Suy Niệm của Huệ Minh
Chúa nhật 27 thường niên, năm A
10.10.23 Thứ Ba 27 Mùa Quanh Năm
St 3:1-10; Tv 130:1-2,3-4,7-8; Lc 10:38-42
Lắng Nghe và Chiêm Niệm
Thánh Đa Minh, Đấng sáng lập Dòng Anh Em Giảng Thuyết, là mẫu gương kết hợp giữa chiêm niệm và hoạt động tông đồ. Ngài luôn "nói với Chúa" để rồi có thể "nói về Chúa". Ngài phục vụ Đức Kitô nơi anh chị em bằng lời rao giảng.
Qua lời giảng sốt sắng, ngài đem Chúa đến cho người đời. Đêm về, ngài ngồi bên chân Chúa để lắng nghe lời Người và tha thiết cầu xin cho mọi người nhận biết chân lý. Hôm nay, khắp nơi trên thế giới, con cái cha thánh vẫn bước theo ngài, ‘nói với Chúa và nói về Chúa’ cho chính mình và tha nhân.
Trang Tin Mừng hôm nay sau khi đọc, dường như ta cảm thấy có cái gì đấy tội nghiệp cho bà Mác-ta. Chúa đến chơi nhà, bà tất bật lo chuẩn bị đại tiệc để tiếp đãi Chúa. Chúa thì không ưa chuyện mâm cao cỗ đầy. Ấy vậy, bà cứ loay hoay chạy ra chạy vào lo nấu nướng hết món này đến món khác. Đang khi đó, cô em Maria của bà chẳng được tích sự gì, cứ ngồi lì dưới chân Chúa mà nghe Chúa giảng dạy về Nước Trời.
Đơn giản là vì giờ ăn sắp đến rồi mà việc chuẩn bị tiệc chưa đâu vào đâu hết, thế là bà Mác-ta cuống quýt lên và bắt đầu càu nhàu với cô em Maria, đồng thời trách khéo Chúa: “Thưa Thầy, em con để mình con phục vụ, mà Thầy không để ý tới sao? Xin Thầy bảo nó giúp con một tay!” Bà nói thế cốt để làm sao cho việc tiếp đãi Chúa được chu đáo.
Thật bất ngờ, như một gáo nước lạnh tạt vào mặt, Chúa nói thẳng với bà: “Mác ta! Mác ta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi.” Ý Chúa muốn nói trên đời này chỉ có thực tại Nước Trời mới có giá trị trên hết và người ta chỉ có thể ở trong sự thinh lặng mới lắng nghe được sứ điệp Nước Trời mà thôi. Và một khi để sứ điệp của Chúa chi phối cuộc đời người ta, thì dù vẫn phải bôn ba với cuộc sống cơm áo gạo tiền, thì người ta vẫn có được niềm vui của sứ điệp Nước Trời và sự bình an của Chúa ngự trị cõi lòng mà không băn khoăn lo lắng, sợ hãi đủ điều nữa.
Chắc hẳn, Đức Kitô không muốn đối lập Maria với Matha. Người chỉ ghi nhận những ưu tiên, nhưng không lên án những hành động của Mác-ta. Cả hai chị em đều mến Chúa bằng nhau! nhưng mỗi người mỗi vẻ. Mác-ta thích hành động, chị cảm thấy cần thiết đón khách chu đáo đàng hoàng mới tỏ ra lòng mến khách, quý khách. Cho nên, chị cần chuẩn bị nhiều thứ.... như vậy rất có lý! nhưng chị quá lo lắng bối rối nhiều chuyện quá. Chúa đã lưu ý chị thế! Chắc chắn là cần thổi nấu, sắp đĩa bát, dọn bàn ăn! quá lo lắng, áy náy không hợp với lúc này! Điều quan trọng chính là họp mặt, gặp gỡ nhau, trao đổi tâm sự hơn là mâm cao cỗ đầy.
Maria, cô ngồi bên chân Thầy rất mến, ngây ngất lắng nghe Người không ngớt! Hai người nói gì với nhau? bản văn không nói gì đặc biệt. Có phải nói về cái chết sắp tới của Người như đã nói với các Tông Đồ, về mọi thứ đau khổ Người mong chờ và chấp nhận để cứu chuộc loài người chăng? Cũng có thể Người nói với Maria về ý nghĩa ngược đời của tám mối phúc thật, về hạnh phúc nước trời. Khó với tới và những đòi hỏi vượt sức loài người của đức ái Kitô giáo! Không ai biết được câu chuyện đó như thế nào! nhưng Maria rất ham thích lắng nghe! Khi người ta yêu, người ta không chán nghe người yêu nói.
Matha bất bình như mọi người hoạt động bất bình với những người chiêm niệm: không làm gì nhưng lại rất hoạt động và hoạt động đúng nhất. Đức Giêsu đã đặt lại những giá trị, Người nói: “Tội nghiệp Mác-ta, chị làm cũng được, Thầy khen chị, cám ơn chị, nhưng hãy tin Thầy đi, chị không biết rằng chị cần thấy: lúc chúng ta ngồi với nhau để chia vui sẻ buồn là tốt nhất, là lịch duyệt và dễ thương nhất! chị thử coi tình yêu chứng tỏ bằng những cử chỉ chị làm lúc này, không thể bằng ánh mắt chăm chú biểu lộ lòng yêu mến đối với sự hiện diện của Thầy được!
Cuộc sống chúng ta ngày nay đang thiếu một điều vô cùng hệ trọng, đó là sự thinh lặng. Có thể nói, hằng ngày ta bị bao vây bởi đủ thứ âm thanh của xã hội công kỹ nghệ. Những tiếng còi inh ỏi của xe hơi, xe gắn máy trên đường phố, tiếng ầm ầm của động cơ, máy móc nơi công xưởng, hay những âm thanh hỗn loạn của máy vi tính, của chuông điện thoại, tiếng ồn ào với lời ra tiếng vào nơi các quán ăn, nhà hàng…đã chiếm hết tâm trí chúng ta đến nỗi chúng ta không còn biết mình từ đâu đến và sẽ đi đâu. Không những thế, đầu óc chúng ta còn bị chi phối bởi đủ thứ những lo toan về cuộc sống vật chất hằng ngày. Và rồi chúng ta cứ loay hoay và quay cuồng trong cuộc sống ồn ào như thế từ ngày này qua ngày khác mà chẳng còn tha thiết đến con đường thiêng liêng dẫn về thiên giới nữa!
Nhờ được nghe Lời Chúa qua tiên tri Gio-na, dân thành Ni-ni-vê đã biết chọn phần tốt nhất là trở về bên Chúa. Thực hành Lời Chúa. Nhờ được nghe Lời Chúa mà Phao-lô biết chọn phần tốt nhất. Ngài hoàn toàn kết hợp với Chúa đến nỗi có thể nói: “Tôi sống nhưng không còn là tôi sống. Nhưng là Chúa Ki-tô sống trong tôi”(Gl 2,19-20). Ngài đã chọn phần tốt nhất. Và không bao giờ chịu bỏ mất. “Những gì xưa kia tôi coi là mối lợi, thì nay vì Đức Ki-tô tôi coi là thiệt thòi. So với mối lợi tuyệt vời là được biết Chúa Ki-tô”(Pl 3,8).
Tin Mừng hôm nay có thể được lắng nghe và suy niệm với nỗi thao thức ấy. Chúa Giêsu hẳn không làm một cuộc so sánh về hai thái độ: một của Marta tất bật với việc tiếp đãi khách, và một của Maria ngồi bên chân khách để trò chuyện. Trong thực tế, cả hai thái độ này đều cần thiết: tinh thần hiếu khách được biểu lộ cụ thể và tích cực qua việc chuẩn bị bữa ăn, nhưng cũng được thể hiện không kém qua sự hàn huyên ân cần. Chúa Giêsu đề cao thái độ của Maria, nhưng không hề giảm thái độ của Marta. Ngài chỉ muốn mượn hình ảnh của Maria đang ngồi dưới chân Ngài để nói lên thái độ cơ bản mà con người phải có đối với Thiên Chúa, đó là thái độ lắng nghe và chiêm niệm.
Mục đích sau cùng của đời sống Ki-tô hữu là kết hợp với Thiên Chúa. Mọi công việc và đời sống ta đều nhằm đạt tới mục đích sau cùng này. Chỉ khi kết hợp với Thiên Chúa ta mới no thỏa hạnh phúc. Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất vì đã đi đến kết hợp với Chúa. Mác-ta tốt nhưng chưa nhất vì việc phục vụ Chúa chỉ là con đường dẫn đến kết hợp với Chúa. Khi lên trời sẽ không còn phục vụ nữa. Chỉ còn kết hợp thôi. Vì thế phần của Ma-ri-a không bao giờ mất.
Kết hợp hệ tại mở lòng ta ra lắng nghe tiếng Chúa. Và để trọn vẹn tâm hồn cho Chúa chiếm ngụ. Lời Chúa tràn đầy tâm hồn lắng nghe như nước mưa thấm đẫm thửa đất khô cằn. Khi đã từ bỏ mình để lòng ra rỗng không, ta sẽ có đầy Thiên Chúa. Đó là hạnh phúc không gì so sánh được.
by Huệ Minh
GIÔNA DỄ THƯƠNG !
Dâng Lễ, đến bài đọc thì cứ chia trí vì Giôna khi nghe bài đọc về ông.
Ông hài quá ! Phải nói là ông quá hài.
Được Thiên Chúa yêu thương và tuyển chọn lẽ ra mừng cũng như mau mắn thi hành lệnh truyền của Ngài. Nhưng không. Giôna là trường hợp đặc biệt, ngoại lệ và ... dễ thương.
Câu chuyện mở đầu về Giôna cho ta thấy ‘chuyện dài nhiều tập’ của Giôna. Thoạt tiên, Chúa sai Giôna đi Ninivê, một thành thù nghịch của Ngài, “Hô cho dân thành biết rằng sự gian ác của chúng đã lên thấu tới Ta”. Giôna bất tuân lệnh Chúa, ông chạy trốn Ngài! Thay vì lên Ninivê, hướng đông; ông xuống tàu ngược qua Tarshish, hướng tây. Chúa không để yên, Ngài theo Giôna đến cùng! Người ta ném ông xuống biển; một con cá đã chực sẵn, nuốt ông. Cá nhả ông lên bờ, Chúa gọi ông lần hai. Cuối cùng, vì ‘không thể trốn chạy’ và cô đơn mãi, ông đến Ninivê, mang cho họ thông điệp sám hối. Họ ăn năn và được thứ tha.
Kết quả này khiến Giôna bực mình, tiên tri trách Chúa về việc Chúa đã làm, và ông muốn chết quách cho rồi. Ông đi ra ngoài thành ngồi chờ xem việc gì sẽ xảy ra trong thành; Chúa cho một cây thầu dầu mọc lên che bóng mát cho ông và ông rất vui, nhưng hôm sau Chúa cho cây ấy bị khô héo khiến ông lại nổi giận và xin Chúa cất mạng sống mình đi. Chúa giải thích cho Giôna nhận ra cơn giận của ông là vô lý. Nếu ông giận chỉ vì một cây thầu dầu không đáng giá chi và ông cũng chẳng mất công gieo trồng và chăm bón, thì chẳng lẽ Thiên Chúa không thương hại thành phố Ninivê rộng lớn mà cứ để cho nó bị huỷ diệt sao?
Lời rao giảng của Giôna giúp dân Ninivê thức tỉnh, mau mắn sám hối và đã nhận được sự thương xót thứ tha của Thiên Chúa.
Thiên Chúa muốn ông thực hiện một việc tốt đẹp: Đi thẳng đến Ninivê, kêu gọi người dân tội lỗi trong thành sám hối để được Thiên Chúa thứ tha. Ông đã từ chối đi con đường thẳng do Thiên Chúa vạch ra, mà đi vòng để trốn tránh huấn lệnh của Ngài.
Thế nhưng rồi ta thấy Giôna đã lầm lạc khi tưởng rằng có thể trốn xa khỏi Thiên Chúa khi đi con đường vòng.
Quả thật, hành trình chạy trốn của ông được vẽ bằng những đường vòng vo: lên tàu trốn sang hướng ngược lại hướng đi thành Ninivê, tưởng là được yên thân, ai ngờ lại bị ném xuống biển. Ông ẩn mình trong một tập thể hầu xa lánh khỏi Thánh ý Thiên Chúa, nhưng lại bị chính tập thể đó xua đuổi, loại bỏ.
Rơi xuống đại dương, ông nằm trong tay của một thế lực đen tối, nguy hiểm (theo quan niệm của người Do Thái, biển cả là nơi trú ngụ của ma quỷ, sự dữ). Giôna bất lực trước sức mạnh không thể chống cưỡng của sự dữ, thậm chí ông còn bị thế lực đó nuốt chửng! Thế là hết! Giôna đành buông xuôi, tuyệt vọng, bỏ mặc cho số phận!
Thiên Chúa đã cứu vớt ông ra khỏi hiểm họa nguy tử: con cá to lớn đã giữ ông trong bụng ba ngày, thì nay lại nhả ông vào bờ an toàn! Lúc này, có thể thấy một Giôna mới biết khiêm tốn và vâng phục Thiên Chúa hơn, vì chấp nhận lên đường vào Ninivê mà rao giảng. Tuy nhiên, Giôna vẫn chưa nhận ra Thiên Chúa là dấu lạ cho chính ông, vì ông còn thực hiện ý Chúa một cách miễn cưỡng. Ông như muốn trốn chạy khỏi tình thương và sự quan phòng của Chúa trên cuộc đời của ông.
