Suy Niệm của Huệ Minh
Chúa nhật 24 thường niên, năm A
BIẾT SỐNG
Tình cờ đọc được câu chuyện để cho ta suy nghĩ :
"Nhưng làm nhà giàu sướng hơn chớ, má?”
“Giàu nghèo gì phải vui mới được”.
Chữ vui đó cũng minh mông, với mỗi người nó có nghĩa khác nhau. Có những người như má, quán bán bánh canh của má nổi tiếng xóm hẻm hồi xưa. Mỗi ngày nấu đúng bảy mươi hai tô, hỏi mua tô thứ bảy mươi ba về làm thuốc cũng không có đâu. Sáng dọn chưa ấm chỗ, vèo cái hết nồi bánh, bà dành cả thời gian còn lại của ngày để nằm võng thong thả nghe Thái Thanh hát “bể sầu không nhiều nhưng cũng đủ yêu”, hoặc dẫn con Chó đi chơi dài xóm. Chó, là tên của con vịt xiêm cồ.
Tại sao bà chỉ bán bảy mươi hai tô bánh canh, bà giải thích rồi, nhiêu đó đã đủ lời để xoay xở trong nhà, lại còn dư chút đỉnh để dành khi bất trắc. Mấy chục năm, bà hài lòng với việc giữ gia cảnh mình gói gọn trong hai chữ “đủ ăn”.
"Sống như má mình không phí cuộc đời. Đâu phải giàu mới vui”, nhắc tới đó chị bùi ngùi. Người ra thiên cổ lâu rồi, nhưng ký ức động đậy như người vẫn đi lại quanh đây.
Đó là tâm tình, kỷ niệm, ký ức của mấy chị em nhớ về má. Má hài lòng với gia cảnh được gói trong hai chữ “đủ ăn”.
Còn nhớ, Kinh Lạy Cha mà Chúa dạy chúng ta cũng như thế mà : Xin cho chúng con lương thực hàng ngày.
Chả biết là bà cụ có phải là người Công Giáo hay không nhưng sao cái Triết, cái Thần trong Bà hay quá ! Bà biết sống quá đi chứ ! Bà biết dừng Bà biết đủ để rồi Bà vui.
Thật sự là chuyện “biết sống” như bà cụ này không phải dễ đâu vì lẽ biết là một chuyện mà còn sống hay không lại là chuyện khác nữa. Khoảng cách từ miệng đến tay xa quá xa để rồi nhiều người không sống đủ với “bảy mươi hai tô bánh canh” như Bà.
Chính vì không thấy đủ nên rồi người ta cứ chạy vạy đầu này đầu kia để lấp cho đầy túi tham. Thế nhưng rồi cái túi tham của con người biết bao giờ mới đủ.
Chiều nay, đọc những mẫu chuyện của bác sĩ Trung lại một lần nữa giật mình về cái phận người.
- Có 1 người đang khoẻ mạnh, vui tươi ... tự nhiên "đột quị" ở tuổi 39.
- Có 1 người đang hừng hực trên con đường tranh đấu lên chức giám đốc một công ty lớn ... tự nhiên đau thượng vị, tự nhiên mệt mỏi kéo dài, lúc đầu nghĩ do viêm dạ dày, do stress ... rồi tới lúc đau quá chịu không nổi, đi nội soi mới biết mình bị ung thư dạ dày giai đoạn cuối đã xâm lấn thành bụng, di căn hạch ở tuổi 47.
- Có 1 người đang cố thu góp, mua hàng chục căn nhà, có trong tay cỡ vài trăm tỉ, đang đi bộ thong dong trên vỉa hè thì bị một chiếc xe hơi do người mới tập lái điều khiển lao đến tông trực diện, chấn thương sọ não, hôn mê. Được đưa đến bệnh viện trong tình trạng tiên lượng tử vong cao. Tự nhiên thấy vài trăm tỉ hư không làm sao ấy! Vậy mà cả đời chúng ta lao đao đi tìm.
- Có một người tài phiệt, 80 tuổi nhưng khi viết di chúc lại bần thần, cho con nhưng hai đứa con chưa bao giờ hiền hoà hiếu thuận, cho cháu thì không đành lòng, cho người dưng, chời ơi, nghĩ đến thế thôi cũng tan nát, cả đời mình làm lụng vất vả, ăn không dám ăn ngon, mặc không dám mặc đẹp. Đùng một cái ổng chết. Con cháu kiện tụng đem nhau ra toà, nồi da xáo thịt vì tài sản.
Ngày mỗi nhày nhiều chuyện “Có” xảy ra quanh ta lắm. Cuộc đời là như vậy đó. Chả ai biết được ngày nào là ngày cuối đời.
Trong giờ cơm, chúng tôi đùa vui với nhau những câu chuyện xem chừng có tính đạo đức hay nói cách khác là có chiều kích cánh chung. Chúng tôi phân vai ai giảng lễ an táng cho ai rồi ai cầm hình, ai cầm bát hương ...
Tôi có nói với cả nhà rằng anh em đùa vui với nhau vậy thôi chứ ngày nào giờ nào thì chỉ mình Thiên Chúa biết mà thôi. Tất cả chúng ta đều nằm trong lòng bàn tay của Chúa mà. Ngay như bản thân, nhiều và nhiều lần tưởng chừng đã ngỏm rồi nhưng Chúa lại để cho sống. Ngay cái thở của mình không còn tự nhiên mà phải nhờ đến máy là đủ hiểu con người của mình nó mỏng giòn và yếu đuối như thế nào. Chưa kể đến chuyện huyết áp – tiểu đường. Chả biết lúc nào nó lên mà chữa. Nó thích lên lên xuống xuống là chuyện của nó. Phần ta, sống chung với nó như là bạn vậy. Cũng như cái nghèo nó ôm lấy đời mình thế nào thì tiểu đường và huyết áp cũng ôm mình như vậy.
Với tất cả những chuyện vô thường trong cuộc sống như những câu chuyện “Có 1 người ...” như nhắc nhớ phận người chúng ta.
Lời Chúa đã nhắc rồi mà : Lạy Chúa ! Con như người thợ dệt, mãi dệt đời mình, bỗng nhiên bị tay Chúa, cắt đứt ngay hàng chỉ !
Vâng ! Mỗi người chúng ta là thợ dệt, Chúa mới là chủ đời ta.
Biết và ý thức như thế ta sẽ sống trọn vẹn lời Kinh Lạy Cha : “Xin cho chúng con lương thực hàng ngày” cũng như cho ta biết sống như bà cụ bán bánh canh trong gia đình kia.
Một khi ý thức, biết và sống chắc có lẽ ta sẽ bình an và thanh thoát. Dĩ nhiên cũng lo lắng cho cuộc đời nhưng lo làm sao bán đủ bảy mươi hai tô bánh canh như bà cụ thì lòng ta sẽ bình an.
Ai ai cũng sống nhưng biết sống không phải là chuyện đơn giản. Có người biết đó nhưng cứ mãi tham để rồi đời cứ mãi long long. Càng long đong với cuộc đời thì lại càng thấy thiếu và khổ. Càng thấy thiếu và khổ thì càng ky cóp. Tiếc thay khi nằm xuống xuôi tay ta chả mang theo được bất thứ một thứ gì ngoài hai bàn tay trắng.
Huệ Minh 21-9-2023
Thứ Hai 24 Mùa Quanh Năm 2023
1 Tm 2:1-8; Tv 28:2,7,8-9; Lc 7:1-10
Lòng tin mạnh mẽ
Nếu thập giá là sự điên rồ đối với người Do Thái thì đau khổ quả là sự thất bại thảm hại. Nếu thánh giá là sự khôn ngoan vô lượng của Thiên Chúa thì đau khổ là cơ hội để luyện tập các nhân đức. Để tận diệt mọi đau khổ, Chúa Giêsu đã tự nguyện mang lấy gánh nặng và tội lỗi cho con người mà đưa lên cây thập giá. Trong tình yêu Thiên Chúa, đau khổ là một mầu nhiệm. Như con rắn đồng của Môsê trong sa mạc đã cứu dân khỏi chết, hãy nhìn lên thánh giá Đức Giêsu để tiếp nhận thêm sức mạnh và niềm tin. Thiên Chúa đã dùng những nỗi đau khổ giúp chúng ta cảm nhận sâu xa về sự yếu đuối của thân phận con người và để tôi luyện chúng ta trưởng thành hơn.
Trong đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta chứng kiến một lòng tin mạnh mẽ của viên đại đội trưởng ngoại giáo. Biết Đức Giêsu là người đầy quyền năng, ông đại đội trưởng đã đến xin Người chữa cho người đầy tớ của ông bị chứng tê bại nặng. Trước thái độ tin tưởng của viên đại đội trưởng, Chúa Giêsu hết sức thán phục và khẳng định với đám đông dân chúng: “Tôi nói cho các ông hay: ngay cả trong dân Israen, tôi cũng chưa thấy một người nào có lòng tin mạnh như thế”. Theo nguyên tắc của Do Thái giáo, đại đội trưởng là một người ngoại đạo sẽ bị loại ra khỏi Vương quốc; và nếu một người Do Thái vào nhà một kẻ ngoại đạo sẽ bị coi là kẻ ô uế.
Khi chữa lành cho người bệnh, cả Đức Giêsu và viên đại đội trưởng đều vượt qua những ranh giới của luật Do Thái. Điều đó cho thấy Đức Giêsu đã làm tất cả vì lòng thương xót, còn viên đại đội trưởng thể hiện niềm tin mãnh liệt vào quyền năng và tình thương Thiên Chúa. Đức Giêsu đã chữa bệnh từ xa, Ngài biểu hiện tình thương có khả vượt qua khoảng cách của địa lý, của không gian và thời gian. Vì thế ông đại đội trưởng chưa về đến nhà thì nghe tin báo người đầy tớ đã khỏi hẳn bệnh.
Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy một lòng tin tuyệt đối của viên đại đội trưởng vào quyền năng Chúa. Ông đặt trọn niềm tin tưởng tuyệt đối nơi Chúa nên mới cầu xin rằng: “Xin Ngài cứ nói một lời thì đầy tớ tôi được khỏi bệnh”. Câu nói của đại đội trưởng ngày xưa đã được Hội Thánh đưa vào phần Phụng Vụ Thánh Thể, sau khi Cha chủ tế đọc lời truyền phép…, giáo dân thưa: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời thì linh hồn con sẽ lành mạnh.”
Thái độ tin tưởng của ông đại đội trưởng khác hẳn với thái độ cứng tin của những người Do Thái. Phép lạ này là lời hứa cho tất cả chúng ta, những ai có lòng tin đều được Chúa chữa lành. Thiên Chúa luôn yêu thương chăm sóc hết mọi người không phân biệt dân tộc, ngôn ngữ hoặc tôn giáo. Điều quan trọng là chúng ta phải thực sự khát khao được Chúa chữa lành.
Trên hành trình thiêng liêng chúng ta sẽ không tránh khỏi những lúc bị thử thách, không thể trốn chạy những đau đớn bệnh tật. Như Đức Giêsu luôn tỏ lòng thương cảm với những yếu đuối của con người, chúng ta cũng hãy mở lòng ra đón nhận tất cả trong sự tin tưởng phó thác. Đức Giêsu ôm lấy cuộc đời, mang vác lấy gánh nặng của con người mà giương cao lên thập giá. Tình yêu thương con người dạy chúng ta chấp nhận những phiền hà rắc rối của người bên cạnh, dám chịu thương tích vì người khác, dám chấp nhận thất bại để tôi luyện và trưởng thành trong đức tin.
Tin Mừng theo thánh Luca (Lc 7, 1-10) đã tường thuật lại câu chuyện người nô lệ bệnh nặng gần chết được thân chủ yêu thương, vì anh ta sống đẹp lòng ông chủ nên anh đáng được yêu thương. Vì đáng được thương nên anh ta được ông chủ đi tìm Chúa Giêsu để được chữa lành.
Ông chủ chính là viên sĩ quan đại đội trưởng, ông ta đáng được thương trên hết vì ông ta có lòng thương người, có công đức cho đời, có lòng tin vững chắc, tin vào quyền năng của Chúa Giêsu chỉ cần phán một lời thì đầy tớ của ông ta được khỏi bệnh, “⁷ Nhưng xin Ngài cứ nói một lời, thì đầy tớ của tôi được khỏi bệnh” (Lc 7, 7), và Chúa Giêsu đã khen ông ta: “Tôi nói cho các ông hay: ngay cả trong dân Ítsraen, tôi cũng chưa thấy một người nào có lòng tin mạnh như thế” (Lc 7, 9).
