Suy Niệm của Huệ Minh

Chúa nhật 28 thường niên, năm A

 

Chúa nhật XXVIII TN

Chúa Nhật Tuần XXVIII Mùa Thường Niên Năm A-2020

Is 25,6-10a; Pl 4,12-14.19-20; Mt 22,1-14

TIỆC CƯỚI NƯỚC TRỜI

          Theo truyền thống, phong tục của nhiều dân tộc xưa, mỗi khi nhà vua cưới cho hoàng tử, thì các đại thần được ưu tiên mời, đồng thời mọi người dân cũng được hưởng ân lộc đó của nhà vua.

          Còn với chúng ta hiện nay, không nhiều thì ít, hẳn mỗi người cũng đều được mời đi dự tiệc cưới của một ai đó.

          Hôm nay, trang Tin Mừng cũng trình thuật câu chuyện Vua mở tiệc cưới cho Hoàng Tử. Một đám cưới rất đặc biệt cho cả người thiết đãi lẫn khách dự tiệc! Cách hành xử của Vua cũng như quan khách lại rất khác thường!

          Tiệc Nước Trời chính là bữa tiệc cánh chung. Đó là bữa tiệc Thiên Chúa khoản đãi cho tất cả những ai đón nhận lời mời của Ngài. Thiên Chúa mời gọi không phân biệt chủng tộc, màu da. Ngài hân hoan chào đón mọi thành phần vào tham dự bữa tiệc. Tuy nhiên, để được dự tiệc Ngài cũng đòi hỏi mỗi người phải khoác chiếc áo dự tiệc. Chiếc áo thể hiện lòng kính trọng với chủ tiệc. Chiếc áo mà Ngài đã trao cho mỗi người khi chấp nhận lời mời bước vào bữa tiệc cánh chung. Đó chính là chiếc áo trắng trong ngày rửa tội. Chiếc áo của ân sủng. Chiếc áo tinh tuyền không tì vết tội lỗi.

          Nhưng đáng tiếc, có người đã đánh mất chiếc áo. Có người đã làm bẩn chiếc áo. Có người đã để chiếc áo nhàu nát, rách rưới. Có người đã bỏ lại chiếc áo ân sủng mà khoác trên mình chiếc áo của tính hư nết xấu. Họ đã thiếu y phục cần có khi dự tiệc. Nhìn lại mình nhơ nhớp tội nên không dám bước vào bữa tiệc cánh chung vì không còn xứng đáng với ân huệ của Thiên Chúa.

          Bữa tiệc Nước Trời hôm nay còn là bàn tiệc Thánh Thể mà Chúa mời gọi chúng ta hãy đến tham dự. Chính Chúa thiết đãi chúng ta của ăn không bao giờ hư nát chính là bánh trường sinh, vì Ngài đã nói: “Ai ăn bánh này sẽ sống muôn đời”. Bánh Thánh Thể của Chúa luôn dành cho mọi người. Không phân biệt màu da sắc tộc. Chúa muốn mọi người đều được quy tụ bên nhau quanh bàn tiệc Thánh

          Thiên Chúa mời con người đến tham dự tiệc cưới. Tiệc cưới là tiệc vui tươi, chúc mừng tình yêu của cô dâu chú rễ. Chúa Giêsu là chàng rễ, Giáo hội là cô dâu. Thiên Chúa đã mời gọi các Kitô hữu đền bàn tiệc để chia sẽ niềm vui và hạnh phúc vĩnh cửu với Ngài (GLCG # 1384).

          Được mời và đón nhận lời mời là một biểu lộ của tình yêu từ hai phía, Thiên Chúa và con người dành cho nhau. Thế nhưng, trong cuộc sống Kitô hữu ngày hôm nay, thái độ từ chối Thiên Chúa, thờ ơ với lời mời gọi của Ngài vẫn còn tiếp diễn nơi nhiều người.

          Dụ ngôn tiệc cưới luôn mang tính thời sự. Những người từ chối dự tiệc cưới đã viện dẫn nhiều lý do chỉ vì họ không muốn đến. Những người không tham dự Thánh Lễ ngày Chúa nhật cũng có rất nhiều lý do để biện minh. Người ta có trăm ngàn lý do để từ chối lời mời tha thiết của Chúa đến dự bàn tiệc Thánh Thể, bàn tiệc Lời Chúa. Nào là chuyện gia đình, bạn bè, chuyện làm ăn, chuyện  học hành, chuyện giải trí, chuyện tương lai… nào là quá bận rộn không có thời gian. Có khi chỉ là một cuốn phim đang xem, một trận đá bóng trên tivi, một bữa nhậu… nhiều người đã bỏ lễ Chúa nhật.

          Người ta nại vào rất nhiều lý do từ công ăn việc làm đến những lý do bận rộn với những sinh họat xã hội để từ chối các sinh hoạt đạo đức, từ chối tham dự Thánh Lễ. Người ta nại đến nhiều lý do, nhiều hoàn cảnh khó khăn để từ chối gặp gỡ, đón nhận Chúa qua anh chị em chung quanh, để khước từ sống giới răn yêu thương của Chúa.

          Là Kitô hữu, chúng ta cần xét mình về thái độ của bản thân trước những lời mời gọi dấn thân vì Nước Trời, vì tha nhân của Chúa. Đừng lấy lý do tôi quá bận rộn với công việc làm, với gia đình mà không dành giờ cho Thiên Chúa, không dành giờ cho Nước Trời, không dành giờ lo đến linh hồn mình. Bận rộn chỉ là bình phong che đậy những lười biếng, những ích kỷ. Đừng hỏi tôi có bận hay không, nhưng hãy hỏi tôi có muốn hay không? Vì lòng muốn sẽ thắng vượt mọi trở ngại, mọi toan tính.

          Chiếc áo cưới vào dự tiệc Nước Trời chính là ơn Thánh tẩy của Bí tích Rửa Tội. Ngày chịu phép rửa tội, tất cả mọi Kitô hữu được nhắn nhủ: "Con đã trở nên tạo vật mới và đã mặc lấy Ðức Ktiô. Chiếc áo trắng này là dấu chỉ tước vị của con. Nhờ lời chỉ bảo và gương lành của thân nhân giúp đỡ, con hãy mang nó tinh tuyền mãi cho đến cõi trường sinh."

          Mỗi một Kitô hữu đều có một bộ y phục lễ cưới, đó là chiếc áo trắng ngày chịu phép Rửa tội. Chiếc áo trắng ấy là tâm hồn thanh khiết của những người con cái Chúa đã được tẩy trắng trong máu Con Chiên. Chiếc áo trắng ấy được dệt bằng sợi tơ Lời Chúa mà người tín hữu phải nâng niu, gìn giữ suốt cuộc đời. Chiếc áo trắng ấy phải tinh tuyền cho đến ngày bước vào dự tiệc cưới trong Nước Trời. 

          Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy đến tham dự bàn tiệc Nước Trời. Một cách cụ thể, đó là chúng ta được mời đến tham dự bàn tiệc Lời Chúa và Thánh Thể Chúa hằng ngày nơi thánh lễ. Tuy nhiên, chúng ta đã đáp trả như thế nào? Thờ ơ lãnh đạm như dân Dothái xưa không đi dự tiệc vì quá nhiều bận rộn trong đời sống, hay chúng ta đi dự tiệc mà không mặc y phục lễ cưới là phẩm hạnh của bàn tiệc mà Đức Giêsu đòi hỏi như: y phục của lòng tin, cậy, mến; y phục của lòng ăn năn sám hối và sự kính trọng đối với Thiên Chúa; y phục của tình yêu thương, liên đới và chia sẻ với người nghèo!

 

Thứ Hai tuần 28 Mùa TN.

Gl 4,22-24.26-27.31-5,1; Lc 11,29-32

DẤU CHỈ YÊU THƯƠNG

          Mỗi ngày Thiên Chúa đều cho ta những dấu lạ để ta nhận biết tình thương của Người. Dấu lạ ấy thể hiện qua cuộc sáng tạo kỳ diệu, qua sự yêu thương chăm sóc của cha mẹ nơi gia đình, qua những đặc sủng ban riêng cho mỗi người. Đức Giêsu chính là dấu lạ diễn tả trọn vẹn mạc khải và tình yêu của Thiên Chúa. Người đã đến thế gian và trở nên bằng chứng hùng hồn nhất về Nước Thiên Chúa là vương quốc tràn ngập tình yêu.

          Vũ trụ vạn vật được tạo dựng từ tình yêu và chính nhờ tình yêu mà muôn loài muôn vật được tồn tại.Chưa có ai nhìn thấy Thiên Chúa bao giờ, nhưng đức tin mặc khải cho chúng ta biết Thiên Chúa luôn hiện diện giữa chúng ta. Ngắm nhìn thiên nhiên hùng vĩ, tinh tú lấp lánh khiến chúng ta phải sửng sốt bởi công trình sáng tạo kỳ diệu. Thiên Chúa đã để lại dấu ấn của Người trên từng bông hoa ngọn cỏ, trên sự sắp đặt thứ tự của các vì sao trên trời. Thiên Chúa ghi dấu ấn đặc biệt trong trái tim con người khiến nó rung lên từng nhịp đập yêu thương để rồi biết bâng khuâng thẹn thùng, biết chờ đợi nhớ nhung, biết giận hờn ghen ghét...

          Trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu quở trách thái độ cứng tin của những luật sĩ và biệt phái vì họ đòi xem một dấu lạ.Chúa Giêsu đã không ngần ngại nhắc lại câu chuyện ông Giona trong bụng cá ba đêm ngày. Hình ảnh Giôna là một dấu lạ sống động về lòng thương xót của Thiên Chúa, Người không bao giờ đánh phạt nhưng giáo huấn sửa dạy để cho ta ăn năn sám hối và được sống.

