Chúa muốn thì chúng ta là những người quản lý trung tín và tốt lành, là những người quản lý ân sủng thiên hình vạn trạng của Thiên Chúa trong thời gian chúng ta chờ đợi Chúa tỏ bày sự vinh quang của Ngài cho chúng ta. Khi chúng ta chia sẻ cho anh chị em, chúng ta phải luôn ý thức rằng: chúng ta phải có bổn phận và trách nhiệm trong vai trò của một người quản lý và phân phát, rồi hãy để cho Chúa được tỏ lộ. Tất cả những gì chúng ta làm phải được định hướng và làm cho danh Chúa được rạng rỡ vinh quang.
Thật vậy, mỗi người chúng ta chỉ hiện hữu nơi trần gian này trong một khoảng thời gian ngắn ngủi. Vì thế, hãy luôn tỉnh thức và sẵn sàng, hân hoan chờ đón Chúa đến bất cứ lúc nào Người muốn.
Vậy người tỉnh thức và sẵn sàng là người không chỉ sống đạo đức không mà thôi, nhưng là người biết yêu thương, biết nghĩ đến kẻ khác, biết đến với kẻ khác trong tinh thần phục vụ.
Vì vậy lời Chúa hôm nay cảnh báo cho chúng ta phải luôn chu toàn bổn phận của mình đối với Chúa và với anh em hàng ngày trong cuộc sống dương thế này. Để khi cuộc sông trần gian kết thúc chúng ta xứng đáng hưởng Nước Trời. Nơi đầy hoan lạc và hạnh phúc mà Chúa đã thiết lập để dành sẵn cho những đây tớ trung tín và khôn ngoan của Ngài.
1 tháng 9 năm 2023- Thứ Sáu 21 Quanh Năm
St 4:1-8; Tv 97:1,2,5-6,10,11-12; Mt 25:1-13
Tỉnh thức
Nước Thiên Chúa được ví như bữa tiệc cưới, mà trong đó chỉ những ai có thái độ tỉnh thức và sẵn sàng, mới có cơ hội được chú rể là Đức Giêsu dẫn vào đồng bàn với Người trong vương quốc vĩnh cửu. Hình ảnh năm cô khôn và năm cô khờ cùng cầm đèn đi đón chàng rể, nhưng khác nhau ở chỗ là cô khôn mang đèn mang thêm dầu, còn cô dại thì mang đèn không dầu, là hình ảnh tiêu biểu của hai kiểu sống đạo của chúng ta hôm nay. Chúng ta cùng chung đức tin (là cùng tin có Chúa và Chúa sẽ đến) như ai cũng mang theo đèn, nhưng khác nhau ở chỗ có thực hành đời sống đức tin hay không, hay là tin nơi đầu môi chót lưỡi, còn cuộc sống thì vô thần, tựa như cái đèn rỗng ruột, không còn tỏa sáng mà đã tắt ngấm tối thui từ khi nào.
Chúng ta có thể hiểu qua dụ ngôn này: Chàng rể đặc biệt chính là Chúa Kitô, mười trinh nữ phù dâu là toàn thể nhân loại, được Thiên Chúa yêu thương và đón mời vào dự tiệc cưới Nước trời, dầu và đèn là các điều kiện cần có để tham dự tiệc cưới. Mười cô phù dâu, có năm cô khôn và năm cô dại. Đó là hình ảnh con người, có người khôn, có người dại. Khôn hay dại là căn cứ vào thái độ họ có biết sẵn sàng hay không.
Năm cô khôn ngoan cũng ngủ như năm cô khờ dại, thế mà được coi là có thái độ tỉnh thức, bởi vì tuy ngủ, nhưng họ đã chuẩn bị sẵn sàng những thứ cần thiết. Như thế, tỉnh thức không phải là lúc nào cũng lăng xăng làm việc, tỉnh thức không phải là không được nghỉ ngơi. Tỉnh thức là chu toàn trách nhiệm: khi trách nhiệm chưa xong thì phải lo cho xong, khi đã xong rồi thì có quyền ngơi nghỉ.
Dụ ngôn mười trinh nữ dạy về sự tỉnh thức: - Kitô hữu tỉnh thức là để đón chờ Đức Kitô (chàng rể) đến - Phải tỉnh thức luôn luôn vì không ai biết chừng nào Đức Kitô đến. - Tỉnh thức là lúc nào cũng phải chuẩn bị sẵn sàng (như đèn đầy đủ dầu). - Chi tiết các cô khôn ngoan không cho các cô khờ dại mượn dầu có nghĩa là không ai có thể giúp ai được trước số phận đời đời.
Suy niệm
Năm cô khôn ngoan cũng ngủ như năm cô khờ dại, thế mà được coi là có thái độ tỉnh thức, bởi vì tuy ngủ nhưng họ đã chuẩn bị những thứ sẵn sàng cần thiết. Như thế, tỉnh thức không phải lúc nào cũng lăng xăng làm việc, tỉnh thức không phải là không được nghỉ ngơi. Tỉnh thức là chu toàn trách nhiệm: khi chưa xong thì phải lo cho xong, khi đã xong rồi thì có quyền được nghỉ ngơi.
Cách sống của năm cô khờ dại là “mặc kệ, tới đâu hay tới đó”, đó là cách sống của những người gần chết mới nghĩ tới việc linh hồn.
“Dầu” mà tôi phải luôn chuẩn bị cho cây đèn là những gì ?
Trong bài Tin Mừng này có một chi tiết hơi lạ là khi năm cô khờ dại thấy đèn mình hết dầu, họ đã đến xin dầu của năm cô khôn ngoan. Năm cô khôn ngoan này mỗi cô có cả một bình dầu đầy ắp thế mà lại không chia sẻ cho năm cô kia. Có phải là quá ích kỷ không ? Thưa nếu là chuyện dầu đèn bình thường thì đúng là quá ích kỷ. Nhưng đây là những hình ảnh tượng trưng cho phần rỗi đời đời nên nó không có ý nghĩa ích kỷ. Bởi vì đối với phần rỗi đời đời của mỗi người, nói cách khác, đối với chuyện công đức và tội lỗi thì không ai có thể chia cho ai và không ai có thể xin ai được.
Đời người là một cuộc chờ đợi, và chờ đợi nào cũng bao hàm tình yêu trong đó, bởi vì con người chỉ hết lòng đợi chờ mong mỏi người nào hay điều gì mình hết lòng yêu thương hay quý chuộng. Người mẹ chờ đợi đứa con sắp ra đời bằng cách chuẩn bị tất cả những gì cần thiết để bao bọc săn sóc con mình hoặc một người chờ đợi bạn đến thăm, bằng cách chuẩn bị thật chu đáo để đón tiếp bạn. Chúng ta mong đợi Chúa đến. Nhưng khi nào người đến, chúng ta không biết. Có điều chắc chắn là Ngài sẽ đến trong cuộc viếng thăm thân tình, bởi vì chỉ những người thân tình mới dành cho nhau những cuộc viếng thăm bất ngờ.
“Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào”. (Mt 25,13).
“Bạn sẽ làm gì nếu bạn biết rõ bạn chỉ sống đúng một ngày nữa thôi ?” Đó chính là câu hỏi của một nhà giáo đã đặt cho 625 học sinh người Đức trong 12 trường, và có kết quả:
Đa số học sinh trả lời: “Chúng tôi sẽ dùng thời giờ còn lại để uống say sưa, hút ma túy để vui chơi cho thỏa thích”.
Cuối cùng một nữ sinh 18 tuổi trả lời rằng: “Tôi sẽ dành thời gian còn lại để chuẩn bị cho giờ cuối cùng của tôi. Tôi sẽ dành buổi tối cuối cùng để gặp Chúa và cảm tạ Chúa đã ban cho tôi một đời sống hạnh phúc và đầy đủ”.
Chúa đến bất chợt, hôm nay, ngày mai hay một ngày gần đây. Vậy chúng ta phải làm gì để chuẩn bị cho giờ đó ? Hay chúng ta chỉ mải sống trong nếp sống cũ ? Hãy canh thức để đón chờ ngày Chúa đến gọi ta.
Đời người là một cuộc đợi chờ, và đợi chờ nào cũng bao hàm tình yêu trong đó, bởi vì con người chỉ hết lòng đợi chờ mong mỏi người nào hay điều gì mình hết lòng yêu thương hay quý chuộng. Người mẹ chờ đợi đứa con sắp ra đời, bằng cách chuẩn bị tất cả những gì cần thiết, để bao bọc săn sóc con mình; một người chờ đợi bạn đến thăm, bằng cách chuẩn bị thật chu đáo để đón tiếp bạn.
Chúng ta mong đợi Chúa đến. Nhưng khi nào Ngài đến, chúng ta không biết. Có điều chắc chắn là Ngài sẽ đến trong một cuộc viếng thăm thân tình, bởi vì chỉ những người thân tình mới dành cho nhau những cuộc viếng thăm bất ngờ.
Thứ Bảy 21 Quanh Năm, 2023
St 4:9-12; Tv 98:1,7-8,9; Mt 25:14-30
Cho và nhận
Với trang Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu đã mượn hình ảnh của người làm kinh tế để nói về việc sinh lời nén bạc tinh thần. Nếu ông chủ trao cho đầy tớ những nén bạc và nhủ hãy đi sinh lời thêm, thì Thiên Chúa cũng vậy. Ngài trao ban cho chúng ta những nén bạc là Lời Chúa, là những “ơn ban…” và không ngừng mời gọi chúng ta sinh lời ra nhiều, để làm vinh danh Chúa và giúp ích cho anh chị em chung quanh mình nhiều hơn.
Thật vậy, mỗi người đều được Chúa trao cho những nén bạc khác nhau tùy vào khả năng. Điều quan trọng là chúng ta có biết sử dụng nó cho đúng mục đích cách trung tín và khôn ngoan hay không mà thôi.
Người khôn ngoan là người biết đón nhận thánh ý Chúa và mau mắn thi hành. Người quản lý trung tín là người biết nhận ra sự hiện diện của Chúa trong từng biến cố vui buồn của cuộc sống. Biết đón nhận đau khổ và sẵn sàng hy sinh vì mối lợi đời sau. Biết nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi tha nhân, nhất là những người nghèo khổ đói khát…
Thiên Chúa cho ta nhiều hơn những gì ta xin. Ngài cho một cách quảng đại, không xẻn so tính toán. Và Chúa cũng dạy ta hãy cho đi như vậy. Dụ ngôn ông chủ và những nén bạc một lần nữa minh chứng cho lòng quảng đại của Thiên Chúa.
Trước khi có việc đi xa, ông chủ gọi các đầy tớ đến và trao cho họ những nén bạc. Người năm nén, người hai nén, người một nén. Với số vốn ban đầu, mỗi người đều có cách riêng làm cho nén bạc đó sinh lời. Thế nhưng trong số họ, có người không biết sinh lời đã đem chôn nén bạc xuống đất và còn phiền trách ông chủ hà khắc. Ông chủ phán xử bằng cách “ai đã có, thì được cho thêm và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy đi”. Mới nghe qua câu chuyện, ta sẽ cho rằng ông chủ này thật bất công, nhưng có lẽ đó mới là ông chủ nghiêm minh và công bình.
Có một chàng trai nọ trồng mấy chậu hoa ở ban công trong khu chung cư. Sau một thời gian, những chậu hoa buông nhành xống tầng lầu bên dưới. Lúc đầu, chàng trai định kéo chúng lên rồi buộc chặt lại. Nhưng sau đó anh cảm thấy làm như thế là quá ích kỷ nên thôi. Thế là chậu hoa của anh nhanh chóng tạo thành chiếc rèm buông xuống lầu dưới trông rất đẹp mắt.
Thời gian trôi qua và rồi mùa xuân đến, chàng trai hết sức ngạc nhiên thấy có một dây nho bò lên ban công nhà mình. Anh nhoài người nhìn xuống thì thấy có một cô gái xinh đẹp đang ngẩng lên mỉm cười với anh. Thì ra cô gái ở lầu dưới cảm kích trước món quà thiên nhiên của anh nên đã trồng một dây nho và cho nó vươn lên trên như một sự đền đáp. Thế rồi họ làm quen với nhau, khi giàn nho cho mùa trái ngọt thứ hai cũng là lúc chàng trai và cô gái đón nhận tình yêu ngọt ngào của nhau.