Đức tin có việc làm là đức tin được cứu độ, được chữa lành, được bình an, như thánh Giacobe tông đồ đã nói: “Đức tin không việc làm là đức tin chết” (Gc 2, 17), thánh nhân còn nói: “Tôi sẽ lấy việc làm mà chỉ cho anh thấy đức tin của tôi” (Gc 2, 18). Việc làm của đức tin là từ bỏ chính mình và vác thập giá của mình mà theo Chúa (Mc 8, 34), Chúa dạy rằng: “Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Tôi và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Mc 8, 35).
Đặc biệt, những ai có đức tin vững mạnh như viên đại đội trưởng, như lời Chúa Giêsu dạy: liều mất mạng sống vì Tôi và Tin Mừng, chắc chắn họ sẽ không thấy cô đơn nao núng vì Chúa ở bên họ; chắc chắn ho không run rẩy sợ hãi vì Chúa Giêsu đang đồng hành với họ; họ sẽ thất vọng trong giờ phút lâm chung vì có Chúa Giêsu đang chờ đón họ trên thiên đường.
thứ Tư 24 TN-2023
Thánh Andrê Kim, Lmtđ, Phaolô Chong, và các Bạn Tử Đạo
1 Tm 3:14-16; Tv 111:1-2,3-4,5-6; Lc 7:31-35
Đừng bưng tai bịt mắt
Hôm nay Giáo Hội cho chúng ta mừng lễ kính thánh Andrê Kim và Thánh Phaolô Chung cùng các bạn tử đạo tại Giáo Hội Đại Hàn.
Phải nói Giáo Hội Đại Hàn đã được bắt đầu như một phép lạ. Nói theo cái nhìn của Chúa Giêsu thì Giáo Hội đó được bắt đầu như một hạt cải nhỏ bé nhưng bây giờ nó đã lớn lên, lớn lên mạnh mẽ và oai hùng trước sự kinh ngạc vả cảm phục của nhiều người.
Nào có ai ngờ được rằng chỉ có một người. Người đó tên là Li Sung Hung. Người ta gọi Li Sung Hung là một học giả. Li Sung Hung đã đến Bắc Kinh năm 1784. Li Sung Hung được học đạo và rửa tội tại đây. Sau khi được trở thành một Kitô hữu, Li Sung Hung thấy mình là người được hạnh phúc. Li Sung Hung đã không muốn một mình vui hưởng niềm hạnh phúc đó. Li Sung Hung muốn chia sẻ niềm hạnh phúc đó cho đồng bào ruột thịt trên quê hương đất nước của mình. Thế là chỉ với một ít sách báo, tài liệu hiếm hoi, Li Sung Hung đã lên đường về nước rồi với nhiệt tình nóng bỏng truyền giáo, Li Sung Hung đã làm cho ngọn lửa Đức tin được bùng cháy lên.
Việc làm lúc đầu tưởng chừng chỉ là đơn độc và khó lan truyền, thế nhưng như lời Chúa tiên báo ngọn lửa đó đã bùng cháy lên.
Một Giáo Hội đã được thành hình. Không linh mục, thậm chí không có một nhà truyền giáo, chỉ có một giáo dân, rồi từ từ lan toả, từ từ lớn lên, bất chấp mọi trở ngại, bất chấp mọi khó khăn nhất là những hiểu lầm lúc khởi đầu.
Rồi ngay sau đó, nhờ những nỗ lực của một nhóm học giả Hàn quốc tìm tòi, nghiên cứu về đức tin công giáo qua các sách vở mà ông Li Sung Hung đã mang về từ Trung Hoa, những người giáo dân Hàn quốc này bắt đầu dạy giáo lý cho những người khác và rửa tội cho họ. Mãi tới 11 năm sau (1784- 1795), nhờ sự học hỏi tìm hiểu sâu rộng, nhóm giáo dân công giáo đầu tiên này mới bắt đầu nhận thấy: họ cần có một linh mục. Thế là một đại diện ngoại giao đoàn đã được gửi sang Bắc kinh. Đức giám mục Bắc kinh đã chấp thuận ngay lập tức. Và vào năm 1795, cha Chumuymô, vị linh mục thuộc giáo phận Bắc kinh đã chính thức được cử sang Đại hàn và trở thành nhà truyền giáo đầu tiên tại đây.
Giáo hội Đại Hàn bắt đầu lớn lên và càng ngày càng lớn nhanh, lớn mạnh. Thế nhưng cũng như bất cứ Giáo hội nào của Chúa, như một định luật chung, cứ bắt đầu thành hình, lớn lên là bắt đầu chịu nhiều cản trở, cấm đoán cản ngăn, thậm chí nhiều khi còn đi đến chỗ bị bắt bớ tiêu diệt.
Giáo Hội Đại hàn đã phải trải qua một cơn đại hoạ kéo dài 100 năm như thế.
Trong khoảng thời gian kéo dài gần 100 năm đó, lịch sử còn ghi lại con số 103 vị tử đạo. Trong số 103 vị tử đạo này có 92 giáo dân thuộc đủ mọi giai cấp trong xã hội, 45 người nam và 47 phụ nữ. Nổi bật nhất là vị linh mục đầu tiên tại đất nước Hàn quốc là Andrê Kim Têgôn và mười nhà truyền giáo Pháp. Trong số 103 vị tử đạo, 79 vị đã được phong chân phước năm 1925, họ là nạn nhân của cuộc bách hại đầu tiên, và 24 vị được nâng lên hàng chân phước năm 1968, là nạn nhân của cuộc bách hại sau này.
Cha Chumuymô cũng được phúc tử đạo. Cùng chịu tử đạo với ngài lúc đó, có khoảng 300 người mới trở lại đạo trong đó có ông Phaolô Chung, một nhân công trong một xưởng dệt dây thừng, một gương mặt tiêu biểu cho những người công nhân, đã được rửa tội năm 30 tuổi, và đã hoạt động tích cực trong việc truyền bá đức tin công giáo bằng cách giấu ẩn các tín hữu trong vùng khi họ đến nhận lĩnh các bí tích. Ông đã bị bắt vào năm 1839, bị tống ngục và bị tra tấn dã man. Vì không chịu đựng được những cực hình, ông đã đồng ý chối đạo, và được trả lại tự do. Tuy nhiên, sau đó ông hối hận và trở lại nói với chánh án, là ông muốn rút lại lời tuyên bố chối đạo. Một lần nữa, ông bị bắt giam tù và bị đánh đập. Ông chết vì các vết thương làm độc, năm ấy ông 41 tuổi.
Năm 1984, Giáo hội công giáo Hàn quốc mừng lễ kỷ niệm 200 năm ngày học giả trẻ tuổi Li Sung Hung đến Bắc Kinh năm 1784, được rửa tội tại đây, đoạn trở về quê hương với một số sách đạo và một ánh lửa đức tin, để rồi sau đó làm bùng cháy ngọn lửa đức tin công giáo tại Hàn quốc.
Ngày 6.5.1984, tại Seoul, Nam Hàn, trong một thánh lễ phong thánh đầu tiên được cử hành ngoài Rôma kể từ thế kỷ XIII, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nâng 103 vị tử đạo lên bàn thờ và gọi dịp này là ngày vui mừng nhất, ngày trọng đại nhất trong lịch sử Giáo hội Công giáo tại Hàn quốc.
Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã phải buồn phiền mà thốt lên rằng: “Ta phải ví thế hệ này với ai đây?” Chúa đến để loan báo Tin mừng cho dân Ngài; ấy vậy, họ sống nửa vời với Ngài; họ nóng cũng không nóng hẳn, lạnh cũng không lạnh hẳn. Họ không hẳn tuyệt đối tin tưởng vào Ngài và cũng không hẳn ra mặt tảy chay Ngài.
Lý do dân Chúa sống nửa vời với Chúa ấy là thời bấy giờ người ta đã có sẵn trong đầu hình ảnh một đấng Mêsia đầy uy quyền và sẽ lãnh đạo dân chúng làm một cuộc cách mạng đẫm máu để lật đổ đế quốc La Mã và xây dựng lại một vương quốc Israel hùng cường, thịnh vượng như thời vua Đavít; nhưng đến khi Đức Giêsu, Đấng Mêsia đích thực, xuất hiện, thì xem chừng Ngài chẳng được uy quyền như họ nghĩ, vì thế họ bán tín bán nghi và dửng dưng với Ngài. Đang khi họ mong chờ Ngài phải làm cuộc cách mạng lật đổ đế chế La Mã, thì Ngài lại “đi la cà với quân thu thuế và phường tội lỗi”! Họ đâu biết rằng Đấng Mêsia đích thực đến trần gian để giải thoát tâm hồn người ta khỏi ách thống trị tội lỗi và sự chết đời đời! Còn với một thể chế trần gian, nếu tự nó đã chất chứa mầm mống của tội lỗi và sự gian ác thì nó sẽ tự hủy diệt chính nó trong sự gian ác của nó, chứ Chúa không đến để làm một cuộc cách mạng đẫm máu để lật đổ nó, vì làm như thế sẽ là sự ác chồng chất thêm sự ác, máu đổ thêm máu. Chúa đến để xây dựng một vương quốc của tình thương, vương quốc của sự hy sinh, tha thứ để hóa giải mọi hận thù, oán ghét. Và khi vương quốc này triển nở và thịnh vượng trong lòng nhân thế, thì tự khắc các thể chế, các cơ cấu của tội lỗi và sự gian ác sẽ bị sụp đổ.
Chúa Giêsu muốn lên án thái độ cố chấp, ngoan cố của những người Biệt phái và Luật sĩ. Dù thông hiểu Kinh Thánh và chứng kiến những phép lạ, công việc mà Chúa Giêsu đã thực hiện như lời Kinh Thánh tiên báo, nhưng họ vẫnthkhước từ tin nhận và tìm mọi lý lẽ để không chấp nhận Ngài là Con Thiên Chúa. Họ cố chấp đến mức độ: Ông Gioan Tẩy giả sống đời sống khổ hạnh “không ăn bánh, không uống rượu” thì họ bảo ông bị quỷ ám. Còn Chúa Giêsu sống hòa nhập, gần gũi với mọi người “cũng ăn cũng uống như ai” thì họ lại bảo Người là tên ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi”.
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta nhiều khi cũng như những người Biệt phái và Luật sĩ xưa, luôn sống với cái tôi và ý riêng của mình, “bưng tai bịt mắt” không tìm kiếm, không lắng nghe và thi hành thánh ý của Thiên Chúa trong cuộc đời này. Thậm chí, chúng ta còn muốn Thiên Chúa phải làm theo những điều mình ước mong và muốn người khác phải phục vụ mình. Nếu như chúng ta luôn giữ và sống thái độ này trước Thiên Chúa thì chúng ta khó mà có thể đón nhận được ơn cứu độ của Người thương ban. Xin cho mỗi người biết mặc lấy sự khôn ngoan của con cái Thiên Chúa, đó là sự khôn ngoan của trẻ thơ luôn đơn sơ, tin tưởng và phó thác vào Chúa.
thứ năm 24 TN- 2023
Thánh Mátthêu, Tông Đồ Thánh Sử
1 Tm 4:12-16; Tv 111:7-8,9,10; Lc 7:36-50
Hãy trở về như Matthêu
Lêvi là tên gọi của thánh Matthêu tông đồ, thánh sử. Tin Mừng thuật lại khi Chúa Giêsu đi ngang qua bàn thuế, Người gọi Lêvi. Lêvi không chần chừ, không do dự, ông đứng dậy khỏi bàn thu thuế mà đi theo Chúa Giêsu. Ơn gọi của Lêvi thật là huyền diệu! Chúa Giêsu không nói nhiều, Người chỉ nói một câu vỏn vẹn, ngắn ngủi: "Hãy theo Ta".
Ðường Chúa chọn khác với cách cất nhắc của người đời thường làm. Chúa chọn ai tùy ý Người. Chúa cất nhắc ai là do ơn huệ nhưng không của Chúa. Không ai có quyền đòi Chúa phải thế này thế kia. Không ai được phép buộc Chúa phải gọi người này, không được gọi và chọn người khác. Ðó là mầu nhiệm đức tin. Con người phải có đôi mắt đức tin, con tim hiến tế mới nhận ra sự lạ lùng, kỳ diệu đó, vì ơn gọi của mỗi người là một mầu nhiệm.
