Suy Niệm của Huệ Minh

Chúa nhật 25 thường niên, năm A

 

 

Chúa Nhật thứ Hai 25 Mùa Quanh Năm, năm A-2023

Is 55:6-9; Tv 145:2-3,8-9,17-18; Pl 1:20-24,27; Mt 20:1-16

Sự công bằng của Chúa

          Qua tiên tri Isaia, Thiên Chúa đã khẳng định: tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi và đường nẻo của Ta cũng không phải là đường nẻo của các ngươi. Với dụ ngôn những người thợ giờ thứ mười một, Chúa Giêsu đã cho chúng ta thấy sự khác biệt giữa đường lối và cách cư xử của Chúa.

          Thật vậy, một người chủ thuê thợ vào làm trong vườn nho của mình. Những người thợ này được thuê vào những giờ giấc khác nhau. Những người được thuê vào sáng sớm với giá thoả thuận là một quan tiền một ngày. Những người thợ khác thì được thuê vào giờ thứ ba, giờ thứ sáu và giờ thứ chín. Nhưng cũng có những người được thuê vào giờ thứ mười một, nghĩa là vào một thời điểm rất muộn. Tuy được thuê vào các giờ khác nhau, nhưng họ lại kết thúc công việc trong cùng một lúc.

          Như thế, số giờ làm việc có khác nhau, nhưng số tiền mọi người lãnh được lại bằng nhau, kẻ đến sớm cũng như người tới muộn, mỗi người đều nhận được một quan tiền, theo sự thoả thuận giữa ông chủ và những người thợ được thuê sớm nhất. Cách đối xử của ông chủ đã làm cho những người đến muộn vui mừng, nhưng lại tạo nên sự bất mãn nơi những kẻ được thuê từ sáng sớm. Bất mãn vì không được hơn người tới muộn, mà cũng có thể là bất mãn vì người tới muộn cũng được lãnh như mình. Và ông chủ đã trả lời cho những kẻ bất mãn về lý do hành động của ông như sau: Há tôi lại không được phép làm như tôi muốn hay sao?

          Những ám chỉ của dụ ngôn thật rõ ràng: Ông chủ tượng trưng cho Thiên Chúa. Những người thợ được thuê từ sớm là những người Do Thái. Còn những người thợ giờ thứ mười một là tất cả các dân tộc khác, được gọi là dân ngoại. Dụ ngôn là câu trả lời của Chúa Giêsu cho những người biệt phái và Do Thái, từng kêu trách về sự ưu đãi của Chúa đối với những người họ gọi là dân ngoại. Đồng thời qua đó Chúa Giêsu còn cho chúng ta thấy rõ lòng nhân từ của Thiên Chúa thì vượt lên trên tất cả những loại trả công của nhân loại. Tuy nhiên, không phải vì thế mà hành động của Ngài lại mang tính cách tuỳ tiện và bất chấp sự công bằng. Đối với Nước Trời, không có vấn đề buôn bán hay trả giá, mà hoàn toàn chỉ vì lòng nhân từ và thương xót của Chúa.

          Chúa Giêsu có thói quen dùng những sự kiện cụ thể xuất phát từ đời sống để xây dựng những câu chuyện có tính cách giáo huấn: Nào là mùa nho tới cần phải hái mau. Nào là những người thất nghiệp không có công ăn việc làm. Nào là số tiền lương một đồng tươi xứng với mức sống tối thiểu. Từ đó, Chúa Giêsu đã kể lại câu chuyện dụ ngôn ngày hôm nay, và qua câu chuyện này Ngài muốn làm cho chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa không phải là một ông chủ theo kiểu các ông chủ trên trái đất này. Họ có bổn phận giữ sự công bằng với thợ thuyền. Còn Thiên Chúa, Ngài không có một bổn phận như thế đối với loài người vì Ngài đứng ở bên kia sự công bằng của loài người, một sự công bằng được giới hạn bởi những gì chúng ta mắc nợ.

          Sức cố gắng suốt một ngày làm việc sẽ có một số tiền công tương xứng của một ngày và không có gì hơn. Đồng thời với sức cố gắng của một giờ, lẽ công bằng của loài người sẽ trả số tiền công tương xứng với một giờ, và cũng không có gì hơn. Nhưng đi xa hơn lẽ công bằng còn có lòng nhân từ. Và lòng nhân từ thì không có giới hạn nào hơn là khả năng ban phát.

          Thiên Chúa là Đấng nhân từ vô cùng, Ngài có khả năng vô biên. Lòng nhân từ thì đi xa hơn lẽ công bằng. Và lòng nhân từ của Chúa còn đi xa hơn điều mà loài người đáng được hưởng vô cùng. Thiên Chúa cần tới các tay thợ để hái quả trong vườn nho của Ngài. Một sự công bằng tối thiểu được bảo đảm nếu họ quyết tâm ở lại trên bình diện ấy. Nhưng Thiên Chúa còn biếu thêm nữa nếu họ có tấm lòng rộng lớn.

          Dụ ngôn này nhắc cho chúng ta tránh đi cách suy nghĩ về Thiên Chúa theo cách thức của loài người, nhất là trong thời buổi hiện nay, một thời buổi đang cố gắng kéo Phúc Âm xuống ngang hàng với những tư tưởng của loài người. Sứ điệp của Tin Mừng là tình yêu, là lòng nhân từ, và khía cạnh chính yếu của nó là sự tự do. Trong khi đó sự công bằng thì bị ràng buộc bởi bổn phận và những gì chúng ta mắc nợ người khác.

          Thực vậy, tình yêu và lòng nhân từ thì không bị ràng buộc bởi kết ước. Điều chính yếu đó là ban phát mà không cần đáp trả, một sự ban phát hoàn toàn có tính cách nhưng không. Chỉ cần chúng ta biết đón nhận mà thôi. Hơn nữa, sứ điệp của Phúc Âm đã làm xáo trộn cách thức suy nghĩ cũng như nếp sống của con người. Dụ ngôn trước hết làm cho bọn biệt phái sửng sốt vì nó đặt người ngoại giáo, những kẻ đến sau, ngang hàng với con cái Israel trong Nước Trời. Đồng thời dụ ngôn cũng làm cho chính chúng ta phải ngạc nhiên, bởi vì chính chúng ta cũng có khuynh hướng tự ban phát cho mình công nghiệp, quyền lợi, và nhiều đòi hỏi. Hãy khiêm tốn đặt mình dưới sự cai quản duy nhất của lòng nhân từ Chúa. Xin Chúa ban cho chúng ta cũng như cho những anh em ngoại giáo, không phải những gì tương xứng với sự công bằng, mà còn những gì do lòng nhân từ của Chúa gợi ra.

          Ước gì qua Lời Chúa hôm nay xin cho mỗi người chúng ta biết sống theo Lời Chúa dạy: Đừng ghen tị để ăn ở cho xứng với Tin Mừng của Đức Kitô. Đó là “Hãy vui với người vui, khóc với người khóc. Hãy đồng tâm nhất trí với nhau, đừng tự cao tự đại, nhưng ham thích những gì hèn mọn. Anh em đừng cho mình là khôn ngoan, đừng lấy ác báo ác, hãy chú tâm vào những điều mọi người cho là tốt. Hãy làm tất cả những gì anh em có thể làm được, để sống hoà thuận với mọi người” (Rm 12,14-18). by Huệ Minh 2023

25.9.2023
Thứ Hai trong tuần thứ Hai Mươi-Năm Mùa Quanh Năm

Er 1:1-6; Tv 126:1-2,2-3,4-5,6; Lc 8:16-18

Ngọn Ðèn Ðức Tin

          Trong Tin Mừng hôm nay, khi đưa ra hình ảnh chiếc đèn, Chúa Giêsu muốn nối lại truyền thống thực tiễn của Cựu Ước. Cựu Ước không thích những lý luận trừu tượng, uyên bác của Hy Lạp. Khi tuyên xưng Thiên Chúa là Ðấng chân thật, Cựu Ước không lý giải về những phẩm tính trừu tượng của Ngài, nhưng tìm cách đo lường sự trung thành của Ngài trong lịch sử nhân loại. Khi tuyên xưng Thiên Chúa là Ðấng chân thật, Cựu Ước luôn nói đến những can thiệp của Thiên Chúa trong lịch sử con người. Khi Thiên Chúa phán một lời, lời đó không phải là một lời nói suông, mà trở thành thực tế; Thiên Chúa không chỉ nói qua các tiên tri, nhưng cuối cùng Lời của Ngài đã thành xác phàm.

          Chiếc đèn được đốt lên phải đặt trên cao để soi cho mọi người trong nhà. Ðây là hình ảnh cuộc sống đức tin của người Kitô hữu: cũng như chiếc đèn, đức tin cần phải được thắp lên và chiếu sáng; nó phải được đốt lên bằng những hành động cụ thể hằng ngày. Thiên Chúa là Ðấng chân thật, bởi vì sự chân thật ấy được thể hiện bằng một chuỗi những yêu thương đối với con người. Người Kitô hữu chỉ thực sự là Kitô hữu khi cuộc sống của họ thể hiện chính cuộc sống của Chúa, là yêu thương và phục vụ.

          Chủ đề ánh sáng được lồng trong tất cả mặc khải Thánh Kính. Ngay từ tạo thiên lập địa, Thiên Chúa đã dựng nên ánh sáng và chính Ngài là ánh sáng. Đức Kitô còn khẳng định: “Ta là ánh sáng thế gian” (Ga 9,5) và Ngài yêu cầu người tín hữu hãy trở thánh ánh sáng cho trần gian (x Mt 5,14).  Ngài muốn ánh sáng nơi chúng ta hãy chiếu tỏ ra, xoá tan mọi bóng đêm của trần gian này.

          Tin Mừng của Thánh sử Luca hôm nay vỏn vẹn chỉ gồm 3 câu trong chương 8, nhưng đã nói lên ý nghĩa của cách thức lãnh nhận và truyền giảng Lời Chúa Giêsu. Đó là nhiệm vụ của người môn đệ theo Chúa Kitô và thực hành bằng việc sống lời Thầy của mình trong cuộc sống hàng ngày.