          Ninivê vốn là thành phố lớn của đế quốc Assur, nơi có đa số dân ngoại sinh sống.Người Do Thái coi dân Ninivê như kẻ thù truyền kiếp nên họ không bao giờ chuyện trò giao tiếp. Vì không muốn Chúa cứu đám dân ngoại, nên khi được sai đến Ninivê, ông Giôna đã trốn tránh bằng cách lên chiếc tàu buôn đi về phía Tây, đến đảo Tácxít là một vùng đất xa xôi để Chúa khỏi tìm thấy ông. Đức Chúa đã cho cuồng phong nổi lên khiến cả tàu hoảng sợ, họ kêu cầu Chúa và quyết định ném Giôna xuống biển vì ông là nguyên cớ gieo tai họa cho cả tàu. Chúa đã cho con cá lớn bảo vệ và đưa ông vào bờ. Sau ba ngày đêm sống trong miệng cá, ông Giôna biết không thể chống lại ý Chúa, nên ông đành trở lại thành Ninivê kêu gọi mọi người ăn năn sám hối. Sau khi nghe Giôna giảng, mọi người từ vua quan cho đến dân chúng, người lớn trẻ nhỏ đều ăn chay cầu nguyện và họ đã được Chúa tha thứ.

          Một nghịch lý đáng buồn là trong khi dân ngoại lãnh nhận được ơn cứu độ của Thiên Chúa còn dân riêng của Chúa thì không, bởi lẽ chúng ta hay có thái độ tự mãn không chịu lắng nghe lời dạy bảo của Chúa. Hình ảnh nữ hoàng Phương Nam từ vùng đến xa xôi đã đến nghe lời khôn ngoan của vua Salômôn cũng nói lên điếu đó.Lời dạy bảo của Chúa còn cao trọng hơn cả Salômôn, thế mà loài người đã không để tâm lắng nghe.

          Hình ảnh dân thành Ninivê cũng diễn tả ơn cứu độ phổ quát của Thiên Chúa dành cho tất cả mọi người. Đức Giêsu làm những phép lạ không phải để chiều theo tính hiếu kỳ và thói cứng lòng của con người trần gian nhưng để minh chứng sự hiện diện của Nước Thiên Chúa, báo hiệu một thời đại mới đang đến. Ngày ấy, con người không còn phải đau khổ, không còn chết chóc nhưng được sống dồi dào trong Thiên Chúa.Khi chứng kiến phép lạ, đôi khi chúng ta tỏ thái độ thờ ơ coi thường. Có khi chúng ta muốn Chúa thực hiện phép lạ theo ý riêng hạn hẹp của ta mà không vâng theo ý Chúa.

          Thánh Gioan tông đồ đã định nghĩa: Thiên Chúa là nguồn cội tình yêu, vì thế mọi tạo vật xuất phát từ nguồn cội ấy đều thấm đẫm nét yêu thương. Được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, con người mang vẻ đẹp thuần khiết nếu biết sống theo sự hướng dẫn của Thiên Chúa. Để giữ được vẻ đẹp ấy, chúng ta cần phải chết đi cho những đam mê dục vọng, chết đi cho những ràng buộc cũ để tiến vào miền đất mới.

          Vẻ đẹp của tình yêu Thiên Chúa là sự trao hiến vô điều kiện, là thí mạng sống vì người mình yêu.Thiên Chúa yêu con người bằng thứ tình yêu nguyên sơ đến trước mọi tình yêu của tạo vật. Tình yêu ấy đã nuôi dưỡng con người bằng cuộc sáng tạo kỳ diệu thì cũng giải thoát họ bằng công cuộc cứu chuộc của Chúa Giêsu. Đứng trước tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi ở lại trong tình yêu của Người để thừa hưởng vẻ đẹp thánh thiện và có được sự sống dồi dào.

          Trong cuộc sống hôm nay, Thiên Chúa vẫn không ngừng tỏ cho nhân loại dấu lạ của tình yêu thương. Chúa Giêsu chính là dấu lạ sống động tuyệt vời nhất về tình thương Thiên Chúa dành cho con người. Nhưng để đọc được dấu lạ ấy, đòi hỏi chúng ta phải có niềm tin và lòng yêu mến. 

          Nguyện xin Chúa cho chúng ta biết nhận ra những dấu chỉ tình yêu của Chúa trong mọi biến cố của cuộc sống. Xin cho chúng ta luôn mở rộng tâm hồn đón nhận lời mời gọi hoán cải và sống trong ơn nghĩa Chúa.

 

Thứ Ba tuần 28 Mùa TN.

Gl 5,1-6; Lc 11,37-41

HÃY CÓ LÒNG XÓT THƯƠNG

          Thói quen rửa tay trước khi ăn là một thói quen tốt, bảo đảm an toàn vệ sinh ăn uống. Ngày nay tại các trường mẫu giáo, các cháu bé đều được dạy năm bước rửa tay trước khi ăn. Thậm chí các cháu còn biết bi bô hát theo tiết mục quảng cáo trên trên truyền hình : “chưa rửa tay là chưa được ăn đó nghe”.

          Vậy tại sao Chúa Giê-su lại có vẻ đã không tuân thủ mà lại còn lên án một thói quen văn minh tốt lành như thế? Thực ra mục đích của Chúa Giê-su không phải lên án việc rửa tay cũng như rửa chén đĩa hay những thứ đồ vật khác trước khi ăn, nhưng Ngài muốn lợi dụng cơ hội để dạy cho các ông Pha-ri-sêu một bài học quan trọng hơn – một sự trong sạch đích thực đó là “lòng nhân ái xót thương”.

          Thực vậy đối với người Do-thái việc rửa tay hay những việc tẩy rửa khác không đơn thuần là để giữ vệ sinh mà là một nghi thức tôn giáo để đánh giá con người trong sạch hay dơ bẩn theo luật. Vì quá nệ luật nên họ lẫn lộn cái chính yếu với cái phụ tùy, quá chú trọng đến cái bên ngoài mà đánh mất điều quan trọng của tâm linh bên trong đó là Tình yêu, lòng nhân ái và xót thương; như đã có lần một kinh sư hỏi Chúa Giê-su “Trong các giới luật thì điều nào trọng nhất?”; và chúng ta đã biết câu trả lời của Chúa Giê-su: “Giới răn trọng nhất là : “Nghe đây hỡi Israel! Thiên Chúa là Thiên Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Thiên Chúa hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi…hãy yêu tha nhân như chính mình” (Mc 12, 28t). Hơn nữa, từ ‘bố thí’ theo nghĩa gốc của tiếng Hy-lạp là lòng xót thương.

          Vì thế Chúa Giê-su đã nói: “Tốt hơn, hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người.” (c.41) Lòng xót thương phát xuất từ tình yêu chứ không mang ý thương hại hay là khinh miệt, xem thường. Đó là tình yêu đã khiến Chúa Giê-su luôn chạnh thương khi đứng trước nỗi khổ đau của con người. Tình yêu, lòng xót thương đó có thể minh chứng sự trong sạch trong tâm hồn con người; như Chúa Giê-su là Đấng không hề phạm tội cũng chính là Đấng yêu thương không giới hạn. 

          Lời Chúa Giêsu nói với người Pha-ri-sêu cũng là lời cảnh tỉnh cho con người thuộc mọi thời đại. Nó lại càng đúng cho con người hôm nay. Bên ngoài người ta có thể là những người rất đạo mạo, lịch sự, danh giá, chức quyền, sang trọng, nhưng bên trong lại chất chứa đầy sự tham lam độc ác “đầy những chuyện cướp bóc, gian tà”. Người ta thích tô điểm cho vẻ bề ngoài của mình để được nổi trội, kể cả việc làm phúc bố thí, nhưng bên trong đầy những mưu mô, ham hố danh vọng, tiền tài. Người ta có thể an tâm với những việc giữ luật bề ngoài mà không màng tới tinh thần bên trong…. Và Đức Giê-su gọi đó là “Những mồ mả tô vôi, bên ngoài đẹp đẽ, nhưng bên trong lại lúc nhúc những giòi bọ” (Mt 23, 27t).

          Vì thế, điều quan trọng là làm sao để tâm hồn mình được sạch vì “Kẻ tay sạch lòng thanh sẽ được lên núi Chúa” (x. Tv. 23, 3 – 4). Và Đức Giê-su đã nói trong tin mừng hôm nay “Tốt hơn, hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người.” (c.41) Hay nói khác hơn phải sống đơn thành trước Thiên Chúa và hãy có tinh thần yêu thương vị tha chia sẻ đích thực đối với đồng loại – Hãy có lòng xót thương!

          Nhìn lại đời ta, ta cũng đã từng sống như những kinh sư Pharisêu giả hình, cũng mang trên mình cái “mác” của sự đạo đức nhưng bên trong tâm hồn lại khô khan nguội lạnh. Qua đó, Lời Chúa như nhắc nhở mỗi chúng ta cần canh tân đời mình, cần để cho Lời của Chúa đi sâu tận đáy tâm hồn chứ không chỉ giới hạn ở hình thức, lễ nghi bên ngoài, và để Lời Chúa biến đổi hầu mỗi ngày chúng ta nên giống Chúa hơn. Khi ấy, chúng ta mới trở thành người giữ đạo và sống đạo.