Như mọi tông đồ khác trong nhóm 12 mà Chúa đã kêu mời. Chúa chỉ gọi họ, sau khi Chúa đã kết hiệp thân thân tình lâu giờ với Chúa Cha bằng lời cầu nguyện và sau khi Chúa đã hỏi ý Chúa Cha. Thái độ, cử chỉ, hành động của Chúa trong mọi lần mời gọi tông đồ đều làm nổi bật ý nghĩa quan trọng của mầu nhiệm ơn gọi. Lêvi, người thu thuế, một hạng người được coi làm tay sai cho ngoại bang, làm tay sai cho Ðế Quốc La Mã thời đó, một hạng người mang tiếng ăn bẩn, tội lỗi và không tốt. Chúa lại nghĩ khác vì Chúa thấu suốt tâm can của con người. Biệt phái, Pharisiêu, tư tế, thông luật luôn nghĩ xấu cho người khác. Chúa nói với họ: "Ta đến không để gọi những người công chính mà là gọi những người tội lỗi" (Mt 9, 13) và "Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần" (Mt 9, 12).
Chúa đã mời gọi các tông đồ. Chúa đã sai họ đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cứu độ. Các tông đồ của Chúa sau khi đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần, đã trở thành những chứng nhân hiên ngang làm chứng cho Chúa. Tất cả các tông đồ đã nhất loạt giới thiệu Chúa Kitô cho mọi người, dù rằng họ phải trả giá rất đắt bằng chính mạng sống của họ cho việc làm chứng Chúa Kitô phục sinh. Thánh Matthêu đã không ra khỏi con đường này. Ngài đã đi truyền giáo ở Êthiopi, Ba Tư, Parthes. Ngài đã nói lên sự thực này: "Chúa Giêsu chính là Ðấng cứu thế mà Cựu Ước hằng mong đợi. Lời chứng của thánh nhân được coi là đầy đủ nhất trong Tin Mừng của Ngài. Ngài đã được phúc tử đạo tại Tarium nước Êthiopi. Chúa đã trao cho Ngài triều thiên công chính.
Người thuế vụ trong xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu bị anh em đồng bào mình khinh miệt do các anh ăn chặn của dân, hơn nữa thuế vụ trong xã hội Do Thái là tay sai cho đế quốc Rôma để bóc lột dân mình. Họ là hình ảnh của những gì là xấu xa nhất, tội lỗi nhất, đáng khinh miệt nhất mà dân chúng coi đồng hạng với các kẻ cắp và các phụ nữ ngoại tình. Hơn nữa, những người Pharisiêu cho rằng: Một người Do Thái ngoan đạo, không được giao du với những người bị coi là tội lỗi. Vì thế chúng ta hiểu thêm tại sao người biệt phái cầu nguyện tách biệt và khinh chê người thu thuế, còn người thuế vụ thì không dám đến gần bàn thờ nơi Thiên Chúa ngự, vì sự bất xứng của mình, anh ta ở dưới cúi đầu, đấm ngực ăn năn (x. Lc 18,9-14).
Đã không nên ở gần, lại càng không bao giờ ăn uống cùng bàn với họ để khỏi bị lây nhiễm hoặc bị ô uế. Hôm nay, Chúa Giêsu lại gọi người thu thuế Matthêu theo Ngài để trở thành môn đệ, một hành động khiến người Do Thái không thể hiểu được. Thật lạ, một người xấu xa, dơ bẩn đó được đặt làm môn đệ, rồi chính Đức Giêsu lại đồng bàn với những kẻ thu thuế như là những người đồng hội, đồng thuyền với kẻ tội lỗi...: “Tại sao Thầy các ông lại ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi như thế”.
Theo phong tục Do Thái, khi cùng ăn uống với ai, đó là dấu hiệu một sự hiệp thông, một sự chia sẻ tư tưởng, tình cảm và là một cử chỉ thân thiết và quan tâm của mình đối với người được. Mời ai ăn cơm, là một vinh dự, tỏ ra muốn hòa bình, thân thiện, tin tưởng và tha thứ (2V 25,27-29). Cùng đồng bàn với người thu thuế, Đức Giêsu đã hòa mình với tội nhân để gắn bó sẻ chia... Ngài đã trở nên như tội nhân để đưa tội nhân vào sự cứu chuộc.
Vâng, chính Ngài đã chết treo trên thập giá với thân phận của một tội nhân, đồng hạng với tội nhân để cứu chuộc tội nhân. Sứ mạng của Ngài là để cứu độ tất cả, chữa những người bất hạnh trong đó có cả những tội nhân. Tội nhân biết nhìn nhận tình trạng thiếu thốn, tình trạng tội lỗi, để Đức Kitô, vị thầy thuốc đến cứu chữa (x. Mt 9,12-13) như Ngài tuyên bố: “Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19,10). Chúng ta nhớ lại sắc màu tái tím cõi lòng của người thu thuế tại đền thờ, đã được Thiên Chúa cứu chữa và ông trở nên người công chính (x. Lc 18,9-14).
Chúng ta với thời gian bao nhiêu vết thương lòng, bao nhiêu khiếm khuyết bất toàn, bao nhiêu những yếu đuối tội lỗi, hãy chỉ cho Đức Kitô, để Ngài, vị thầy thuốc băng bó, chữa lành và làm cho công chính, lúc đó chúng ta cảm nghiệm được tại sao thánh Phaolô chia sẻ: ”Khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,10). Nếu không có Ngài, vị thầy thuốc đến từ Thiên Chúa, chúng ta sẽ chết trong bệnh tật là tội lỗi, trong vết thương yếu đuối và khiếm khuyết của chính chúng ta như người Pharisiêu tự phụ tự cho mình là công chính không cần ân sủng nên vẫn sống trong sự tội lỗi (x. Ga 9,41).
Thánh Matthêu trở thành một chứng nhân đặc biệt cho đời sống và cuộc tử nạn của Chúa Kitô. Ngài được tuyển chọn vào nhóm Mười Hai để theo Chúa đi khắp nơi. Ngài lắng nghe lời Thầy Chí Thánh, dõi theo sứ mạng của Người, và được tham dự bữa Tiệc Ly. Thánh nhân hiện diện khi Chúa lập bí tích Thánh Thể, đích thân được nghe Chúa tuyên bố về giới luật yêu thương, và đồng hành đến vườn Cây Dầu với Người. Cùng các Tông Đồ khác, ngài cũng đau khổ vì đã bỏ rơi Chúa trong hồi Thương Khó. Tuy nhiên, chỉ sau đó ít lâu, ngài đã cảm được niềm vui Chúa Phục Sinh. Trước khi Chúa thăng thiên, thánh Matthêu là một trong những người được nhận lệnh truyền đem Tin Mừng cho khắp trần thế. Cùng với Đức Maria, thánh nhân đã được đón nhận linh ân Chúa Thánh Thần trong ngày hiện xuống.
Dường như thánh Matthêu viết sách Tin Mừng dành nhiều cho người Do Thái và người giàu có. Phúc Âm thánh Matthêu ca ngợi sự nghèo khó và thuyết phục người đọc là ơn cứu độ tùy thuộc nhiều vào lòng thương xót những kẻ nghèo khó. Điều này nói lên lòng ăn năn hối cải của người thu thuế. Matthêu kể lại những lời giảng dạy của Chúa Kitô và tóm tắt điều căn bản trong Bài giảng trên Núi về các Mối Phúc Thật.
Matthêu ghi lại dụ ngôn về cuộc Phán Xét Cuối Cùng khi “Đức Chúa Con trở lại trong vinh quang” để tách ra “chiên và dê”. Chúa phán với những người được Chúa ân thưởng: “Vì khi Ta đói các người đã cho ăn, Ta khát các ngươi đã cho uống, Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước, Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc, Ta đau ốm các ngươi dã thăm viếng, Ta ngồi tù các ngươi đã hỏi han.” Họ bèn hỏi: “Chúng tôi đã làm những việc ấy lúc nào? Chúa bèn phán: “Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.”
Thánh Matthêu là dấng phù trợ các sứ vụ của Giáo Hội. Được ơn gọi đi theo Chúa Giêsu, thánh Matthêu kết thúc Tin Mừng lời thúc dục người theo Chúa như sau: “Vậy anh em hãy ra đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ’’, và lời cuối cùng cho chúng ta và cho mọi thời đại: “Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”
Thứ Sáu 24 Mùa Quanh Năm 2023
1 Tm 6:2-12; Tv 49:6-7,8-10,17-18,19-20; Lc 8:1-3
Tiếp nối con đường theo Chúa
Trong ba năm rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu có nhóm các môn đệ là những người sát cánh trực tiếp với Ngài và làm chứng cho Ngài (x. Lc 23,49). Ngài cũng có nhóm phụ nữ đi theo qua các làng mạc và trên các nẻo đường Galilê. Cả hai nhóm là nhân chứng cho những hành động, quyền năng và những giáo huấn của Chúa Giêsu và sẽ sát cánh với nhau. Các phụ nữ tuy không rao giảng nhưng lo việc ăn uống cho những người truyền giáo: “Các bà đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Chúa Giêsu và các môn đệ” (Lc 8,3).
Sứ mệnh và trách nhiệm rao giảng sứ điệp Tin mừng, không chỉ dành riêng cho nam giới. Theo như thánh sử Luca hôm nay cho biết, thì trong đoàn truyền giáo của Chúa Giêsu, ngoài những môn đệ mà Chúa đã tuyển chọn, còn có các phụ nữ nữa. Như vậy chứng tỏ Chúa Giêsutôn trọng phẩm giá người phụ nữ và đánh giá cao phần đóng góp của họ trong sứ mệnh rao giảng Tin Mừng. Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta có một quan niệm đúng đắn hơn về người nữ để biết tôn trọng, yêu thương họ. Đồng thời chúng ta cũng cầu xin cho chính những người phụ nữ biết ý thức được phẩm giá cao quý của họ, hầu sống xứng đáng và góp phần tích cực vào những công việc tông đồ trong Giáo hội.
Mãi đến thế kỷ 14, người ta vẫn còn xem người phụ nữ như một hạng người nguy hiểm, một cám dỗ triền miên, một tạo vật thấp hèn, hay cùng lắm chỉ là phương tiện để bảo tồn nòi giống. Một quan niệm và cung cách đối xử như thế đối với người phụ nữ vẫn còn rơi rớt trong thời đại chúng ta: trong biết bao xã hội hiện đại hôm nay, người phụ nữ vẫn còn bị phân biệt đối xử so với nam giới. Thời Chúa Giêsu, dĩ nhiên thân phận nữ giới còn bị xử tệ hơn. Sở dĩ người ta đã có những ý nghĩ xấu về những phụ nữ này, vì họ đã nhìn người phụ nữ như là hậu duệ của Eva, kẻ đã quyến dũ Adong ăn trái cấm, để rồi kéo cả nhân loại vào vòng tội lỗi.
Tin Mừng cho chúng ta thấy cách cư xử của Chúa đối với nữ giới. Chúa Giêsu quả thực đã làm một cuộc cách mạng khi đảo lộn quan niệm về nữ giới nơi những người đồng thời với Ngài. Những người phụ nữ mà thánh Luca nhắc đến, có người đã từng bị quỉ ám, bị người đời khinh khi, xua đuổi, bị dân chúng coi là những người tội lỗi, có mặt trong đoàn truyền giáo của Chúa Giêsu chứng tỏ rằng trong Giáo hội của Ngài không hề có sự phân biệt phụ nữ mà còn muốn đề cao sự bình đẳng của người phụ nữ, muốn giải phóng người phụ nữ khỏi suy nghĩ hạn hẹp của những người đương thời. Đối với Đức Giêsu, mọi người bất luận là ai, cũng đều được mời gọi để loan báo Tin Mừng qua cách sống cũng như qua giới tính của mình. Mỗi phần tử trong Giáo Hội đều có một chỗ đứng, một vai trò riêng. Tất cả đều bổ túc cho nhau, để cùng nhau phục vụ hầu mở mang Nước Chúa. Trong chiều hướng tư tưởng này, chúng ta hãy cầu nguyện cho mọi thành phần trong Giáo Hội ý thức và dấn thân cho công việc truyền giáo, không phân biệt giới tính, địa vị, giai cấp, khả năng...tất cả là vì tin mừng Chúa Kitô.
Trong Tin Mừng không nói nhiều về các phụ nữ này, có nhắc tới một người trước đây bệnh hoạn bị bảy quỷ ám (x. Lc 11,26), Maria gọi là Mađalêna (một làng gần hồ Gênêsaret); một bà thuộc xã hội thượng lưu, Gioanna, đã từ bỏ chồng và triều đình Hêrôđê, bà Sudanna (Lc 8,3), Maria mẹ của Giacôbê (Lc 24,10), Salômê (Mc 15,40) và mẹ của anh em nhà Dêbêđê (Mt 27,56).
