Suy Niệm của Huệ Minh
Chúa nhật 31 thường niên, năm A
NÊN THÁNH TRONG MỌI HOÀN CẢNH
LỄ CÁC THÁNH NĂM 2020
Ngày hôm nay, chúng ta hân hoan mừng đại lễ các Thánh Nam Nữ. Quả thật, việc mừng lễ Các Thánh mang lại cho chúng ta không chỉ niềm vui mừng, nhưng còn là niềm hy vọng về một đời sống vĩnh cửu ở sau cái chết.
Chúng ta vui, vì có biết bao người đã đi hết chặng đường của cuộc đời con người, các ngài đã chiến đấu trong cuộc chiến cao đẹp và ngày nay, các ngài đang được hưởng vinh phúc trên Thiên quốc cùng với Con Chiên tinh tuyền là Đức Giêsu Kitô.
Chúng ta hy vọng, vì các ngài tuy là những con người, nhưng với sự trợ giúp của ơn Chúa, các ngài đã vượt qua chính bản thân mình, chiến thắng những sự cám dỗ của trần thế này, thì đến lượt chúng ta, chúng ta cũng sẽ chiến đấu và chiến thắng để cũng được hưởng hạnh phúc trên Nước trời như các ngài.
Các Thánh trên trời rất đông, rất nhiều người trong nhân loại, trong đó có thể có những người thân của chúng ta, khi còn sống, họ đã trải qua biết bao nhiêu đau khổ và thăng trầm, nhưng cuối cùng đã được thanh tẩy mình trong máu Con Chiên là Chúa Giêsu, họ đã trở nên tinh tuyền, sạch đẹp và đang hưởng hạnh phúc với Chúa.
Hôm nay Các Thánh Nam Nữ thúc giục chúng ta cách dặc biệt: hãy cố lên! Ai trong chúng ta cũng có thể cố lên. Có rất nhiều người đã thành công. Sách khải huyền nói đến một đoàn người thật đông đảo không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi nước và mọi ngôn ngữ (Kh 7, 9).
Các thánh nam nữ là những người đã bước qua cuộc đời này và để lại cho đời những gợn sóng của tình yêu dâng hiến, của tình người vị tha phục vụ quên mình. Họ đã thả vào dòng đời này một tình yêu hiến dâng, một tình yêu cao vời dành cho Thiên Chúa, một con tim rộng mở đến cho tha nhân. Họ là những người nam, người nữ đã cống hiến cuộc đời để đem lại hạnh phúc cho tha nhân. Họ có thể là những con người biết tận dụng khả năng Chúa ban để làm đẹp cho cuộc đời bằng biết bao nghĩa cử yêu thương. Họ có thể là những con người kém may mắn nhưng đã âm thâm gieo vào đời những lời kinh nguyện, những hy sinh cho những người thân yêu. Họ đã biết tôn vinh Chúa qua dòng đời đầy trái ngang bể dâu này.
Mừng các thánh nam nữ là dịp để nhắc nhở ơn gọi của chúng ta là nên thánh. Ai cũng phải nên thánh. Nên thánh trong bổn phận. Nên thánh trong hy sinh vì lợi ích tha nhân. Nên thánh trong việc đón nhận thánh ý Chúa với lời xin vâng trọn vẹn. Nên thánh giữa dòng đời tục lụy là điều rất khó nhưng không phải là không có thể.
Nếu nên thánh là để lại cho đời những gương sáng, những hy sinh, những khước từ ham muốn tầm thường. Con đường nên thánh không khó. Vì nên thánh chỉ đơn giản là làm theo ý Chúa. Ý Chúa dạy chúng ta phải trung thành với bổn phận. Ý Chúa dạy chúng ta đừng để danh lợi thú sai khiến mình làm hại tha nhân. Ý Chúa bảo chúng ta đón nhận mọi sự với niềm tín thác nơi Chúa. Ý Chúa mời gọi chúng ta vui sống với phận mình. Và chắc chắn nên thánh luôn là con đường hoàn thiện mình trên con đường của tám mối phúc, của một lối sống để cho ý Chúa luôn thể hiện trong cuộc đời của mình.
Chúa Giêsu mời gọi chúng ta :“ Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5, 48). Việc nên thánh không phải là một ơn gọi chuyên biệt chỉ dành riêng cho một số người, nhưng đó là ơn gọi phổ quát mà Chúa Giêsu ngỏ trao đến tất cả chúng ta. Giáo hội đã tuyên thánh rất nhiều vị thuộc đủ thành phần, từ các Giáo Hoàng, các Giám mục, các linh mục, tu sĩ và cả giáo dân.
Nên trọn lành là trở nên giống Chúa, và ai trong chúng ta cũng có thể trở nên giống Chúa, vì Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta theo hình ảnh của Người, giống như Người (St 1, 26-27). Tự bản chất, chúng ta giống Chúa, tâm hồn chúng ta đẹp như Chúa. Chính tội lỗi làm cho tâm hồn chúng ta ra nhem nhuốc, xấu xí, không còn giống Chúa nữa. Tội lỗi làm cho chúng ta bị tha hoá, bị khác đi, không còn giữ được bản chất tốt lành của mình nữa, hạnh kiểm của chúng ta trước mặt Chúa là yếu kém.
Ngày 18 tháng Mười năm 2015, giữa lúc Thượng Hội đồng Giám mục thế giới đang nhóm họp bàn về gia đình, Đức Thánh Cha Phanxicô với quyền bất khả ngộ đã long trọng công bố ông bà Martin Guérin, song thân của Thánh nữ Têrêsa thành Lisieux được ghi tên vào sổ bộ các thánh. Cả hai vị cũng là giáo dân giống như rất nhiều người trong chúng ta, với biết bao lo toan trong cuộc sống đời thường giữa một gia đình khá đông con cái.
Bí quyết nên thánh của các Ngài rất giản đơn, đó là hoàn thiện ơn gọi tình yêu trong những bổn phận hằng ngày với niềm đam mê cháy bỏng dành cho Thiên Chúa. Cho dù trong cuộc sống, các Ngài có những khiếm khuyết, nhưng tình yêu Thiên Chúa đã lấp đầy những lỗ hổng của thiếu sót, và biến trở cuộc đời các Ngài nên hoàn thiện.
Mừng lễ Các Thánh Nam Nữ hôm nay, ngự giữa cộng đoàn Các Thánh, có Ðức Nữ Ðồng Trinh Maria, Ðấng khiêm nhu nhưng cao trọng hơn mọi tạo vật. Chúng ta hãy đạt đôi bàn tay ta vào trong tay của Mẹ để Mẹ hướng dẫn, có Mẹ dẫn lối chỉ đường, chúng ta cảm thấy mình được khích lệ tiến bước với niềm hăng say hơn trên con đường thánh thiện. Hãy phó thác cho Mẹ cố gắng dấn thân hằng ngày và khẩn cầu Mẹ cho những người thân yêu của chúng ta đã qua đời. Trong niềm hy vọng sâu xa một ngày kia tất cả chúng ta sẽ gặp lại nhau, trong sự hiệp thông vinh quang của Các Thánh trước tòa Chúa.
