Suy Niệm của Huệ Minh
Chúa nhật 29 thường niên, năm A
22/10/23 MẪU GƯƠNG TRUYỀN GIÁO : MẸ MARIA VÀ CHÚA GIÊSU
Truyền giáo là nhiệm vụ của mọi Kitô hữu. Đây là điều công đồng Vaticanô II nhắc đi nhắc lại nhiều lần: việc rao giảng Tin Mừng là bổn phận chính yếu. Bổn phận căn bản của Giáo hội và mỗi Kitô hữu. Công đồng đã làm nổi bật vấn đề truyền giáo và đã định nghĩa Giáo hội là Giáo hội truyền giáo và coi việc truyền giáo là nghĩa vụ tông đồ của mỗi Kitô hữu. Theo công đồng, không một tín hữu nào đáng gọi là tín hữu mà có thể khước từ nhiệm vụ truyền giáo. Việc truyền giáo không thể là một việc tùy sở thích, nhưng mỗi tín hữu phải coi đây là vấn đề sống đạo, vấn đề sinh tồn của Giáo hội và là trách nhiệm của chính mình.
Đối với người giáo dân, qua sắc lệnh về tông đồ giáo dân. Công đồng còn cho thấy vai trò quan trọng của người giáo dân trong việc truyền giáo, vai trò là men, là muối, là ánh sáng, là chứng nhân giữa đời. Bởi vì giáo sĩ không thể sống chân bùn tay lấm nơi đồng ruộng với những nông dân; giáo sĩ không thể gồng gánh theo chân những người buôn bán đi vào đầu đường xó chợ; giáo sĩ không thể đầu tắt mặt tối làm việc trong những cơ xưởng, nhà máy, công trường… nhưng chính những giáo dân nhà nông, những giáo dân buôn bán, những giáo dân công nhân, có nhiệm vụ đem Chúa đến cho anh em mình nơi đồng ruộng, chợ búa, xí nghiệp, nhà máy, nghĩa là những nơi mà giáo sĩ không thể có mặt và không thể đi đến, thì giáo dân sẽ đóng vai trò chủ chốt và chủ động. Bởi đó, không những giáo dân đóng vai trò yểm trợ cho giáo sĩ mà còn đóng vai trò chính yếu, thay thế cho giáo sĩ trong những nơi hay những hoàn cảnh đó.
Như vậy cách truyền giáo tốt nhất và có hiệu quả nhất là đời sống gương mẫu, đời sống Công giáo đích thực, nhất là đời sống thể hiện tình yêu thương của chúng ta. Nếu chúng ta sống thực sự yêu thương thì không ai đánh giá sai lầm về đạo, khi chúng ta chứng minh tình yêu bằng đời sống tốt thì chúng ta thực sự trở nên những bạn tốt, những công nhân gương mẫu trong nhà máy, những công nhân gương mẫu ngoài công trường. Tóm lại, chúng ta hãy nắm lấy những cơ hội đi lại đây đó, khi thi hành công tác, khi làm ăn sản xuất, khi xê dịch thăm viếng… để nói hay làm chứng về Chúa qua lời nói, thái độ và cách đối xử đầy tình yêu thương của chúng ta.
Truyền giáo là chia sẻ cuộc sống, một cuộc sống như chính Chúa Giêsu đã sống, là yêu thương mọi người, và yêu thương đến cùng (x. Ga 13,11), yêu thương đến nỗi dám chấp nhận hy sinh tính mạng cho những người mình yêu (x. Ga 15,13). Truyền giáo đồng nghĩa với làm chứng cho Chúa Kitô (x. Lc 24, 47, 48, Cv 1,8) bằng đời sống theo gương của Người.
Truyền Giáo theo gương Chúa Giêsu
Giáo Hội luôn trong nỗ lực loan báo Tin mừng của Chúa Giêsu cho toàn thể thế giới. Công đồng Vatican II đã phác họa hướng đi mục vụ truyền giáo: “Vui mừng và hy vọng, buồn sầu và lo sợ của con người ngày hôm nay, nhất là của người nghèo khổ, bị ruồng bỏ quên lãng, cũng là niềm vui, hy vọng, nỗi buồn sầu lo lắng của môn đệ Chúa Kitô…”( Hiến chế Giáo hội, số 1).
Sứ vụ truyền giáo của Giáo hội thời nào và ở đâu cũng bắt đầu từ mẫu gương Chúa Giêsu.
Khi đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu ưu tiên để ý đến những người nghèo, người tội lỗi, người ngoại và những người bệnh tật. Chúa Giêsu áp dụng vào chính mình những lời tiên tri Isaia xưa đã nói: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, Chúa đã xức dầu tấn phong tôi.Sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4,17-20). Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Thầy đến không phải để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,13).
Chúa Giêsu nói với người phụ nữ ngoại giáo Samaria: “Này chị, hãy tin tôi: Đã đến giờ, các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem… Nhưng giờ đã đến, và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và trong sự thực. Vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế” (Ga 4,21-24).
Suốt đời, Chúa Giêsu đã sống gần gũi với 4 hạng người: người nghèo, người tội lỗi, người ngoại và những người bệnh tật. Chúa Giêsu đến với họ, cho họ thấy, Người rất thương họ, và tình thương đó là vô hạn, vô cùng. Thương đến đổ máu mình ra, chết cho họ, chết thay cho họ, và cho mọi người. Chúa Giêsu hiến thân đến tột cùng vì tình yêu. Chính ở điểm hiến thân trên thánh giá mà Người làm vinh danh Chúa Cha, và chính Người được tôn vinh. Chúa Giêsu đã nói trước khi hiến tế: “Lạy Cha, giờ đã đến. Xin Cha tôn vinh Con Cha, để con Cha tôn vinh Cha” (Ga 17,1).
Chúa Giêsu muốn các môn đệ cũng hãy theo gương Thầy, đem Tin Mừng đến cho 4 hạng người đó.
Đây cũng là sứ mạng truyền giáo của mỗi kitô hữu.
ĐGH Gioan Phaolô II đã khẳng định trong Thông điệp ‘Sứ Vụ Đấng Cứu Độ’: “Truyền giáo là trình bày tình yêu của Thiên Chúa được tỏ bày trong Đức Giêsu Kitô.” (số 2)
Nói cách khác, truyền giáo là yêu như Chúa Giêsu yêu. Chúa dành tình yêu đặc biệt cho 4 hạng người: người ngoại, người tội lỗi, người bệnh tật và người nghèo.
Truyền Giáo như Mẹ Maria
Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Hội Thánh và là Ngôi Sao dẫn đường loan báo Tin Mừng.
Truyền giáo là đem Chúa Giêsu đến cho tha nhân. Mẹ Maria là nhà truyền giáo đúng nghĩa nhất. Mẹ đã đón nhận Con Thiên Chúa và đưa Người vào trong thế gian. Đó là Tin Mừng.
Sứ vụ truyền giáo là sứ vụ của người mang tin vui, tin cứu độ, tin được Thiên Chúa đoái thương.
Người truyền giáo là người được Chúa Thánh Thần tác động và làm trổ sinh hoa trái giống như Mẹ: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ ngự xuống trên Bà” (Lc 1, 35). Hoa trái của Chúa Thánh Thần là “hoan lạc, bình an…”. Hân hoan trong Thánh Thần, từ đó: “Đức Maria lên đường vội vã” thăm Êlisabet (Lc 1,39), gợi lại hình ảnh ngôn sứ Isaia tiên báo: “Đẹp thay trên núi đồi bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Sion rằng: “Thiên Chúa ngươi là vua hiển trị” (Is 52,7). Đức Maria mang trọn niềm vui Đấng Cứu Độ mà nhân loại đón đợi. Đức Maria trở nên người loan báo Tin Mừng vì Mẹ mang trọn niềm vui Chúa Thánh Thần. Ai để cho Chúa Thánh Thần hoạt động trong cuộc đời của mình cũng là người mang trọn niềm vui loan báo.
Đức Maria còn là người công bố Tin Mừng: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi những điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn” (Lc 1, 49). Thấy được tình thương Thiên Chúa thể hiện trong cuộc đời mình nên lời công bố mang một niềm tin xác tín, đã gặp và đã thấy.
Để trở thành người loan Tin Mừng, Đức Maria đã “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 3,51). Cầu nguyện là chiêm ngắm những điều Thiên Chúa đã thực hiện nơi mình. Cầu nguyện là cuộc trao đổi, đối thoại giữa những khó khăn và thử thách. Đức Maria trở thành người công bố Tin Mừng, bởi Mẹ đã chiêm ngắm công trình của Thiên Chúa thực hiện cho dân tộc, cho chính Mẹ.
Đối với Đức Maria, truyền giáo là đem chính Chúa Giêsu cho nhân loại.
Chúa Giêsu là lẽ sống, là hạnh phúc, là niềm vui của cuộc đời mỗi kitô hữu. Chúng ta phải xác tín như Đức Maria: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa” (Lc 1, 46). Tràn ngập niềm hân hoan bởi Mẹ đã gặp thấy và cưu mang chính niềm vui có Chúa Giêsu trong lòng Mẹ. Đức Maria reo ca: “Thần trí tôi hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi” (Lc 1, 47). Đức Maria đã cưu mang chính Chúa Giêsu, quà tặng tuyệt hảo nhất của Thiên Chúa, nguồn ơn cứu rỗi duy nhất, công bố, trao tặng cho nhân loại.
Đức Maria luôn đặt mình dưới sự bảo trợ hoạt động của Chúa Thánh Thần.
Đức Maria là công trình tuyệt hảo của Chúa Thánh Thần.
Người truyền giáo cũng như thế, không thể tách rời Chúa Thánh Thần với hoạt động của mình được. Ai có thể chinh phục sự sâu thẳm của lòng người quy hướng về Thiên Chúa, nếu đó không phải là tác động của Chúa Thánh Thần?
Giáo Hội không truyền giáo bằng cách áp đặt, cưỡng chế những người khác theo mình. Giáo Hội cũng không mua chuộc bằng tiền của bằng quyền lợi hay bằng những hứa hẹn. Giáo Hội cũng không dụ dỗ người khác theo đạo.
Truyền giáo hôm nay phải là giới thiệu, là trình bày, là minh họa, là thuyết phục. Chúng ta giới thiệu Chúa Giêsu cho những anh chị em mà mình gặp gỡ hàng ngày nơi môi trường mính sống và làm việc.
Truyền giáo là giới thiệu Chúa cho anh chị em mình bằng chính đời sống chứng tá yêu thương dưới sự bảo trợ của Mẹ Maria. Hy vọng mỗi người chúng ta cũng có thể nói được như người Công Giáo Hàn Quốc với đồng bào lương dân của mình: “Anh chị em cứ nhìn chúng tôi sống thế nào, thì anh chị em bắt chước mà sống như thế”.
TRUYỀN THÔNG ???
Chả phải cái gì ta thấy trước mắt nó là sự thật ! Có khi chình ình trước mắt chúng ta nhưng nó không như chúng ta thấy và chúng ta nghĩ.
Truyền thông cũng vậy ! Không đơn giản để nắm bắt điều mà mình thấy mình nghe. Đơn giản là chưa chắc nó thật dù thấy nó thật và đẹp nữa.
Ngày nào cũng vậy, ai nào đó lướt qua vài trang báo, newfeed mạng xã hội, để tìm kiếm những tin tức mới. Người ta bình luận gì thêm về cô người mẫu vừa bị bắt? Thị trường xe cộ có sản phẩm nào ra mắt? Tình hình chiến sự trên thế giới hay thông tin an ninh trật tự đó đây có gì gay cấn hơn không?… Một số kẻ sẽ lợi dụng tâm lý đám đông để thả thính nhằm thu hút sự quan tâm cho bộ phim mới của họ. Họ tự tạo ra các tình huống tranh cãi. Khen cũng tốt mà chê cũng tốt, miễn bán được vé. Kiểu gì mà cứ nổi lên trên mạng, được biết đến nhiều là được.
Nhiều và nhiều người bị cuốn theo “thánh khóc”. Diễn viên mà ! Họ diễn và nhằm mục đích thu hút lượt xem. Thế là coi như nhiều người dính vào cái bẫy của truyền thông. Đua nhau vào xem và đua nhau vào ... chửi.
Trong khi đó, chuyện cần lo không lo, chuyện cần làm không làm đó là lo và làm sao để cho gia đình được ấm no và hạnh phúc. Truyền thông đã kéo người ta đi xa quá để rồi không bận tâm lo cho chuyện mình và gia đình mình nữa mà đi lo ba cái chuyện đâu đâu.
Thử hỏi cái cô gì đó bị bắt có ảnh hưởng gì đến đời của mình không ? Ấy vậy mà người ta chạy theo truyền thông đó. Các trang mạng truyền nhau tin về những người cả đời mình cũng không hề gặp mặt.
Trong thị trường báo chí, bán chạy nhất là những ấn phẩm “lá cải”. Có những tờ tràn ngập thông tin cướp, giết, hiếp, xe cán chó, chó cắn xe… Một số tòa soạn khác lại đi sâu vào đời tư người nổi tiếng. Để câu view, họ đưa cả những tình tiết linh tinh, xàm xí, không đáng nói lên báo. Nó hoàn toàn vô bổ.
Thế giới thật ngưỡng mộ những kiểu bài báo như thế này. Chắc chắn họ không dám nghĩ và viết như thế
Cạnh đó, có những trang mang tên Công Giáo nhưng thật sự chẳng có Công Giáo tí nào cả. Có những trang xào nấu thông tin và đặt những tiêu đề rất hot. Và như thế là họ đã thu hút số lượng độc giả không hề nhỏ. Chính vì đánh vào lòng hiếu kỳ của nhiều người nên họ đã vui vẻ trục lợi mà không bị ai nhắc nhở. Tiếc thay những người đó lại là người Công Giáo.
Rồi cũng vì hiếu kỳ và cả tin, nhiều người đã chạy theo và nghe theo nhóm người lập ra những trang đứng tên linh mục, tu sĩ và cả giám mục và đức ông để bán thuốc và chữa bệnh. Họ lập ra những trang rất quy mô và hoành tráng để chiêu dụ những người nhẹ dạ. Và dĩ nhiên là họ lừa được rất nhiều người vì ai ai cũng tin khi nhà tu khám chữa bệnh.
Thời đại của truyền thông để rồi cần tỉnh táo, biện phân để tham gia truyền thông. Nếu không tỉnh táo thì sẽ sập bẫy của truyền thông thôi.