Tuy nhiên Tin Mừng ghi nhận các bà xuất hiện trong những thời điểm quan trọng của Thầy: Lúc Chúa Giêsu chết trên thập giá và lúc chôn cất Người (x. Lc 23,49-55), ở ngôi mộ trống ở đó đặc biệt có mặt bà Maria Mađalêna và bà Gioanna; người ta cũng sẽ gặp các bà này với nhóm Mười hai và mấy người khác trong phòng lầu trên trước lễ Ngũ tuần (Cv 1,14). Ở đây các bà sống với Mẹ Chúa Giêsu, các anh em Chúa và nhóm Mười hai.
Chúa Giêsu không ngừng thi hành sứ mệnh của mình. Người đi khắp làng mạc, thành phố để rao giảng Tin mừng và quên cả mệt nhọc. Các môn đệ và các phụ nữ đi theo Đức Giêsu cũng cộng tác với Ngài trong sứ mệnh ấy. Đặc biệt tác giả Luca cho biết những người phụ nữ theo Chúa là những người đã được Chúa trừ quỷ và chữa lành bệnh. Họ lấy của cải giúp đỡ Chúa. Tất cả những ai được Thiên Chúa kêu gọi và ban ơn đều cùng với Đức Giêsu đi loan báo Tin mừng cứu độ.
Giữa một xã hội Do thái trọng nam khinh nữ, thậm chí người phụ nữ được xếp hạng thứ sáu, đứng sau cả vật nuôi. Người phụ nữ Do thái hầu như không có tiếng nói, đến cả việc cưới xin và ly hôn cũng do quyết định của người nam. Xuyên suốt Thánh kinh Cựu ước, hầu như lãng quên bóng dáng của người phụ nữ, rải rác một ít chỗ nhắc tới một số phụ nữ, nhưng phần lớn thường là những chuyện chẳng vẻ vang gì (trừ Judith, Esther và vài tiên tri), thậm chí còn coi họ như là cạm bẫy cho đàn ông. Các luật sĩ Do thái tuyệt đối không nhận phụ nữ làm đồ đệ, họ phân biệt đối xử trong mọi sinh hoạt xã hội, kể cả việc phụng tự và các nghi lễ thanh tẩy.
Trong bài Tin mừng hôm nay, để nói lên sự bình đẳng giữa nam và nữ, Đức Giêsu cho các phụ nữ tham gia vào sinh hoạt của Nhóm Mười Hai. Sự hiện diện và phục vụ của họ bên cạnh Đức Giêsu và nhóm Mười Hai chứng tỏ rằng: trong Giáo hội của Ngài không hề có sự phân biệt phụ nữ. Sự kiện những phụ nữ đi theo Đức Giêsu ngay từ lúc Ngài bắt đầu sứ vụ công khai chứng tỏ rằng: họ là những người đồng hành với các Tông đồ trong việc loan báo Tin mừng của Ngài. Có sứ mệnh và trách nhiệm loan báo sứ điệp Tin mừng, đây là thể hiện cao độ nhất của sự bình đẳng của nữ giới.
Đồng hành với Đức Giêsu, không chỉ có Nhóm Mười Hai, mà còn có các phụ nữ - là những người đã được Ngài trừ cho khỏi quỷ và chữa lành bệnh. Tác giả Luca còn cho biết thêm, họ “lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ”. Tuy nhiên, không phải chỉ có vậy, đi theo thầy Giêsu, họ còn bị đòi hỏi nhiều hơn nữa: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy”(Mt 10,37). Như vậy, tất cả mọi người, không phân biệt nam hay nữ, giàu hay nghèo, kể cả hạng người tội lỗi, thu thuế hay chài lưới đều có cơ hội như nhau trong việc bước theo Đức Giêsu. Chỉ cần họ dám sẵn sàng từ bỏ mọi sự để “cùng đi với Ngài”.
Thế giới luôn cần đến bước chân của những người theo Chúa. Xin cho Giáo hội và cho mỗi người chúng ta ý thức bổn phận tiếp nối con đường Chúa: Tích cực dùng tất cả các khả năng và ân lộc Chúa ban để đóng góp công cuộc loan báo Tin Mừng Phục sinh.
Thứ Bảy 24 Mùa Quanh Năm 2023
1 Tm 6:13-16; Tv 100:2,3,4,5; Lc 8:4-15
Mảnh đất tâm hồn
Có một người gieo hạt giống trên 4 mảnh đất khác nhau, đó là mảnh đất vệ đường, mảnh đất sỏi đá, mảnh đất nhiều bụi gai, và cuối cùng là mảnh đất tốt. Trong 4 mảnh đất được gieo thì chỉ có nơi mảnh đất tốt, hạt lúa mới sinh hoa kết quả.
Chúa Giêsu giải thích dụ ngôn này như sau: người gieo hạt giống là Thiên Chúa, hạt giống là Lời Chúa.
* Mảnh đất vệ đường là những kẻ chẳng thiết tha gì đến Lời Chúa. Lời gieo xuống đó chẳng bao lâu thì bị quỉ dữ cướp đi.
* Mảnh đất sỏi đá là những người mau mắn đón nhận Lời Chúa nhưng không quý chuộng bao nhiêu. Khi gặp một chút gian khó là bỏ cuộc.
* Mảnh đất nhiều bụi gai là những người cũng đón nhận Lời Chúa, nhưng điều họ quan tâm hơn cả là những thú vui tội lỗi, những đam mê của cải trần gian ... Các thứ này được ví như là gai góc um tùm dần dần làm cho Lời Chúa chết ngẹt trong tâm hồn họ.
* Mảnh đất tốt là những người sốt sắng đón nghe Lời Chúa, ghi sâu vào tâm hồn và quảng đại đem ra thi hành trong cuộc sống.
Nội dung dụ ngôn mà chúng ta vừa nghe rất đơn giản, ngắn gọn nhưng lại chứa đựng nhiều bài học phong phú và ý nghĩa. Cụ thể, khi chiêm ngắm hình ảnh người gieo hạt giống nơi trang Tin Mừng hôm nay, chúng ta có thể gặp được hình ảnh một vị Thiên Chúa giàu lòng quảng đại, tin tưởng và hy vọng vào con người.
Thật vậy, với dụ ngôn “Người gieo hạt giống” này, Chúa Giêsu muốn cho chúng ta thấy lòng quảng đại, tin tưởng và hy vọng của Thiên Chúa đối với con người chúng ta. Thiên Chúa quảng đại khi gieo hạt giống Lời Chúa và ân sủng của Chúa vào lòng mỗi người chúng ta. Hạt giống ấy là Đức Giêsu Kitô, là Ngôi Lời, Con yêu dấu của Chúa Cha được gửi đến thế giới này, cho dù lúc Chúa Giêsu đến, nhiều người vẫn không thèm đón tiếp Người (x.Ga 1, 11). Và cho dù tâm hồn chúng ta còn chai cứng như lề đường, đầy sỏi đá và còn bị nhiều bụi gai dục vọng, đam mê phủ lấp, nhưng Thiên Chúa vẫn gieo vì tin tưởng trong lòng mỗi người chúng ta đây, không ai hoàn toàn là mảnh đất “lề đường”, mảnh đất “sỏi đá” hay “bụi gai”, nhưng trong tâm hồn mỗi người chúng ta đang có một mảnh đất tốt nào đó cho dù nó có nhỏ bé, thế nhưng khi Lời Chúa được gieo vào tâm hồn thì chắc chắn sẽ sinh hoa trái là những việc tốt lành thánh thiện.
Thiên Chúa vẫn luôn quảng đại, tin tưởng và hy vọng nơi từng người chúng ta. Còn phần chúng ta, chúng ta có cái nhìn và thái độ nào đối với bản thân và mọi người xung quanh?
Thiết nghĩ rằng, nếu Thiên Chúa đã luôn quảng đại, tin tưởng và hy vọng vào chúng ta, thì chúng ta cũng cần có cái nhìn và thái độ lạc quan về bản thân chúng ta và mọi người xung quanh như thế.
Trước hết, với bản thân, chúng ta không có lý do gì để mà tự ti, mặc cảm, thất vọng về bản thân mình. Chúng ta cần vượt qua những mặc cảm tội lỗi, những yếu đuối để đứng dậy làm lại cuộc đời, để sống tốt hơn. Thiên Chúa luôn gieo ân sủng của Ngài cho chúng ta qua các bí tích và Lời của Ngài. Mỗi người chúng ta đều có một giá trị đặc biệt nào đó trước mắt Thiên Chúa. Thiên Chúa mời gọi chúng ta hãy mở lòng đón nhận ân sủng của Ngài và làm cho ân sủng đó ngày càng phát triển trong đời sống chúng ta.
Tiếp theo, chúng ta cũng phải luôn có cái nhìn tích cực đối với mọi người xung quanh. Người ta vẫn thường nói: “Trong hai người cùng đi đường với ta, thế nào cũng có một người là thầy ta” và “Không ai xấu đến nỗi không có gì tốt để cho chúng ta học hỏi”. Chính vì thế, trong các hoạt động tông đồ, chúng ta xác tín rằng không ai hoàn toàn là mảnh đất lề đường, là mảnh đất sỏi đá hay mảnh đất bụi gai, mà luôn có một phần nhỏ mảnh đất tốt nào đó để Lời Chúa sinh hoa trái tốt lành, thánh thiện. Do đó, chúng ta hãy loan báo Lời Chúa, loan báo sự thật, loan báo sự thiện cho mọi người, bởi vì chính Thiên Chúa mới là Đấng làm cho hạt giống Lời Chúa mọc lên và sinh hoa kết quả, chứ không phải chúng ta (x. 1 Cr 3, 5-9).
Hạt giống nào cũng ẩn chứa những hy vọng; bông hoa nào cũng mang đến những niềm vui. Dẫu biết rằng có những hạt giống bị hư hao do các loại tâm hồn vệ đường, đá sỏi, bụi gai, nhưng người gieo giống – hình tượng của Thiên Chúa – vẫn lạc quan, vì hy vọng sẽ có những hạt rơi vào tâm hồn đất tốt, để rồi sinh hoa kết hạt bội thu. Có vẻ như thất bại của các hạt giống càng lúc càng gia tăng: hạt giống chưa kịp nảy mầm bị chim trời ăn mất, hạt giống đã nảy mầm nhưng bị chết héo, hạt giống đã thành cây con nhưng bị chết ngạt. Thế nhưng, chỉ cần vài hạt giống rơi vào đất tốt, hạt gấp trăm, chẳng những bù đắp những hư hao, và còn dư dật phong phú. Dụ ngôn cho ta cái nhìn lạc quan về Nước trời, về việc nên thánh của người con cái Chúa.
Dẫu biết rằng tâm hồn mình còn nhiều sỏi đá, cỏ lùng, đừng thất vọng mà để hoang tàn, nhưng xin vẫn cứ chăm chỉ: Chăm chỉ nhặt sỏi, chăm chỉ nhổ cỏ, vun trồng chuẩn bị tốt cho mảnh đất của đời mình để sẵn sàng đón nhận hạt giống được gieo trong mùa màng hồng ân. Khi mùa gặt tới, mong rằng, mảnh đất đời tôi, đời bạn nuôi dưỡng giống, ít nhất cho những hạt sinh được ba mươi…
Chúa nhật XXIV TN 13 tháng 9 năm 2020
Mt 18, 21-35
THA MÃI MÃI – THA LUÔN LUÔN
Trong đời sống thường ngay, tha thứ dường như là điều cần phải có trong xã hội. Cuộc sống chung nào cũng đòi ta phải chấp nhận cái khuyết điểm của nhau trong yêu thương và tha thứ. Không tha thứ thì chỉ còn loại trừ. Một khi đã loại trừ lẫn nhau sẽ gây nên bao điều thị phi và bể dâu. Vì vậy, điều mà Chúa muốn nơi người Công Giáo là đã yêu thì phải tha thứ bao dung cho anh em của mình. Tha thứ không chỉ 7 lần mà là bảy mươi lần bảy nghĩa là không bao giờ để trong lòng những oán hận ghét ghen.
Tha thứ chính là từ bỏ mình và vác thập giá mình khi tháo gỡ mình khỏi mọi ràng buộc của “cái tôi”, để chỉ còn tư duy và hành động vì hạnh phúc của người khác, dù người khác ấy không “tử tế, xứng đáng, dễ mến, dễ thương”.