Huệ Minh 2020
CHÚA NHẬT XXXI TN A
ĐỪNG GIẢ HÌNH
Kính thưa Cộng Đoàn
Những người lớn tuổi một tí xíu, chắc có lẽ không quên được hình ảnh của tác giả Lưu Quang Vũ. Kém may mắn, ông đã ra đi khi tuổi chưa có già lắm! ông để lại nhiều cái vở kịch nó mang cái ảnh hưởng nhân sinh quan trong cuộc sống. “Tôi và chúng ta” là một trong những vở kịch hay.
Và con nhớ đến một cái vở của ông gọi là “Hồn Trương Ba, da Hàng Thịt”.Ông đã để cho cái nhân vật Trương Ba bày tỏ quan niệm sống của mình là: không thể hành động một đường, mà bên trong suy nghĩ một nẻo được .
Bên trong chính là thế giới nội tâm của con người gồm có: những nhận thức, tư tưởng khát vọng. Đây là cái phần mà làm nên ý thức chất người trong con người .
Nếu cái thế giới bên trong mà được toàn vẹn hoàn thiện, con người sẽ có những phẩm chất tốt đẹp, quý giá; sống một đời sống phong phú sâu sắc. Đây là phần người ta không nhìn thấy được chủ thể, chỉ có thể cảm nhận được khi tìm hiểu, gắn bó và tiếp xúc .
Bên ngoài là những cái mà ta có thể nhận biết được bằng thị giác, gồm : Hình thức, hành vi, lời nói, việc làm.
Và ta thấy quan hệ giữa bên ngoài và bên trong thường thấy là cái quan hệ thống nhất. Bên ngoài biểu hiện cái gì, thì bên trong nó là như thế! và ở bên trong nó có là gì, thì bên ngoài nó thể hiện ra.
Nhưng mà rồi, nếu như có một sự bất nhất bên ngoài một đường, bên trong một nẻo thì khi đó, không có sự hài hòa thống nhất giữa bên ngoài và bên trong: Tức là lời nói, và trong tâm hồn.
Chính vì cái việc không thống nhất đó, đã làm xáo trộn cho con người, đã đẩy đưa con người trở nên sống giả tạo và mất thăng bằng. Và dù ở bất cứ trường hợp nào, thì nó cũng là tấm bi kịch của cuộc đời.
Ý nghĩa của câu nói của Trương Ba rằng là thể hiện một quan niệm sống đúng đắn, cần phấn đấu để đạt sự hài hòa, cân bằng giữa nhận thức, hành vi cái bên trong và cái bên ngoài . Mỗi người hãy sống là mình, hãy làm chủ bản thân, cả thể xác lẫn tinh thần. Đó là cách mà con người được thanh thản.
Có thể vì lý do này, lý do khác, con người đã bị đẩy vào một tình huống éo le, hồn Trương Ba phải sống nhờ vào xác anh hàng thịt. Vấn đề là ở chỗ: hồn Trương Ba vẫn có nhu cầu về tinh thần. Xong vẫn không điều khiển được xác anh hàng thịt. Tuy chỉ là xác thịt âm u, đui mù, song vẫn có tiếng nói riêng, vẫn đòi hỏi được thỏa mãn về nhu cầu và vật chất . Cả hai nhu cầu về vật chất và tinh thần đều tự nhiên, chính đáng.
Song, trong trường hợp này lại trở nên mâu thuẫn. Và chính vì thế, có sự xung đột giữa nhu cầu về thể xác, để rồi cái phàm tục nó lên tiếng nhạo bán nhu cầu của linh hồn.
Và đây là một điều phi lý .Và chúng ta thấy, ngày hôm nay khi chúng ta thấy Chúa Giêsu, cho chúng ta thấy hình ảnh của những người luật sĩ và biện phái. Chúa Giêsu nặng lời, nói với họ, họ là những người: nói không làm, buộc những bó nặng và chất lên vai người ta. Nhưng mà trong thực tế, họ không muốn giơ ngón tay lên thử . Và tất cả mọi việc họ làm, họ đều muốn cho người ta thấy, cho người khác thấy để ca tụng, và cái việc rõ ràng nhất để người ta thấy là nới rộng thẻ kinh , may dài tua áo và họ muốn được ngồi ở đám tiệc là họ ngồi trên ghế đầu và đó là điều bi đát trong cuộc đời.
CHÚA Giêsu muốn nói với mỗi người chúng ta, và Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta điều gì đó , đừng noi theo hành vi của họ, đừng noi theo cách sống của họ, bởi vì cái lời nói của họ và cái cách sống của người biệt phái và luật sĩ nó trái ngược nhau.
“ Ngôn hành thì bất nhất, hữu danh vô thực ”, đạo đức giả hình. Và rồi tưởng chừng rằng, đó là điều cách đây 2.000 năm xảy ra ở biệt phái và luật sĩ, nhưng mà ngày hôm nay, cái vấn nạn đó vẫn là cái vấn nạn đáng lo ngại cho xã hội, cho ngay trong Giáo Hội nữa!
Có thể những cái biểu hiện vấn nạn đó là: người ta dùng những hình ảnh hay ho, những lời đẹp đẽ để che đậy những gì không tốt.
Và cuộc sống ngày hôm nay, mọi người phải đương đầu với một thách đố rất lớn, đó là đồ giả.
Chúng ta thấy kinh nghiệm của các bà đi chợ thì thấy: đồ giả nó được một bọc trong những cái vỏ bọc rất đẹp và che đậy : Bằng giả, thuốc giả, thức ăn giả, thậm chí người giả.
Đời sống nội tâm cũng vậy, có nhiều khi tâm hồn trống rỗng không có chiều sâu, kinh nghiệm thì không có. Người ta tìm cách để khỏa lấp những cái thiếu đó bằng lối sống giả hình, bằng những lời nói khoác lác phô trương.
Thường thì, thiếu tự tin và không đủ khẳng định được chất bên trong, nên người ta tạo một cái lớp vỏ bọc bên ngoài đạo mạo, cốt để cho người ta thấy: May dài tua áo, nới rộng thẻ kinh, thích ngồi nhất, và được ưa bái chào.
Sống giả hình như thế, nó chỉ được một thời gian thôi. Và khi người khác phát hiện ra, thì người đó sẽ đánh mất chính mình. Và vong thân vì không thể hiện mình là con người nữa, vì chỉ sống che đậy. Và như thế đánh mất niềm tin sự quý trọng của người khác dành cho mình.
Sống giả hình, không chỉ làm ảnh hưởng tới cá nhân, mà còn đảo lộn cái giá trị đạo đức, khiến cho cái thật, giả khó phân biệt và làm cho suy đồi văn hóa đạo đức.