Và rồi ta thấy chỉ đến khi Giôna được Thiên Chúa thức tỉnh rằng: ông thương tiếc cây thầu dầu giá trị không là bao, cũng chẳng do ông trồng tỉa và chăm sóc, trong khi đó lại chẳng tỏ ra nhân từ, khoan dung, độ lượng với đám dân tội lỗi nhưng đã kịp thống hối ăn năn, điều đó chẳng phải là vô lý quá ư? Đến đây, chúng ta mới nhìn thấy khuôn mặt Giôna nghệch ra, tẽn tò, xấu hổ: ông đã nhận ra bài học quý giá mà Thiên Chúa dành cho chính ông, chứ không hẳn là dành cho dân Ninivê – bài học về sự khiêm tốn, nhân từ và khoan dung!
Thế đấy ! Thử lặng thinh và nhìn những biến cố trong đời, ta nhận ra “Thiên Chúa tạo nên đường thẳng từ những đường cong” cách lạ lùng, huyền nhiệm, vượt quá tính toán và trí hiểu của con người. Chạy trốn Thánh ý Thiên Chúa, Giôna tưởng có thể yên thân khi tìm sự lành theo ý riêng mình, nào ngờ chỉ toàn gặp phải hiểm nguy, đau khổ và thất bại! Thiên Chúa sử dụng chính những “nét vẽ vòng vo” của Giôna để kẻ lại một “con đường thẳng” đưa đến hạnh phúc.
Thiên Chúa đã yêu thương thì có cách nào Ngài cũng yêu thương dẫu rằng người đó tội lỗi và yếu đuối cũng như thậm chí trốn chạy Chúa như Giôna. Có thể nói Giôna “lọt vào mắt xanh” của Chúa rồi nên đừng hòng chạy thoát.
Thật sự mà nói chả mấy ai dễ thương như Giôna. Chúng ta gặp Giôna chúng ta sẽ hành xử khác với Chúa. Nếu chúng ta là Chúa chắc có lẽ là sẽ trừng phạt và giận cũng như loại trừ Giôna. Ngủng ngẳng, ươn ngạnh hay bướng bỉnh với Chúa chắc có lẽ không ai bằng Giôna. Dẫu vậy, Chúa vẫn thương.
Ta cũng vậy, nhiều khi ta thấy ta cũng bướng bỉnh hay cứng đầu như Giôna nhưng ta thấy nào Chúa có bỏ ta đâu. Có chăng là ta bỏ Chúa chứ Chúa nào bỏ ta. Lằng nhằn theo ý của mình nhưng Giôna không thoát khỏi thánh ý của Thiên Chúa.
Chúa yêu thương từng người chúng ta như Chúa thương Giôna. Thế cho nên mỗi chúng ta hãy buông đời mình vào bàn tay yêu thương của Thiên Chúa để người dẫn chúng ta đến hạnh phúc trường cửu!
Huệ Minh
Thứ Tư tuần 27 Mùa Quanh Năm 2023
St 4:1-11; Tv 86:3-4,5-6,9-10; Lc 11:1-4
Ý Nghĩa Của Kinh Lạy Cha
Cầu nguyện là một việc quan trọng trong cuộc đời Chúa Giêsu; Ngài vào sa mạc 40 ngày để ăn chay và cầu nguyện trước khi bắt đầu sứ vụ công khai; Ngài đã cầu nguyện suốt đêm trước khi tuyển chọn các Tông đồ; trong ba năm rao giảng Tin mừng, Ngài cũng đã rất nhiều lần tìm đến nơi thanh vắng để sống những giờ phút thân tình với Chúa Cha trong cầu nguyện.
Được nhiều lần chứng kiến Chúa Giêsu chìm sâu trong sự kết hiệp với Chúa Cha, và niềm mong ước được đi vào sự hiệp thông với Chúa Cha, như Chúa Giêsu, các Tông đồ đã đến xin Chúa Giêsu dạy họ cầu nguyện và Ngài đã dạy họ Kinh lạy Cha.
Trong Kinh lạy Cha, Chúa Giêsu dạy các Tông đồ gọi Thiên Chúa là Cha. Thực ra, quan niệm gọi Thiên Chúa là Cha không chỉ phổ thông trong dân tộc Do Thái: Trong Cựu ước, nhờ giáo huấn của các Tiên tri, người Do Thái gọi là Chúa Cha: Ngài là Cha của toàn dân; nhưng cả các dân tộc vùng Tiểu Á ngày xưa cũng gọi các thần minh là Cha. Tuy nhiên, cách xưng hô Cha, tiếng Do Thái là Abba, mà Chúa Giêsu dạy các Tông đồ hoàn toàn khác hẳn với tiếng Cha của người Do Thái trong Cựu ước. Đó là tiếng thông dụng thường ngày nơi miệng trẻ gọi cha mình. Như thế, tiếng Cha trong Kinh lạy Cha là nền tảng mạc khải của Chúa Giêsu và lời tuyên tín của Cộng đoàn Giáo hội do Chúa Giêsu thiết lập, kêu lên với Thiên Chúa.
Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu dạy các môn đệ cách cầu nguyện. Cầu nguyện là chúc tụng Chúa, là xin những ơn cần thiết cho ta và cho mọi người khác, và là xin ơn tha tội. Cầu nguyện cũng chính là dịp để chúng ta gắn kết mật thiết hơn mối tương quan với Chúa, và nhờ đó, sống quảng đại hơn với anh em mình.
Tin Mừng hôm nay cho chúng ta một cách cầu nguyện trong mối tương quan giữa Thiên Chúa là Cha và chúng ta là những người con của Ngài. Nhờ Chúa Giêsu và tác động của Chúa Thánh Thần, mỗi Kitô hữu có thể kêu Thiên Chúa là Abba, nghĩa là cha ơi. Tiếng xưng hô: cha ơi, thật đẹp làm sao. Những lời thân thưa trong kinh Lạy Cha lại càng ý nhị và thân tình biết mấy.
Chúng ta nhớ đến ý nghĩa kinh Lạy Cha như là một bản tóm kết trọn vẹn cả Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô, bản tóm gọn khoa thần học, một bản giáo lý về đời sống Kitô. Chúng ta cần khám phá kinh Lạy Cha, đây là trường dạy ta cầu nguyện và hãy cầu nguyện kinh Lạy Cha với tâm trí chìm sâu trong chiêm niệm, để mỗi ngày chúng ta được hiểu thêm về mầu nhiệm Thiên Chúa trong cuộc đối thoại Cha con, trong thái độ tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa và với con tim rộng mở để tha thứ cho anh chị em và đón nhận mọi người như anh chị em mình trong cùng một đại gia đình của Thiên Chúa. Ðối với người Do Thái thời Chúa Giêsu, việc đối thoại với Thiên Chúa và gọi Ngài là Cha trong ý nghĩa Chúa Giêsu muốn cho các môn đệ Người hiểu, thì đó là một việc làm táo bạo và xúc phạm đến uy linh Thiên Chúa. Nếu không có lời Chúa Giêsu dạy để cầu nguyện như vậy, có lẽ con người phàm trần chúng ta không dám cất tiếng gọi Thiên Chúa là Cha như vậy.
Khi cùng nhau tuyên xưng Thiên Chúa là Cha, người con cũng nhận thật, mọi người đều là anh em với nhau. Vì thế, người con khao khát sống hòa thuận với mọi người. Muốn thế, người con xin với Thiên Chúa cho mình biết thứ tha và thông cảm cho nhiều người khác để có thể sống yêu thương hết mọi người. Người con xin cho mình có khả năng tha thứ cho tha nhân để có thể nhận được ơn tha thứ của Thiên Chúa là Cha nhân lành.
Cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha theo ý Chúa Giêsu muốn qua lời kinh Lạy Cha là một việc làm hết sức mới mẻ và đồng thời cũng hết sức đòi hỏi. Thói quen chúng ta đọc kinh Lạy Cha quá thường, làm cho chúng ta mất đi ý thức về sự mới mẻ và về đòi hỏi quan trọng đối với Thiên Chúa cũng như đối với anh chị em. Ðối với Thiên Chúa, mọi đồ đệ cần phải tôn vinh Ngài và vâng phục thánh ý Ngài. Ðối với anh chị em, người đồ đệ Chúa không thể nào tránh né bổn phận tha thứ như Chúa đã tha thứ. Chúng ta hãy ý thức lại để cho sự mới mẻ này đòi hỏi kinh Lạy Cha thấm nhập sâu vào con người chúng ta và hướng dẫn mọi hoạt động lớn nhỏ hàng ngày của người Kitô chúng ta.
Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện Danh Cha cả sáng; Nước Cha trị đến.
Xin hãy ban ơn xuống trên chúng con tràn đầy Thánh Thần Chúa để chúng con có thể sống vâng phục thánh ý Cha dưới đất cũng như trên trời, như Chúa Giêsu, Con Cha đã nêu gương cho đến hy sinh mạng sống mình trên thập giá để cứu rỗi nhân loại chúng con. Xin Cha tha thứ những lầm lỗi của chúng con và ban ơn giúp chúng con thật lòng tha thứ cho nhau noi theo mẫu gương nhân từ tha thứ của Cha. Xin Cha gìn giữ chúng con luôn trung thành trong đức tin, ban cho chúng con sức mạnh để đừng sa vào chước cám dỗ, đừng sống nô lệ thần dữ và tội lỗi.
Cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha theo ý Chúa Giêsu muốn nói về kinh lạy Cha là một việc làm hết sức mới mẻ và đồng thời cũng hết sức đòi hỏi. Chúng ta đọc kinh Lạy Cha theo thói quen, vì thế mà cảm thấy quá thuờng, làm cho chúng ta mất đi ý thức về sự mới mẻ, về những đòi hỏi quan trọng đối với Thiên Chúa cũng như đối với anh em. Đối với Thiên Chúa, mọi đồ đệ cần phải tôn vinh Ngài và vâng phục thánh ý Ngài dưới đất cũng như trên trời. Đối với anh em, người đồ đệ Chúa không thể nào tránh né bổn phận phải tha thứ như Chúa đã tha thứ. Chúng ta hãy ý thức lại và để cho sự đòi hỏi mới mẻ về kinh Lạy Cha thấm nhập sâu vào tận tâm hồn, hầu cho thánh ý Chúa hướng dẫn mọi hoạt động lớn nhỏ hằng ngày của đời sống Kitô.
Chúng ta cần khám phá ra kinh Lạy Cha như là một trường dạy cầu nguyện và hãy cầu nguyện với kinh Lạy Cha, với tâm trí chìm sâu trong chiêm niệm, để mỗi ngày chúng ta được hiểu thêm về mầu nhiệm Thiên Chúa Cha trong cuộc đối thoại cha - con, trong sự tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa với con tim mở rộng để tha thứ cho anh em, và đón nhận mọi người như là anh em trong đại gia đình của Thiên Chúa “Lạy Cha chúng con ở trên trời .... Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời".
12.10 Thứ Năm trong tuần thứ Hai Mươi-Bảy Mùa Quanh Năm
St 3:13-20; Tv 1:1,1-2,3,4,6; Lc 11:5-13
Hiệu Lực Của Lời Cầu Nguyện
Cầu nguyện và xin ơn là một nhu cầu thiết yếu của người Ki-tô hữu, vì khi cầu nguyện sẽ liên kết mỗi chúng ta với Thiên Chúa là nguồn sự sống, giúp chúng ta biết được ý Chúa muốn ta làm gì, cầu nguyện nói lên một tâm hồn đơn sơ, khiêm tốn của người môn đệ Chúa Giêsu.
Hơn nữa, cầu nguyện còn xác tín niềm tin tưởng và sự phó thác hoàn toàn của mình vào Thiên Chúa, đồng thời kêu xin Chúa ban cho ta những ơn cần thiết. Chính vì thế, Chúa Giêsu đã khuyến khích và thúc giục chúng ta hãy cầu xin: “ Cứ xin sẽ được, cứ tìm sẽ thấy, cứ gõ cửa sẽ mở cho” (Lc 11, 9).
Một lời kêu mời tha thiết “ cứ xin”, “cứ tìm”, “cứ gõ”, qua đó cũng nói lên rằng phải rất kiên trì. Để chứng minh Chúa Giêsu đã đưa ra một ví dụ dạy chúng ta phải biết kiên trì với Thiên Chúa trước những nhu cầu cần thiết. Gương người bạn đến gõ cửa nhà bạn mình để xin được giúp đỡ. Người đời dù quen hành động theo lý do ích kỷ, thế mà cũng phải chịu thua sự kiên trì của người xin. “ Huống chi” Thiên Chúa vốn là người Cha nhân lành, luôn đối xử với chúng ta theo tình thương, Ngài mang trong mình bản chất nhân hậu và giàu ân sủng, Ngài rất vui thích ban mọi ơn lành và nhưng không cho con người. Bởi thế, nếu chúng ta kiên trì cầu xin với Thiên Chúa, thì chắc chắn sẽ được nhận lời.