Cho và nhận là quy luật trong cuộc sống. Sống ở đời, người ta “có qua có lại mới toại lòng nhau”. Nhưng con người tự nhiên thường thích nhận nhiều hơn là cho đi, không ai chịu cho không để bị thiệt thòi mất mát.
Hàng ngày chúng ta nhận lãnh từ thiên nhiên vũ trụ, từ cuộc sống nhiều hơn những gì chúng ta cho đi. Mặt trời cho ta ánh nắng ban mai ấm áp, bầu trời cho ta làn gió mát. Cỏ cây hoa lá đem đến cho ta sự tươi mới. Thời tiết tuần hoàn, vũ trụ nhịp nhàng chyển dịch đó chẳng phải là món quà vô giá mà ta nhận lãnh hàng ngày sao. Cha mẹ, gia đình, bạn hữu cho ta mối tương giao đằm thắm gần gũi. Mỗi phút giây ta sống trên đời đều gửi đến cho ta một lời nhắn nhủ thiết thân. Mỗi sớm mai thức dậy, ta có biết cám ơn cuộc đời cho ta có thêm một ngày sống để yêu thương không? Với ý nghĩa đó, hóa ra chúng ta là người rất giàu có, rất nhiều cái để cho, nhiều điều để sẻ chia với tha nhân.
Trong sách Công vụ tông đồ, thánh Phaolô viết “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35). “Cho” với một xác quyết rằng chúng ta đã lãnh nhận rất nhiều ân sủng từ Thiên Chúa. Những ân sủng ấy dành để phục vụ mọi người chứ không phải để ích kỷ cho riêng mình. Chúng ta đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không. Cho như thế không làm chúng ta nghèo nàn mất mát nhưng càng được giàu sang, được lớn lên trong tương giao với người khác. Cho và nhận đều mang tính tuần hoàn. Điều ta cho sẽ không mất đi nhưng trở lại với những dạng thức khác mới mẻ hơn, vì rằng “trong cái mất luôn có cái được”.
Thánh Phanxicô Assisi, vị thánh của sự nghèo khó nhưng lại rất giàu có. Gia tài của Ngài là Thiên Chúa, bạn hữu của Ngài là thiên nhiên vũ trụ, tinh tú trăng sao...Ngài đã nên thánh bằng cuộc sống nghèo nhưng vẫn tự do bát ngát, nên thánh với niềm xác tín rằng “chính lúc cho đi là khi được nhận lãnh, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân”. Như thế, cái chúng ta cho không chỉ là của cải vật chất mà là chính con người chúng ta. Chúng ta có thể trao cho nhau những điều rất đơn giản, sự chăm sóc yêu thương, một lời nói động viên, một cái nhìn thông cảm hay một lời cám ơn, xin lỗi...
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta tự đặt mình trước mặt Chúa để cật vấn mình rằng: Chúa đã đầu tư cho tôi những nén bạc như sức khỏe, tài năng và nhiều ơn ban khác…, nhưng tôi có thực sự sinh lời ra thêm bằng việc tạ ơn Chúa, sẵn sàng giúp đỡ anh chị em mình và có biết dâng những hy sinh đau khổ, thất bại trong cuộc đời lên Chúa để xin Chúa thánh hóa, hầu sinh ích cho mình và tha nhân hay không?
Nói chung, tôi đã dùng của cải tài năng và ân huệ Chúa ban như thế nào? Tôi có tích cực phát triển “vốn đầu tư” mà Chúa đã trao cho tôi không? Hay tôi lo chôn giấu cho thật kỹ trong sự ích kỷ, kiêu ngạo, bất nhân và hận thù?
CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN, NĂM A-2020
Is 22, 19-23; Rm 11, 33-36; Mt 16, 13-20
LỜI TUYÊN TÍN CỦA PHÊRÔ
Đang khi dân chúng còn mù mờ về vai trò và con người của Đức Giêsu thì Phêrô, vị Giáo hoàng tiên khởi đã mạnh mẽ tuyên xưng: "Ngài là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". Phêrô được khen là có phúc vì nhận được mạc khải từ trên cao. Thế nhưng chỉ một khoảnh khắc sau, chính Phêrô lại bị Thầy mình trách là "Satan" vì lòng dạ tăm tối, chỉ "hiểu biết những sự thuộc về loài người" và đang "làm cớ cho Thầy vấp phạm".
Thánh Phêrô hiểu lời đó. Ngài hiểu là chính bản thân mình, với tâm tình, tư tưởng của mình cùng với cuộc đời mình, sẽ phải là một cái nền, để Chúa xây Hội Thánh lên trên. Đó là nhiệm vụ hết sức nặng nề, đồng thời cũng là một vinh dự hết sức lớn lao. Vinh dự làm người đứng đầu Hội Thánh. Thánh Phêrô hiểu rõ mình được Chúa Giêsu tín nhiệm, nên ngài cũng tự nhiên nhìn thấy trước mắt một bổn phận được đặt ra cho mình, đó là phải bảo vệ Thầy mình.
Bảo vệ Thầy mình có nghĩa là làm sao cho Thầy mình được an toàn, uy tín của Thầy mình được vẻ vang. Ít là thế, ít là phải thế. Chính vì vậy mà mấy ngày sau, khi nghe Chúa Giêsu nói, Chúa sẽ phải nạp mình chịu chết một cách đau đớn khổ nhục, thì Phêrô liền phản ứng ngay lập tức. Phêrô can ngăn: Xin Thầy đừng làm chuyện đó. Xin Chúa Cha đừng để chuyện đó xảy ra cho Thầy.
Sở dĩ Phêrô can ngăn chính là để bảo vệ mạng sống và uy tín của Thầy. Ngài nói lên ý nghĩ của mình. Nhân danh của kẻ đã được chọn đứng đầu Hội Thánh. Phải bảo vệ Chúa. Tôi tưởng rằng, khi nghe lời thánh Phêrô nói, Chúa Giêsu sẽ lại khen như lần trước và Chúa sẽ nói: Tư tưởng của con là được Chúa Cha soi sáng cho con. Thế nhưng sự việc đã xảy ra trái ngược. Chúa Giêsu không những không khen, lại còn nặng lời mắng trách: Satan hãy lui xa Ta, vì tư tưởng vừa nói không phải là do Chúa Cha soi sáng cho con đâu. Rõ ràng, ở đây có mâu thuẫn giữa ý Phêrô và ý Chúa.
Phêrô tuy nhận chân Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế, nhưng trong cái nhìn của ông, Đấng Cứu Thế sẽ là người hùng mạnh, đánh đông dẹp bắc, chinh phục vua Chúa, thâu tóm quyền hành, và rồi đăng quang thống trị thế giới.
Chúa Giêsu đã đánh giá cao quan điểm của Phêrô. Cũng vì thế Chúa Giêsu trao cho Phêrô một nhiệm vụ hết sức quan trọng đó là nhiệm vụ phải đội trên mình tất cả toà nhà Hội Thánh. Chúa phán: Con là đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy.
Lời tuyên xưng này không bởi "nghe và thấy" thuộc về kinh nghiệm con người, mà bởi mạc khải của Cha trên trời, như lời xác định của Chúa Giêsu (c. 17). Cụm từ "xác và máu" không thấy nơi khác trong các tin mừng. "Xác và máu" là thuộc về thân xác con nguời, và cũng là những gì của con người (19,5). Nó chỉ sự yếu đuối và hạn chế của con người so với tinh thần và Thiên Chúa (26,41; x. Ga 6,65; 1 Cr 15,50). Bởi đó, Simon Phêrô không thể bởi kinh nghiệm và sự hiểu biết thuộc về con người mà có thể tuyên xưng Ngài là "Đấng Kitô. "Phúc cho", chỉ phúc lành của Thiên Chúa ban cho ông. Cái phúc của Phêrô là được Chúa Cha mạc khải cho biết Chúa Giêsu là Con của Thiên Chúa hằng sống. Vậy lời tuyên xưng của Phêrô là câu trả lời chính xác nhất cho câu hỏi Chúa Giêsu đặt ra "Con Người là ai?".
Thánh Phêrô, sau lời khiển trách của Thầy, đã về lại với chỗ đứng đúng nhất của mình: ông không đòi Chúa theo ý mình, song là vâng theo ý Chúa; ông không dẫn đường cho Chúa nhưng là bước theo dấu chân Ngài. Cao điểm của sự "đi theo" này là việc Phêrô chịu đóng đinh thập giá vì Đức Kitô vào năm 69 AD.
Như thế, vị Giáo hoàng tiên khởi, với biết bao yếu đuối sa ngã, cuối cùng đã lấy cái chết của mình để xác minh chân lý thập giá. Từ chỗ muốn dạy cho Thầy mình về sự khôn ngoan của thế gian đến việc khám phá và ôm ấp giá trị sâu xa sự điên rồ của Thiên Chúa. Từ chỗ phủ nhận và ngăn chận Thầy mình bước đi trên con đường khổ đau, đến việc chính mình anh dũng tiến vào. Nhưng nhờ đâu mà Phêrô có được thái độ và hành vi hào hùng đó? Phải chăng chính nhờ niềm xác tín vào Đức Giêsu, Đấng ông đã tuyên xưng. Nếu không có xác tín, hẳn ông đã chẳng dám theo.
Simon Phêrô, người thứ nhất và là đại diện cho anh em, tuyên xưng lòng tin vào Đức Giêsu với một công thức diễn đạt hoàn hảo con người và sứ mạng của Người, đã được Đức Giêsu đặt làm đá tảng cho Hội Thánh, làm người quản lý các mầu nhiệm Nước Trời và làm người có quyền bính thực sự trong việc lấy những quyết định liên quan đến những cách hành xử cần thiết để được vào Nước Trời. Với ông, Đức Giêsu xây dựng cộng đồng nhân loại mới, cộng đồng những con người bé mọn tuyên xưng lòng tin vào Người là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống. Cộng đồng mới này là chính Hội Thánh, sẽ đứng vững trước những sức mạnh tấn công của quyền lực tử thần.
Lời tuyên xưng Chúa Giêsu là "Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" là cốt lõi của nìềm tin Kitô giáo. Lời rao giảng và hành động của Ngài là gì đối với chúng ta tùy thuộc vào việc chúng ta tin Ngài là ai. Nếu tin Ngài là Con Thiên Chúa hằng sống, thì việc lắng nghe và thực hành lời Ngài, cũng như sống theo cách hành động của Ngài, chúng ta sẽ được cứu độ.
Là môn đệ Đức Kitô, mỗi người chúng ta phải trực tiếp trả lời câu hỏi này bằng đức tin của chính mình. Người môn đệ phải biết căn tính của thầy mình, phải biết mình đang theo ai và người mình theo từ đâu đến. Có như thế, người môn đệ mới có thể đi sâu vào trong tình thân mật với thầy mình, mới tin tưởng những điều thầy mình dạy, mới can đảm thi hành những giáo huấn mà thầy mình đã trao ban.
GIÊSU KITÔ LÀ AI ? HÃY NÓI THEO CÁCH CỦA BẠN !
(người giồng Trôm)
Trong cuộc sống thường nhật, ta luôn bắt gặp những slogan quảng cáo thương hiệu nào đó. Chỉ cần nhắc đến câu slogan nào đó thì người ta nghĩ đến thương hiệu đó.
Chỉ có thể là HEINEKEN: (Quảng cáo bia HEINEKEN)
Connectting people: quảng cáo NOKIA
Mentos - Đột phá ý tưởng
Hoà Phát - Bừng sáng không gian của bạn
Be good, be bad, be yourself" ( Dù tốt, dù xấu , hãy là chính mình) : Quần Jean CK - vẻ đẹp của cá tính và sự tự tin !
"The most expensive perfume in the world" ( Loại nước hoa đắt nhất thế giới) của Joy, nay đã được P&G mua lại : Thể hiện đẳng cấp vượt trội của người sử dụng
· "Just Do it" (Hãy làm đi! ): không thể không biết câu slogan này của Nike, hình tượng của giới trẻ ưa chuộng thể thao và khát vọng thể hiện mình !
· "The Real Thing" ( Thứ thiệt!) Cocacola vẫn mãi là một thứ nước uống không thể thay thế cho dù Pepsi có thế nào đi nữa !!!