Và nếu như những người lãnh đạo tốt, là những người biết dùng quyền lực của mình, dùng sự ảnh hưởng của mình, để phục vụ và mang lợi ích cho con người khác, trong đó: cho bản thân mình, cho những người liên hệ. Đồng thời, nếu họ biết dùng quyền lợi và hạnh phúc tha nhân đặt lên trên cá nhân, thì họ khiêm tốn không mầu mè, xóa hình đi, nhưng chính vì thế, họ được nhiều người yêu thương, thật lòng quý trọng.
Ngược lại những người lãnh đạo xấu thì họ lợi dụng cái chức quyền và ảnh hưởng của mình để phục vụ trục lợi cho mình, gia đình mình và phe nhóm hơn là cho người khác. Họ giả hình ưa thích mầu mè, tự phụ, tự cao tự đại và đội trên đạp dưới !
Trang Tin Mừng ngày hôm nay, nhắc nhở chúng ta đặc biệt là những người Tư tế .
Tư tế là ai ? Là những chuyên gia về Thiên Chúa, hay là những người có kinh nghiệm sống, kinh nghiệm của Thiên Chúa, nếu không, chỉ là thùng rỗng kêu to. Họ chỉ là những người được trao quyền bính và liệu rằng, mình có được trao ban để phục vụ, hay để người khác phục vụ mình.
Lời cảnh báo đó, gửi đến cho một thế giới vắng bóng Thiên Chúa. Bởi vì khi đó, họ nhận, họ làm chủ, và họ đưa ra những tiêu chuẩn luân lý đạo đức mà chỉ sống cho riêng mình, bất chấp khổ đau và bất hạnh của người khác và Lời CHÚA ngày hôm nay cũng chất vấn cho một thế giới mà nơi đó người ta: mạnh được yếu thua, nói cho hay, làm cho dở . Ưa thích hào nhoáng bên ngoài giả hình và giả tạo.
Chúng ta thấy, hỏi thăm đi : 10 người thì hết 9,5 người đều không thích mình sống giả tạo, thế nhưng mà, mình đối diện với người khác mình lại thích dùng những từ hoa mỹ nhưng mà càng hoa mỹ, thì càng trống rỗng tất cả những gì đó mà chính bản thân chúng ta, chúng ta cảm nghiệm được người khác khi chúng ta tiếp xúc.
Một người nhà quê chân chất, có vẻ, hình như đáng tin cậy hơn một người ở thành thị với những lời nói ngọt ngào. Một cái cô gái, nhìn cái khuôn mặt có vẻ mộc mạc, hơn một cô gái mà đầy phấn son, bởi vì sau khi phấn son rửa đi rồi, nhìn cái mặt nó còn trơ trọi hơn, một cái người bình dân không đánh phấn .
Ấy mà ngày hôm nay, người ta vẫn cứ thích đi tìm cái bề ngoài, mà người ta đánh giá cái bề ngoài .
Có một lần kia, con đến một cái giáo xứ nọ để mà chuẩn bị giúp cho một cái chương trình mừng lễ kính Đức Mẹ. Thì dĩ nhiên, buổi trưa thì, chẳng lẽ ăn cơm sau hay là ăn cơm ngoài đường, thì ngồi ăn cơm với cha xứ với 2 cha nữa. Đến chiều, khi mà họp bàn công việc xong thì, một người, một cái cô, đi hỏi thầy Sáu như thế này: Thầy, thằng đó là thằng nào mà nó ngồi cơm với cha sở vậy?
Khi thầy Sáu nói lại với con, con cảm thấy nó buồn cười. Ít ra mình lớn tuổi hơn cô ta, cô ta không biết có cái từ nào hay hơn không? Để mà dùng cái từ thằng nào ngồi ăn cơm với cha xứ
Thế đấy có thể hi vọng, đây là một trong cái hiện tượng hay là những cái suy nghĩ nó lẻ loi thôi. Để rồi qua đó, chúng ta thấy buồn cười, khi cô ta phát hiện con là cha thì cô ta ngại cô ta nói : cha cứ chọc con hoài.
Tại sao mình lại đánh giá người khác như thế? Tại sao mình lại coi thường người khác như thế?
Trong khi đó, khi đến giúp cái giáo xứ đó, có hai người là thanh niên mà con nhìn dáng, dáng cũng là cha. Mình chào cha cho chắc ăn . Mà đúng thật, một cha rất trẻ và một thầy cũng rất trẻ. Nếu như mình chỉ “chào anh, chào em” thì cái cung cách của mình bị sai ! nhưng mà «Chào cha», dường như là đúng!
Và khổ một cái là ngày hôm nay, người ta thường đi đánh giá cái vẻ bề ngoài . Người ta chỉ thích cái bề ngoài là quần là, áo lụa, rồi chải chuốt, còn những người sần sùi thì có vẻ là họ không thích .
Nếu ai nào đó có tiếp xúc với Đức Giám mục Giáo phận Cần Thơ thì hết hồn . Ngài đi về Sài Gòn, vì công việc ngài vẫn đi chiếc xe đò, ngài mang cái giỏ đệm, ngài không có se sua, ngài không có phụ tá, ngài không có thư ký đi theo và nói đến đây con nhớ đến Đức Cha, Đức cố Giám Mục Giuse Vũ Duy Thống. Một lần kia, ngài đi về cái xứ nọ để ngài ban bí tích Thêm Sức thì mọi người chuẩn bị kèn trống, xếp hàng chào danh dự để đón họ , cuối cùng ngài đã đi vào tới phòng áo. Khi đó, ngài đi chiếc xe DD đỏ, ngài đã vô tới phòng áo rồi! mọi người hớ ra, rằng là Đức Cha đã đến. Rõ ràng rằng: người ta chỉ thích sống cái bề ngoài và người ta chỉ trau chuốt cái bên ngoài thôi ! Người ta ít bao giờ chú ý đến cái đời sống nội tâm.
Ngày hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta nhìn lại . Có thể, chúng ta là những tư tế. Có thể, chúng ta là những biệt phái. Chúng ta có thể là những luật sĩ ! Chỉ chăm chăm, chú chú bên ngoài, nới dài tua áo, may rộng thẻ kinh, cốt cho người khác nhìn.
Nhưng mà, Thiên Chúa là Đấng thấu suốt lòng trí của chúng ta. Xin cho chúng ta: Có làm sao, sống như vậy, bên ngoài như thế nào, thì bên trong cũng như vậy!
Đừng sống giả hình! Bởi vì Chúa nói: Có nói có, không nói không. Nạc ra nạc, mỡ ra mỡ, chứ dở dở ương ương, Ta mửa ra ngoài. Amen.
Huệ Minh
Thứ Hai tuần 31 Mùa TN.
CẦU CHO CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI.
Lễ nhất: Rm 6,3-9; Ga 6,51-59
Lễ nhì: Kn 3,1-9; Lc 23,33.39-43
Lễ ba: Rm 5,4-11; Ga 17,24-26
NAY NGƯỜI - MAI TA
Ngay từ xa xưa, Giáo Hội vẫn tin rằng những người đã chết trong tình trạng ơn nghĩa cùng Chúa, nhưng còn vướng mắc những tội nhẹ, hay chưa đền bù hết những hình phạt tạm bởi tội, sẽ phải vào luyện ngục đền bù cho xong, rồi mới được lên thiên đàng, hưởng hạnh phúc muôn đời cùng Chúa.