Người tham gia truyền thông cần biết về đạo đức truyền thông. Chả phải cứ cái gì cũng like hay share cả.
Có những thông tin từ vài năm trước hay thông tin sai sự thật nhưng người ta cứ vui vẻ share. Thật đáng tiếc cho những trường hợp như vậy. Có những số phone xem chừng ra cá nhân và riêng tư nhưng người ta vui vẻ “thảy” lên mạng để rồi chủ nhân những số đó vô cùng khó chịu và bị phiền hà.
Khi gõ bàn phím, khi bấm phím điện thoại thì ta hết sức cẩn trọng vì một cái nhấn của ta có khi là vô cùng thiệt hại.
22-10-2023 KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO
Chúa nhật hôm nay là ngày thế giới cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo trong Giáo Hội. Bí tích Thanh Tẩy trao cho mỗi Kitô hữu sứ vụ loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu cho anh em đồng loại của mình.
Bí tích Thanh Tẩy trao cho mỗi Kitô hữu sứ vụ loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu cho anh em đồng loại của mình. Sau mỗi Thánh lễ, vị chủ tế tuyên bố với cộng đoàn tham dự: “Lễ xong, chúc anh em đi bình an!”.
Đây không chỉ là lời chào tạm biệt trước lúc chia tay. Đây chính là lời sai đi, mang nội dung và ý nghĩa như lời Chúa nói với các tông đồ trước khi về trời: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo…” (Mc 16,15). Như vậy, vào lúc thánh lễ trong phụng vụ kết thúc, cũng là lúc khởi đầu cho một cuộc lên đường mới để loan báo Tin Mừng của Đức Giêsu.
Theo công đồng Vat II: “Việc truyền giáo là tất cả những công tác đặc biệt qua đó các nhà rao giảng Phúc âm được Giáo hội sai đi khắp thế gian, thi hành nhiệm vụ rao giảng Phúc âm và vun trồng Giáo hội nơi các dân tộc cũng như giữa những nhóm người chưa tin vào Chúa”. (TG 6c)
Trước đó, cha Pierre Charles cũng cho rằng: “mục tiêu truyền giáo không phải là cứu rỗi các linh hồn”, hoặc “làm cho dân ngoại trở về với Chúa”…; song là “mở rộng biên cương Giáo hội hữu hình, nhằm hoàn tất tiến trình lớn lên, hầu bao phủ toàn thế giới với lời cầu nguyện và việc phụng tự, tức là để mang cho Đấng Cứu Thế toàn bộ gia sản của Ngài”.
Như vậy, việc truyền giáo là “đưa Thiên Chúa đến với con người và đưa con người trở về với Thiên Chúa”. Đó chính là mục tiêu chính của việc truyền giáo và cũng là sứ mạng cấp bách của Giáo hội Chúa Kitô. Vì Giáo hội được hình thành để tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu, Đấng sang lập Giáo hội. Khi hoàn tất sứ mạng của mình ở trần gian, Chúa Giêsu đã sai phái các tông đồ tiếp tục sứ mạng đó cho đến tận cùng trái đất. “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sia anh em” (Ga 20, 21″. “Anh em hãy làm chứng cho Thầy khởi đầu từ Giê-ru-sa-lem đến tận cùng trái đất” (Lc 24, 47)
Vì vậy, là người công giáo chúng ta phải có bổn phận mang Tin mừng của Chúa đến cho anh em minh. Hãy tiếp nối sứ mạng của Chúa Kitô đưa muôn người đang còn tản mác khắp nơi về với Chúa. Hãy tiếp nối truyền thống của các Thừa sai Việt Nam mang Tin mừng đến cho những anh em nghèo đói, đến những phận người bị bỏ rơi.. # Hãy tiếp nối tinh thần quả cảm hy sinh, kiên cường của các tiền nhân mà mạnh dạn làm chứng cho Chúa, cho dù có bị thua thiệt trước mặt người đời, cho dù có bị hiểu lầm, ngược đãi… nhưng cùng chịu chết với Đức Kitô là một mối lợi mà không có một gia sản nào trên trần gian có thể sánh bằng.
Thế nào là Phúc-Âm-hóa? Đó là “mang Tin Mừng đến mọi môi trường nhân loại và, nhờ sự tác động này, làm biến đổi từ bên trong, đổi mới chính nhân loại:”Này đây Ta đổi mới mọi sự” (Kh 21,5; ĐGH Phaolô VI,Tônghuấn Loan Báo Tin Mừng, 18). Phúc-Âm-Hóa là làm cho tinh thần của Phúc Âm được thấm nhuần trong mọi lãnh vực của cuộc sống, từ việc giải trí đến việc lao động; từ đời sống gia đình đến xã hội; từ người già đến người trẻ… Tân Phúc-Âm-Hóa là một cách thức canh tân để loan báo Phúc Âm có hiệu quả hơn. Đức Chân phước Gioan Phao-lô II đã giải thích khái niệm Tân Phúc-Âm-hóa trong bài diễn từ tại Đại hội lần thứ 19 của HĐGM Mỹ Châu năm 1983: “Tân Phúc-Âm-Hóa không phải là loan báo một Phúc Âm mới, nhưng là mới trong nhiệt thành, trong phương cách, trong cách diễn đạt”‘. Như thế, mọi thành phần Dân Chúa, từ giáo sĩ đến giáo dân phải kiểm điểm lại cách thức truyền giáo của mình. Phải chăng phương pháp truyền giáo của chúng ta không còn hợp thời, hoặc thiếu lửa truyền giáo nên không đem lại những kết quả như chúng ta mong muốn.
Trong nhiều định nghĩa về truyền giáo, chúng ta thường hay nghe nói đến một khái niệm: truyền giáo là làm chứng cho Chúa. Chúng ta dành ít phút để suy tư về khái niệm này.
“Làm chứng” chính là lệnh truyền của Chúa Giêsu trước khi Chúa về trời: “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđê, Samari và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Trong cuộc sống đời thường, nhiều khi chúng ta đã được mời làm chứng về một vụ việc xảy ra hoặc một tranh chấp quan trọng. Người làm chứng là nhân vật trung gian giữa hai bên. Muốn làm chứng, chúng ta phải biết rõ nội dung vụ việc đã xảy ra, với những chi tiết quan trọng có liên quan. Người làm chứng cũng phải là người có cuộc sống tốt, có uy tín, đáng tin đối với cả hai bên đang tranh chấp.
Truyền giáo là làm chứng cho Chúa. Để làm chứng cho Chúa, trước hết chúng ta phải hiểu Chúa, biết Chúa và tin vào Chúa. Một người không tin Chúa hoặc có một đức tin sơ sài thì không thể “kể về Chúa” được. Tiếp đến, người làm chứng phải có một cuộc sống tốt lành thì chứng của người đó mới đáng tin và có giá trị thuyết phục người khác. Một người nói về Chúa mà chính bản thân họ không sống những lời Chúa dạy thì không thể thuyết phục người khác theo Chúa, thậm chí họ còn làm biến dạng giáo huấn của Chúa và giáo lý của Giáo Hội.
Thế giới ngày hôm qua cũng như hôm nay luôn ngưỡng mộ những chứng nhân cho tình yêu. Một Tê-rê-sa thành Calcutta nhỏ bé nhưng có một trái tim lớn lao đã làm cho cả thế giới kính phục. Ở Việt Nam, người công giáo hay không công giáo họ vẫn nói với nhau về một vị giám mục dám bỏ ngai tòa để đến ở cùng những người cùi tại trại cùi Di linh. Đó chính là Đức Giám mục Cassien. Ngài đã dùng tình yêu để xoa dịu những những đau đớn cho người cùng khổ. Ngài đã chết cho tình yêu, nên tình yêu của Ngài mãi ở lại nơi dương thế qua mọi thời đại.
Hôm nay ngày khánh nhật truyền giáo, thiết tưởng là dịp thuận lợi để chúng ta nhìn lại tinh thần chứng nhân tin mừng của giáo hội sơ khai. Một giáo hội non trẻ nhưng có sức mạnh biến đổi trần gian. Một giáo hội bị cấm đoán nhưng vẫn lan tỏa đến tận cùng thế giới. Một giáo hội nhỏ bé nhưng ai cũng có tinh thần truyền giáo, khiến thánh Phao-lô đã từng nói rằng: “Tôi trồng, Apolo tưới, Thiên Chúa mới cho mọc lên”. Vậy đâu là điểm son để giáo hội có thể vượt qua mọi trở ngại để phát triển và canh tân bộ mặt trái đất? Thưa đó chính là tinh thần hiệp nhất yêu thương.
Theo sách tông đồ công vụ, thời giáo hội sơ khai, các tín hữu “sống hiệp nhất với nhau, và để mọi sự là của chung. Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tùy theo nhu cầu” (Tđcv 2, 44). Họ hợp nhất với nhau không chỉ về niềm tin mà còn hiệp nhất trong tình liên đới chia sẻ của cải vật chất cho nhau. Sự liên đới này tạo nên một cộng đoàn bác ái yêu thương, trong đó mỗi người đều được cộng đồng quan tâm, nâng đỡ và chia sẻ cho nhau tùy theo nhu cầu của từng người.
Hôm nay nhân ngày khánh nhật truyền giáo, chúng ta hãy rà xét lại lòng mến của chúng ta đã trở nên dấu chỉ của người kytô hữu hay chưa? Ngày xưa cộng đoàn tín hữu tiên khởi họ đã sống thật hiệp nhất với nhau, ngày ngày họ đến hội đường để nghe các tông đồ rao giảng. Họ chia sẻ đời sống hằng ngày với nhau, để không ai phải thiếu thốn. Họ được toàn dân thương mến và ngày càng có thêm nhiều người gia nhập Giáo Hội. Ước gì cộng đoàn xứ đạo chúng ta cũng được những người chung quanh nhìn bằng ánh mắt trìu mến, đầy thiện cảm và tôn trọng, và ngày càng có những người muốn sống đời Kitô hữu như chúng ta.
23-10-2023 Thứ Hai trong tuần thứ Hai Mươi-Chín Mùa Quanh Năm
Rm 4:20-25; Lc 1:69-70,71-72,73,75; Lc 12:13-21
Ðiều Chỉnh Hướng Ði
Chúa Giêsu lấy khởi điểm để giáo huấn là một vụ kiện về vấn đề chia gia tài. Rất có thể đây là một người em trong gia đình không đồng ý với cách quản lý và thụ hưởng chung gia tài, nên muốn có phần của mình để dùng theo cách độc lập. Trong những vụ tranh cãi như thế, người ta thường đến gặp các kinh sư để xin soi sáng vấn đề. Chúa Giêsu dứt khoát từ chối can thiệp. Yêu cầu của người ấy và yêu cầu của Chúa Giêsu ở trên hai bình diện khác nhau. Người ấy thì muốn có một phần sở hữu độc lập, Chúa Giêsu thì dựa vào đó để nói về tương quan của con người với của cải. Chính các tranh chấp về gia tài thường đưa ra ánh sáng một liên hệ chặt chẽ với sở hữu và thường đưa đến những mối thù nghịch kéo dài suốt đời.
Điều này có lẽ khiến chúng ta hiểu vì sao ở đây Chúa Giêsu khuyến cáo chống lại lòng tham lam mạnh mẽ đến thế. Của cải sở hữu không phải là giá trị cao nhất, khiến ta phải hy sinh mọi sự để có cho bằng được. Chúa Giêsu sẽ minh họa điểm này bằng dụ ngôn tiếp theo.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng gọi những kẻ giầu có là ngu dại. Cái ngu dại của người phú hộ trong dụ ngôn là không thể nhìn xa hơn cái kho lẫm mà ông tự xây cất để giam hãm mình vào; cái ngu dại của ông là không biết mình có đem theo được của cải nào sau khi chết hay không?
Kẻ ngu dại nói chung là kẻ sống mà không biết mình đang đi về đâu, không biết đâu là ý nghĩa và hướng đi của cuộc đời. Kẻ ngu dại là kẻ lấy phương tiện cuộc sống làm cùng đích đời người; họ chạy theo quyền lợi, danh vọng, tiền bạc, họ chối bỏ tiếng lương tâm để làm điều phi pháp; họ chà đạp người khác để đạt danh vọng, quyền bính.
Tin Mừng thuật lại, một người trong đám đông xin Chúa Giêsu can thiệp vào vụ tranh chấp tài sản (x. Lc 12,13-15). Tuy nhiên, Chúa Giêsu từ chối can thiệp và Người cảnh báo đừng thu tích của cải cho mình, vì nó không phải là cái có giá trị cao nhất. Tiếp đến, Chúa Giêsu minh họa điều này bằng dụ ngôn Người phú hộ (x. Lc 12,16-20).
Dụ ngôn này được coi như một bài bình luận cho câu nói của Chúa Giêsu: “Phải giữ mình tránh mọi thứ tham lam” (Lc 12,15). Cái chết đột ngột sẽ ập vào cuộc đời con người, sẽ làm đảo lộn những gì đã thu tích được, cũng như những dự phóng xem ra hợp lý nhất, nhưng tất cả sẽ trở thành vô giá trị.
Chúa Giêsu đã dạy để được sống đời đời, chúng ta cần sống bằng tình yêu đối với Chúa và với tha nhân (x. Lc 10,25-37). Đây mới chính là người giàu có trước nhan Thiên Chúa và được Ngài đưa đến chỗ viên mãn, đó là sự sống đời đời.
Chúa Giêsu không quan tâm đến những điểm tranh luận phụ thuộc; Người chỉ cứu xét những câu hỏi lớn liên quan đến sự sống: đâu là điều quan trọng nhất? Ta có thể tín nhiệm vào điều gì? Điều gì ta phải tìm cách đạt cho được? Ta phải sử dụng cuộc sống và dấn thân thế nào để đạt được mục tiêu cuộc đời? Chúa Giêsu nói rõ ràng các của cải vật chất không thể đảm bảo cho cuộc sống, còn sự sung túc, thoải mái, không thể là nội dung của cuộc sống được. Sự thành toàn chỉ được một mình Thiên Chúa ban cho mà thôi. Vậy trong cuộc sống này, chúng ta có thể và phải tính sổ với Thiên Chúa. Chúng ta phải chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình trước mặt Ngài.
Cuộc sống hiện tại có thể là một cạm bẫy. Những giành giựt mưu sinh có thể biến chúng ta thành kẻ ngu dại, chỉ nhìn thấy chén cơm manh áo mà quên đi ý nghĩa và cùng đích của cuộc sống. "Cái khó không những bó cái khôn", mà còn trói buộc lòng quảng đại của chúng ta.