Hãy nói theo cách của bạn (Say it your way): Slogan nổi tiếng của anh chàng Viettel.
Ta thấy người ta cố gắng hết sức mình để đưa sản phẩm mình đến đúng với những lời quảng cáo. Dĩ nhiên có những lúc xảy ra không như ý muốn nhưng người ta vẫn bằng mọi cách bắt tay nhau để làm nên thương hiệu,giữ gìn thương hiệu và bảo tồn thương hiệu với slogan của mình.
Ngược dòng thời gian của Chúa Giêsu. Một ngày đẹp trời, Thánh Matthêu kể cho chúng ta biết rằng Chúa Giêsu đến địa hạt thành Xêsarêa Philipphê. HÔm đó không biết thao thức gì và nghĩ gì để rồi Chúa Giêsu mới hỏi các môn đệ rằng: "Người ta bảo Con Người là ai?"
Sau câu hỏi đó thì ta thấy các ông thưa: "Người thì bảo là Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là Êlia, kẻ khác lại bảo là Giêrêmia hay một tiên tri nào đó".
Kế đến Chúa Giêsu nói với các ông: "Phần các con, các con bảo Thầy là ai?" Simon Phêrô thưa rằng: "Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống".
Khi nghe như vậy, Chúa Giêsu trả lời rằng: "Hỡi Simon con ông Giona, con có phúc, vì chẳng phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Vậy Thầy bảo cho con biết: Con là Đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và cửa địa ngục sẽ không thắng được. Thầy sẽ trao cho con chìa khoá nước trời: sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở". Bấy giờ Người truyền cho các môn đệ đừng nói với ai rằng Người là Đức Kitô.
Và tiếp theo sau câu chuyện ngày hôm nay, các môn đệ và đặt biệt là Phêrô đã bước đi theo Chúa Giêsu. Dẫu rằng đường đời chênh vênh như muốn ngã quỵ nhưng Thánh Phêrô đã xác tín điều mà mình nói bằng cách chứng minh bằng đời sống của mình. Hơn 3 lần chối Thầy nhưng rồi cũng hơn 3 lần trả lời rất dễ thương : "Thưa Thầy ! Thầy biết con thương Thầy !'.
Nhìn vào cuộc đời các môn đệ và đặc biệt là thánh Phêrô, ta thấy Ngài cũng như các môn đệ trả lời rất khẳng khái : "Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống".
Cuộc đời của mỗi người chúng ta, nói theo cách bình dân và rất thực tế là chúng ta mang "thương hiệu" Giêsu Kitô Hằng Sống vào trong cuộc đời của chúng ta từ ngày chúng ta lãnh bí tích Thanh Tẩy. Trải qua dòng thời gian, lẽ ra như các môn đệ cố gắng bảo vệ và xây dựng "thương hiệu" Giêsu của mình.
Ngày hôm nay, nhất là trong và giữa cơn đại dịch, khi người nào đó hỏi Đức Giêsu Kitô là ai thì chúng ta sẽ trả lời như thế nào ? Chắc chắn và rất chắn chắn là chúng ta cũng sẽ nói như Thánh Phêrô là "Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống". Thế nhưng trong lắng đọng của tâm hồn và diện đối diện với Chúa, Đức Kitô có còn là gì trong cuộc đời ta không ?
Giờ này đối với tôi Đức Ki-tô là ai rồi,
giờ này đối với tôi Ngài còn là Ngài hay thôi.
Là một chiếc bóng bên đường,
một lần cất bước đi qua để lại thoáng chút dư âm
và rồi lòng quên hay nhớ?
Giờ này đối với tôi Đức Ki-tô là ai rồi,
giờ này đối với tôi Ngài còn là Ngài hay thôi.
Một lần đến giữa đêm khuya,rồi thầm cất bước ra đi,
để lại thoáng nhớ mong manh rồi tan dần với thời gian.
Giờ này hồn tôi vật vờ chơi vơi trên một con sông,
biển động trùng khơi mịt mù.
Ngài là ai - là ai - là ai lúc tôi vui lúc tôi buồn,
lúc tôi ghen lúc tôi hờn lúc tôi yêu.
Ngài là ai - là ai - là ai khi thành công lúc thất vọng,
khi lầm than lúc thanh nhàn và trong suốt cuộc đời ...
Lòng dặn lòng, mỗi người chúng ta sẽ tự trả lời với Chúa chứ không ai trả lời được.
Có khi Chúa của chúng ta giờ này là cái bụng
Có khi Chúa của chúng ta giờ này là quyền lực
Có khi Chúa của chúng ta giờ này là tiền bạc
Có khi giờ này Chúa của chúng ta là tham vọng ...
Hôm nay, nhờ và qua Thánh Phêrô, ta được mời gọi hãy nhìn lại chính mỗi người chúng ta và nhất là "thương hiệu" của đời ta ta đã gìn giữ, tôn tạo và phát triển "thương hiêu" Giêsu như thế nào.
Xin Chúa thêm ơn cho mỗi chúng ta để trong cơn đại dịch này chúng ta lắng tâm hồn lại hơn nữa để nhìn ra Thiên Chúa là ai trong cuộc đời ? Qua đại dịch này ta thấy ai là xấu, ai là tốt và ai có lòng bác ái yêu thương anh chị em đồng loại. Xin cho mỗi người chúng ta ngày mỗi ngày biết trân quý, biết giữ gìn, biết bảo tồn, biết phát triển "thương hiệu" Giêsu trong cuộc đời ta. Ta hãy sống sao để mọi người nhìn thấy ta là một người có Chúa thật sự và sống như Chúa sống, yêu như Chúa yêu thật sự.
Thứ Hai tuần 21 Mùa TN (2020).
THÁNH BATÔLÔMÊÔ TÔNG ĐỒ.
Lễ kính. Kh 21,9b-14; Ga 1,45-51
QUẢNG ĐẠI DẤN THÂN
Lễ thánh Bartôlômêô được cử hành từ thế kỷ thứ VIII trong các xứ Francs, đến thế kỷ thứ IX-X thì lan sang Roma. Lễ cử hành vào ngày 24 hoặc 25 tháng tám; với người Byzance, ngày 25 trùng lễ kính chuyển hài cốt của Người, còn lễ chính là ngày 11 tháng 6, chung với thánh Banabê. Lịch thánh Piô V đã ấn định lễ này vào ngày 24 tháng tám.
Bartôlômêô (có nghĩa là con của Tolamai) là một trong Nhóm Mười hai, các Phúc âm thường nhắc chung với Philipphê (Mt 10,3). Người ta thường cho rằng Bartôlômêô cũng là Nathanael, nhưng điều này không có cơ sở. Nếu phải là Nathanael, chắc hẳn người có gốc ở Cana (Ga 21,2) và đã được Philipphê đem đến trình diện Chúa Giêsu (Ga 1,45).
Một số tài liệu ngụy thư cho rằng thánh Bartôlômêô đã sang giảng Phúc âm ở Tây An (theo Eusèbe) hoặc các vùng gần Ethiopie (theo Rufin và Socrate), hoặc thậm chí còn tới Đại Arménie (theo kinh nghiệm các Tông đồ). Hình như Ngài đã bị lột da sống, theo luật hình Ba Tư, sau đó bị chặt đầu rồi đóng đinh thập giá. Người ta cho rằng hài cốt của Ngài được tôn kính ở Roma, nơi đảo Tibérine, và ở Francfort nước Đức. Thánh Bartôlômêô được coi là người bảo vệ các bệnh nhân, các ông bà bán thịt, thợ thuộc da và thợ đóng sách.
Trong Tân ước, thánh Batôlômêô chỉ được nhắc đến trong danh sách các tông đồ. Một số học giả cho rằng ngài là Nathanaen, người Cana xứ Galilê được Philipphê mời đến gặp Chúa Giêsu. Và Chúa Giêsu đã khen ông: “Ðây đích thực là người Israel. Lòng dạ ngay thẳng” (Ga 1, 47b).
Khi Nathanaen hỏi Chúa Giêsu làm sao Ngài biết ông, Chúa Giêsu trả lời “Tôi thấy anh ở dưới cây vả” (Ga 1, 48b). Ðiều tiết lộ kinh ngạc này đã khiến Nathanaen phải kêu lên, “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa; chính Thầy là Vua Israel” (Ga 1, 49b). Nhưng Chúa Giêsu đã phản ứng lại, “Có phải anh tin vì tôi nói với anh là tôi thấy anh dưới cây vả? Anh sẽ được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa!” (Gioan 1, 50).
Quả thật Nathanaen đã được nhìn thấy những điều trọng đại. Ngài là một trong những người được Chúa Giêsu hiện ra trên bờ biển Tiberia sau khi Phục sinh (Ga 21, 1-14). Lúc ấy các ngài chài lưới cả đêm mà không được gì cả. Vào buổi sáng, họ thấy có người đứng trên bờ dù rằng không ai biết đó là Chúa Giêsu. Ngài bảo họ tiếp tục thả lưới, và họ bắt được nhiều cá đến nỗi không thể kéo lưới lên nổi. Sau đó Gioan nói với Phêrô, “Chính Thầy đó.”
Chuyện kể rằng: một hôm có một người bạn đến tìm nhà giảng thuyết Mc-Leod Campbell trong tâm trạng bối rối : “Này anh, xin anh nói cho tôi hay ; làm thế nào mà anh luôn tìm thấy Chúa ?” Nhà giảng thuyết trầm ngân một lúc rồi nói : “Làm thế nào mà tôi luôn tìm thấy Chúa ư ? Không đâu, tôi không luôn tìm thấy Chúa đâu, nhưng tôi biết là Chúa luôn tìm thấy tôi !”
“Chúa đã nhìn thấy tôi”. Điều này đã xảy ra trong cuộc đời thánh Bartôlômêô. Thánh Bartôlômêô hay còn gọi là Nathanaen đã được Chúa nhìn thấy khi ngài còn ở đàng xa, đang ở dưới gốc cây vả. Chính Chúa Giêsu đã thấy và chọn gọi ông.
Trong Tin Mừng Gioan, Bartôlômêô là người môn đệ thứ tư được Chúa Giêsu kêu gọi. Trước khi được chính thức kêu gọi, đã có một cuộc gặp gỡ thú vị: Philipphê giới thiệu với Bartôlômêô:
Đấng mà Môsê trong lề luật cùng các tiên tri chép đến, chúng tôi đã gặp rồi, Người là Chúa Giêsu con ông Giuse ngườiNazareth.
Bartôlômêô đáp lại, với óc khinh miệt giống như những dân làng lân cận:
Từ Nazareth thì có thể xảy ra điều gì tốt được.
Tuy nhiên đáp lại lời mời “thì hãy đến mà xem”, vị tông đồ đã gặp Đấng thấu suốt lòng mọi người. Ngài đã nhận xét về thánh nhân:
Này đây đích thực là một ngườiIsrael, trong mình không có gì gian dối.
Khi gặp ông, Chúa Giêsu nói: “Trước khi Philipphê gọi anh, lúc anh đang ở dưới cây vả, tôi đã thấy anh” :
Lời của Chúa Giêsu khiến Bartôlômêô xúc động đến nỗi ông gọi Ngài bằng 2 tước hiệu “Con Thiên Chúa” và “Vua Israel”. Từ đây cuộc đời ông đã dành chọn cho Chúa. Ông đã đồng hành với Chúa trong suốt 3 năm rao giảng của Ngài. Ông cũng trải qua cuộc khủng hoảng trong đêm Vườn Cây Dầu. Nhưng sau khi Chúa sống lại. Niềm tin của thánh nhân đã được củng cố để từ đây thánh nhân trở thành một nhân chứng trung kiên cho tin mừng Chúa Phục sinh.
Theo truyền thuyết, Bartôlômêô rao giảng ở Ân Độ, Mésopotamie và nhất là ở Arménie, cuối cùng chịu tử đạo tại đây. Di hài của ngài sau đó được chuyển về đảo Lipara và về Benevent. Hoàng đế Otto III cho chuyển về Rôma và đặt ở một cồn nhỏ trên sông Tibre.