          Một lần nữa, ta thấy đời sống Kitô hữu hiện nay dễ thấy kiểu sống đạo gắn với cái máy sinh hoạt nơi giáo xứ hay đoàn thể. Họ tham gia một cách tích cực và đều đặn, nhưng lại không chút bận tâm đến thái độ cá nhân của mình đối với Chúa; họ giữ đúng giới luật của Chúa và Hội thánh nhưng lại không có khả năng chấp nhận thánh ý Chúa khi gặp phải những nghịch cảnh trong cuộc sống. Họ tham dự thánh lễ chỉ để chu toàn bổn phận của một tín hữu, mà không có chút tương quan nào với Chúa. Họ ăn mặc tươm tất khi đến nhà thờ, nhưng lòng họ chẳng có chút tâm tình nào với Chúa, lắm lúc còn mang lấy tinh thần bực tức, thái độ giận hờn và tâm hồn tội lỗi đến với Chúa.

          Trong thời đại này, giới kinh doanh luôn tìm mọi cách để cải tiến mẫu mã sao cho hợp với thị hiếu người tiêu dùng. Không ít nhà sản xuất đã dùng mẫu mã để làm hoa mắt khách hàng. Trong cuộc sống, không biết tự bao giờ con người đã để mình bị cuốn theo những hình thức bên ngoài mà quên đi cốt lõi bên trong. Tệ hơn nữa, nhiều người dùng lớp vỏ hào nhoáng bên ngoài để che đậy những âm mưu đen tối.

          Và cũng từ đó nhiều người thực hành các việc đạo đức chỉ chú trọng đến hình thức bên ngoài hay biến nó thành lớp vỏ che đậy những dự tính đầy tà tâm. Tôn giáo đối với họ nặng về lễ nghi hơn là tâm tình với Thiên Chúa. Người ta tổ chức những cuộc lễ lớn, kiệu rước linh đình rất tốn kém nhưng lại từ chối giúp đỡ anh chị em đang túng thiếu. Trong khi đó, “Thiên Chúa muốn lòng nhân chứ đâu cần hy lễ”(Mt 9,13) 

          Xin cho mỗi người chúng ta cảm được lời mời gọi của Chúa để ta sống lòng xót thương mà ta nhận được từ Chúa với anh chị em chúng ta.

 

Thứ Tư tuần 28 Mùa TN. Thánh Callisiô Ghtđ. (Đ)

Gl 5,18-25; Lc 11,42-46

ĐỪNG ĐỂ BỊ CHÚA NGUYỀN RỦA

          Chúa Giê su nói với Biệt Phái “khốn cho các ngươi”, đó không phải là một lời chúc dữ, hay một sự tiên báo về đại hình phạt vào ngày cánh chung, nhưng chỉ là một lời ngăn đe, kêu gọi họ hoán cải vì yêu thương. Người Biệt Phái nộp thuế thập phân về bạc hà, vân hương và đủ mọi thứ rau cỏ, họ lo đến hình thức lễ nghi, khoe khoang tự đắc, háo danh, giả hình, không thành thật, vì không có tinh thần bên trong, không có lòng yêu mến Thiên Chúa và sống công bình với tha nhân, hay còn có lối sống tương phản là khác.

           Vì vậy, Chúa ví họ như các mồ mả tô vôi, người ta chỉ thấy vẻ đẹp bên ngoài, mà không hay biết chút nào sự thối nát bên trong. Nơi công cộng họ chiếm chỗ nhất, họ bắt người ta bái chào kính trọng họ ngoài đường phố, họ tự tôn, tự đai, tìm giá trị, danh giá bên ngoài mà bên trong thì đáng chê trách vì cuộc sống thiếu đạo đức đích thực. Thấy thái độ phản kháng của một người luật sĩ, Chúa Giêsu lại hướng về họ để khiển trách về lối mô phạm giả hình vì họ dùng trách nhiệm bảo vệ toàn bộ luật lệ Do Thái, rồi thêm thắt vào các luật đó nhiều điều cấm kỵ tỷ mỷ, trở thành gánh nặng cho người giữ luật, mà chính họ lại không giữ, không đụng tay vào, họ đối xử dễ với mình nhưng khó với người khác.

          Qua trang Tin Mừng hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta sống đạo cách thành thực, chân thành với Chúa, ngay thẳng với mọi người chung quanh và cả với chính mình nữa. Không sống đạo với nghi lễ, hình thức bề ngoài, làm đủ việc đủ giờ mà thôi, nhưng phải có tâm tình bên trong, và trong đời sống thường ngày, phải tỏ hiện lòng yêu mến Thiên Chúa và bác ái với mọi người, có sự khiêm nhường, không tự cao tự đại, háo danh, ham địa vị, khoe khoang, tự đắc tự phụ trong đời sống xã hội và tôn giáo. Chúng ta cũng còn phải thành thực ngay thẳng trong công việc và trong cách xử thế nữa. Khi có trách nhiệm lãnh đạo. Chúng ta cần có tinh thần phục vụ hơn háo danh, ý thức trách nhiệm của mình hơn đòi hỏi người khác. Ai làm lớn thì phải phục vụ anh em, ai làm đầu thì phải làm đầy tớ mọi người.

          Chúa Giêsu đã thẳng thắn khiển trách thái độ sống giả dối của người Pharisêu và các luật sĩ, họ thích phô trương, thích ngồi ghế nhất trong hội đường, ưa xuất hiện nơi phố chợ để được người khác chào hỏi. Họ nộp thuế những thứ rau cỏ lặt vặt nhưng lại sống thiếu công bằng. Họ làm từ thiện cốt để người khác khen ngợi chứ không vì lòng bác ái. Họ xây lăng mộ cho các ngôn sứ mà cha ông họ đã sát hại. Họ làm việc đạo đức để che đậy tâm địa xấu xa. Không những thế, họ còn theo dõi lên án các việc làm của Chúa Giêsu là vi phạm luật cấm làm trong ngày Sabát.

          Luật Chúa không phải là thứ ngôn ngữ trong sách vở nhưng là hơi thở của cuộc sống. Luật ấy đã được kiện toàn nơi Đức Giêsu. Người đã thực hiện bằng tất cả sự yêu thương và khiêm tốn. Đó là sự hài hòa giữa việc chu toàn các điều luật và việc phục vụ tha nhân. Chính Đức Giêsu đã khẳng định “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ luật Mosê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn” (Mt 5, 17). Nhóm người Pharisêu cho rằng Chúa Giêsu vi phạm luật ngày Sabát nhưng chính họ lại là người phá hủy lề luật qua hành động sát hại các các Ngôn Sứ và Tông Đồ.

          Khi lên án Pharisêu, Chúa muốn khẳng định cho họ biết không có giới luật nào lớn hơn luật yêu thương. Bao trùm tất cả việc giữ luật là sự yêu thương và cứu rỗi nhân loại. Chúa Giêsu đã nêu gương cho chúng ta về thái độ giữ luật, phải mặc lấy tâm tình yêu thương khi gánh lấy tất cả những chứng đau bệnh của con người, mang lấy số phận hay hư nát của con người mà treo lên cây thập giá. Người đã sống cho Sự Thật và đã chết để làm chứng cho Sự Thật.

          Việc giữ luật Thiên Chúa không tách rời khỏi việc yêu thương và tôn trọng tha nhân. Ước gì chúng ta biết đi ra khỏi con người ích kỷ của mình để tự do thi hành việc bác ái. Việc giữ luật không chỉ đóng khung trong nhà thờ nhưng được mở rộng để đến tha nhân để cảm thông chia sẻ mọi nỗi buồn vui với họ. Giáo hội của Chúa không phải là giáo hội của những thành quách đền đài với những tháp chuông cao vút. Giáo hội của Chúa là từ bỏ địa vị cao sang, là cúi xuống để phục vụ. Một giáo hội luôn song hành và ưu tư với những buồn vui của phận người, vui với người vui, khóc với người khóc. Việc sống đạo không chỉ dừng lại ở những lễ hội tiệc tùng nhưng là ở cuộc gặp gỡ và đối thoại, là việc nâng dậy những ai yếu đuối vấp ngã, đưa dẫn những ai lầm đường lạc lối trở về.

          Mỗi ngày, chúng ta hãy khiêm tốn nhìn lại mình để thấy tình thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta thật lớn lao. Nhìn lại chính mình để khiêm tốn sửa lỗi, để quyết tâm sống hoàn thiện. Thiên Chúa sẽ trả lại cho ta tất cả những gì ta đã làm cho tha nhân. Vì thế chúng ta hãy tích cực gieo tình thương để gặt ơn tha thứ, gieo sự quan tâm chia sẻ để gặt niềm vui an hòa.

          Là kitô hữu, chúng ta được mời gọi sống ngay thẳng thật thà. Đôi lúc chúng ta cũng làm việc bác ái nhưng để che đậy tâm địa xấu xa. Chúng ta giữ luật để khoe khoang tự mãn và để đánh bóng tên tuổi. Chúng ta đặt ra nhiều khoản luật nhưng lại sống phóng túng tự do. Thiên Chúa sẽ chất vấn lương tâm mỗi người nếu chúng ta gây tổn thương cho người khác, đặc biệt những người được Chúa sai đến.

Hue Minh 2020

 

CHÚA NHẬT 28 THƯỜNG NIÊN, NĂM A-2023

Is 25:6-10; Tv 23:1-3,3-4,5,6; Pl 4:12-14,19-20; Mt 22:1-14; Mt 22:1-10

Lời mời dự tiệc và lời đáp trả

           Dụ ngôn nhà vua mở tiệc đãi khách được trích đọc hôm nay gợi lại cho chúng ta một bữa tiệc khác trọng đại hơn rất nhiều. Đó là tiệc Thánh thể.

          Thánh lễ là một bữa tiệc thật nhiệm mầu. Bữa tiệc này vô cùng cao quý vì cung cấp cho khách mời thực phẩm đem lại sự sống đời đời, chứ không như tiệc trần gian, dù có ăn bao nhiêu rồi cũng phải chết.