          “Chẳng ai đốt đèn rồi lấy hũ che đi hoặc đăt dưới gầm giường, nhưng đặt trên đế, để những ai đi vào thì nhìn thấy ánh sáng” (c.16). Khi đọc câu này, hẳn chúng ta đều biết đây là điều không thể xảy ra. Chúng ta thường thấp đèn vì muốn thấy sự vật chung quanh, vì quanh chúng ta toàn là một màu đen, một bóng tối. Chúng ta thích ánh sáng vì ánh sáng giúp ta nhìn thấy những vật khác rõ hơn, chính xác hơn.  Thế nhưng ở đây Chúa Giêsu lại nói : thấp đèn rồi lấy hũ che đi hay đặt dưới gầm giường, ý nói: khi  chúng ta  được Lời Chúa soi dẫn (x. Tv 118). Chúng ta đã lấy hũ che đậy bằng cách không sống thể hiện Lời Chúa. Một người khôn ngoan là người biết đặt đèn trên đế, để những ai vào được nhìn thấy ánh sáng lúc này đời sống của họ để Lời Chúa hướng dẫn và họ trở thành ánh sáng cho người khác, cho những ai muốn đi tìm ánh sáng. Họ trở thành chứng nhân cho nguồn sáng vĩnh cửu.

          “Chẳng có gì bí ẩn mà lại không trở nên hiển hiện, chẳng có gì che giấu mà người ta lại không biết và không bị đưa ra ánh sáng” (c.17). Chúa Giêsu khẳng định về những hành vi được thực hiện trong bóng tối sẽ bị ánh sáng phơi bày. Khi ánh sáng đến, bóng tối sẽ lùi xa. Đây cũng được kể như việc Chúa Giêsu đến trần gian. Ngài đến xoá tan mọi ngõ ngách của bóng tối thanh tẩy trần gian bằng ánh sáng. Bóng tối đó là tội lỗi, là ma quỉ, là bệnh tật... đang đè nặng trên đời sống con người. Đức Kitô đến giải thoát họ như lời Ngài đã đọc trong hội đường Nagiarét khởi đầu cho sứ vụ rao giảng để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha, cho ngưòi mù biết họ được sáng mắt, trả tự do cho người bị áp bức”(x.Mt 4,18). Ngài đến rao giảng Lời Cha, và làm cho lời Cha được sống động cụ thể trong hành vi của Ngài, và cái chết là lời chứng hùng hồn nhất  cho bài giảng của Ngài về Tình Yêu Thiên Chúa đối với con người.

          Khi Chúa Giêsu rao giảng và làm chứng cho Lời Cha, Ngài muốn chúng ta cũng trở thành những người môn đệ của Ngài. Ngài cảnh báo về cách nghe và đón nhận Lời “ hãy để ý tới cách thức anh em nghe” (c.18a). Chúng ta có thể là những mảnh đất sỏi đá, hay vệ đường, hay là một bụi gai um tùm.... mà Lời Chúa không thể nào đâm chồi nẩy mầm được ( x .8,4-15).

          Lời Chúa như sương sa, như mưa rơi...nhưng lòng chúng ta lại đóng kín, khô cằn nên Lời Chúa vẫn chỉ ở bên ngoài, không thấm nhập vào tâm hồn chúng ta được. Ấy là cách chúng ta nghe mà không được biến đổi. Chúng ta không muốn Lời Chúa biến đổi tâm hồn mình. Kết quả của việc sinh hoa kết quả là do Lời Chúa được mỗi người đón nhận như thế nào. Cùng một loại hạt giống Lời Chúa nhưng mảnh đất tâm hồn của chúng ta được vun xới, cày bừa khác nhau, nên hiệu quả cũng rất khác nhau. “Ai đã có thì được cho thêm; còn ai không có, thì ngay cái họ tưởng là có, cũng bị lấy mất” (18b).

          Ở dây. Chúng ta có thể hiểu về đức tin truyền thống đã có nơi người Israel, đức tin này hướng về Đấng Mêsia- Chúa Giêsu, nhưng có người nghe theo Chúa Giêsu thì được cho thêm là sự hiểu biết về Nước Trời, còn những người khác không nghe, không hiểu...thì đức tin truyền thống của họ sẽ bị mai một dần và ngày càng yếu đi. Đây là lời thức tỉnh mạnh mẽ của Chúa Giêsu đối với những người cứng lòng tin. Đó cũng là hậu quả mà họ sẽ đón nhận, cân xứng với hành vi của họ.

          Gương sáng phải được phát xuất từ trong tâm, trong đức tin. Vì thế, gương sáng của con người phải được thực hiện trong đời sống nội tâm và việc làm cụ thể, nếu không sẽ giống như thắp đèn mà bịt kín (Lc 8, 17) sẽ nguy hại cho bản thân, vì gương sáng không có việc làm sẽ không có tác dụng, chỉ là lời nói suông không mang đến sự sống cho linh hồn. Gương sáng của chúng ta phải được thực hiện dưới sự hướng của Chúa Thánh Thần theo thánh ý Thiên Chúa, nếu không có Chúa Thánh Thần hướng dẫn thì việc làm của chúng ta trở nên vô nghĩa, cái tôi hèn hạ sẽ lộ ra, cuối cùng chỉ là những thất vọng, những chán trường và chẳng có gì, ngay cả cái mình tưởng là có cũng trở nên không, như khi trong giờ chết chẳng mang được gì.

          Chúa Giêsu đã nói rất rõ, hãy biết lắng nghe tiếng Chúa nói trong lương tâm của mỗi con người, tùy thuộc vào cách nhận biết Chúa Thánh Thần, Chúa nói: “Vậy hãy để ý tới cách thức anh em nghe. Vì ai đã có, thì được cho thêm; còn ai không có, thì ngay cái họ tưởng là có, cũng sẽ bị lấy mất.” Khi sống gương sáng thì ngay ở đời này tâm hồn cũng luôn bình an, cuộc sống luôn thanh thản, đời sống luôn đầy đủ cả tinh thần và vật chất, sau khi kết thúc cuộc đời dương thế thì sẽ được sự sống đời đời.

BỆNH GATO

            Đọc câu chuyện Tin Mừng hôm nay tôi cứ cười tủm tỉm. Câu chuyện Tin Mừng ngày hôm nay trong đó có thấp thoáng bóng hình của tôi, tâm trạng hay có thể nói là bệnh của tôi. Bóng hình, tâm trạng, bệnh mà tôi đang mang trong mình đó là căn bệnh GATO.

            Câu chuyện Tin Mừng khá hấp dẫn. Câu chuyện kể về chủ vườn nho thuê thợ vào làm vườn nho của mình. Ông không quan tâm sức khỏe, bằng cấp, trình độ, khả năng ... và đặc biệt cũng chả quan tâm đến giờ giấc. Ông cứ thấy ai không có việc làm là ông đưa vào làm vườn nho nhà mình.

            Có thể nói rằng ông chủ này hơi bị sang. Sang tất tần tật như đã nói. Vào làm vườn thì phải cân nhắc sức khỏe, khả năng, trình độ ... và cũng cần thời gian đủ và đúng thì mới trả lương.

            Trộm nghĩ mập mập như tôi mà đi vào làm vườn nho chắc chỉ làm choáng chỗ của những người khác đó thôi.

            Ngày ở đệ tử, ra phụ tà lọt mua cái này cái kia cho thợ. Bà kia nói : “Thầy Thầy ! Con nói Thầy nghe nha ! Như Thầy làm mau lắm đó !”.

            Ngạc nhiên hỏi Bà : “Sao bà nói con làm mau ! Con có biết trộn hồ bưng bê gì đâu mà Bà nói”.

            Nghe xong Bà nói : “Con nói Thầy làm mau là mau mệt đó ! Cái tướng này mà phụ hồ cái gì ? Tướng này làm chút là mệt đó thôi”.

            Nghe xong thấy Bà này có lý và Bà nói đúng ! Cỡ như mình làm thì mau thật mà là mau mệt.

            Quả thế, nếu đi vào làm vườn nho chắc cùng lắm hái nho thôi chứ có làm được việc gì nặng đâu mà làm.

            Và câu chuyện ông chủ vườn nho càng hấp dẫn vào lúc giờ thanh toán lương. Ông chủ gọi từng người đến để thanh toán. Trước hết là ông gọi mấy cái đứa mập béo và làm ít giờ như tôi vào để thanh toán. Sau đó ông gọi những người khỏe mạnh và làm từ đầu giờ đến thanh toán. Lạ thay là đứa đầu giờ cũng như đứa mới vào làm vào giờ thứ 11 đều nhận được lương bằng nhau.

            Kịch tính của câu chuyện nổi lên khi những người làm đầu giờ phàn nàn với chủ về cách trả lương của chủ.

            Ừ thì cứ phàn nàn ! Thích thì cứ phàn nàn ! Ai nào cấm phàn nàn !

            Nghe phàn nàn xong, chủ vui vẻ nói : Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là một quan tiền sao ? Cầm lấy phần của bạn mà đi đi. Còn tôi, tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tuỳ ý định đoạt về những gì là của tôi sao ? Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức ?

            Nghe xong thấy ngượng ngượng làm sao đó vì lẽ ông chủ đâu có xử bất công với ai đâu ? Ông chủ có quyền là có tiền mà ta.

            Câu chuyện Tin Mừng ngày hôm nay thật thú vị. Câu chuyện cho ta nhìn lại cung cách sống, lối nghĩ của mỗi chúng ta.

            Phần tôi, tôi thấy ngượng vì lẽ Chúa công bằng và có khi còn đại lượng đối với tôi nhưng tôi không nhận ra điều đó mà đôi khi tôi càm ràm với Chúa nữa.