Trong Tân ước, thánh Batôlômêô chỉ được nhắc đến trong danh sách các tông đồ. Một số học giả cho rằng ngài là Nathanaen, người Cana xứ Galilê được Philipphê mời đến gặp Chúa Giêsu. Và Ðức Giêsu đã khen ông: “Ðây đích thực là người Israel. Lòng dạ ngay thẳng” (Ga 1, 47b).
Khi Nathanaen hỏi Chúa Giêsu làm sao Ngài biết ông, Chúa Giêsu trả lời “Tôi thấy anh ở dưới cây vả” (Ga 1, 48b). Ðiều tiết lộ kinh ngạc này đã khiến Nathanaen phải kêu lên, “Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa; chính Thầy là Vua Israel” (Ga 1, 49b). Nhưng Chúa Giêsu đã phản ứng lại, “Có phải anh tin vì tôi nói với anh là tôi thấy anh dưới cây vả? Anh sẽ được thấy những điều lớn lao hơn thế nữa!” (Ga 1, 50).
Quả thật Nathanaen đã được nhìn thấy những điều trọng đại. Ngài là một trong những người được Chúa Giêsu hiện ra trên bờ biển Tiberia sau khi Phục sinh (Ga 21, 1-14). Lúc ấy các ngài chài lưới cả đêm mà không được gì cả. Vào buổi sáng, họ thấy có người đứng trên bờ dù rằng không ai biết đó là Chúa Giêsu. Ngài bảo họ tiếp tục thả lưới, và họ bắt được nhiều cá đến nỗi không thể kéo lưới lên nổi. Sau đó Gioan nói với Phêrô, “Chính Thầy đó.”
Khi họ dong thuyền vào bờ, họ thấy có lửa cháy hồng, với một ít cá đang nướng và một ít bánh. Chúa Giêsu bảo họ đem cho mấy con cá tươi, và mời họ đến dùng bữa. Thánh Gioan kể rằng mặc dù họ biết đó là Chúa Giêsu, nhưng không một tông đồ nào dám hỏi ngài là ai. Thánh Gioan cho biết, đó là lần thứ ba Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ.
Thiên Chúa Ngài luôn kêu mời chúng ta. Ngài luôn ưu ái dành cho chúng ta một công việc trong công trình xây dựng Nước Thiên Chúa. Xin cho chúng ta biết noi gương thánh Bartôlômêô tông đồ luôn lắng nghe và suy gẫm lời Chúa và quảng đại dấn thân loan báo tin mừng.
Thứ Ba tuần XXI Thường niên (2020)
2Ts 2, 1-3a. 14-17; Mt 23, 23-26
THUỐC ĐẮNG DÃ TẬT
Trong Do thái giáo, luật đóng thuế thập phân trên những sản phẩm con người làm ra là một hành động tôn giáo để nhìn nhận quyền tối cao của Thiên Chúa. Theo luật Môsê được ghi trong sách Thứ Luật, thì chỉ buộc trả thuế thập phân trên những sản phẩm chính là gạo, rượu, dầu, con vật đầu lòng. Thế nhưng, có lẽ vì quá sốt sắng, những Luật sĩ và Biệt phái muốn áp dụng thuế thập phân cho những sản phẩm nhỏ, không cần thiết như: bạc hà, thì là, rau húng.
Chúa Giêsu không kết án các Luật sĩ và Biệt phái vì sự tuân giữ luật Môsê một cách tỉ mỉ; nhưng Ngài kết án vì thái độ không trung thực: họ tuân giữ những điều hết sức nhỏ để tỏ ra mình sốt sắng đạo đức, nhưng họ lại lỗi phạm những điều lớn về đức công bằng và tình yêu thương, họ làm như thế chẳng khác nào lọc lừa con muỗi ra ngoài, nhưng lại nuốt con lạc đà nguy hiểm hơn.
Trong chương 23 của sách Tin Mừng theo thánh Mátthêu, Chúa Giêsu nói tới bảy lần “Khốn cho các ngươi…” (c. 13.15.16.23.27 và 29): bài Tin Mừng hôm qua ba lần, trang Tin Mừng hôm nay hai lần và bài Tin Mừng ngày mai hai lần còn lại:
Khi nói “khốn cho các người”, Chúa Giêsu có vẻ rất nặng lời, nếu chúng ta hiểu đó lời chúc dữ hay nguyền rủa, theo đó những người này, với cách hành xử như thế, sẽ chuốc lấy án phạt nặng nề hay sẽ gặp nhiều tai họa. Tuy nhiên, đó đúng hơn là những lời ta phán, có giá trị mặc khải căn bệnh người ta đang có nhưng không nhận ra; và bệnh tình tự nó đó có những hậu quả tiêu cực cho mình và cho người khác rồi.
Tương tự như những “bất hạnh” mà ngôn sứ Isaia đã công bố (x. Is 5, 8-24 và 10, 1-11, trong những câu này, vị ngôn sứ nói “Than ơi!” đến 8 lần). Chúa Giêsu không bao giờ nguyền rủa hay chúc dữ con người; bởi lẽ sứ mạng của Người chẳng phải là cứu thoát chúng ta khỏi những lời chúc dữ đó sao? Như Người đã nói: “Thầy đến không phải kêu gọi những người công chính, nhưng là những người tội lỗi” (9, 13)?
Con người ban đầu có thể từ chối Chúa Giêsu, nhưng sau đó, lại hối hận, cho dù là thật trễ, và tuyên xưng: “Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa” (c. 39); tương tự như người con thứ nhất ban đầu từ chối lời mời gọi đi làm vườn nho, trong dụ ngôn người cha có hai người con, “nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi” (Mt 21, 29). Trong lời nói của các ngôn sứ, nếu lời hứa cứu độ đã được công bố tiếp theo sau những lời đe dọa về những tai họa sẽ đến (Hs 2, 8.11.16 hoặc Is 6, 13), thì cũng vậy, trong sách Tin Mừng theo thánh Mátthêu, câu cuối cùng này của chương 23: “Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa” trồi hiện lên như là niềm hy vọng rạng ngời bao bọc toàn bộ bảy lời than trách.
Thái độ vụ hình thức của các Luật sĩ và Biệt phái còn được thể hiện trong sự tuân giữ những nghi thức bên ngoài, mà không chăm lo tinh tuyền bên trong: họ lo rửa chén đĩa bên ngoài, mà bên trong tâm hồn thì đầy cướp bóc, tham lam. Việc tuân giữ nghi thức thanh tẩy bên ngoài, việc đến nhà thờ đọc kinh ngoài môi miệng mà thôi chưa đủ, cần phải để cho ơn Chúa biến đổi tận bên trong tâm hồn ngõ hầu trở nên con người mới. Sự hoán cải nội tâm quan trọng hơn và phải đi trước những thực hành đạo đức bên ngoài để tránh thái độ giả hình, vụ hình thức đáng bị Chúa khiển trách.
Qua những lời, có thể nói, thật “đắng” như thuốc chữa bệnh, Chúa Giêsu muốn mặc khải cho những người Pha-ri-sêu và những nhà thông luật, rằng lối suy nghĩ và hành động của họ, là một thứ bệnh; và vì là bệnh, giống như bệnh thể lý, phải có người khám bệnh và cho biết đó là bệnh gì; ngoài ra, như chúng ta đều biết và đôi khi có kinh nghiệm, bệnh tật, tự nó là một bất hạnh. Hiểu theo nghĩa này, chúng ta có thể diễn đạt lại lời của Chúa Giêsu như sau: “bất hạnh cho các người”. Nếu là như thế, ở mức độ nào đó, chúng ta cũng phải được đánh động bởi những lời này của Chúa Giêsu, và nhất là để cho mình bị đụng chạm !
Chúa Giêsu khiển trách các luật sĩ và biệt phái về các tội giả hình. Sự khiển trách nầy có tính cảnh giác, nhằm mục đích để giúp họ sửa lỗi, vì sau lời khiển trách, Chúa lại ban lời hướng dẫn cho họ. Với tinh thần trách nhiệm, chúng ta cũng cần khiển trách lỗi lầm của tha nhân. Hãy theo gương Chúa, sự khiển trách nhằm giúp cho tha nhân hối lỗi và sửa sai, và quan trọng hơn nữa, ta cần tạo điều kiện để hướng dẫn anh em sống tốt hơn.
Trong đời sống đạo đôi khi chúng ta cũng nặng hình thức trình diễn mà quên sống đạo từ tình yêu. Chúng ta chú trọng đến luật thật tỉ mỉ, nhưng lại lỗi công bình, bái ái và thiếu yêu thương. Người biệt phái họ lo rửa tay, rửa chén bát mà lòng đầy gian tham, độc ác. Đôi khi chúng ta cũng chú trọng việc đi lễ mà thiếu lòng sám hối, thiếu tâm hồn hoán cải nên người tốt theo tin mừng. Đôi khi chúng ta chỉ là con chiên ngoan trong nhà thờ nhưng lại là sói dữ ở ngoài đơi. Chúa Giêsu Ngài cần tâm hồn con người sống đạo chân thành hơn là các nghi lễ bên ngoài. Chúa đòi buộc lời nói phải đi đôi với việc làm mới xứng danh là môn đệ của Chúa.
Thứ Ba tuần XXI TN (2017)
Mc 6, 17-29
HÁO SẮC VÀ CÁI CHẾT CHO SỰ THẬT
Thánh Gioan tẩy giả là người anh họ của Đức Chúa Giêsu. Thân mẫu ngài là thánh nữ Êlizabeth và thân phụ ngài là ông Zacaria. Chương đầu tiên của Tin mừng theo thánh Luca thuật lại biến cố sinh nhật tuyệt vời của thánh Gioan. Và Tin mừng theo thánh Marcô, nơi chương thứ 6, các câu 14-29, kể lại những chi tiết tàn bạo về cái chết của Gioan tẩy giả.
Phụng vụ Lời Chúa Lễ nhớ Thánh Gioan Tẩy giả bị trảm quyết hôm nay cho thấy Thánh Gioan Tẩy giả không chỉ người tiền hô của Đấng Cứu Thế, mà còn sống dâng hiến cuộc đời mình cho đức công chính và chân lý Tin Mừng, đến độ hy sinh cả chính bản thân mình, để bảo vệ chân lý ấy, như được phản ảnh trong Mc 6, 17-29.
Vua Hêrôđê lấy vợ của anh mình là bà Hêrôđia. Gioan nói cho Hêrôđê biết điều ấy là sai, nhưng Hêrôđê và Hêrôđia không muốn nghe và giữ giới luật của Thiên Chúa. Họ chỉ muốn làm theo ý riêng mình. Và Gioan tẩy giả đã phải trả giá cho lòng tốt của ngài! Tuy nhiên, thánh nhân không thể hành động theo cách khác được. Ngài không im lặng trước tội lỗi và bất công. Sứ mệnh của Gioan là mời gọi người ta cải hối cuộc đời; và ngài mong muốn cho hết thảy mọi người được ơn giao hòa cùng Thiên Chúa.
Hêrôđê đã đi vào con đường tội lỗi. Sự dại gái, khôn nhà, dại chợ của Hêrôđê đã khiến vị vua này trở nên ngông cuồng điên dại. Sống trong tội lỗi,tâm hồn của Hêrôđê đã trở nên mù quáng, tối tăm. Ở trong bóng tối, Hêrôđê đã không còn biết phân biệt đâu là phải, đâu là trái. Ông đã hành động tùy tiện việc nước, đã ăn chơi, chè chén trác táng. Ông không còn biết nhận ra sự thật. Số là Hêrôđê đã cướp vợ của ngay người em mình. Sự loạn luân không thể tha thứ, đã làm cho Gioan Tẩy Giả phải lên tiếng quở trách nặng lời hành động vô luân của Hêrôđê và Hêrodias, vợ loạn luân của Hêrôđê. Đúng như lời Kinh Thánh nói: “Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan. Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng…” (Ga 1,6-7).
Trong khi Hê-rô-đê vì ham danh háo sắc đã bịt tai trước tiếng lương tâm ngay chính và chiếm đoạt người vợ của anh mình, thì Gio-an Tẩy Giả, người ngôn sứ cuối cùng, sẵn sàng chịu tù đày để làm chứng cho chân lý, bảo vệ luật hôn nhân. Thái độ của Gio-an Tẩy Giả là một tuyên ngôn cho thấy rằng giá trị của hôn nhân là tuyệt đối, không ai có quyền xâm phạm dù đó là người có chức có quyền đến đâu đi nữa. Đồng thời đó cũng là lời chứng cho sứ mạng của người ngôn sứ: phải nói lời của Thiên Chúa, cho dù “nói thật mất lòng”, và thậm chí mất mạng nữa.