Cựu Ước đã đề cập tới luyện ngục khi ghi lại hành động cao đẹp của ông Macabêô, khi ông quyên tiền gửi về Giêrusalem để dâng của lễ xóa tội cho một số anh em binh lính đã chết, mà lúc còn sống đã mang trong mình những ảnh tượng ngẫu thần, là điều mà lề luật Do Thái ngăn cấm.
Tháng 11 chúng ta không khỏi ngậm ngùi nhớ lại người thân thương đã chết, chia ly cách biệt vẫn là nỗi đau nhất trong cuộc sống. Nhưng với niềm tin Phục sinh, chết như được dẹp bỏ, người chết như vẫn hiện diện gần gũi với chúng ta. Đây chính là nguồn diễm phúc của những ai có niềm tin vào sự sống lại.
Hàng năm Giáo Hội công giáo đã dành trọn tháng 11 để tưởng nhớ những người quá cố, để sống lại đạo làm con. Người công giáo vẫn có thói quen tốt lành xin lễ cho ông bà tổ tiên, viếng nghĩa trang cùng với việc tảo mộ. Ngoài ra, trong ba ngày đầu năm, Giáo Hội Việt Nam đã dành ngày mồng hai tết để kính nhớ tổ tiên ông bà cha mẹ. Hòa lẫn với chủ đề kính nhớ tổ tiên, Giáo Hội cũng đã nhắn gửi tới từng người con phải biết yêu chuộng ý nghĩa thiêng liêng cao cả: con ơi giữ lấy lời cha, chớ quên lời mẹ nhớ mà ghi tâm.
Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta củng cố niềm tin và hy vọng. Chúa Giêsu không những rao giảng về sự sống lại, chính Ngài là sự sống lại, sự Phục sinh của Ngài là bảo chứng của cuộc sống và làm chứng cho lời rao giảng của Ngài. Chính sự Phục sinh của Ngài mà niềm của chúng ta được xây dựng. Thật thế, như lời thánh Phaolô khẳng định trong thư gởi giáo đoàn Côrintô: “Nếu Chúa Giêsu không sống lại thì Đức tin của chúng ta thật là hão huyền”. Niềm tin vào sự Phục sinh mang lại ý nghĩa cho cuộc sống chúng ta, với niềm tin Phục sinh chúng ta tìm được can đảm để sống, mặc dù có trải qua nghịch cảnh thử thách, khổ đau; với niềm tin Phục sinh chúng ta vẫn tiếp tục tìm thấy ý nghĩa cuộc sống.
Sự thánh thiện của Thiên Chúa và tội lỗi là hai cái gì đối kháng nhau, như lửa với nước, như ánh sáng với bóng tối. Do đó, tội lỗi làm cho chúng ta phải xa lìa Thiên Chúa, khiến chúng ta quay lưng chống lại Ngài và đi ngược lại với bản tính thánh thiện tuyệt vời của Ngài. Thực vậy, Thiên Chúa thánh thiện không thể nào chấp nhận một chút bợn nhơ xấu xa nào trong vương quốc của Ngài.
Đối với các linh hồn đáng thương còn mang dấu ấn của tội lỗi, thì luyện ngục chính là nới ẩn náu đầy yêu thương, là tiền đường của thiên đàng. Các ngài vui mừng trong đau khổ. Và nỗi đau khổ nặng nề nhất không phải là cực hình hỏa ngục, mà là khát vọng được diện kiến thánh nhan Thiên Chúa, mà hiện nay chưa được trở thành sự thật, mà vẫn còn bị trói buộc trong sợ mòn mỏi trông chờ và mong đợi.
Những linh hồn trong luyện ngục phải chịu đau khổ, nhưng không còn lập được công như khi còn sống ở trần gian, bởi vì thời gian lập công đã hết. Các ngàiï phải chịu đau khổ, nhưng lại không thểu tự cứu lấy mình được. Các ngài phải ở đó cho tới khi trả hết đồng xu cuối cùng.
Các linh hồn lành thánh không được lập công được nữa vì họ cũng không thể phạm tội nữa. Họ không thể giúp mình nhưng có thể giúp chúng ta. Họ đau khổ chính là vì họ không có thể ở cùng Thiên Chúa và nhìn xem Thiên Chúa. Họ chịu thứ đau khổ thanh tẩy có thể so sánh với đau khổ vì lửa. Nhưng họ vẫn vui mừng: họ nắm chắc là họ sẽ được lên trời.
Nhiêu linh hồn lành thánh này là những người thân yêu của chúng ta. Chúng ta có thể giúp đỡ họ bằng cầu nguyện, bằng việc lành và đặc biệt nhờ thánh lễ mà chúng ta cầu nguyện: “Xin Chúa nhớ đến tổ tiên, thân thuộc chúng con và anh chị em tín hữu đang an nghỉ chờ ngày sống lại, xin cho tất cả được hưởng ánh sáng tôn nhan Chúa”.
Chúng ta đang sống vẫn có thể dâng những lời kinh, những hy sinh và những thánh lễ, để xin Chúa sớm giải thoát những linh hồn nơi luyện ngục, trong đó có ông bà, cha mẹ, anh chị em, họ hàng quyến thuộc và bạn hữu. Những người thân quen này, rất có thể vì yêu thương chúng ta, mà đã không tuân giữ những điều Chúa truyền dạy. Đồng thời chúng ta cũng hãy cầu nguyện cho các linh hồn mồ côi không ai tưởng nhớ đến. Thế nhưng trước hết và trên hết, chúng ta hãy cố gắng cải thiện đời sống, xa tránh tội lỗi, thực thi những việc bác ái yêu thương, để chỉ cho các linh hồn nơi luyện ngục, cũng như để bản thân chúng ta cũng được giảm bớt thời gian thanh luyện sau khi chết.
Với ý thức về tội lỗi của mình, các ngài sẽ không rời xa luyện ngục, cho tới khi được tẩy sạch mọi vết nhơ tội lỗi. Còn mang lầy một chút dấu vết của tội lỗi trong tâm hồn mình cũng là một đớn dau cho các ngài, khi cảm thấy mình bất xứng.
Chính vì thế, trong niềm hiệp thông, chúng ta hãy giúp đỡ các ngài bài những hy sinh, những lời kinh và những thánh lễ chúng ta dâng lên, bởi vì đó mới chính là những điều các ngày đang cần đến, đỗng thời đó cũng là cách thức chúng ta báo hiếu, đền đáp công ơn của các ngài một cách sâu xa và có ý nghĩa nhất.
Huệ Minh
Thứ Ba tuần 31 Mùa TN. Thánh Martinô Porres, Ts (Tr).