            Thật thế, trong đời sống đạo của người Kitô hữu, chúng ta dễ rơi vào thái độ càm ràm với Chúa. Có khi chúng ta nói với Chúa nào là : Chúa ơi!  Chúa thấy không ? Con ăn chay hàng tuần vào thứ Sáu, con dự Lễ mỗi ngày, con dự Lễ Chúa Nhật, con tham gia ca đoàn, con tham gia hội đoàn, con hy sinh, con đóng góp rất nhiều, con lần chuỗi Mân Côi, con đi bác ái ... sao Chúa lại để con như thế này Chúa ơi !

            Tâm trạng của chúng ta thường là thế với Chúa khi ta gặp khó khăn hay thử thách trong cuộc đời. Thế nhưng rồi chúng ta có bao giờ nghĩ rằng Chúa công bằng và thậm chí rộng lượng rất nhiều với chúng ta hay không hay chúng ta chỉ dừng lại ở góc độ than vãn hay GATO như những người thợ vào làm từ đầu giờ cho vườn nho.

            Căn bệnh GATO này ta rất dễ nhiễm vì lẽ ta không bằng lòng với những gì ta có cũng như ta hay ganh tỵ với người khác. Nhìn lại đi ! Nhìn lại cuộc đời và cung cách sống của mình đi rồi hẳn GATO. Chúa thương ta và Chúa ban cho ta quá nhiều ơn nhưng có lẽ do cuộc sống ồn ào và náo nhiệt để rồi ta cứ mãi đi GATO với người khác

            Cái căn bệnh GHEN ĂN TỨC Ở (GATO) nó ẩn trong đáy lòng chúng ta. Nó làm cho chúng ta mệt mỏi và khó chịu khi chúng ta nhìn thấy người khác sướng hơn chúng ta, chúng ta nhìn thấy người khác hạnh phúc hơn chúng ta. Chúng ta hãy dừng lại và hãy nhìn xuống để chúng ta thấy chúng ta may mắn và hạnh phúc hơn nhiều người lắm.

            Cứ thử ngồi tính toán đi ! Ta có làm gì cho vườn nho đâu mà chủ (Chúa) vẫn trả công cho chúng ta rất công bằng và có khi còn rộng lượng.

            Chúng ta cần lắng đọng và nhìn lại chính bản thân mình để chúng ta cân nhắc và cân chỉnh đời sống cùa chúng ta. Đừng ghen ăn tức ở nữa mà hãy bằng lòng với những gì mình có cũng như hãy bao dung với anh chị em chúng ta như Chúa bao dung chúng ta.

            Chúa bao dung với chúng ta. Chúng ta đừng bung dao với anh chị em chúng ta.

            Kinh nghiệm thực tế cho thấy lý thuyết rất dễ nói và rất dễ viết như người viết đây. Chỉ với vài ba ngón (chứ không chuyên nghiệp 10 ngón như nhân viên văn phòng) có thể gõ một bài viết trong vài chục phút nhưng để sống không phải là chuyện đơn giản.

            Trước khi đi dâng Lễ, Cha Bác vọng vào nói : Chúa ơi ! Con khổ, con phải đi mưa đi gió chứ không phải như cái ông mập kia ở nhà ! Con đi cũng được 1 đồng, ông mập kia cũng được 1 đồng ! Chúa ơi ! Con buồn Chúa quá !

            Thật ra là vui ! Anh em sống chung với nhau và vẫn đùa vui với nhau những câu chuyện như thế để nhắc nhớ nhau sống Tin Mừng Tình Yêu mà Chúa dạy.

            Bớt GATO mà hãy yêu thương và quảng đại như Chúa yêu thương và quảng đại với chúng ta.

Huệ Minh

 

27.9.2023 Thứ Năm 25 TN
Thánh Vincentê de Phaolô, Lm

Er 9:5-9; Tb 13:2,3-4,6,7-8,6; Lc 9:1-6

Huấn Lệnh Truyền Giáo

          Cảnh một người hầu hấp hối xưng tội trên giường bệnh như đã mở mắt Vinh-sơn để nhìn thấy nhu cầu tâm linh của vùng quê nước Pháp thời bấy giờ. Ðó là giây phút quan trọng trong cuộc đời của một người xuất thân từ nông trại nhỏ ở Gascony, nước Pháp, mà bấy giờ, việc đi tu làm linh mục không có gì lớn lao hơn là có được một cuộc sống tiện nghi.

          Chính nữ Bá Tước de Gondi (có người đầy tớ được Vinh-sơn giúp đỡ) đã thúc giục chồng bà cung cấp tiền bạc và hỗ trợ một nhóm truyền giáo có khả năng và hăng say muốn hoạt động cho người nghèo, người hầu và tá điền. Lúc đầu Cha Vinh-sơn quá khiêm tốn nên không nhận làm người lãnh đạo cho nhóm này, nhưng sau một thời gian hoạt động cho các tù nhân khổ sai ở Balê, ngài trở nên nhà lãnh đạo thực sự của tổ chức mà bây giờ được gọi là Hội Thừa Sai, hay tu sĩ Dòng Thánh Vinh-sơn. Các linh mục này, với lời thề khó nghèo, khiết tịnh, vâng phục và bền vững, tận tụy làm việc cho dân chúng ở các thành phố nhỏ hay làng mạc.

          Sau này Cha Vinh-sơn tổ chức các nhóm bác ái để trợ giúp tinh thần cũng như thể chất của những người nghèo trong mỗi xứ đạo. Từ sinh hoạt này, với sự trợ giúp của Thánh Louis de Marillac, xuất phát tổ chức Nữ Tử Bác Ái, "mà tu viện là bệnh xá, nhà nguyện là nhà thờ của giáo xứ và khuôn viên là đường phố." Ngài huy động các bà giầu có ở Balê để quyên góp tài chánh cho chương trình truyền giáo, xây bệnh viện, giúp đỡ nạn nhân chiến tranh và chuộc lại khoảng 1,200 người nô lệ da đen. Ngài hăng hái tổ chức tĩnh tâm cho giới tu sĩ khi sự sao nhãng, lộng hành và ngu dốt lan tràn trong giới này. Ngài là người tiên phong trong việc huấn luyện tu sĩ và thúc đẩy sự thiết lập các chủng viện.

          Ðáng để ý nhất, Vinh-sơn là một người hay cáu kỉnh -- ngay cả bạn hữu của ngài cũng công nhận điều ấy. Ngài cho biết, nếu không có ơn Chúa ngài sẽ "rất khó khăn và lạnh lùng, cộc cằn và gắt gỏng." Nhưng ngài trở nên một người dịu dàng và dễ mến, rất nhạy cảm trước nhu cầu của người khác.

          Ðức Giáo Hoàng Leo XIII đã đặt ngài làm quan thầy của mọi tổ chức bác ái. Nổi bật nhất trong các tổ chức này, dĩ nhiên, là Dòng Thánh Vinh-sơn, được thành lập năm 1833 bởi Chân Phước Frederic Ozanam, là người rất ái mộ Thánh Vinh-sơn.

          Loan báo Tin mừng Nước trời là sứ mệnh hàng đầu của Chúa Giêsu và của cả Giáo hội, Ngài đã đến trần gian và ở lại 33 năm là để thi hành sứ mệnh này. Kế tiếp Ngài, các người được Ngài mời gọi, đi theo, ở với và rồi được sai đi cũng mang trọng trách ấy cho đến “khi Chúa đến”.

          Trước tiên, loan báo Tin mừng hệ tại việc “đi”: đi vào giữa lòng đời và đi ra vùng ngoại biên. Loan báo còn là làm chứng, thực hiện những dấu chỉ, trong đó có dấu chỉ chữa trị những vết thương tinh thần và cả thể lý của những kẻ môn đệ Chúa Kitô được sai đến. Lời loan báo, giới thiệu Tin mừng được đón nhận dễ dàng hơn khi có các dấu chỉ yêu thương, hy sinh, quảng đại... kèm theo. Điều này đòi hỏi các môn đệ phải nỗ lực thích nghi, sáng kiến trong sứ vụ. Nói cách khác, để chu toàn sứ mệnh, người môn đệ không thể ở yên một chỗ, nhưng phải di chuyển và đưa ra những kế hoạch cụ thể, thích hợp

          Chúa Giêsu sai mười hai Tông đồ đi rao giảng Tin mừng để các ông được tham gia vào sứ mạng của Ngài. Đức Giêsu đã ban cho các ông năng lực làm phép lạ, chữa bệnh và quyền phép để xua trừ ma quỉ. Ngài cũng căn dặn các ông nhiều điều trước khi lên đường.

          Lời căn dặn của Chúa Giêsu phải chăng muốn nói: khi rao giảng phải bỏ hết những đồ dùng, kể cả lương thực ? Thưa không, Ngài chỉ muốn nhấn mạnh rằng, với sứ mệnh loan báo Tin mừng, đừng để vật chất, danh vọng, tình cảm làm chủ mình. Nhưng, phải cậy dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa và của Tin mừng thôi.

           Ðược Chúa Giêsu tuyển chọn và sống với Chúa, các Tông đồ cũng đã nghe Chúa giảng dạy và chứng kiến những phép lạ Ngài làm. Trong bài Tin Mừng hôm nay, tác giả Luca thuật lại biến cố Chúa Giêsu sai các ông đi rao giảng Tin Mừng, Ngài nhắc nhở các ông phải sống khó nghèo và hoàn toàn tin tưởng vào Chúa quan phòng.

          So với lần Chúa sai các môn đệ thì lần này có điểm khác biệt là thay vì được sai đi từng hai người, các Tông đồ được sai đi từng người một và được ban cho sức mạnh và quyền năng để trừ ma quỉ và chữa lành bệnh tật.

          Tuy nhiên, các ông cũng chỉ được sai đi trước để loan báo Ngài sắp đến. Huấn lệnh cho các Tông đồ trước khi lên đường có thể gồm 3 phần: Thứ nhất, trên đường đi các ông không được mang theo gì cả, mặc dù sứ vụ của các ông kéo dài một thời gian, chứ không phải chỉ có một vài ngày; điều đó có nghĩa là các ông phải hoàn toàn từ bỏ chính mình và chỉ tin vào sức mạnh của Lời Chúa. Thứ hai: khi tới nhà nào thì phải kiên trì, không được lùi bước; nói khác đi, các ông phải tin vào sứ mệnh của mình, tin vào sự quan phòng và chờ đợi thời giờ của Chúa. Thứ ba: các ông phải có can đảm trước sự cứng đầu của những kẻ chống đối các ông.