Hêrôđia đã giữ mối hận thù đối với Gioan. Và khi dịp thuận tiện xảy đến, bà đã ra tay sắp đặt để Gioan bị chém đầu. Gioan đã phải chấp nhận những hậu quả nghiệt ngã cho việc giảng dạy chân lý Phúc âm.
Thánh Gioan tẩy giả rao giảng phép rửa sám hối, chuẩn bị cho người ta đón nhận Đấng Mêsia. Ngài đã làm phép rửa cho Chúa Giêsu trong dòng sông Giođan và được hưởng kiến niềm vui vì sứ mệnh công khai của Chúa Giêsu đã khởi sự. Gioan tẩy giả đã khích lệ các môn đồ của mình đi theo Đức Chúa Giêsu. Ngài biết rằng danh Chúa phải tỏa sáng ra, còn danh mình phải lu mờ đi. Trong chương thứ nhất Phúc âm theo thánh Gioan, thánh Gioan tẩy giả nhận mình chỉ là tiếng kêu trong hoang địa, chỉ thức tỉnh người ta hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng mà thôi! Thánh nhân mời gọi mọi người hãy sẵn sàng để chuẩn bị đón nhận Đấng Mêsia
Vua sẵn sàng cho lệnh chém đầu Gioan Tẩy Giả. Cái chua xót càng dâng cao khi Vua Hêrôđê cho thị vệ chém đứt đầu Gioan Tẩy Giả và đặt trên mâm theo lời xúi giục của bà Hêrôđia (Mc 6, 24-25). Sự việc càng mỉa mai hơn khi Vua vừa tỉnh vừa say và để hồn mình mê ly theo điệu vũ của đứa con gái của bà Hêrôđia (Mc 6, 22). Đối với chúng ta đọan Tin Mừng của thánh Marcô 6, 26 càng làm chúng ta ngao ngán vì con người dâm ô, bạo tàn và chà đạp sự thật, chà đạp công lý và vượt trên cả pháp luật của đất nước mà Hêrôđê trị vì: “Nhà Vua buồn lắm, nhưng vì lời thề, và khách dự tiệc, nên không muốn thất hứa với con gái Hêrôđia”.
Một lệnh truyền của một bạo Chúa trong lúc say sưa chè chén với bọn bá quan văn võ và các thân hào miền Galilê trong ngày sinh nhật của mình (Mc 6, 21). Một lời hứa dựa trên cảm tính, hết sức thô bạo và coi thường luật pháp của mình, Hêrôđê đã làm một việc hết sức tàn nhẫn, giết chết một vị ngôn sứ vô tội để thỏa mãn thú tính đê hèn của mình. Cái chết của Gioan Tẩy Giả đã là một lời cảnh tỉnh tất cả những ai quyết định thiếu khôn ngoan, thiển cận, ích kỷ, đê hèn chỉ nghĩ tới mối lợi đê tiện của cá nhân mình mà quên đi việc lớn lao hơn: “đại nghĩa”. Thánh Gioan Tẩy Giả đã chết đi nhưng sự ra đi của Ngài được nâng cao trên đài danh vọng, danh vọng của những vị ngôn sứ đích thực, những ngôn sứ dám nói lên sự thật, vì Gioan Tẩy Giả cũng đã chịu cầm tù, đau khổ trong tù ngục, và chết để làm chứng cho những lời rao giảng của mình.
Con người có phẩm giá cao cả vì con người có lương tâm. Lương tâm chính là ánh mắt yêu thương của Thiên Chúa không ngừng dõi theo con người để mời gọi thôi thúc con người vươn lên. Thảm trạng đau thương nhất của cá nhân cũng như của xã hội chính là tiếng nói của lương tâm bị bóp nghẹt. Xét cho cùng, thảm trạng ấy cũng đồng lõa với việc loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống. Khi ánh mắt yêu thương của Thiên Chúa không còn nhìn xuyên qua tâm hồn con người nữa, thì đó là lúc con người đang dãy chết.
Gioan Tẩy Giả đã chết đi để bảo vệ cho sự thật, minh chứng cho Chúa Giêsu: “Đấng là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14, 6).
Gioan Tẩy Giả chỉ là vị ngôn sứ dọn đường cho Chúa Cứu Thế: “Tôi chỉ là tiếng kêu trong hoang địa, để dọn đường cho Chúa đến” (Mc 1,23) và khi Đấng Thiên Sai đến, thánh nhân xác định rõ ràng: “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi” (Ga 3, 30). Thánh Gioan Tẩy Giả đã trở nên chứng nhân tuyệt vời và hoàn hảo nhất nơi Đức Kitô Giêsu.
Thánh Gioan Tẩy Giả đã sống hoàn toàn đúng nghĩa của một vị ngôn sứ chân chính, đích thực, Ngài đã hoàn toàn đáp trả lại lời mời gọi yêu thương của Thiên Chúa: “Ngài đã không sợ hãi, lớn tiếng trước mặt các Vua Chúa. Ngài đã hiến mạng sống cho công bình và chân lý”. Thánh Gioan Tẩy Giả đã vạch mặt chỉ tên mọi người sống bê tha, tội lỗi. Lời rao giảng sám hối và phép rửa cải tà qui chánh, cải hoá nội tâm của Ngài đã nói lên một sự thực muôn đời: “Tất cả đều phải sám hối và ăn năn”. Thánh nhân đã không chùn bước trước những thế lực mạnh nhất lúc đó là Hêrôđê. Ngài đã can đảm nói lên việc Hêrôđê cướp vợ của anh mình là Philíp, nàng Hêrôđia… Sự can đảm và cương quyết của Ngài đã bị cường bạo đè bẹp bằng lời hứa thật đê hèn và thô bạo. Nhưng cái chết của thánh Gioan Tẩy Giả đã minh chứng cho chân lý ngàn đời: “Sự thật sẽ giải phóng tất cả”.
Thật vậy, cái chết của Thánh Gioan Tẩy giả là kết quả tất yếu của một con người dám sống cho sự thật. Trước thế lực của thế gian và bóng tối tội lỗi thì số phận của những người công chính và thánh thiện trở nên quá mong manh. Dẫu biết thế, Thánh Gioan Tẩy giả vẫn can đảm bênh vực sự thật, mạnh mẽ lên án lối sống vô luân của bạo chúa Hêrôđê.
Hue Minh
Thứ Tư tuần XXI TN
Mt 23, 27-32
LOẠI TRỪ SỰ GIẢ DỐI
Khi thấy được những Luật Sĩ và Biệt Phái sống kiểu bịp bợm, lưu manh..., Chúa Giêsu đã không muốn để cho dân chúng bị mắc hợm và cũng không muốn các môn đệ của mình khi thi hành sứ vụ lại có một lối sống như họ. Vì thế, Ngài đã thẳng thắn phê phán họ cách công khai và hướng dẫn các môn đệ về cách thức thi hành Luật Chúa.
Hôm nay Chúa Giêsu dùng lời lẽ nặng nề để quở trách những người biệt phái và luật sĩ. Ngài dùng hình ảnh "nấm mồ": bên ngoài được tô sơn rất đẹp, nhưng bên trong lại đầy hôi thối vì xác chết. "Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình: vì các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ tốt đẹp, nhưng bên trong đầy xương kẻ chết và mọi thứ dơ nhớp. Các ngươi cũng thế, bên ngoài, các ngươi có vẻ là người công chính, nhưng bên trong, các ngươi đầy sự giả hình và gian ác".
Những kinh sư và những người Pharisiêu là những nhà lãnh đạo Do Thái giáo, những thầy dạy trong dân mà họ lại “sống giả hình”, họ dẫn dân đi trên “đường mù quáng” của chính họ. Chúa Giêsu cực lực phản đối thái độ sống như vậy. Thực ra trở ngại của những kinh sư và những người Pharisiêu khiến Chúa Giêsu phải nặng lời không phải là điều khó khăn quá sức không thể dứt bỏ, nó chỉ như những cục đá nhỏ nhưng họ không dám bỏ đi mà thôi.
Người ta vẫn thường nhắc nhở: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” nhưng chúng ta vẫn bị quyến rũ mạnh mẽ bởi cái dáng vẻ bên ngoài. Chính vì thế trước những chiêu quảng cáo tinh vi, các khách hàng là “thượng đế” dễ dàng mềm lòng tưởng rằng chất lượng sản phẩm tất nhiên đi đôi với mẫu mã đẹp hoặc tin như đinh đóng cột rằng khi dùng những sản phẩm này hoặc dịch vụ nọ mình sẽ đẹp hơn, thông minh hơn, “đẳng cấp” hơn… Tình trạng “mập mờ đánh lận con đen” ấy càng dễ xảy ra trong đời sống tâm linh: Có biết bao người “ngoài miệng thì niệm nam mô, trong lòng thì chứa một bồ dao găm” và Thánh Vịnh cũng điểm mặt: “Miệng thì chúc phúc cầu an, mà lòng nguyền rủa chứa chan những lời” (Tv 62, 5b). Chúa khiển trách họ nặng nề và gọi họ là những “nấm mồ tô vôi” bên ngoài đẹp đẽ mà trong thì đủ mọi thứ ô uế.
Lời quở trách thứ 6 này giống như lời quở trách thứ 5 về sự sự giả hình bên ngoài, chỉ khác hình ảnh: "mồ mả" thay vì "chén đĩa". "Khốn cho các ngươi, hỡi những luật sĩ và biệt phái giả hình, vì các ngươi rửa bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong, các ngươi đầy gian tham và nhơ bẩn". Đây là những hình ảnh dành cho người biệt phái và luật sĩ: bên ngoài giữ luật rất tốt, đạo đức như cầu nguyện lâu giờ, cầu nguyện ở ngả ba đường, ăn chay tua áo thật dài... nhưng trong lòng họ đầy những xấu xa.
Nhờ sự phát triển của kỹ thuật, công nghệ làm hàng giả hàng nhái ngày càng tinh vi. Chưa bao giờ người tiêu dùng nơm nớp lo sợ vì mua phải hàng dỏm như hiện nay: nhìn bên ngoài thì giống hệt như hàng thật, hàng chính hãng, nhưng mua về xài chưa được mấy bữa thì đã rơi vào cảnh ‘bỏ thì thương, vương thì tội’. Tình trạng đó cũng song hành trong đời sống đạo. Một khi chuộng cái mã bên ngoài hơn là trau chuốt nét đẹp bên trong, người ta sẽ tạo cho mình một vỏ bọc đạo đức và tự hài lòng về vỏ bọc ấy. Lúc đó, “chất” Tin Mừng chỉ đọng lại ở những việc đạo đức hình thức chứ không thấm vào mọi ngõ ngách của cuộc sống.
Chẳng phải chỉ thời những kinh sư và Pharisêu mới có nạn giả hình, giả dối! Thời nay cũng lắm sự giả dối: bằng giả, thực phẩm giả, hàng hóa giả v.v, đánh lừa người khác bằng vẻ bề ngoài hào nhoáng, hấp dẫn. Tinh quái hơn, người ta còn cố che đậy “mọi thứ ô uế” bên trong bằng những mỹ từ nghe rất vô hại, ví dụ: phá thai thì gọi là “điều hòa,” “bảo vệ sức khoẻ”, v.v... Vì thế, thật khó nhận ra bên trong thế giới rất tự hào về văn minh này lại đang nhung nhúc những thứ giả dối và gian ác.
Quả thực là ở đâu, vào thời nào, thói giả hình vẫn tồn tại trong lòng con người; và hơn nữa đối với các Kitô hữu, nó lại là một cơn cám dỗ triền miên. Chúng ta dễ có khuynh hướng trau chuốt bề ngoài để che đậy những xấu xa bẩn thỉu bên trong. Dĩ nhiên, xã hội cũng phải có những ràng buộc nhằm tạo nên trật tự và hài hoà. Nhưng nếu sự hài hoà đó không thể hiện trật tự nội tâm con người thì nó chỉ là một cái vỏ giả tạo, một nấm mồ được tô vẽ đẹp đẽ bên ngoài còn bên trong thì “đủ mọi thứ ô uế.”