Pl 2,5-11; Lc 14,15-24
KHÓ NGHÈO
Thánh Martino được sinh ra vào ngày 9-12-1579 với cái tên Martinô de Porres tại Lima thủ đô nước Cộng Hòa Péru do một cuộc tình duyên lén lút giữa một chàng Hiệp sĩ tên là Don Juan de Porres và một thiếu nữ da đen người Panama tên là Ana Velasquez.
Lúc đầu cuộc tình duyên ấy tưởng sẽ mãi mãi bền chặt nhưng không dè đâu sau khi Ana sinh được người con thứ hai thì Don Juan đã tàn nhẫn bỏ cả ba mẹ con mà ra đi. Lý do ông ra đi là vì ông thấy nước da của con có nhiều phần giống mẹ hơn giống cha.
Từ đó ba mẹ con phải sống một cuộc sống vô cùng cực khổ. Cuộc sống thiếu thốn về mọi mặt, cả tinh thần lẫn vật chất
Rất may Ana là một người đàn bà, một người mẹ biết thương con và lại có tinh thần trách nhiệm cho nên mặc dầu phải sống trong một hoàn cảnh rất khắc nghiệt như thế, bà vẫn để tâm giáo dục các con, cố gắng làm sao để cho các nhân đức được bén rễ vào tâm hồn của các con trước khi những thói hư tật xấu xâm nhập chiếm hữu, làm băng hoại tâm hồn trong trắng của những người con mình.
Năm Martinô lên 8 tuổi Don Juan hối hận - nghỉ lại mối tình cũ, ông chính thức nhìn nhận nhưng đứa trẻ do Ana sinh ra là con của mình. Ông đưa chúng về Santiago de Guagaquil nơi ông công cán phụng mệnh vua Tây Ban Nha. Tại đây Martino được học khai tâm tại trường sơ cấp.
Thế nhưng thời gian này chẳng được bao lâu. Hai năm sau khi ông được đổi đi nhận trọng chức ở Panama, những đứa trẻ bất hạnh lại được trao hoàn về cho người mẹ nghèo khó của chúng.
Về lại Lima, Martino được tiếp tục học văn hóa và học nghề. Nhờ trí thông minh tuyệt vời mà chỉ trong một thời gian ngắn, Martino đã trở thành một người thợ thành thạo như một nhà chuyên nghiệp thời ấy.
Năm 15 tuổi, Martino ao ước được nên trọn lành hơn, nên xin mẹ cho anh được vào tu trong dòng anh em Thuyết giáo. Nhà dòng sẵn sàng đón nhận anh. Sau 7 năm tu luyện Martino được khấn trọng thể trong bậc trợ sĩ tại Tu viện Mân côi ở thành Lima. Từ đó Martino coi Tu viện như một thao trường để anh tập luyện các nhân đức. Martino chu toàn mọi bổn phận một cách mau mắn cho dù nhiều lúc thầy phải làm những việc thật vụn vặt và hèn mọn.
Đây là những nhân đức nổi bất nhất mà thầy đã ra công tập luyện: Đứng đầu là khiêm nhường rồi đến nhẫn nại - hãm mình - vâng lời - đặc biệt là lòng mến Chúa yêu người. Hiếm có một người nào mà lại tập luyện cho mình được nhiều đức tính tốt lành như thế.
Lòng mến Chúa luôn đi đôi với yêu người. Martino coi lòng mến Chúa như động lực thúc đẩy Thầy thực hiện việc yêu người .
Thánh Martinô, bạn nghèo của Chúa Kitô, Người đã mang lấy Trái Tim của Chúa để cảm thông và thương mến mọi chúng sinh, cỏ cây sông núi và muôn loài muông thú, để chia vui sẻ buồn, để tận tình săn sóc, giúp đỡ, để hàn gắn nỗi đau trên trần thế và dìu dắt bao tâm hồn lạc hướng về nẻo chính đường ngay. Mang lấy Trái Tim yêu thương của Chúa Giêsu, thánh Martinô luôn tha thiết xoa dịu nỗi đau nơi những người cùng khốn.
Như xưa “Đức Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt.” Thánh Martinô cũng luôn chạnh lòng thương cảm trước những mảnh đời bất hạnh của bao kiếp người khốn khổ, nghèo hèn và những kẻ bị gạt ra bên lề xã hội. Thánh nhân sẵn sàng tìm đến với họ, giang rộng vòng tay đón nhận họ. Với bàn tay da màu chất chứa yêu thuơng, thánh nhân đã săn sóc đỡ nâng và xoa dịu vết thương thể xác và tâm hồn họ.
Mang lấy Trái Tim yêu thương của Chúa Kitô, thánh Martinô nhận ra còn lắm người nghèo đang lang thang đầu đường cuối phố và khắp nơi đây đó, họ cần được đón tiếp và được yêu thương, vì chính họ cũng là những con người, những hình ảnh của Chúa Kitô. Với trái tim rộng mở yêu thương, thánh nhân đã thấy Chúa trong trong những con người bất hạnh bị bỏ rơi khinh miệt. Mặc lấy tâm tình của Chúa, thánh Martinô đã nghe những tiếng thở than ai oán và nghe được cả những nấc nghẹn không lời vì khổ đau của bao người.
Thế nên, thánh nhân đã không quản ngại dấn thân phục vụ họ, chẳng quản hy sinh gian khó khi đến với họ. Thánh nhân coi họ như những người bạn, người anh em, sâu xa hơn, những con người cùng khổ ấy chính là Chúa Kitô. “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy.”
Thánh Martinô là một trong những tấm gương sáng ngời về đời sống bác ái, yêu thương. Bằng một đời sống âm thầm lặng lẽ, thánh nhân đã họa lại chân dung Đức Giêsu khiêm hạ, yêu thương tất cả mọi người, nhất là những người nghèo khổ. Với những nghĩa cử ấy, thánh nhân đã trở thành hiện thân của lòng Chúa xót thương nhân loại. Và cứ thế, tình yêu thương đồng loại, và muông thú, cỏ cây như vết dầu loang, loang mãi để cho mầm tình yêu vươn nhánh, trổ bông và tỏa hương thơm ngát cho đời sống Giáo Hội, cho mỗi người chúng ta.
Qua gương lành của Thánh Martinô, những mảnh đất tâm hồn cằn cỗi được tình yêu yêu thương ấp ủ để vươn dậy những chồi non đạo hạnh thánh thiện, sống tốt đời đẹp đạo, những tâm hồn bị thương tổn gặp được niềm an ủi và chữa lành, và những tâm hồn băng giá được hâm nóng niềm tin, trở nên nhiệt thành yêu mến và hăng say đời sống chứng nhân. Ngày mỗi ngày húng ta được mời gọi trở nên những Martinô thời đại, sống và làm chứng cho Chúa trong môi trường sống của mình bằng đời sống bác ái yêu thương, bằng tinh thần khiêm tốn phục vụ, bằng chính cung cách sống của mỗi người chúng ta.
Huệ Minh
Thứ Năm đầu tháng tuần 31 Mùa TN.