Việc tha thứ thật khó khi chúng ta chỉ nhìn vào chính mình. Trong kinh nghiệm của ông Phêrô, ông đã hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu anh em con cứ xúc phạm đến con, thì con phải tha đến mấy lần? Có phải bảy lần không?” ( Mt 18, 21). Trong khi đặt vấn đề, ông Phêrô đã quy về bản thân mình: “nếu anh em cứ xúc phạm đến con”, phải chăng sự tha thứ của ông có giới hạn? Bởi ông nhìn vào vị thế của ông, ông muốn được tôn trọng, được yêu thương,… Do đâu ông có quyền sử dụng những gì ông đang có? Chính khi ông chú ý vào bản thân, ông quên rằng, tất cả những gì ông có, mạng sống, danh dự, của cải, … ông đã nhận từ Thiên Chúa và ông thuộc về Thiên Chúa. Chúa Giêsu nhắc nhớ cho ông cũng như mỗi người chúng ta, tất cả những gì chúng ta đang có là nhờ Thiên Chúa ban cho chúng ta.
Hơn ai hết, là Thiên Chúa Tình yêu, Chúa Giêsu hiểu tình yêu phải đi đôi với hy sinh cao cả nhất là tha thứ, và tha thứ cho ai chính là chết đi cho người ấy, bởi có dám để “cái tôi ích kỷ, tự ái, quyền lực, danh dự” chết đi, chúng ta mới thật lòng tha thứ cho anh em khi bị họ xúc phạm, làm tổn thương; bởi có dám hy sinh những giá trị nhiều khi còn lớn hơn cả mạng sống để hạ mình, xoá mình tha thứ cho người đã táo tợn cướp đi tất cả những gì mình ôm ấp, nâng niu, và bằng mọi giá giữ gìn như danh dự, uy tín, chúng ta mới chân thành tha thứ “không giới hạn bẩy lần”, như thánh Phêrô trộm nghĩ, mà vô hạn, không tính toán, và nhiều đến “bẩy mươi lần bảy”, nghiã là không đếm nổi như Thiên Chúa muốn (x. Mt 18,21-22).
Thiên Chúa muốn chúng ta tha thứ cho nhau, như Ngài đã tha thứ cho chúng ta, cũng như muốn chúng ta yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương chúng ta (x. Ga 13,34), bởi yêu thương đòi tha thứ, và chỉ thực sự tha thứ khi yêu thương đạt đến độ quên mình, xóa mình, hiến mình, bỏ mình vì hạnh phúc của người mình yêu.
Đây là đòi hỏi rướm máu của đức ái Kitô, là điều kiện để được Thiên Chúa thương xót cứu độ, như Đức Giêsu đã khẳng định trong Hiến Chương Nước Trời : “Phúc cho ai có lòng thương xót, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.” (Mt 5,7), và như sách Huấn Ca đã răn dậy : “Kẻ báo thù sẽ chuốc láy báo thù của Đức Chúa, tội lỗi nó, Người xem xét từng ly. Hãy bỏ qua điều sai trái cho kẻ khác, thì khi bạn cầu khẩn, tội lỗi bạn sẽ được tha. Người với người cứ nuôi lòng hờn giận, thế mà lại xin Đức Chúa chữa lành! Nó chẳng biết thương người đồng loại, mà lại dám xin tha tội cho mình! Nó chỉ là người phàm mà để tâm thù hận, thì ai sẽ xin tha tội cho nó?” (Hc 28,1-5). Trái lại, “chúng ta đừng xèt đoán nhau nữa” (Rm 18,13), mà “hãy nhớ đến các điều răn mà đừng oán hờn kẻ khác, nhớ đến giao ước của Đấng Tối Cao mà không chấp nhất điều lầm lỗi của nhau” (Hc 28,7).
Trong trang Tin mừng, vị Thẩm phán được diễn tả như một vị vua và với cách gọi “tôn chủ”, thể hiện người đáng kính trọng và là một người liêm khiết. Vị tôn chủ đã chạnh lòng thương trước lời van xin của người đầy tớ và sẵn sàng tha cho hắn món nợ rất lớn là mười ngàn yến vàng. Chúng ta nhớ đến bài giảng của Chúa Giêsu về ngày tận thế (x. Mt 25,31-46).
Lúc đó, vị thẩm phán cũng được gọi là “Đức Vua” xét xử người lành cũng như kẻ dữ, tuỳ theo việc họ đã làm khi còn sống trên dương gian. Trước đó, vị thẩm phán cũng được dùng với danh xưng “Con Người”. “Con Người” hay “Con loài người” là danh xưng chính Chúa Giêsu đã dùng để chỉ bản thân Người. Như thế, vị thẩm phán sẽ xét xử loài người là chính Chúa Giêsu, như chúng ta đọc trong kinh Tin kính: “Ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết”.
Phải chăng chúng ta khó tha thứ là khi chúng ta để cho cái tôi làm chủ mà chưa để cho Thiên Chúa đi vào chính con người mình. Khi bị xúc phạm, chúng ta đã “thương xót phận mình” và “gặm nhấm những nỗi đau” mà chưa mở lòng để đón nhận ơn tha thứ của Chúa, để tình yêu của Thiên Chúa lấp đầy. Mỗi ngày, Chúng ta hãy thêm xác tín mạnh mẽ như Thánh Phaolô: “Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa” (Rm 14, 8). Chúng ta hãy ra khỏi chính mình để đón nhận luồng gió ân sủng của Chúa đang từng giây phút mong chờ để đổ vào trong con người của chúng ta. Tất cả mọi sự chúng ta đừng quy về chính bản thân mình, nhưng quy về Thiên Chúa và để tôn vinh Người, bởi chúng ta đã thuộc về Chúa.
Trong hành trình cuộc đời, con người sống với và sống cho tha nhân. Chỉ khi nào ý thức được điều này, chúng ta mới tìm được hạnh phúc. Một cuộc sống biết chia sẻ cảm thông sẽ đong đầy niềm vui. Cũng vậy, ý thức sống hay chết đều thuộc trọn về Chúa sẽ giúp chúng ta cảm nhận được tình thương của Ngài giữa những khó khăn trắc trở trong cuộc đời.
Chúa Giêsu là mẫu gương cho chúng ta về tâm tình phó thác. Người cũng là mẫu mực cho chúng ta triết lý sống vì hạnh phúc của tha nhân. Trên cây thập giá, Chúa đã xin ơn tha thứ cho những kẻ hành hạ mình. Yêu thương và tha thứ, cầu nguyện cho kẻ thù, những đức tính này làm cho chúng ta nên giống Đức Giêsu Kitô.
Thứ Hai tuần 24 TN-
14 tháng 9, lễ suy tôn thánh giá
LỜI MỜI QUÁ KHÓ
Hơn một lần ta thấy Chúa đã xác quyết: Ta là đường, là sự thật và là sự sống. Thế nhưng con đường ấy như thế nào? Phải chăng là một con đường ngợp những cánh hoa. Tôi xin thưa không phải là như thế, nhưng là một con đường vừa khúc khuỷ, vừa nhỏ bé mà ít người muốn đặt chân vào. Và cụ thể hơn nữa, đó là con đường đau khổ, con đường thập giá như lời Người đã xác quyết: Ai muốn theo Ta phải từ bỏ mình vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta. Đó là con đường duy nhất, rẽ ngang vào một lối khác, chắc chắn thế nào chúng ta cũng bị lạc.
Thánh giá là một nghịch lý trong đạo Thiên Chúa giáo nói chung và đạo công giáo nói riêng. Một đàng thánh giá là nguyên nhân thất vọng, tai họa và sự chết. Đàng khác Thánh giá mang lại nguồn hy vọng, toàn thắng và sự sống.
Trước khi Đấng Cứu thế đến, thánh giá là hình phạt khiếp sợ cho tội nhân. Bị coi là một tội nhân nên Đức Giêsu phải chịu đóng đinh trên thánh giá với hai người trộm cướp. Ngày nay Thánh giá đã trở nên dấu hi vọng và toàn thắng cho người Kitô giáo. Đó chính là điều mà thánh Phaolô đã khẳng định: Rao giảng Đức Kitô chịu đóng đanh, điều mà người Do thái coi là ô nhục, không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do thái hay Hi lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa (1Cr 1,23-24).
Thánh Giá là sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa. Bởi vì "Sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh sức hơn loài người" (1Cr 1, 24 -25).Thánh Giá đã trở thành dấu chỉ của tình yêu hy vọng và sự sống. Thánh Giá là biểu tượng của Tình Yêu cứu độ. Thánh giá là niềm tự hào và vinh quang của người tín hữu.Thánh Phaolô có một ước muốn: "Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô" (Gl 6,14).
Chúa Giêsu chết trên thập giá, muốn minh chứng rằng Người yêu thế gian hơn yêu chính mình. Nơi thập giá,Chúa Giêsu chứng tỏ tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta là một tình yêu ở dạng thức cao nhất:Tình Yêu đến mức tận cùng, một Tình Yêu tự hiến trọn vẹn của Thiên Chúa. Yêu là hiến tế, là hy sinh chính mình. Hiến dâng chính mình vì thiện ích của kẻ khác. Chúa Giêsu hiến dâng chính mình trên thập giá như là sự đền bù vì ơn cứu độ nhân loại.
Thánh Giá đã in sâu và gắn chặt với Chúa Giêsu Kitô. Ngay cả sau khi Chúa sống lại vinh quang, các vết thương khổ nạn thập giá vẫn hiển hiện, vẫn không bị xóa nhòa. Thánh Giá Chúa Kitô xuyên qua thời gian và hiện diện trong mỗi giây phút cuộc đời chúng ta. Sự hiện diện ấy làm thay đổi tất cả.
Chúa Giêsu coi cái chết của mình như là một sự tôn vinh. Tôn vinh Tình Yêu của Chúa Cha, một Tình Yêu vô bờ bến, một Tình Yêu mãnh liệt đến nỗi Chúa Cha "đã ban Con Một cho thế gian, để những ai tin vào Người Con thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời" (Ga 3,16). Đồng thời cũng là tôn vinh Tình Yêu của Chúa Giêsu, một Tình Yêu đã hy sinh mạng sống vì những người mình yêu, là một hy lễ dâng lên Chúa Cha, cũng là sự tự hiến cho loài người trở nên lương thực nuôi sống chúng ta.
Thánh Phaolô nhấn mạnh sự tương phản chưa từng thấy trong mầu nhiệm Thập giá. Sự hạ mình sâu thẳm của Đức Giêsu Kitô "Đấng vốn dĩ là Thiên Chúa, đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế Thiên Chúa đã siêu tôn Người, tặng ban Danh hiệu vượt trên mọi Danh hiệu. Và khi nghe Danh Thánh Chúa Giêsu, mọi gối phải bái quỳ để tôn vinh Chúa Cha và tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa" ( Pl 2,6-11).
Theo cái nhìn của Phaolô cũng như của Gioan, Chúa Giêsu chịu đóng đinh cũng chính là Chúa Giêsu được tôn vinh. Đó là sự tôn vinh Tình Yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa, và Tình Yêu ấy đã biểu lộ rõ ràng nhất nơi Thập giá Chúa Kitô. Không nơi nào Tình Yêu của Thiên Chúa được biểu lộ trọn vẹn như nơi "con người Chúa Giêsu chịu đóng đinh".
Và rồi như lời Chúa mời gọi, ta thấy muốn được vào Nước Trời, chúng ta phải có công nghiệp, mà muốn có công nghiệp, chúng ta phải vác lấy thập giá mình. Công nghiệp của chúng ta mặc dù là nhỏ bé nhưng lại là một sự cộng tác cần thiết cho chính bản thân chúng ta được cứu rỗi. Bởi đó chúng ta đừng vội lẩm bẩm kêu trách mỗi khi gặp phải những gian nguy thử thách. Trái lại hãy coi đó là một diễm phúc vì được làm chính việc của Chúa, vì được cộng tác với Chúa trong chương trình cứu độ. Hơn nữa những khổ đau chúng ta phải chịu trong cuộc sống hiện tại, sẽ không thể nào sánh ví được với hạnh phúc trường tồn vĩnh cửu mà chúng ta sẽ được đón nhận trên quê hương Nước Trời.
Là Kitô hữu, chúng ta thấy chúng ta không thể chối bỏ thánh giá, mà phải tôn vinh Thánh giá như phương tiện cứu rỗi. Kitô hữu phải hãnh diện về biểu hiệu của Thánh giá. Tuy nhiên người mang danh Kitô không được dừng lại ở thánh giá mà phải vượt qua thánh giá và tìm cho ra ý nghĩa của việc mang vác thánh giá. Vì có sự liên hệ giữa thánh giá và phục sinh mà Đức Giêsu mời gọi người môn đệ vác lấy thánh giá để theo Người (Mt 16,24; Mc 8,34; Lc 9,23).