Thế nhưng, nhiều người trong chúng ta lại thắc mắc đã cầu xin với Chúa mãi, mà không được nhận lời. Biết bao những mơ ước, những khó khăn, cả những thất bại trong cuộc đời đều trao dâng cho Thiên Chúa, nhưng vẫn chẳng thấy Chúa đâu. Chính những lúc đó không ít người trong chúng ta lại đâm ra chán nản, nghi ngờ vào sự hiện diện và tình yêu thương của Thiên Chúa
Quả thực, lời cầu xin hằng ngày cũng là một thách đố lớn cho mỗi người chúng ta, không phải lúc nào chúng ta cũng đón nhận một kết quả mau lẹ như ý muốn. Thế nên, lại một lần nữa Chúa mời gọi chúng ta hãy kiên trì trong cầu nguyện. Thực vậy, trong bất cứ lãnh vực nào của cuộc sống con người, ai tập được tính kiên trì người đó kể như đã thành công.
Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy, và còn hơn thế nữa, bởi suốt đời người Kitô hữu phải kiên trì cầu nguyện và tập luyện nhân đức mới mong sống gắn bó mật thiết được với Thiên Chúa. Cũng như thân xác không thể sống và phát triển được nếu con người không ăn uống, thì cũng thế, linh hồn con người không thể sống nếu không có cầu nguyện. Đặc biệt khi cầu nguyện phải xác tín rằng: Thiên Chúa là Cha nhân từ luôn yêu thương chúng ta, Ngài có làm cho chúng ta được toại nguyện hay không, hoặc Ngài nhận lời chúng ta theo cách nào thì cũng đều là vì lợi ích cho linh hồn chúng ta mà thôi.
Nên khi cầu nguyện chúng ta hãy đến với Chúa với tấm lòng khiêm nhường hạ mình. Hãy trình bày cho Chúa tất cả những ưu tư, gánh nặng của mỗi người chúng ta như người con nhỏ bé đến với cha mình, và tin tưởng đón nhận những gì Thiên Chúa cho là tốt đối với chúng ta nhất.
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy chúng ta: "Cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở cho". Ngài đưa ra hai dụ ngôn để nhắc nhở chúng ta kiên tâm trong lời cầu nguyện và siêng năng cầu nguyện cùng Chúa. Ngài đoan hứa Thiên Chúa là người Cha tốt lành sẽ ban cho chúng ta những gì chúng ta cầu xin, đặc biệt Ngài sẽ ban cho chúng ta món quà tuyệt hảo là Thánh Thần, nhờ đó chúng ta sẽ tìm được hạnh phúc đích thực.
Trong thực tế, có lẽ chúng ta đã cầu xin rất nhiều, thế mà nhiều khi chúng ta chẳng nhận được. Tại sao thế? Thánh Giacôbê trả lời: "Anh em không có, là vì anh em không xin; anh em xin mà không được là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc". Do đó, khi cầu nguyện, chúng ta hãy ý thức điều chính yếu chúng ta phải nhắm tới trước hết, đó là "Xin cho Ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời". Thiên Chúa là Cha, Ngài khôn ngoan thấu suốt những nhu cầu của chúng ta và sẽ ban cho những gì lợi ích cho phần rỗi chúng ta. Ðiều cần thiết là phải kiên trì trong niềm tin và xác tín Thiên Chúa yêu thương và ban cho những điều vượt quá sự mong ước của chúng ta.
Bằng hai hình ảnh rất thực tế: Người bạn hàng xóm cho bạn mình vay mượn 3 chiếc bánh giữa đêm khuya, cho dẫu không vì tình bạn mà là vì sự quấy rầy; và người cha sẵn sàng cho con cái mình những thứ tốt nhất theo như lời nó kêu xin. Chúa Giêsu như cũng muốn mời gọi, khích lệ chúng ta là con cái Người hãy tin tưởng, cậy trông và phó thác vào tình thương quan phòng của Chúa. Đừng bao giờ nản lòng, chán chí bỏ cuộc hay phàn nàn kêu trách Chúa khi thấy những lời mình cầu xin chưa được Chúa nhậm lời. Nhưng cần phải xét lại xem điều mình cầu xin có đẹp ý Chúa và thật sự có hữu ích cho cuộc sống và phần rỗi linh hồn của mình chưa?
Nên biết rằng trước một lời cầu nguyện sẽ luôn có 3 trường hợp xảy ra: Một là Chúa sẽ nhận lời nếu đó là lời cầu xin đẹp lòng Chúa và hữu ích cho ta. Hai là lời cầu xin của ta chưa tha thiết thiếu niềm tin hay chưa đúng thời điểm nên Chúa chưa ban ơn. Ba là lời cầu xin của ta không đẹp lòng Chúa và nguy hại đến phần rỗi đời đời của ta nên Chúa không nhậm lời.
Nhưng hãy luôn tin rằng trong mọi trường hợp Chúa luôn lắng nghe và thấu suốt sâu xa vô cùng mọi điều chúng ta cầu xin. Nên Người sẽ chọn lựa những điều thiện hảo nhất theo sự khôn ngoan của Người mà ban tặng cho chúng ta.
13.10 Thứ Sáu trong tuần thứ Hai Mươi-Bảy Mùa Quanh Năm
Ge 1:13-15; Tv 9:2-3,6,16,8-9; Lc 11:15-26
Quyền năng của Chúa
Trình thuật Tin mừng theo thánh Luca hôm nay khẳng định cho chúng ta thấy sức mạnh và quyền năng của Thiên Chúa. Với vai trò là Đấng Mesia, Chúa Giêsu mạc khải rõ sứ mệnh của Ngài là đến thế gian để giải thoát chúng ta khỏi ách thống trị của ma quỷ và tội lỗi, cho chúng ta được ơn cứu độ.
Trong suốt ba năm rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đồng thời cũng xuất trừ ma quỷ và chữa mọi bệnh tật của con người. Hôm ấy, khi thấy Chúa Giêsu chữa một người bị quỷ ám, đám đông dân chúng vô cùng ngưỡng mộ trước quyền năng vô song của Ngài, nhưng có một số người tỏ ra cứng lòng tin, họ phủ nhận quyền năng ấy và cho rằng Ngài đã nhờ sự trợ giúp của tướng quỷ Bêelgiêbút.
Chúa Giêsu liền khẳng định cho họ biết sức mạnh và quyền năng của Thiên Chúa là vô biên có khả năng tiêu diệt được ma vương quỷ thần. Sức mạnh ấy phát xuất từ tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chỉ cần kêu lên danh xưng Giêsu thì mọi tạo vật, mọi đầu gối phải sụp xuống thờ lạy. Danh xưng ấy có sức công phá mọi bức tường ngăn cách, có sức hủy hoại mọi thế lực quỷ thần, đẩy lui bong tối của sự dữ. Danh xưng ấy xuyên thấu tâm hồn con người khiến mọi miệng lưỡi đều cất tiếng ngợi khen.
Đứng trước quyền năng và vinh quang của Thiên Chúa, con người chúng ta không đáng bằng hạt bụi nhỏ bé,còn quỷ thần chỉ như sợi tơ nhện mong manh. Trí khôn của chúng ta hạn hẹp chẳng bao giờ suy thấu. Bởi vì trước một tình yêu bao la ấy mọi lý luận đều trở nên vô nghĩa, mọi tư duy đều giới hạn. Chúng ta được mời gọi hãy mở rộng con tim yêu mến để đón nhận hồng ân đức tin, mở rộng tâm hồn để đón nhận những ân ban huyền diệu. Và ngay cả lúc chúng ta nhận ra tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa, đó cũng là hồng ân không phải tự sức chúng ta làm được nếu không có ơn sủng của Chúa soi sáng cho.
Chúa Giêsu còn cho ta biết ma quỷ là kẻ thù rất mạnh thế, chúng luôn tìm cách lôi kéo trói buộc chúng ta bằng đủ mọi mưu chước. Vì thế, chúng ta cần tỉnh táo và sáng suốt trước những thử thách, trước những lời mời mọc cám dỗ. Chúa dạy chúng ta cách chiến thắng ma quỷ là phải đoàn kết cậy dựa vào sức mạnh của Chúa, vì “Nước nào tự chia rẽ, sẽ diệt vong, và nhà cửa sẽ sụp đổ chồng chất lên nhau”.
Tâm hồn chúng ta ví như một ngôi nhà, mà “nhà sạch thì mát”. Nếu chúng ta để tâm hồn ô uế, vướng bận nhiều đam mê dục vọng và những thói hư tật xấu thì đó là môi trường thuận tiện để ma quỷ thống trị. Hãy dọn dẹp căn phòng nội tâm của mình bằng thái độ hoán cải mỗi ngày, bằng hy sinh, lời cầu nguyện và phải chiến đấu liên lỉ. Đức cố Hồng y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận cho chúng ta một kinh nghiệm sống với Chúa, người cho rằng “Khí giới của con người là nguyện ngắm, hy sinh, các bí tích, chuỗi Mân côi, tĩnh tâm...Đồng minh của con là Đức Mẹ, thánh Giuse, Thiên thần, thánh bổn mạng. Con chắc chắn thắng trận trừ khi con dần dần hạ khí giới và phản lại đồng minh của con” (Đường hy vọng, số 81).Thiên Chúa không thể cứu chúng ta được nếu chính chúng ta không thực sự có lòng khao khát, nếu chúng ta tự tách mình ra khỏi tình yêu của Chúa. Thiên Chúa không thể bước vào tâm hồn chúng ta được nếu cánh cửa lòng chúng ta luôn khép kín.
Thế giới hôm nay vẫn còn đó những thế lực xấu lôi kéo chúng ta sống xa lìa Thiên Chúa. Ma quỷ không hiện hình cho ta thấy nhưng nó ngấm ngầm ẩn sau tính tham lam ích kỷ, ẩn sau thói ươn hèn yếu đuối của con người. Chúng ta hãy khôn ngoan cậy dựa vào ơn Chúa để nhận ra đâu là ý Chúa, đâu là thói trá hình của ma quỷ mà có thái độ sống tích cực hơn. Hãy lắng nghe và thi hành lời thánh Phaolô khuyên dạy giáo đoàn Galata “những ai cậy dựa vào đức tin, thì họ là con cái của Abraham”, và họ được cứu rỗi theo như lời đã hứa. Quả thật, tin là điều kiện cần thiết để chúng ta đứng vững trước mọi gian nan thử thách, không thất vọng ngã lòng khi bị cám dỗ...
Chúa Giêsu đã đến để chiến thắng ma quỉ và tội lỗi, đồng thời Ngài cũng đòi hỏi những kẻ theo Ngài phải có một thái độ dứt khoát: "Ai không theo tôi, là chống tôi, và ai không cùng tôi thu góp, là phân tán". Hình ảnh người võ trang canh giữ nhà của mình là một lời mời gọi những kẻ theo Chúa biết hoàn toàn đặt tin tưởng, phó thác vào Ngài. Tìm một người hùng mạnh để canh giữ cho mình được an toàn thì có ai bằng Thiên Chúa; kiếm một nơi ẩn náu trước những tấn công của kẻ thù, thì có đâu vững chắc cho bằng núp bóng dưới cánh tay Ngài.
Chúng ta phải tìm nơi nương tựa mạnh mẽ, vững chắc, vì ma quỉ như sư tử luôn gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé, làm hại chúng ta. Một lần thất bại, nó không nản lòng, nó sẽ trở lại với một lực lượng hùng mạnh hơn. Bởi đó, chúng ta phải kiên trì trong lời cầu nguyện: "Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ". Cám dỗ là vũ khí ma quỉ dùng để đánh bại chúng ta, nhưng chúng ta vẫn không nao núng, nếu biết đứng vững trong đức tin để chống cự và biết ẩn núp dưới sự che chở của Chúa.
Thứ Bảy 27 Mùa Quanh Năm 2023
Ge 4:12-21; Tv 97:1-2,5-6,11-12; Lc 11:27-28
Cưu Mang Lời Chúa
Tin Mừng hôm nay thuật lại thái độ tôn kính của một người phụ nữ với Đức Giê-su.
Đang khi nghe Đức Giê-su giảng dạy thì một người phụ nữ đã thốt ra lời tôn vinh “mẹ của Đức Giê-su”. Bà ca ngợi người đã có diễm phúc cưu mang, sinh hạ và nuôi dưỡng Đức Giê-su. Trong tâm trí của người phụ nữ kia, Đức Giê-su thật là tuyệt vời bởi Người rất hiền lành, cư xử nhân hậu với hết mọi người, kể cả những người tội lỗi và dân ngoại. Lời giảng dạy của Người đầy uy quyền và các việc Người làm cho dân chúng, cho con cháu của Áp-ra-ham cũng đầy quyền năng; Người trổi vượt hơn các ngôn sứ đã được Thiên Chúa sai đến với dân It-ra-en, vì mọi bệnh tật Người đã chữa khỏi cho dân, Người xua trừ được cả ma quỷ và cho kẻ chết sống lại. “Phúc đức tại mẫu”, người phụ nữ kia xác quyết: Mẹ của Đức Giê-su ắt hẳn phải vui mừng, tràn ngập hạnh phúc và đáng được ca tụng. Nghe lời ca tụng của người phụ nữ về những phúc lộc của thân mẫu, Đức Giê-su lên tiếng đáp lại:”Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.”
Đức Giê-su không phủ nhận vị thế của Đức Maria trong cuộc đời trần thế của mình, nhưng qua Mẹ Maria, Đức Giê-su tuyên dương những người biết lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa để được cứu độ. Bởi Mẹ Maria đã biết lắng nghe lời của Thiên sứ trong biến cố truyền tin và người đã khiêm hạ thốt lên từ tận thâm sâu trong tâm hồn: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”. Từ đó trọn cuộc đời, Mẹ đã suy gẫm và thực thi lời sứ thần loan báo cũng như đón nhận mọi biến cố vui buồn cùng Con Chí Thánh của mình (như trong biến cố Dâng con trong đền thánh, hoặc biến cố lạc mất hài nhi trong đền thờ; nhất là trong cuộc tử nạn của Đức Giê-su, con chí ái của Mẹ).