          Là tín hữu Công giáo, chúng ta luôn được mời gọi tham dự hai bữa tiệc: Tiệc Lời Chúa và Tiệc Thánh Thể. Thật vậy, trong mỗi Thánh Lễ, linh mục đại diện Chúa Giêsu vẫn tha thiết mời gọi: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian, phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa.” Thật là diễm phúc nếu chúng ta đón nhận chính Đức Giêsu Kitô vào lòng để được hòa tan vào Ngài, tâm sự với Ngài. Sau rước lễ, nên dành những giây phút quý giá và hiếm hoi để “hòa tan” vào Đức Giêsu Kitô – hòa tan cả linh hồn và thể lý. Chúa Giêsu muốn ở gần chúng ta – không rời dù chỉ trong tích tắc – nên Ngài mới thiết lập Bí tích Thánh Thể, đúng như Ngài đã nói: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28,20)

          Tình yêu của Chúa Giêsu quá lớn lao, chúng ta không đủ mức để hiểu thấu. Câu nói đó là lời hứa của Chúa Giêsu, cũng là câu cuối cùng của Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu, và cũng chỉ có Phúc Âm này ghi lại câu này. Mọi điều Chúa hứa đều ứng nghiệm chính xác: “Ai kính sợ Người, Người ban phát của ăn; giao ước đã lập ra, muôn đời Người nhớ mãi.” (Tv 111,5)

          Chúa Giêsu ví Nước Trời giống như chuyện một ông vua kia mở tiệc cưới cho con mình. Nhà vua sai các đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước đến dự tiệc, nhưng họ lấy lý do để từ chối khéo. Ông lại sai đầy tớ đi mời lần hai, họ vẫn không đến. Sau đó, nhà vua liền sai các đầy tớ ra các ngả đường, gặp ai cũng mời hết vào. Trong số người dự tiệc, có một người không mặc y phục lễ cưới. Nhà vua hỏi: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?” (Mt 22,12). Người ấy câm miệng không nói được gì. Cuối cùng, anh ta đã bị quăng ra bên ngoài vì không mặc y phục lễ cưới.

          Dụ ngôn tiệc cưới luôn mang tính thời sự. Những người từ chối dự tiệc cưới đã viện dẫn nhiều lý do chỉ vì họ không muốn đến. Thời nay, những người tham dự Thánh Lễ ngày Chúa nhật cũng có rất nhiều lý do để biện minh. Người ta có trăm ngàn lý do để từ chối lời mời tha thiết của Thiên Chúa đến dự bàn tiệc Thánh Thể, bàn tiệc Lời Chúa. Nào là chuyện gia đình, bạn bè, chuyện làm ăn, chuyện học hành, chuyện giải trí, chuyện tương lai… nào là quá bận rộn không có thời gian. Có khi chỉ là một cuốn phim đang xem, một trận đá bóng trên tivi, một bữa nhậu… nhiều người đã bỏ lễ Chúa nhật. Có người nhân danh đạo tại tâm để từ chối dự lễ Chúa nhật. Có người viện lý do ghét người này người nọ để từ chối việc đến nhà thờ. Bên cạnh những người bỏ đạo còn có những người lấp lửng nửa vời. Họ nại vào lý do “có thực mới vực được đạo”.

          Họ không đi lễ vì phải lo kế sinh nhai, cơm áo gạo tiền. Khi rãnh mới đi lễ… Người ta nại vào rất nhiều lý do từ công ăn việc làm đến những lý do bận rộn với những sinh hoạt xã hội để từ chối các sinh hoạt đạo đức, từ chối tham dự thánh lễ. Người ta nại đến nhiều lý do, nhiều hoàn cảnh khó khăn để từ chối gặp gỡ, đón nhận Chúa qua anh chị em chung quanh, khước từ sống giới răn yêu thương của Chúa.

          Thánh lễ chính là Tiệc Thánh Thể mà Thiên Chúa thết đãi cho chúng ta hưởng nếm trước hạnh phúc, vinh quang và sự sống thần linh. Mọi sinh hoạt Kitô giáo đều bắt nguồn và đặt nền nơi Thánh lễ ngày Chúa Nhật.Tham dự Thánh lễ Chúa Nhật là một bằng chứng trung thành với Chúa Kitô và với Hội Thánh, đồng thời các tín hữu hiệp thông với nhau trong tin yêu, nâng đỡ và khuyến khích nhau. Thu xếp công việc, dành ưu tiên cho Chúa, hân hoan dự bàn tiệc Thánh Thể. Khi đã vui hưởng Tiệc Thánh, mỗi người sẽ thêm nghị lực, thêm niềm tin, thêm tình yêu.

          Theo cốt chuyện dụ ngôn thì tiệc cưới ám chỉ bàn tiệc nước Trời; nhà vua ám chỉ Thiên Chúa; con nhà vua ám chỉ Ðấng Cứu thế; đầy tớ chỉ về các ngôn sứ và các tông đồ; khách từ chối dự tiệc cưới ám chỉ dân được chọn trong Cựu ước; thành phố bị tàn phá ám chỉ Giêrualem bị phá huỷ năm bảy mươi. Cũng như trong dụ ngôn tá điền gian ác, vườn nho được trao cho tá điền khác là dân ngoại, thì trong dụ ngôn tiệc cưới, khách ngoài đường là dân ngoại và người tội lỗi cũng được mời vào dự tiệc cưới.

          Y phục lễ cưới ở đây được hiểu theo nghĩa bóng là người được mời dự tiệc cưới nước Trời phải bận quần áo thích hợp cho cơ hội. Người được mời dự tiệc phải tỏ ra dấu hiệu nào đó là họ chấp nhận lời mời gọi một cách nghiêm chỉnh. Họ phải hội đủ những tiêu chuẩn, những đòi hỏi nào đó của Phúc âm. Áo cưới thích hợp họ phải bận là áo đức tin vào Ðức Kitô.

          Tiệc cưới nước Trời được dành ưu tiên cho dân được tuyển chọn trong Cựu ước. Tuy nhiên dân được chọn lại coi thường, không đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa qua các ngôn sứ của Người. Gioan tiền hô, vị ngôn sứ cuối cùng trong Cựu ước đến kêu gọi dân chúng ăn năn sám hối để dọn đường cho Ðấng Cứu thế, thì họ giả điếc. Khi Ðấng Cứu thế đến, thì họ tẩy chay Người. Và khi dân được chọn từ khước, thì lời mời gọi dự tiệc cưới được gửi đến cho hết mọi người ở các ngả đường. Ðiểm này nói lên lòng quảng đại của đức vua. Tuy nhiên không phải vì thế mà việc vào ngồi bàn tiệc cưới không có điều kiện. Ðiều kiện vào ngồi bàn tiệc cưới là bận áo cưới.   

          Hình ảnh bữa tiệc giúp người tín hữu kiên vững trong đức tin, mặc dù phải trải qua muôn vàn thử thách. Thánh Phaolô là một ví dụ điển hình. Đối với thánh nhân, thử thách, gian nan và thiếu thốn không quan trọng, vì ngày xác tín rằng Thiên Chúa là Đấng sẽ chu cấp dư dật cho những ai biết quảng đại cho đi.
Lời Chúa hôm nay vừa phê phán những người được mời trân trọng mà lại chối từ, vừa khẳng định: những ai được mời ồ ạt sau này cũng phải có điều kiện cần thiết để dự tiệc. Mặc dù lời mời gọi của Chúa được gửi đến hết thảy mọi người, Nước trời không phải một thứ “dồn toa” tổng hợp ai cũng được vào, nhưng là nơi dành cho những ai thiện chí thực thi Lời Chúa và bền tâm mến Chúa yêu người.
Bữa tiệc tương lai và bữa tiệc hiện tại không phải là một ảo tưởng hoang đường nhằm ru ngủ chúng ta trước thực tại của cuộc sống. Đó chính là niềm hy vọng giúp ta vững bước, đồng thời nhận ra Thiên Chúa đang hiện diện giữa cuộc đời. Ngài không ngừng mời gọi chúng ta hãy sống thánh thiện và nhân ái, để chuẩn bị cho hạnh phúc vĩnh cửu, là bữa tiệc đời đời Chúa dành cho những ai trung tín với Ngài.

          Lời mời gọi dự tiệc cưới nước Trời cũng được tiếp tục gửi đến vô số người từ khi Giáo hội được thiết lập trong những hoàn cảnh và thời điểm khác nhau. Hôm nay mỗi người cần tự vấn lương tâm xem mình đang đáp trả laị lời mời gọi của Chúa như thế nào?

BY HUỆ MINH 2023

16-10-2023 Thứ Hai 28 TN

Rm 1:1-7; Tv 98:1,2-3,3-4; Lc 11:29-32

Dấu Lạ Cả Thể

          Theo nhận xét của thánh Phaolô trong thư gửi giáo hữu Côrintô, “Người Do Thái đòi hỏi dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan” (1 Cr 1, 22). Có vẻ người Do Thái thích dấu lạ và đòi hỏi dấu lạ để tin.

          Bài Tin Mừng Thánh Luca thuật rằng sau khi Chúa Giêsu làm phép lạ cứu một người bị câm thì dân chúng chia ra thành 3 nhóm phản ứng khác nhau : nhóm thứ nhất (đa số) tin Ngài ; nhóm thứ hai không tin, cho rằng Ngài đã làm tà thuật do dựa vào thế lực quỷ vương Bêenzêbun, Chúa Giêsu đã trả lời cho họ ; nhóm thứ ba cũng không tin, họ đòi Ngài phải đưa ra một dấu chỉ “từ trời” chứng minh Ngài là kẻ được Thiên Chúa sai đến.