Căn bệnh giả dối này đã di căn trong nhân loại mọi thời. Sách Sáng Thế vạch rõ sự dối trá được buông ra từ miệng lưỡi xỏ xiên của một con vật mà sách Khải Huyền gọi là “tên chuyên mê hoặc toàn thể thiên hạ” (Kh 12,9), và trong ngày cánh chung chúng và những người thích điều gian dối sẽ “bị tống ra ngoài” (Kh 12,10; 22,15), bị loại ra khỏi Giêrusalem mới trên thiên quốc (Kh 20,10). Chỉ có sự thật sẽ giải phóng con người (Ga 8,32) và Thiên Chúa chính là Sự Thật.
Ngày hôm nay vẫn còn những kitô hữu trên danh nghĩa, nghĩa là những người không thực hành đạo Chúa. Lời Chúa hôm nay mời gọi ta hoán cải. Ta đọc kinh cầu nguyện, xem lễ đọc kinh, tham gia các hội đoàn, phục vụ giáo xứ, đó là những điều rất tốt. Ta hãy làm tất cả vì vinh danh Thiên Chúa và phần rỗi các linh hồn. Ta hãy tín thác vào Chúa và dùng những cơ hội Chúa ban để có thể phục vụ, và làm những việc tốt lành, sống bao dung, sống chân thật.
Huệ Minh
27 tháng Tám 2020
Thứ Năm- Thánh Mônica
KIÊN NHẪN VÀ KIÊN NHẪN
Hc 26, 1-4. 16-21; Lc 7, 11-17
Lượt lại một chút về hoàn cảnh cuộc đời thánh Monica. Chính vì hoàn cảnh mà Monica gặp phải nên đã có thể biến ngài thành một người vợ hay cằn nhằn, một nàng dâu chua chát và một người mẹ tuyệt vọng, tuy nhiên ngài đã không chịu thua bất cứ cám dỗ nào. Khi còn nhỏ, bé Monica đã có lần lẻn vào hầm rượu uống lén rượu. Người đầy tớ gái trong cơn bực bội đã gọi cô là “đồ say rượu”. Từ đó cô quyết sống tự trọng và bền tâm tập luyện nhân đức.
Mặc dù cô là một Kitô hữu, cha mẹ cô đã gả cô cho một người ngoại giáo, ông Patricius, là người sống cùng tỉnh Tagaste ở Bắc Phi châu. Patricius là người tốt nhưng ông vô cùng nóng nảy và phóng túng. Ngoài ra thánh Monica còn phải chịu đựng bà mẹ chồng hay gắt gỏng. Ông Patricius thường rầy la vợ vì bà hay thương người và đạo đức.
Thế nhưng rồi ông Patricius, chồng bà, cũng hết sức cộng tác cùng bà trong việc dạy dỗ các con cái. Sự cầu nguyện và gương mẫu đời sống của thánh Monica sau cùng đã chinh phục được người chồng cũng như mẹ chồng, ngài đã đưa họ trở về với đức tin Kitô Giáo. Bà cũng thường khuyên bảo các phụ nữ hai điều cần thiết để giữ gìn bình an trong gia đình: Một là luôn nhớ đến lời giao ước hôn nhân mình đã đảm nhận, hai là biết thinh lặng khi chồng nổi nóng. Ông Patricius chết năm 371, sau khi chịu rửa tội được một năm.
Thánh nữ Monica là một phụ nữ giàu những năng lực nội tâm, được khơi dậy một cách mãnh liệt bởi một đức tin sâu xa, nhưng không phải không kinh qua những thử luyện. Bà ít nhất có ba người con vượt qua được ngưỡng cửa ấu nhi. Người con cả, Augustinô Hippo, nổi tiếng nhất (sau này là thánh). Cha và Mẹ Augustinô đều nhất trí cho con học lớp tòng đạo. Nhưng có lẽ các ngài còn chưa dứt khoát lo cho con được rửa tội ngay. Vào lúc cha chết, Augustinô mới 17 tuổi và là sinh viên trường hùng biện ở Carthage.
Thánh Monica thật đau buồn khi thấy con mình trong thời học đạo, đã đi theo tà thuyết Manikê và sống cuộc đời phóng đãng, dan díu với một cô gái và không trung thành với thời kỳ học tòng đạo của mình. Bà đã mạnh mẽ từ chối không cho con được tiếp tục sống trong nhà mình vì sự phản bội đó. Cho tới khi, trong một đêm kia, ngài được thị kiến và được đảm bảo là Augustinô sẽ trở về với đức tin. Từ đó trở đi ngài quyết sống gần con, ăn chay và cầu nguyện cho con.
Khi 29 tuổi, Augustinô quyết định đi Rôma để dạy văn chương và thuật hùng biện. Một tối kia, Augustinô nói với mẹ là anh ra bến tàu để từ giã bạn bè. Nhưng, anh lại lên tàu đi Rôma. Thánh Monica thật đau lòng khi biết mình bị lừa, nhưng ngài nhất định đi theo. Vừa đến Rôma thì ngài lại biết là Augustinô đã đi Milan. Mặc dù việc di chuyển khó khăn, thánh Monica vẫn nhất định bám sát con tới tận Milan.
Ở đây, Augustinô chịu ảnh hưởng bởi một Giám mục, Ðức cánh Monica. Bà Monica chấp nhận lời hướng dẫn của Đức Giám mục trong mọi chuyện và có lòng khiêm nhường từ bỏ các thực hành đạo đức thân quen đã trở thành bản tính thứ hai của bà (xem đoạn trích ở dưới). Bà trở thành người lãnh đạo của nhóm phụ nữ đạo đức ở Milan cũng như khi ở Tagaste.
Bà tiếp tục cầu nguyện cho Augustinô trong những năm anh dạy học. Vào lễ Phục sinh năm 387, Ðức cha Ambrôsiô rửa tội cho Augustinô và một vài người bạn của anh. Tất cả bọn họ họp thành một nhóm bạn hữu hết sức yêu thương giúp đỡ nhau để sống đạo. Thánh nữ Monica cũng tỏ ra là một người mẹ khôn ngoan, có một ảnh hưởng tốt đối với nhóm. Kinh qua nhóm đó, Augustinô đã có được một kinh nghiệm sống cộng đoàn mà ngài thật sự quí chuộng.
Augustinô và các bạn mình một hôm thảo luận với nhau xem điều gì đem lại cho con người hạnh phúc. Thình lình mẹ Monica tới và tham gia vào cuộc thảo luận. Mẹ đã bộc lộ rõ tất cả chiều sâu tâm linh của mình. Khi cả nhóm nhất trí rằng để được hạnh phúc, thì con người buộc phải có được điều mình ước muốn. Mẹ Monica liền nêu lên một sự phân biệt quan trọng: “Nếu người ấy ước ao có được những điều tốt lành, thì người ấy mới hạnh phúc; còn nếu người ấy chỉ ước ao điều xấu, thì dù họ có được bất cứ điều gì họ ước muốn, nhưng họ vẫn chỉ là con người khốn khổ, đáng thương. Augustinô lập tức công nhận mẹ mình là một triết gia bậc thầy, và ví mẹ với triết gia Cicerô! Không lâu sau đó, cả nhóm đi Phi châu.
Dù không ai để ý tới, nhưng thánh Monica biết cuộc đời ngài sắp chấm dứt, ngài nói với Augustinô, “Con ơi, không có gì trên trần gian này làm mẹ vui lòng cả. Mẹ không biết còn có gì mẹ phải làm tại đây không hay tại sao mẹ còn phải ở lại đây nữa, vì mọi điều mẹ trông đợi ở trần gian này đều đã được hoàn tất?” Sau đó không lâu ngài bị bệnh và chịu đau đớn ghê gớm trong chín ngày trước khi từ trần.
Ngoài thánh Augustinô ra, chúng ta thấy bà còn một người con trai tên là Navigius, đôi khi xuất hiện trong bút tích của thánh Augustinô. Bà còn một người con gái là Perpetua, sau này trở thành bề trên của một tu viện các nữ tu.
Trở về với Tin mừng, trong cuộc sống công khai, chắc chắn Chúa Giêsu đã chứng kiến nhiều cái chết cũng như tham dự nhiều đám tang. Nhưng việc Ngài làm cho kẻ chết sống lại được Tin Mừng ghi lại không quá ba lần: một em bé gái con của vị kỳ mục trong dân; Lazarô em trai của Marta và Maria; người thanh niên con của bà góa thành Naim. Cả ba trường hợp chỉ là hồi sinh, chứ không phải là phục sinh theo đúng nghĩa, bởi vì cuộc sống của những người này chỉ kéo dài được thêm một thời gian nữa, để rồi cuối cùng cũng trở về với bụi đất.
Chúa Giêsu đã không đến để làm cho con người được trường sinh bất tử ở cõi đời này, đúng hơn, Ngài đưa con người vào cuộc sống vĩnh cửu. Nhưng để đi vào cuộc sống vĩnh cửu thì điều kiện tiên quyết là con người phải kinh qua cái chết. Chết vốn là thành phần của cuộc sống và là một trong những chân lý nền tảng nhất mà Chúa Giêsu đến nhắc nhở cho con người. Mang lấy thân phận con người là chấp nhận đi vào cái chết. Chính Chúa Giêsu cũng không thoát khỏi số phận ấy. Thánh Phaolô đã nói về thái độ của Chúa Giêsu đối với cái chết: "Ngài đã vâng phục cho đến chết và chết trên Thập giá". Ðón nhận cái chết và đi vào cõi chết như thế nào để cuộc sống có ý nghĩa, đó là điều Chúa Giêsu muốn bày tỏ cho con người khi đi vào cái chết.
Một trong những cái chết vô nghĩa và do đó cũng chối bỏ ý nghĩa cuộc sống, đó là tự tước đoạt sự sống của mình. Những cái chết như thế là lời tự thú rằng cuộc sống không có, cuộc sống không còn ý nghĩa và như vậy không còn đáng sống. Jean Paul Sartre, người phát ngôn của cả thế hệ không tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống, đã viết trong tác phẩm "Buồn Nôn": "Tôi nghĩ rằng chúng ta đang ngồi đây ăn uống là để bảo tồn sự quí giá của chúng ta, nhưng kỳ thực, không có gì, tuyệt đối không có lý do gì để sống cả".
Chúa Giêsu đã vâng phục cho đến chết. Ðón nhận cái chết, Ngài đã thể hiện cho chúng ta thấy thế nào là một cuộc sống sung mãn, Ngài đã chứng tỏ cho chúng ta thấy thế nào là một cuộc sống có ý nghĩa và đáng sống. Ðón nhận cái chết như ngõ đón vào vinh quang phục sinh, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy điểm đến và vinh quang đích thực, đó là sự sống vĩnh cửu. Ngài đã vâng phục cho đến chết. Vâng phục của Ngài là vâng phục trong tin tưởng, phó thác, trong khiêm tốn và yêu thương; đó là điều mang lại ý nghĩa cho cuộc sống và làm cho cuộc sống trở thành đáng sống.
Xin cho mỗi người chúng ta biết vâng phục Thiên Chúa Cha như Chúa Giêsu đã vâng phục.
Huệ Minh 2020
Thứ Tư tuần XXI Thường niên
2Ts 3, 6-10. 16-18; Mt 23, 27-32
SỐNG SAO ĐỪNG ĐỂ RƠI VÀO "KHỐN"
Ở đời thường nhiều lúc chúng ta không biết đâu là giả, đâu là thật. Cái đáng thật thì chúng ta coi là giả, ngược lại cái giả thì chúng ta đinh ninh rằng đó là thật và đấn thân đi theo. “Vàng thau lẫn lộn”; đâu là giả, đâu là thật, ai đứng ra giải thích trong các trường hợp cấp bách, mốn biết cứ phải kiểm chứng sao? Vì vậy cái giả, cái thật trộn lẫn làm cho con người ta mất phương hướng, không biết tin vào ai, không dám đặt niềm tin vào ai.