Mỗi người chúng ta đang sống một cuộc đời cho chính mình. Mỗi người chúng ta đang đón nhận thập giá với thái độ khác nhau. Có người chấp nhận thập giá để đền tội. Có người chấp nhận thập giá vì lòng yêu mến tha nhân. Và cũng có người đang từ chối thập gía trong cuộc đời. Hạnh phúc hay đau khổ tuỳ thuộc vào việc chọn lựa sống của chúng ta. Nhưng dù con người có muốn hay không?
Dù muốn dù không thì ta thấy Thập giá vẫn hiện diện. Thập giá của bổn phận. Thập giá của hy sinh từ bỏ những tham lam bất chính, những ham muốn tội lỗi, những ích kỷ tầm thường. Đón nhận thập giá sẽ mang lại cho ta tâm hồn bình an vì đã sống đúng với bổn phận làm người. Đón nhận thập giá còn là cơ hội để ta đền bù những thiếu sót trong cuộc sống của mình và của tha nhân. Đón nhận thập giá còn là cơ hội để ta tiến tới vinh quang phục sinh với Chúa trên thiên đàng.
Thứ Ba tuần 24 TN
15 tháng 9, Lễ Ðức Mẹ Sầu bi
Khi Mẹ sống lời tiên tri Simeon: “ Suốt đời Bà, tâm hồn Bà sẽ bị đau đớn như lưỡi đòng đâm thâu qua” (Lc 2,35)
Lưỡi đòng đó là;
· Tội lỗi nhân loại
· Những đau khổ của Đức Kitô
· Khi Đức Mẹ bước theo chân Con mình trên đường khổ giá và đứng dưới chân Thánh Giá để chứng kiến và thông phần đau khổ của Con Mình là Đức Kitô.
· Khi Đức Mẹ dâng tất cả những đau đớn riêng biệt, bất thường và đời thường của mình tức là chính trái tim như bàn thờ đầy lòng mến, đầy khiêm tốn, và cầu nguyện.
“Con Trẻ này là duyên cớ cho nhiều người trong dân Israel bị hư hỏng hay được cứu rỗi và sẽ là dấu hiệu gây mâu thuẫn. Còn Bà một lưỡi gươm sẽ đâm thâu lòng bà”. Trong giây phút đó Mẹ Maria chưa hiểu rõ thế nào là một lưỡi gươm sẽ đâm thâu qua tâm hồn. Mẹ đã bất đầu đi trên con đường đức tin trong sự vâng phục hoàn toàn thánh ý Chúa. Thiên Chúa dùng tiên tri Simeon để loan báo mầu nhiệm Thánh Giá của Chúa. Có thể lúc đó Mẹ chưa hiểu hoàn toàn Thánh Giá đau khổ thế nào nhưng mẹ cẩn thận ghi nhớ những kỷ niệm ấy trong lòng. Đây là thái độ thường xuyên của Me. Mẹ không hiểu nhưng không vì thế mà Mẹ chối bỏ , Mẹ luôn giữ trong lòng để suy niệm.
‘Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu lòng Bà’. Thập Giá của Chúa, mầu nhiệm đau khổ bao trùm trên đời Mẹ, trên hành trình đức tin của Mẹ khi Mẹ đứng dưới chân Thập Giá của Chúa Giêsu trên đỉnh đồi Golgotha. Sự hiện diện của Mẹ dưới chân Thánh Giá đối với Chúa Giêsu như là sự thông chia đau khổ, mặt khác là sự yên ủi cho Ngài. Mẹ tham dự vào sự đau khổ có sức mạnh cứu rỗi của Thiên Chúa. Mẹ Maria đã âm thầm dâng hiến chính mình cùng với hy tế của Con và lãnh nhận đặc ân được tham dự vào công cuộc cứu rỗi trở nên người Mẹ của toàn thể nhân loại. Lúc đó Mẹ Maria hiểu rõ hơn mầu nhiệm Thánh Giá và Mẹ sẵn sàng lãnh nhận lời mạc khải của Chúa Giêsu .
‘Đứng gần Thánh Giá Chúa Giêsu có Mẹ Người và thấy môn đệ mình yêu, Chúa Giêsu nói với Mẹ: “Thưa bà, đây là con bà” và Chúa nói với môn đệ: “Đây là mẹ con. Sau đó môn đệ đón Đức Mẹ về nhà mình”.
Mẹ Maria cũng vậy, dù phải đứng dưới chân thập giá và phải chứng kiến cái chết thảm thương của con Mẹ là Đức Giêsu, nhưng lòng mẹ vẫn ngập tràn niềm tín thác vào quyền năng và tình thương của Đấng Tối Cao. Về mặt xác thịt con người, chắc chắn lòng mẹ không khỏi tan nát, buồn đau, nhưng trong lòng tin, Mẹ vẫn có được niềm hy vọng hướng về tương lai tươi sáng của sự phục sinh vinh hiển của con Mẹ. Vì lẽ đó, hôm nay chúng ta mừng lễ với Mẹ: Vui mừng với Mẹ, vì khi gặp nỗi khổ đau tột cùng là phải chứng kiến cái chết thê thảm của con Mẹ, Mẹ vẫn không để nỗi khổ đau ấy bóp chết con tim yêu mến và ngập tràn hy vọng của Mẹ.
Nhân dịp mừng lễ Đức Mẹ Sâu Bi, Giáo hội nhắc nhớ cho chúng ta biết về giá trị của hạnh phúc, giá trị của niềm hy vọng trong chính nỗi khổ đau và chết chóc. Ngay ở bài đọc 1 trích trong thư gửi tín hữu Do thái hôm nay, chúng ta được nhắc nhớ về niềm hy vọng trong đau thương, hoạn nạn. Tác giả thư Do thái viết: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhậm lời, vì có lòng tôn kính”. Suy gẫm đoạn lời Chúa này, bấy lâu nay ta không khỏi thắc mắc: Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà xin Cha Ngài khỏi phải chết và rõ ràng tác giả thư Do thái bảo rằng Ngài đã được nhậm lời!
Mẹ Maria chịu đau khổ, sự đau khổ của Mẹ không chỉ là đau khổ thể xác mà còn làm cho tâm hồn Ðức Mẹ nát tan, giày vò vì từ khi nói lời xin vâng, dâng con vào đền thánh,lạc mất con vv.cuộc đời của Ðức Mẹ luôn hướng về cây thập giá. Có thể nói, mọi hành vi của Ðức Mẹ đều chuẩn bị cho con Mẹ là Chúa Giêsu tự hiến tế để cứu chuộc nhân loại. Mẹ hiểu rõ con Mẹ là của Mẹ, do Mẹ sinh ra nhưng không thuộc về Mẹ: "Cha Mẹ, không biết con phải làm việc cho Cha con sao ? Mẹ đã âm thầm giữ kín mọi kỷ niệm.mọi sự việc và suy đi nghĩ lại trong lòng. Mẹ đã hân hoan, vui mừng,ca ngợi tình thương bao la của Thiên Chúa trong ngày truyền tin, Mẹ lại sinh ra nhân loại trong sự đau khổ trên núi Canvê. Mẹ hoàn thành sứ mạng đồng công cứu chuộc của Mẹ. "Ðứng gần thập giá Chúa Giêsu có Mẹ Người"
Mẹ Maria đã anh dũng đứng dưới chân thập giá khi con Mẹ bị treo trên cây thập hình nhuốc hổ . Mẹ đứng đó khi nhiều môn đệ và những người thân cận chạy trốn vì sợ hãi,vì sợ chết.Mẹ đã ý thức lời Chúa nói:" Khi nào Ta được treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta". Mẹ đã nhận lãnh thánh Gioan,đại diện Giáo Hội làm con của Mẹ và như thế, Mẹ đã cho nhân loại thấy rõ cái chết của Chúa là hy lễ cao quí nhất có sức biến đổi thế gian và là nguồn sự sống mới cho nhân loại.Mẹ đau khổ nhưng sự đau khổ của Mẹ góp phần vào công cuộc cứu rỗi nhân loại nhờ Mẹ kết hợp sự đau khổ của Mẹ với sự đau khổ của Chúa Giêsu.
Sống ở đời này, ai trong chúng ta cũng phải kinh qua đau khổ. Ta không đau khổ vì điều này thì sẽ đau khổ vì điều khác. Đau khổ vì bệnh tật, vì nghèo đói, vì bất công, vì thiên tai, vì nhân tai. Đau khổ vì bị tù đầy, bị kỳ thị, bị khinh khi, miệt thị. Và đau khổ lớn nhất của thân phận nhân loại chúng ta đó là vì sự chết chóc đau thương. Nhưng đứng trước mọi nỗi đau khổ, Lời Chúa hôm nay mời gọi ta hay đón Đức Mẹ về nhà mình, đón Mẹ về với tâm hồn mình để Mẹ dạy cho ta con đường tin yêu, hy vọng ngay trong nỗi đau khổ tột cùng.
Thứ Tư Tuần XXIV Mùa Thường Niên
Lc 7, 31-35
NHÌN LẠI ĐỜI SỐNG CỦA TA
Chúa Giêsu đến, Ngài có thái độ như ngược hẳn với Gioan Tẩy Giả "cũng ăn, cũng uống" – Một hành vi rất "người", sống dung hòa với con người và chính Ngài cũng là một con người như chúng ta- "thì họ lại bảo: Đây là tay ăn nhậu, bạn với thu thuế và người tội lỗi" (c.34). Đức Giêsu có mục đích của Ngài. Không phải Ngài từ chối việc "ăn chay, kiêng khem" hoặc đời sống khổ hạnh nhiệm nhặt của Gioan Tẩy Giả. Nhưng Ngài không chay tịnh ý nói lên niềm vui của bữa tiệc thời Mê-si-a.
Và đây, thời Mêsia đã tới "Chẳng lẽ các ông lại bắt khách dự tiệc ăn chay khi chàng rể đang ở với họ? Sẽ có ngày chàng rể bị đem đi, lúc đó họ mới ăn chay" (5,33-34) . Hành động "ăn uống" của Chúa Giêsu cũng bị người Do Thái chối từ. Họ lên án Chúa kết bạn với những tay ăn nhậu và tội lỗi. Ôi! Lưỡi không xương, ngươi muốn uốn theo đường nào cũng được, để chỉ nhằm biện minh cho tâm địa "chối từ"' của chủ ngươi mà thôi.
Ta thấy những người Biệt Phái là những người như thế nào trong thời của Chúa Giêsu. Với họ và luật sĩ Chúa Giêsu nói: vậy tôi phải ví người thế hệ này với ai? Lời nói của Chúa Giêsu biểu lộ tâm trạng xót xa của Chúa, trước sự cứng tin của những kẻ không chấp nhận giáo huấn của Ngài, đồng thời Ngài cũng tạo nên một ý thức cho người nghe.
Để diễn tả sự cố chấp đó, Chúa Giêsu mượn trò chơi hát đối của trẻ em Do Thái ngồi chơi ngoài chợ làm dụ ngôn. Trò chơi này được chia làm hai phe để xướng đáp phù hợp. Phe một hát những bài ca bi ai, thì phe hai hát đáp lại bằng cử điệu đấm ngực than khóc: phe một cất giọng ca vui vẻ giả làm đám cưới, thì phe hai phải vui mừng nhảy nhót. Nhưng nhiều khi gặp những trẻ khó tính theo ý riêng hay có sự cố bất hoà với nhau, thì chúng không đối đáp theo lệ đã quen của trò chơi, khiến cho trò chơi mất ý nghĩa và mất vui “ phe một thổi sáo mà phe hai không nhảy múa”.
Chúa Giêsu áp dụng ý nghĩa trò chơi: ông Gioan tẩy giả sống khổ hạnh, nêu cao tinh thần sám hối, và rao giảng sự sám hối , thì những kẻ chống đối cho ông là người điên, bị quỷ ám, nên họ không đón nhận lời ông rao giảng và không ăn năn sám hối. Còn Đức Giêsu sống hoà đồng, bình dị với mọi người, cùng ăn cùng uống với mọi người, diễn tả tình thương cứu độ nên được dân chúng mến phục, thì họ lại bảo Ngài sống bê tha, buông thả, tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và người tội lỗi, nên họ đã không tin nhận Ngài là Đấng Cứu Thế, không đón nhận lời giáo huấn của Ngài. Nhưng đức khôn ngoan đã được tất cả con cái biện minh cho.