          Đối với những người cứng tin, Thiên Chúa sẽ chẳng cho dấu lạ nào ngoài dấu lạ Giôna. Ta biết Giôna là một ngôn sứ ban đầu không vâng lệnh Chúa để đi rao giảng cho dân thành Ninivê, nhưng sau khi phải bị một con cá nuốt vào bụng 3 ngày thì ông đành vâng theo. Kết quả là toàn dân thành ấy đã hối cải. Khi nhắc chuyện Giôna, Chúa Giêsu không nhắm đền việc ông bị cá nuốt, mà nhắm đến sự hoán cải của dân thành Ninivê, để khuyên người do thái hãy nghe theo lời rao giảng của Ngài như dân Ninivê xưa nghe lời Giôna.

          Thế nào là phép lạ? Theo quan niệm thông thường, khi một sự kiện có giá trị tích cực không thể giải thích được thì đó là phép lạ. Những người có niềm tin tôn giáo thì cho rằng phép lạ là một sự can thiệp của Chúa. Giáo Hội Công Giáo luôn tin có phép lạ, nhưng trong thực tế lại tỏ ra vô cùng thận trọng trong việc nhìn nhận các phép lạ; cụ thể là những gì đã và đang xảy ra tại Trung tâm Thánh Mẫu Lộ Ðức bên Pháp: từ hơn 100 năm nay, đã có trên 2,000 trường hợp khỏi bệnh được nhiều người xem là phép lạ, nhưng cho tới nay, Giáo Hội Công Giáo chỉ chính thức nhìn nhận 67 vụ thực sự là phép lạ theo đúng nghĩa mà thôi.

          Thế nào là phép lạ? Thiên Chúa có còn làm phép lạ không? Ðó là những câu hỏi mà Tin Mừng hôm nay như muốn nêu lên để chúng ta cùng suy nghĩ. Chúa Giêsu thực sự làm nhiều phép lạ: Ngài biến nước thành rượu, Ngài nhân bánh và cá ra nhiều để nuôi sống đám đông, Ngài chữa lành bệnh tật, Ngài làm cho kẻ chết sống lại. Tất cả những phép lạ Chúa Giêsu thực hiện đều nhắm nói lên sứ mệnh của Ngài và Ngài chính là Ðấng Thiên Chúa sai đến để cứu rỗi nhân loại. Một số người Do thái đã tin nhận và đi theo Ngài, nhưng phần đông vẫn tỏ ra dửng dưng trước những lời rao giảng của Ngài. Riêng những thành phần lãnh đạo trong dân, như nhóm Biệt Phái, thì chẳng những không tin nhận, mà còn chống đối Ngài ra mặt; họ thách thức nếu Ngài làm một dấu lạ cả thể thì họ mới tin nhận Ngài.

          Trước thái độ đó, Chúa Giêsu mượn hình ảnh của tiên tri Yôna để nói về Ngài. Tiên tri Yôna đã đến Ninivê để rao giảng sự sám hối, tất cả các phép lạ của Chúa Giêsu cũng đều nhằm nói lên sứ mệnh của Ngài và kêu gọi sám hối. Tiên tri Yôna đã ở trong bụng kình ngư ba ngày ba đêm. Giáo Hội tiên khởi đã xem đây như là một dấu chỉ loan báo chính cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu. Như vậy, nếu có một dấu lạ cả thể mà Chúa Giêsu thực hiện để đáp lại thách thức của những người Biệt phái, thì dấu lạ đó không gì khác hơn là chính cái chết của Ngài; chết để nên Lời, và Lời ấy là Lời của Yêu Thương.

          Ngày nay, không thiếu những người thách thức Thiên Chúa. Cũng như những người Biệt phái, họ đòi Thiên Chúa phải làm một dấu lạ cụ thể nào đó, họ mới tin nhận Ngài. Nhưng mãi mãi, Thiên Chúa sẽ không bao giờ hành động như thế. Ngài mãi mãi vẫn là Thiên Chúa Tình Yêu. Ngài đã nhập thể làm người và sống cho đến tận cùng thân phận làm người. Cái chết trên Thập giá vốn là tuyệt đỉnh của thân phận làm người, do đó đã trở thành dấu lạ cả thể nhất mà Thiên Chúa đã thực hiện, đó là dấu lạ của tình yêu.

          Thiên Chúa vẫn tiếp tục bày tỏ dấu lạ cả thể ấy. Trong trái tim mỗi người, Thiên Chúa đã đặt vào đó sức mạnh vĩ đại nhất là tình yêu. Sức mạnh ấy không ngừng nung nấu con người; sức mạnh ấy đang được thể hiện qua những nghĩa cử mà chúng ta có thể bắt gặp mỗi ngày. Ðó là phép lạ cả thể nhất Thiên Chúa đang tiếp tục thực hiện trong lịch sử con người. Tình yêu vốn là sức mạnh vĩ đại nhất, nhưng thường lại được bày tỏ qua những cử chỉ nhỏ bé và âm thầm nhất. Một nụ cười thân ái, một cái xiết tay, một lời an ủi, một cử chỉ tử tế, một ánh mắt cảm thông và tha thứ, đó là những cử chỉ nhỏ, nhưng lại là biểu hiện của dấu lạ cả thể nhất là tình yêu.

          Nội dung và ý nghĩa của phép lạ không nằm ở việc thỏa mãn trong sự thách thức, mà là ngang qua phép lạ, người đón nhận sẽ có tâm tình sám hối, thay đổi đời sống và có mối tương quan thân mật, tin tưởng nơi Thiên Chúa và có tấm lòng bao dung với tha nhân. Sự biến đối này được khởi đi từ tâm tình khiêm tốn và sẵn sàng làm mới lại đời sống cho phù hợp với Thánh Ý Thiên Chúa.

          Thực trạng ngày nay của mỗi người chúng ta hẳn rất giống với người Pharisêu khi xưa! Thường thì chúng ta hay xin Chúa cho mình làm ăn phát đạt, mà không hề để ý đến cách kinh doanh của mình! Có khi kinh doanh bất chính nhưng vẫn xin Chúa cho thuận buồn xuôi gió! Hay cộng tác vào những chuyện trái với luân thường đạo lý, nhưng lại xin được bình an! Hoặc xin Chúa chữa lành bệnh tật nhưng đời sống không có gì thay đổi...! Đôi khi cũng có những người thách thức Chúa như những Pharisêu khi xưa!

          Và Chúa luôn cho chúng ta những cơ may để đón nhận một phép lạ, cũng như để làm một phép lạ, nếu chúng ta biết đóng góp phần của chúng ta. Dù là một nụ cười, một ánh mắt cảm thông, một sự tha thứ, một bàn tay nâng đỡ ủi an, một chén gạo, một manh áo,tất cả đều có thể là những đóng góp của chúng ta, để Chúa làm một phép lạ.

17-10-2023 THỨ BA 28 TN

Thánh Inaxiô thành Antiôkia, Gmtđ

Rm 1:16-25; Tv 19:2-3,4-5; Lc 11:37-41

Quan Tâm Ðến Ðiều Cốt Yếu

          Người ta nghĩ rằng: Thánh Inhaxiô thành Antiôkia chính là đứa trẻ mà Chúa Giêsu đã ôm vào lòng và đặt giữa các tông đồ để làm gương mẫu về lòng trong trắng và đức khiêm tốn Kitô giáo. Vài tác giả còn quả quyết rằng: ngài là đứa trẻ đưa 5 chiếc bánh và 2 con cá cho Chúa Giêsu làm pháp lạ nuôi 500 người ăn. Điều chắc chắn là ngài đã được đặt làm giám mục thứ nhì kế vị Thánh Phêrô tại Antiôkia khoảng năm 68, sau khi Thánh Giám mục Evôda qua đời. Suốt 40 năm cai quản giáo phận, kể cả những năm bị bách hại dưới triều Domitianô, ngài đã tỏ ra là một giám mục gương mẫu về mọi nhân đức.

          15 năm bình lặng sau cái chết của bạo vương Domitianô qua đi, cơn bách hại lại nhen nhúm ở vài tỉnh dưới thời Trajanô. Vị hoàng đế cuồng tín này cho rằng: mình đạt được nhiều chiến thắng là nhờ các thần minh. Ông coi việc bách hại các tín hữu Chúa là một nghĩa cử để tỏ lòng biết ơn các thần minh. Tháng giêng năm 107, ông tới Antiôkia. Được biết tại đây có Giám mục Inhaxiô đã không vâng lệnh thờ cúng tượng thần, lại còn ngăn cản người khác, ông truyền điệu ngài tới để xét hỏi. Sau khi đe doạ và dụ dỗ đủ cách mà vô hiệu, ông kết án vị giám mục thánh thiện này phải điệu về Roma cho thú vật xâu xé.

          Cuộc hành trình về Roma mang sắc thái một cuộc khải hoàn. Mỗi khi con tàu dừng bến nào, dân chúng đều tuốn đến chào kính vị tử đạo. Nhân dịp này, Thánh Inhaxiô có dịp tiếp xúc với nhiều giáo đoàn và đã viết 7 bức thư cho các Giáo hội. Tuy vậy, chuyến đi không dễ chịu gì. Bọn lính áp giải đã cố tình hành hạ thánh nhân để mong được các tín hữu ngưỡng mộ ngài đút lót tiền bạc.