Pl 3,3-8a; Lc 15,1-10
HOÁN CẢI
Tin Mừng hôm nay Thánh Luca ghi lại, Những thính giả đến với Chúa Giêsu để nghe giảng không chỉ là những người dân bình thường mà còn có cả những người tội lỗi, Biệt phái, Luật sĩ. Điều đó cho thấy tất cả đều là đối tượng của lòng thương xót Thiên Chúa dành cho con người. Do đó, khiêm tốn đặt mình trước mặt Chúa, chúng ta luôn cần được Chúa xót thương, luôn cần được tình thương tha thứ của Chúa. Từ đó, nhận ra những yếu đuối bất toàn của mình, chúng ta cũng có cái nhìn nhân hậu hơn đối với những bất toàn của người anh em.
Các Biệt phái, Luật sĩ thay vì nghe lời giảng dạy của Chúa Giêsu để đổi mới thành kiến, lối sống thì họ lại kết án : “Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi, cùng ngồi ăn uống với chúng” (Lc 15, 2). Tâm lý con người ở mọi thời đại luôn thích làm quan tòa kết án kẻ khác. Ngày nay, với phương tiện truyền thông đa chiều internet, báo chí, video clip cắt dán để bêu xấu người không một chút thương tiếc.
Các dụ ngôn “Con chiên lạc” (Lc 15, 4-7). “Đồng bạc bị mất tìm thấy” (Lc 15, 8-10) đều diễn tả tấm lòng tha thứ của Thiên Chúa trước những yếu đuối của con người. Chúa Giêsu không thỏa hiệp với tội lỗi. Nhưng không chấp nhận thái độ cao ngạo kết án người khác : “Ai trong các ông vô tội hãy ném đá người này đi” (Ga 8, 7).
Chúa Giêsu cũng muốn nói với mỗi người chúng ta: Thiên Chúa xem mỗi con người như là một khúc ruột của mình. Ngài thương mỗi người, để ý chăm sóc mỗi người như chỉ có một không hai trên đời. Mỗi người như là một báu vật vô giá, cần phải được trân trọng và yêu thương. Dù con người có đắm chìm trong lầm lạc và tội lỗi, Thiên Chúa không bỏ rơi, không hủy diệt, nhưng tìm mọi cách đưa con người trở về.
Thiên Chúa là người Cha giàu lòng thương xót, nhân lành, yêu thương con người. Cho dù, con người có quay lưng, phải bội, Thiên Chúa vẫn thể hiện một tình yêu, tha thứ thật lớn lao. Ngài quảng đại, bao dung tất cả, dang rộng vòng tay yêu thương đón nhận, Ngài như một vị mục tử cần mẫn sẵn sàng tìm kiếm những ai lầm lỡ sống trong mặc cảm tội lỗi, cảm hóa họ trở thành một người đạo đức, lương thiện trong cuộc sống.
Sứ mạng của Chúa Giêsu đến trần gian là để tìm kiếm những tâm hồn đã hư mất vì tội lỗi. Ngài không quản ngại đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng và mời gọi người ta sám hối. Ngài len lỏi vào mọi ngóc nghách của cuộc sống, giao du tiếp đón mọi hạng người.
Thật vậy, Chúa Giêsu kể những dụ ngôn này trong một hoàn cảnh đặc biệt. Các luật sĩ và biệt phái lấy làm vấp phạm khi thấy Ngài giao du với những kẻ mà họ gọi là tội nhân.
Trong xã hội Do-thái, có một hàng rào ngăn cách giữa những người được xem là đạo đức và những người bị coi là tội lỗi. Các luật sĩ và biệt phái - những người tự nhận mình là đạo đức - hết sức khó chịu khi thấy Đức Giêsu làm bạn với những người tội lỗi.
Tuy nhiên, đối với Đức Giêsu, hạng người tội lỗi mới là đối tượng khiến Chúa phải cất công kiếm tìm: “Con Người đến để tìm kiếm và cứu chữa những gì đã mất”.
Con chiên lạc, đồng bạc mất là hình ảnh của mỗi người chúng ta, vì mỗi người chúng ta trước mặt Chúa đều là tội nhân. Chỉ những ai - như biệt phái và luật sĩ kiêu ngạo - tự nhận mình là công chính mới tự loại mình ra khỏi tình thương và ơn cứu độ của Chúa.
Tình yêu vô biên của Thiên Chúa là như thế. Cho nên, Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy yêu thương nhau ngay từ các thành viên trong gia đình, xóm đạo, giáo xứ, giáo khu. Chúng ta hãy đối xử với nhau bằng tình con người, hãy hiệp nhất với nhau trong mọi việc làm. Chúng ta hãy bao dung tha thứ, sửa lỗi cho nhau trước những việc làm sai trái của mình để xứng đáng là người môn đệ của Chúa và hãy đưa tình yêu của Chúa làm chứng tá cho tha nhân giữa cuộc sống thực tại này.
Hoán cải là trở về với Thiên Chúa, nhận ra tình thương tha thứ của Ngài, một Thiên Chúa vẫn tiếp tục nghĩ đến những người bỏ rơi Ngài, một vị Thiên Chúa yêu thương những kẻ không yêu mến Ngài, một vị Thiên Chúa sẵn sàng ra đi tìm kiếm những đứa con lạc loài, muốn lìa bỏ Ngài. Và khi tìm được rồi, Ngài lại vui mừng như người mục tử tìm được chiên lạc vác lên vai đem về mời gọi mọi người chia sẻ niềm vui.
Thứ Sáu đầu tháng tuần 31 Mùa TN.
Pl 3,17-4,1; Lc 16,1-8
KHÔN NGOAN THEO NHƯ CHÚA DẠY
Hôm nay Chúa Giêsu nói với các môn đệ dụ ngôn “người quản gia bất lương”. Kết luận về dụ ngôn Chúa dạy cho chúng ta hai điều : Một là người quản gia đó đã có hành động “khôn khéo” nhưng vẫn bị coi là “bất lương”, “được khen” nhưng vẫn “bị sa thải” ; Hai là Chúa cho thấy sự khác biệt giữa “con cái đời này” và “con cái ánh sáng”, sự “khôn ngoan theo đời này” và sự “khôn ngoan của con cái Thiên Chúa”.
Cách mà người quản lý này chọn để làm là dùng chính tài sản của ông chủ để mua lấy cảm tình của những con nợ của chủ, bằng cách “dùng tiền của gian dối để mua lấy bạn hữu”.
Người quản lý này thật khéo léo và khôn ngoan, nhưng anh khôn theo kiểu thế gian, bằng những hành động bất lương, gian dối để tìm hạnh phúc ở đời.
Chúa Giêsu không khen ngợi tính gian xảo, thiếu trung thực của người quản lý. Ngài chỉ khen người quản lý này khôn khéo, biết lo liệu cho tương lai của anh.
Qua dụ ngôn người quản lý khôn khéo bất lương, Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta biết dùng sự khôn ngoan của Chúa ban để tìm kiếm hạnh phúc vĩnh cửu. Ngài nhắc nhở chúng ta phải khôn ngoan lựa chọn đâu là hạnh phúc đích thực, đâu là con đường dẫn đưa chúng ta đạt tới Nước Trời.