Trình thuật Tin Mừng hôm nay nhắc nhớ người tín hữu việc lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa. Đây là điều kiện tất yếu để biến đổi đời sống cho phù hợp với Tin Mừng, và bảo đảm chắc chắn cho hạnh phúc đời đời của mỗi người.
Khi khởi đầu cho công trình cứu độ nhân loại, Đức Giê-su đã công khai loan báo: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Người cũng tâm sự với các môn đệ: “Ai yêu mến Thầy thì tuân giữ lời Thầy”. Khi đối thoại với ông Ni-cô-đê-mô, Đức Giê-su cũng mặc khải: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Gioan 3, 16); Người muốn nhân loại tin vào lời rao gảng của Người mà thực thi trong cuộc sống. Còn Đức Ma-ri-a, mẹ của Đức Giê-su cũng căn dặn những người giúp việc trong tiệc cưới ở Ca-na: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2, 5), họ đã làm theo như vậy, và phép lạ “nước lã hóa thành rượu ngon” đã xẩy ra. Sau khi Đức Giê-su về trời, thánh Gia-cô-bê Tông đồ cũng nhắc nhở các tín hữu việc đón nhận lời Thiên Chúa trong thư của ngài: “Anh em hãy khiêm tốn đón nhận lời đã được gieo vào lòng anh em; lời ấy có sức cứu độ linh hồn anh em” (Giacôbê 1, 21).
Tin Mừng hôm nay thuật lại lời Chúa Giê-su nói với một phụ nữ trong giữa đám đông dân chúng đang nghe Ngài giảng dạy rằng: “Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa” (Lc 11,28b). Mặc dù đám đông đang lắng nghe lời Chúa Giê-su giảng dạy. Nhưng nếu chỉ nghe mà thôi, thì chưa đủ để thật sự được hưởng hạnh phúc Nước Trời. Do đó, Chúa mời gọi họ cần phải biết tuân giữ lời đó nữa mới được hưởng phúc lành thật sự.
Đức Maria đáng ca ngợi và tự hào không chỉ bởi Mẹ đã cưu mang và sinh ra Đức Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa làm người mà còn vì Mẹ là người môn đệ đã lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa cách trọn hảo nhất. Trong thân xác con người, Mẹ được diễm phúc chia sẻ dòng máu nhân loại với Con Một Thiên Chúa. Trong đời sống thiêng liêng, Mẹ được cộng tác vào chương trình cứu độ của Ngôi Hai Thiên Chúa.
Như vậy, Mẹ thuộc về dòng dõi Vua Trời cả trong bản tính nhân loại lẫn trong ơn làm con cái Thiên Chúa. Cả cuộc đời Mẹ không chỉ dõi theo Đức Giêsu trên con đường thực hiện kế hoạch của Chúa Cha mà còn luôn bước từng bước trên con đường mà Con Mẹ đã đi. Dẫu bao thử thách, gian nan nhưng Mẹ vẫn luôn một niềm tín thác và kiên trì thực hiện ý muốn của Thiên Chúa. Chính vì thế, Đức Giêsu đã không cần công khai ca ngợi người Mẹ tuyệt vời ấy nhưng tất cả đều có thể nhận ra sự hiện diện của Mẹ trong lời của Ngài. Mẹ chính là người môn đệ đầu tiên và hoàn hảo nhất mà Đức Giêsu muốn giới thiệu cho mọi người. Không chỉ thực thi giới răn của Chúa trong những thời khắc đặc biệt nhưng là trong suốt cuộc đời, trong từng hơi thở nhịp sống của Mẹ.
Chúa Giêsu không có ý phủ nhận vai trò của Mẹ Maria trong việc cưu mang, sinh hạ và nuôi dưỡng Ngài; nhưng qua những lời trên đây, Ngài mạc khải mối tương quan sâu xa giữa Ngài và Mẹ Maria; mối tương quan ấy không chỉ dừng lại ở huyết nhục, nhưng hơn ai hết, Mẹ là người đã triệt để lắng nghe và giữ Lời Thiên Chúa: cả cuộc đời Mẹ, từ biến cố Truyền tin cho đến khi đứng dưới chân Thập giá, Mẹ đã đón nhận Lời Chúa, qua tiếng Xin Vâng.
Một đời sống đạo đức gương mẫu vẫn luôn là một hấp lực và tác động người khác hơn cả những gì được viết trong sách vở. Mẹ Maria đã nêu gương cho chúng ta trong việc lắng nghe và thực thi Lời Chúa. Ðó là mối phúc mà ai trong chúng ta cũng có thể đạt được. Ước gì chúng ta tìm được hạnh phúc trong việc cưu mang Lời Chúa: cưu mang bằng cách lắng nghe, đón nhận và tuân giữ, để rồi một khi Lời Chúa đã trở thành sức sống, chúng ta có thể đem sự sống đó đến cho những người xung quanh.
Huệ Minh 2023
8 tháng 10 năm 2023 Chúa Nhật 27 Mùa Quanh Năm A
Is 5:1-7; Tv 80:9-12,13-14,15-16,19-20; Pl 4:6-9; Mt 21:33-43
Trở nên tá điền tốt
Qua dụ ngôn những người tá điền nổi loạn chúng ta thấy ông chủ tượng trưng cho Thiên Chúa đã rào giậu và chăm sóc cho vườn nho của mình. Còn những tá điền nổi loạn chính là dân Do Thái, dân tộc đã được Thiên Chúa chọn lựa và trao ban cho muôn vàn hồng ân. Còn các đầy tớ được sai đến là các tiên tri. Nhờ các tiên tri mà Thiên Chúa biểu lộ thánh ý của Ngài cho họ, thế nhưng họ đã đối xử dã man và tàn bạo đối với những người được Thiên Chúa sai đến. Nào là đánh đập, nào là giết đi.
Sau cùng ông chủ đã phải sai phái chính người con trai duy nhất của mình đến với họ, để tỏ cho họ thấy lòng nhân từ thương xót vô biên của Ngài, nhất là sau những biến cố đáng buồn đã xảy ra. Người con duy nhất này là hình ảnh tượng trưng cho Đức Kitô, Đấng đã bị họ giết chết trên thập giá. Cái chết khổ đau này làm cho Ngài liên tưởng tới lời thánh vịnh 118: Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường, đó là việc Thiên Chúa đã làm và thực lạ lùng dưới mắt chúng ta. Tảng đá góc tường là nơi câu móc những bức tường của toà nhà, nó nắm giữ một vai trò, một vị trí rất quan trọng.
Cuối cùng Thiên Chúa đã phải bỏ rơi dân Do Thái, để chọn cho mình một dân riêng mới, đó là Giáo Hội, để đem lại cho Ngài nhiều hoa trái.
Câu chuyện trên cũng làm cho chúng ta nhớ tới hinh ảnh vườn nho của tiên tri Isaia. Vườn nho này được chủ hết sức chăm sóc với hy vọng sẽ có được những trái nho đặc biệt, thế nhưng kết quả lại hoàn toàn trái ngược, khiến cho chủ phải nổi giận: Còn việc gì nữa mà Ta đã không làm cho vườn nho của Ta. Ta mong ước có được những trái ngon trái ngọt, vậy tại sao nó chỉ cho toàn những trái chua trái dại?
Còn chúng ta thì sao? Phải chăng tâm hồn chúng ta chỉ là một cây nho cằn cỗi? Thiên Chúa cũng đã đổ xuống cho chúng ta biết bao nhiêu ơn lành hồn xác, thế mà con người chúng ta vẫn không thể đâm bông kết trái. Có lẽ chúng ta cần phải dừng lại, để hồi tâm xét mình, kiểm điểm lại cuộc sống, trước khi nó đã quá muộn.
Chúa trao cho nhân loại vườn nho của Ngài, vườn nho đã được Ngài chu đáo tạo mọi điều kiện để trổ sinh hoa lợi: Ngài đã rào giậu, xây bồn đạp nho, xây cả tháp canh… Ngài cho nhân loại canh tác, nhưng thay vì nộp hoa lợi cho chủ, chúng ta lại muốn chiếm đoạt cả vườn nho. Tất cả phải quy về Chúa, là nguồn gốc và là chủ mọi sự, chúng ta lại tự tiện sử dụng cho riêng mình, không nghĩ đến Chúa.
Chúng ta tưởng rằng chỉ có dân Do thái mới giết Chúa, còn chúng ta thì tốt. Nhưng không, chúng ta cũng phản bội, tiếp sức cho những người vô đạo, ủng hộ những hành động bạo lực, vô luân của thế gian. Nhiều người trong chúng ta đã sống như thánh Phao-lô đã nói: “như kẻ thù của thập giá”; chúng ta tôn thờ thân xác và nhục dục, chạy theo tiền của, chà đạp lương tâm. Phải chăng chúng ta cũng là những tá điền sát nhân?
Chúng ta đang ở vào một thời điểm quan trọng của một thời mới. Thời con người tiến bộ về khoa học, và muốn chiếm đoạt vương quyền của Thiên Chúa. Con người của thế kỷ hai mươi mốt này, đa số muốn loại trừ Thiên Chúa, làm như Thiên Chúa cản bước tiến của họ. Họ muốn trở thành “siêu nhân” và muốn giết chết Thiên Chúa. Người chủ trương mạnh mẽ nhất là một triết gia người Đức, Ông Frederic Nietzsche. Ông đã tuyên bố: “Thiên Chúa đã chết rồi!” Lạ thay! Thiên chúa vẫn sống, còn ông đã gởi thân vào ba tấc đất và chỉ còn là một bộ xương. Ảnh hưởng của phong trào này vẫn còn là một thách thức đối với chúng ta là những người tin Chúa.
Qua dụ ngôn ông chủ và các tá điền trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu muốn chúng ta cộng tác với Người tuỳ theo những nén bạc Chúa trao vì vậy mỗi người phải ra công làm việc để để sinh lời cho Nước Chúa là Giáo hôi, gia đình hay xã hội chúng ta. Noi gương Chúa Giêsu, Đấng làm việc liên liên lỉ theo thánh ý ChúaCha (Ga 5,17), đem lại ơn cứu độ cho con người, chúng ta, những người Kitô hữu, cũng ra công làm việc để mưu cầu hạnh phúc, giúp đỡ chia sẻ với người khác và thực thi thánh ý Thiên Chúa.
Mỗi người, tuỳ theo hoàn cảnh, địa vị và ơn ban riêng Chúa ban, phải làm việc và sinh ích lợi cho mọi người. Bậc làm cha mẹ thì lo làm tròn bổn phận của người làm cha làm mẹ, giữ gìn gia đình hạnh phúc. Kẻ làm con cái lo sao chữ đạo hiếu cho tròn. Người sống đời dâng hiến làm việc bằng cách tuân giữ kỷ luật tu trì và rao giảng Tin Mừng cứu độ hầu mưu ích cho các linh hồn và sáng danh Chúa.
Vậy ước gì qua Lời Chúa hôm nay, xin Chúa ban cho chúng ta được thấm nhuần tinh thần Kitô giáo, để công ăn việc làm của chúng ta trong đời sống thường ngày dù’ nhỏ hay lớn đều nêu cao tinh thần tương thân tương ái, và góp phần vào sự nghiệp chung là hoàn thành chương trình sáng tạo của Chúa. Xin Chúa giúp chúng ta biết siêng năng làm việc để chu toàn bổn phận sinh lợi cho Nước Chúa là làm sao cho Tin Mừng được mọi người biết đến, yêu thích và sống theo để mọi người cùng nhau xây dựng đức tin và hạnh phúc ngay đời này và đời sau.
by Huệ Minh 2023
Chúa Nhật Tuần XXVII Mùa Thường Niên Năm A-2020
Mt 21, 33-43
TRẢ LỜI VỚI CHÚA VỀ NHỮNG VIỆC MÌNH LÀM
Dụ ngôn những thợ vườn nho phản loạn thuộc vào loại các dụ ngôn Chúa dùng để tỏ lộ thân thế của Ngài là Đấng Thiên Sai. Dụ ngôn này cũng cho thấy sự cô đơn bi thảm của Chúa Giêsu, khi bị dân Ngài loại bỏ.
Như thường lệ Chúa Giêsu cấu tạo dụ ngôn từ các thực tại mà Ngài nghe thấy trước mắt. Trong xứ Galilêa thời ấy, những điền chủ bỏ tiền vào việc trồng nho. Họ giao cho thợ làm vườn nho trông coi rồi trả lương. Đôi khi họ đi vắng xa, chẳng hạn như ra nước ngoài, và để quan lý mùa màng, họ sai những đầy tớ đến với những người thợ làm vườn.
Theo luật Do Thái, nếu chủ một thửa đất chết đi mà không có người thừa kế, thì thửa đất ấy sẽ thuộc về người nào chiếm ngụ đầu tiên. Điều này làm cho chúng ta hiểu được lý luận của các thợ làm vườn nho: Đứa con thừa tự đây rồi, nào hãy giết nó đi và chúng ta sẽ chiếm được gia tài của nó.
Quả thực, người con thừa tự mà chết, đất sẽ thành vô chủ và thuộc quyền những kẻ cư ngụ.