Trong ánh sáng của dụ ngôn hôm nay, được “giàu có trước mặt Thiên Chúa” có thể là: nhìn của cải trong cái nhìn về nhu cầu của người khác; không chỉ tự mình quyết định điều thiện hảo; nhận thức sáng suốt điều Chúa muốn trước khi tôi hành động; nghĩ đến cái giá mà người khác phải trả vì quyết định của tôi; không đặt tin tưởng nơi những thứ chóng qua; xem trọng sự giàu có mà mình có nơi những tương quan với tha nhân và việc họ bị ảnh hưởng thế nào vì quyết định của tôi.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta điều chỉnh hướng đi. Hướng đi của những người có niềm tin phải là hướng đi về những giá trị của Tin Mừng và cùng đích của cuộc đời. Giữa chợ đời tranh chấp bon chen, người có niềm tin sẽ bị xem là kẻ mát mát, khờ dại, nhưng điều người đời cho là khờ dại chính là lẽ khôn ngoan, là luận lý của Thiên Chúa.
Xin Chúa giúp chúng ta ý thức rằng, mình đã có bao nhiêu tài sản nơi trần gian, đó chỉ là điều thứ yếu. Nhưng điều quan trọng nhất là mỗi khi tham dự thánh lễ là dự tiệc Thánh Thể, vì chúng ta đói khát Thiên Chúa và đường lối của Ngài. Nhờ đó, chúng ta biết ơn Chúa vì những ân huệ Ngài đã ban cho như là việc đủ ăn và thành quả lao động; đồng thời, chúng ta còn biết ơn vì đức tin mang lại cái nhìn tỏ tường, giúp chúng ta biết mình phải làm gì để nên giàu có trong Nước Trời.
24-10-2023 Thứ Ba trong tuần thứ Hai Mươi-Chín Mùa Quanh Năm
Rm 5:12,15,17-19,20-21; Tv 40:7-8,89,10,17; Lc 12:35-38
Thắt lưng cho gọn, cầm đèn cho sẵn mà vào bàn ăn
Hôm qua, Chúa Giêsu giảng dạy cho dân chúng về vấn đề đừng ham mê của cải nhưng hãy biết tích trữ của cải cho đời sau. Thì hôm nay, Chúa Giêsu nhắn nhủ phải luôn sẵn sàng cho giờ từ giã cõi đời này để bước vào sự sống đời sau. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại nhiều lần cụm từ “ phúc cho đầy tớ nào khi chủ về mà tỉnh thức ” .
Qua hình ảnh ẩn dụ đó Chúa Giêsu nói đến sự trở về bất ngờ của ông chủ là cái chết của mỗi người. Giờ chết luôn là một sự bất ngờ, không ai biết rõ. Nên phúc cho ai tỉnh thức trước giờ chết của mình. Muốn tỉnh tức chúng ta phải tránh xa tội lỗi, chăm lo làm những việc lành phúc đức. Cuộc sống luôn đầy dẫy những cám dỗ hấp dẫn, chúng dễ ru ngủ ta làm ta lơ là không đề phòng nên dễ sa ngã. Hãy tỉnh thức bằng đời sống cầu nguyện, bác aí, yêu thương, siêng năng lắng nghe lời Chúa để luôn sẵn sàng cho giờ chết.
Tin mừng hôm nay, ta thấy Chúa Giêsu nói đến điều cần thiết nhất mà con người phải chờ mong, đó bàn tiệc thiên quốc do chính Chúa dọn ra cho những tôi tớ trung thành. Người đầy tớ trong dụ ngôn hôm nay được mời gọi hãy tỉnh thức để sẵn sàng mở cửa đón chủ trở về. Ông chủ trong dụ ngôn hôm nay rất lạ; ông khác hẳn với các ông chủ trần gian. Các ông chủ trần gian khi đi ăn tiệc về, chắc chắn sẽ bắt đầy tớ phải chăm sóc cho ông ta chu đáo, còn Ông Chủ trên thiên quốc thì hoàn toàn ngược lại: Ông vẫn đòi buộc các tôi tớ của mình canh thức để đón ông trở về, nhưng khi ông về, ông sẽ dọn bàn tiệc mà hậu đãi đầy tớ!
Thái độ của người đầy tớ trong dụ ngôn cũng rất lạ. Thay vì buồn bã phải thức đêm thức hôm để chờ ông chủ về mà hầu hạ, thì anh ta ở trong tư thế sẵn sàng để đón chờ một niềm vui lớn đang được dành cho anh ta. Anh được mời gọi “thắt lưng cho gọn, cầm đèn cho sẵn”. Tư thế “thắt lưng cho gọn” là tư thế dân Chúa xưa kia, những con người được Chúa tuyển chọn đã thắt lưng cho gọn để chuẩn bị một cuộc Vượt Qua tiến về miền đất tự do Chúa hứa ban. Tư thế “cầm đèn cho sẵn” là tư thế của những người đi dự tiệc cưới ban đêm luôn sẵn sàng chờ chàng rể đến thì đi cùng với chàng rể mà vào phòng tiệc.
Được mời gọi luôn tỉnh thức chờ Chúa đến, chúng ta đáp lại bằng thái độ sống đạo sốt sắng. Cung cách sống đạo ấy được diễn tả qua một hình ảnh cụ thể “thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn.” Với bao lo toan của cuộc sống hiện đại, chúng ta dễ bị cuốn hút theo nhịp sống đời thường, dễ phân vân trước chọn lựa theo con người tự nhiên hay tinh thần siêu nhiên, hơn – thiệt, được - mất khi theo Chúa. Bề ngoài có thể ta vẫn sống đạo tốt đấy, nhưng kỳ thực chưa chắc tận đáy lòng “mến Chúa trên hết mọi sự.” Vì thế, “thức tỉnh” là thái độ cần thiết để hình thành thói quen ưu tiên cho Thiên Chúa trong các chọn lựa, ngõ hầu giữa trăm mối bận tâm của cuộc sống, chúng ta vẫn luôn thuộc về Chúa, chung hưởng niềm vui với Ngài.
Chúa Giêsu dạy ta sống trong sự tỉnh thức, sẵn sàng chờ đợi Chúa Ki-tô đến bằng việc “thắt dây lưng và cầm đèn sáng”. Y phục của Người Do-thái thời đó mặc vừa dài vừa rộng. Để khỏi vướng víu khi đi lại hay làm việc, họ phải xắn lên và thắt đai lưng cho gọn.
Tin Mừng hôm nay Chúa dạy tôi phải có thái độ sẵn sàng đón chờ Chúa đến, phải loại bỏ những cản trở như danh vọng, đam mê, những thứ khác ràng buộc, khiến ta mất tự do, không hoàn toàn thuộc về Chúa, để sẵn sàng ra đón tiếp Người đến cách chung hay riêng. Người Ki-tô hữu phải có thái độ luôn tỉnh thức. Tỉnh thức còn là luôn ở trong tình trạng “đang làm nhiệm vụ”.
Tỉnh thức là thái độ của người đầy tớ trung tín và khôn ngoan, biết mình đang làm gì. Sự lựa chọn trong giây phút hiện tại sẽ định đoạt số phận trong cuộc đời vĩnh hằng.
Tỉnh thức là dấu hiệu của người đang sống đức tin sống động, kết hợp mật thiết với Chúa, sẽ có tâm hồn bình an hạnh phúc. Người tỉnh thức là người luôn sống tinh thần cầu nguyện: “Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người” (Lc 21,36).
Chúa nhắc đi nhắc lại: “Nếu canh hai hoặc canh ba ông chủ mới về, mà còn thấy họ tỉnh thức như vậy, thì thật là phúc cho họ.” Nếu canh hai hoặc canh ba, biết chắc giờ nào thì Chúa đến? chỉ có cách tốt nhất là luôn luôn trong tư thế sẵn sàng. Nếu lúc nào chúng con cũng “có Chúa ở cùng”, sống mật thiết với Chúa thì dù có bất ngờ, chúng con còn được vui vẻ ra đón rước Người, chứ không phải giật mình sợ hãi.
Sống tỉnh thức và sẵn sàng với Chúa trong bối cảnh xã hội hôm nay phải nói là một thách đố rất lớn cho mọi người, trong đó có bạn và tôi. Những nỗi đam mê tiền bạc, danh vọng, lạc thú dường như đang đẩy cuộc đời chúng ta vào một giấc ngủ mê, khiến chúng ta quên đi cùng đích thật sự của cuộc đời mình là hưởng hạnh phúc bên Thiên Chúa trên Thiên quốc. Bạn và tôi, những người tín hữu Kitô, chúng ta hãy vùng dậy khỏi giấc ngủ đê mê ấy, chúng ta cùng nhau sống tỉnh thức: “thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn” để đạt được hạnh phúc vĩnh cửu.
Lời Chúa hôm may mời gọi chúng ta luôn ở tư thế sẵn sàng như người tôi tớ luôn “thắt lưng cho gọn, cầm đèn cho sẵn” để khấp khởi vui mừng đợi Chúa đến đưa ta vào bàn tiệc Nước Trời, đưa ta vào miền đất tự do, hạnh phúc trên thiên quốc. Nếu ta chỉ biết ham mê của cải vật chất như người phú hộ và chỉ biết vùi đầu vào những vui thú và đam mê trần tục, thì chẳng có bàn tiệc thiên quốc nào được dọn sẵn cho ta cả!
25-10-2023 Thứ Tư trong tuần thứ Hai Mươi-Chín Mùa Quanh Năm
Rm 6:12-18; Tv 124:1-3,4-6,7-8; Lc 12:39-48
Tỉnh Thức Trong Phục Vụ
Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu đã nói lên quan niệm của Ngài về quyền bính. Các Tông đồ không ngừng tranh luận với nhau về quyền bính; cái giấc mộng công hầu khanh tướng luôn ám ảnh các ông, ai trong các ông cũng muốn ngồi chỗ cao trong Vương Quốc mà họ tưởng Chúa Giêsu đã đến để thiết lập. Nhưng đối lại với tham vọng ấy, Chúa Giêsu cho thấy rằng quyền bính là để phục vụ; trong Nước Ngài, kẻ càng được trao nhiều quyền hành, càng phải là người phục vụ, mà phục vụ theo đúng nghĩa là hoàn toàn quên mình để sống cho người khác.
Do phép Rửa, người Kitô hữu chúng ta được tham dự vào chức vị vương giả của Chúa Kitô. Chúa Kitô là Vua, nhưng là Vua của phục vụ. Cung cách vương giả của Ngài là quì trước các môn đệ và rửa chân cho họ. Do đó, tham dự chức vụ vương giả của Chúa Kitô, chúng ta cũng được trao cho một thứ quyền bính, và quyền bính ấy tương đương với phục vụ. Người ta không thể là Kitô hữu, không thể là môn đệ Chúa Kitô mà lại khước từ phục vụ.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta tỉnh thức. Sự tỉnh thức đích thực của người Kitô hữu chính là phục vụ. Càng phục vụ, họ càng nhận ra được Nước Chúa đang đến; càng phục vụ, họ càng nên giống Chúa trong cung cách vương giả của Ngài. Ai lãnh nhận nhiều sẽ bị đòi nhiều. Ân sủng dồi dào mà chúng ta lãnh nhận qua Bí Tích Rửa Tội là để san sẻ; tình yêu chúng ta cảm nhận được trong đức tin là để trao ban. Sự thức tỉnh đích thực của người Kitô hữu chính là ý thức rằng sống là để yêu thương và phục vụ, và đó cũng là hạnh phúc đích thực, vì "cho thì có phúc hơn là nhận".
Mở đầu Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu khẳng định chủ nhà chẳng có thể biết được giờ nào, ngày nào kẻ trộm đến trộm cướp nhà mình. Nếu biết “hẳn ông đã không để nó khoét vách nhà mình”. Xưa nay Hội thánh vẫn dạy ta cái ngày giờ ấy chính là ngày Chúa gọi ta ra khỏi thế gian này, hay là ngày Chúa trở lại lần thứ hai để phán xét ta. Ông Phêrô đã hỏi Chúa: “Chúa nói dụ ngôn này cho chúng con hay cho tất cả mọi người?”.
Chúa đã lờ đi việc trả lời cho Phêrô. Người lại dạy cho các môn đệ một bài học dài về địa vị và trách nhiệm sống của mỗi người ở trần gian này. Chúa dạy cho ta biết mỗi chúng ta được sinh ra đều là những người quản gia, quản lý cho Chúa mà Người đã đặt lên, chứ ta không phải là những ông chủ sở hữu tài sản, tiền bạc.
Vì mọi sự ở trần gian này đều là của một “Ông Chủ” là chính Thiên Chúa. Tất cả những gì ta đang có: thân xác, sức khỏe, tiền của đều là của Người ban và trao cho ta quản lý cho đến ngày Chúa sẽ đòi hỏi lại. Mỗi chúng ta phải là những quản gia “trung tín, khôn ngoan” cho Chúa, để “coi sóc kẻ ăn người ở, để cấp phát đúng giở đúng lúc”.
Người quản lý là người thay quyền chủ ở chỗ được trao. Họ phải làm theo ý chủ mà bảo vệ và làm gia tăng nguồn tài sản của chủ hiện có, không được chi tiêu hà tiện, hà khắc quá mà làm hỏng việc cho chủ. Họ cũng không được chi tiêu bừa bãi làm tổn thất của cải chủ mình. Người quản lý phải có lòng yêu thương và “trung tín”với chủ cũng như mọi người cả bên ngoài cũng như bên trong, lúc có mặt chủ cũng như khi chủ vắng mặt. Có như vậy mọi công việc nơi quản gia được trao ấy mới tốt đẹp, mới được ông chủ yêu mến, mới không bị “loại ra… phải chung số phận với những tên thất tín”.
Hôm nay Chúa cũng dạy cho ta một đều quan trọng nữa là: “Đầy tớ nào đã biết ý chủ mà không chuẩn bị sẵn sàng, hoặc không làm theo ý chủ, thì sẽ bị đòn nhiều, còn kẻ không biết ý chủ mà làm những chuyện đáng phạt thì sẽ bị đòn ít”. Đây chính là sự khắt khe, quyết liệt đối với người đã được phúc tin yêu Chúa và cũng là sự cảm thông, nhân từ, tha thứ của Chúa đối với những ai chưa được hiểu biết Người.