          Ngày 20 tháng 12 năm 107 là ngày cuối cuộc vui cũng là ngày Thánh Inhaxiô tới Roma. Sau khi đọc bức thư của nhà vua, quan tổng trấn truyền đem thánh nhân đến thẳng hí trường. Dân chúng đang tụ họp đông đảo. Ngài lặp lại câu nói đã viết trong trường hợp gửi dân Roma: “Tôi là hạt lúa mì của Thiên Chúa. Tôi cần được răng thú dữ nghiền nát để trở thánh bánh tinh tuyền của Chúa Kitô”. Hai con sư tử gầm rống và bổ tới thánh nhân mà cắn xé. Người ta kính cẩn thu nhặt những khúc xương còn lại và đưa về Antiôkia. Dưới thời Hêracliô, xương ngài lại được đưa về Roma.

          Trong bài Tin mừng hôm nay, một ông Pharisiêu mời Chúa đến nhà dùng bữa. Ông ta ngạc nhiên khi thấy Đức Giêsu, một nhân vật được dân chúng kính trọng như một thầy dạy đầy uy quyền, vậy mà không chịu rửa tay trước khi dùng bữa. Thực ra, Chúa chẳng hề quên rửa tay, nhưng Ngài như thể cố ý làm điều đó để dạy cho những người đạo đức giả một bài học. Điều làm cho người ta nhơ bẩn thật sự chính là lòng tham lam, sự độc ác trong cách ứng xử với người khác, chứ không phải chuyện rửa tay hay chuyện lau chén, đĩa bề ngoài. Phái Pharisiêu vốn dĩ bề ngoài rất bóng bảy, sạch sẽ, nhưng trong lòng họ thường ấp ủ nhưng mưu mô tính toan đầy gian tham, cướp bóc đối với những người thấp cổ bé họng trong xã hội.

Chúa nặng lời với ông Pharisiêu không phải là ghét bỏ, đố kỵ gì với ông, nhưng tất cả là vì Chúa muốn ông được hoán cải để trở nên người trong sạch thật sự. Vì vậy, Chúa nêu ra cho ông ta một phương án để tẩy rửa sự ô uế bấy lâu nay trong lòng ông ta: “Tốt hơn, hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người”.

          Tin Mừng hôm nay cho thấy nhóm Biệt phái ngạc nhiên vì Chúa Giêsu không rửa tay trước khi dùng bữa. Họ ngạc nhiên không phải vì Chúa Giêsu không giữ phép vệ sinh, nhưng vì Ngài không giữ luật định, theo đó, trước mỗi bữa ăn phải rửa tay bằng nước chứa trong các chum lớn bằng đá, với một số lượng nước được quy định và qua một cách thức được ấn định. Dưới con mắt người Biệt phái, người nào không giữ luật này, đó là người không xử sự đúng đắn: chẳng những không giữ vệ sinh, mà còn nhơ bẩn trước mặt Thiên Chúa; không rửa tay trước khi dùng bữa sẽ trở nên đối tượng tấn công của quỉ dữ, dẫn đến nghèo đói vì bị phá sản; và bánh ăn với bàn tay không sạch thì chẳng khác gì phân bón.

          Vì những lý do trên và những lý do khác tương tư, sách các Rabbi có ghi những mẫu truyện như sau: Một Rabbi nọ không giữ luật rửa tay trước khi dùng bữa chỉ có một lần, thế mà đến lúc chết đã bị chôn cất như một người bị dứt phép thông công. Một Rabbi khác bị người Rôma giam giữ, đã dùng nước uống cung cấp rất hạn chế cho việc thi hành nghi thức rửa tay trước và trong khi dùng bữa, vì thế đã gần phải chết khát, bởi lẽ ông nhất định thà chết khát hơn là chểnh mảng giữ luật rửa tay.

          Quan niệm và tâm thức của những người Biệt phái thời Chúa Giêsu coi các phong tục, tập quán, luật lệ là cốt tủy của việc thờ phượng Thiên Chúa và có giá trị như trọng tâm của tôn giáo, do đó những ý nghĩa cao thượng khác của niềm tin và tôn giáo cũng như những giá trị luân lý quan trọng hơn hầu như bị chôn vùi dưới lớp bụi dầy đặc của những luật lệ rườm rà tỉ mỉ; tâm thức này đưa họ đến việc giữ đạo vụ hình thức. Câu trả lời của Chúa Giêsu hướng con người vào những giá trị bên trong, quan tâm đến điều cốt yếu là sự trong sạch của lương tâm và tâm hồn.

          Chúa nói với ông Pharisiêu trong bài Tin mừng hôm nay cũng như đang nói thẳng với mỗi chúng ta: Hãy có lòng bác ái, vị tha và quảng đại trong tư tưởng, lời nói và hành động thì ta mới có được sự trong sạch đích thực để có thể tiếp rước vị khách cao quý là chính Chúa đến thăm ngôi nhà tâm hồn chúng ta.

          Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta duyệt xét lại cách thức và mức độ giữ đạo và hành đạo của chúng ta. Ước gì chúng ta dần dần từ bỏ những cách thức giữ đạo hình thức, để đi vào chiều sâu của việc sống đạo với một lương tâm trong sạch, một tâm hồn quảng đại và ý hướng ngay lành.

18-10-2023 thứ Tư 28 TN-2023

Thánh Luca, Thánh Sử

Rm 2:1-11; Tv 62:2-3,6-7,9; Lc 11:42-46

Mang lời Chúa đến mọi nơi

          Theo các nhà Kinh Thánh học, thánh Luca đã hiến cho chúng ta hai tác phẩm: một là cuốn Tin Mừng thứ ba và hai là sách Tông Đồ Công Vụ.

          Qua các tông đồ, nhất là Mẹ Maria và thánh Phaolô, thánh Luca đã ghi lại tiểu sử của Chúa Giêsu bằng những nét đặc sắc. Ngài đã hết lòng ca tụng ơn cứu độ và lòng từ bi của Thiên Chúa. Qua những truyện như: Người con phung phá, người Samaritanô nhân hậu, ông Giakêu, người trộm lành... chúng ta thấy đuợc phần nào chủ ý của thánh nhân khi ngài muốn trình bày cho chúng ta thấy một cách cụ thể về lòng từ bi của Thiên Chúa. 

          Tin Mừng thánh Luca cũng là Tin Mừng về đời sống cầu nguyện. Ngài đặt trước mắt chúng ta gương cầu nguyện của Chúa Giêsu trước khi Chúa chịu phép rửa, trước khi khi chọn môn đệ, trước khi biến hình sáng láng, lúc hấp hối trong vườn Giệtsimani và cả trên thánh giá. 

          Tin Mừng của ngài là Tin Mừng cho những người bị áp bức. Không Tin Mừng nào làm cho chúng ta có thể thấy được một sự lưu tâm đáng yêu mà Chúa dành cho những người thu thuế và tội lỗi như trong Tin Mừng thánh Luca: Chúa đến để tìm kiếm những gì đã mất.. một người nữ ngoại tình, một người thu thuế thống hối, một tên trộm ăn năn… Không một Tin Mừng nào diễn tả được tấm lòng tha thiết của Chúa dành cho những người bơ vơ nghèo đói cho bằng dưới ngòi bút điêu luyện của Luca.

          Tin mừng của thánh Luca là Tin Mừng của niềm vui vì ngay từ đầu, và bàng bạc trong Tin Mừng của ngài, có rất nhiều chỗ nói về niềm vui như loan báo tin vui cho Zacharia, truyền tin cho Maria. Những niềm vui liên tục khi Thánh Gioan chào đời, lúc Chúa giáng sinh...Những niềm vui trong chương 15 khi tìm thấy con chiên lạc, tìm được đồng tiền mất, gặp lại người con hoang và niềm vui nân hoan của các tông đồ khi trở lại Giêrusalem. Ðúng như Harnack đã nói: "Có những nét vui tươi, can trường và chiến thắng âm vang trong toàn bộ cuốn Tin Mừng của Thánh Luca từ trang đầu cho tới trang chót."

          Tin Mừng của thánh Luca còn được gọi là Tin Mừng của những người phụ nữ bởi vì không Tin Mừng nào vai trò của người phụ nữ được nhắc tới với một lòng kính trọng như Tin Mừng của thánh Luca. Những câu chuyện về những người phụ nữ đặc biệt như những chị em phụ nữ đi theo phục vụ Chúa Giêsu và tông đồ đoàn chỉ có thể tìm thấy trong Tin Mừng của thánh Luca.

          Sau hết, khi trình bày, thánh Luca như cố ý cho chúng ta thấy những điều kiện cần thiết để tin theo Chúa cũng như để đuợc gia nhập Nước Trời. Những điều kiện đó là đức tin, lòng khiêm nhường, thống hối, dám chấp nhận những khó khăn, biết sống bác ái và kiên trung trong đau khổ.

          Cũng như Tin Mừng, cuốn Tông Đồ Công Vụ của thánh Luca là một bằng chứng sống động về việc Chúa Thánh Thần hoạt động trong đời sống truyền giáo của các tông đồ và đời sống của Giáo Hội lúc sơ khai. Đây cũng là cuốn lịch sử đầu tiên của Giáo hội. Đọc sách Công vụ chúng ta không thể không cảm thấy một nguồn vui thanh cao và sống động đuợc bùng phát lên từ sự nhận biết Thiên Chúa của các tín hữu đầu tiên, và rồi kết quả sau đó là một cuộc sống được định hướng bằng tình bác ái chân thực, bằng tinh thần hy sinh xả kỷ, cũng như bằng bầu khí cầu nguyện, bằng sự hiệp nhất cao độ, lòng hợp lòng, với một đức tin, và một tình yêu duy nhất để hình thành nên những cộng đoàn thánh thiện giữa các tông đồ và những người tin Chúa của Giáo hội sơ khai.