Chúa Giêsu đã nói tới lòng tốt của ông chủ vườn nho không những sẵn sàng thuê mướn mọi người, nhất là những kẻ thất nghiệp, kém may mắn, mà còn trả công đồng đều cho cả những kẻ làm việc ít giờ nhất.
Ngài cũng đã nói tới những tá điền, là những người quản lý có trách nhiệm canh tác vườn nho để giao nộp hoa lợi cho chủ. Nhưng họ đã phản bội, đã đánh đập các sứ giả và đã giết chết chính người con của chủ. Để rồi, chủ đã phải lấy lại vườn nho mà trao cho người khác quản lý, tức là Giáo Hội.
Tiếc là có nhiều người không hiểu được điều Chúa nói nên đã chối bỏ quyền Chúa làm chủ đời mình. Vì xua đuổi Chúa nên ma quỷ đã xâm nhập cuộc đời họ. Có nhiều người đã bỏ tháp canh lương tâm nên không còn tỉnh thức trước những nguy cơ đe dọa tàn phá sự sống. Có nhiều người đã phá đổ những phên dậu kỷ luật, biến vườn nho tâm hồn thành bãi đất hoang mặc cho mọi người chà đạp, tàn phá. Có nhiều người đã bỏ quên bồn ép nho, không chịu làm việc, chỉ rong chơi ngày tháng nên cả cuộc đời tiêu tốn biết bao sự thương yêu, tiền bạc, công sức của cha mẹ, thày cô giáo, các bề trên trong Giáo Hội mà không sinh được hoa trái gì cho cuộc đời.
Qua dụ ngôn những người tá điền nổi loạn chúng ta thấy ông chủ tượng trưng cho Thiên Chúa đã rào giậu và chăm sóc cho vườn nho của mình. Còn những tá điền nổi loạn chính là dân Do Thái, dân tộc đã được Thiên Chúa chọn lựa và trao ban cho muôn vàn hồng ân. Còn các đầy tớ được sai đến là các tiên tri. Nhờ các tiên tri mà Thiên Chúa biểu lộ thánh ý của Ngài cho họ, thế nhưng họ đã đối xử dã man và tàn bạo đối với những người được Thiên Chúa sai đến. Nào là đánh đập, nào là giết đi.
Điều đáng buồn hơn nữa là cũng chẳng thiếu gì những tá điền, những người quản lý đã chiếm đoạt vườn nho Chúa làm gia nghiệp riêng của mình. Họ mặc sức khai thác tùy theo ý muốn, miễn sao có lợi cho mình. Không thiếu những kẻ chỉ lo rào dậu, xây tường và kiến tạo những bồn đạp nho, nhưng lại chẳng chăm sóc gì đến cây nho, khiến vườn nho Chúa mọc lên những cỏ dại và gai góc.
Sau cùng ông chủ đã phải sai phái chính người con trai duy nhất của mình đến với họ, để tỏ cho họ thấy lòng nhân từ thương xót vô biên của Ngài, nhất là sau những biến cố đáng buồn đã xảy ra. Người con duy nhất này là hình ảnh tượng trưng cho Đức Kitô, Đấng đã bị họ giết chết trên thập giá. Cái chết khổ đau này làm cho Ngài liên tưởng tới lời thánh vịnh 118: Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường, đó là việc Thiên Chúa đã làm và thực lạ lùng dưới mắt chúng ta. Tảng đá góc tường là nơi câu móc những bức tường của toà nhà, nó nắm giữ một vai trò, một vị trí rất quan trọng.
Chúng ta được trao phó cho mảnh vườn của Thiên Chúa, cha mẹ được Thiên Chúa trao phó cho một gia đình để chăm sóc; linh mục cũng được Thiên Chúa trao pho cho đoàn chiên; các người có trách nhiệm với dân tộc, với cộng đoàn giáo xứ, với các hội đoàn... đều là những người được Thiên Chúa trao phó vườn nho của Ngài. Cuộc sống này là vườn nho của Thiên Chúa và mỗi người chúng ta là những người làm vườn nho của Thiên Chúa.
Chính trong ý nghĩa nói trên mà câu chuyện dụ ngôn cũng là câu chuyện của đời thường và câu chuyện của ngày xưa cũng là câu chuyện của ngày hôm nay. Hàng ngũ lãnh đạo Do thái giáo ngày xưa đã loại trừ và đã giết chết Con Thiên Chúa, Đấng đã đến trần gian để chỉ cho họ con đường về Trời. Vụ án giết Con Thiên Chúa vẫn còn kéo dài qua mọi thời cho tới ngày hôm nay. Và lý hình giết con Thiên Chúa có thể là mỗi người chúng ta. Điều đó thật là đáng sợ.
Câu chuyện dụ ngôn Chúa Giêsu kể đã làm chột dạ những vị lãnh đạo DoThái giáo thời bấy giờ. Chuyện dụ ngôn này cũng đã ứng với nhiều triều đại vua chúa các nước trên thế giới. Chuyện dụ ngôn này cũng ứng với những chính phủ nắm giữ công quyền của các quốc gia. Và chuyện dụ ngôn này cũng đáng làm cho các vị mục tử giật mình tự kiểm.
Sẽ đến ngày chúng ta phải tường trình về công việc vườn nho mà Chúa đã trao phó. Sẽ đến ngày chúng ta phải dâng lên Chúa những thu hoạch hoa lợi mà Người trông đợi. Bội thu hay mất trắng là hoàn toàn do công việc chúng ta đang làm hôm nay. Đức Hồng Y Suhard đã nói: "Chúng ta chịu trách nhiệm về những điều chúng ta đã làm, đã không làm, hay đã cản trở không cho người khác làm".
Thứ Hai Tuần XXVII Mùa Thường Niên
Lc 10, 25-37
TÌNH YÊU KHÔNG BIÊN GIỚI
Mở đầu trang bài Tin Mừng hôm nay là câu hỏi của một vị luật sĩ. Không biết vì lý do nào khiến ngươì hỏi Chúa Giêsu một vấn đề mà lẽ ra ông phải thông suốt : “ Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời ?” Chúa Giêsu trả lời bằng hai câu hỏi : “ Luật viết gì ? ông đọc thế nào ?” (c.26) Chúa Giêsu muốn chính ông phải trả lời về câu hỏi ông đặt ra dựa trên luật mà ông đã nắm vững. Ở câu 27, ta thấy ông rất thuộc luật và Chúa Giêsu đã không phải trả lời hoặc sửa đổi, nhấn mạnh ở điểm nào cả :
“ Hãy yêu Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, hết trí khôn”( 27a) nghĩa là yêu Thiên Chúa với trọn vẹn con người gồm thân xác và linh hồn, tâm tư, trí lực. Nói tóm lại : hãy yêu Ngài với những gì bạn Có và bạn Là. Bên cạnh đó “ hãy yêu người thân cận như chính mình” ( 27b) nghĩa là hãy quí trọng người khác như thân thể mình vậy. Ông luật sĩ trả lời vanh vách, không ngập ngừng hay lúng túng đến nỗi Chúa Giêsu phải khen ông “Ông trả lời đúng lắm, và Ngài thêm một mệnh lệnh “ cứ làm như vậy sẽ được sống” ( c.28).
Tiếp theo đó là dụ ngôn người Samaria nhân hậu.
Và rồi ta thấy thánh sử Luca giới thiệu bằng một mệnh đề nói lên lý do vì sao Chúa Giêsu lại dùng dụ ngôn : “Ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý... Ai là người thân cận của tôi?” ( c.29). Đây là cách giảng dạy thông thường của Chúa Giêsu khi có một nguyên nhân thúc đẩy để Ngài nói lên một vấn đề, đúng hơn là một bài giáo huấn. Trong luật nói : Người thân cận.
Ở đây ông luật sĩ đựơc Chúa khen, nên ông tưởng minìh đã đi đúng đường. với tính tự cao tự mãn bộc lộ rằng : Mình có lý. Chúa Giêsu muốn ông xác định lại vấn đề ông hỏi và dẫn ông đi vào cái nhìn của Ngài về “ người thân cận” qua dụ ngôn. Ngài mở lời : Có một người từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-khô ... rơi vào tay kẻ cướp, bị trọng thương, mất hết của cải. Và kìa có thầy tư tế, thầy Lêvi đi qua đó, nhưng cả 2 ông đều tránh sang một bên. Lý do đơn giản : sợ ô uế. Một hình thức giữ luật vì luật. Họ sợ ô uế đến nỗi : thà để một con người chết đi, hy sinh vì luật. Luật đã khiến họ ra mù quáng ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân.
Chúa Giêsu đưa ra tiếp một hình ảnh người Samaria. Theo quan niệm Do Thái giáo, người Do Thái không tiếp xúc với người Samaria vì cho họ là dân ngoại. Nhưng ở đây, chính người ngoại này đã dừng lại. Cúi xuống băng bó vết thương và vực người bị thương lên lưng lừa, đưa về quán trọ. Thánh sử nói rõ : ông ta làm vì lòng thương (c 33). Chẳng những ông ấy băng bó rồi còn trao cho chủ quán tiền chữa chạy, nếu thiếu, trên đường về chính ông là người trả lại số tiền thiếu đó. c.35). Một hành vi cao thượng. Người Samaria này không nghĩ đến bản thân : túi tiền bị hao hụt, mất thời giờ, lỡ cơ hội vì chậm trể hoặc có nguy cơ chính mình sẽ bị cướp lột ngay trên quãng đướng vắng vẻ này. Hình như tình thương che phủ sợ hãi. Ông quên hết những điều đó mà chỉ chuyên chú một điều : chạy chữa cho nạn nhân.
Một dụ ngôn thật ứng dụng cho đời sống. Chúa Giêsu có biệt tài hướng dẫn những người thành tâm thiện chí nhận ra đường lối của Thiên Chúa. Ngài xoay lại câu hỏi của ông luật sĩ : ai là người thân cận của tôi thì nay sẽ là :ai đã tỏ ra là người thân cận ?...( c.36). Thật vậy, nhiều khi chúng ta đòi hỏi người khác phải trở thành “ thân cận” của mình, mà ta quên rằng : chính chúng ta phải là “ người thận cận” cho anh em. Người luật sĩ đã nhận ra vấn đề và trả lời: Người thân cận là người đã thực thi lòng thương xót với anh em đồng loại (c.37). Và Chúa Giêsu lại kết luận bằng cách nhắc lại một lần nữa mệnh lệnh của Ngài “ Hãy đi và làm như vậy” . Ông đã hiểu giờ chỉ còn thực hành mà thôi.
Trong cuộc sống hiện tại, có lẽ mỗi người không ít thì nhiều rất e dè khi giúp đỡ người khác, nhất là người đang lâm nạn, bởi vì “đầu không phải, phải tai” và có khi chính mình phải lãnh hậu quả do người khác gây ra chỉ vì lòng bác ái của mình. Nhưng chúng ta cũng đừng vịn vào cớ đó mà bàng quan trước đau khổ của người anh em, như thầy tư tế và thầy Lêvi xưa. Lòng bác ái không có ranh giới. nó phủ nhận mọi lý do ngay cả lỗi lầm, thiếu sót.
Chúa Giêsu muốn giáo huấn cho chúng ta về luật yêu thương. Người thông luật thực tâm muốn tìm hiểu về người thân cận là ai? Đối với Chúa Giêsu, người thân cận phải là người có lòng yêu mến, có tâm tình chia sẻ thương yêu mọi người, qua đó người thông luật biết vượt lên trên cái nhìn hạn hẹp của mình, để trở thành người thân cận, từ đó họ có cái nhìn thấu đáo, và trả lời với Chúa Giêsu với tấm lòng thành tâm của mình như sau: “Chính kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy” và Đức Giêsu đã bảo ông: “ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy”.
Hành động người Samari, Chúa đã cho mọi người hiểu rõ, giới hạn của tình yêu là vô biên, phát xuất từ sự tốt lành, nhân hậu, bác ái của ông quả đã minh chứng rõ ràng qua hành động yêu thương quá cụ thể, không chỉ chạnh lòng thương thôi, mà thể hiện bằng chính tấm lòng của mình: “nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác” (Lc 10, 35). Đây là hành động phát xuất từ tâm hồn hay trái tim của con người tràn đầy lòng nhân hậu và yêu thương. Ông đã thể hiện đức ái không chỉ trong lời nói mà còn trong chính việc làm của mình.
`Có thể người đời cho rằng người Samari thích làm chuyện bao đồng, hay thích “vác tù và hàng tổng”, nhưng chính lòng nhân hậu của họ đã được Thiên Chúa thương yêu. Họ xứng đáng làm môn đệ của Người, cho dù họ là những người khố rách áo ôm, bần cùng trong xã hội. Chúng ta đều mắc nợ nhau với tha nhân, nhưng còn món nợ đời đời phải trả đó là lòng yêu thương Chúa luôn dành cho ta. Từ đó, mỗi người chúng ta tìm thấy được chính lòng mến Chúa và yêu người là kim chỉ nam cho ta đi tìm sự sống vĩnh cửu ở quê trời.
Trong cuộc sống có biết bao cảnh ngộ bi thương đau đớn, vẫn còn đâu đó những người vô cảm, lạnh lùng, không có lòng thương xót. Chúa Giêsu nhắc nhở: “Ta bảo thật các ngươi; mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi làm cho chính Ta” (Mt 26, 45). Như vậy, người thân cận của tôi không chỉ hạn hẹp trong nhận thức là những người tôi quan biết, gần gũi, yêu thương, mà Chúa đã chỉ cho tôi thấy người thân cận chính cả tất cả mọi người chung quanh nữa.