Để chuẩn bị cho ngày Chúa đến thật bất ngờ, hôm qua Chúa nhắc nhở chúng ta cần phải tỉnh thức bằng cách chu toàn tốt bổn phận như người đầy tớ chuyên cần. Tiếp tục hôm nay, Chúa nhắc chúng ta ý thức sống tốt vai trò của người quản lý. Người quản lý tốt phải có 2 đặc tính: 1 là trung tín; 2 là khôn ngoan.
Trung tín: là trung thành và tin tưởng chủ mình. Lòng tin tưởng và trung thành phát xuất từ lòng yêu mến chân thật. Vì yêu mến chủ mình nên người quản lý không bao giờ chểnh mảng hay phản bội chủ mình. Trái lại luôn biết chuyên chăm làm việc bổn phận theo ý muốn của chủ mà không hề kêu ca hay so đo tính toán.
Khôn ngoan: là người biết phân biệt đúng-sai; tốt-xấu; lợi-hại; chóng qua-bền vững… người quản lý khôn ngoan là người luôn nhạy bén nhận ra đâu là thời điểm thuận lợi để đầu tư và phát triển của cải mà chủ trao phó để sinh lợi cho chủ cách tốt nhất.
Chúa tin tưởng đặt mỗi người chúng ta vào vai trò quản lý của Chúa bằng cách yêu thương trao ban cho chúng ta những của cải quý giá: gia đình, sức khỏe, thời gian, trí tuệ , của cải vật chất và nhiều đặc sủng khác… Chúa mong muốn chúng ta quản lý tốt những của cải quý giá ấy và nỗ lực sinh lợi ra nhiều cho bản thân, gia đình và xã hội.
26-10-2023 Thứ Năm trong tuần thứ Hai Mươi-Chín Mùa Quanh Năm
Rm 6:19-23; Tv 1:1-2,3,4,6; Lc 12:49-53
Ước gì lửa bùng lên
Trong Tin Mừng hôm nay Chúa Giê-su khẳng định Ngài đã mang lửa xuống thế gian và mong muốn cho ngọn lửa ấy cháy bùng lên. Bài đọc 1 trong đêm Giáng Sinh, sách Tiên tri Isaia quả quyết: “ Dân tộc bước đi trong u tối, đã nhìn thấy sự sáng chứa chan. Sự sáng đã bừng lên trên những người cư ngụ miền thâm u sự chết” (Is 9,2). Như vậy Đấng Cứu Thế đến trần gian như một ngọn đuốc soi sáng thế gian u mê. Chúa Giêsu đến để giải thoát con người ra khỏi vòng tăm tối tội lỗi, đem đến cho nhân loại chân lý và sự thật.
Chân lý ấy là vũ trụ cùng nhân loại này được tạo dựng lên do bởi Thiên Chúa. Còn sự thật đó là Đấng Thiên Chúa luôn yêu thương tha thứ và muốn cho loài người được ơn cứu rỗi. Ai đón nhận chân lý và sự thật ấy thì chính là đón nhận ngọn lửa mà Ngài mang đến. Ngọn lửa đó biểu hiện cho niềm tin, lòng tôn kính Thiên Chúa và tình yêu thương tha nhân.
Trong nghi thức thanh tẩy, người tân tòng được trao cho ngọn lửa và qua việc nhận lãnh một ngọn nến cháy sáng với lời nhắn nhủ của vị chủ tế: “ Anh, chị đã trở nên ánh sáng Chúa Kitô, anh, chị luôn sống như con cái sự sáng, để được bền vững trong đức tin. Khi Chúa Kitô đến anh, chị xứng đáng ra nghênh đón Người với toàn thể các thánh trên trời”.
Ngọn lửa mà Chúa Giê-su mang đến cho chúng ta cũng chính là Thần Khí của Thiên Chúa. Trước khi về trời Ngài đã chẳng thổi hơi ban Thần Khí cho các Tông đồ để các ông thay Ngài mà đi rao giảng Tin Mừng đó sao? (Ga 20,21-23) Và vào ngày lễ Ngũ Tuần các môn đệ thấy xuất hiện những hình lưỡi lửa tản ra và đậu xuống trên từng người và ai nấy đều tràn đầy ơn Chúa Thánh Thần. (Cv 2,1).
Chúa xuống thế gian để mang ngọn lửa và Ngài muốn ngọn lửa ấy không những phải được mãi sáng trong chúng ta mà còn phải được bừng lên lan tràn đến mọi người chung quang nữa, vì vậy chúng ta sẽ không ngừng sống đời sống chứng nhân bằng cách sống yêu thương tha nhân và luôn tôn thờ Thiên Chúa.
Có những người cho rằng đây là một thứ lửa đã được đốt lên, nên dịch là: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy còn ước mong gì nữa, nếu lửa ấy đã bùng lên rồi” (Bản dịch Anh giáo; Crampon; Joüon; NTT…); đây là y như thể Chúa Giêsu chẳng còn gì mà mong ước, nên chỉ còn việc chờ đợi chịu Thương Khó (c. 50) hầu hoàn tất sứ mạng. Bản Nova Vulgata dịch theo hướng này: “Ignem veni mittere in terram et quid volo? Si iam accensus esset!” Nhưng đa số các tác giả nghĩ rằng Đức Giêsu diễn tả một nguyện ước, nên đã dịch: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên”. Bản Vulgata cũ dịch theo nghĩa này là: “Ignem veni mittere in terram et quid volo nisi ut accendatur?”; đây cũng là cách dịch của Segond, Zorell, Lagrange, BJ, TOB, CGKPV…
Trong Cựu Ước, “lửa” đôi khi được dùng với ý nghĩa là một phương tiện để thanh luyện (Lv 13,52; Ds 31,23), để biện phân hoặc tách biệt (Gr 23,29; Is 33,14), và để xét xử (St 19,24; Xh 9,24; Tv 66,12; Is 43,2). Vậy từ ngữ “lửa” của Lc 12,49 có nghĩa nào? Có tác giả cho rằng lửa này quy về Chúa Thánh Thần (x. Cv 2,3): Đức Giêsu hiện đang mang Chúa Thánh Thần và ước mong là tất cả mọi người được đầy Thánh Thần (thánh Grêgôriô Cả, thánh Ambrôsiô, thánh Xyrillô Alêxandria, thánh Giêrônimô). Nhưng lửa này cũng được giải thích là quy chiếu về phán xét (x. 3,17): Đức Giêsu đưa lại sự chia cắt giữa người tốt và kẻ xấu và muốn rằng sự chia cắt này xảy ra trọn vẹn (Knabenbauer; BJ).
Dù có chọn nghĩa nào, “lửa” cũng cần được liên kết với Lc 3,16, là câu trả lời của Gioan: “Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa”. Qua câu này, ta nhận thấy “lửa” có nghĩa tượng trưng. Thật ra dựa theo ngữ pháp (hai danh từ nối với nhau bằng liên từ “và”), chúng ta đã có thể giải thích rằng “Thánh Thần và lửa” có nghĩa là “Thánh Thần là lửa”, và từ đó có thể đi đến những nghĩa khác như là hệ quả, chẳng hạn “sự thanh luyện”, hay là “sự biện phân”, “sự xét xử” như là những tác động của Thánh Thần. Tuy nhiên, nối tiếp câu này là c. 17 cũng có “lửa”: “Tay Người cầm nia rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi”. “Lửa” này chắc chắn không có nghĩa như “lửa” trong c. 16.
Muốn tìm ra nghĩa chính xác của “lửa”, nên tìm hiểu xem Chúa Giêsu đến để làm gì? Người muốn đạt được điều gì nhờ hoạt động của Người? Chẳng lẽ Người không muốn mang bình an đến, kêu gọi loài người thông cảm nhau hơn, đối xử nhân hậu và từ bi với nhau hơn? Chính Chúa Giêsu đã diễn tả rõ ràng về mục tiêu sứ mạng của Người và những hậu quả phát sinh từ đó: Người đến ném lửa vào mặt đất; có một phép rửa Người phải chịu; Người đến để gây chia rẽ. Thật ra những lời lẽ này không mô tả hết ý nghĩa của sứ mạng của Chúa Giêsu. Nhưng các phương diện thuộc sứ mạng của Người được nhắc đến ở đây cần được cứu xét.
Nói đến việc “Người đến”, chúng ta nhớ đến những lời khác: “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn” (Lc 5,32). “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (19,10). Một yếu tố cốt yếu của sứ mạng Người là nhân ái đối với những kẻ tội lỗi, nỗ lực đưa họ về lại với Thiên Chúa. Chúa Giêsu đầy lòng tốt lành và từ bi thương xót (x. 7,36-50). Nhưng Người không hề nhắm biện minh cho mọi sự, triệt tiêu sự phân biệt giữa tốt và xấu, làm cho mọi sự hòa hợp với nhau. Mục tiêu của Người không phải là sự yên tĩnh và bình an của một thỏa hiệp chung. Người đã đến ném “lửa” vào trần gian. Đó là ý muốn thâm sâu của Người: trái đất được bao trùm trong “lửa” ấy và bốc cháy. Ghi nhận rõ ràng những đường nét của câu nói của Chúa Giêsu, ta thấy các cách giải thích trên về “lửa” dường như quá gò ép.
Có thể nói Đức Giêsu gán cho toàn thể hoạt động của Người đặc tính của “lửa”. Người đến, đầy Thánh Thần, đầy sức sống thâm sâu nhất của Thiên Chúa. Người loan bao Tin Mừng cho người nghèo. Người cho những kẻ bần cùng và tội lỗi biết lòng thương xót của Thiên Chúa. Khi làm những việc ấy, Người nhen lên ngọn lửa, muốn đốt cháy, và như lửa, Người bao trùm, xuyên suốt mọi sự. Người sẽ đến gặp người ta, nắm bắt người ta một cách thâm sâu.
Điều mà Người làm không chỉ là một đóng góp trung lập, không hứng thú. Theo cách làm Người, không có chỗ cho sự dửng dưng và chán chường, không có bức tường vô phương xuyên thấu đẩy bật mọi sự trở lại, không có một tấm bạt tráng dầu trên đó mọi sự trôi tuột đi. Hành động của Chúa Giêsu có đặc tính của “lửa”: nó muốn thắng vượt mọi thái độ lãnh đạm và xa cách; nó muốn đốt cháy; nó muốn có một cuộc gặp gỡ mãnh liệt, sống động.
Những lời Chúa Giêsu nói trong đoạn Tin Mừng trên đây cho chúng ta thấy nguyện ước sâu xa của Chúa Giêsu. Sứ mạng của Chúa Giêsu nhắm đạt được cuộc gặp gỡ cao độ, “nóng cháy”, với loài người. Trái tim của Người khao khát hoàn tất hành trình mà Thiên Chúa đã quy định cho Người. Mục tiêu Người nhắm không phải là một sự hài hòa bên ngoài, nhưng là một việc lấy lập trường rõ ràng kể từ khi đã gặp gỡ cao độ với Người. Từ chỗ này có thể phát sinh các chia rẽ. Người ta không được hy sinh việc lấy lập trường theo Chúa Giêsu hầu đạt được một thỏa hiệp cho việc đi tìm sự hài hòa.
27-10-2023 Thứ Sáu trong tuần thứ Hai Mươi-Chín Mùa Quanh Năm
Rm 7:18-25; Tv 119:66,68,76,77,93,94; Lc 12:54-59
Biết phải biết trái
Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nhắc đến những quy luật báo hiệu thay đổi thời tiết trong thiên nhiên mà Thiên Chúa đã an bài cho con người nhận biết được. Người nhắc lên điều đó như có phần khen ngợi họ thông thạo việc trời đất cho đời sống phần xác mình: “Khi các ngươi thấy mây kéo lên ở phía tây, các Ngươi nói ngay: ‘Mưa đến nơi rồi’ và xảy ra đúng như vậy”.Nhưng Chúa nói lên điều này là để khiển trách họ: Thông biết những chuyện trời đất kía , nhưng lại không biết nhận ra thời giờ cứu chuộc của Thiên Chúa đã đến với nhân loại. Có lẽ Chúa nhắm đến mấy ông Pharisêu cũng đang ngồi ở đó. Người hay gọi họ là “ những kẻ đạo đức giả”mà trách dân chúng. Dân chúng đã không biết thời giờ cứu chuộc, cũng không biết phải làm gì trước những biến cố họ đang chứng kiến ấy.
Thiên Chúa khi tạo dựng vũ trụ, Người đã ban cho con người được quyền cai quản vũ trụ ấy. Đồng thời Người cũng ban cho con người khả năng, trí tuệ vừa đủ để đần dần khám phá mà quản trị chúng. Nhìn lại lịch sử phát triển của những công trình nghiên cứu khoa học của thế giới: Thiên Chúa đã ban cho con người khả năng mà khám phá thế giới, mỗi ngày lại tìm ra những điều mới lạ. Cho nhân loại ngày càng hiểu biết vũ trụ hơn, đồng thời cũng ngày càng được thấy sự huyền diệu vĩ đại của Thiên Chúa tối cao tạo dựng. Người ta thống kê thế kỷ 19 có gần 90% các nhà khoa học tin nhận Thiên Chúa là thế. Quý hóa thay, những kiến thức khoa học đó ngày nay đã nên tài sản quý trong kho tàng của toàn thể nhân loại, của mọi thời đại. Mỗi người cứ lớn lên cắp sách tới trường qua các môn học là được hiểu biết về vũ trụ, về quy luật của chúng mà Thiên Chúa đã tạo dựng.
Một điều ân phúc lớn lao, cho nhân loại hôm nay nữa là có Hội Thánh Chúa hiện diện nơi trần gian này. Nơi đó được Chúa hứa ban có Thánh Thần hướng dẫn cho đến ngày tận thế. Nơi đó Chúa cũng ban cho liên tục mọi thời mọi nơi những nhà, “Khoa Học”lớn lao hết lòng, tận tụy… chỉ lo học hỏi về Thiên Chúa mà hướng dẫn nhân loại sống theo thánh ý Chúa: đó là biết bao các đấng thánh, các đấng cầm quyền trong Hội Thánh xưa nay. Con cái Chúa trong Hội Thánh không còn phải cảnh như dân Do Thái xưa “bơ vơ như đàn chiên không người chăn dắt”(Mc 6,30-34). Mà dân Chúa được hướng dẫn mọi ngày từ điều nhỏ đến điều lớn trong cuộc đời.