Con cái của đức khôn ngoan là những người tin nhận Đức Giêsu Kitô, là người thể hiện ý định của Thiên Chúa, họ là con cái Thiên Chúa. Chính việc họ tin nhận Đức Kitô đã biện minh rằng Đức Giêsu chính là Đấng cứu thế, và những người cố chấp là sai lầm. tuy ông Gioan và Chúa Giêsu có hai đường lối khác nhau nhưng cả hai đều cùng chung một mục đích là loan báo thời cứu độ đã đến, cả hai cùng phục vụ thánh ý của Thiên Chúa qua sứ vụ tiền hô của Gioan và sứ vụ cứu thế của Đức Kitô. Chúa Giêsu khiển trách và vạch rõ sai lầm của những người cố chấp, đặc biệt là nhóm biệt phái kinh sư. Chúa Giêsu đã áp dụng một phương pháp sư phạm khôn khéo và một cách thức tế nhị, đúng như người ta thường nói: “với người khôn thì nói mánh với người dại thì đánh đòn”.
Trong Hội Thánh, trong một cộng đoàn, trong một công việc, tuy chúng ta có những hình thức khác nhau, nhưng cùng chung một lý tưởng là phục vụ nước Cha trị đến, chúng ta cần phải biết thống nhất trong đa dạng và hiệp nhất trong khác biệt trong đời sống chung và trong công việc chung.
Qua việc Chúa Giêsu than trách những người Dothái, chúng ta cũng nghe Chúa dạy chúng ta rằng: khi chúng ta làm bất cứ việc gì trong sứ vụ nào, chúng ta cũng không tránh khỏi những sự chê bai chống đối của người khác, làm cản trở công việc của chúng ta, chúng ta cần bình tĩnh và can đảm chịu đựng, vượt qua để trung thành với sứ vụ như Gioan tẩy giả, như Đức Kitô đã nêu gương cho chúng ta. Chúng ta cũng bắt chước Chúa Giêsu luôn yêu thương tôn trọng, tế nhị với người khác khi chúng ta cần sửa sai cho họ một điều gì. Khi đi làm tông đồ, và bản thân chúng ta cần khổ chế như Gioan tiền hô và cũng cần sống hoà đồng như Đức Kitô để tạo tình thân với mọi người, thuận lợi cho việc rao giảng.
Cái tôi của con người được xem như là điều chính yếu khẳng định rằng người đó hiện hữu. Và cái tôi cũng nói lên ý riêng của bản thân người đó trước những biến cố, hành vi, lời nói của người khác. Khi con người không hiểu nhau, trách cứ nhau và có thể dẫn đến xung đột, chia rẽ.... đều xuất phát từ cái tôi ích kỷ, coi ý riêng là trên hết hoặc đề cao "cái rốn vũ trụ" của mỗi người.
Mong chờ Ðấng Cứu Thế, nhưng không chấp nhận những thể hiện của thời cứu thế; trông đợi Ðấng Cứu Tinh, nhưng phải là Vị Cứu Tinh do mình tạo ra, đó là thái độ của những người Do thái thời Chúa Giêsu. Thái độ ấy cũng là cơn cám dỗ triền miên của các Kitô hữu thời đại chúng ta. Chúa Giêsu đã nói: "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mà theo Ta". Chúng ta mang danh hiệu Kitô, chúng ta muốn làm môn đệ Ngài, nhưng có lẽ chúng ta chưa từ bỏ chính mình để chấp nhận và sống theo giáo huấn của Ngài.
Ta nghe Chúa Giêsu kết luận: "Đức Khôn Ngoan đã được con cái mình biện minh cho" (c.35). Thật thế, dân chúng và người thu thuế đã chấp nhận ý đinh của Thiên Chúa (x.c.29). Sự khôn ngoan của Thiên Chúa đang hoạt động để thực thi ý định này được nhìn nhận là công chính, vì tất cả những ai là con cái Người- con cái của Đức Khôn Ngoan- là những người nhỏ bé, nghèo hèn, khiêm hạ, là các tội nhân đã nhận ra điều ấy
Và rồi ta cần nhìn lại bản thân trong cách sống khó hoà nhập với người khác, với Lời Chúa, với lời khuyên của Hội Thánh, đôi khi chúng ta cũng có thái độ sống khó đồng tình, khó cộng tác, không hiệp thông để tương trợ lẫn nhau làm cho bản thân, cộng đoàn không thăng tiến. Có khi làm hỏng việc chung nữa. Trong đời sống chung chúng ta cũng tránh sự phê phán lên án người khác theo khuôn mẫu tiêu chuẩn, thước đo của mình, để tránh bớt sự sai lầm của mình, cản trở đời sống, công việc của người khác và sự thăng tiến cũng như lợi ích chung.
Thứ Năm Tuần XXIV Mùa Thường Niên
Lc 7, 36-50
YÊU NHIỀU ĐƯỢC THA NHIỀU
Hôm nay ta thấy Thánh Luca ghi lại một sự kiện được diễn tả tỉ mỉ về người phụ nữ tội lỗi tìm gặp Chúa Giê-su. Khởi đầu là hoàn cảnh của người phụ nữ trong tâm trạng ảo não tuyệt vọng của kẻ sống trong tội, nhưng kết thúc là ra về trong tâm trạng an bình, hân hoan.
Chúa Giêsu đến nhà một người Biệt Phái dùng bữa, cho chúng ta bài học về lòng bao dung của Chúa, để mời gọi chúng ta cũng phải sẵn lòng mở rộng vòng tay thân ái, cư xử thân thiện với hết mọi người, bất kể họ là ai, đang ở trong địa vị nào dù thấp kém, dẫu dị biệt về văn hóa, tín ngưỡng, hay khác biệt về màu da… để từ đó chúng ta sẽ nhận ra mọi người đều là anh em, con cùng một Cha trên trời, và mọi người có bổn phận phải cư xử với nhau trong tình bác ái anh em.
Bình an trong tâm hồn là điều ai ai cũng mong muốn có được. Nhưng để đạt được điều này,con người đã không ngừng kiếm tìm,bằng nhiều phương cách, như tự cổ xưa loài người vẫn thao thức trong thân phận của mình với nhiều triết gia, nhiều nhà tư tưởng. Đến khi nhân loại được ban ơn cứu chuộc, qua Ngôi lời nhập thể là Chúa Giê-suKitô, lời đầu tiên của Ngài khi bắt đầu sứ vụ công khai là: "Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng". Ngài đến là để kêu gọi lòng sám hối của con người; là để hòa giải loài người tội lỗi với Thiên Chúa. Và để đền bù tội lỗi của con người, Ngài đã chấp nhận cái chết đau đớn,nhục nhã trên thập giá.
Tin Mừng hôm nay kể rõ người phụ nữ đã biết mình là kẻ tội lỗi, nhận ra sự cần thiết của sự trở về và đã tìm gặp Chúa Giêsu. Bà đã chuẩn bị chu đáo cho việc quan trọng này, từ tâm hồn cho đến vật chất để thể hiện lòng mình, bất chấp những con mắt định kiến ích kỷ, những lời dị nghị, bất chấp sự khinh bỉ của những người đang hiện diện xung quanh.Bà đã thể hiện trọn vẹn lòng sám hối ăn năn.“Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều.”Chúa Giêsu đã công khai bênh vực hành động của người phụ nữ này.Với câu chuyện hai con nợ kể cho Simon nghe, Ngài nhấn mạnh : càng cảm nhận được ơn tha thứ, con người càng được thôi thúc thể hiện lòng yêu mến nhiều hơn.
Những cử chỉ xã giao của chủ nhà đã không dành cho Chúa Giêsu giờ đây chị đã làm với tư cách của một người khốn cùng. Cái ôm hôn chúc bình an chào thăm gởi nhau khi khách đến nhà lẽ ra ông Simon phải trao cho Chúa, bây giờ chị thay bằng nụ hôn vào chân Chúa. Nước rửa chân lẽ ra ông Simon dành cho Chúa khi Chúa đến nhà ông chị đã thay bằng nước mắt mình.
Trong suốt dòng lịch sử,Giáo Hội đã được tô điểm bằng lòng sám hối thể hiện qua tình mến của các thánh. Trong bài đọc thứ nhất, Thánh Phaolô tông đồ đã nhấn mạnh : “Tôi đã làm việc nhiều hơn tất cả những vị khác, nhưng không phải tôi, mà là ơn Thiên Chúa cùng với tôi.” Từ một sự trở lại với Chúa tưởng như khó có thể xảy ra, Thánh Phaolô đã ngày một yêu mến nhiều hơn,để rồi Ngài thực hiện biết bao kỳ tích trong việc truyền giáo. Cuộc đời của bất cứ vị thánh nào cũng đều bắt đầu bằng lòng sám hối.
Với lòng ý thức sâu xa về tội lỗi của mình, chúng ta tìm về với Chúa, thể hiện lòng ăn năn và hoán cải, trong lòng không còn tiếc nuối những gì trong quá khứ, những gì đã có. Dẫu là bình bạch ngọc, dầu thơm quý giá. Hành động thể hiện lòng yêu mến cách tích cực với Chúa.
Cũng sám hối, nhưng thể hiện như cách của Giu-đa thì không thể hiện được lòng sám hối đích thực. Nó triệt tiêu đi sự trở về và lòng yêu mến cần có với Chúa. Và cũng với lòng sám hối, Phê-rô đã không dừng lại ở thâm tâm ghét tội lỗi của mình vì đã chối thầy, mà đã xoay biến thành lòng yêu mến nhiệt thành với Chúa đúng như những lần thưa lên với Chúa Giêsu : “Lạy Chúa, Chúa biết con yêu mến Chúa”.Hành động của Phê-rô sau đó đã mạnh mẽ đáp báo với lòng tin yêu của Thầy Chí Thánh, và có sự tương tác, lòng mến của Phê-rô ngày một mãnh liệt hơn, sự thể hiện ra hành động đến tột bậc là chết vì lòng tin, cậy, mến Chúa.
Thật đáng để mọi người suy gẫm và lo lắng, nếu loài người dần đánh mất đi nhận thức về tội lỗi, về lòng sám hối. Nói những lời nói, làm những hành động gớm ghê mà dửng dưng, xem như không mảy may suy nghĩ lại. Con người ngày một hời hợt với ý thức tội lỗi, thì đương nhiên con người không còn cảm nhận được thế nào là ơn tha thứ của Chúa, và thế là cũng đánh mất sự cảm thông với người khác. Lúc ấy sự khoan dung tha thứ cho tha nhân là điều xa vời khó tránh khỏi.
Cách Chúa Giêsu kết luận để lại cho chúng ta suy nghĩ, điều kiện để được tha thứ là phải yêu mến. Yêu mến sẽ dạy cho chúng ta biết sám hối thế nào. Yêu mến sẽ dạy cho chúng ta biết thái độ thể hiện làm sao. Yêu mến sẽ hướng dẫn cách đánh giá của chúng ta về người khác và đón nhân họ như thế nào.
Thứ Sáu Tuần XXIV Mùa Thường Niên
Lc 8, 1-3
PHẨM GIÁ PHỤ NỮ
Sứ mệnh và trách nhiệm loan báo sứ điệp Tin mừng, không chỉ dành riêng cho nam giới. Theo như thánh sử Luca hôm nay cho biết, thì trong đoàn truyền giáo của Chúa Giêsu, ngoài những môn đệ mà Chúa đã tuyển chọn, còn có các phụ nữ nữa. Như vậy chứng tỏ Chúa Giêsu tôn trọng phẩm giá người phụ nữ và đánh giá cao phần đóng góp của họ trong sứ mệnh rao giảng Tin Mừng.
Chúa Giêsu đã đến để giải phóng con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Ngài tái lập con người trong tước phẩm cao trọng của con cái Chúa. Chính tước phẩm ấy là nền tảng sự bình đẳng của con người: nam nữ, già trẻ, giàu nghèo, tất cả đều có một phẩm giá cao trọng như nhau. Thánh Phaolô đã diễn tả chân lý ấy trong thư Galata: "Không còn Do thái hay Hy lạp, không còn nô lệ hay tự do, không còn nam hay nữ, bởi vì tất cả là một trong Chúa Giêsu Kitô".
Chúa Giêsu đã khẳng định sự bình đẳng của nữ giới không bằng tuyên bố suông, Ngài đã chứng minh điều đó khi để cho các phụ nữ gia nhập vào nhóm mười hai Tông đồ của Ngài. Sự bình đẳng, hay đúng hơn, phẩm giá của con người được thể hiện trước tiên qua hành vi phục vụ: càng phục vụ, con người càng chứng tỏ phẩm giá cao trọng của mình. Thật ra, đây cũng chính là nghịch lý chạy xuyên suốt Tin Mừng: càng đi tìm bản thân, con người càng đánh mất bản thân; trái lại, càng quên mình phục vụ, con người càng tìm lại bản thân và chứng tỏ phẩm giá cao trọng của mình.