Từ thuở tạo thiên lập địa tới nay, cái thật cái giả luôn tồn tại song song, có cái thật, chắc chắn sẽ có cái giả và ngược lại. Cái thật thì luôn ở ngoài ánh sáng, cái giả thì ở trong bóng tối. Cái giả luôn luôn đẹp hơn, lộng lẫy hơn và bắt mắt hơn, cái giả thì đẹp về hình thức, cũng như kết cấu vẻ bề ngoài sang trọng. hầu đánh lừa thị hiếu của thiên hạ, làm cho thiên hạ tin rằng đó là thật.
Bên cạnh đó cái thật thì không lộng lẫy xa hoa, có thể nói được là xù xì chất phác, không trọng vẻ bề ngoài, nhưng chất chứa một chất lượng tuyệt vời. Nó là thật thì nó luôn đảm bảo chất lượng, luôn làm cho người dùng hay sở hữ nó có thể yên tâm. Có thể nói cái thật thì không thể so sánh được với cái giả, và cuối cùng cái thật luôn là thật, nghĩa là chân lý luôn đúng. Cái giả tàn phai tàn nhanh theo thời gian, cái thật tồn tại vĩnh hằng. Cái giả đánh lừa thị hiếu, cái thật làm thỏa mãn lòng người.
Đó là những thứ đời thường của con người. Trong bài tin mừng hôm nay Chúa Giêsu cũng lên án mạnh mẽ các nhà kinh sư và những kẻ đạo đức giả. Ngài nhắc lại hai lần trong đoạn tin mừng “”Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pha-ri-sêu giả hình!”. Ngài dùng từ “Khốn” để cảnh báo kinh sư và người Pha-ri-sêu. Từ “khốn” nó đối lập với từ “may” “mừng”… Để nói lên một trạng thái không mấy là tốt đối với những người nhận từ này. Có thể nói đây là một lời chúc giữ tới hơn là một lời cảnh báo. Lời này Chúa Giê su đã dành cho các người biệt phái và Pha-ri-sêu, họ là những con người giả dối, hình thức, làm mọi việc để đánh bóng thân xác mình thay vì vinh danh Chúa.
Với lời kết án thứ sáu, Chúa Giêsu ví các Luật sĩ và Biệt phái như những mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Tại Palestina, người dân có thói quen quét vôi trắng các mồ mả, nhất là vào dịp lễ Vượt Qua, để người ta có thể nhận ra và tránh xa khỏi bị nhơ uế ngăn trở cho việc phụng tự. Vẻ đẹp bên ngoài của các mồ mả che dấu thực tại ghê tởm bên trong. Cũng vậy, các Luật sĩ và Biệt phái bên ngoài xem ra là những người công chính, nhưng bên trong thì đầy sự giả hình và tội ác; việc họ giữ luật cách nghiêm nhặt chỉ là tấm màn che đậy một đời sống tương phản với những điểm cốt yếu của Lề Luật Thiên Chúa, đó là sự công bình, lòng bác ái và trung tín.
Trong lời kết án thứ bảy, Chúa Giêsu tố cáo sự giả hình của các Luật sĩ và Biệt phái: họ xây mồ cho các tiên tri và sửa sang phần mộ những kẻ mà cha ông họ đã sát hại; họ than trách tội ác của cha ông họ trong quá khứ và tự phụ rằng nếu sống vào thời tổ tiên, họ sẽ không hành động như thế; nhưng họ quên rằng họ là con cháu của những kẻ đã sát hại các tiên tri, và giờ đây họ đang đi vào con đường đó bằng việc mưu hại Ngài.
Không chỉ bài tin mừng hôm nay, các bài tin mừng khác nữa ta thấy Chúa Giêsu cũng nặng lời với họ. Tin mừng ngày thứ hai Chúa cũng nói “Khốn cho các người, những kẻ dẫn đường mù quáng!. Và chúng ta đọc trong các tin mừng, chúng ta không khó để tìm ra những từ mà Chúa đã lên án những người Pha-ri-siêu.
Gian dối, nghĩa là đạo đức giả, là thứ tội dựa vào vẻ bề ngoài : nó tách biệt vẻ bề ngoài ra khỏi sự thực ; nó tách chữ viết của Lề Luật ra khỏi tinh thần của Lề Luật để sử dụng Lề Luật cho sự dữ (x. 2 Cr 3, 6).
Gian dối được hiểu như trên, giúp chúng ta nhận ra cách hành xử của Satan trong lịch sử loài người, vốn hội tụ nơi Thập Giá của Đức Kitô và bị làm cho phải lộ nguyên hình. Thật vậy, nơi Thập Giá, Satan đem lại cho ý muốn hủy diệt của nó vẻ bề ngoài công chính của Lề Luật. Tất cả những ai đi với Satan đều làm như thế. Satan phô bày hình dạng bên ngoài hay tính khả giác của sự thiện. Tôi tớ của Satan cũng làm như thế.
Satan sẽ rơi vào chính cái bẫy của nó. Thật vậy, Thiên Chúa mang lại cho sự thánh thiện của thân thể Đức Kitô vẻ bề ngoài của sự bất chính, bởi vì thân thể thánh thiện này sẽ giống như thân thể của một người bị chết phơi thây vì sự bất chính của mình, như là một tội nhân chết trên giá treo cổ, nơi của “công lý”, vốn thu hút loài người chúng ta; bởi vì tội và sự tan nát thể xác đi đôi với nhau. Đó chính là nơi hẹn gặp mà các Thánh Vịnh nêu ra một cách thật rõ ràng.
Chúng ta đang sống trong một thế giới văn minh, hiện đại, cái mà con người đang phải đối mặt đó là sự giả dối. Con người càng phát triển, sự giả dối càng tinh vi hơn, khó nhận biết hơn và chắc chắn mọi người mắc phải nhiều hơn. Không chỉ trên báo đài mà chúng ta có thể bắt gặp hằng ngày những đồ vật giả, những hình thức lừa đảo lấy giả làm thật, bằng giả, tất cả mọi thứ con người có thể làm giả kể cả con người họ cũng có thể làm giả.
Nhìn lại cuộc đời của mỗi người, chúng ta có nằm trong số những người đó không, chúng ta có chạy theo họ? Làm theo họ? hay chúng ta có bị ngã chiều? Hy vọng chúng ta không nằm trong số những người bị Chúa Giê-su gọi là “khốn” mà Ngài sẽ gọi chúng ta là: “phúc cho con” hay “mừng cho con”.
Loài người chúng ta bị bệnh bởi những vẻ bề ngoài, bởi những gian dối công chính, bởi những hình ảnh sai lầm về Thiên Chúa, bởi sự thánh thiện hay bác ái ảo tưởng ; khi chúng ta nhìn thấy tất cả những vẻ bề ngoài này bị dập tắt và chết đi trên Thập Giá của Đức Kitô, đó chính là điều chữa lành chúng ta và trả lại cho chúng ta cái nhìn lành mạnh.
Chúa Giêsu cũng chờ đợi nơi mỗi người chúng ta những thành quả tốt đẹp của việc cải hóa tâm hồn, nếu không, chúng ta cũng sẽ phải lãnh nhận số phận như các Luật sĩ và Biệt phái: cây khô sẽ bị chặt đi và bị ném vào lửa đời đời. Xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi sự giả hình, khỏi tính ích kỷ và tự mãn. Xin cho chúng ta khiêm tốn nhận mình tội lỗi và thành tâm trở về với Chúa.
Thứ Sáu tuần 21 TN-
28-8-2020 Thánh Augustinô, giám mục, tiến sĩ
1Ga 4, 7-16; Mt 23, 8-12
HOÁN CẢI NHƯ THÁNH AUGUSTINO
Mỗi vị thánh đều có phong cách, lối sống đặc thù, riêng biệt. Thánh vì được Chúa dọi chiếu xuyên suốt toàn con người, được Chúa biến đổi không ngừng con người ấy trở nên giống hệt như Chúa qua những nhân đức Người đã sống, đã truyền dậy. Nói như Thánh Phaolô tông đồ: “Hãy mặc lấy Đức Kitô“. Thánh Augustinô đã cởi bỏ con người cũ, đã mặc lấy chính Đức Kitô. Cuộc đời của Ngài đã hoàn toàn thay đổi .
Việc kính nhớ thánh Augustin, một trong bốn tiến sỹ lớn của Giáo hội la tinh, qua đời tại Hippone ngày 28 tháng 8 năm 430, đã xuất hiện trong sách các phép thế kỷ thứ III, và ở Roma từ thế kỷ XI.
Aurelius Augustinus sinh ngày 13 tháng 11 năm 354 tại Thagaste (nay là Souk-Ahras, Algéric) ở châu Phi thuộc Roma. Là công dân Roma, con một người cha không công giáo tên Patricius và một bà mẹ công giáo tên Mônica, Augustin trước học văn phạm ở Madanre, đến năm 371, đi sang Carthage thủ phủ châu Phi Roma để theo học triết lý - Mê say đọc Hortensius của Cicéron, Augustin khám phá triết học và đam mê đi tìm chân lý.
Vì nhu cầu nuôi sống gia đình ông buộc lòng nhận dạy tu từ học ở Carthage. Thời gian đó ông theo lạc thuyết Manichée trong chín năm, mong tìm được chân lý nơi tôn giáo này. Trước tiên, ông bị mê hoặc bởi giáo thuyết này tưởng có thể giải thích sự tranh chấp giữa Thiện và Ác, cái đẹp và những điều lộn xộn nơi thế giới, nhưng rồi ông thất vọng.
Năm 383, Augustin bỏ Carthage sang Roma trước khi đến Milan lúc đó là thủ phủ đế quốc Roma phương Tây, tại đây ông cũng dạy tu từ. Mẹ Ngài là bà Mônica đã đến tìm gặp ông ở đây, và cũng chính tại đây, đường chuyển biến tinh thần của Augustin kết thúc nhờ thánh giám mục Ambroise mở đường cho Ngài hiểu Kinh thánh và một thứ tân Platon thuyết có vẻ đáp ứng niềm khát mong chân lý nơi Ngài. Giờ đây Augustin đã sẵn sàng cho bước nhảy tới Chúa, tức là trở lại.
Một giai thoại nhiều người biết xảy ra trong vườn nhà Ngài ở Milan đã được thánh nhân kể trong quyển Tự Thuật: “Tâm hồn đau đớn, con tim tan nát, tôi đang khóc, bỗng tôi nghe từ nhà bên cạnh tiếng hát của một người con trai hay con gái không rõ. Tiếng hát không rõ nhưng nghe lặp nhiều lần: Tolles, lege. Tolles, lege (Cầm lên, đọc đi ! Cầm lên, đọc đi !). Vậy nên tôi vội vã đến chỗ Alypius ngồi, tôi cầm lấy cuốn sách của Thánh Tông đồ, mở ra và im lặng đọc khúc đầu tiên bắt gặp: Đừng chè chén say sưa, đừng chơi bời dâm đãng, cũng đừng cải cọ ghen tuông. Trái lại hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô và đừng chiều theo xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng (Rm 13,13) ... Chính lúc này, như có một luồng sáng tỏa lan hồn tôi phá tan mọi bóng tối nghi ngờ” (XIIII,12). Tám tháng sau, thánh Ambroise rửa tội cho Ngài trong đêm Phục sinh đêm 24 rạng sáng ngày 25 tháng tư năm 387.
Thánh Augustinô đã được Chúa biến đổi hoàn toàn. Từ một chàng thanh niên hư hỏng, trụy lạc, coi như là đã bị loại ra khỏi xã hội. Thánh nhân đã mặc lất tâm tình của Chúa Kitô. Thánh nhân đã làm một cuộc trở lại tận căn, sám hối, ăn năn như Phêrô đã chối Chúa 3 lần,Chúa nhìn Phêrô, Phêrô nhìn Chúa, Chúa đã thứ tha cho Phêrô tội tầy đình ông đã phạm. Còn Augustinô là người ngoại, đã được ơn hoán cải do lời cầu nguyện tha thiết và do những giọt lệ của bà thánh Monica,
Augustinô đã gặp Chúa, đã thay đổi nếp sống của mình, đã lột bỏ con người cũ và mặc lấy Đức Kitô. Augustinô đã trở nên con người mới hoàn toàn. Augustinô đã làm lại con người của mình ngay từ đầu. Giờ phút Đức Cha Ambrosiô ban phép rửa tội, thêm sức cho Ngài đã trở nên giờ cứu độ cho Ngài. Giờ ấy là giờ Đức Kitô được tôn vinh qua cái chết và sống lại của Chúa.