Để mà nhận ra “cái gì là phải” mà lo mà làm như Chúa đã nói với dân Do Thái trong Tin Mừng hôm nay: Chúa dùng dụ ngôn hai người mắc nợ nhau. Người mắc nợ nếu khôn ngoan phải biết thương lượng, lo mà trả trước, đừng để đến ngày chủ nợ đưa ra tòa. Khi ấy sẽ chỉ bị ngồi tù và phải trả nợ “hết đồng kẽm cuối cùng”. Con người tôi cũng là một con nợ thật lớn đối với Thiên Chúa: Thân xác, linh hồn tôi, mọi ơn lành đến với hồn xác tôi hàng ngày, mọi tiền tài của cải tôi đang có…tất cả đều là của Chúa ban. Tôi có biết mà tạ ơn Chúa hàng ngày, có chia sẻ cho những người khó khăn hơn như Chúa muốn tôi làm? Nếu không thì có ngày tôi cũng sẽ phải ra tòa, rồi ngồi tù mà phải trả nợ cho đến “hết đồng kẽm cuối cùng.
Dấu chỉ, dấu chứng lớn nhất là chúng ta có một Thiên Chúa là Cha. Người đã làm được tất cả những gì làm được cho chúng ta, kể cả việc trao ban cho chúng ta Người Con yêu dấu duy nhất của Người, để chúng ta được hòa giải với Người và hòa giải với nhau trong tình anh chị em. Vì thế, chúng ta phải xử với nhau như anh chị em. Hơn nữa đối với Chúa Giêsu, trần gian này chẳng qua là nơi Thiên Chúa giáo huấn cho chúng ta, làm cho chúng ta nên cao cả qua những việc mình làm mỗi ngày để mang lại hạnh phúc cho nhau. Một mai đây khi đến thời đến buổi chúng ta cũng sẽ cùng nhau về với Cha. Sống ở đời này với ưu tiên một là Thiên Chúa thì chúng ta mới có thể mong được về hưởng hạnh phúc với Người.
Dù muốn hay không thì ngày ra trước tòa phán xét cũng sẽ đến với mỗi người chúng ta. Có điều ngày ấy đến rất bất ngờ, ta không biết được. Do đó tốt hơn hết là ta hãy khôn ngoan chuẩn bị sẵn sàng cho ngày ấy.
Chúa Giêsu luôn mời gọi chúng ta mặc lấy cái nhìn lạc quan và tin tưởng. Chúng ta dễ cảm tạ Thiên Chúa khi gặp may mắn, thịnh đạt, thành công; nhưng chúng ta lại dễ bị cám dỗ để không nhận ra sự hiện diện và tác động của Ngài trong những mất mát, thua thiệt. Nhìn vào điềm báo thời tiết, chúng ta biết được trời sắp mưa hay sắp nóng nực; cũng thế, nhìn vào những may mắn và cả những thất bại, chúng ta hãy nhận ra lời mời gọi tin tưởng và dâng lời cảm tạ Chúa. Mỗi gặp gỡ, mỗi biến cố đều là dấu chỉ thời gian, vừa bày tỏ sự hiện diện và tác động yêu thương của Chúa, vừa mời gọi chúng ta tín thác vào bàn tay quan phòng của Thiên Chúa.
28.10.2023
Thánh Simon và Jude, Tông Đồ
Rm 8:1-11; Tv 24:1-2,3-4,5-6; Lc 13:1-9
Chọn và gọi
Hai vị thánh hôm nay chúng ta mừng Lễ luôn đứng bên nhau trong danh sách 12 Tông Đồ. Simon là một con người nhiệt thành, không quãng sự khó nhọc và hăng say. Chúa Giêsu đã biến đổi ông từ một người nhiệt thành với nước Israel trần thế, thành một vị Tông Đồ nhiệt thành với Nước Trời. Giuđa còn gọi là Tađêô. Ông được gọi là Giuđa trung kiên, vì ông đã trung kiên với Chúa cho đến hơi thở cuối cùng. Noi gương hai vị thánh Tông đồ, chúng ta cũng phải trở nên những dụng cụ đắc lực cho Hội Thánh và tích cực siêng năng trong bổn phận của người tín hữu.
Trong suốt cuộc đời rao giảng của Chúa Giêsu, người ta thấy Ngài luôn dành cho việc cầu nguyện một vị trí quan trọng. Người ta thấy Ngài cầu nguyện mọi nơi: trong hội đường, trên núi, ngoài bãi biển… và mọi lúc: lúc sáng sớm, khi đêm về, sau một ngày giảng dạy hay trước một việc làm quan trọng, như hôm nay, trước khi chọn và gọi các tông đồ. Với Chúa Giêsu cầu nguyện là lẽ sống của đời mình, nơi đó Ngài gặp Chúa Cha, nhận ra ý Ngài để thực hiện. Ngày cũng dạy các tông đồ và những ai đi theo Ngài phải biết cầu nguyện luôn; “Phải cầu nguyện luôn mãi không ngừng nghỉ” (Lc 18,1); hoặc “Không có Thầy, chúng con không thể làm được gì” (Ga 15,5). Nhờ cầu nguyện mà chúng ta biết mình phải làm gì và công việc của chúng ta cũng nhờ đó mà thực sự là công việc của Chúa và để làm vinh danh Chúa.
Sau khi Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha: “Người gọi các môn đệ và chọn Nhóm Mười Hai mà Người gọi là Tông Đồ: Đó là Simon mà Người gọi là Phêrô, và em ông là Anrê, Giacôbê và Gioan, Philípphê và Bartôlô mêô, Matthêu và Tôma, Giacôbê con ông Alphê và Simon cũng gọi là Nhiệt Thành, Giuđa con ông Giacôbê và Giuđa Iscariốt là kẻ phản bội.” Đây là nhóm các ông đã theo Chúa Giêsu từ những buổi đầu rao giảng, đầy nhiệt thành, và tin vào Lời Chúa, là khởi sự của Giáo hội sơ khai, Chúa không ngừng dạy dỗ, chỉ bảo và gìn giữ các ông.
Tin Mừng hôm nay kể lại sự kiện Đức Giêsu chọn gọi và thiết lập nhóm mười hai, đội quân tay phải của Ngài. Ngài không quảng cáo tuyển nghề, mà chỉ “chộp” một cách giản đơn: “Rồi Người lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn.” “Lên núi” được dùng ở đây để nhớ lại ngọn núi Sinai trong Cựu Ước, nơi xưa Môsê đã tụ họp mười hai chi tộc Israel để biến họ trở thành dân riêng của Thiên Chúa. Trước khi gọi các ông, Ngài đã cầu nguyện suốt đêm. Con số mười hai cho thấy Ngài muốn khai sinh một dân mới, kết thành một cộng đoàn, trước hết là “cùng ở với Ngài”, tham dự vào sứ mệnh, rồi thực tập đi loan báo Tin Mừng kèm theo quyền năng Ngài thông ban và tiếp tục sứ mệnh của Ngài trên trần gian.
Ngài không tuyển những người có thế giá, nổi nang, học thức, mà lại gọi những ngư phủ tầm thường ít học, tính khí khác nhau. Hầu hết họ là những người nhút nhát, sau này chạy bỏ Thầy trong cuộc thương khó. Matthêu là hàng thu thuế tội lỗi công khai. Có những người nóng tính được mệnh danh là “con của thiên lôi”. Phêrô chối Thầy, người thì ngày sau bán Thầy như Giuđa Iscariô. Nhưng họ lại là “những kẻ Người muốn.” Đường lối của Chúa thì khác xa với đường lối của con người. Cách huấn luyện của Đức Giêsu là cho họ được ở với Thầy, tập suy nghĩ, ăn nói, cư xử, hành động như Thầy trực tiếp trong cuộc sống. Ở với Thầy có cơ hội để Thầy quan sát, nhắc nhở, sửa sai, tập tành, rèn luyện thành người môn đệ đích thực, làm nền tảng lưu truyền Tin Mừng cho khắp thế gian sau này.
Chúa Giê-su luôn cầu nguyện cùng với Chúa Cha để hiểu thánh ý Người, dù bận rộn nhiều việc trong ngày nhưng Chúa Giê-su vẫn dành riêng thời gian cầu nguyện đôi khi cả đêm trong thinh lặng thanh vắng. Khi khởi đầu mọi công việc, Chúa Giêsu đều cầu nguyện với Chúa Cha, Thầy Giêsu cũng dạy chúng ta hãy thường xuyên cầu nguyện là lúc tâm hồn lắng đọng, đặt hết tâm trí vào lời cầu nguyện, lắng nghe tiếng nói tận đáy lòng để giúp chúng ta biết làm những việc theo dẫn dắt của Thần khí Chúa. Kinh nghiệm của Thánh Bênađô:“Ba yếu tố giúp ta thành công trong việc tông đồ: lời giảng, gương sáng và cầu nguyện, nhưng cầu nguyện là hơn cả.”
Qua đó, có thể thấy mối quan hệ giữa cầu nguyện và loan báo Tin Mừng: chúng ta cầu nguyện để có thêm sức mạnh, thêm vững tin và đem niềm tin đó trao cho những người chưa nhận biết Chúa; ngược lại, loan báo Tin Mừng giúp họ biết cách cầu nguyện, trò chuyện cùng Chúa và tiếp tục công cuộc truyền giáo ấy. Giữa hai hành động ấy có một mỗi tương hỗ sâu sắc, không thể tách rời. Hai thánh tông đồ Simon và Giuđa chúng ta mừng kính hôm nay là một trong những minh chứng hữu hiệu cho việc cầu nguyện và loan báo Tin Mừng. Các ngài luôn vững tâm tin tưởng vào Thiên Chúa mà các ngài loan báo, luôn cầu nguyện cùng Người và sẵn sàng hy sinh cả tính mạng để bảo vệ niềm tin ấy.
Chúa Giêsu là Trưởng Tử của Thiên Chúa mà còn kiên trì, vững tâm cầu nguyện và loan báo Tin Mừng thì chúng ta là ai mà dám không làm điều đó. Nếu có tư tưởng vì là Con Thiên Chúa nên Người có thể làm việc đó cách hoàn hảo, còn chúng ta chỉ là phận người, làm sao có thể sánh được? Khi đó, chúng ta hãy nhìn thấp hơn và suy ngẫm về các tông đồ. Các ngài cũng là phận người như chúng ta, đôi khi còn chưa hoàn hảo bằng chúng ta, nhưng các ngài đã tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa và hằng thi hành thánh ý Người. Do đó, nếu các ngài làm được, chúng ta cũng phải noi theo tấm gương của các ngài, biết chuyên cần cầu nguyện và loan báo Tin Mừng.
Hằng năm, vào chủ nhật tuần áp cuối tháng 10, Giáo hội dành đặc biệt để cầu nguyện cho việc truyền giáo cũng như nhắc nhở về sứ mệnh truyền giáo của mỗi người Kitô hữu. Sứ điệp ngày thế giới truyền giáo năm 2021 của Đức Thánh Cha Phanxicô: “ Những gì tai đã nghe, mắt đã thấy, chúng tôi không thể không nói ra.” Cv 4,20. Có phải chúng ta thực hiện việc truyền giáo là lan tỏa tình yêu thương với tha nhân bằng những hành động nhỏ thiết thực như biết chia sẻ giúp đỡ bữa ăn cho những người khó khăn, an ủi những gia đình đau khổ vì người thân qua đời trong nạn dịch, đóng góp vật chất tiếp sức cho công cuộc truyền giáo ở các vùng xa xôi hẻo lánh…
CHÚA NHẬT 29 MÙA TN.
Is 45,1.4-6; 1 Tx 1,1-5b; Mt 22,15-21
QUY HƯỚNG VỀ NƯỚC THIÊN CHÚA
Ta biết đồng bạc của người Do Thái ngày xưa có in hình hoàng đế Xê-da với hàng chữ ghi ở dưới “Tiberius Cesar, Divi Augusti Filius Augustinus Pontifex Maximus”, nghĩa là ‘Xê-da Tibêriô, con và thượng đế uy linh của Angusto thần thánh’. Đồng tiền được ghi bằng tiếng La -tinh, nhưng cũng có thể ghi bằng tiếng Hy Lạp với ý nghĩa tương tự. Xê-da đã kiêu ngạo coi mình như thượng đế cao cả, bá chủ nhân loại.
Vào năm 1920, ông Mahatma Gandhi đã hô hào dân chúng không đóng thuế cho đế quốc Anh, để phát động chiến dịch đòi lại độc lập cho người dân Ấn Độ. Cuộc đảo chính không tiếng súng, không bạo động đã dẫn đến thành công và Anh quốc đã phải trao trả tự do cho Ấn Độ sau nhiều năm tháng đô hộ.
Người Pharisêu là những người giữ luật rất tốt. Họ giữ luật tỉ mĩ. Vì thế, ai không giống họ thì sẽ bị họ thanh trừ. Ngược lại, Chúa Giêsu là người sống cụ thể của luật bằng tình thương và lòng nhân ái. Điều này làm cho họ mất ảnh hưởng thậm chí là còn đe doạ quyền lợi của họ. Do đó, người Pharisêu càng thêm ghét Chúa Giêsu và họ tìm đủ mọi cách để loại trừ Ngài.
Những người Pharisêu trong bài Tin Mừng hôm nay cũng nêu ra một câu hỏi rất nham hiểm về việc đóng thuế nhằm gài bẫy Chúa Giêsu : “Thưa thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa, Xin thầy cho biết ý kiến, có được phép nộp thuế cho Xê-da hay không?”
Đây là cái bẫy xảo quyệt họ dương ra nhằm buộc tội Chúa Giêsu. Nếu Chúa trả lời là phải nộp thuế, họ sẽ quy cho Ngài tội phản bội dân tộc, làm tay sai cho đế quốc Rôma và chống lại nhân dân. Nếu Chúa trả lời rằng không, họ sẽ đi tố cáo với chính quyền để kết tội Ngài như một con người mưu phản và xách động. Tình thế tiến thoái lưỡng nan.
Câu trả lời của Chúa rất khôn ngoan : “Hãy trả về cho Xê-da những gì của Xê-da, hãy trả về cho Thiên Chúa những gì thuộc về Ngài. Câu nói của Chúa hàm ngậm những sứ điệp rất quan trọng mời gọi chúng ta suy nghĩ để đem ra thực hành.