Qua dụ ngôn người Samari, Chúa cũng dạy cho mọi người biết giới hạn của tình yêu thương là không biên giới, dụ ngôn khác hẳn bởi người thông luật chỉ yêu thương trong phạm vi luật buộc, hay luật định,
Thứ Ba Tuần XXVII Mùa Thường Niên
Lc 10, 38-42
ĐỪNG LĂNG XĂNG QUÁ
Cuộc sống văn minh hiện đại ngày càng cuốn con người vào cơn lốc hoạt động dồn dập và dồn dập, lắm lúc tưởng chừng như muốn ngộp thở. Những khác biệt về công việc, thu nhập, vị trí, trách nhiệm, những thay đổi…làm cho mỗi người dễ rơi vào tình trạng so sánh, cảm thấy không hài lòng, bất an…Điều đó làm cho cuộc sống con người trở nên mất cân bằng, dễ rơi vào tình trạng căng thẳng mà ngày nay hôm bao giờ hết người ta hay nói nhiều đến từ stress.
Trang Tin Mừng hôm nay kể về câu chuyện của hai chị em Mácta và Maria trong tương quan với Chúa Giêsu, thiết tưởng nên suy nghĩ một chút về sự dung hòa giữa những xao động cuộc sống và sự “ngồi bên chân Chúa” của người môn đệ Chúa Giêsu. Làm sao dung hòa giữa việc cầu nguyện và đời sống hoạt động tông đồ, nhất là bối cảnh xã hội hiện đại với những thách thức đố và cám dỗ của một cuộc sống luôn biến động thật đa dạng và thật hấp dẫn? Cầu nguyện và hoạt động như 2 trục chính của bánh xe, làm sao dung hòa “bánh xe” vận hành của đời người một cách hiệu quả? Vòng bánh xe này không khéo sẽ bị phình - xẹp không thể vận hành tốt trong hành trình đức tin của người Kitô hữu.
Việc lắng nghe lời Chúa được hướng đến hành động và hành động cần được nuôi dưỡng bởi lời Chúa. Ðây là hai khía cạnh của mối phúc thật: lắng nghe và tuân giữ lời Chúa. Mối phúc thật này đã được Chúa Giêsu tuyên bố khi Ngài trả lời với người nữ từ trong dân chúng cất tiếng chúc tụng mẹ, cũng như trả lời cho những kẻ báo tin cho Chúa biết là có mẹ và anh em Chúa đang chờ, thì lúc đó Chúa Giêsu trả lời: "Nhưng phúc thật cho những ai lắng nghe lời Chúa và tuân giữ lời ấy; những kẻ đó mới là mẹ Ta và anh em Ta".
Hai chị em Mácta và Maria nhắc nhở cho cộng đoàn Kitô cũng như cho mọi người Kitô thuộc mọi thời đại về hai thái độ luôn bổ túc cho nhau, để tiếp nhận nước Chúa được hiện diện nơi chính Chúa Giêsu Kitô. Không phải chỉ cầu nguyện chiêm niệm không mà thôi; cũng không phải chỉ có hoạt động vì hoạt động. Nhưng chiêm niệm và hoạt động phải là hai chiều kích hòa hợp với nhau của cùng một trách vụ, đây là hai yếu tố không thể nào thiếu vắng của việc theo Chúa.
Trong những hoàn cảnh cụ thể và tùy theo mỗi hoàn cảnh cụ thể, mà người đồ đệ của Chúa thực hiện việc hòa hợp cụ thể này giữa cầu nguyện và hoạt động. Thật là sai lầm to nếu ta muốn canh tân xã hội mà không cần cầu nguyện, nghĩa là không cần lắng nghe lời Chúa, không đối thoại với Ngài. Ðể hoạt động của chúng ta có thể trổ sinh kết quả, người đồ đệ của Chúa cần dành thời giờ im lặng để lắng nghe lời Chúa và đối thoại với Ngài. Trong ý nghĩa này, chiêm niệm là phần tốt hơn mà Maria đã chọn, nhưng không phải là phần tách rời ra khỏi việc làm, không ăn thua gì đến việc làm. Ðức tin chúng ta phải là đức tin có sức tác động qua đức bác ái, đàng khác cầu nguyện không làm cho người đồ đệ xa lạ với cuộc sống và những vấn đề của con người. Nhưng ngược lại, cầu nguyện làm cho người đó được thêm sức mạnh để hoạt động biến đổi xã hội, ngõ hầu Thiên Chúa được tôn vinh và con người được hạnh phúc.
Kinh nghiệm về đời sống sinh lý của từng cá thể, từng hơi thở: “hít vào –thở ra” của nội tại, cần thiết lắm phải có một sự quân bình nhất định để ít ra là kềm giữ một trạng thái bình yên cho tâm thức, và như thế mới giữ thân xác khỏe mạnh.
Kinh nghiệm sống đạo cũng thế, chỉ có thể yêu thương tha nhân như bản thân mình một khi họ biết bám rể sâu trong đời sống cầu nguyện, vì những ai ở trong Giêsu và Giêsu ở trong họ, họ có thể toát lên một sức thuyết phục kỳ lạ “hữu xạ tự nhiên hương”. Một khi nền tảng chiều sâu nội tâm hời hợt, thật khó có thể yêu thương và sống hòa hợp với tha nhân một cách chân thành.Vì thế, rất cần thiết cho người tông đồ thường xuyên nhìn lại những hoạt động phục vụ tông đồ: phục vụ vì mục đích gì? Kinh doanh? đánh bóng tên tuổi? vì chính đối tượng phục vụ hay bản thân v. v…?
Hẳn ta còn nhớ trong một bài nói chuyện với các nữ tu của một Dòng Kín tại Mêhicô năm 1979, Ðức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đề cao sự hy sinh của họ như sau:
"Cuộc sống của chị em quan trọng hơn bao giờ hết; sự hiến thân trọn vẹn của chị em đầy tính thời sự. Trong một thế giới đang đánh mất dần ý thức về thần linh, trong một thế giới đề cao quá mức những thực tại vật chất, hỡi các nữ tu thân mến, các chị lại dấn thân vào các tu viện Kín để làm chứng cho những giá trị mà các chị sống cho. Các chị là những chứng nhân của Chúa cho thế giới ngày nay; với lời cầu nguyện, các chị đang thổi một luồng sinh khí mới vào trong Giáo Hội và con người ngày nay".
Những lời của Ðức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II không chỉ đề cao chứng từ của các Tu sĩ chiêm niệm, mà còn nhắc nhở cho các Kitô hữu về chính chứng từ của sự cầu nguyện của họ. Có những người hiến thân trọn vẹn cho sự cầu nguyện, nhưng cầu nguyện không phải là độc quyền của một số người, mà phải là hơi thở cho tất cả những ai có niềm tin. Có những giây phút dành cho việc cầu nguyện đã đành, nhưng người Kitô hữu phải sống thế nào để biến cả cuộc sống của họ thành lời cầu nguyện. Chiêm niệm không chỉ là hoạt động dành riêng cho một số người hay một số giờ hoặc một số nơi nhất định. Chiêm niệm chính là thái độ tìm kiếm, lắng nghe và suy niệm bao trùm mọi sinh hoạt của người Kitô hữu.
Trở lại một chút với trang Tin Mừng, ta thấy động thái “ngồi” trong Kinh Thánh rất giàu ý nghĩa: ngồi là thái độ của bậc tiến sĩ và thầy dạy; ngồi cũng là thái độ của người lắng nghe; đó cũng là thái độ của con người chiêm niệm và cầu nguyện; ngồi còn là tư thế hồi tâm, phản tỉnh chính mình và chiêm ngắm Chúa. Trong khung cảnh tiếp đón Chúa của hai chị em Mácta và Maria thì tư thế ngồi bên chân Chúa của Maria là để được ở với Chúa, được cận kề bên Chúa, được tiếp chuyện với Chúa, được nghe Chúa nói, mong muốn nhận được lời giáo huấn của Người. Đó là phần tốt nhất mà suy cho cùng đối với con cái của Thiên Chúa thì không có gì hạnh phúc và sung sướng cho bằng được ở với Chúa và nên một với Người.
Cô Mácta đã có thái độ không bằng lòng khi cô Maria chỉ biết ngồi bên chân Chúa mà không màng chi đến những việc làm tất bật của mình. Cô Mácta xem ra quá băn khoăn và lo lắng những chuyện không phải là phần tốt nhất. Có lẽ điều đó cũng phần nào phản ánh thái độ sống của mỗi người chúng ta. Điều cần thiết và cái phần tốt nhất thì ta lại không chọn lựa, nhưng lại tiêu tốn thời gian và loay hoay vào những thứ phù phiếm vô bổ, không đem lại lợi ích thiêng liêng cho bản thân và tha nhân.
thứ Tư tuần 27 mùa TN
7 tháng 10.. lễ
Lễ Mân Côi
LÊN TRỜI VỚI MẸ BẰNG TRÀNG CHUỖI MÂN CÔI
Trong số các lễ nhớ Đức Maria, ngoài lễ Đức Mẹ Lộ Đức và lễ Đức Bà Camêlô, còn có lễ Đức Mẹ Mân Côi, do Đức Giáo Hoàng Gregorio XIII thành lập năm 1573. Nhưng để biết nguồn gốc của lễ này trước hết phải tìm hiểu lịch sử Kinh Mân Côi "Rosario". Từ Rosario phát xuất từ chữ Latinh "Rosarium" có nghĩa là vườn hồng, khóm hồng, tràng hoa hồng, hoặc chuỗi hoa hồng, và cũng còn gọi là Kinh Mân Côi.
Sở dĩ gọi là "chuỗi hoa hồng" hay "tràng hoa hồng" là vì nó bao gồm nhiều hạt. Mỗi một hạt là một kinh Kính Mừng. Khi đọc nó giống như một đóa hồng tín hữu dâng kính Mẹ Thiên Chúa. Rồi nó cũng được gọi là Kinh Mân Côi, vì Mân là tên của một loại ngọc, Côi là một thứ ngọc tốt, ngọc quí lạ. Kinh Mân Côi là "Kinh Ngọc", là "chuỗi ngọc Mân và ngọc quí lạ". Mỗi một kinh Kính Mừng dâng lên Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, Đấng đầy ơn phước, Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội, là ngọc Mân, ngọc đẹp quí lạ tín hữu dâng lên Đức Trinh Nữ Maria.
Lễ Đức Mẹ Mân Côi trước kia người ta ít lưu tâm đến, nhưng từ khi Đức Mẹ ban ơn lạ lùng cho Đạo Binh Thánh Giá chiến thắng quân Thổ Nhĩ Kỳ ở Lépante vào năm 1571, Đức Thánh Cha Piô V đã cho phổ biến lễ này một cách rộng rãi trong Hội Thánh toàn cầu. Đức Thánh Cha Lêô XIII đã giải thích tầm quan trọng của lễ Mân Côi trong rất nhiều thông điệp Ngài ban bố. Đến nay, người Kitô hữu trên toàn thế giới đã mừng lễ này cách rất sốt sắng và tôn kính đặc biệt đối với lễ Mân Côi.
Mẹ Maria với hai tiếng xin vâng đã góp tay vào công cuộc cứu chuộc của Chúa Giêsu và hiến thân trọn vẹn cho Thiên Chúa.Thánh lễ Mân Côi cũng nối kết những biến cố lớn trong cuộc đời Chúa Giêsu: "Nhập Thể, Khổ Nạn và Phục Sinh".
Hôm nay, chúng ta mừng kính Mẹ Maria với tước hiệu Mẹ Mân côi. Sở dĩ có ngày lễ hôm nay vì có liên hệ đến một biến cố trong lịch sử Giáo Hội. Ngày 7-10-1571, vua Hồi Giáo mang đại quân hướng về La Mã và thề hứa sẽ biến đền thờ Thánh Phêrô thành một chuồng ngựa. Đạo binh Công giáo đã ra nghênh chiến trong khi ở hậu phương giáo dân lần chuỗi Mân Côi cầu xin với Đức Mẹ.
Và đúng như lời "xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Đức Mẹ mà Đức Mẹ từ bỏ chẳng nhậm lời" đã ứng nghiệm, với quân số ít ỏi và khí giới tồi tàn, người công giáo đã thắng trận vẻ vang trước đoàn quân Hồi giáo đông đảo và trang bị hùng hậu. Để ghi ơn Đức Mẹ, Đức Giáo Hoàng Piô V đã thiết lập lễ kính Đức Mẹ Mân Côi. Tuy nhiên, ngày nay Giáo hội không kêu gọi chúng ta nhớ lại một biến cố xa xưa cho bằng mời gọi chúng ta khám phá ra vị trí của Đức Maria trong mầu nhiệm cứu rỗi và nhắc nhở về vai trò của Kinh Mân Côi trong đời sống của người tín hữu kitô chúng ta.
Thật vậy, khi chương trình sáng tạo đầu tiên của Thiên Chúa bị tội lỗi con người làm cho đổ vỡ, thì nay Thiên Chúa thay thế bằng một chương trình mới, khởi đi từ một cuộc gặp gỡ và trao đổi giữa thần sứ Gabriel với cô thôn nữ Maria. Như bao cô gái nhà quê khác, Maria cũng từng ấp ủ những mộng ước, những dự phóng thật bình thường cho đời mình.