          Đọc Tin Mừng thứ ba và Công vụ tông đồ, chúng ta thấy thánh Luca rất lỗi lạc về văn chương Hy lạp. Ngài quả là một nhà văn học kỳ tài, luôn thay đổi từ ngữ và dùng những danh từ thích hợp với đặc tính văn chương của người Hy lạp thời bấy giờ. Thánh nhân tỏ ra rất nghệ thuật trong việc bố cục câu chuyện thế nào cho rõ ràng, hấp dẫn, gợi nhiều ý tưởng và tâm tình, chẳng hạn dụ ngôn người con người phung phá và câu chuyện hai người du khách trên đường Emmau phải là hai kiệt tác văn chương, có nhiều giá trị nghệ thuật không kém gì những áng văn hay nhất của người Hy lạp thời ấy. 

          Hơn thế, thánh Luca còn là một người rất sành tâm lý. Thánh nhân đã mặc cho mỗi nhân vật trong Tin Mừng cũng như trong các dụ ngôn những tâm tình, cử điệu và lời lẽ phù hợp với điạ vị riêng của họ. Phải chăng nhờ tài nghệ này, thánh Luca đã đề cao đến chữ trọn hảo địa vị Cứu thế của Chúa Giêsu: Chúa nhân lành tự trời đến với loài người lầm than tội lỗi. Chúa tự hiến mình trên thập giá để tẩy xóa mọi tội trần và thông ban ơn sủng đời sống mới cho các tâm hồn.

          Ngày nay thánh Luca là quan thầy của các lương y và bác sĩ. Ngài cũng là bổn mạng các nhà họa sĩ, vì theo một truyền thuyết thì thánh nhân đã họa bức ảnh chân dung Đức Mẹ đầu tiên mà nay chúng ta quen gọi là ảnh “Đức Mẹ hằng cứu giúp”.

          Ngay từ đầu, Giáo hội vẫn kính lễ thánh Luca vào ngày 18.10 mỗi năm.

          Kính xin thánh Luca thánh sử phù trợ cho chúng ta được lòng tin mạnh mẽ và hăng hái như người để chúng ta đem tin lành cứu độ đến cho những người còn chưa nhận biết Chúa.

          Luca, “người thầy thuốc yêu quý” là bạn đồng hành của thánh Phaolo và cũng là tác giả sách Tin Mừng, trong sách này người đã trình bày lòng nhân hậu của Chúa Kitô rõ ràng hơn ai hết. Qua ngòi bút của con người thông thạo văn chương như người, Tin Mừng trở thành bài thánh ca tạ ơn trong bầu khí vui tươi và lạc quan phấn khởi. Luca là người tông đồ được Chúa sai đi vào cánh đồng truyền giáo giống như bảy mươi hai môn đệ  được sai đi trong đoạn Tin Mừng Lc 10,1-9 .

          Khi sai các môn đệ đi rao giảng, Chúa Giêsu khuyên bảo các ông: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Anh em hãy ra đi. Này, Thầy sai anh em đi như chiên con ở giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường…”

           Trước khi ra đi, Người môn đệ phải cầu nguyện và có sự chuẩn bị.  Hành trang của các môn đệ được sai đi phải rất đơn giản. Cần tránh những lời chào hỏi, những cuộc trò chuyện thường hay kéo dài, theo thói tục người Đông Phương, vì sứ điệp mang đến cho dân là một cái gì rất khẩn thiết.

          “Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà người ta đón tiếp, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em.” Chúa mong muốn cho các sứ giả thừa sai của Người không bận tâm về cách được tiếp đón và những tiện nghi vật chất, và hoàn toàn dấn thân cho sứ mạng truyền giáo của họ. Sự gần gũi sẽ giúp cho người môn đệ dễ dàng hoàn thành sứ mạng của mình. Đây cũng chính là điều mà Đức Thánh Cha Phanxico đã nhấn mạnh với Hội Đồng Giám Mục Việt Nam trong      chuyến hành hương Ad Limina 2018 vừa qua.

          Sứ điệp mà các môn đệ mang đến cho dân chúng là sự bình an, và loan báo Nước Thiên Chúa đã gần đến. Đó cũng chính là việc đem niềm vui, ơn chữa lành đến cho muôn dân: “Hãy chữa lành những người đau yếu trong thành, và nói với họ: “Nước Thiên Chúa đã đến gần các ông”. Như thế, người được Chúa sai đi là người của sự bình an, của công lý và hòa bình.

          Mang sứ điệp lời Chúa đến với tha nhân : đó là sứ mạng của người môn đệ. Để hoàn thành sứ mạng đó, người môn đệ cần sống tinh thần đơn sơ, phó thác, luôn biết cậy dựa vào sức mạnh của Chúa để dấn thân cho công lý và hòa bình. Các thánh Tông Đồ đã sống tinh thần ấy và đã trở thành nền tảng của Giáo Hội. Xin cho Hội Thánh ngày càng có nhiều người trẻ dấn thân phục vụ cho công lý và hòa bình để trở nên môn đệ đích thực của Chúa Kitô.

Thứ Năm 28 TN 2023

Thánh Isaac Jogues và Gioan de Brebeuf và các bạn tử đạo

Rm 3:21-29; Tv 130:1-2,3-4,5-6; Lc 11:47-54

Trách thói giả hình

          Nội dung phim Việt Nam “Hương vị tình thân” có tình tiết về hai người mẹ là bạn thân, một người tính tình chân thật, có cuộc sống hạnh phúc và giàu có. Còn người bạn kia lời nói ngọt ngào nhưng đầy tính toán vụ lợi, lối sống ích kỷ, con người  hai mặt, tâm địa thì lại xấu, bày mưu tính kế để con gái mình lấy con trai của người bạn mong hưởng gia tài. Ông bà ta hay nói: “Miệng Nam Mô – Bụng một bồ dao găm” như vậy qua hình thức bên ngoài không thể đánh giá đúng bản chất một con người.

          Tin Mừng hôm nay là sự nổi giận của Chúa Giêsu với người Pharisiêu khi nhắc lại từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã có chương trình cho công cuộc cứu độ nhân loại: “Ta sẽ sai các tiên tri và các tông đồ đến với chúng, và trong số các vị đó, người thì chúng giết đi, người thì chúng bách hại…” Vì sao Người nổi cơn thịnh nộ? Vì họ là những người thông làu Kinh Thánh, đã biết thời điểm xuất hiện của Con Thiên Chúa, thế mà khi Chúa đến, họ vẫn cố tình không nghe, không nhận biết, không tin vào sự hiện diện của Người. Trong lịch sử, máu các tiên tri đã nhuộm đỏ, khi rao giảng Lời Chúa cho dân Do Thái. Có phải Chúa không muốn họ lặp lại những sai lầm ngày trước của cha ông họ? Kinh nghiệm của thánh Bênađô: “Kẻ thù đáng ghê sợ hơn cả, chính là kẻ thù ở trong mình ta.” Các nhà thông luật, các kinh sư và biệt phái là những người thường xuyên bị Chúa Giêsu chỉ trích và lên án nặng nề.

          Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đả phá tinh thần trưởng giả của các nhà thông luật: “Khốn cho các người, hỡi những nhà thông luật! Các người đã cất giấu chìa khoá của sự hiểu biết: các người đã không vào, mà những kẻ muốn vào, các người lại ngăn cản.”

          Quả thật, rất nhiều lần, Chúa Giêsu đã quở trách những người biệt phái và các nhà thông luật về sự giả hình, giả tạo, cũng như lối sống nệ luật của họ. Họ tự nhận là những người lãnh đạo quần chúng, hướng đạo tinh thần, tuân giữ lề luật, nắm chìa khóa hiểu biết; thế nhưng, những hiểu biết và địa vị của họ chỉ là lớp sơn hào nhoáng bên ngoài. Họ không sống tinh thần của Chúa, mà luôn sống cuộc sống trịnh thượng, giả hình và bắt người khác thi hành lệnh của mình.

          Luật là để bảo vệ công bằng cho mọi người, thế nhưng họ dùng Luật để bẻ cong sự thật, họ dùng Luật để sáng chế ra những luật trừ để đối xử bất công và tước đoạt tài sản của người khác.

          Luật là để đưa con người đến gần Chúa; cách họ áp dụng Luật làm mọi người tránh Thiên Chúa, làm dân chúng nhìn Chúa như một hung thần, sẵn sàng sửa phạt mọi người vi phạm.

          Luật làm ra là để giúp cho con người biết cách sống thế nào để được hạnh phúc; cách họ cắt nghĩa và áp dụng Luật làm mọi người cảm thấy ngột ngạt, gánh nặng, và bất an.

          Như thế, chúng ta thấy, thay vì phục vụ, hướng dẫn người khác, họ đã sử dụng sự hiểu biết để bắt người khác phục vụ mình, dùng người khác vào những mục đích riêng tư của họ.

          Phải chăng vì Chúa chỉ ra một sự thật về thái độ ngoan cố, bảo thủ, lột bộ mặt giả dối của các người Pharisiêu, nên khi Đức Giêsu ra khỏi đó, các kinh sư và các người Pharisiêu bắt đầu căm giận Người ra mặt (Lc 11,53). Họ lộ vẻ bất mãn thay vì lắng nghe và tiếp nhận Lời Chúa thì họ lại ra sức tìm những sơ hở và gài bẫy để tìm cách hại Người. Thánh Vinh Sơn Phaolô chia sẻ: “Hễ kiêu ngạo thì không thể đi đôi với khiết tịnh được.”