Thái độ của những người Do Thái đồng hương với Đức Giêsu đối với đế quốc Rôma rất khác nhau, tùy theo kế sách của họ phản ứng trước sự đô hộ như thế nào. Một số người thì muốn an phận, và chấp nhận nộp thuế để khỏi phiền hà, cho dù họ rất khó chịu. Một số khác bằng lòng nộp thuế vì họ coi nhà cầm quyền Rôma như là đại diện cho quyền bính của Thiên Chúa (Rm 13, 1-7; 1P 2, 13-17). Một số khác, theo phe thân vua Hêrôđê, sẵn lòng cộng tác với chính quyền Rôma, và được nhà nước bảo hộ trao ban những đặc quyền trong các tổ chức dân sự. Họ tự nguyện nộp thuế, không phản đối. Một số khác thì hoàn toàn tuyệt vọng, vì tiền thuế cao là một gánh nặng, khiến họ dễ lâm cảnh nợ nần, mất đất đai để sinh sống.
Khi không còn tiền để trả nợ, họ sẽ bị bán làm nô lệ (Mt 18, 23-25). Còn một nhóm khác lại nhất quyết không chịu nộp thuế, vì họ nghĩ tất cả mọi sự đều thuộc về Thiên Chúa (Lv 25,23). Một ít thành phần thì hoàn toàn cự tuyệt chống đối, và bất hợp tác với đế quốc trong bất cứ vấn đề gì. Cũng có một số người cực đoan, ngấm ngầm hình thành nhóm ái quốc, quyết nổi dậy cướp chính quyền bằng vũ lực, lật đổ sự cai trị của đế quốc. Sử gia Josephus có nêu tên một vài lãnh tụ cách mạng, cầm đầu nhóm nổi dậy vào đầu thế kỷ thứ nhất, trong đó có Guiđa người Galilê (Cv 5,37) người đã nổi dậy chống nền đô hộ, đương nhiên chống cả việc nộp thuế, nhưng cuộc nổi dậy bị thất bại.
Khi đưa ra câu hỏi hóc búa này để vặn hỏi Đức Giêsu, người Pharisiêu muốn hạ uy tín Ngài. Nêú Ngài cổ vũ việc nộp thuế, có nghĩa là Ngài thỏa hiệp với ngoại bang, với kẻ thù của dân tộc, như vậy dân sẽ không còn tin Ngài là một ngôn sứ nữa. Các sứ ngôn luôn rao giảng về đường lối Thiên Chúa đối kháng với đường lối cầm quyền của đế quốc, của Xê-da. Nếu chủ trương như thế, uy tín của Đức Giêsu sẽ không còn. Còn nếu Ngài trả lời không phải nộp thuế, Ngài tự đặt mình vào tình huống rất nguy hiểm vì sẽ bị nhà cầm quyền Rôma sờ gáy ngay lập tức.
Là người Kitô hữu, chúng ta có hai quyền công dân đi đôi với nhau, sở dĩ như vậy vì chúng ta là công dân của hai thế giới, đó là thế giới trần gian và thế giới thiên quốc. Như vậy, chúng ta phải tôn trọng những đòi buộc của mỗi bên. Chính vì thế mà trong bức thư gởi tín hữu Rôma, thánh Phaolô đã khuyên nhủ: Hãy vâng phục các vị cầm quyền, hãy nộp cho họ những gì chúng ta mắc nợ. Mong rằng giữa hai quyền công dân này không bao giờ xảy ra những xung đột, nhưng luôn đi song song và bổ túc cho nhau, vì đạo chỉ đẹp khi ở trong đời và đời chỉ tốt khi ở trong đạo.
Còn nếu chẳng may xảy ra xung đột thì người Kitô hữu phải biết cách giải quyết: Vâng phục Thiên Chúa hơn vâng phục loài người. Đó là cách thức đã từng được người Kitô hữu giải quyết trong dòng lịch sử, mỗi khi có những cấm cách và bách hại xảy đến.
Thiên Chúa đã yêu chúng ta trước bằng một tình yêu vô biên. Vì thế hãy mở rộng tâm hồn để đón nhận tình yêu Chúa. Huyền diệu của tình yêu là khi nào người kia lãnh nhận, tình yêu ấy mới thực sự thành tình yêu. Tình yêu cho đi, không người nhận, sẽ trở về với người đã trao ban.
Chúa Giêsu mời gọi chúng ta quy hướng về nước Thiên Chúa. Sự khôn ngoan của Ngài trong câu trả lời về bổn phận đối với Thiên Chúa và đồng thời cũng phải chu toàn nghĩa vụ trần thế, mời gọi chúng ta trước tiên phải luôn hướng vọng về Thiên Chúa, và đặt Thiên Chúa vào chỗ tối thượng trong cuộc đời chúng ta.
Huệ Minh 2020
CHÚA NHẬT 29 TN A KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO
LÊN ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO
Kính thưa Cộng đoàn,
Ngày hôm nay, Chúa Nhật này được gọi là Khánh Nhật Truyền Giáo. Giáo hội mời gọi chúng ta, ngày hôm nay, mỗi người trong cái hoàn cảnh của mình, trong cái ơn gọi của mình là truyền giáo . Bởi vì bản chất của Giáo hội là truyền giáo. Truyền Giáo không dành cho các linh mục, tu sĩ . Nhưng Chúa mời gọi tất cả mỗi người chúng ta: trong hoàn cảnh của mình, trong đời sống của mình, chúng ta truyền giáo theo cái cách thức, theo đường lối: miễn sao Đức Kitô được rao giảng mà thôi.
Điểm nổi bật trong các bài đọc hôm nay, chúng ta thấy: ra đi và đi đến .
Bài đọc thứ I , ngôn sứ Giacaria họa lại một bức tranh đầy ấn tượng rằng là cái cảnh người ngoại giáo níu gấu áo của người Do Thái, và xin : « Chúng tôi đi với các ông, vì chúng tôi nghe nói rằng: Thiên Chúa ở cùng các ông .»
Từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã đặt trong lòng nhân loại, cái niềm khát vọng đi tìm Ngài. Thúc đẩy họ đi tìm đến dân tộc Do Thái, và tin rằng: “Chúa của dân này là Chúa tể của vũ hoàn, là Đấng mà họ phải tôn thờ”.
Và qua bài đọc thứ II, chúng ta thấy Tin Mừng được loan truyền không chỉ gói gọn ở đất nước Palestina. Bị bách hại, các Kitô Hữu phải tản mát khắp đất nước La Mã, và chính vì cái sự kiện đó, thay vì bị khống chế là cơ hội mà Tin Mừng được loan báo.
Và ngày hôm nay, kết thúc Tin Mừng theo Thánh Mátthêu. Chúng ta thấy, Chúa Giêsu trước khi chia tay với các môn đệ, Chúa Giêsu đã trao quyền trên Trời dưới đất cho các ông và Chúa Giêsu mời gọi: «Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ và làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và ChúaThánh Thần.»
Mệnh lệnh truyền giáo đó, chúng ta thấy không gói gọn ở các Tông đồ , nhưng cứ được : loan đi, loan đi, hết người này đến người khác, để minh chứng Thiên Chúa là tình yêu.
Và chúng ta thấy trong cuộc đời của thánh Phêrô. Thánh Phêrô , với một cái bài giảng mà đã kéo được 3000 người trở về với Chúa, rất là tuyệt vời. Bởi vì, qua cái cách mà biện luận của Phêrô, Phêrô đã thuyết phục người ta trong niềm tin.
Và chúng ta thấy thánh Phaolô đặc biệt trong cái tâm tình cuộc đời của ngài, có cái hay : « Anh em hãy đi rao giảng trong mọi hoàn cảnh có những lúc thuận tiện . »Chúng ta thấy có những lúc khản cổ, Phaolô đi rao giảng nhưng không ai theo đạo cả! Nhưng rồi cuộc đời của Phaolô chính là minh chứng cho niềm tin, minh chứng cho sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời của mình, để sau đó Phaolô đã hi sinh cả cuộc đời của mình để loan báo Tin Mừng.
Thánh Phaolô nói với chúng ta rằng: “ Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”. Và đặc biệt, tôi đến với anh em bằng lời lẽ rất là bình thường, rất là bình dân. Chứ tôi không đến với anh em bằng những lời lẽ hùng hồn này nọ . Chúng tôi đến với anh em bằng cả cuộc đời của chúng tôi, chúng tôi nói với anh em bằng cả niềm tin của chúng tôi.
Và chúng ta thấy đặc biệt nơi cuộc đời của Thánh Phanxicô. Ngài đã đi hàng ngàn cây số và Ngài đã Rửa tội cho hàng trăm ngàn người. Có thể tính được là một cây số, ngài rửa tội cho một người. Và cuộc đời của thánh Phanxicô phải nói rằng đó là một mẫu gương truyền giáo, và ngài chính là bổn mạng của các xứ truyền giáo. Khi bước chân của Phanxicô đi đến đâu thì ngài loan báo Tin Mừng đến đó ! Phải nói rằng khuôn mặt của Phanxicô là một khuôn mặt lớn trong Giáo Hội, đặc biệt về Loan Báo Tin Mừng bằng đời sống của mình, bằng những nẻo đường truyền giáo của mình.
Thế nhưng truyền giáo không chỉ dừng lại, không có khép kín ở trong cái chuyện là phải ra đi, phải lên đường.
Và một khuôn mặt, chúng ta thấy, một Têrêsa Hài Đồng Giêsu rất là dễ thương! Mới có 24 tuổi đời, nhưng Têrêsa Hài Đồng Giêsu được phong là bổn mạng của các xứ truyền giáo, bởi sao? Bởi vì lẽ, trong cái dòng kín Terêsa sống, có đụng chạm với chị em mình, thế nhưng rồi tất cả Têrêsa đã dâng lên Chúa bằng tất cả tình yêu thương. Tất cả những hy sinh đó, bằng tình yêu thương của mình , mà Têrêxa đã chấp nhận tất cả những khổ đau đó!
Khi thấy chị em giặt đồ hắc ướt vào mặt mình, Têrêsa Hài Đồng Giêsu vẫn mỉm cười, nhưng trong lòng xin dâng lên Chúa tất cả những cay đắng, những đắng đót của cuộc đời. Khi bị chèn ép Têrêsa Hài Đồng Giêsu, vẫn đón nhận và chấp nhận tất cả! Để hi sinh, để dâng lên cho Chúa.
Và rồi chúng ta nhìn thấy nơi khuôn mặt của Têrêsa Calcutta, với tất cả tấm lòng, mẹ Têrêxa đã băng bó vết thương cho những người bị bỏ rơi, và mẹ Têrêsa đã cố gắng làm cho những con người bị bỏ rơi, những con người đau yếu, những con người bệnh tật đó, được chết trong tư cách là người. Một khuôn mặt truyền giáo rất tuyệt vời ! Ngày hôm nay, chúng ta lại được nhìn đến: nơi khuôn mặt của mẹ, một tấm lòng đầy bác ái và yêu thương.
Và chúng ta có thể truyền giáo trong mọi hoàn cảnh .
Có một người lính năm 1945 ở đảo Guam, lính Mỹ. Anh ta mới kể lại câu chuyện rằng:
Khi mà anh ta làm cảnh sát trưởng thì, đêm hôm đó, chiều hôm đó nhóm lính của anh đi hành hương về và dơ bẩn tất cả mọi người đều hăm hở đi tắm, để đi ăn. Riêng có một người Công giáo, anh ta ngồi lại và anh ta đọc kinh và anh ta mới ăn cơm, thì cái viên đội trưởng đó tức quá, mới đạp cái anh này một cái .
Nhưng mà rồi đến sáng hôm sau, thấy lọc cà, lọc cọc lúc 4:30 sáng, ngay đầu giường, thì ra là người lính người Công giáo này đã tỉ mĩ , đã chùi đôi giày cho đội trưởng của mình .
Và đến sáng hôm sau, người đội trưởng đã tức tốc chạy đến cha Tuyên uý để xin : « Xin cho con được rửa tội!»
Cha tuyên úy hỏi: Tại sao vậy? Thì người chỉ huy này mới kể lại: hình ảnh của người lính Sĩ quan Công Giáo anh bị chửi bị đạp đó! nhưng anh vẫn đón nhận và chịu đựng và đó là tấm gương để lo cho người đội trưởng trở về với Chúa của mình, không chút đắn đo suy nghĩ. Bởi vì: qua tấm gương của người lính, anh ta thấy nơi người Công giáo một đời sống rất tuyệt vời!
Bất cứ trong hoàn cảnh nào chúng ta thấy, cách đây 2 năm Đức Thánh Cha Phanxicô phong Chân Phước cho ba mẹ của thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu.
Chúng ta thấy ngài đề cao về đời sống gia đình. Mẹ của Thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu mất sớm, còn lại bố của ngài. Và bố của ngài đã chăm chuốt cho các con và dâng lên Giáo Hội những người con ưu tú, những người con sống trong đời đan tu.
Chúng ta thấy đó, lược qua cái đời sống truyền giáo của Giáo hội . Ngày hôm nay chúng ta thấy đó! Có thể chúng ta sống trong một cái hoàn cảnh của bước chân đi loan báo Tin Mừng, trong hoàn cảnh của 4 bức tường trong tu viện, trong hoàn cảnh của một đời sống gia đình. Nhưng mà liệu rằng chúng ta có sống cái đời sống chứng nhân của chúng ta như cái anh chàng lính Công giáo đó hay không?
Ngày hôm nay, người ta không cần đến thầy dạy nữa! bởi vì thầy dạy thì quá nhiều! Ngày hôm nay, người ta cần chứng nhân, chứng nhân về một tình yêu, về lòng thương xót của Thiên Chúa ở giữa cuộc đời này.
Chúng ta được mời gọi sống Truyền giáo, chúng ta có thể, trong mọi hoàn cảnh của chúng ta. Làm sao chúng ta có thể nói cho người khác biết rằng: chúng ta có Chúa trong đời chúng ta, bằng một đời sống đượm tình Bác Ái, Yêu Thương.
Ngày hôm nay người ta nghe nhiều quá ! người ta cũng chán, nghe nói nhiều quá người ta cũng chán, bởi vì một cái thực tế mà người ta đang sống. Đó là: một cái xã hội vô cảm.
Khi người này không cần biết tới người kia, và người ta sống bởi cái chủ nghĩa Mặc kê nô và người ta vun vén cho mình thì chúng ta là những người Kitô Hữu, chúng ta lại lội ngược dòng và chúng ta lại được mời gọi làm chứng cho Chúa giữa cuộc đời này, bằng tình Bác Ái, Yêu Thương của chúng ta.
Nói thì dễ, nhưng làm thì khó lắm! Bởi vì ai trong chúng ta cũng mang trong mình cái ích kỷ, ai cũng mang trong mình cái tôi!