          Mỗi thời đại có những cám dỗ riêng. Ma quỷ đã cám dỗ Chúa Giêsu từ bỏ sứ mệnh cứu thế, cũng như cám dỗ Ngài làm những việc lạ lùng, như hóa đá thành bánh, gieo mình xuống từ nóc Ðền thờ để mọi người thấy và tin. Ngày nay, không thiếu những người chỉ muốn dùng tiền bạc để giảng dạy hoặc dùng quyền bính để làm cho người khác kinh sợ. Một cám dỗ khác mà người Tông đồ thời nay thường mắc phải, đó là sự thiếu kiên nhẫn, chờ đợi thời giờ của Chúa. Họ dễ thoái lui rời bỏ nhiệm sở, thay đổi công việc. Cũng có những người Tông đồ không dám nói rõ những sai lầm của người khác cũng như những gì trái ngược với giá trị Tin Mừng. Thái độ chung của con người thời nay là ích kỷ và hưởng thụ, số người sẵn sàng để Chúa sai đi thật hiếm hoi, số các tệ nạn do sự sai lầm thiêng liêng ngày càng gia tăng, trong khi đó cái tôi tự do được thổi phồng.

          Thật ra, các tông đồ là các sứ giả được sai đi loan báo sứ điệp tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa đối với dân Người; bởi thế, Chúa muốn các ông phải là những người trước hết kinh nghiệm về sự quan phòng của Chúa và phải là những người sống tinh thần phó thác tuyệt đối vào Chúa. Có như vậy, lời rao giảng của các ông mới có giá trị.

 

28.9.2023 Thứ Năm trong tuần thứ Hai Mươi-Năm Mùa Quanh Năm

Kg 1:1-8; Tv 149:1-2,3-4,5-6,9; Lc 9:7-9

Dấu Hỏi Cho Người Khác

          Đọc lại khi khởi đầu sứ vụ của Chúa Giêsu, khởi sự bằng việc Chúa nhận phép rửa Gioan trên sông Giođan. Gioan Tẩy Giả khi thấy Chúa đang tiến về phía mình, Gioan đã giới thiệu với dân chúng biết về Chúa Giêsu: “đây chiên Thiên Chúa đây Đấng xóa tội trần gian” (x Ga 1, 29). Lời giới thiệu của Gioan đã khẳng định sứ vụ và ơn cứu độ của Chúa sắp được tỏ hiện giữa trần gian.

          Trong bài Tin Mừng hôm nay, khi tiểu vương Hê-rô-đê nghe nhiều người bàn tán về Chúa Giê-su, một người nổi tiếng làm những việc lạ lùng, có kẻ nói: “Đó là một ngôn sứ thời xưa sống lại”, còn tiểu vương khẳng định: “Ông Gioan, chính ta đã chém đầu rồi! Vậy thì ông này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế”. Tiểu vương không sao ngờ, việc Chúa Giêsu đi rao giảng Tin Mừng lại có đông dân chúng đi theo như thế, một thường dân không giàu có, chỉ xuất phát từ lòng thương xót mà Chúa làm nhiều dấu lạ: Người đã chữa bệnh tật như một lương y tài giỏi:“Dân chúng từ khắp miền Giu-đê, Giê-su-sa-lem, duyên hải Tia và Xi-đôn đến để nghe Người giảng và để được chữa lành bệnh tật” Lc 6,17. Và theo thánh sử Mác cô ghi nhận :”Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả: ông làm cho kẻ điếc nghe được, và kẻ câm nói được” Mc 7,37. Không những thế, lời giảng dạy và giáo lý của Người thật cao thượng, khác lạ nhưng đậm nét nhân văn: “ Hãy yêu kẻ thù,…… và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em” Lc 6, 27 hay : “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” Mc 9,36.

          Khi biết những điều ấy, tiểu vương sửng sốt và rất muốn được gặp mặt Chúa để giải tỏa nỗi thắc mắc và cũng muốn biết Người đã thu phục dân chúng như thế nào? Chúng ta có nhận ra Hê-rô-đê là người ngoại giáo mà còn kinh ngạc và mong muốn tìm cách gặp Chúa, còn chúng ta thì sao? Sự viêc này  nhắc nhở chúng ta điều gì? Anh chị em có khao khát tìm kiếm Chúa Giê-su, mỗi ngày trong lời cầu nguyện, đọc Lời Chúa, suy ngẫm về Ngài hay chưa? Chúng ta có yêu mến Ngài như Ngài đã yêu thương, bài học cho chúng ta là hãy nhìn lại sinh hoạt hàng ngày của chính mỗi người về các hành động đã làm với người thân và tha nhân. Tình huống xảy ra trong buổi phân chia hàng thực phẩm cứu trợ, dù đã được nhận đủ phần của mình, nhưng vẫn có người cố ý lấy thêm phần của người khác. Thánh Catarina  Gênes chia sẻ: “Muốn biết ai có lòng kính mến Chúa bao nhiêu, hãy xem kẻ ấy yêu thương người ta ngần nào”.  Những điều chúng ta đã làm có xuất phát từ lòng yêu thương và mong muốn sự tốt đẹp cho mọi người không?

          Tin mừng hôm nay ghi lại phản ứng của vua Hêrôđê khi nghe người ta đồn đoán về Đức Giêsu. Có người cho rằng: Đức Giêsu là ông Gioan sống lại. Kẻ khác thì lại nói: Ông Êlia, hay một vị ngôn sứ nào đó đã xuất hiện. Còn vua Hêrôđê thì không hề tin rằng Đức Giêsu là ông Gioan Tẩy Giả. Nhưng trước những lời đồn đoán về Đức Giêsu, ông cũng phải phân vân và tự hỏi: “Ông Gioan, chính ta đã chém đầu rồi! Vậy thì ông này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế?

 Thật vậy, từ khi bắt đầu khai giảng nước Trời, danh tiếng của Đức Giêsu đã loan đi khắp cả vùng. Tất cả những lời dạy, việc làm, và nhất là cuộc sống của Ngài, đã không ngừng là một dấu hỏi cho người đương thời. Những lời rao giảng và những việc Ngài làm ngày càng lan rộng, điều đó hẳn đã đến tai của vua Hêrôđê. Ông phân vân, bối rối trước những điều mình nghe thấy nên mới tự hỏi: Ông này là ai vậy?

          Hiển nhiên, câu hỏi “Đức Giêsu là ai?”, đối với vua Hêrôđê, chắc chắn tác động mạnh đến tâm trí ông, bởi vì ông đã chém đầu ông Gioan và nay người ta lại nói “Đức Giêsu là ông Gioan từ cõi chết trỗi dậy.” Ông đã làm điều dữ và điều dữ tất yếu sẽ chi phối tâm trí ông. Nên ông đã rất phân vân.

          Qua sự việc mà vua Hêrôđê đang phải đối diện, chúng ta nhận ra điều tất yếu này: ông là một bằng chứng hết sức cụ thể cho chúng ta thấy, không ai có thể che dấu, hay xóa sạch được tội lỗi của mình bằng cách loại trừ, hay tiêu diệt những người đã lên án vì những việc xấu xa của mình đã làm; và dù người lên án đã bị loại trừ đi nữa, thì lương tâm là sự tố cáo từ trời cao vẫn không bao giờ câm nín đối với kẻ làm điều dữ.

          Trong tình trạng tâm trí phân vân ấy, ông muốn tìm gặp Đức Giêsu. Từ ý muốn ấy mà sau này, Thiên Chúa ban cho ông có cơ hội được gặp Ngài, nhưng trong một tình cảnh rất đặc biệt, là trong cuộc thương khó.

          Chắc rằng ông đã rất vui sướng khi gặp được Đức Giêsu, vì ước ao của ông đã được thỏa nguyện. Ông đã nghe nhiều về việc Ngài làm được những phép lạ lớn lao, nên ông ước mong được chứng kiến tận mắt một vài phép lạ. Nhưng vua Hêrôđê chẳng nhận được gì cả: Ngài đã không trả lời ông, cũng chẳng làm một phép lạ nào.  Như Ngôn sứ Giêrêmia đã nói: “Ai tìm kiếm Chúa hết lòng thì sẽ gặp được Ngài” (Gr 29,13), Vua Hêrôđê không nhận được gì từ Đức Giêsu, vì ông chỉ muốn nhìn thấy phép lạ; nên Ngài chẳng tỏ cho ông biết điều gì. Khi thấy Đức Giêsu không chịu làm, ông nhạo báng Ngài (x. Lc 23, 7-11).

          Như thế, nếu nhìn xuyên suốt cuộc đời của ông, chúng ta thấy rõ điều ông muốn tìm gặp Đức Giê-su: ông muốn thấy các phép lạ, chứ không phải là muốn tìm hiểu nguồn gốc của Đức Giê-su, không phải là ơn tha thứ, niềm vui, ý nghĩa cuộc đời, hay sự sống vĩnh cửu nơi Thiên Chúa.

          “Ông này là ai ?”, vua Hêrôđê đã tìm thấy câu trả lời và khiến ông hụt hẫng: Giêsu chỉ là một anh khờ dại, chỉ đáng bị khinh bỉ và chế giễu. Cuộc tìm kiếm với nhiều tò mò của ông vua Hêrôđê kết thúc. Ông chẳng bao giờ biết được Đức Giêsu thật sự là ai.

          Với vua Hêrôđê, Thiên Chúa đã đem đến cho ông hai cơ hội để ông sống theo sự thật, nhưng ông đã không đón nhận: cơ hội thứ nhất, qua lời tố cáo thẳng thắn của ông Gioan, ông đã không nghe và còn cho chém đầu ông Gioan; cơ hội thứ hai, ông muốn tìm cách gặp Chúa Giêsu, và Thiên Chúa ban cho ông có cơ hội ấy trong Cuộc Thương Khó. Nhưng ông cũng không nhận ra. Hai cơ hội để tìm ra sự thật qua đi, vua Hêrôđê vẫn chìm đắm trong sự mê muội của mình, chẳng bao giờ biết được Đức Giêsu thật sự là ai.