Augustinô về với Chúa năm 430, hưởng thọ 76 tuổi. Thánh nhân đã được Chúa rước về trời để mãi mãi cùng với các thánh và các Thiên Thần diện kiến và ca tụng Chúa không ngơi.
Với trang Tin Mừng hôm nay, ta thấy Chúa Giêsu nói với quần chúng và môn đệ. Chúng ta có thể tự hỏi: Vì sao nói với những người này, Chúa lại có những lời chỉ trích Ký lục và Biệt phái? Có thể coi những lời phê bình này như để dẫn nhập đưa vào phần giáo huấn môn đệ. Có lẽ đúng hơn nên nghĩ rằng tác giả Matthêô viết bài Tin Mừng này cho Hội Thánh.
Và rồi trong thế giới Dothái Kitô giáo của người, không khỏi có những người hay ít ra không khỏi có khuynh hướng muốn tổ chức Giáo hội theo kiểu mẫu Dothái; và hàng tư tế Ðạo Mới có vẻ sắp bắt chước hàng tư tế đạo cũ. Do đó đoạn văn này vẫn cần thiết cho Hội Thánh, và chúng ta nên hiểu nó muốn nói gì với mình.
Ký lục và Biệt phái trước tiên được công nhận như những người có quyền ngự tòa Môsê. Tức là họ giữ quyền giáo huấn và trông coi Luật pháp. Ðịa vị này không nhỏ. Tòa của Môsê ngày xưa đặt ở núi Sinai, nơi ông tuyên bố Luật pháp và làm lễ ký kết giao ước giữa Chúa với Dân. Và núi Sinai thuở ấy có mây trời bao phủ và sấm chớp nổ vang trên chóp đỉnh. Tòa của Môsê được tham dự vào uy phong của Thiên Chúa. Dân khi ấy hãi hùng khiếp sợ. Họ chấp nhận mọi điều Môsê nói thay mặt Chúa.
Ta thấy Thánh Matthêô nhận thấy họ có hai cách: hoặc họ dạy Luật pháp mà không thi hành; hoặc họ thêm thắt vào Luật pháp đến nỗi họ dạy truyền thống loài người chứ không phải Luật Chúa nữa. Với cách trên họ là những con người giả hình; nhưng vì họ rao truyền Lời Chúa, chúng ta vẫn phải thi hành nhưng đừng bắt chước cách ăn ở của họ.
Chính nết xấu này là điều phải tránh trong Giáo Hội Chúa Kitô. Không những nó phân rẽ hàng ngũ Dân Chúa, nhưng nhất là nó muốn choán chỗ của chính Người. Ta thấy người có nết xấu đưa mình lên như thế, không lưu tâm làm vinh Danh Thiên Chúa nữa nhưng chỉ muốn vơ mọi danh dự về cho mình. Và từ chỗ này, người ấy muốn trở thành luật cho người khác và cầm giữ người khác dưới quyền đô hộ của mình. Một xã hội không loại trừ nết xấu đó sẽ không còn lòng mến Chúa và không còn tình anh em. Nó không thể là Giáo hội của Ðức Kitô.
Thế nên khi Chúa Giêsu nói với dân chúng và các môn đệ rằng: các con chớ cho gọi mình là Thầy, là Cha, là người chỉ đạo, Người chỉ muốn chúng ta từ bỏ nết xấu đó để ý thức lại quyền của Thiên Chúa ở trên mọi người. Có hướng về Thiên Chúa, người ta mới là anh em với nhau và Giáo hội mới là Hội Thánh.
Và điều này hết mọi người phải thi hành, cả tư tế lẫn giáo dân. Có thi hành, tư tế mới giảng đạo chứ không giảng mình và mới khỏi "bó những gánh nặng mà đặt trên vai người khác, còn chính mình lại không muốn tra ngón tay lay thử". Vì thường ách của Chúa thì nhẹ, còn gánh người ta bó mới nặng! Còn giáo dân, khi theo gương khiêm hạ của Ðức Kitô, sẽ dễ tìm thấy bình an giữa mọi người và xây dựng được cộng đoàn bác ái.
THỨ BẢY TUẦN 21 TN
Ngày 29 tháng Tám- Thánh Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết
Jr 1, 17-19; Mc 6, 17-29
LỜI THẬT MẤT LÒNG
Lễ kỷ niệm thánh Gioan Tẩy giả bị hành quyết được cử hành để kỷ niệm ngày khánh thành một nhà nguyện trong hầm mộ ở Sébaste, Samarie, nơi tôn kính thánh nhân từ nửa đầu thế kỷ IV; đến thế kỷ V, lễ được cử hành ở Jérusalem, và tại các Giáo hội phương Đông cũng như ở Roma từ thế kỷ VI, với tước hiệu thánh Gioan bị hành quyết hoặc khổ nạn.
Trang Tin Mừng hôm nay, vua Hêrôđê mới nghe thấy danh tiếng của Chúa Giêsu nổi lên thì đã hoang mang lo sợ. Có tật giật mình, vua nghe thì sợ hãi cho rằng ông Gioan mà ông cho chém đầu đã sống lại để bắt tội vua chăng? Não trạng của người Do Thái bấy giờ cho rằng người sống lại có khả năng tuyệt vời, có quyền làm phép lạ. Vua sợ là phải, vì đã nhúng tay vào vụ giết người oan nghiệt trong Tin Mừng hôm nay.
Bởi sự thường nếu sai một li đi một dặm, ông thỏa hiệp với thú vui trong tiệc tùng, vì trót nhẹ dạ thề hứa nên sợ mất mặt với quan khách. Một cô gái nhảy được tán thưởng và thế là số phận vị Tẩy Giả bị quyết định. Tội này kéo theo tội khác, từ chỗ ngang nhiên cướp vợ anh mình, gây ra oán hận hờn căm nơi bà Hêrôđia với ông Gioan Tẩy Giả vì bị “cản mũi kỳ đà”, nên đã gây nên cái chết không án cho người vô tội.
Cái chết của thánh Gioan Tẩy Giả được Tin Mừng Máccô, và hai Tin Mừng nhất lãm còn lại cũng vậy, tường thuật lại trong một bối cảnh đặc biệt, đó là những thắc mắc liên quan đến Chúa Giêsu: (Mc 6, 16). Và để làm sáng tỏ những thắc mắc này, tác giả Tin Mừng đã kể lại thật chi tiết cái chết của Gioan. Như thế, cuộc đời của Gioan gắn liền với cuộc đời của Chúa Giêsu biết bao. Vì thế, trong lời nguyện nhập lễ, chúng ta thưa với Thiên Chúa rằng thánh Gioan là người đi trước loan báo Đức Kitô cả trong cách sinh ra lẫn trong cách chết đi. Thậy vậy, khi vừa được sinh ra, bố Giacaria của Gioan đã nói rằng: Hài Nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao: con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người. (Lc 1, 76)
Và với bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta “chứng kiến” thánh Gioan hoàn tất thật trọn vẹn sứ mạng của mình, vì ông không chỉ đi trước chuẩn bị cho những lối bước của Đức Chúa bằng lời rao giảng và phép rửa, nhưng bằng cả cái chết nữa, và xét cho cùng, bằng cả cách mình được sinh ra nữa.
Đó là hậu quả gây ra nỗi sợ hãi bất an của vua. Ông bị ám ảnh bởi cơn ác mộng về người công chính đã bị ông sát hại. Hôm nay, ông mới chỉ nghe đồn chứ chưa gặp Ngài mà đã run sợ. Sau này ông có cơ hội gặp Ngài mà cũng chẳng đổi thay được chuyện gì. “Vua Hêrôđê thấy Chúa Giêsu thì mừng rỡ lắm, vì từ lâu vua muốn được gặp Người bởi đã từng nghe nói về Người. Vả lại, vua cũng mong được xem Người làm một hai phép lạ. Nhà vua hỏi Người nhiều điều, nhưng Người không trả lời gì cả” (Lc 23, 8-10). Ông muốn gặp vì tò mò, không thiện chí nên không giải quyết được gì và thêm thất vọng.
Tin Mừng hôm nay là một thảm kịch diễn ra trong một bữa tiệc, kết thúc thật là bi thảm với cái chết oan nghiệt của Gioan Tẩy Giả. Ông đã bị bỏ tù vì dám quở trách Hêrôđê Antipa về tội ngoại tình lộ liễu. Cuối cùng ông đã phải chết cách bi thảm vì sự thật. Trình thuật này khiến ta nghĩ đến số phận đang chờ đón Chúa Giêsu, báo trước cho thấy cuộc khổ nạn, cái chết và cuộc an táng sau này của chính Ngài. Ông Gioan là chính hình ảnh phản ánh Chúa Giêsu, đến độ mới chỉ nghe danh tiếng Chúa Giêsu, vua Hêrôđê đã bị ám ảnh, mường tượng đó chính là hiện thân của Gioan Tẩy Giả trỗi dậy nên mới quyền năng như thế.
Tin Mừng kể lại cho chúng ta thật chi tiết bối cảnh dẫn đến cái chết của thánh Gioan, với sự tham dự của rất nhiều người, có thể nói của cả một vương quốc. Chúng ta có thể đọc lại từ từ và ghi lại những suy nghĩ và tâm tình mà trình thuật gợi ra cho chúng ta. Thánh Gioan bất động và im lặng trong ngục tù, nhưng lại làm bộc lộ ra những điều sâu kín nhất của con người: vô độ, sợ chân lí, ghen ghét, mưu đồ, bạo lực, phi nhân và có thể nói, thú tính. Những điều này thường được che đậy bằng những vỏ bọc vui vẻ, quảng đại, quí phái, danh dự…
Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu và nhất cái chết trên Thập Giá của Ngài còn có sức mạnh mặc khải sự dữ triệt để hơn và tuyệt đối hơn nữa, bởi vì Người là Con Chiên Vô Tội. Trong mầu nhiệm Vượt Qua, đối diện với Người sẽ là Sự Dữ và Sự Chết tuyệt đối, bởi lẽ Người là Sự Thiện và Sự Sống tuyệt đối. Người tự nguyện trở thành nạn nhân của Sự Dữ để hủy diệt Sự Dữ và chữa lành chúng ta khỏi Sự Dữ ngay hôm nay.
Cả cuộc đời và cả cái chết của ông Gioan đều báo trước cho sứ mạng Tiền Hô, tiền hô cả khi sống và cả lúc chết cho Đấng Cứu Thế. Cái chết của vị Ngôn sứ cuối cùng nói lên số phận của các Ngôn sứ là thế đó. Mở đầu và kết thúc đoạn Tin Mừng này đều nhắc tới Chúa Giêsu, cho thấy cái chết của ông Gioan như mối liên hệ, là báo trước cho cái chết của Chúa Giêsu. “Môn đệ ông đến lấy thi hài ông đem đi mai táng, rồi đi báo cho Chúa Giêsu.” Gioan Tẩy Giả phải chết, Chúa Giêsu cũng phải lãnh án tử, nhưng trổi vượt, vì chính Người đã sống lại từ cõi chết.
Lời Chúa hôm nay mời gọi mỗi người chúng ta hãy dám sống sự thật trong xã hội mà chúng ta đang sống. Một xã hội vẫn còn đó có biết bao nhiêu chuyện bất chính và tội ác, nhưng rồi chẳng thấy mấy ai dám lên tiếng để cảnh báo hay để chống lại, có vẻ như mọi sự đang im hơi lặng tiếng.
Xin cho mỗi người tín hữu chúng ta biết can đảm sống cho sự thật, biết xây dựng cho nhau qua sự góp ý và mạnh dạn chỉ ra những lỗi lầm thiếu sót, những sai trái trong đời sống đời thường cũng như trong công tác tông đồ.
Ngày nay chúng ta cũng được đồng hóa, nên một với Chúa, giống như Chúa. Xin cho chúng ta can đảm sống Đức Tin, trung thành với chân lý như Gioan, để chúng ta dám hy sinh cả mạng sống mình mà giúp anh em đến với Chúa, tin nhận Chúa và làm chứng cho sự thật.
September 1, 2023