Sự khôn ngoan đích thực và cần thiết cho chúng ta ở đây là gì? Thưa là những lời Chúa dạy trong Tin Mừng, chẳng hạn:
Khôn ngoan như 5 cô trinh nữ khôn ngoan, biết chuẩn bị dầu đèn đi đón chàng rể (Mt 25,1-13).
Khôn ngoan trong sự lựa chọn ưu tiên là Nước Trời : “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia Người sẽ thêm cho.” (Mt 6, 33).
Khôn ngoan của Tin Mừng mở cho chúng ta một hướng đi tuyệt vời : nếu chịu mất sự sống vì Đức Kitô chúng ta sẽ được lại : “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào có ích gì” (Mt 16, 26).
Sự “bất lương” của người quản gia đây là gì. Anh bị người ta tố cáo với ông chủ là anh đã phung phí của cải nhà ông. Thái độ “phung phí của cải nhà ông chủ” của người quản gia cho thấy, anh đã “lạm quyền” của chủ, cách nào đó anh không còn phục tùng chủ, không trung tín và không còn nhớ vị thế của mình chỉ là quản gia. Lẽ ra anh phải biết vai trò của anh, làm quản gia anh được quyền quản lý mọi sự trong nhà, anh phải làm sao cho mọi sự diễn ra tốt đẹp và đem lại ích lợi cho gia chủ. Khi anh “phung phí của cải nhà chủ” có nghĩa là anh đã không còn chu toàn chức năng và bổn phận của anh. Sự “bất lương” của anh là như thế.
Tuy nhiên, anh được chủ khen là “khôn khéo”, vậy sự khôn khéo của anh đây là gì. Anh khôn khéo vì khi biết chủ sắp sa thải, anh đã lấy lòng các con nợ của chủ, bằng cách lấy biên lai ghi giảm số nợ cho họ, nhưng cũng bằng cách này anh đã đẩy con nợ vào chỗ thông đồng với hành vi của anh, nếu anh có bị xử phạt thì anh cũng không phải chịu một mình. Anh đã nghĩ đến nghề nghiệp, đến cuộc sống, đến tương quan của mọi người dành cho anh khi anh thất thế… Và anh đã hành động để sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước anh về nhà họ, đó là một việc làm được coi là khôn khéo.
Một điều đáng nói ở đây là : sự khôn khéo của anh không che lấp được sự bất lương, hành vi toan tính của anh không thay đổi và giữ lại được vị thế của anh, anh rất khôn khéo nhưng anh không còn được tín nhiệm, anh đã thất trung. Anh đã biết dùng mưu xảo của mình để định đoạt cuộc đời mình thật khôn khéo, nhưng anh quên rằng ông chủ có thể tố cáo và đủ sức tru diệt anh. Anh nghĩ đến việc luồn lách để chạy tội, để sống, nhưng anh lại quên người có quyền ra hành động cuối cùng ảnh hưởng đến sinh mạng của anh vì các việc do anh đã làm đó là ông chủ. Tại sao anh không xin lỗi chủ về sự phung phí của mình, sao anh không “cải tà quy chính” để tiếp tục sống bình an hạnh phúc. Anh “khôn khéo” nhưng anh “bất lương” là ở điểm đó.
Hơn hết, đây là điều mà Chúa muốn dạy mỗi người chúng ta. Sự khôn khéo chỉ là phương tiện, còn lương tâm của con người mới là cùng đích. Chúa cần người có lương tâm trong sáng và trung tín. Nếu sự trong sáng và trung tín kèm với sự khôn khéo thì thật là điều đáng quý. Nhưng nếu phải chọn giữa thái độ sống vụng về mà có lương tâm ngay chính trước nhan Chúa, và thái độ sống khôn khéo nhưng bất lương, thì chúng ta hãy chọn sự trung tín và lương tâm ngay chính mà thôi.
Sự khôn ngoan của con cái thế gian và sự khôn ngoan của con cái ánh sáng khác nhau ở điểm này. Sự khôn khéo thế gian lấn át lương tâm, họ khéo léo làm mọi sự mà bán rẻ lương tâm của họ. Con cái ánh sáng thì tôn trọng tiếng nói lương tâm, tiếng nói của chính Thiên Chúa trong cõi lòng mình. Con cái Thiên Chúa thì sống trung tín với Chúa, chu toàn bổn phận trong chức năng của mình, quy phục quyền năng và ân ban của Chúa.
Ước gì mỗi chúng ta khi chu toàn bổn phận Chúa trao, cũng biết chọn tiếng nói của Chúa, tiếng lương tâm. Đừng làm điều gì bán rẻ lương tâm và chống lại ý Chúa. Ước gì chúng ta cũng đứng về phía con cái sự sáng, chịu thiệt thòi ở đời này, chấp nhận vụng về trước thế gian để trở nên khôn ngoan trước mặt Thiên Chúa.
Qua bài Tin Mừng hôm nay, với dụ ngôn người quản lý khôn khéo, Chúa Giêsu hướng chúng ta đến một sự khôn ngoan đích thực, đó là biết dùng tiền bạc ở đời này để tạo lập cho mình một “gia sản thiêng liêng” : “Hãy dùng tiền của gian dối mà mua lấy bạn hữu, để khi mất hết tiền bạc, thì họ sẽ đón tiếp các con vào chốn an nghỉ đời đời.” (Lc 16,9).
Chúng ta có biết dùng tiền của ở đời này để mua lấy hạnh phúc vĩnh cửu mai sau hay không? Chúng ta có biết biến tiền của hay hư nát ở đời này thành gia sản vĩnh viễn ở trên trời hay không?
Thứ Bảy đầu tháng tuần 31 Mùa TN.
Pl 4,10-19; Lc 16,9-15
BIẾT CÁCH SỬ DỤNG
Ta đang sống trong một thế giới mà tiền của đóng một vai trò rất quan trọng, vì chủ nghĩa duy vật hưởng thụ đang thống trị và điều khiển xã hội về nhiều phương diện. Con người cũng thường đánh giá người khác dựa trên thế lực tiền của. Vì thế, người có nhiều tiền của dễ trở thành người có địa vị và danh giá. Đây quả thật là một thảm họa cho thời đại hôm nay!!!
Để tránh lạm dụng tiền của, Chúa Giêsu trong Tin Mừng hôm nay đưa ra một đòi hỏi: "Hãy chọn lựa giữa Thiên Chúa và tiền của", bởi vì không ai có thể làm tôi hai chủ được. Tiền của tự nó không phải là điều xấu, nó chỉ xấu khi con người tôn thờ nó như cùng đích cuộc sống. Thật ra, không có tiền của xấu, mà chỉ có cách tìm kiếm, sử dụng xấu của con người mà thôi. Cách tìm kiếm, sử dụng trở thành xấu là khi con người bóp nghẹt tiếng nói lương tâm, chối bỏ chính mình, khước từ người anh em, chối bỏ Thiên Chúa. Kẻ tham lam là người ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình, nhưng thực ra, họ cũng là kẻ đang tự hủy, chối bỏ cùng đích của cuộc sống.