          “Đức Giêsu là ai?”, câu hỏi này đã được đặt ra cho vua Hêrôđê, cho những người đương thời với Đức Giêsu. Sau này, chính Đức Giêsu cũng hỏi các môn đệ của Ngài như vậy: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?” (Lc 9, 20).

Và hôm nay, câu hỏi mà Đức Giêsu hỏi các môn đệ năm xưa vẫn còn sống động trong lòng ta, vẫn còn đặt ra cho mỗi người chúng ta trong mọi lúc của cuộc sống. Chúng ta hãy để cho lòng mình sự “chất vấn” liên tục về câu hỏi quan trọng ấy. Và có lòng khát khao “tìm gặp” Ngài. Với lòng khát khao, yêu mến chân thành, khi đứng trước câu hỏi “Đức Giê-su là ai đối với tôi trong cuộc đời này?”, chúng ta dễ dàng tuyên xưng như thánh Phêrô xưa đã tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa.”

 

Chúa nhật XXV TN

Chúa Nhật Tuần XXV Mùa Thường Niên Năm A-2020

Mt 20, 1-16a

COI CHỪNG NHIỄM BỆNH GATO

Lòng gato ghen ăn tức ở đã xuất hiện từ khởi thuỷ loài người. Cain ghen tị với em trai là Aben chỉ vì lễ vật của Aben được Chúa thương chấp nhận, còn lễ vật của Cain bị khước từ. Lòng ghen tị đã xui khiến Cain giết em. Đavít là vị anh hùng tài hoa trẻ tuổi đã lập được chiến công oanh liệt, cứu nguy cho dân quân Ítraen bằng cách giao chiến một chọi một với tên Gôliát khổng lồ thuộc phe Philitinh, hạ gục y chỉ bằng một phát ná bắn đá và dùng chính thanh gươm của y mà chặt đầu y.

          Thế rồi quân Ítraen thừa thắng xông lên như nước vỡ bờ, tràn lên giết hại rất nhiều quân Philitinh thù nghịch. “Khi Đavít thắng trận trở về, phụ nữ từ hết mọi thành của Ítraen kéo ra, ca hát múa nhảy, đón vua Saun, với trống con, với tiếng reo mừng và tiếng não bạt. Họ ca hát rằng: “Vua Saun hạ được hàng ngàn, ông Đavít hàng vạn”. Thế là từ lúc ấy, lòng ghen tị sục sôi trong lòng vua Saun, khiến nhà vua phóng giáo vào Đavít đang khi Đavít gảy đàn cho vua nghe. May thay Đavít kịp né mình thoát chết trong gang tấc. Rồi sau đó, vua lùng sục   

Đức Giê-su rõ ràng dạy rằng Nước Trời không là tiền thù lao, nhưng là ân ban, Thiên Chúa hoàn toàn tự do định liệu, nhưng không là một kẻ chuyên quyền độc đoán; đây là một sự tự do được điều khiển bởi tình yêu. Lòng nhân ái của Thiên Chúa vượt quá sự công bằng giao hoán.

Dụ ngôn “những người thợ làm vườn nho vào giờ sau hết” rất nổi tiếng. Người ta thường phê bình dụ ngôn này, đưa ra những phán đoán chỉ trên bình diện con người theo sự công bằng xã hội và theo kinh tế. Về phương diện này, thái độ của vị Thầy chí thánh ít ra cũng rất kỳ lạ và khác thường. Một ông chủ xí nghiệp sẽ nói với bạn rằng theo gương ông chủ vườn nho chỉ có nước làm phá sản xí nghiệp. Một “công nhân” sẽ nói với bạn rằng không tôn trọng một tháng lương hợp lý căn cứ vào công việc thực tế được hoàn thành là việc không bình thường; và một ông chủ độc đoán như thế thật là bất xứng. Nhưng tất cả những lời giải thích này thì quá phiến diện chưa đạt đến sự thật.

Rõ ràng Đức Giêsu không đề cao sự bất công xã hội. Phải có một cách đọc khác trang Tin Mừng nổi tiếng này, xứng đáng là một Tin Mừng!

Như mọi dụ ngôn, du ngôn Chúa nhật này nhằm mục đích buộc chúng ta có lập trường. Đến phiên chúng ta phải chọn! Hoặc là bám vào những quan điểm đã có sẵn-mà đó nghiễm nhiên là quan điểm của những người thợ của giờ đầu tiên, hoặc là mở lòng ra học đi theo đường lối của Thiên Chúa, mà “tư tưởng và đường lối của Người không phải là tư tưởng và đường lối của chúng ta” (Is 55, 8). Một lối hành xử lạ thường đáng cho chúng ta lo ngại, nếu trong đức tin, chúng ta không biết động cơ nơi Thiên Chúa là lòng nhân ái chứ không phải là ý chí võ đoán: “Chẳng lẽ vì tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức?” Không phải để bóp nghẹt nơi chúng ta trực cảm bẩm sinh về lẽ công bình.

Vì chẳng phải nhờ nó mà trong lịch sử nhân loại đã có những bước tiến đầy ý nghĩa tới một thế giới công bình hơn đó sao? Đức công bình chẳng phải là một trong những thuộc tính của Thiên Chúa, như chúng ta nghe nhắc tới trong các câu cho thấy vị chủ vườn nho tôn trọng hợp đồng trả lương công nhật là một quan tiền đó sao? Thế nhưng trực cảm về công bình cũng có thể là một cạm bẫy nếu nó trở thành điểm qui chiếu duy nhất, khiến chúng ta cứ đem so sánh, ganh đua-liếc mắt ghen ghét-, đóng cửa lòng mình lại với tha nhân, thậm chí muốn khai trừ họ khỏi gia nghiệp Thiên Chúa hứa ban, Đấng “cao cả hơn lòng chúng ta.

Dụ ngôn những người làm thuê được mướn làm việc trong vườn nho qua những giờ khác nhau, tất cả lãnh lương giống như nhau là một đồng bạc, đã gây nên một khó khăn cho những người đọc Tin Mừng. Chúa nói với những người làm công : “Các ngươi cũng hãy đi làm vườn nho ta, ta sẽ trả công cho các ngươi xứng đáng” (Mt 20, 4). Có người hỏi : Xứng đáng ở đây là xứng với cái gì ? Khi có hai cái bằng nhau, hoặc cái này xứng với cái kia được coi là xứng đáng. Vậy đâu là tiêu chuẩn để Chúa Giêsu trả công xứng đáng? Nhiều người không khỏi ngạc nhiên, nhất là những người đến làm việc trước hết vì tiêu chuẩn trả công của ông chủ. Cách hành xử của ông chủ có chấp nhận được không? Không xúc phạm đến nguyên tắc đền bù xứng đáng sao ?

Khó khăn phát xuất từ một sự sai lầm. Vấn đề đền bù được qui chiếu về sự đời đời, Thiên Chúa “sẽ thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm” (Rm 2, 6). Thiên Chúa nhân lành, Ngài có cách tính không giống chúng ta : “Tư tưởng Ta không phải là tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta” (Is 55, 8). Thiên Chúa ban cho con người cái mà Ngài cho là tốt nhất. Tiêu chuẩn của Ngài là tấm lòng, tiêu chuẩn của chúng ta thường là lý trí, và dĩ nhiên không luôn luôn đúng.

Trong dụ ngôn, mức lương được trả là một đồng. Đây là đồng đracmơ; hay đồng đờ-nhê, là thuế mà mỗi Người Do Thái phải nộp vào Đền Thờ Giêrusalem mỗi năm cho việc bảo trì, hoặc đồng “xtate” tiền cổ Hy-lạp là đồng được thánh Phêrô dùng để nộp thuế Đền thờ, phần của ngài và của Chúa Giêsu. Mỗi người nhận được một đồng, có ý nói đến mức lương của một ngày làm việc, một cái gì đó để sống trong ngày như bánh mì chẳng hạn.

Để nhận ra “điểm chính” trong dụ ngôn, chúng ta phải để ý đến qui chiếu của Chúa Giêsu ở đây về một tình huống cụ thể. Đồng bạc duy nhất được trả cho tất cả là nước Chúa, Chúa Giêsu đã mang xuống thế vì yêu thương thế gian. Dụ ngôn bắt đầu : “Nước Trời giống như chủ nhà kia sáng sớm ra thuê người làm

Những người thợ được thuê làm vườn nho vào những giờ khác nhau, đó là hình ảnh những người được mời vào Giáo hội qua Bí Tích Rửa Tội vào những tuổi đời khác nhau. Sống trong Giáo hội, mọi người đều là con cái của Chúa, không phân biệt giàu nghèo sang hèn. Ai cũng được Thiên Chúa yêu thương. Đã là yêu thương thì không còn đứng trong ranh giới công bình.Thiên Chúa thưởng công cho ai là tùy lòng tốt của Ngài. Cùng nhau làm việc Tông Đồ Truyền Giáo là bổn phận mỗi người Kitô hữu. Phần thưởng là do lòng tốt Chúa ban. Như thế chúng ta sẽ xây dựng được Nước Trời giữa trần gian.

Huệ Minh 2020

 

Thứ Hai Tuần XXV Mùa Thường Niên

THÁNH MÁTTHÊU, TÔNG ĐỒ TÁC GIẢ SÁCH TIN MỪNG

Mt 9, 9-13

LÒNG NHÂN ĐÃ BIẾN ĐỔI PHẬN NGƯỜI

Lý do chính yếu mà Chúa Giêsu đến trần gian: “Tôi đến… để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,13). Qua lối hành xử này, ta nhận ra tấm lòng bao dung của Đấng Cứu Thế. Ngài lúc nào cũng sẵn lòng đón tiếp, tha thứ, thu nhận người tội lỗi hoán cải. Ngài không loại bỏ một ai, vì tất cả mọi người đều là đối tượng của lòng Chúa thương xót.