Nhưng Thiên Chúa đã xen vào, đã khuấy động đời cô và đã làm thay đổi tất cả. Với lời thưa "Xin vâng" thật đơn sơ cô đã trở thành Mẹ của Đấng Cứu Thế, và trở nên người đầy ân phúc. Đầy ân phúc không chỉ vì Chúa đã chọn Mẹ, nhưng còn vì Mẹ đã luôn chọn đứng về phía Thiên Chúa, lấy Ý Chúa làm ý của mình, luôn cố gắng để cho chương trình của Ngài thành hiện thực. Mẹ đẹp lòng Chúa không vì những thành đạt vĩ đại, mà chỉ đơn giản là xin vâng với tất cả con người bé mọn của kiếp làm người mà Mẹ được Chúa ban. Nhờ đó, Mẹ trở nên như mẫu gương, như người hướng dẫn và như sự nối kết những tâm hồn thành tâm kiếm tìm, lắng nghe và thực thi Thánh Ý của Thiên Chúa.
Ta thấy thánh ý của Chúa dược thực thi trên đời Mẹ từ lời Mẹ thưa lời in vâng. Và rồi khi lần hạt Mân là ta cùng dừng lại để tóm cả Tin Mừng và suy gẫm. Đây là kinh nguyện đầy nét Thánh Kinh được tập trung vào mầu nhiệm Nhập Thể cứu chuộc, chuỗi Mân Côi hướng rõ ràng về Đức Kitô. Thật vậy, kinh kính mừng là lời ca tụng Đức Kitô không ngừng: Kính chào bà đầy ơn phúc và con lòng bà gồm phúc lạ.
Kinh lạy cha là kinh chính Chúa Giêsu dạy để các tông đồ và người tín hữu biết cầu nguyện. Các ngắm vui, thương mừng, sáng diễn tả cô đọng mầu nhiệm của Chúa Giêsu từ khi sinh ra cho tới khi hoàn tất chương trình cứu độ và các ý nguyện giúp người đọc sống theo gương Chúa Giêsu. Kinh sáng danh là lời vinh tụng ca tuyên xưng một Chúa Ba Ngôi cả sáng: Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần.
Cuối cùng, kinh Mân Côi là kinh dễ thực hành cho mọi tín hữu trong mọi hoàn cảnh phù hợp cho một em bé cũng như cho cả Đức Giáo Hoàng. Đức chân phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chia sẻ kinh nghiệm của Ngài trong việc thực hành kinh Mân Côi được trích trong tông huấn Rosarium Virginis Mariae như sau: "Chuỗi Mân Côi là lời kinh tôi yêu thích nhất. Đó là lời kinh tuyệt diệu trong đơn sơ và trong sâu thẳm của nó ...Đã bao nhiêu năm qua, tôi đã lãnh nhận không biết bao nhiêu ân sủng từ Đức Trinh Nữ nhờ kinh Mân Côi".
Khi lần chuỗi Mân Côi cùng với lời kinh Kính Mừng Maria được lặp đi lặp lại như một điệp khúc vui, chúng ta được mời gọi đi vào tâm tình của Mẹ Maria, dọc theo những biến cố của cuộc đời của người Con yêu dấu: những tâm tình khiêm nhu, nghèo khó, yêu thương, vâng phục, tín thác... Đây là những giá trị của Tin Mừng. Chúng ta phải quay về với Tin Mừng, phải đọc lên trong lòng bản hiến chương Nước Trời, nơi đó, những kẻ nghèo khóc, hiền lành, đau khổ, trong sạch, biết xót thương, biết xây dựng hòa bình... được công bố là kẻ có phúc, là con Thiên Chúa, là kẻ chiếm lãnh Nước Trời.
Chỉ khi đó, chúng ta mới hiểu được cuộc đời của Đức Maria, mới nhận ra vẻ đẹp sáng ngời vốn chỉ là tăm tối đối với thế gian. Lần chuỗi Mân Côi là cùng với Đức Maria và qua Ngài thêm một lần xác tín lại hằng ngày những giá trị của Tin Mừng, những giá trị mà tất cả những ai xưng mình là môn đệ Đức Kitô không thể không biết đến và lấy làm lẽ sống cho đời mình.
Nói rằng chuỗi Mân Côi là kinh Tin Mừng, ngay lập tức chúng ta đi đến hệ luận: không thể lần chuỗi Mân Côi cách máy móc và chỉ chú trọng đến số lượng. Bởi một lẽ đơn giản và minh bạch là Tin Mừng không chấp nhận thái độ đó. Chính Chúa Giêsu đã nói: "Khi cầu nguyện thì các ngươi chớ lãi nhãi như người ngoại. Họ tưởng hễ nói nhiều thì sẽ được nhận lời" (Mt 6,7). Thái độ phải có là lần chuỗi Mân Côi với tinh thần của Tin Mừng, cũng chính là tâm tình của Đức Maria: "Người giữ kỹ mọi điều ấy và hằng suy đi nghĩ lại trong lòng" (Lc 2,19; 2,51). Đó là biết lắng nghe Lời Chúa, suy niệm và thi hành.
Và riêng chúng ta, nếu ngay từ bây giờ chúng ta siêng năng lần hạt, thì phần rỗi của chúng ta sẽ được bảo đảm chắc chắn như lời Mẹ đã nói về cậu bé Phanxicô tại Fatima như sau: Phanxicô sẽ được lên thiên đàng nhưng phải lần hạt thật nhiều trước đã.
Thứ Năm tuần 27 Mùa TN.
Gl 3,1-5; Lc 11,5-13
HIỆU LỰC LỜI CẦU XIN
Cầu nguyện và xin ơn là một nhu cầu thiết yếu của người Ki-tô hữu, vì khi cầu nguyện sẽ liên kết mỗi chúng ta với Thiên Chúa là nguồn sự sống, giúp chúng ta biết được ý Chúa muốn ta làm gì, cầu nguyện nói lên một tâm hồn đơn sơ, khiêm tốn của người môn đệ Chúa Giêsu. Hơn nữa, cầu nguyện còn xác tín niềm tin tưởng và sự phó thác hoàn toàn của mình vào Thiên Chúa, đồng thời kêu xin Chúa ban cho ta những ơn cần thiết. Chính vì thế, Chúa Giêsu đã khuyến khích và thúc giục chúng ta hãy cầu xin: “ Cứ xin sẽ được, cứ tìm sẽ thấy, cứ gõ cửa sẽ mở cho” (Lc 11, 9).
Một lời kêu mời tha thiết “ cứ xin”, “cứ tìm”, “cứ gõ”, qua đó cũng nói lên rằng phải rất kiên trì. Để chứng minh Chúa Giêsu đã đưa ra một ví dụ dạy chúng ta phải biết kiên trì với Thiên Chúa trước những nhu cầu cần thiết. Gương người bạn đến gõ cửa nhà bạn mình để xin được giúp đỡ. Người đời dù quen hành động theo lý do ích kỷ, thế mà cũng phải chịu thua sự kiên trì của người xin. “ Huống chi” Thiên Chúa vốn là người Cha nhân lành, luôn đối xử với chúng ta theo tình thương, Ngài mang trong mình bản chất nhân hậu và giàu ân sủng, Ngài rất vui thích ban mọi ơn lành và nhưng không cho con người. Bởi thế, nếu chúng ta kiên trì cầu xin với Thiên Chúa, thì chắc chắn sẽ được nhận lời.
Thế nhưng, nhiều người trong chúng ta lại thắc mắc đã cầu xin với Chúa mãi, mà không được nhận lời. Biết bao những mơ ước, những khó khăn, cả những thất bại trong cuộc đời đều trao dâng cho Thiên Chúa, nhưng vẫn chẳng thấy Chúa đâu. Chính những lúc đó không ít người trong chúng ta lại đâm ra chán nản, nghi ngờ vào sự hiện diện và tình yêu thương của Thiên Chúa
Đôi khi chúng ta cầu xin một ơn gì mãi mà không được Chúa ban cho, chẳng được ơn như ý mình xin, và rồi từ đó chúng ta đã hoài nghi ngay chính sự hiện diện của Thiên Chúa nữa. Trong đoạn Tin Mừng của Thánh sử Luca chương 11 câu 5 đến câu 13 hôm nay. Chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta hãy kiên trì cầu nguyện, và luôn vững tin Thiên Chúa hiện diện trong cuộc đời của mỗi người chúng ta. Chúng ta hãy tin tưởng và phó thác cuộc đời của chúng ta trong sự quan phòng của Thiên Chúa, Người luôn che chở gìn giữ chúng ta.
Vì Thiên Chúa là Đấng hay thương xót, Người không muốn cho con người đã được Người tạo dựng nên phải khốn khó. Chúa muốn chúng ta kiên tâm cầu nguyện là Chúa muốn chúng ta được mọi điều tốt đẹp. Ngoài ra Ngài còn muốn dạy chúng ta được biết, chúng ta phải ý thức sâu xa hơn về thân phận mình yếu hèn và bất lực của kiếp con người. Có nhận ra thân phận mình yếu đuối như thế con người mới khiêm tốn tin yêu vào Thiên Chúa, và đón nhận ơn Chúa ban chứ không phải do công trạng của mình.
Quả thực, lời cầu xin hằng ngày cũng là một thách đố lớn cho mỗi người chúng ta, không phải lúc nào chúng ta cũng đón nhận một kết quả mau lẹ như ý muốn. Thế nên, lại một lần nữa Chúa mời gọi chúng ta hãy kiên trì trong cầu nguyện. Thực vậy, trong bất cứ lãnh vực nào của cuộc sống con người, ai tập được tính kiên trì người đó kể như đã thành công. Trong đời sống thiêng liêng cũng vậy, và còn hơn thế nữa, bởi suốt đời người Kitô hữu phải kiên trì cầu nguyện và tập luyện nhân đức mới mong sống gắn bó mật thiết được với Thiên Chúa.
Cũng như thân xác không thể sống và phát triển được nếu con người không ăn uống, thì cũng thế, linh hồn con người không thể sống nếu không có cầu nguyện. Đặc biệt khi cầu nguyện phải xác tín rằng: Thiên Chúa là Cha nhân từ luôn yêu thương chúng ta, Ngài có làm cho chúng ta được toại nguyện hay không, hoặc Ngài nhận lời chúng ta theo cách nào thì cũng đều là vì lợi ích cho linh hồn chúng ta mà thôi.
Nên khi cầu nguyện chúng ta hãy đến với Chúa với tấm lòng khiêm nhường hạ mình. Hãy trình bày cho Chúa tất cả những ưu tư, gánh nặng của mỗi người chúng ta như người con nhỏ bé đến với cha mình, và tin tưởng đón nhận những gì Thiên Chúa cho là tốt đối với chúng ta nhất.
Chúa Giêsu dạy chúng ta cầu nguyện và cầu nguyện kiên trì. Thiên Chúa không là Đấng sợ bị quấy rầy. Ngài luôn lắng nghe chúng ta trong từng giây từng phút. Mỗi lời cầu xin, mỗi nhu cầu của chúng ta đều được Chúa lắng nghe với tất cả lòng yêu thương, trân trọng. Thật ra, trước khi chúng ta kêu xin, Chúa đã biết rõ nhu cầu của chúng ta và Ngài ban ơn trước khi chúng ta cầu xin. Chúng ta cầu nguyện và cầu nguyện luôn vì lời cầu nguyện làm gia tăng lòng tín thác vào Thiên Chúa và đó chính một ân ban cao cả mà Thiên Chúa muốn giành cho chúng ta. Thiên Chúa có chương trình cho mỗi người. Hãy cầu nguyện cho chương trình ấy được thực hiện, để trong mọi sự Danh Chúa được cả sáng, ý Chúa được thể hiện.
Qua sứ điệp Tin Mừng ta suy niệm hôm nay. Chúa Giêsu đã dạy cho ta biết Thiên Chúa là Cha hằng yêu thương chúng ta là con cái của Ngài. Thiên Chúa luôn biết cần gì và Người luôn ban cho chúng ta những điều tốt nhất. Ta hãy luôn tin tưởng và kiên tâm cầu xin “vì hễ ai xin thì sẽ nhận được” (Lc 5,10).
Thứ Sáu tuần 27 Mùa TN.
Thánh Điônixiô, Gm và các bạn tử đạo.
Thánh Gioan Lêônarđô, Lm.
Gl 3,7-14; Lc 11,15-26
QUYỀN NĂNG CỦA CHÚA
Trình thuật Tin mừng theo thánh Luca hôm nay khẳng định cho chúng ta thấy sức mạnh và quyền năng của Thiên Chúa. Với vai trò là Đấng Mesia, Chúa Giêsu mạc khải rõ sứ mệnh của Ngài là đến thế gian để giải thoát chúng ta khỏi ách thống trị của ma quỷ và tội lỗi, cho chúng ta được ơn cứu độ.
Trong suốt ba năm rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đồng thời cũng xuất trừ ma quỷ và chữa mọi bệnh tật của con người. Hôm ấy, khi thấy Đức Giêsu chữa một người bị quỷ ám, đám đông dân chúng vô cùng ngưỡng mộ trước quyền năng vô song của Ngài, nhưng có một số người tỏ ra cứng lòng tin, họ phủ nhận quyền năng ấy và cho rằng Ngài đã nhờ sự trợ giúp của tướng quỷ Bêelgiêbút.