Chúng ta đã biết đến não trạng trọng nam khinh nữ trong xã hội Do Thái thời Chúa Giêsu. Những người phụ nữ không có chỗ trong đền thờ cũng như ở hội đường. Vì thế chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi thấy trong số những người trở nên thân thiết với Chúa và cùng nhập đoàn với Người, ngoài nhóm Mười Hai, còn có cả những người phụ nữ mà đoạn Tin Mừng trích đọc hôm nay nêu đích danh. Họ không đi theo Chúa như là đám đông, nhưng là nhập đoàn cùng nhóm với Chúa và các tông đồ. Họ là thành phần tích cực và chủ động trong nhóm vì đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Chúa và các môn đệ.
Dưới áp lực của một xã hội trọng nam khinh nữ, các người phụ nữ này đã nhận ra sứ điệp giải phóng trong Tin Mừng mà Chúa Giêsu loan báo. Họ đã nhận ra sự vô lý và bất công của não trạng kia và họ đến với Chúa Giêsu, nhập đoàn với Người và cộng tác với Người trong sứ mạng loan báo Tin Mừng giải thoát. Cũng chính họ sẽ là những người đầu tiên đón nhận và loan báo Tin Mừng Phục Sinh.
Thánh Lu-ca nhấn mạnh đến công việc nặng nhọc của các bà đã lấy của cải mình giúp đỡ các Ngài.Thánh Lu-ca chắc hẳn lưu tâm đến thời cựu ước và trong nhiều nền văn minh khác, phụ nữ bị coi là thứ cấm kỵ, đối tượng của sức mạnh bí ẩn, bị khuất phục dưới thảm trạng bi đát bên lề. Người phụ nữ Samaria kêu lên ngạc nhiên khi Đức Kitô dám nói chuyện với mình. Tận nền vấn đề, Đức Kitô là Người bảo vệ đầu tiên vĩ đại, là người khởi động đầu tiên thăng tiến giải phóng phụ nữ. Các thầy khác thời người đã loại bỏ phụ nữ khỏi ảnh hưởng các đồ đệ của họ và tổ chức Do-thái giáo lúc đó không chấp nhận phụ nữ tham dự cộng đồng. Chỗ đứng của phụ nữ ở giữa dân ngoại và dân Is-ra-el!
Tuy không được chọn làm tông đồ nhưng sự hiện diện và công việc âm thầm của những người phụ nữ này cũng quan trọng chẳng kém gì công tác tông đồ. Vai trò của họ lại càng quan trọng và nổi bật hơn nữa bởi vì trong những giây phút đau thương nhất của Chúa Giêsu họ là những người duy nhất đứng kề bên Ngài. Sự hiện diện của một số người phụ nữ trong công cuộc rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu và nhất là trong những giây phút cuối đời của Ngài cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của chứng tá âm thầm của cuộc sống đức tin. Chứng tá ấy nói với chúng ta rằng trong thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô dù có âm thầm và vô danh đến đâu mỗi người đều có một chỗ đứng quan trọng và không thể thay thế được.
Mãi đến thế kỷ 14, người ta vẫn còn xem người phụ nữ như một hạng người nguy hiểm, một cám dỗ triền miên, một tạo vật thấp hèn, hay cùng lắm chỉ là phương tiện để bảo tồn nòi giống. Một quan niệm và cung cách đối xử như thế đối với người phụ nữ vẫn còn rơi rớt trong thời đại chúng ta: trong biết bao xã hội hiện đại hôm nay, người phụ nữ vẫn còn bị phân biệt đối xử so với nam giới. Thời Chúa Giêsu, dĩ nhiên thân phận nữ giới còn bị xử tệ hơn. Sở dĩ người ta đã có những ý nghĩ xấu về những phụ nữ này, vì họ đã nhìn người phụ nữ như là hậu duệ của Eva, kẻ đã quyến dũ Adong ăn trái cấm, để rồi kéo cả nhân loại vào vòng tội lỗi.
Thế nhưng, tin mừng hôm nay cho chúng ta thấy cách cư xử của Chúa đối với nữ giới. Chúa Giêsu quả thực đã làm một cuộc cách mạng khi đảo lộn quan niệm về nữ giới nơi những người đồng thời với Ngài. Những người phụ nữ mà thánh Luca nhắc đến, có người đã từng bị quỉ ám, bị người đời khinh khi, xua đuổi, bị dân chúng coi là những người tội lỗi, có mặt trong đoàn truyền giáo của Chúa Giêsu chứng tỏ rằng trong Giáo hội của Ngài không hề có sự phân biệt phụ nữ mà còn muốn đề cao sự bình đẳng của người phụ nữ, muốn giải phóng người phụ nữ khỏi suy nghĩ hạn hẹp của những người đương thời.
Đối với Đức Giêsu, mọi người bất luận là ai, cũng đều được mời gọi để loan báo Tin Mừng qua cách sống cũng như qua giới tính của mình. Mỗi phần tử trong Giáo Hội đều có một chỗ đứng, một vai trò riêng. Tất cả đều bổ túc cho nhau, để cùng nhau phục vụ hầu mở mang Nước Chúa. Trong chiều hướng tư tưởng này, chúng ta hãy cầu nguyện cho mọi thành phần trong Giáo Hội ý thức và dấn thân cho công việc truyền giáo, không phân biệt giới tính, địa vị, giai cấp, khả năng...tất cả là vì tin mừng Chúa Kitô.
Lời Chúa hôm nay giúp chúng ta có một quan niệm đúng đắn hơn về người nữ để biết tôn trọng, yêu thương họ. Đồng thời chúng ta cũng cầu xin cho chính những người phụ nữ biết ý thức được phẩm giá cao quý của họ, hầu sống xứng đáng và góp phần tích cực vào những công việc tông đồ trong Giáo hội.
Thứ Bảy Tuần XXIV Mùa Thường Niên
Lc 8, 4-15
CẨN THẬN COI CHỪNG GIỐNG NHƯ NƯỚC ĐỔ LÁ KHOAI
Trong quan niệm về nghề nông, ông bà ta đã đưa ra một chỉ dẫn “nhất nước nhì phân, tam cần, tứ giống”. Đức Giêsu đề cập đến một vấn sâu sa hơn, nó không chỉ là nước, là phân, là giống, nhưng quan trọng hơn cả là đất đai. Không có đất, hoặc đất đai cằn cỗi sỏi đá, thì cho dù có lắm nước, nhiều phân, giống tốt, cũng khó lòng mà thu hoạch được vụ mùa bội thu.
Giống tốt, đất khô cằn sỏi đá, cũng sẽ chẳng đem lại kết quả gì. Hạt giống rơi trên vệ đường, tựa như những người nghe Lời Chúa lọt vào tai này ra tai kia. Hạt rơi trên sỏi đá, những người nghe lời Chúa cách hời hợt, mau mắn đón nhận, những cũng nhất thời bỏ mất tất cả. Hạt rơi vào bụi gai, nhìn bề ngoài họ rất đạo đức, làm nhiều việc thiện, nhưng cũng dễ dàng chạy theo dục vọng, tiền bạc lợi lộc. Cuối cùng, hạt rơi vào đất tốt, là những người chăm chú đón nhận Lời Chúa, ghi nhớ, suy niệm và thực hành, dễ dàng tuân phục với tất cả lòng hăng hái quảng đại.
Hôm nay Đức Giêsu đã kể dụ ngôn người gieo giống và mặc khải cho biết: người gieo giống là Thiên Chúa. Hạt giống là Lời của Người qua các tổ phụ, tiên tri và sau hết là chính Đức Giêsu. Tuy nhiên, thân phận hạt giống thì khác nhau, vì thế, có hạt bị quên lãng, bỏ ngoài tai hay vô tâm, chỉ ¼ là được đón nhận. Lý do thân phận của hạt giống bị hư hoại nhiều là vì sự chai cứng trên lối mòn hay bởi gai góc, đá sỏi cằn khô. Chỉ một ¼ số hạt gieo vãi được may mắn rơi vào đất tốt, đủ điều kiện để hạt giống nảy mầm, đơm bông kết trái.
Hình ảnh này cho thấy thực trạng của xã hội chúng ta hôm nay cũng đang bị đủ thứ gai góc, sỏi đá và lối mòn đe dọa đến hạt giống của Lời Chúa.
Những thứ đó là: lối sống sa đọa, nhu nhược, vô luân, không có tự trọng... tham nhũng, bóc lột, lừa gạt, dẫn đến tình trạng: “Ai làm sao, tôi làm vậy. Ai làm bậy, tôi cũng làm theo”, nên Lời Chúa không sinh ích cho người đón nhận.
Thực vậy, biết bao con người hôm nay cứ trố mắt và lao mình vào những con đường tội lỗi mà không hề có chút ưu tư. Họ sống như không có gì xảy ra vậy.
Nơi giới trẻ ngày nay, tình trạng thượng tôn tình dục, văn hóa đồi trụy đang là mốt rất “hót”, dẫu vẫn biết rằng văn hóa phẩm đồi trụy là nguyên nhân nguy hiểm, tác hại khôn lường đến đời sống đạo đức gia đình, xã hội và làm băng hoại Lương Tâm, dẫn đến tình trạng mù quáng và đi vào con đường chết! Nhưng vì đồng tiền và bản năng “hạ đẳng” của con người, họ vẫn ngang nhiên cung cấp và thỏa sức sử dụng... như loài không có lương tri, không có linh hồn...!
Khi trình bày dụ ngôn, Chúa nhấn mạnh đến sự hiệu nghiệm của hạt giống, dù có hạt rơi bên vệ đường, có hạt rơi trên đá, có hạt rơi vào bụi gai, nhưng cũng có hạt rơi trên đất tốt và sinh hoa kết quả gấp trăm. Thiên Chúa là người gieo hạt giống đã làm tất cả để hạt Lời Ngài giảng dạy nảy sinh mầm.
Khi giải thích dụ ngôn cho các môn đệ, Chúa Giêsu như muốn nhấn mạnh đến sự cộng tác của con người để làm cho Lời Chúa được sinh hoa kết quả. Hạt giống Lời Chúa sinh hoa trái, nhưng còn phụ thuộc vào mảnh đất có được canh tác tốt. Mảnh đất phải được dọn cỏ, phải được nhặt những viên đá để hạt giống Chúa được tự do tăng trưởng, được sinh hoa kết trái mang lại lợi ích thiêng liêng cho cuộc sống.
Dẫu biết rằng tâm hồn mình còn nhiều sỏi đá, cỏ lùng, đừng thất vọng mà để hoang tàn, nhưng xin vẫn cứ chăm chỉ: Chăm chỉ nhặt sỏi, chăm chỉ nhổ cỏ, vun trồng chuẩn bị tốt cho mảnh đất của đời mình để sẵn sàng đón nhận hạt giống được gieo trong mùa màng hồng ân. Khi mùa gặt tới, mong rằng, mảnh đất đời tôi, đời bạn nuôi dưỡng giống, ít nhất cho những hạt sinh được ba mươi…
Quả thật, những người đó, và đôi khi có cả chúng ta, là những người có tai mà không nghe, có mắt mà không thấy. Lời Chúa đến với họ chẳng khác gì "đàn gảy tai trâu" hay như "nước đổ đầu vịt, lá khoai".
Hình ảnh người gieo giống nhắc nhở cho chúng ta những người có nhiệm vụ rao giảng về Màu Nhiệm Nước Trời rằng : trước thực tại cao siêu về Nước Trời, không phải tất cả các nỗ lực tông đồ của chúng ta đều được phát triển và đem lại kết quả mỹ mãn ; không phải mọi điều tốt đẹp chúng ta làm đều được đánh giá cao và được đền đáp như lòng mong muốn ; không phải mọi ý định tốt đẹp của chúng ta đều được thừa nhận.
Cũng như người gieo giống chấp nhận mọi rủi ro, chấp nhận mọi thất bại sau khi đã nỗ lực. Người tông đồ khi rao giảng về Màu Nhiệm Nước Trời cũng phải chấp nhận những bấp bênh và những thất bại đến ngoài dự tính.
Kiên tâm, tín thác và cậy trông vào Chúa. Không bao giờ được thất vọng hay bỏ cuộc khi gặp khó khăn. Không bao giờ nhìn người khác, nhìn chính mình và nhìn các sự kiện cách bế tắc. Hạt giống Lời Chúa có khi chẳng thu lại kết quả bao nhiêu, nhưng người gieo giống vẫn tràn đầy niềm hy vọng vào một ngày mai. Hạt giống Lời Chúa hôm nay có khi đang còn ẩn mình, chịu sự mục nát hư hoại nhưng ngày mai sẽ mang về một mùa lúa bội thu. Tin tưởng và hy vọng vào điều ấy, người gieo giống mạnh mẽ cất bước lên đường theo gót chân của vị Thầy Giêsu.
September 27, 2023