Cũng vậy, công tác tông đồ hàng đầu của mọi Ki-tô hữu phải là thăm viếng, tạo tình thân, cảm hóa người tội lỗi, đưa họ trở về với đường lành. Đó chính là “đi ra vùng ngoại biên” như Đức Thánh Cha Phan-xi-cô cổ võ.

Tiếng gọi: “Anh hãy theo tôi!” của Đức Giêsu đã khiến cho Mátthêu, người thu thuế, người bị xã hội coi thường, trở nên người bạn, người môn đệ của Ngài. Tiếng gọi ấy chắc hẳn phải trìu mến và tha thiết lắm thì người thu thuế kia mới bỏ lại mọi sự, đứng dậy mà đến với Chúa Giêsu.

Matthêu thấy khi theo Chúa Giêsu, Matthêu có được lợi lộc gì đâu. Anh phải bỏ những thực tế rất hữu ích trước mắt, những an toàn và bảo đảm… Đi theo Chúa Giêsu là con bác thợ mộc, không nghề nghiệp, không thu nhập, rày đây mai đó. Đi theo Chúa Giêsu một vị thầy chỉ có tình yêu, không cơ quan, không bằng cấp, không có gì an toàn về thực tế, không có bản hợp đồng nào bảo lãnh, chẳng có bảo hiểm cũng chẳng có tài khoản.

Đi theo Chúa Giêsu Ngài ăn chung với phường tội lỗi và thu thuế làm giảm cả danh dự. Vậy mà Matthêu đã dứt khoát theo Ngài. Matthêu không luyến tiếc, chẳng nghi ngờ, cũng chẳng thắc mắc. Anh biết Chúa Giêsu đang làm cuộc cá độ với anh cuộc cá độ một mất một còn. Anh cũng biết anh đang làm cuộc cá độ với chính bản thân mình, bỏ đi tất cả để chọn một lẽ sống chọn một con người.

Thánh Matthêu không hề thuật lại mình đã có cử chỉ và lời nói nào để thu hút Chúa Giêsu. Thánh nhân chỉ viết : “Chúa Giêsu đi ngang qua trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Matthêu đang ngồi ở đó. Người bảo : Anh hãy theo tôi !" Có lẽ Chúa Giêsu biết rõ một người thu thuế thì cuộc sống thế nào. Công việc của anh ta đem lại lợi nhuận gì, nó có ảnh hưởng gì đến tâm linh của anh. Hẳn rằng Chúa cũng biết thêm về gia cảnh của Matthêu, vì sau khi gọi anh, Ngài đã đến nhà anh để dùng bữa. Tin Mừng còn nói thêm, Chúa Giêsu biết rõ Matthêu là người tội lỗi cần được thanh tẩy và tha thứ, nên Ngài đã nói : “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi”.

Việc Chúa Giêsu gọi anh Matthêu đi theo Ngài quả thật là “mạo hiểm”. Chúa Giêsu đi ngang qua bàn thu thuế, và Chúa Giêsu chỉ nói một câu ngắn gọn. Một câu ngắn gọn đầy thách thức. Khi làm cuộc cá độ phiêu lưu hôm nay với Matthêu. Chúa Giêsu muốn nói với mỗi người chúng ta : - Ngài không chỉ biết rõ một người đang như thế nào, mà Ngài còn thấy được họ sẽ trở nên như thế nào. Ngài dám tin vào khả năng thay đổi bản chất, khả năng làm mới lại cuộc đời của con người tội lỗi. Ngài mạo hiểm tin rằng “ngựa này không bao giờ quen đường cũ” mà thẳng tiến trong ơn gọi theo Ngài.

Ta thấy Chúa đã dành cho Lê-vi, một người thu thuế, một hạng người được coi là làm tay sai cho ngoại bang, làm tay sai cho Đế Quốc La Mã thời đó, một hạng người mang tiếng ăn bẩn, tội lỗi và không tốt. Ngài đã trò chuyện cùng ông. Ngài đã lưu lại dùng bữa tại nhà ông. Và Ngài còn tuyển chọn ông trở thành môn đệ của Ngài. Qua đây Chúa cũng dạy những người hiện diện hôm đó khi Chúa nói với họ:" Ta đến không để gọi những người công chính mà là gọi những người tội lỗi "( Mt 9,13) . Tình thương đó không chỉ an ủi Lê-vi mà còn làm cho Lê-vi trở thành một tông đồ nhiệt thành. Tình thương đó đã đánh đổi mọi danh vọng hão huyền mà bao lâu nay Lê-vi theo đuổi. Lê-vi từ hôm nay chỉ muốn dành trọn cuộc đời cho Chúa và tha nhân.

Mỗi người chúng ta cũng đều là những tội nhân trước mặt Chúa. Những tội nhân được Chúa yêu thương, được tha thứ, được tuyển chọn làm môn đệ Chúa. Lẽ ra, chúng ta cũng phải luôn nhớ mãi hồng ân ấy để biết sống đền đáp ân tình Chúa bằng việc cảm thông với người tội lỗi, bằng việc loan báo tình thương Chúa cho tha nhân. Thế nhưng, chúng ta đã quên mình là con nợ của Thiên Chúa. Chúng ta thường đối xử quá khắc khe với anh em. Chúng ta thường thiếu khoan hồng với anh em.

Cuộc sống thường ngày, mỗi người chúng ta cũng thốt lên không biết bao nhiêu lời. Có bao nhiêu lời chúng ta thốt lên với sự trìu mến? Có bao nhiêu lời mang lại lợi ích cho người khác? Có bao nhiêu lời chúng ta thốt lên giúp chúng ta xây dựng tình bạn chân thành? Có bao nhiêu lần chúng ta dành ra ít phút để nói chuyện với những người nghèo, những người yếu đuối, những người cô đơn, những người ngồi ở ven đường?

Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta, những người Kitô hữu hành động như Thầy mình: quan tâm đến những người mà cách này hay cách khác họ không hay ít được người khác quan tâm. Cùng nhau giành sự quan tâm đến những người xung quanh để mỗi ngày chúng ta trở nên gần với Thầy Giêsu hơn và có nhiều bạn bè chân thành hơn. Với những cử chỉ nhỏ bé của lòng trìu mến, chúng ta sẽ tăng tình hiệp thông và bớt đi sự cô độc trong thế giới này.

Đức Ki-tô không phải vị thần kiêu sa ngồi trên toà cao để cứu độ nhân loại. Trái lại Ngài đến trần gian chung thân phận người với chúng ta là những tội nhân để đưa chúng ta trở về với Ngài. Thiện chí mà thôi là chưa đủ, phải có hành động cụ thể và thiết thực: gặp gỡ, thăm viếng, tiếp xúc với tội nhân, vì “một mặt hơn mười gói,” chỉ qua việc thăm viếng, ta mới có thể đồng cảm và xin Chúa ban cho họ ơn hoán cải.

Khi nhìn lại bản thân, ta thấy có thể đi theo Chúa chúng ta sẽ nghèo hơn về vật chất, có thể chúng ta cũng sẽ phải bỏ những tham vọng trần gian.

Quả thật là quá mạo hiểm đối với con người ngày hôm nay. Chọn tình yêu, chọn phục vụ, chọn Chúa Giêsu là đi vào cuộc mạo hiểm : không an toàn về “cái ghế”, không ổn định về “cái túi”, không rầm rộ và đầy ắp ở những “cái bắt tay”… Chọn Chúa Giêsu là đi vào con đường thập giá. Nhưng chắc chắn như Matthêu hôm nay, chúng ta sẽ tìm được bình an, vui mừng cùng với những thao thức mới về cuộc đời mà trước kia chúng ta chưa từng biết. Trong Chúa Giêsu, chúng ta tìm được sự giàu có hơn hẳn mọi điều mình phải bỏ vì Ngài.

 

Thứ Ba Tuần XXV Mùa Thường Niên 

Lc 8, 19-21

TÌM VÀ GIỮ THÁNH Ý CHÚA

          Trang Tin mừng hôm nay kể lại một câu chuyện gây sốc. Một câu chuyện mà nếu chỉ nhìn hời hợt bên ngoài thì độc giả sẽ thấy buồn: Tại sao Đức Giê-su lại có những lời lẽ lạnh lùng như thế với Mẹ và anh em đang kiếm tìm Người. Người dường như chẳng quan tâm tới họ đang khi họ quan tâm đến Người. Mẹ Maria chắc chắn đã phải trải qua hành trình vất vả để đến với Người. Nhưng đáp lại sự thông báo về sự hiện diện của Mẹ, Đức Giê-su lại phán một câu mà tin mừng Mat-thêu ghi lại: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?” (Mt 12, 48) và ở Luca: “Mẹ và anh em tôi là những người nghe và thực hành lời Thiên Chúa” (Lc 8,21). Hành động như thế của Ngài thật quá đáng. Có phải Ngài quá thiêng liêng và chối bỏ những tương quan mang tính huyết nhục thế trần?

          Tuy nhiên, khi nhìn xuyên suốt tin mừng thì lòng tôi lại thấy khấp khởi mừng. Câu chuyện mang vẻ bề ngoài gây sốc kia lại có một ý nghĩa sâu xa, đem lại cho tôi một niềm vui và hy vọng. Vì hơn ai hết, Chúa Giêsu biết rõ Mẹ của Người, một con người luôn lấy thánh ý Thiên Chúa làm kim chỉ nam hướng dẫn đời mình; Do đó, trong tình huống này, Ngài không hề có ý lạnh nhạt hay chê bỏ Mẹ hay anh em Ngài; nhưng trong khuôn mẫu đó, Chúa Giêsu đã mở rộng gia đình của Người; từ nay, tất cả mọi người biết nghe và thực hành Lời Thiên Chúa đều là anh em Người và mẹ của Người - Như Đức Maria hằng lắng nghe lời Thiên Chúa, suy đi nghĩ lại trong lòng, sẵn sàng vâng theo thánh ý của Người như một nữ tì trung tín (Lc 1, 38; 3,51)    

          “Mẹ và anh em tôi là những người nghe và thực hành lời Thiên Chúa”.