Chúa Giêsu liền khẳng định cho họ biết sức mạnh và quyền năng của Thiên Chúa là vô biên có khả năng tiêu diệt được ma vương quỷ thần. Sức mạnh ấy phát xuất từ tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chỉ cần kêu lên danh xưng Giêsu thì mọi tạo vật, mọi đầu gối phải sụp xuống thờ lạy. Danh xưng ấy có sức công phá mọi bức tường ngăn cách, có sức hủy hoại mọi thế lực quỷ thần, đẩy lui bong tối của sự dữ. Danh xưng ấy xuyên thấu tâm hồn con người khiến mọi miệng lưỡi đều cất tiếng ngợi khen.
Đứng trước quyền năng và vinh quang của Thiên Chúa, con người chúng ta không đáng bằng hạt bụi nhỏ bé,còn quỷ thần chỉ như sợi tơ nhện mong manh. Trí khôn của chúng ta hạn hẹp chẳng bao giờ suy thấu. Bởi vì trước một tình yêu bao la ấy mọi lý luận đều trở nên vô nghĩa, mọi tư duy đều giới hạn. Chúng ta được mời gọi hãy mở rộng con tim yêu mến để đón nhận hồng ân đức tin, mở rộng tâm hồn để đón nhận những ân ban huyền diệu. Và ngay cả lúc chúng ta nhận ra tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa, đó cũng là hồng ân không phải tự sức chúng ta làm được nếu không có ơn sủng của Chúa soi sáng cho.
Chúa Giêsu còn cho ta biết ma quỷ là kẻ thù rất mạnh thế, chúng luôn tìm cách lôi kéo trói buộc chúng ta bằng đủ mọi mưu chước. Vì thế, chúng ta cần tỉnh táo và sáng suốt trước những thử thách, trước những lời mời mọc cám dỗ. Chúa dạy chúng ta cách chiến thắng ma quỷ là phải đoàn kết cậy dựa vào sức mạnh của Chúa, vì “Nước nào tự chia rẽ, sẽ diệt vong, và nhà cửa sẽ sụp đổ chồng chất lên nhau”. Tâm hồn chúng ta ví như một ngôi nhà, mà “nhà sạch thì mát”.
Chúa Giêsu đã chiến thắng ma quỉ và tội lỗi, đồng thời Ngài cũng đòi hỏi những kẻ theo Ngài phải có một thái độ dứt khoát: "Ai không theo tôi, là chống lại tôi, và ai không cùng tôi thu góp, là phân tán"(Lc 11,23). Hình ảnh người võ trang canh giữ nhà của mình là một lời mời gọi những kẻ theo Chúa hãy biết hoàn toàn đặt tin tưởng, phó thác vào Ngài. Tìm một người hùng mạnh để canh giữ cho mình được an toàn thì có ai bằng Thiên Chúa; kiếm một nơi ẩn náu trước những tấn công của kẻ thù, thì có đâu vững chắc cho bằng núp bóng dưới cánh tay Ngài.
Nếu chúng ta để tâm hồn ô uế, vướng bận nhiều đam mê dục vọng và những thói hư tật xấu thì đó là môi trường thuận tiện để ma quỷ thống trị. Hãy dọn dẹp căn phòng nội tâm của mình bằng thái độ hoán cải mỗi ngày, bằng hy sinh, lời cầu nguyện và phải chiến đấu liên lỉ. Đức cố Hồng y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận cho chúng ta một kinh nghiệm sống với Chúa, người cho rằng “Khí giới của con người là nguyện ngắm, hy sinh, các bí tích, chuỗi Mân côi, tĩnh tâm...Đồng minh của con là Đức Mẹ, thánh Giuse, Thiên thần, thánh bổn mạng. Con chắc chắn thắng trận trừ khi con dần dần hạ khí giới và phản lại đồng minh của con” (Đường hy vọng, số 81).
Thiên Chúa không thể cứu chúng ta được nếu chính chúng ta không thực sự có lòng khao khát, nếu chúng ta tự tách mình ra khỏi tình yêu của Chúa. Thiên Chúa không thể bước vào tâm hồn chúng ta được nếu cánh cửa lòng chúng ta luôn khép kín.
Thế giới hôm nay vẫn còn đó những thế lực xấu lôi kéo chúng ta sống xa lìa Thiên Chúa. Ma quỷ không hiện hình cho ta thấy nhưng nó ngấm ngầm ẩn sau tính tham lam ích kỷ, ẩn sau thói ươn hèn yếu đuối của con người. Chúng ta hãy khôn ngoan cậy dựa vào ơn Chúa để nhận ra đâu là ý Chúa, đâu là thói trá hình của ma quỷ mà có thái độ sống tích cực hơn. Hãy lắng nghe và thi hành lời thánh Phaolô khuyên dạy giáo đoàn Galata “những ai cậy dựa vào đức tin, thì họ là con cái của Abraham”, và họ được cứu rỗi theo như lời đã hứa.
Quả thật, tin là điều kiện cần thiết để chúng ta đứng vững trước mọi gian nan thử thách, không thất vọng ngã lòng khi bị cám dỗ...
Những người thân của Chúa Giêsu đã rơi vào cái bẫy này: Ngài đang làm việc của một Đấng cứu thế, xả thân không ngơi nghỉ để rao giảng và chữa lành bệnh cho dân chúng. Nhưng họ đã suy nghĩ theo sự khôn ngoan của loài người nên nói Ngài mất trí và muốn bắt Ngài về nhà.
Xin Chúa cho chúng ta đừng bao giờ kiêu căng tự đắc, đừng bao giờ cho mình là tài giỏi đạo đức hơn người, đừng bao giờ cố chấp ở lì trong tội, nhưng xin cho chúng ta biết làm theo Thánh Thần, để nhờ Ngài chúng ta được lãnh nhận ơn cứu độ của Chúa.
Thứ Bảy tuần 27 Mùa TN.
Gl 3,22-29; Lc 11,27-28
NGHE VÀ GIỮ LỜI
Đã là người, hẳn ai cũng khát khao hạnh phúc, ai cũng kiếm tìm hạnh phúc, ai cũng muốn sống cuộc sống hạnh phúc. Nhưng nỗi khát khao ấy, cuộc kiếm tìm ấy, ước muốn ấy cứ dai dẳng, cứ trồi sụt, cứ ẩn hiện mãi hoài, cứ trải dài trong phận người, cứ bền bỉ với dòng dời. Rất hiếm người khẳng định mình có hạnh phúc, đang hạnh phúc và mãi hạnh phúc. Thế mà Chúa Giêsu lại khẳng khái nói: hạnh phúc sẽ thuộc về người nào biết lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa.
Trong trang Tin Mừng hôm nay, chúng ta được nghe thánh Luca thuật lại cuộc đời rao giảng của Chúa Giêsu. Chúa đã được một phụ nữ ca ngợi và chúc tụng khi Ngài đang rao giảng Tin Mừng cho mọi người. Có lẽ, Lời Chúa dạy bảo thật tuyệt vời và làm vui lòng người nghe cho nên người phụ nữ đã cảm thấy hạnh phúc và thốt lên lời khen ngợi Chúa.
Chúa Giêsu không có ý phủ nhận vai trò của Mẹ Maria trong việc cưu mang, sinh hạ và nuôi dưỡng Ngài; nhưng qua những lời trên đây, Ngài mạc khải mối tương quan sâu xa giữa Ngài và Mẹ Maria; mối tương quan ấy không chỉ dừng lại ở huyết nhục, nhưng hơn ai hết, Mẹ là người đã triệt để lắng nghe và giữ Lời Thiên Chúa: cả cuộc đời Mẹ, từ biến cố Truyền tin cho đến khi đứng dưới chân Thập giá, Mẹ đã đón nhận Lời Chúa, qua tiếng Xin Vâng.
Một đời sống đạo đức gương mẫu vẫn luôn là một hấp lực và tác động người khác hơn cả những gì được viết trong sách vở. Mẹ Maria đã nêu gương cho chúng ta trong việc lắng nghe và thực thi Lời Chúa. Ðó là mối phúc mà ai trong chúng ta cũng có thể đạt được. Ước gì chúng ta tìm được hạnh phúc trong việc cưu mang Lời Chúa: cưu mang bằng cách lắng nghe, đón nhận và tuân giữ, để rồi một khi Lời Chúa đã trở thành sức sống, chúng ta có thể đem sự sống đó đến cho những người xung quanh.
Lắng nghe và tuân giữ Lời Chúa – đây chính là cái giá phải trả để mua hạnh phúc thật, hạnh phúc Nước Trời. Nhưng làm thế nào để nghe được Lời Chúa, làm sao để kiên cường tuân giữ Lời Chúa giữa một môi trường luôn ầm ào với đủ thứ âm thanh khủng bố thính giác, với đủ thứ lo toan và mời mọc khiến lòng người không một phút lặng bình, với đủ thứ bậc thang giá trị khiến trí khôn không biết đâu mà chọn lựa ?
Có lẽ đã nhìn thấy trước những rối ren, những bóng mờ che kín hồn người, nên Chúa Giêsu đã mượn hình ảnh huyết tộc để gắn kết những người đang nghe Chúa lại với Chúa và với nhau: ai có khao khát nghe Lời Chúa và can đảm tuân giữ Lời Chúa, sẽ được ở trong gia đình của Ngài, được là mẹ, là chị em, anh em với Ngài. Khẳng định ấy hẳn sẽ khích lệ và thuyết phục được nhiều tâm hồn thiện chí và khát khao Lời Chúa.
Chúa Giêsu trước sự tán dương nơi người phụ nữ không có nghĩa là Ngài phản bác vai trò người đã cưu mang Ngài là Đức Maria, nhưng trái lại Ngài đang vinh danh Mẹ Maria. Điều này có nghĩa rằng, Đức Maria không chỉ hạnh phúc khi là “người đã cưu mang và cho Thầy bú mớm”, nhưng cái hạnh phúc lớn hơn nơi Mẹ chính là thái độ lắng nghe, vâng phục và thực thi lời loan báo của sứ thần. Mẹ là người đầu tiên đã lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa cách tròn đầy nhất. Mẹ là người đầu tiên vâng phục và thực thi Thánh Ý của Thiên Chúa. Mẹ là người “có phúc” thật sự trong cái nhìn của Chúa Giêsu.
Soi chiếu lời Chúa vào đời sống thường ngày, chúng ta nhận ra rằng dường như chúng ta cũng chỉ là những con người mến mộ chân lý đến từ Chúa Giêsu và mới chỉ dừng lại ở đó. Việc thực thi những lời giảng dạy trong đời sống hằng ngày vẫn còn là cái gì đó quá khó khăn và xa vời với chúng ta. Do đó, chúng ta cần tiếp tục cầu xin Thiên Chúa qua lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria – người Tớ Nữ khiêm cung của Thiên Chúa, ban cho chúng ta khả năng biết lắng nghe, tuân giữ, yêu mến và nhất là thực hành những gì Kinh Thánh truyền dạy. Đặc biệt, với lời Kinh Mân Côi trong tháng 10, chúng ta cùng với Mẹ ca tụng Thiên Chúa, sống sát với Tin Mừng hơn trong mối tương quan với Thiên Chúa và với anh chị em mình.
Trong cuộc sống, khi người con tài giỏi thì người mẹ cũng được hưởng nhờ hồng ân của con mình, nên lời khen của người phụ nữ vừa mang nghĩa cảm phục trước sự khôn ngoan của Chúa, vừa khen ngợi người mẹ đã sinh ra Chúa Giêsu. Chúa Giêsu hiểu được điều đó và Ngài cũng công nhận hồng ân mà Đức Mẹ đã diễm phúc nhận được khi được làm Mẹ Thiên Chúa. Thế nhưng, Chúa Giêsu không muốn chỉ dừng lại ở đó. Ngài muốn trao ban mối phúc của Ngài cho tất cả mọi người để mọi người cũng được hưởng nhờ ân sủng mà Ngài mang lại khi họ biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa.
Đặc ân làm Mẹ Thiên Chúa chỉ dành riêng cho Mẹ Maria vì Mẹ đã luôn thi hành Thánh Ý Thiên Chúa, nhưng đặc ân đó đã được mở rộng ra cho tất cả chúng ta, những người được diễm phúc lắng nghe Lời Thiên Chúa.
Dừng lại một chút, mỗi người chúng ta nhớ lại câu Thánh Vịnh 119, 105 “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi”. Chính Lời Chúa hướng dẫn chúng ta đi đến hạnh phúc đích thực. Có Lời Chúa soi dẫn, chúng ta không còn lo sợ bước đi trong tối tăm hay sợ lầm đường lạc lối vì biết rằng Chúa luôn đồng hành với chúng ta. Phần chúng ta, chúng ta phải biết đem Lời Chúa ra thực hành mỗi ngày trong những biến cố của cuộc đời thì chúng ta mới lãnh nhận trọn vẹn mối phúc Chúa dành cho chúng ta giống như Mẹ Maria đã luôn lắng nghe và thi hành Thánh Ý Chúa.
Thành tâm mở lòng, khiêm tốn phơi bày những góc khuất trong hồn ta, trong đời ta và để cho ánh sáng Thần Khí, ánh sáng Ngôi Lời, ánh sáng Tình yêu chỉ cho ta thấy những chỗ cần phải cắt tỉa, những chỗ cần phải sửa chữa và nhất là khơi lên trong ta sức sống mới mãnh liệt, ngõ hầu ta tìm thấy và sống trong hạnh phúc thật.
October 19, 2023