          Không chỉ người Pharisiêu, ngay cả tiến sĩ luật cũng bị Chúa Giê-su khiển trách: “Khốn cho các ngươi! Hỡi những tiến sĩ luật, vì các ngươi cất giữ chìa khóa sự hiểu biết. Chính các ngươi đã không được vào, mà những người muốn vào, các ngươi đã ngăn cản họ”. Đó là những người thông thái được đào tạo để giảng dạy về Lời chúa, có hiểu biết và nắm vững Lề Luật Chúa, nhưng họ lại không tuân giữ Luật và không truyền bá rộng rãi tất cả những điều mình đã học để mời gọi nhiều người đến với Chúa. Các người ấy tự cho mình có quyền phán xét và kết tội những ai đi ngược với lề luật do chính họ đặt ra. Thánh Phanxico Assisi từng nói: “ Không phải ma quỷ đóng đinh Chúa Ki-tô, nhưng chính anh em đã và đang vẫn đóng đinh Ngài, khi anh em đắm chìm trong tội lỗi và nết xấu của anh em”.

          Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy sống trung thành với đường lối của Thiên Chúa là làm chứng cho sự thật. Chấp nhận mọi thử thách, miễn sao sự thật được lên tiếng. Chúng ta theo gương trong mọi hoạt động: học hỏi, cầu nguyện, chiêm niệm, công tác tông đồ… đều hướng tới điều tốt lành cho bản thân, tha nhân và xã hội. Chúng ta ý thức việc trung thành với Giáo Huấn của Chúa trong khi phục vụ người khác là rất cần thiết, Luật “mến Chúa, yêu người” với tâm tình trong sáng, không như nhà biệt phái vỏ bọc bên ngoài rất thánh thiện nhưng trong lòng đầy mưu mô toan tính ích lợi về mình. D. De Haan chia sẻ: “Ngày kia khi Chúa thẩm tra. Mọi điều giả trá bày ra rõ ràng. Ngài nhìn biết mọi nẻo đàng. Chẳng chi giấu được giác quan của Ngài”.

          Qua lời tố cáo của Chúa Giê-su trong Tin Mừng hôm nay, chúng ta, những Kitô hữu được mời gọi ý thức hơn về một thứ hiểu biết khác đã được lãnh nhận như một ân ban, đó là hiểu biết của Đức tin. Đây không phải chỉ là một trang bị cho cá nhân, mà còn là ánh sáng soi đường cho người khác, bởi vì Kitô hữu không sống cho mình, nhưng cho người khác. Đức tin là một ân ban để chia sẻ, càng chia sẻ, ân ban đức tin càng lớn mạnh.

Thứ Sáu trong tuần thứ Hai Mươi-Tám Mùa Quanh Năm 2023

Rm 4:1-8; Tv 32:1-2,5,11; Lc 12:1-7

Đừng sợ !

          Sau bao nhiêu phép lạ đi kèm với lời giảng, uy tín của Đức Giêsu càng gia tăng, vì thế, dân chúng tụ họp quanh Ngài rất đông. Nhân dịp này Đức Giêsu dạy các môn đệ phải can đảm và làm chứng về Chúa. Bài học được bắt đầu với lời cảnh cáo về sự giả hình dối trá nơi những người biệt phái và thông luật, nó cũng có nguy cơ phát sinh nơi những ai không biết hết lòng cảnh giác. Người môn đệ Đức Giêsu phải nhiệt tâm loan báo Tin mừng với một thái độ yêu thương, khiêm nhường. Đức Giêsu an ủi, khuyến khích các môn đệ hãy luôn can đảm, phó thác sứ vụ và cả cuộc đời mình vào vòng tay yêu thương của Thiên Chúa.

          Cả tuần này, Tin mừng trình thuật việc Đức Giêsu liên tiếp chống đối lối sống đạo đức dỏm của nhóm biệt phái và thông luật. Hôm nay, lại một lần nữa, Đức Giêsu không chấp nhận lối sống giả hình của họ; đồng thời, Ngài cũng cảnh tỉnh các môn đệ của mình khỏi vướng vào lối sống giả nhân giả nghĩa như các biệt phái và luật sĩ. Nhân dịp này, Đức Giêsu cũng mời các môn đệ can đảm sống chứng tá cho Tin mừng, dù có phải chết. Sự sống trên trần gian này là cuộc sống tạm bợ, mai hậu mới là vĩnh viễn. Vì thế, không nên khờ dại mà đánh đổi sự an nhàn đời này mà đau khổ mãi mãi đời sau. Luôn sống trong sự phó thác và tin tưởng vào Chúa quan phòng 

          Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dạy các môn đệ: hãy nói công khai và đừng sợ. Trong đó, người môn đệ cần lưu tâm:

          Men Biệt phái. Chúa Giêsu dạy: "Các con hãy ý tứ giữ mình khỏi men Biệt phái, nghĩa là sự giả hình" (Lc 12,1). Người có ý ám chỉ đến sự mù quáng và thành kiến của họ, đó như là men, là chất xúc tác sẽ làm hư hoại những ai để cho mình bị lây nhiễm thói giả hình, kiêu căng và tham lam để trục lợi cho mình. Qua đó, Người mời gọi các môn đệ hãy vượt lên trên sự bận tâm ấy để đi vào chiều sâu giá trị Tin Mừng.

          Các con đừng sợ. Cuộc sống đầy dẫy những nỗi lo toan sợ hãi. Nhưng Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta biết chỉ có một Đấng đáng để cho chúng ta kính sợ đó là Thiên Chúa, là Đấng có thể giết cả xác và ném linh hồn chúng ta vào hỏa ngục (x. Lc 12,4-5).

          Đừng sợ: “Chúa Giêsu đưa ra lời trấn an này vào giữa lúc các môn đệ Ngài nhận ra sự chống đối của biệt phái đối với Chúa Giêsu. Theo Chúa Giêsu Kitô, người môn đệ đồng chịu số phận chống đối. Đó là chuyện đương nhiên, không thể có con đường nào khác. Ngay trong chính bản thân, những xâu xé, giằng co cũng là chuyện không thể tránh được. Thế nhưng Chúa Giêsu khuyên chúng ta hãy an tâm, bởi vì Thiên Chúa luôn ở bên cạnh chúng ta. Ngài không cất khỏi chúng ta những chống đối, đau khổ và sự chết. Ngài chỉ cho chúng ta thấy đâu là ý nghĩa của đau khổ, đâu là cùng đích cuộc đời”.

          Đây cũng là lời dạy chân lý, làm cho những người tin Chúa yên tâm, tin tưởng, vui tươi, hy vọng… để cuộc sống của họ ở trần gian này dù gặp nhiều giông tố bão táp, nhưng họ vẫn sống bình an. Bởi vì Đấng có quyền trên thân xác họ là Thiên Chúa quyền năng lại yêu thương, yêu thương hơn cả cha mẹ trần gian nữa thì còn có gì tôi phải lo, phải sợ nữa. Người biết tôi mọi sự, mọi khát vọng nhu cầu “ngay cả những tóc trên đầu tôi đã được Người đếm cả”, là cứu cánh của tôi đến muôn thuở muôn đời.

          Ở đời, người ta chỉ hay tôn sợ hàng quyền quý, kẻ lắm của nhiều tiền. Người có quyền thế và lắm của nhiều tiền cũng vẫn tự đắc với những thứ của mình ấy. Nhớ lại khi quan Philatô tra vấn Chúa Giêsu mà Người không trả lời, ông đã vỗ ngực la lên : “Ông không trả lời ta ư, ông không biết rằng ta có quyền tha và cũng có quyền đóng đanh ông vào thập tự ư?” và Chúa đã dạy cho ông một điều: “Nếu trên không ban cho ông thì ông chẳng có quyền gì trên tôi !”(Ga 19,10-11). Lời Chúa dạy là lẽ phải, sự thật còn cho những người đang nắm giữ quyền bính, có nhiều tiền cúa hiểu được rằng: nguồn cội của mọi thứ đó  là Thiên Chúa. Giúp họ biết tôn sợ, đúng người, đúng nơi, đúng mức. Điều này  trước Chúa Kitô hàng nghìn năm Thánh Kịnh  đã dạy: “Đừng tin tưởng nơi người trần thế, nơi người phàm chẳng cứu nổi ai, họ tắt hơi là trở về cát bụi, dự định bao điều ngày ấy tiêu tan” (Tv 145).

          Tin mừng hôm nay cho thấy Thiên Chúa quan phòng mỗi người con cái Thiên Chúa. Đức Giêsu đưa ra một bằng chứng cụ thể, để nâng đỡ đức tin của chúng ta vào sự quan phòng của Thiên Chúa đối với thụ tạo thượng đẳng của Người: một con chim sẻ hay cả từng sợi tóc trên đầu Chúa cũng thấu biết, huống chi vận mạng con người, vì con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa và được Chúa Giêsu Kitô cứu chuộc bằng chính giá máu của Người. Chúa Giêsu không chủ trương cho chúng ta lười biếng hay ỷ lại, mà muốn chúng ta đừng quá tin cậy vào sức mình, nhưng cần đến sự tin tưởng phó thác với sự quan phòng của Thiên Chúa.

          Tin vào Chúa quan phòng. Một con chim sẻ mà cũng được Chúa chăm sóc kỹ càng (x. Lc 12,6-7), huống chi là con người được tạo dựng giống hình ảnh Chúa và được Chúa Giêsu cứu chuộc bằng chính giá máu của Người. Thế nhưng, Chúa Giêsu không chủ trương cho chúng ta lười biếng hay thụ động, nhưng là muốn chúng ta đừng quá cậy vào sức mình, mà hãy có niềm tín thác vào sự quan phòng của Chúa.

          Xin Chúa giúp chúng ta trở thành những chứng nhân của Chúa và can đảm vâng theo ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, để sống đức tin và niềm hy vọng trong mọi hoàn cảnh cuộc đời.

October 19, 2023