          Lắng nghe! Là thái độ biểu lộ mối quan tâm, sẵn sàng mở lòng ra để hiểu, để đón nhận, để cảm thông, để chia sẻ và để đáp ứng…Vì thế, lắng nghe là thái độ của tình yêu. Sách xuất hành nói đến việc Thiên Chúa nghe thấy tiếng rên siết, kêu than của con cái Hipri dưới ách nô lệ người Ai cập. Người đã nghe, đã xót thương và đã sai tôi tớ Người là ông Mô-sê giải thoát họ (Xh 2,2 tt). Người đã ký kết giao ước với họ tại Si-nai, trong đó Người hứa sẽ bảo vệ và chúc phúc cho dân và dân hứa sẽ nghe và thực hành lời Người (Đnl 4,13; 7,27 tt).

          Việc nghe và thực hiện lời Người sẽ bảo đảm sự an ninh, thịnh vượng và hạnh phúc của họ. Như thế sự lắng nghe và thực hiện lời Thiên Chúa như một đáp trả tình yêu cho tình yêu; như là phương thế tuyệt diệu để con người hoàn trọn mục đích đời mình.  

          Chúa Giêsu đưa ra một điều lệ quan trọng để cho đám đông và tất cả những ai muốn đi vào trong tương quan mật thiết với Chúa như Mẹ và anh em, Chúa nói : “Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành.” Như vậy, chỉ có một điều kiện duy nhất để nối kết tương quan thiết thân với Chúa Giêsu và với nhau như gia đình, đó là “nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” mà thôi.

          Cũng trong bối cảnh ấy, câu nói của Chúa Giêsu : “Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành”  gián tiếp ca ngợi mẹ và anh em của Ngài trước mặt toàn thể đám đông dân chúng ; đồng thời cũng gián tiếp tôn vinh những ai thi hành Thánh Ý Chúa Cha sẽ được gọi là Mẹ và anh em của Chúa, được đi vào trong tương quan thân mật với Chúa.

          Ngày mỗi ngày ta thấy tìm kiếm Thánh Ý Chúa quả là một tiến trình đòi nhiều hy sinh, nhưng việc nghe và thực hành Lời Chúa còn đòi nhiều hy sinh gấp bội. Trong cuộc đời, nhiều lúc chúng ta cũng cảm nhận như Thánh Phaolô, “điều tôi muốn tôi lại không làm, điều tôi không muốn tôi lại làm”. Hành trình từ cái đầu đến quả tim và đôi bàn tay là một hành trình dài, và thật khó khăn. Nhiều lúc chúng ta nghe được tiếng Chúa, nhưng từ bỏ ý mình làm theo Ý Chúa nhiều lúc thật khó khăn. Tuy nhiên, phần thưởng dành cho người thi hành Thánh Ý của Thiên Chúa là được trở nên nghĩa thiểt với Ngài.

          Chúa Giêsu đánh động tâm lòng của những người đang ngồi nghe lời giảng dạy của Chúa rằng: Chớ có nghe suông lời của Ngài đã nói; nhưng hãy đem ra thực hành thì cũng sẽ trở nên mẹ và anh em của Người. Thiên Chúa nối kết Đức Giê-su và cả nhân loại thành một gia đình. Trong gia đình đó đã dành riêng chỗ quan trọng cho Đức Maria, vì hơn ai hết Mẹ là người đã lắng nghe, suy niệm trong lòng và thi hành lời Thiên Chúa hết sức của Mẹ.

          Ðức Maria hai lần xứng đáng làm Mẹ Chúa Giêsu: Mẹ theo huyết thống và Mẹ của Thân mình mầu nhiệm của Ngài là Giáo Hội. Chẳng những là Mẹ thật vì đã sinh ra Chúa Giêsu, mà còn là Mẹ vì đã thực thi ý Cha trên trời. Trong biến cố truyền tin, Ðức Maria đã thưa với Sứ thần: "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng theo lời thiên thần truyền". Ðiều đó nói lên suốt đời Ðức Maria, người luôn làm theo ý Chúa.

          Hình ảnh Mẹ Maria, một mẫu gương thi hành Thánh Ý Thiên Chúa đáng để cho chúng ta  học theo : Mẹ lắng nghe tiếng Chúa qua Kinh Thánh, qua các biến cố ; Mẹ suy đi nghĩ lại trong lòng Lời của Chúa, chiêm ngắm và tìm ý Chúa ; và trong cuộc đời Mẹ có cả những lúc Mẹ thắc mắc với Chúa vì chưa hiểu ý Ngài, Mẹ đối thoại lại với Chúa. Cuối cùng, trong tất cả mọi sự Mẹ chọn tiếng thưa “xin vâng”, xin vâng bằng lời nói, xin vâng bằng hành động và xin vâng bằng cả đời sống.

 

Thứ Tư Tuần XXV Mùa Thường Niên 

Lc 9, 1-6

RAO GIẢNG TIN MỪNG

          Ngoài năng lực và quyền phép mà Chúa Giêsu trao cho, các môn đệ hầu như chẳng có gì gọi là của họ trong hành trang khi lên đường rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân. Điều này có thể khiến độc giả khó hình dung mức độ thực tế trong yêu cầu của Chúa Giêsu hoặc khó hiểu được để chấp nhận yêu cầu xem ra phi thực tế này.

          Tuy vậy, với tâm tình yêu mến và khát khao gặp gỡ Chúa qua Lời Ngài, tôi, bạn và anh chị ta cùng đọc lại và dừng lâu hơn trong từng câu chữ, hy vọng với ơn sáng soi của Thần Khí Chúa, ta nhận ra, hiểu được, đón nhận và sống sứ điệp Tin Mừng hôm nay.

          Trước hết, bản văn cho biết Nhóm Mười Hai được Chúa Giêsu cho tham dự vào sứ mạng rao giảng Nước Thiên Chúa của Ngài. Sứ mạng này là hồng ân nhưng không và không thể được thực hiện nếu các ông không có ơn trên, nếu các ông không tuân thủ những quy định và hướng dẫn của Chúa Giêsu. Vì thế, Chúa Giêsu đã trao năng lực và quyền phép của Ngài cho họ; đồng thời đưa ra những chỉ thị cụ thể để họ thực hiện như không mang gì khi đi đường, ở lại nơi được tiếp đón cho đến lúc ra đi, dứt khoát rời khỏi ngay nơi bị chối từ.

          Kế đến, ta cùng tìm hiểu ý hướng của Chúa Giêsu trong các việc trên. Sứ mạng rao giảng Nước Thiên Chúa hoàn toàn không phải là sáng kiến của con người, nhưng nằm trong kế hoạch cứu độ nhân loại của Thiên Chúa. Vì vậy, uy tín con người hoặc năng lực phàm nhân không thể được tận dụng, mà chắc chắn phải là ân sủng từ trời. Chia sẻ sứ mạng của thầy, Nhóm Mười Hai chỉ có thể thực hiện sứ mạng ấy với năng lực và quyền phép của Thầy.

          Trên đường sứ vụ, Chúa Giêsu không muốn các môn đệ bị phân tâm bởi những hành trang vật chất và tiện nghi, dù chỉ là những thứ thiết yếu như chiếc gậy để tự vệ và vài món đồ để dự trữ, phòng xa. Ngài muốn họ hoàn toàn cậy trông vào tình yêu toàn năng và sự quan phòng khôn ngoan của Thiên Chúa. Ngài muốn họ đón nhận sự bấp bênh, sự thiếu an toàn, sự lệ thuộc vào Thiên Chúa và vào con người.

          Hơn thế nữa, trong tương quan với anh chị em, Chúa Giêsu muốn các môn đệ không tìm kiếm tiện nghi hay sự trọng vọng khác biệt. Ngài muốn các ông trở nên mọi sự cho mọi người qua lối sống gần gũi, hòa mình vào cuộc sống của dân để giúp dân dễ đón nhận Tin Mừng.

          Không những thế Chúa Giêsu còn muốn các môn đệ của Ngài bình thản và dứt khoát chấm dứt tương quan khi đối diện với thách đố lớn nhất là sự dửng dưng, vô cảm, chối từ, thậm chí là chống đối nơi những con người đã được nghe loan báo về Nước Thiên Chúa.

          Để thực thi sứ mệnh cứu độ nhân loại, Chúa Giêsu đã tuyển chọn mười hai môn đệ và sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa. Như các thể chế ở trần gian khi thành lập, họ cũng sai các đệ tử của họ đi tuyên truyền chủ trương đường lối của họ. Còn Chúa Giêsu khi sai các ông đi, Người đã “ Ban cho các ông năng lực và quyền phép để trừ mọi thứ quỷ và chữa các bệnh tật”.

          Đây là điều đặc biệt mà mọi tổ chức người đời không có được.Người cũng dặn các ông hãy ra đi với đời sống đơn sơ thôi, đừng cầu kỳ rườm rà với hành trang mà làm giảm sút công việc chính yếu là rao giảng Nước Thiên Chúa: “Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bì, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo”.

          Các ông được sai đi, những người đã được ở với Chúa, được Người dạy bảo, đã mang theo cách ăn nết ở, cả tấm lòng yêu thương của Thầy mình. Lại còn được ban thêm “Năng lực và quyền phép” từ ơn trên. Như vậy là các ông ra đi còn có sức mạnh của Chúa đồng hành trên mọi nẻo đường.

          Vì thế từ những con người đơn sơ nghèo nàn chất phác đã trở nên những con người cách mạng vĩ đại của nhân loại. Một cuộc thu phục con người bằng tình yêu. Mười hai con người hôm xưa chính là mười hai trụ cột của ngôi nhà giáo hội Thiên Chúa. Ngày nay nơi ngôi nhà này đã có 4.000 giám mục, 400.000 linh mục và hàng tỷ người tín hữu. Họ cùng một niềm tin, đức cậy đức mến tất cả đều có sức mạnh Chúa Thánh Linh ở cùng. Họ là những cái xà, cái kèo, những viên gạch viên đá làm nên ngôi nhà giáo hội mà như thánh Phaolô mô tả: “Trong Người toàn thể công trình xây dựng ăn khớp với nhau vươn lên thành ngôi đền thánh trong Chúa”.