Và được Chúa mời gọi, nếu như chúng ta mở lòng ra, để chúng ta đón nhận Thần Khí của Chúa: “Thần Khí Chúa đã sai tôi đi, sai tôi đi loan báo Tin Mừng.”
Nếu chúng ta có Chúa Thánh Thần ở cùng chúng ta, thì chúng ta sẵn sàng và chúng ta có đủ sức, để chúng ta bước chân lên đường đi loan báo Tin Mừng như Chúa mời gọi chúng ta.
Vẫn là những con người yếu đuối, vẫn là những con người hạn chế trong cái thân phận làm người, nhưng nếu có ơn Chúa và nhờ Chúa giúp chúng ta, chúng ta sẽ bước chân lên đường loan báo Tin Mừng trong hoàn cảnh sống của mình, trong mọi ngày sống của mình.
Có thể chỉ là một ly nước, có thể chỉ là một bát cơm, có thể chỉ là một ổ bánh mì cho những người nghèo xung quanh chúng ta, hay là có thể chỉ là một lời cầu nguyện chân thành, để cầu nguyện cho tất cả những vị đang truyền giáo.
Thiên Chúa ban ơn cho chúng ta, để dù trong bất cứ hoàn cảnh nào khó khăn tật nguyền hay là không có thời gian đến với Chúa nhiều, chúng ta vẫn có thể sử dụng bằng đời sống cầu nguyện, đượm tình bác ái, yêu thương của chúng ta, để chúng ta sống làm chứng nhân Tin Mừng của Chúa giữa cuộc đời, và trở thành những người truyền giáo như lòng Chúa mong muốn. Amen.
Thứ Hai tuần 29 Mùa TN.
Ep 2,1-10; Lc 12,13-21
ĐIỀU ƯU TIÊN CẦN CHỌN
Với trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cũng gọi những kẻ giàu có là ngu dại. Cái ngu dại của người phú hộ trong dụ ngôn là không thể nhìn xa hơn cái kho lẫm mà ông tự xây cất để giam hãm mình vào; cái ngu dại của ông là không biết mình có đem theo được của cải nào sau khi chết hay không?
Kẻ ngu dại nói chung là kẻ sống mà không biết mình đang đi về đâu, không biết đâu là ý nghĩa và hướng đi của cuộc đời. Kẻ ngu dại là kẻ lấy phương tiện cuộc sống làm cùng đích đời người; họ chạy theo quyền lợi, danh vọng, tiền bạc, họ chối bỏ tiếng lương tâm để làm điều phi pháp; họ chà đạp người khác để đạt danh vọng, quyền bính.
Chúa Giêsu dạy chúng ta phải có thái độ đúng đắn khi sử dụng của cải. Thánh Luca, ngay câu đầu của bài Tin Mừng, Ngài đã đưa ra một tình huống xử kiện về gia tài : “ Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi ? (c.13) thỉnh cầu của người này khiến chúng ta thấy có điều bất hoà giữa hai anh em, mà nguyên nhân gây bất hoà là của cải.
Thời Chúa Giêsu, dân Do Thái thường nhờ các Thầy Rabbi, có địa vị, có uy tín... để phân xử. Trong Cựu Ước, ông Môsê cũng đã từng xử kiện cho dân chúng, vì ông đã được đặt làm người lãnh đạo và xét xử ( Xh 2, 14). Trường hợp trên: Người anh thì ham của, muốn “ăn” trọn. Người em chắc yếu thế hoặc sống phung phá gì đó, nên cha mẹ không để phần gia tài.
Chúng ta xem Chúa Giêsu trả lời thế nào: “Ai đặt tôi làm người xử kiện hay chia gia tài ?” Một câu hỏi cũng là câu khẳng định về chân tính của Đức Kitô. Ngài không đảm nhận một công việc trần thế. Ngài đến để rao giảng Tin Mừng Nước Trời và đưa họ vào vương quốc của Ngài. Và Ngài nói tiếp để căn dặn họ : “ Hãy coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, vì không phải được dư giả, thì mạng sống nhờ của cải mà được bảo đảm đâu.” (c.15).
Chúa Giêsu biết khi tham lam người ta đánh mất lương tri. Giàu thì muốn giàu thêm. Có tiền lại muốn nhiều tiền hơn : lòng tham vô đáy là thế. Khi tham lam, người ta dễ loại trừ nhau. Đồng tiền làm mờ đôi mắt, làm tối lương tâm. Cho dù đời này ăn mặc sung sướng, vàng bạc đầy nhà, của cải ê hề, thì cũng không chắc sẽ giữ được mạng sống sau khi chết, nếu người đó không biết sử dụng đúng cách. Vì nhiều người đầy của cải, vẫn chết. Có người tự tử trên đống tiền. Nhiều gia đình không hạnh phúc, nhà cửa tan nát, cha mẹ li dị chỉ vì có quá nhiều của cải rồi sinh tật ăn uống, chơi bời.
Cuộc sống hiện tại có thể là một cạm bẫy. Những giành giựt mưu sinh có thể biến chúng ta thành kẻ ngu dại, chỉ nhìn thấy chén cơm manh áo mà quên đi ý nghĩa và cùng đích của cuộc sống. "Cái khó không những bó cái khôn", mà còn trói buộc lòng quảng đại của chúng ta Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta điều chỉnh hướng đi. Hướng đi của những người có niềm tin phải là hướng đi về những giá trị của Tin Mừng và cùng đích của cuộc đời. Giữa chợ đời tranh chấp bon chen, người có niềm tin sẽ bị xem là kẻ mát mát, khờ dại, nhưng điều người đời cho là khờ dại chính là lẽ khôn ngoan, là luận lý của Thiên Chúa.
Điều mà chúng ta cần ưu tiên “lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa”. Đồng tiền chúng ta tích trữ được hôm nay, chúng ta vẫn có thể biến chúng thành những đồng tiền có giá trị trước tòa phán xét mai ngày, bằng cách: Tích cực góp phần vào việc xây dựng Hội Thánh “làm cho Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến”; Quảng đại chia sẻ cơm áo cho những người nghèo đói bệnh tật, như lời Chúa phán: “Hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, nơi trộm cắp không đào ngạch và lấy đi được” (Mt 6,20).
Đến ngày tận thế, Vua Thẩm Phán Giêsu sẽ xét xử chúng ta dựa vào những việc bác ái chúng ta đã làm cho tha nhân như sau: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu , các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm… Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,34-36.40).
Chúa Giêsu đã dạy: “Đừng thu tích của cải trần gian cho mình mà hãy lo làm giầu trước mặt Thiên Chúa”. Vì những kẻ giàu có mà thiếu lòng nhân ái thì quả thật khờ dại như lời Chúa phán với tên phú hộ: “Đêm nay người ta sẽ đến đòi linh hồn ngươi thì lúc đó những của cải ngươi tích trữ kia sẽ để lại cho ai?”. Thánh Phaolô cũng khuyên đồ đệ Timôthê như sau: “Chúng ta đã chẳng mang gì vào trong thế gian, và chúng ta cũng không thể mang bất cứ cái gì ra khỏi đó” (1 Tm 6,7).
Và như vậy ta thấy thái độ khôn ngoan của các tín hữu là: Đừng quá tham lam tiền bạc, nhưng hãy: “Sắm lấy túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá” (Lc 12,33), và hãy biết quảng đại sẻ chia những đồng tiền mình đang chiếm hữu cho những người nghèo khổ túng cực.
Thứ Ba tuần 29 Mùa TN.
Ep 2,12-22; Lc 12,35-38
TỈNH THỨC VÀ SẴN SÀNG
“Tỉnh thức và sẵn sàng” là tâm tình mà Chúa Giêsu thường hay nhắc nhớ mọi người trong khi giảng dạy. Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy Chúa Giêsu dùng hình ảnh người chủ trở về bất ngờ sau bữa tiệc cưới để nhắc nhớ mọi người phải sống tỉnh thức và sẵn sàng. Chúng ta biết rằng tiệc cưới của người Do Thái thường kéo dài rất lâu, không ai có thể biết khi nào kết thúc (có khi buổi chiều, có khi nửa đêm, có khi muộn hơn nữa).
Thật thế. cũng chính vì không biết đích xác giờ nào ông chủ sẽ trở về, nên đầy tớ luôn luôn phải sẵn sàng: sẵn sàng trong tư thế làm việc qua việc thắt lưng cho gọn (vì áo của người Do Thái dài, lụng thụng, nên để dễ làm việc phải thắt cho gọn lại); và sẵn sàng trong tư thế phục vụ qua việc thắp đèn sẵn để soi đường cho chủ thấy lối vào nhà.
Từ câu chuyện rất đời thường, Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta cũng phải có thái độ tỉnh thức và sẵn sàng như người đầy tớ đợi ông chủ đi ăn tiệc cưới trở về, vì Thiên Chúa cũng đến với chúng ta cách bất ngờ như thế.
Tuy nhiên trong cuộc sống hiện tại, giữ được sự tỉnh thức và sẵn sàng này không phải là điều dễ dàng, bởi vì để sống vươn lên, con người phải bon chen, phải đấu tranh về nhiều phương diện, do đó đôi lúc con người quên đi cùng đích của cuộc sống, nên sống như là chỉ có cuộc sống này mà thôi.
Sống tỉnh thức và sẵn sàng theo lời Chúa mời gọi là luôn sẵn sàng cho ngày giờ Chúa gọi chúng ta về với Chúa. Chúng ta xác tín rằng một ngày nào đó Chúa sẽ gọi chúng ta về, còn khi nào, cách nào, ở đâu? Thì chẳng có ai biết được. Do đó, chúng ta phải luôn tỉnh thức và sẵn sàng.
Sai lầm của chúng ta hôm nay là quá quan tâm đến những gì tạm bợ, chưa đủ quan tâm đến sự sống hạnh phúc đời đời của mình. Bao nhiêu thời gian, công sức, tiền của, tài năng, trí tuệ, nghị lực đều được sử dụng để đầu tư cho thân xác, cho cuộc sống tạm bợ đời này, để rồi khi kết thúc cuộc đời chỉ còn là một nấm đất :
“Trăm năm còn có gì đâu ?
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì !”
Cha Charles de Foucault nói rằng: “Bạn hãy sống như bạn sẽ chết vào tối nay”. Đó là một lời khuyên khôn ngoan, một lời khuyên lặp lại lời nhắn nhủ của chính Chúa Giêsu: “Hãy tỉnh thức, vì các con không biết giờ nào chủ sẽ về”.
"Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn". Chúa Giêsu mời gọi chúng ta tỉnh thức. Có lẽ chúng ta rất tỉnh thức trong kinh kệ, trong nghĩa vụ đạo đức, nhưng lại mê ngủ trong những đòi hỏi của Tin Mừng. Kitô giáo không phải là đạo ru ngủ, nhưng luôn thức tỉnh chúng ta, bởi vì đạo là đường để đi. Người chăm chú đi đường không thể ngủ gật, trái lại luôn mở mắt để nhìn thấy cảnh trí chung quanh, để nhận ra hướng đi của mình, để đồng hành với người khác.
Thái độ của người đầy tớ trong dụ ngôn cũng rất lạ. Thay vì buồn bã phải thức đêm thức hôm để chờ ông chủ về mà hầu hạ, thì anh ta ở trong tư thế sẵn sàng để đón chờ một niềm vui lớn đang được dành cho anh ta. Anh được mời gọi “thắt lưng cho gọn, cầm đèn cho sẵn”. Tư thế “thắt lưng cho gọn” là tư thế dân Chúa xưa kia, những con người được Chúa tuyển chọn đã thắt lưng cho gọn để chuẩn bị một cuộc Vượt Qua tiến về miền đất tự do Chúa hứa ban. Tư thế “cầm đèn cho sẵn” là tư thế của những người đi dự tiệc cưới ban đêm luôn sẵn sàng chờ chàng rể đến thì đi cùng với chàng rể mà vào phòng tiệc.
Chiêm ngắm Trang Tin Mừng hôm này, bạn và tôi được mời gọi luôn ở tư thế sẵn sàng như người tôi tớ luôn “thắt lưng cho gọn, cầm đèn cho sẵn” để khấp khởi vui mừng đợi Chúa đến đưa ta vào bàn tiệc Nước Trời, đưa ta vào miền đất tự do, hạnh phúc trên thiên quốc. Nếu ta chỉ biết ham mê của cải vật chất như người phú hộ và chỉ biết vùi đầu vào những vui thú và đam mê trần tục, thì chẳng có bàn tiệc thiên quốc nào được dọn sẵn cho ta cả!
Mỗi người chúng ta được mời gọi luôn tỉnh thức chờ Chúa đến, chúng ta đáp lại bằng thái độ sống đạo sốt sắng. Cung cách sống đạo ấy được diễn tả qua một hình ảnh cụ thể “thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn.” Với bao lo toan của cuộc sống hiện đại, chúng ta dễ bị cuốn hút theo nhịp sống đời thường, dễ phân vân trước chọn lựa theo con người tự nhiên hay tinh thần siêu nhiên, hơn – thiệt, được - mất khi theo Chúa. Bề ngoài có thể ta vẫn sống đạo tốt đấy, nhưng kỳ thực chưa chắc tận đáy lòng “mến Chúa trên hết mọi sự.”
Vì thế, “thức tỉnh” là thái độ cần thiết để hình thành thói quen ưu tiên cho Thiên Chúa trong các chọn lựa, ngõ hầu giữa trăm mối bận tâm của cuộc sống, chúng ta vẫn luôn thuộc về Chúa, chung hưởng niềm vui với Ngài.
Thứ Sáu tuần 29 Mùa TN.
Ep 4,1-6; Lc 12,54-59
ĐỌC DẤU CHỈ THỜI ĐẠI ĐỂ SỐNG ĐỨC TIN
Trong trang Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cảnh tỉnh chúng ta phải biết nhìn những dấu chỉ thời đại để nhận ra thời giờ của Chúa.
Khi tiên báo về ngày giờ của Chúa sẽ đến, một người trong đám đông dân chúng tiến lại đặt câu hỏi với Chúa Giêsu để biết khi nào thì các sự ấy xảy ra. Chúa Giêsu liền nhắc họ cách đoán biết thời tiết để nhận ra những dấu chỉ. “Khi các ngươi thấy mây kéo lên ở phía tây, các ngươi nói ngay: “Mưa đến nơi rồi”, và xảy ra đúng như vậy. Khi thấy gió nồm thổi, các ngươi nói: “Trời sẽ oi bức”. Và xảy ra đúng như vậy. Những kẻ đạo đức giả kia, cảnh sắc đất trời, thì các ngươi biết nhận xét, còn thời đại này, sao các ngươi lại không biết nhận xét?”