Ngày mỗi ngày ta thấy tham nhũng nhan nhản trong cuộc sống. Tham nhũng và lừa đảo ở mọi qui mô trong xã hội chúng ta, đó là một kết luận hiển nhiên. Thế nhưng "thà đốt lên một ngọn nến, hơn là ngồi đó nguyền rủa bóng tối". Chúng ta hãy bắt đầu chống tham nhũng, lừa đảo, ích kỷ ngay trong con người của chúng ta. Chúa Giêsu nói với chúng ta: "Nếu các con không trung tín trong việc sử dụng tiền của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm và giao phó của cải chân thật cho các con?". Nếu chúng ta chưa loại được tham lam, lừa đảo trong những sinh hoạt hằng ngày, liệu chúng ta có thể chống tham nhũng ở qui mô lớn hơn không?
Tham nhũng đối với mỗi người chúng ta có thể mang nhiều tên gọi: ích kỷ, khước từ chia sẻ, liên đới, cảm thông. Xét cho cùng, của cải là đển mọi người cùng hưởng dùng; nếu tham nhũng, lừa đảo là chỉ muốn lấy của người để dành riêng cho mình, thì bất cứ hành động ích kỷ nào, bất cứ khước từ san sẻ nào cũng là một hình thức tham nhũng. "Không ai có thể làm tôi hai chủ": của cải vật chất chỉ là phương tiện giúp chúng ta thờ phượng người chủ duy nhất và đích thực là Thiên Chúa.
Tiền của chỉ có giá trị tạm thời mau qua và rất nhỏ so với những ân huệ thiêng liêng lớn lao mà Chúa tặng ban. Nhưng Chúa cũng muốn chúng ta hãy “trung tín trong việc rất nhỏ" ấy (c.11), từ đó có thể trung thành với những ân sủng cao quý Chúa ban cho mỗi người trong từng hoàn cảnh, để làm vinh danh Chúa.
Có một câu danh ngôn rất ý nghĩa: “Tiền của là một đầy tớ tốt và là một ông chủ xấu”. Chúng ta suy nghĩ gì về nhận định trên?
Còn Chúa Giêsu thì nói: “Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ” (c.13a). Lời Chúa hôm nay thật cụ thể sống động cho thời đại chúng ta. Bởi lẽ nhiều người đã xem tiền của như ông chủ của đời mình, để rồi sẵn sàng để tiền của điều khiển cuộc đời mình, và cũng vì tiền của mà đánh mất phẩm giá và mất đi các mối tương quan tốt đẹp trong cuộc sống.
Vì thế, Chúa Giêsu đã khẳng định thật rõ ràng: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được” (c.13b). Thiên Chúa chính là Đấng Tạo Hóa đã dựng nên con người cùng với muôn tạo vật trong vũ trụ mênh mông này. Ngài còn là Người Cha giàu tình yêu thương nhân ái, luôn quan tâm chăm sóc từng người chúng ta bằng muôn vàn ân sủng của trời cao. Thế nên, chỉ mình Thiên Chúa là Ông Chủ duy nhất của đời ta, Ngài điều khiển và nắm giữ vận mạng của từng người chúng ta. Bổn phận của chúng ta là tôn thờ, yêu mến và vâng phục thánh ý Ngài trong từng biến cố của đời ta.
Ta hãy ý thức để tự mình điều khiển tiền của theo cách Chúa muốn và mang lại hiệu quả tốt đẹp cho bản thân và tha nhân. Đừng bao giờ để tiền của vượt quá giới hạn của nó, nhưng chúng ta hãy làm chủ tiền của và sử dụng chúng theo ý muốn của chúng ta cách chính đáng.
Một điều đáng nói ở đây là : sự khôn khéo của anh không che lấp được sự bất lương, hành vi toan tính của anh không thay đổi và giữ lại được vị thế của anh, anh rất khôn khéo nhưng anh không còn được tín nhiệm, anh đã thất trung. Anh đã biết dùng mưu xảo của mình để định đoạt cuộc đời mình thật khôn khéo, nhưng anh quên rằng ông chủ có thể tố cáo và đủ sức tru diệt anh. Anh nghĩ đến việc luồn lách để chạy tội, để sống, nhưng anh lại quên người có quyền ra hành động cuối cùng ảnh hưởng đến sinh mạng của anh vì các việc do anh đã làm đó là ông chủ. Tại sao anh không xin lỗi chủ về sự phung phí của mình, sao anh không “cải tà quy chính” để tiếp tục sống bình an hạnh phúc. Anh “khôn khéo” nhưng anh “bất lương” là ở điểm đó.
Hơn hết, đây là điều mà Chúa muốn dạy mỗi người chúng ta. Sự khôn khéo chỉ là phương tiện, còn lương tâm của con người mới là cùng đích. Chúa cần người có lương tâm trong sáng và trung tín. Nếu sự trong sáng và trung tín kèm với sự khôn khéo thì thật là điều đáng quý. Nhưng nếu phải chọn giữa thái độ sống vụng về mà có lương tâm ngay chính trước nhan Chúa, và thái độ sống khôn khéo nhưng bất lương, thì chúng ta hãy chọn sự trung tín và lương tâm ngay chính mà thôi.
Sự khôn ngoan của con cái thế gian và sự khôn ngoan của con cái ánh sáng khác nhau ở điểm này. Sự khôn khéo thế gian lấn át lương tâm, họ khéo léo làm mọi sự mà bán rẻ lương tâm của họ. Con cái ánh sáng thì tôn trọng tiếng nói lương tâm, tiếng nói của chính Thiên Chúa trong cõi lòng mình. Con cái Thiên Chúa thì sống trung tín với Chúa, chu toàn bổn phận trong chức năng của mình, quy phục quyền năng và ân ban của Chúa.
Lời Chúa hôm nay chính là lời cảnh tỉnh cho mỗi chúng ta trong việc sử dụng tiền của ở đời này. Ngài mời gọi chúng ta hãy trung tín trong việc sử dụng tiền của. Vì tiền của cũng là một ân huệ Thiên Chúa tặng ban, nên chúng ta phải biết đặt tiền của vào đúng vị trí của nó như Thiên Chúa muốn. Đó là sự khôn ngoan cần thiết khi chúng ta sử dụng tiền của trong cuộc sống thường ngày.
Khi ta biết dùng tiền của Chúa ban để làm những việc tốt hữu ích cho bản thân và tha nhân là cách thức đẹp lòng Chúa nhất, “dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè” (c.9a). Tiền của chỉ là những phương tiện giúp ta có điều kiện thực thi lòng bác ái đối với tha nhân, và đó là những nén bạc ta đang ký gởi nơi Thiên Chúa, để sau này ta được “đón rước vào nơi ở vĩnh cửu” (c.9b).
November 6, 2020