          Đòi hỏi của Chúa Giêsu với Nhóm Mười Hai trông có vẻ ngược đời. Bởi lẽ, dù không phải sống trong cảnh xa hoa, giàu có, nhưng những nhu cầu thiết yếu như: giày dép, lương thực, tiền bạc… xem ra là những phương tiện cần thiết để chu toàn sứ vụ. Thế nhưng, điều Đức Giêsu muốn nơi các tông đồ là sự dấn thân trọn vẹn: hãy bỏ tất cả những quyến luyến, những vướng bận của vật chất để chỉ tập trung cho sứ vụ mà thôi. Vì chỉ khi sống và thực hành được điều đó, Nước Trời mới được loan truyền cách mau lẹ nhất.

          Hơn nữa, không vướng bận đến của cải vật chất cũng có nghĩa là để cho Chúa làm chủ cuộc đời và sứ vụ của mình. Nước Trời được loan báo, người bệnh được chữa lành (Lc 9,2) thì không phải do công lao hay những phương tiện vật chất mang lại nhưng tất cả là do quyền năng của Chúa. Người môn đệ chỉ là công cụ trong việc thực thi Lời Ngài mà thôi.

          Do vậy, sống tinh thần nghèo khó, sống khiêm tốn và phó thác mọi sự trong tay Chúa là điều mà người môn đệ Đức Kitô cần học và hành trong suốt cuộc đời của mình. Sống nghèo trong Đức Kitô để thế giới được giàu, vì lúc đó ta biết lấy cái giàu của Thiên Chúa để phân phát cho tha nhân.

 

Thứ Năm Tuần XXV Mùa Thường Niên 

Lc 9, 7-9

DẤU HỎI CHO NGƯỜI KHÁC

          Qua lời nói, việc làm, và nhất là cuộc sống của Ngài, Chúa Giêsu đã không ngừng là một dấu hỏi cho người đương thời. Mỗi người một câu trả lời, nhưng bất cứ ai cũng được mời gọi để bày tỏ lập trường đối với con người của Chúa Giêsu. Riêng Vua Hêrôđê, ông tiến thêm một bước là muốn đến gặp Chúa Giêsu.

          Hôm nay nhân loại vẫn thắc mắc và tìm hiểu về Chúa Giêsu. Người ta vẫn đang cố đi tìm hiểu về một con người Giêsu của lịch sử. Nhiều nhà khảo cổ học, lịch sử học vẫn ra sức nghiên cứu để trả lời cho nhân loại trước những câu hỏi tò mò về con người lịch sử của Chúa. Nhiều nhà văn, đạo diễn đã hư cấu, đưa ra những chi tiết giật gân về cuộc đời Chúa Giêsu nhằm thu hút mọi người mua sản phẩm của họ. Những điều như thế không bao giờ giúp cho nhân loại hiểu về Chúa Giêsu là ai.

          Chúng ta chỉ có thể biết về Chúa Giêsu bằng đức tin của mình. Đức tin không phải do nổ lực suy tư của bộ óc nhưng trước hết đó là một ơn ban đến từ Thiên Chúa. Lời của Chúa Giêsu nói với Tôma cũng là lời mang đến niềm an ủi lớn lao cho chúng ta : “Vì con đã thấy Thầy nên con tin, phúc cho những ai không thấy mà tin”. Lời chúc phúc này đòi hỏi người tin cần thay đổi lối nhìn, lối nghĩ, theo kiểu đời thì mới có thể nhận ra Chúa Giêsu là ai và Thiên Chúa ấy có ý nghĩa như thế nào cho cuộc đời của chúng ta. Nếu không thì chúng có thê như Hêrôđê, vẫn gặp thấy Ngài nhưng mãi mãi vẫn không biết Ngài là ai !

          Đọc lại khi khởi đầu sứ vụ của Chúa Giêsu, khởi sự bằng việc Chúa nhận phép rửa Gioan trên sông Giođan. Gioan Tẩy Giả khi thấy Chúa đang tiến về phía mình, Gioan đã giới thiệu với dân chúng biết về Chúa Giêsu: “đây chiên Thiên Chúa đây Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1, 29). Lời giới thiệu của Gioan đã khẳng định sứ vụ và ơn cứu độ của Chúa sắp được tỏ hiện giữa trần gian.

          Sau những năm tháng Chúa Giêsu ẩn dật sống dưới mái ấm gia đình Thánh Gia. Người bắt đầu công khai lộ diện công bố Tin Mừng cứu độ giữa dân chúng, danh tiếng Chúa đã vang cùng khắp nơi, vì Người đã đem tin lành đến cho muôn dân, qua những phép lạ Người đã làm cho dân chúng, những lời giáo huấn của Chúa đã cuốn hút khán giả đến lạ thường, dân chúng chỉ còn biết nghe quên cả ăn nghỉ, nhìn thấy đoàn dân đông đảo đi theo Người, khiến Chúa phải chạnh lòng thương họ, chữa lành nhiều bệnh nhân. (Mt 14, 13-21).

          Người đã hai lần làm phép lạ hóa bánh ra nhiều qua cử chỉ bẻ bánh đầu tiên của Chúa, từ đó mọi người cùng chuyền nhau bẻ bánh và trao cho nhau, cứ thế từ năm chiếc bánh và hai con cá đã được nhận ra hàng ngàn chiếc bánh, hàng nghìn con cá. (Mt 15, 32-39). Bốn sách Tin Mừng còn ghi chép nhiều phép lạ khác Chúa Giêsu đã làm trong dân chúng. Riêng Tin mừng Thánh Gioan viết câu kết: “Còn có nhiều điều khác Ðức Giêsu đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra”. (Ga 21 ,25)

          Những việc Chúa làm trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng, Hêrôđê cũng biết tất cả những việc Chúa làm, và ông cũng muốn tìm cách để gặp Người. Nhưng điều đáng tiếc Hêrôđê đã không tìm đến để gặp Chúa, vì trong  ý nghĩ của Hêrôđê muốn tìm cách gặp Chúa không giống như các trường hợp khác được ghi chép trong các sách Tin Mừng như: niềm tin của người phụ nữ bị bệnh băng huyết lâu năm chen lấn giữa đám đông để mong chỉ đụng được vào gấu áo của Người (Mc 5, 25-34), như anh chàng Bartimê thành Giêricô mù từ thuở mới sinh kêu gào gọi tên Giêsu khi Người đi ngang qua anh ta (Mc 10, 46-52) hay trường hợp ông Gia-kêu nghĩ ra cách trèo lên cây sung để dễ dàng nhìn thấy Chúa (Lc 19, 1-10).

          Đặc biệt hơn với lòng tin của viên đại đội trưởng xin Chúa chữa cho đầy tớ đang nằm liệt bệnh ở nhà (Lc 7, 1-10). Tất cả họ đến gặp Chúa trong tâm tình yêu mến phát xuất tự trong đáy lòng họ. Họ đến với Chúa vì họ tin tưởng vào ơn cứu độ Chúa sẽ ban cho họ. Với Hêrôđê ông ta muốn tìm cách gặp Người chỉ vì hiếu kỳ, muốn được nhìn thấy Người làm phép lạ để ông ta xem. Cái chết của Thánh Gioan Tẩy Giả vì Gioan đã mạnh dạn lên tiếng về thái độ của Hêrôđê muốn chiếm đoạt vợ của em mình (Lc 3, 19), tuy Hêrôđê nể phục Gioan nhưng ông không biết sửa những điều mình làm sai, qua những lời Gioan đã góp ý với ông, Hêrôđê đã bị nhục dục làm chủ, chỉ vì một lời hứa với con gái người tình, mà ông đã ra lệnh chém đầu Gioan (Mc 6, 17-29).

          Đặt trường hợp nếu Hêrôđê có dịp gặp Chúa Giêsu, thì chắc chắn ông sẽ bị Chúa Giêsu phê phán cách kịch liệt hơn. Trong suốt ba năm Chúa Giêsu đi rao giảng Tin Mừng Hêrôđê không được hạnh phúc nhìn thấy Chúa, chỉ một lần duy nhất được diện kiến Chúa khi Người bị bắt giải từ dinh tổng trấn Philatô sang cho Hêrôđê. (Lc 23, 8).

          Qua con người và cuộc đời của Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, chúng ta cảm nhận rằng Thiên Chúa là Đấng rất nhân từ, giàu lòng thương xót, chậm bất bình và hết sức khoan dung. Thiên Chúa không là gì khác ngoài Tình Yêu. Ngài có thể làm tất cả vì Ngài Toàn Năng, nhưng đúng hơn, Ngài chỉ có thể làm những gì mà tình yêu có thể làm, và Ngài không thể làm những gì trái với tình yêu, vì bản chất của Ngài là yêu thương.

          Chúng ta được mời gọi trở nên một Đức Kitô khác để người khác nhìn vào chúng ta thấy chúng ta là hiện thân của Chúa. Xin cho chúng ta ngày mỗi ngày trở nên giống Chúa hơn, trở nên hiện thân của Chúa giữa cuộc đời này hơn.

          Chúng ta hãy là chứng nhân của niềm vui. Nếu các môn đệ buồn phiền vì Thầy đã chịu khổ hình, thì các ông lại vui mừng biết bao khi nghe tin Thầy sống lại. Nếu các môn đệ lo âu vì sợ người ta đã giết Thầy sẽ bắt luôn cả trò, thì các ông lại trọn niềm hân hoan khi thấy Thầy sống lại ra khỏi mồ. Nếu chúng ta thực sự ra khỏi nỗi âu lo về mình, chúng ta sẽ tràn đầy niềm vui. Nếu chúng ta mang lại nụ cười cho những người bất hạnh, chúng ta đang công bố tin vui Phục sinh.

 

September 27, 2023