Chúa Giêsu cũng đã khen ngợi họ về sự lanh lợi, sự hiểu biết và mau lẹ ứng dụng kinh nghiệm sống của mình trong đời sống hàng ngày. Và Đức Giê-su cũng mong muốn họ áp dụng, thích ứng những kinh nghiệm dân gian đó vào đời sống đức tin, đọc ra được những dấu chỉ của thời cuộc.
Tuy vậ, kinh nghiệm sống, giỏi thiên văn của người Do thái dường như đã và đang chôn vùi họ trong sự tự tôn, trong sự ích kỷ, trong sự thiển cận của mình. Đức Giê-su đã mời gọi họ đi xa hơn những kinh nghiệm thường ngày mà họ đang cảm nhận. Ngài gọi mời họ khám phá, đi ra khỏi sự hạn hẹp và dám tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Thế nhưng, mặc cho sự gọi mời, mặc cho chân lý vẫy gọi, người Do thái, những kinh sư, những luật sĩ, họ vẫn cứng lòng, chai dạ trước sự thật, trước đức tin.
Chúa Giêsu lên tiếng khen người Do Thái, họ rất giỏi về thiên văn, đoán biết được các hiện tượng tự nhiên, các điềm lạ dựa vào sự xuất hiện của tinh tú, sự thay đổi của thời tiết, mưa nắng...Thế nhưng họ lại là những kẻ giả hình vì không nhận ra ngày giờ của Chúa. Họ suy nghĩ có lý luận chặt chẽ và thường kiểm chứng bằng khoa học nhưng tiếc thay họ lại thiếu niềm tin.
Quả thật, đoán biết thời tiết để tiên liệu cho công việc là điều cần thiết. Nhưng người khôn ngoan phải biết nhìn xa trông rộng, nghĩa là không chỉ sắp xếp công làm đồng áng mà còn phải thu xếp được hiện tại và hoạch định kế hoạch cho cuộc sống vững bền mai sau. Trong cuộc sống có nhiều người được xem là trí thức học cao hiểu rộng hơn người, họ biết lợi dụng thời thế xã hội mà tiến thân, làm giàu một cách nhanh chóng. Nhưng thực chất đó chỉ là những kẻ khôn ranh, khôn ma, khôn lỏi.... Trái lại có người lại bị liệt vào loại khờ khạo, không biết làm ăn tính toán nên buôn bán thua lỗ, học hành thất bại...Cả hai loại người này đều không có gì đáng bắt chước.
Lời Chúa hôm nay đang chất vấn lương tâm mỗi người chúng ta về thái độ sống thế nào để khi thời giờ của Chúa đến chúng ta không phải nuối tiếc. Đôi lúc chúng ta giả vờ hay cố tình lãng quên lời dạy của Chúa. Chúng ta mải mê điên cuồng đuổi theo những gì là phù hoa hư ảo, chạy theo cơn cám dỗ của tiền bạc vật chất, đam mê xác thịt mà không sống và tìm kiếm những giá trị Tin Mừng. Chúng ta say sưa ngủ yên trên những vinh quang đạt được mà quên rằng cuộc sống này chỉ là tạm bợ, trời đất này sẽ qua đi vì bản chất của nó chỉ là vật chất không thể tồn tại vĩnh viễn. Chúng ta quen sống trong sự giả dối ngu muội, ù lì chìm trong các thói hư tật xấu. Một lần nữa Chúa nhắc nhở chúng ta quan sát những điềm thiêng dấu lạ để nhận biết ngày giờ của Chúa.
Dấu chỉ thời đại không chỉ là sự thay đổi của thời tiết, các vì tinh tú trăng sao nhưng còn là những vấn đề đang xảy ra trong cuộc sống xã hội hàng ngày. Nạn tham nhũng, bất công, nạn bài thiêng tục hóa, nạn phá thai cùng lối sống hưởng thụ thác loạn của giới trẻ...đang là tiếng chuông cảnh báo về ngày tận cùng của thế giới. Đứng trước những vấn đề nhức nhối ấy, niềm tin như bị tê liệt, chúng ta dường như phải “bó tay”. Hãy để cho ánh sáng Tin Mừng của Chúa soi rọi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống và lương tâm con người. Chúng ta sẽ làm gì để thức tỉnh những con người đang sống trong mê lầm tội lỗi?
Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta hướng giải quyết đó là phải có thái độ sống công bằng, yêu thương bác ái với mọi người và phải sám hối mỗi ngày. Vì “khi anh đi cùng đối phương ra tòa, thì dọc đường hãy cố gắng giải quyết với người ấy cho xong, kẻo người ấy lôi anh đến quan toà, quan toà lại nộp anh cho thừa phát lại và thừa phát lại tống anh vào ngục. Tôi bảo cho anh biết, anh sẽ không ra khỏi đó trước khi trả hết đồng kẽm cuối cùng”. Mỗi người chúng ta luôn phải trả lẽ trước mặt Chúa về thái độ sống của chính mình.
Thiên Chúa đã yêu thương tạo dựng nên chúng ta giống hình ảnh Chúa, Ngài ban cho chúng ta có trí khôn để nhận biết điều hay lẽ phải, có trái tim đong đầy tình yêu mến và có ý chí để chọn lựa. Chớ gì chúng ta biết dùng những khả năng Chúa ban nhận ra những dấu chỉ của thời đại mà có thái độ sống tích cực hơn, biết giữ tâm hồn trong sạch, hành động ngay chính để khi ra trước tòa Chúa, chúng ta không phải hối tiếc vì những gì đã xúc phạm đến Chúa và mọi người.
Ngày nay, có lẽ nhiều người Ki-tô hữu chúng ta cũng đang mang tâm trạng, đi vào vết xe đổ của những người Do thái và luật sĩ xưa. Chúng ta đã lãnh nhận Bí tích Thanh Tẩy. Chúng ta là những người Ki-tô hữu chính danh. Chúng tin tin vào Chúa, chúng ta có Chúa ở trong mình. Thế nhưng chính đời sống của chúng ta lại không phản ánh, chiếu tỏa ánh sáng của Chúa cho anh chị em mình. Là người tin có Chúa, thế nhưng khi gặp những nghịch cảnh trong đời sống như ốm đau, thất bại... chúng ta dễ dàng tìm đến thầy bói toán. Là người mang trong mình dòng máu Ki-tô hữu, thế nhưng khi phải đối diện với thử thách, với chủ nghĩa trần tục, chúng ta dễ dàng chao đảo và buông xuôi...
Trang Tin Mừng ngày hôm nay gọi mời chúng ta biết dùng những khôn ngoan, kinh nghiệm của thời cuộc để khám phá, đào sâu và đọc ra được những dấu chỉ của thời đại. Đứng trước trào lưu trần tục hóa, người Ki-tô hữu cảm nhận được tình yêu vĩnh cửu của Chúa dành cho trần gian. Đối diện với sự tha hóa về đạo đức, người Ki-tô xác tín rằng chỉ nơi Chúa sự thật, công lý mới trường tồn, hằng bất biến.
Và điều sau cùng, người Ki-tô hữu luôn được gọi mời sống tâm tình tạ ơn, xác tín vào lòng Chúa xót thương. Dám tin và đọc ra những dấu chỉ, sự gọi mời mà Chúa đã và đang gửi đến cho nhân loại chúng ta. Có như thế, cuộc đời người Ki-tô hữu luôn là một bản trường ca vang xa, tán tụng hồng ân Chúa như lời thánh vịnh đã nói lên rằng: “Ví như Chúa chẳng xây nhà. Thợ nề vất vả cũng là uổng công”(Tv 126).
Thứ Bảy tuần 29 Mùa TN.
Ep 4,7-16; Lc 13,1-9
TRỞ VỀ
Thiên Chúa yêu thương đã ban cho con người có lý trí để nhận biết sự hiện diện của Chúa. Ngài còn nhắc nhở và mời gọi ta hãy trở về với Ngài là nguồn cội, là cùng đích của mọi loài. Lời Thánh vịnh 90 cho chúng ta biết cuộc sống trần gian này chỉ là tạm bợ và thân phận con người mong manh và mỏng giòn...
“ Ngay cả khi đồi núi chưa được dựng nên,
Địa cầu và vũ trụ chưa được tạo thành,
Thiên Chúa vẫn là nơi chúng con vào trú ẩn.
Chúa bắt phàm nhân trở về cát bụi,
Người phán bảo: Hỡi người trần thế, trở về cát bụi đi.
Ngàn năm Chúa kể là gì tựa hôm qua đã qua đi mất rồi,
Khác nào một trống canh thôi”.
Thiên Chúa nhắc nhở ta qua những mạc khải, qua lời các ngôn sứ, qua Thánh Tử Giêsu và hôm nay còn nhắc nhở ta qua Giáo hội, qua những biến cố trong cuộc sống hàng ngày. Lời Chúa nhắc nhở ta có lúc gắt gao, mãnh liệt, quở trách nặng nề qua những thất bại trong công việc làm ăn, qua những khó khăn tai ương, những nghịch cảnh và qua cả những yếu đuối, đam mê và tội lỗi.
Cũng có lúc, Chúa nhắc nhở ta bằng những lời thì thầm, nhẹ nhàng và sâu lắng qua quy luật tự nhiên, qua trật tự trong vũ trụ. Nhìn chiếc lá vàng rơi về cội, nhìn dòng nước xuôi về nguồn, ta hiểu được rằng con người cũng phải trở về với gốc tích của mình. Nhìn những áng mây trôi lang thang, ta hiểu được rằng cuộc sống này luôn biến đổi, ngoài Thiên Chúa ra không có gì là trường tồn vĩnh cửu.
Trang Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy một thí dụ cụ thể là Chúa Giêsu đã đọc dấu chỉ của thời đại, tức là hai biến cố đau thương vừa xảy ra: quan tổng trấn Philatô đã giết chết một số người Galilê nơi đền thờ; và tháp Silôê sập đè chết mười tám người. Chúa Giêsu đã thuật lại hai biến cố này trước: "Các ông tưởng mấy người Galilê đó tội lỗi hơn hết những người Galilê khác bởi lẽ họ đã chịu đau khổ như vậy sao? Tôi nói cho các ông biết, không phải thế đâu, nhưng nếu các ông không sám hối thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy. Cũng như mười tám người kia bị tháp Silôê đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giêrusalem sao? Tôi nói cho các ông biết, không phải thế đâu, nhưng nếu các ông không chịu sám hối thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy".
Tai họa là điều tiêu cực xảy ra, không phải là hình phạt của một vị Thiên Chúa muốn trả thù vì tội lỗi của con người và những anh chị em nạn nhân, không phải là những kẻ xấu tệ, đáng khinh. Những biến cố xảy ra là những dịp kêu gọi con người trở lại cùng Thiên Chúa. Dụ ngôn về cây vả không có trái cũng vậy.
Dụ ngôn mời gọi người nghe hãy ăn năn hối cải và thực hiện đền bù trổ sinh hoa trái tốt và thôi không lạm dụng lòng nhân từ của Thiên Chúa nữa. Mỗi tín hữu đều được mời gọi sống đức tin bằng những việc tốt lành của đức bác ái, một đức tin sống động mới xác tín cá nhân để thực hiện những công việc làm của kẻ yêu mến Thiên Chúa và anh chị em.
Mỗi ngày trên đường đi làm, ta chứng kiến những tai nạn giao thông có người chết tức tưởi khi tuổi đời còn rất trẻ, có những thai nhi đã phải chết ngay từ trong trứng nước...Đến cơ quan, ta lại đối diện với công việc mưu sinh hàng ngày. Những lúc ta bị người khác hiểu lầm, bị đồng nghiệp xúc phạm, lúc ta phải đối diện với nỗi sợ hãi, trống rỗng trong tâm hồn, ta như thấy mất hướng sống và rơi vào bế tắc. Bạn bè xung quanh ta có những người đã đạt đến đỉnh vinh quang phú quý, nhà cao cửa rộng, vợ đẹp con khôn thế mà chỉ một chút hiểu lầm thì đường ai nấy đi, kéo nhau ra tòa ly dị. Tình đời quả là éo le ngang trái...
Câu chuyện “Cây vả” trong Tin Mừng hôm nay là một ví dụ sống động về ngày giờ của Chúa. Tất cả mọi phút giây dù sống trong vinh hoa phú quý hay bần cùng khốn khó, Chúa đều nhắc ta tìm ý Chúa. Chúa đã dựng nên ta trong tình yêu nên Ngài không nỡ để ta phải mạng vong. Trái lại bằng mọi giá Ngài đã cứu chuộc và cho ta được thông phần hạnh phúc với Chúa. Tuy vậy, Thiên Chúa cũng là Đấng công bình và ngay thẳng, thưởng phạt đúng người đúng việc.
Hàng ngày, Chúa vẫn gửi cho ta những dòng tin nhắn để nhắc ta chuẩn bị tương lai cho một ngày viên mãn. Thái độ của chúng ta là chú ý lắng nghe hay thờ ơ lãnh đạm. Mỗi người chỉ sống một lần nên chúng ta phải sống sao cho ra sống, đừng sống hoài sống phí.
Hơn nữa là con cái Thiên Chúa chúng ta được mời gọi trở về trong vòng tay yêu thương của Cha, trong ngôi nhà ấm áp của tình yêu. Một lần nữa, Giáo hội mời gọi chúng ta dừng lại chiêm nghiệm thân phận con người trong mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa. Con người sinh ra không phải để qua đi như cỏ cây hoa lá. Con người chết đi không như một dấu chấm hết mà là để khởi sự tiến sâu vào mầu nhiệm sự sống đích thực vì Thiên Chúa là Chúa của sự sống.
Những ước mong mỗi người chúng ta nhận ra thân phận yếu đuối của mình mà biết cậy trông vào Chúa. Con người yếu đuối nhưng nhờ sức mạnh của Chúa chúng ta sẽ vượt qua. Chúa Giê-su đã từng chiến thắng cám dỗ nhờ niềm tin vào Thiên Chúa Cha. Ngài luôn cầu nguyện cùng Chúa Cha để thêm sức mạnh. Ngài cũng luôn chọn Chúa Cha làm lương thực cho Ngài hơn là những vật chất mau qua.
October 27, 2023